1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng cơ sở văn hóa việt nam biên soạn ths đinh thị thì dung

325 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
Tác giả ThS. Đinh Thị Thì Dung
Trường học Trường Đại Học Cửu Long
Chuyên ngành Xã hội học, Văn Hóa Học
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Vĩnh Long
Định dạng
Số trang 325
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu trúc văn hóa Nếu như quan sát trên cấu trúc bề mặt thì ta thấy mọi sự sáng tạo văn hóa đều được thực hiện thông qua các hoạt động xã hội của con người.Văn hóa như là những gì diễn r

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÀI GIẢNG

CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM

Biên soạn: ThS Đinh Thị Thì Dung

Vĩnh Long, 2022

Trang 4

Chương 1: NHẬN THỨC VĂN HÓA

1 Cấu trúc và các định nghĩa khác nhau về VĂN HÓA

1.1 Cấu trúc văn hóa

Nếu như quan sát trên cấu trúc bề mặt thì ta thấy mọi sự sáng tạo văn hóa đều được thực hiện thông qua các hoạt động xã hội của con người.Văn hóa như là những gì diễn ra hằng ngày trong cuộc sống và vì thế hoạt động văn hóa được bao chứa trong các hoạt động chính trị, kinh tế Nếu quan sát cấu trúc chiều sâu ít biến đổi như những hằng số ta sẽ thấy văn hóa với những hệ giá trị của nó sẽ là động lực, là cái gốc điều chỉnh mọi sinh hoạt đời sống và giữ tính liên tục và ổn định xã hội Cấu trúc chiều sâu là cái kết tinh, lắng đọng nằm ẩn dưới cơ tầng đóng vai trò định hướng, điều chỉnh mọi sự biến đổi trên cấu trúc bề mặt, quy định bản sắc văn hóa của mỗi cộng đồng và nhân cách của mỗi cá nhân, định hình nền văn hóa của mỗi dân tộc trong không gian và thời gian

Từ đó, chúng ta có thể phân biệt hoạt động văn hóa của con người trong đời sống xã hội Đó là những hoạt động sống liên tục biến đổi nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chất

và tinh thần ngày càng cao của con người bằng những sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể Và, như thế chiều kích văn hóa nằm trong đời sống xã hội và mang tính xã hội, xét

về góc độ xã hội học, văn hóa là phương thức sống chung của con người trong một xã hội nhất định

Trang 5

Nó được biểu hiện trong đời sống chính trị, xã hội, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học, đạo đức, sinh hoạt vật chất Khi nói tới văn hóa như là những giá trị do con người tạo ra trong quá trình ứng xử với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình theo quy luật của cái đẹp thì văn hóa lại nằm trong chiều sâu tâm thức của người bản ngữ, định hướng cho

sự lựa chọn khác nhau của các cộng đồng tộc người thuộc các nền văn hóa khác nhau

Mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu như sau:

Cấu trúc chiều sâu đóng vai trò định hướng và điều chỉnh những biến đổi trên bề mặt Do đó những biến đổi trên bề mặt dù thiên biến vạn hóa như thế nào chăng nữa thì cũng không phải là sự biến đổi hỗn loạn mà có tổ chức, phải tuân theo một trật tự nhất định vừa trực tiếp vừa gián tiếp

Các yếu tố trên bề mặt, trong quá trình biến đổi, dần dần thẩm thấu và tác động đến cấu trúc chiều sâu, làm cho cấu trúc này cũng phải biến đổi theo dù rất chậm rãi

Sơ đồ cấu trúc hai bậc cuả văn hóa:

Cấu trúc bề mặt (yếu tố động của văn hóa): Thiết chế xã

hội, khoa học kỹ thuật, ngôn ngữ, nghệ thuật, tôn giáo, phong tục tập quán,…

Cấu trúc bề sâu ( yếu tố tĩnh của văn hóa): Giá trị vật

chất, giá trị tinh thần, truyền thống, nếp sống

Cấu trúc văn hóa của GS TSKH Trần Ngọc Thêm:

1.Văn hóa nhận thức: Nhận thức về vũ trụ

Trang 6

Văn hóa đối phó môi trường tự nhiên

4 Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Văn hóa tận

dụng môi trường xã hội Văn hóa đối phó với môi trường xã hội

1.2 Các định nghĩa khác nhau về văn hóa

Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực và là hệ điều tiết của sự phát triển kinh tế - xã hội

K Marx đã gọi văn hóa là “thiên nhiên thứ hai” tức là thiên nhiên được “nhân hóa” được con người sáng tạo theo

“quy luật của cái đẹp” Văn hóa xuất hiện cùng với loài người, nhưng mãi đến thế kỷ 20 – thế kỷ của văn hóa, việc nghiên cứu về văn hóa mới được đặt ra một cách nghiêm túc, và thuật ngữ văn hóa học do Wilhelm Ostwald (một triết gia người Đức) dùng đầu tiên vào 1909 nay đã thu hút

sự chú ý của nhiều nhà khoa học thuộc các ngành khoa học

xã hội và nhân văn trên khắp thế giới

Theo W Ostwald thì “ chúng ta gọi những gì phân biệt con người với động vật là văn hóa”

Leslie Alvin White (1900 – 1975) – Người sáng lập ra bộ môn văn hóa học Công trình của ông :

Trang 7

“Khoa học về văn hóa” năm 1949

“Sự tiến hóa của văn hóa” năm 1959

“Khái niệm văn hóa” năm 1973

“Văn hóa, nhìn lại các quan niệm và định nghĩa” năm

1952 của Kroeber và Kluekholn đã thống kê được 164 định nghĩa về văn hóa có thể chia thành 6 loại chính:

1 Các định nghĩa miêu tả: liệt kê tất cả những gì mà khái niệm văn hóa bao hàm

2 Các định nghĩa lịch sử, nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống

3 Các định nghĩa chuẩn mực hướng vào quan niệm về lý tưởng và giá trị

4 Các định nghĩa tâm lý nhấn mạnh lối ứng xử của con người

5 Các định nghĩa cấu trúc chú trọng tới tổ chức và cấu trúc của văn hóa

6 Các định nghĩa biến sinh đi từ góc độ nguồn gốc của văn hóa

L G.Ionin nghiên cứu những điểm chung nhất của các tác giả

Họ nhất trí rằng văn hóa: đó là cái phân biệt con người với động vật; văn hóa đó là đặc trưng của xã hội loài người

và không được kế thừa về mặt sinh học mà phải có sự học tập, thâu hóa Văn hóa gắn với những tư tưởng tồn tại và

Trang 8

được chuyển tải dưới hình thức biểu trưng thông qua ngôn ngữ

CÁC KHÁI NIỆM VĂN HÓA

Ngày nay, UNESCO đưa ra một định nghĩa được nhiều nhà khoa học nhiều nước nhất trí

“Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như diễn ra trong hiện tại, qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”

“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (PGS TSKH Trần Ngọc Thêm)

Ở nước ta theo từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học,

Hà Nội, 2000) thì từ văn hóa có 5 nghĩa:

Trang 9

1 Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (Thí dụ: Kho tàng văn hóa Việt Nam)

2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần – nói một cách tổng quát (Thí dụ: Phát triển văn hóa)

3 Tri thức kiến thức khoa học (Thí dụ: Trình độ văn hóa)

4 Trình độ cao trong sinh hoạt văn hóa xã hội, biểu hiện của văn minh (Thí dụ: Sống có văn hóa)

5 Nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (Thí dụ: Văn hóa Đông Sơn)

KHÁI NIỆM VĂN MINH

Văn minh là danh từ Hán – Việt (Văn là vẻ đẹp, minh là sáng), chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật

Người ta hay sử dụng thuật ngữ văn minh đồng nghĩa với văn hóa Các học giả Anh và Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm văn hóa, văn minh để chỉ toàn bộ sự sáng tạo

và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho mọi tập đoàn người

Văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho một phương diện rộng lớn, một thời đại, hoặc cả nhân loại

Trang 10

Như vậy, văn minh khác với văn hóa ở ba điểm:

+ Thứ nhất, trong khi văn hóa có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại

+ Thứ hai, trong khi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn tinh thần thì văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kĩ thuật

+ Thứ ba, trong khi văn hóa mang tính dân tộc rõ rệt thì văn minh thường mang tính siêu dân tộc – quốc tế

Ví dụ: nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hóa Việt Nam, văn hóa Nhật

Bản, văn hóa Trung Quốc…Mặc dù giữa văn hóa và văn minh có một điểm gặp gỡ nhau đó là do con người sáng tạo

ra

KHÁI NIỆM VĂN HIẾN

Ở phương Đông trong đó có Việt Nam từ xa xưa đã phổ biến khái niệm văn hiến Có thể hiểu văn hiến là văn hóa theo cách dùng, cách hiểu trong lịch sử Từ đời Lý 1010 người Việt đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang” Đến đời Lê (TK XV) Nguyễn Trãi viết “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang” – (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến) Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ở đây là một khái niệm rộng chỉ một nền văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng

Trang 11

Văn hiến – truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp GS Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” khẳng định: là sách vở và nhân vật tốt trong một đời Nói cách khác văn là văn hóa, hiến là hiền tài, như vậy văn hiến thiên về những giá trị tinh thần do những người có tài đức chuyển tải thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt

KHÁI NIỆM VĂN VẬT

Văn vật khái niệm hẹp để chỉ những công trình hiện vật

có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái niệm văn vật cũng thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch sử Khái niệm văn hiến, văn vật thường gắn với phương Đông nông nghiệp trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị

2 Mối quan hệ VĂN HÓA: Con người – Tự nhiên –

Xã hội

2.1 Con người – chủ thể văn hóa

Trong tiếng việt người ta gọi là CON – NGƯỜI đó là một lối định danh thể hiện được bản chất của sự vật

+ CON – sinh vật

+ NGƯỜI – văn hóa và “khả năng biểu trưng hóa”

Engel đã nói: “Cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người chính là việc con người cải tạo thế giới tự nhiên, chứ không phải chỉ là bản thân giới tự nhiên, vì con người cải tạo được giới tự nhiên đến đâu thì trí thông minh của con người cũng lớn lên đến đó” Như vậy, sự phát triển của tư duy phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thực tiễn của con người

Trang 12

Với con người có hai loại tự nhiên:

+ Tự nhiên ngoài ta (môi trường)

Tự nhiên trong ta (bản năng) Và hai loại xã hội :

+ Xã hội ngoài ta (cộng đồng)

+ Xã hội trong ta (cá nhân)

Với tự nhiên con người vừa thích nghi để tồn tại, vừa cải

tạo để vượt qua giới hạn của giới tự nhiên làm cho cuộc

sống của con người ngày càng an khang tốt đẹp hơn

Với xã hội con người vừa hòa đồng để xây dựng cộng đồng bền chặt, vừa khu biệt để khẳng định vai trò cá nhân

tạo nên một cuộc sống hài hòa và trường tồn

Ứng xử của con người đối với bản thân mình mang tính thống nhất cân bằng giữa những nhu cầu bản năng và nhu cầu văn hóa theo hướng làm cho con người hoàn thiện và thánh thiện hơn

2.2 Con người ứng xử với tự nhiên

+ Với tự nhiên ngoài ta (môi trường) :

+ Với tự nhiên trong ta (bản năng) :

 Với tự nhiên ngoài ta (môi trường) :

Con người vừa phải thích nghi vừa phải cải tạo môi trường bằng cách sản xuất ra các điều kiện – mang tính chất nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người

Khái niệm vùng văn hóa từ đầu thế kỉ 19

Trang 13

Nhà nhân loại học người Mỹ - Clark Wissler trong cuốn

“con người văn hóa” (1928)

 Với tự nhiên trong ta (bản năng) :

- Con người là sản phẩm của tự nhiên

- Vấn đề đặt ra là phải phân biệt và tìm ra mối quan hệ giữa nhu cầu bản năng và ứng xử văn hóa

2.3 Con người ứng xử với xã hội

 Với xã hội ngoài ta – cộng đồng :

 Với xã hội trong ta – cá nhân:

2.4 Con người ứng xử với bản thân mình

Trước hết, cần xác định cho được bản chất của văn hóa

Là hoạt động nhằm sản xuất, sáng tạo ra các sản phẩm văn

Trang 14

hóa hữu thể và vô thể, văn hóa là một tổng thể của rất nhiều hoạt động, các hoạt động ấy hướng đến cái chân, cái thiện, cái mĩ Bởi vậy, văn hóa không nằm ngoài kinh tế và chính trị, nhưng chính nó lại có đời sống riêng của mình, cũng như quy luật hoạt động riêng Mục tiêu cao cả nhất của văn hóa

là vì con người, vì sự phát triển và hoàn thiện của con người

Từ những nét bản chất này của văn hóa để nhận biết các chức năng của văn hóa là một cách tiếp cận hợp lý

Chức năng bao trùm của văn hóa là chức năng giáo dục

Nói cách khác, chức năng tập trung của văn hóa là bồi dưỡng con người, hướng lí tưởng, đạo đức và hành vi của con người vào “điều hay lẽ phải, điều khôn, lẽ thiệt”, theo những khuôn mẫu, chuẩn mực mà xã hội quy định Văn hóa bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ, mang tính lịch sử và tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu.Nó được duy trì bằng truyền thống văn hóa, tức là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm trong cộng đồng qua không gian và thời gian Nó là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới dạng những khuôn mẫu xã hội được tích lũy

và tái tạo trong cộng đồng người và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận,…Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị ổn định mà còn bằng những giá trị đang hình thành Các giá trị đã ổn định và những giá trị đang hình thành tạo nên một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ nó, văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình

Trang 15

thành nhân cách ở con người, trồng người, dưỡng dục nhân cách

Chức năng giáo dục của văn hóa đảm bảo tính kế tục lịch sử Nếu gien sinh học di truyền lại cho các thế hệ sau

hình thể con người thì văn hóa được coi là một thứ gien xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho các thế hệ sau

Do là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người, văn hóa có tính nhân sinh đậm nét và trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng thông qua ngôn ngữ Nếu như ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là

nội dung của nó Một chức năng nữa của văn hóa là chức năng giao tiếp Bằng chức năng giáo dục, văn hóa tạo cho

lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc một sự phát triển liên

tục Chức năng tổ chức xã hội và sự phát sinh của chức năng này là văn hóa có chức năng điều chỉnh xã hội, định

hướng các chuẩn mực, các cách ứng xử của con người Gần đây, UNESCO cũng như Đảng, Nhà nước ta cho rằng văn hóa là động lực của phát triển, chính là đề cập tới chức năng này

Mặt khác, chức năng giáo dục của văn hóa phải được thực hiện thông qua các chức năng khác

Trước hết là chức năng nhận thức Chức năng này tồn

tại trong mọi hoạt động văn hóa Nói cách khác, chức năng nhận thức là chức năng đầu tiên của mọi hoạt động văn hóa, thiếu nó, không thể nói tới chức năng nào khác Cùng chức

năng nhận thức là chức năng thẩm mĩ Đây là một chức

năng rất quan trọng của văn hóa, nhưng cũng là chức năng

Trang 16

hay bị bỏ quên, bị coi nhẹ, khi xem xét, điều hành, quản lí văn hóa Cùng với sự hiểu biết, còn có nhu cầu hưởng thụ, hướng tới cái đẹp Con người nhào nặn hiên thực theo quy luật của cái đẹp như Các Mác từng khẳng định, cho nên văn hóa nghệ thuật phải có chức năng này Xé cho cùng, văn hóa

là sự sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp

Chức năng giải trí Chức năng này không thể tách rời

chức năng giáo dục và không đi ra ngoài mục tiêu hoàn thiện con người

5 Sự biến đổi văn hóa

Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi văn hóa là do sự giao lưu tiếp xúc với các nền văn hóa khác Trong quá trình tiếp xúc xảy ra hai khuynh hướng cực đoan trái ngược nhau:

- Một là, xu hướng bảo thủ, cố khép kín cái hàng rào văn hóa của mình, không chấp nhận cái lạ, cái mới, cái khác mình, mà khư khư giữ lấy truyền thống không chịu đổi mới

- Hai là, xu hướng lai căng mất gốc, phục ngoại, tiếp thu không chọn lọc, coi khinh những giá trị văn hóa dân tộc làm cho chúng mai một dần

- Tiếp xúc và giao lưu văn hóa đều có một nghĩa chung là

sự gặp gỡ, trao đổi, vay mượn, có sự tác động qua lại giữa hai nền văn hóa

- Khi nói tới tiếp xúc là nói tới sự tiếp xúc giữa hai mô hình văn hóa và ảnh hưởng của một nền văn hóa này đối với một nền văn hóa khác, trong một thời gian dài, trên một quy

Trang 17

mô rộng, làm biến đổi cấu trúc và cơ chế vận hành của văn hóa đi vay mượn

Sự thay đổi mô hình được bắt đầu với sự xuất hiện những yếu tố ngoại sinh thuộc mô hình vay mượn và quan hệ của chúng với những yếu tố nội sinh thuộc mô hình bản địa Sự cải biến mô hình cũ để tạo nên một cấu trúc mới hiện đại diễn ra trong quá trình tiếp xúc Vì thế nói tới sự biến đổi

mô hình là nói tới sự biến đổi cấu trúc có hệ thống chứ không phải từng yếu tố riêng lẻ Điều đó khu biệt với quá trình giao lưu văn hóa

Những yếu tố ngoại sinh được tiếp nhận phải chịu ba thái

độ ứng xử: lúc đầu bị phản ứng quyết liệt, sau đó là cộng sinh và cuối cùng là hòa nhập và trải qua 3 bước biến đổi theo trật tự: lúc đầu là sao phỏng, tiếp đó là mô phỏng và cuối cùng là bản địa hóa được người Việt biến thành cái của mình Những yếu tố nội sinh trong quan hệ với yếu tố ngoại sinh của cùng một cấu trúc đều được biến đổi cũng theo ba bước: Tháo rời cấu trúc cũ, rồi được sắp xếp lại theo cảm thức hiện đại và cuối cùng là hiện đại hóa

Sơ đồ cấu trúc văn hóa hiện đại:

• Yếu tố ngoại sinh: Sao phỏng – Mô phỏng – Dân tộc hóa

• Yếu tố nội sinh: Tháo rời – Tái cấu trúc – Hiện đại hóa Tính chất dân tộc hay bản sắc văn hóa được thể hiện ở

sự lựa chọn và cách biến đổi các yếu tố ngoại lai theo tâm thức phù hợp với hệ giá trị của mỗi dân tộc

Trang 18

Văn hóa như là một chỉnh thể, một hệ thống cấu trúc hết sức đa dạng gồm nhiều yếu tố nội sinh, ngoại sinh, lồng ghép vào nhau với nhiều chức năng, nhiều quan hệ được hiện hữu và được vận hành theo một trực tự nhất định mà giá trị của nó là sự thể hiện hệ giá trị của mỗi dân tộc

Nghiên cứu văn hóa không phải chỉ dừng lại ở chỗ chỉ ra nguồn gốc của các yếu tố vay mượn mà phải phát hiện được

độ khúc xạ khi một nền văn hóa này vay mượn một nền văn hóa khác

Tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ

Khác với tất cả các nước trong khu vực, VN không được xếp vào thế giới Ấn Độ hóa, nên họ rất xem nhẹ vấn đề này.Tuy nhiên xét trên toàn bộ sự phát triển của văn hóa VN thì văn hóa AD đã thấm thấu vào VN bằng nhiều ngã đường

và khá liên tục trong mối quan hệ đối trọng với văn hóa Trung Hoa.Sự hội nhập văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ trên

cơ tầng ĐNA ở VN đã làm cho nền văn hóa đa sắc tộc càng thêm đa dạng và góp phần tạo nên sự ổn định xã hội và văn hóa – một nhu cầu rất quan trọng của cư dân nông nghiệp lúa nước

Bước vào thời kỳ sơ sử, trên lãnh thổ VN ngày nay có 3 miền với các quốc gia cổ đại chính như sau:

 Đại Việt về phía Bắc

 Champa ở miền Trung

 Phù Nam ở phía Nam

Trang 19

Tất cả các quốc gia cổ đại này đều đa sắc tộc và đều tiếp nhận văn hóa AD theo các ngã đường đan xen với những cách ứng xử khác nhau Mặc dù có quá ít tài liệu về mối quan hệ Ấn – Việt vào những thế kỷ cuối trước công nguyên, nhưng với những nghiên cứu gần đây cho thấy vùng Bắc Bộ là một trong những địa điểm ở ĐNA mà các thương nhân, các nhà sư Ấn Độ đã đi lại nhiều Giao Châu trở thành một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất ở Đông và ĐNA Phật giáo từ AD tới Luy Lâu rồi từ đó truyền sang Bành Thành (hạ lưu sông Trường Giang) và từ Bành Thành tới Lạc Dương (kinh đô nhà Đông Hán) Do đất Giao Châu

bị nhà Hán thống trị nên sự tiếp xúc với văn hóa AD chỉ diễn ra trong tầng lớp dân chúng

Phật giáo cùng với văn hóa AD thâm nhập vào văn hóa dân gian và trở thành vũ khí chống lại tầng lớp thống trị phương Bắc Trong khi đó các vùng còn lại của ĐNA, văn hóa AD trở thành nhân tố quan trọng trong việc hình thành nhà nước và tác động theo chiều từ trên xuống dưới Vì vậy, ngay từ đầu Phật giáo VN đã mang tính chất dân tộc Các nhà sư VN đã sang tận AD để học đạo và cùng các nhà sư

AD lập thành các dòng tư tưởng riêng vừa đối lập với Nho giáo, vừa khu biệt với Phật giáo Trung Hoa Qua Phật giáo văn hóa nghệ thuật AD cùng với văn hóa Trung Hoa đã hội nhập tại đây để lại những dấu ấn sâu sắc từ những tác phẩm điêu khắc đá tuyệt đẹp ở Phật Tích (TK VI) mang phong cách Gupta và Lục Triều đến những truyện cổ tích, những tục ngữ, thành ngữ, ca dao hấp dẫn bao thế hệ đều ít nhiều phỏng theo các mootip của văn hóa Phật giáo như Avanada,

Trang 20

Jataka….phản ánh tư tưởng từ bi bác ái của đạo Phật Cũng

là Đức Phật từ AD, như ở ta có ông Bụt (từ Boudha được tiếp nhận trực tiếp qua văn hóa dân gian) và ông Phật (tiếp nhận qua văn hóa Hán)

Cuối thế kỷ VII, thời đại hoàng kim của văn hóa Phật giáo AD chấm dứt, đến đầu tk X Hồi giáo bắt đầu thâm nhập

AD Từ đó trở đi những quan hệ trực tiếp Ấn – Việt hầu như

bị chấm dứt mà thông qua những yếu tố trung gian Đó là Trung Hoa và Champa, Chân Lạp,…Người Chàm với vương quốc Champa và các nước Campuchia, Lào, Thái Lan, đã chịu ảnh hưởng văn hóa AD một cách mạnh mẽ và điển hình Là cư dân Austronesien với một nền văn hóa biển truyền thống, sự giao lưu giữa văn hóa AD với các cư dân Nam Đảo lục địa trong đó có Chàm diễn ra rất sớm và nhiều vương quốc sao phỏng theo mô hình AD đã được hình thành

Khoảng thế kỷ III – IV, Champa đã là một trong những quốc gia cổ đại bậc nhất ở ĐNA tiếp nhận mô hình văn hóa

AD một cách sâu sắc Với nền chương học Ấn, lấy tiếng Phạn làm phương tiện biểu đạt, sự tiếp xúc văn hóa Ấn – Chàm cũng theo hai con đường: truyền bá tôn giáo và di dân Tuy nhiên con đường di dân của người Ấn ở ĐNA lục địa vì đó là các thương nhân và vì sự có mặt của người Hoa Việc chuyển tải văn hóa Ấn được thực hiện chủ yếu thông qua các nhà sư truyền giáo Vì thế các văn bản AD (đạo pháp, luật pháp, chính pháp,…)có một vai trò đặc biệt quan trọng và các vua Champa đã áp dụng khá nguyên vẹn Chế

độ vương quyền AD đã được cấp nhãn hiệu thần quyền Vua

Trang 21

là hiện thân của thần trên mặt đất – người bảo vệ thần dân bằng “thánh luật” tức “luật thiêng” Vì vậy, đất nước không thể không có vua

“Đất nước không có vua khác nào như sông không có nước, rừng không cỏ, đàn gia súc không người chăn”

Người AD trong đời có 3 việc lớn phải làm theo trình tự: chọn vua, chọn vợ, tích lũy tài sản” Vì vậy toàn bộ cơ cấu

tổ chức chính trị - văn hóa là sự kết hợp của vua – thần trên

tư liệu gốc của các triều đại Cả một nền từ chương học AD (chữ viết, văn học, nghệ thuật, nghi lễ, phong tục…) đều gắn

bó với tôn giáo Tuy nhiên các vương quốc chịu ảnh hưởng văn hóa AD do “luật thiêng” quy định đều rơi vào tình trạng mất ổn định về chính trị, các triều đình thôn tính lẫn nhau, các vương triều luôn luôn bị thay thế, bị hãm hại, không thể tạo dựng được một quốc gia thống nhất và bền vững Nếu như văn hóa Champa là kết quả của sự tiếp nhận văn hóa

AD được bản địa hóa bởi cư dân Nam Đảo (Austronesien) đại diện cho văn hóa biển, trong đó người Chàm có một thời đóng vai trò chủ thể, thì văn hóa Phù Nam ở ĐBSCL lại là

sự tiếp nhận văn hóa AD chủ yếu bởi các cư dân Nam Á (Austroasiatique) đại diện cho văn hóa núi, trong đó cư dân

Trang 22

Môn – Khmer đóng vai trò quan trọng Theo sử liệu Trung

Quốc, một đạo sĩ Bàlamon là Hỗn Điền đã theo thuyền buôn

tới đây làm vua nước Phù Nam rồi tùy theo luật AD mà sửa đổi lại nền nếp trong nước Balamon giáo trở thành quốc giáo thâu tóm cả vương quyền lẫn thần quyền Siva giáo với hóa thân “Linga” được phổ biến rộng khắp Tiếp đó là Visnu giáo Đạo Phật cũng được du nhập vào Phù Nam mở đầu bằng phái Nam Tông từ tk IV và sau đó là Bắc Tông từ tk VII – VIII nhưng đạo Balamon chiếm ưu thế hơn

Tuy nhiên, do cơ chế của Balamon giáo và sự vận hành của văn hóa AD, các nước ĐNA theo mô hình văn hóa AD quá thiên về thần quyền thiếu một tầng lớp thế tục lo việc cai trị nên rất khó xây dựng một quốc gia thống nhất bền vững Khi các vương triều thay nhau sụp đổ thì văn hóa cũng bị suy thoái và để lại dấu ấn trong những công trình kiến trúc, những bia ký… hoang phế mà thôi.Các phong tục tập quán, nếp sống, tín ngưỡng…lại được các dân tộc bảo lưu trong văn hóa dân gian đa dạng của họ

Câu hỏi ôn tập:

1) Trình bày khái niệm văn hóa qua các giai đoạn Phân biệt khái niệm văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật?

2) Quan hệ của con người Việt Nam với môi trường tự nhiên Việt Nam thể hiện những sắc thái gì trong nền văn hóa dân tộc?

3) Nêu những hiểu biết của anh (chị) về gia đình và làng của người Việt?

Trang 23

Chương 2: THÀNH TỐ VĂN HÓA VIỆT NAM

1.Ngôn ngữ

1.1 Định nghĩa và vai trò của ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu (tiếng nói, cử chỉ,…) để bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc của con người và là công cụ để con người giao tiếp với thế giới xung quanh Ngôn ngữ là một thành tố văn hóa và có tác động chi phối các thành tố khác của văn hóa, vì ngôn ngữ là một loại phương tiện trao đổi, là điều kiện để các thành tố khác giao thoa và phát triển

1.2 Sự hình thành của tiếng Việt

Có thể khái quát sự hình thành của tiếng Việt qua các thời kỳ như sau:

Nền tảng của tiếng Việt cổ là ngữ hệ ĐNA Theo thời gian, cái nền chung ấy đã phân hóa thành hai nhóm Nam Á

và Nam Đảo Thời điểm phân hóa có thể là khoảng thời gian tồn tại của văn hóa Hòa Bình và hậu Hòa Bình, khoảng trên dưới một vạn năm về trước

Sự phân hóa lần hai xảy ra trong thời kỳ đá mới và cách mạng đá mới Từ nền tảng Nam Á ở sâu trong rừng núi đã phân hóa dần thành ngữ hệ Môn – Khơme Từ nền tảng Nam Đảo ở vùng bán đảo ven biển Đông Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam đã phân hóa thành ngữ hệ Tày – Thái cổ, với Tày Đăm ở cạn và Tày Khao ở gần nước

Trang 24

Ở cuối thời kỳ đá mới và sơ kỳ kim khí, không chỉ có hiện tượng phân hóa chia đôi mà còn có sự du nhập các ngữ

hệ và tộc người từ nơi khác vào miền ĐNA Vào khoảng thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên, Hà Nội còn là vịnh biển, hàng loạt cộng đồng tộc người, nhất là những cư dân Môn – Khơme vùng Bắc Đông Dương, cư dân tiền Việt – Mường, những người săn bắt, hái lượm và làm nương vùng cao đã tràn xuống vùng trũng quanh vịnh Hà Nội và đã cộng

cư với các cộng đồng tộc người nói tiếng Tày – Thái tại đây

Họ đã áp dụng mô hình kinh tế - xã hội lúa nước của người Tày – Thái trong việc khai phá đồng bằng sông Hồng Quá trình đó dẫn đến sự hình thành một cộng đồng người mới: cư dân Việt – Mường, đồng thời tiếng Việt cũng hình thành và được sử dụng trong cộng đồng người này

Ngày nay, các nhà dân tộc học chia các tộc người trên đất nước ta thành tám nhóm, dựa trên những đặc trưng về ngôn ngữ: Việt – Mường, Tày – Thái, Tạng– Hán, Môn – Khơme,

Mã Lai – Đa Đảo, hỗn hợp Nam Á, thể hiện ở bảng sau:

1.3 Ảnh hưởng của các ngôn ngữ khác đối với tiếng Việt

Trang 25

Người Việt đã dùng cách phát âm Hán – Việt để đọc toàn

bộ các chữ Hán Sự tiếp nhận này làm cho tiếng việt giàu có hơn mà không hề làm mất đi bản sắc của mình

• Ảnh hưởng của tiếng Pháp

Cuộc tiếp xúc lớn lần thứ hai này mới diễn ra trong những năm cuối tk XIX, đầu tk XX Thực dân Pháp, với tư thế của kẻ xâm lược, đã đặt tiếng Pháp vào địa vị có uy thế

so với tiếng Việt Người Việt cũng vay mượn một số từ trong tiếng Pháp, mô phỏng ngữ pháp, tạo những biến đổi theo chiều hướng tích cực cho tiếng Việt

1.4 Đặc trưng của tiếng Việt

• Tiếng Việt có được những đặc trưng cơ bản sau :

Có tính biểu trưng cao, thể hiện ở xu hướng khái quát hóa, ước lệ hóa với những cấu trúc cân đối, hài hòa :

+ Xu hướng ước lệ thể hiện ở chỗ tiếng Việt thích diễn đạt bằng những con số tượng trưng : ba bề bốn bên, chín tầng mây,… Cách nói này hoàn toàn khác biệt so với cách nói của người phương Tây, đi thẳng vào vấn đề, diễn đạt một cách chặt chẽ, cụ thể

+ Một biểu hiện của tính biểu trưng là xu hướng trọng sự cân đối, hài hòa trong ngôn từ :trèo cao ngã đau… Trong tiếng Việt, cấu trúc song tiết là chủ đạo mặc dù tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm

+ Xu hướng này còn thể hiện ở một đặc điểm chung của nền văn chương là thiên về thơ ca Người phương Tây thì ngược lại, nền văn chương của họ là thiên về văn xuôi

Trang 26

Tiếng Việt cũng giàu thanh điệu, tự thân thanh điệu đã tạo nên tính nhạc cho lời văn

Giàu chất biểu cảm, thể hiện ở từ ngữ, ngữ pháp và nội dung :

+ Về mặt từ ngữ : các từ láy, tính từ,…mang sắc thái biểu cảm mạnh rất phổ biến trong tiếng Việt

+ Về ngữ pháp : tiếng Việt dùng nhiều hư từ biểu cảm như à, ư, nhỉ, nhé, chớ, hả, hở, phỏng, sao, chứ…

+ Về nội dung : trong văn chương Việt Nam, thơ phổ biến hơn văn xuôi, các đề tài về chiến tranh không phổ biến hoặc chỉ đề cập khía cạnh buồn của cuộc chiến (chinh phụ ngâm) Các đề tài về thiên nhiên, tình yêu rất phổ biến trong các tác phẩm

Có tính động và linh hoạt, thể hiện :

+ Về ngữ pháp : tiếng Việt phức tạp, không cố định, không theo những quy cách tiêu chuẩn hóa như ngôn ngữ châu Âu Người Việt thích dùng cấu trúc động từ, ưa cấu trúc chủ động (kể cả trong những câu có nghĩa bị động) + Về nội dung : tiếng Việt có thiên hướng phản ánh nội dung tĩnh (như tình cảm) bằng hình thức động (sử dụng động từ, cấu trúc linh hoạt,…)

1.5 Những đặc trưng giao tiếp bằng ngôn ngữ của người Việt Nam

Về thái độ giao tiếp : người Việt vừa thích giao tiếp lại vừa có tính rụt rè :

Trang 27

+ Người Việt thích thăm hỏi nhau, có tính hiếu khách, nhưng quy mô chỉ giới hạn trong phạm vi những người thân thích, bạn bè, hàng xóm láng giềng hay những người cùng nơi cư trú,… + Sự rụt rè được thể hiện khi chủ thể giao tiếp

ở ngoài cộng đồng hay trước những người lạ

Về nguyên tắc giao tiếp :

+ Người Việt lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử

+ Người Việt lấy hài hòa âm dương làm trọng nhưng vẫn thiên về âm hơn

Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình

Về đối tượng giao tiếp :

Người Việt có thói quen tìm hiểu, quan sát, đánh giá,…Họ muốn biết thật rõ về đối tượng mình sẽ giao tiếp, ngay cả những vấn đề thuộc tính chất riêng tư như hoàn cảnh gia đình, tuổi tác,…để tiện ứng xử, xưng hô Cách thức này khiến người nước ngoài đánh giá người Việt Nam là những người tò mò, nhưng thực ra đó là kết quả lâu dài của lối sống trọng tình của người Việt Nam

Về chủ thể giao tiếp : người Việt rất trọng danh dự nên

hay nói quá và có thể sử dụng dư luận để tác động đến người khác

Về cách thức giao tiếp : người Việt ưa sự tế nhị, ý tứ và

nhường nhịn :

+ Sự tế nhị thể hiện ở chỗ người Việt ưa dùng cách nói vòng vo, không đi thẳng trực tiếp vào vấn đề cần đề cập

Trang 28

+ Thói quen đắn đo trước khi nói cũng là một khía cạnh khác của thói quen giao tiếp :

Người khôn ăn nói nửa chừng

Để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo

Chính sự đắn đo, cân nhắc này đã dẫn đến một nhược điểm của người Việt là tính thiếu quyết đoán Để tránh phải quyết đoán, tránh làm mất lòng nhau, người Việt lựa chọn cách nói vòng vo, tế nhị Đặc biệt, người Việt rất hay cười trong khi nói chuyện, nhất là trong những tình huống đòi hỏi phải đưa ra quyết định tức thì

Về nghi thức lời nói : người Việt sử dụng nghi thức lời

nói rất phong phú, thể hiện :

+ Hệ thống xưng hô : có tính thân mật hóa (trọng tình cảm) ; có tính cộng đồng hóa ; có tính tôn ty rõ ràng

+ Cách nói lịch sự

2 Lễ hội

Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp – một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về cội nguồn, ôn lại truyền thống, hoặc là giải tỏa những lo âu, thể hiện những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được

2.1 Bản chất của lễ hội

Lễ hội là hình thức sinh hoạt cộng đồng, được tổ chức ở một làng hay một vùng nào đó

Trang 29

Việc tổ chức rất linh hoạt về cả thời gian và nội dung không phải cứng nhắc tuân theo các quy định khắt khe như các tôn giáo khác Hầu hết các lễ hội đều xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh: thuần phục, thờ cúng các lực lượng

tự nhiên để cầu mong có một cuộc sống ổn định, mùa màng bội thu

Lễ hội đã được tổ chức từ thời Hùng Vương – hội mùa xuân Đến thời Bắc thuộc, thói quen tổ chức hội xuân, thu

nhị kỳ đã định hình cho đến tận ngày nay

2.2 Nguồn gốc

Về mặt vật chất: sau một thời gian lao động tích cực,

người dân có đủ các điều kiện thời gian, vật chất để tổ chức

lễ hội

Về mặt tinh thần:

Lễ hội là thời điểm sinh hoạt tập thể của nhân dân sau

một thời gian lao động mệt nhọc

Lễ hội là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: tưởng nhớ tổ tiên, những vị anh hùng dân tộc

Lễ hội là dịp để người dân lao động bày tỏ lòng thành kính của mình đối với các lực lượng siêu nhiên, thể hiện những ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được

Trang 30

hòa, sự phồn vinh, hạnh phúc,

+ Vai trò: là nền tảng của lễ hội, tạo không khí thiêng

liêng và những giá trị tinh thần tốt đẹp trước khi chuyển sang phần hội

+ Hiện trạng: đã được đơn giãn hóa nhưng vẫn giữ được

những chuẩn mực chung nhất Tuy nhiên, nhiều người đánh giá tính linh thiêng và trang trọng của phần lễ trong các lễ hội truyền thống không còn được trọn vẹn như trước đây

• Phần hội:

+ Mục đích: vui chơi giải trí, giao lưu

+ Vai trò: là nơi để người tham gia lễ hội có dịp nghĩ

ngơi, tham gia các trò chơi, được giao lưu với nhiều người khác, được thể hiện bản thân mình mà trong điều kiện bình thường không thể hoặc không dám bộc lộ

+ Hiện trạng: một số trò chơi được phục hồi và bảo tồn

nhưng đa số có nhiều biến tướng theo chiều hướng xấu

Trang 31

b Thời gian

Lễ hội truyền thống: tập trung trong hai mùa xuân, thu (thời điểm nghĩ ngơi của nhà nông) Hiện nay: rải rác các tháng trong năm

c Không gian

Lễ hội thường được tổ chức tại các di tích lịch sử - văn hóa, các danh lam thắng cảnh, những địa danh nổi tiếng Yêu cầu phải có không gian rộng và có các điều kiện về cơ

Trang 32

Đạo Cao đài và đạo Hòa hỏa ở Nam bộ

Câu hỏi ôn tập:

1) Anh (chị) hãy trình bày về một thành tố văn hóa cụ thể?

Trang 33

Chương 3: TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ CỦA VĂN HÓA

VIỆT NAM 3.1 Văn hóa VN thời tiền sử và sơ sử 3.1.1 Thời tiền sử

a Thời kỳ đá cũ

Thời kỳ đá cũ cách ngày nay 40 – 50 vạn năm, với các nền văn hóa tiêu biểu :

Văn hóa Núi Đọ (Thanh Hóa)

Đặc điểm tự nhiên: lãnh thổ VN, Malaixia, Inđônêxia còn liền một dải; Ở Sầm Sơn chưa có biển; khí hậu nhiệt đới nóng ẩm; nhiều thú dữ

Tổ chức xã hội đang dần hình thành, ở trong các hang động lưng chừng núi Người vượn nguyên thủy thuộc văn hóa Núi Đọ là những người vượn đứng thẳng phát triển Họ sống thành từng bầy, có thủ lĩnh bầy, mỗi bầy có khoảng 20 – 30 người, chia thành 5 – 7 gia đình

Sản xuất vật chất : giữ được lửa từ cây rừng bị cháy ; đã

có những công cụ đá được đẽo gọt thô sơ : mảnh tước, hạch

đá, rùi tay,… ; kinh tế chủ yếu dựa vào săn bắt, hái lượm đơn giản theo bầy đàn ; đào củ mài, tìm mật ong, bắt cá – trai - ốc,… ; phân phối sản phẩm công bằng

Văn hóa Sơn Vi (Lâm Thao, Phú Thọ)

Văn hóa Sơn Vi cách ngày nay 15 – 20 nghìn năm Dấu vết ở hang Con Moong cho thấy, người Sơn VI có thể xuất hiện cách ngày nay 12.000 năm

Trang 34

Tổ chức xã hội: người Sơn Vi phân bố chủ yếu ở các hang động núi đá vôi vùng đồi gò trung du Đồng bằng đang trong giai đoạn hình thành, chưa phù hợp với đời sống định

Sản xuất vật chất: sử dụng công cụ bằng đá cuội; kinh

tế săn bắt hái lượm; tìm thấy dấu vết của bếp lửa có hình gần tròn

Tín ngưỡng: đã xuất hiện niềm tin vào thế giới khác với

việc chôn người chết trong nơi cư trú Tất cả các hài cốt được tìm thấy trong hang Con Moong đều được chôn theo tư

thế nằm nghiêng bó gối

b Thời kỳ đá giữa

Thời kỳ đá giữa cách nay 10.000 năm, với các đặc trưng: Nhiệt độ trái đất tăng lên, là điều kiện tốt cho sự phát triển của con người và toàn bộ giới sinh vật

Giai đoạn này chứng kiến sự khởi đầu của văn hóa Hòa Bình (12.000 – 7.000)

c Thời kỳ đá mới

Văn hóa Hòa Bình

Tổ chức xã hội: sống định cư tương đối trong các hang động núi đá vôi; dân số tăng; sống thành từng nhóm người

có quan hệ máu mủ, họ hàng Xuất hiện những thị tộc nguyên thủy

Sản xuất vật chất:

Trang 35

Kỹ thuật chế tác công cụ sản xuất đạt đến đỉnh cao với nhiều loại công cụ: rùi tay, dao, đục, ; nguyên liệu được sử dụng để chế tạo công cụ cũng rất phong phú: đá cuội, xương (voi, trâu, bò, tê giác), xuất hiện cung tên; kinh tế dựa trên hái lượm và săn bắt là chủ yếu

Xuất hiện nền nông nghiệp sơ khai: trồng cây ăn quả, cây

có củ, cây thuộc họ rau đậu và bầu bí; bắt đầu thuần dưỡng động vật; biết làm gốm

Văn hóa Bắc Sơn:

Trong giai đoạn văn hóa này, con người dần chấm dứt thời kỳ lệ thuộc vào thiên nhiên

Tổ chức xã hội:

Khoảng 6000 năm trước đây, miền châu thổ dần ổn định Các bộ lạc từ vùng núi (tổ tiên ngưới Xá, Thượng, Tày) và những bộ lạc ven biển (người Lô Lô, Chăm, Mã Lai cổ) xuống định cư tại vùng đồng bằng, dân số tăng

Đời sống định cư ổn định, quan hệ láng giềng xuất hiện, dựng nhà ở những nơi ổn định cho việc sinh hoạt, sản xuất (bờ suối, ven sông, ven biển), ở nhà sàn

Sản xuất vật chất: xuất hiện đồ đá mài (rùi đá Bắc Sơn); xuất hiện thuyền độc mộc, sau đó là mảng, thuyền buồm, tạo điều kiện cho nghề cá phát triển, xuất hiện nghề chăn nuôi thú nhỏ

Đời sống tinh thần: Chôn người chết gần nhà hoặc trong hang theo tư thế ngủ; xếp đá xung quanh làm mộ, có chôn theo đồ trang sức, công cụ sản xuất và sinh hoạt; cuối thời

Trang 36

đá mới đã xuất hiện tín ngưỡng nguyên thủy: thờ mưa, gió, mặt trời,

Những văn hóa khác cùng thời kỳ: Hạ Long, Quỳnh Văn (Nghệ An, Hà Tĩnh), Bàu

Tró

3.1.2 Thời kỳ sơ sử

a Văn hóa Đông Sơn

Văn hóa tiền Đông Sơn

Tổ chức xã hội: các liên minh bộ lạc xuất hiện; làng mạc

đã hình thành và có diện tích rất rộng

Sản xuất vật chất:

Công cụ sản xuất vẫn sử dụng đá, gỗ, tre, nứa, xương,

để chế tạo công cụ sản xuất và vũ khí nhưng kỹ thuật phát triển cao hơn (đồ xương được mài nhẵn bóng, đồ đá mỏng hơn nhưng không còn trau chuốt bằng) Số lượng các công

cụ này có xu hướng giảm

Đồ gốm dày và cứng hơn, nhiệt độ nung cao, phần lớn có màu xanh mốc; loại hình gốm phong phú

Trong giai đoạn này đã xuất hiện đồ đồng

Các ngành sản xuất: đã có dấu hiệu của việc phân công lao động; nông nghiệp là ngành chủ đạo: trồng lúa, chăn nuôi gia súc (trâu, bò, lợn, ), đánh cá; đúc đồng: công cụ lao động, vũ khí, đồ trang sức, trang sức

Đặc điểm văn hóa:

Trang 37

Nền văn hóa Đông Sơn là nền văn hóa phi Hoa phi Ấn, sắc thái văn hóa địa phương khá rõ rệt Cùng trong thời điểm cách nay hàng nghìn năm có sự tồn tại của ít nhất bốn nền văn hóa (đồng bằng sông Hồng: văn hóa Phùng Nguyên; ven biển Đông Bắc: văn hóa Hạ Long; ven biển

Thanh Hóa: văn hóa Hoa Lộc; ven biển Nghệ Tĩnh – Bình Trị Thiên: văn hóa Bàu Tró)

Có sự tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác Về đời sống tinh thần: Nghệ thuật trang trí với tính nhịp điệu và đối xứng chặt chẽ của hoa văn

Phát hiện một số tượng đất nung trong các di chỉ văn hóa Phùng Nguyên (bò, gà) là những tác phẩm tạo hình sớm nhất được phát hiện ở VN

Đến văn hóa Gò Mun, đã phát hiện tượng động vật bằng đồng Đồ trang sức phong phú, đa dạng hơn với chất liệu đá, xương, đồng

Giai đoạn này vẫn chôn người chết bên cạnh hoặc trong khu cư trú Các mộ địa của văn hóa Phùng Nguyên có hướng gần giống nhau, người chết được chôn ở tư thế nằm ngửa, tay chân duỗi thẳng; huyệt mộ hình chữ nhật, có chôn theo

đồ tùy táng

Đặc điểm lịch sử:

Khoảng tk VII TCN, các văn hóa bộ lạc mất dần tính địa phương, thống nhất vào văn hóa Đông Sơn

Trang 38

Cũng trong giai đoạn này, dân Lạc Việt có người anh hùng ở bộ Gia Ninh thu phục được các bộ lạc, xưng vua, lấy hiệu là Hùng Vương, lập nước Văn Lang

Thần tích xã Tiên Lát, Bắc Giang chép thời điểm vua Hùng dựng nước là năm 660 TCN

Truyền thuyết chép, các vua Hùng trãi 18 đời

Ở Trung Quốc, đây là thời Xuân Thu – Chiến Quốc Nhà Chu suy, các nước chư hầu thông tính lẫn nhau Đất nước Trung Quốc loạn lạc, nước ta không bị xâm lược do ở xa các

đế quốc và đã có quân đội mạnh

Năm 257 TCN, Thục Phán được ngôi, xưng là An Dương Vương cải quốc hiệu là Âu Lạc

Các nhà sử học đánh giá văn hóa Âu Lạc là sự tiếp nối văn hóa Văn Lang Vì thế, văn hóa Đông Sơn trong giai đoạn này chính là văn hóa Văn Lang

Tổ chức nhà nước: Xuất hiện mô hình nhà nước sơ khai Các công xã, bộ lạc họp thành liên minh bộ lạc

Lãnh thổ của quốc gia Văn Lang gồm Bắc Bộ và Trung

Bộ (đến đèo Hải Vân) ngày nay, được chia thành 15 bộ: Giúp việc cho vua có: Lạc hoan, lạc tướng

Quan trông coi các xã là Bồ chính, Thần bộc

Con trai vua là Quan lang, con gái vua là Mị Nương

Tổ chức xã hội:

Trang 39

Làng xóm phân bố ở những nơi đất cao, sườn núi, đồi đất; gần các sông lớn hoặc các chi lưu của chúng (khoảng cách giữa làng mạc và các sông suối từ 1 - 5 km)

Làng có qui mô nhỏ, khoảng vài trăm người Một số làng hợp thành khu dân cư đông đúc Xung quanh làng có những lũy tre lớn làm nhiệm vụ phòng thủ

Gia đình tổ chức theo phụ hệ, chế độ của riêng phát triển Phân công lao động xã hội tỉ mỉ

Kinh tế:

Nghề chính là nghề nông trồng lúa nước Hình thức canh tác phổ biến là chờ mưa, ruộng thấp

Biết lợi dụng thủy triều, đắp đê chống lụt

Nông cụ đa dạng (chủ yếu là bằng đồng, chưa có hoặc ít

có công cụ bằng sắt)

Có thể đã canh tác một năm 2 vụ

Chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò) và nhỏ (lợn, gà) Nghề thủ công phát triển và đa dạng, thể hiện sự phân công lao động tỉ mỉ

Đặc điểm văn hóa:

Trang 40

ngực và yếm), trang phục lễ hội: váy lông chim hoặc lá kết, khố dài thêu; đồ trang sức: thủy tinh, đồng, đeo ở tay, chân)

Ăn uống: ban đầu chủ yếu ăn gạo nếp, sau chuyển dần sang gạo tẻ, hoa màu, thủy sản,

Nhà ở: nhà sàn mái cong hay mái tròn, làm bằng vật liệu nhẹ dễ phá hủy

Đi lại chủ yếu bằng đường sông và đường biển, thuyền bè

là phương tiện chính; thuần dưỡng voi để chuyên chở trên

Ngày đăng: 29/06/2023, 16:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w