Vì vậy, đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học, tích cực sử dụng các kỹ thuật dạy học nhằm phát huy vai trò trung tâm của người học, tăng cường giáo dục kỹ năng sống, vận dụng kiến thức VD
Trang 1Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ……… 2
PHẦN NỘI DUNG ……… 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ………… 3
1 Cơ sở lý luận ……… 3
2 Thực trạng rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn ở bộ môn Sinh học trường THPT Vĩnh Linh ……… 3
2.1 Ưu điểm ……… 3
2.2 Hạn chế ……… 4
CHƯƠNG II: MỘT SỐ HÌNH THỨC TỔ CHỨC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VDKT PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO ……… 4
1 Một số hình thức rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn ……… 4
1.1 Rèn luyện KN VDKT vào thực tiễn thông qua hoạt động khởi động … 4
1.2 Rèn luyện KN VDKT vào thực tiễn thông qua giảng dạy các đơn vị kiến thức có thể liên hệ thực tiễn ……… 5
1.3 Rèn luyện KN VDKT vào phần vận dụng cuối bài học ……… 5
1 4 Rèn luyện KN VDKT vào thực tiễn thông qua các tiết thực hành …… 5
1.5 Rèn luyện KN VDKT vào thực tiễn thông qua dạy học trải nghiệm …… 5
2 Một số ví dụ về rèn luyện kỹ năng VDKT phần Sinh học tế bào – Sinh học 10, chương trình GDPT 2018 vào thực tiễn ……… 6
2.1 Rèn luyện KN VDKT vào thực tiễn thông qua hoạt động khởi động … 6
2.2 Rèn luyện KN VDKT vào thực tiễn thông qua giảng dạy các đơn vị kiến thức có thể liên hệ thực tiễn ……… 7
2.3 Rèn luyện KN VDKT vào phần vận dụng cuối bài học ……….… 10
2.4 Rèn luyện KN VDKT vào thực tiễn thông qua các tiết thực hành … … 13
2.5 Rèn luyện KN VDKT vào thực tiễn thông qua dạy học trải nghiệm … 14
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ ……… 14
PHẦN KẾT LUẬN ……… 17
1 Kết luận ……… 17
2 Khả năng ứng dụng của sáng kiến ……… 17
3 Kiến nghị, đề xuất ……… 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 19
PHỤ LỤC……… 20
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, ngành Giáo dục và Đào tạo đang tích cực triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung
ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Nghị quyết
88/2014/QH13, ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông; nền giáo dục của nước nhà đã đạt nhiều thành tựu to lớn góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đang từng bước thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo hướng tiếp cận phẩm chất và năng lực của người học Vì vậy, đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học, tích cực sử dụng các kỹ thuật dạy học nhằm phát huy vai trò trung tâm của người học, tăng cường giáo dục kỹ năng sống, vận dụng kiến thức (VDKT) để giải quyết các vấn đề thực tiễn là yêu cầu hết sức cấp thiết đối với quá trình tổ chức các hoạt động dạy và học
Một thực tế hiện nay đó là, các tiết dạy của nhiều giáo viên vẫn còn nặng
về cung cấp kiến thức lý thuyết, các nội dung trong sách giáo khoa, tập trung rèn luyện làm bài tập tự luận, trắc nghiệm mà thiếu đi việc vận dụng những kiến thức đã học để liên hệ với thực tiễn, giải quyết những tình huống liên quan trong đời sống
Là một giáo viên giảng dạy môn Sinh học, là môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với thực tiễn đời sống Vì vậy trong quá trình giảng dạy của mình, tôi
đã luôn tìm tòi để đưa vào trong bài giảng của mình những kiến thức thực tế, những câu hỏi VDKT một cách phù hợp với nội dung bài dạy góp phần hình thành các năng lực sinh học và các năng lực chung đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Năm học 2022 – 2023, năm đầu tiên thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018, mỗi giáo viên chúng ta phải không ngừng có những biện pháp tích cực để đáp ứng yêu cầu của sự đổi mới Sau đây tôi xin
chia sẻ sáng kiến “Một số hình thức tổ chức rèn luyện kỹ năng VDKT phần Sinh học tế bào – Sinh học 10, chương trình Giáo dục Phổ thông 2018 vào thực tiễn cho học sinh lớp 10 trường THPT Vĩnh Linh”
Sáng kiến này nhằm mục đích tổng kết hiệu quả của một số hình thức tổ chức rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn cho học sinh lớp 10, đồng thời giúp các em hình thành và rèn luyện các kỹ năng sống, như: làm việc nhóm, giao tiếp, thuyết trình,…
Trang 3PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lý luận
Theo tác giả Phan Thị Thanh Hội và Nguyễn Thị Tuyết Mai: “Vận dụng kiến thức vào thực tiễn là quá trình đem tri thức áp dụng vào những hoạt động của con người nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển
của xã hội”
“Kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn là khả năng của cá nhân có thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động dựa trên kiến thức, kinh nghiệm đã có của bản thân hoặc tìm tòi, khám phá kiến thức mới để giải quyết được các vấn đề thực tiễn một cách có hiệu quả”
Vận dụng kiến thức vào thực tiễn bao gồm việc vận dụng kiến thức đã có
để giải quyết các vấn đề thuộc về nhận thức và việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn sản xuất trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày như làm bài tập, bài thực hành, làm thí nghiệm, viết báo cáo, xử lí tình huống, chăn nuôi, trồng trọt, giải thích các hiện tượng tự nhiên, các vấn đề sinh học trong nông nghiệp, nảy sinh trong thực tiễn, giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là học sinh VDKT đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thu thập thêm kiến thức mới
Chính vì vậy, dạy học rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn là phương thức dạy học mà người giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, trong đó học sinh tìm được mối liên hệ giữa kiến thức với thực tiễn cuộc sống Khi tham gia hoạt động học tập, học sinh sẽ phát huy được tính chủ động, sáng tạo, kích thích sự tìm tòi khám phá tri thức và sẵn sàng giải quyết, tư vấn được những tình huống cụ thể đặt ra trong cuộc sống Như vậy, có thể nói, phát triển
kỹ năng VDKT vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học sẽ làm thay đổi cách dạy của GV và cách học của học sinh theo hướng “học đi đôi với hành”, lí thuyết gắn với thực tiễn, nhà trường gắn với xã hội
2 Thực trạng rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn ở bộ môn Sinh học trường THPT Vĩnh Linh
2.1 Ưu điểm
Hiện nay dạy học gắn với thực tiễn là yêu cầu bắt buộc đối với các bộ môn nói chung và môn sinh học nói riêng Chính vì vậy, quá trình thực hiện việc
Trang 4rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn được áp dụng ở tất cả các bộ môn, các khối lớp của trường THPT Vĩnh Linh
Đối với bộ môn sinh học, giáo viên chủ động triển khai thực hiện VDKT vào thực tiễn thông qua các tiết dạy trên lớp, với các nội dung cụ thể thông qua
kế hoạch bài dạy, triển khai các bài học STEM (trồng cây trong dung dịch, sinh trưởng của vi sinh vật, sinh sản vô tính ở thực vật), tổ chức ngoại khóa giáo dục sức khỏe sinh sản, tổ chức cho học sinh tìm hiểu về Sars – Covi – 2, HIV/AIDS…
Việc kiểm tra, đánh giá chú trọng đến nội dung vận dụng kiến thức và trong đề kiểm tra thường xuyên, định kì đều có câu hỏi để VDKT vào thực tiễn
Đặc biệt đối với chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo định hướng tiếp cận phẩm chất và năng lực, việc đẩy mạnh VDKT vào thực tiễn được tổ chuyên môn cụ thể hóa trong kế hoạch giáo dục của tổ và của từng cá nhân
Chưa có nhiều tài liệu để giáo viên tham khảo việc dạy VDKT vào giải quyết các vấn đề thực tiễn như thế nào cho phù hợp, hiệu quả
Học sinh còn thiếu kỹ năng VDKT vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn
CHƯƠNG II: MỘT SỐ HÌNH THỨC TỔ CHỨC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VDKT PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO – SINH HỌC 10, CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018 VÀO THỰC TIỄN CHO HỌC SINH LỚP 10
TRƯỜNG THPT VĨNH LINH
1 Một số hình thức rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn
1.1 Rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn thông qua hoạt động khởi động
Khởi động là hoạt động đầu tiên trong quá trình tổ chức dạy học, hoạt động này nhằm giúp học sinh huy động những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm
Trang 5của bản thân về các vấn đề có nội dung liên quan đến bài học mới Vì vậy tôi đã
sử dụng các câu hỏi, các tình huống thực tế mà cần các kiến thức, kỹ năng của bài mới để giải quyết vấn đề nêu ra Hoạt động khởi động sẽ kích thích tính tò
mò, sự hứng thú, tâm thế của học sinh ngay từ đầu tiết học
1.2 Rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn thông qua giảng dạy các đơn vị kiến thức có thể liên hệ thực tiễn
Với hình thức này, tôi đã đặt các câu hỏi, trình chiếu các video, hình ảnh các hiện tượng thực tế liên quan đến đơn vị kiến thức học sinh đang tìm hiểu, sau đó yêu cầu học sinh thảo luận để đưa ra câu trả lời đối với vấn đề đó, các học sinh có thể giải thích bổ sung hoặc đánh giá chéo và có thể đưa ra những câu hỏi để làm rõ thêm vấn đề cần giải quyết Qua hoạt động này học sinh rèn luyện được nhiều kỹ năng sống cần thiết (giải quyết vấn đề, thuyết trình, giao tiếp…) và đặc biệt là VDKT đang tìm hiểu để giải quyết một vấn đề liên quan đến thực tiễn
1.3 Rèn luyện kỹ năng VDKT vào phần vận dụng cuối bài học
Đối với mỗi kế hoạch bài dạy, nội dung này giúp học sinh vận dụng được các kiến thức, kỹ năng để giải quyết các tình huống/vấn đề tương tự hoặc mới trong học tập hoặc trong cuộc sống Trước một vấn đề, học sinh có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau vì vậy giáo viên có thể tổ chức để học sinh cùng nhau đưa ra những cách giải quyết hợp lý nhất
1.4 Rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn thông qua các tiết thực hành
Thực tế giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy khi học sinh được tham gia thực hành, các em rất hứng thú Khi tiến hành thực hành học sinh được đứng ở vị trí của nhà nghiên cứu, các em đưa ra phán đoán, nhận xét, kết luận qua đó các em lĩnh hội cả phương pháp nghiên cứu khoa học bộ môn, làm chủ kiến thức Ngoài
ra thực hành còn rèn luyện năng lực tư duy độc lập, tính chủ động sáng tạo, rèn luyện tính kiên trì, chính xác, trung thực Qua các bài thực hành, học sinh có sự say mê yêu thích môn học, khơi gợi lòng ham muốn nghiên cứu khoa học, yêu thiên nhiên, yêu sự phong phú của sinh giới Vì vậy sau mỗi tiết thực hành, tôi
đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu, nghiên cứu và trả lời một số vấn đề diễn ra trong thực tiễn cuộc sống có sự liên quan đến nội dung thực hành
1.5 Rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn thông qua dạy học trải nghiệm
Dạy học trải nghiệm là bao hàm nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyến khích người học tham gia trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết
Trang 6lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹ năng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội Người học sẽ huy động một cách toàn diện về trí tuệ, cảm xúc, thể chất, kỹ năng
và các quan hệ xã hội của bản thân trong quá trình tham gia; yêu cầu người học phải sáng tạo, tự chủ, tự ra quyết định và thỏa mãn với kết quả đạt được Thông qua dạy học trải nghiệm, người học được tham gia tích cực vào việc: đặt câu hỏi, tìm tòi, trải nghiệm, giải quyết vấn đề, tự chịu trách nhiệm Kết quả của trải nghiệm không quan trọng bằng quá trình thực hiện và những điều học được từ trải nghiệm đó, tạo cơ sở nền tảng cho việc học và trải nghiệm của cá nhân đó trong tương lai
Trong quá trình dạy học của mình, tùy vào nội dung bài học, tùy đơn vị kiến thức và thời lượng tôi đã sử dụng linh hoạt các hình thức rèn luyện kỹ năng VDKT nêu trên để cá nhân hoặc nhóm học sinh thực hiện
2 Một số ví dụ về rèn luyện kỹ năng VDKT phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 vào thực tiễn
Trên cơ sở các hình thức tổ chức rèn luyện kỹ năng VDKT nêu trên, tôi đã xây dựng các câu hỏi, bài tập tình huống, vấn đề cần trải nghiệm để học sinh vận dụng kiến thức nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn Cụ thể như sau:
2.1 Rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn thông qua hoạt động khởi động
Câu hỏi khởi động sẽ kích thích được sự tò mò của học sinh khi bước vào tìm hiểu bài mới
2.1.2 Ví dụ 2
Đối với bài tế bào nhân sơ, tôi đã đặt câu hỏi khởi động như sau: Con người chúng ta đang đối mặt với nhiều tác nhân gây bệnh, trong đó có vi sinh vật, tại sao chúng ta không nhìn thấy chúng? Cơ thể chúng có đặc điểm như thế nào mà có thể gây bệnh? Từ đây học sinh sẽ nghiên cứu bài 8 – Tế bào nhân sơ
để cùng tìm câu trả lời
Trang 72.1.3 Ví dụ 3
Để khởi động chuẩn bị cho bài học tế bào nhân thực để tăng tính tò mò đối với học sinh, tôi đặt câu hỏi: Ở người, khi bị thương, người ta thường sát trùng vết thương bằng nước oxi già Khi đó tại vị trí vết thương có hiện tượng gì? Nguyên nhân nào dẫn đến hượng tượng này?
Học sinh sẽ nêu được hiện tượng nhưng chưa giải thích được nguyên nhân, từ đây giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu kiến thức
- Tại sao cơ thể một số loài động vật có thể tiêu hóa được rơm, cỏ, củ,…
có thành phần là tinh bột và cellulose, trong khi con người có thể tiêu hóa được tinh bột nhưng lại không tiêu hóa được cellulose?
Những vấn đề gần gũi với thực tiễn cuộc sống sẽ giúp học sinh hứng khởi với bài học
2.2 Rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn thông qua giảng dạy các đơn vị kiến thức có thể liên hệ thực tiễn
2.2.1 Ví dụ 1
Khi dạy nội dung đơn vị kiến thức các nguyên tố hóa học – thuộc bài các nguyên tố hóa học và nước, tôi đã đưa ra tình huống và yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm 02 học sinh sau đó gọi đại diện các nhóm trả lời
Tình huống: Bạn A rất thích các loại thực phẩm chiên rán như: đùi gà rán, xúc xích rán, trứng rán và rất ít ăn các loại thực phẩm khác vì vậy trong bữa cơm bạn luôn ăn các món mà bạn thích Theo em chế độ ăn uống của bạn A đã hợp lí chưa? Vì sao? Em có lời khuyên gì cho bạn
Trả lời: chế độ ăn uống của bạn A chưa hợp lí, vì ăn nhiều các đồ ăn này
có thể dẫn đến tăng cân và béo phì, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ,
có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường,…
Lời khuyên cho bạn A: Có chế độ dinh dưỡng hợp lý, sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau để bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể
2.2.2 Ví dụ 2
Khi dạy đơn vị kiến thức nước và vai trò sinh học của nước, tôi hướng dẫn học sinh sử dụng hoạt động Think – pair- share để VDKT giải thích vấn đề
Trang 8thực tế như sau:
Vấn đề 1: Một học sinh đã bảo quản rau, quả bằng cách để trong ngăn đá
tủ lạnh Theo em, cách bảo quản đó có phù hợp không? Vì sao?
Vấn đề 2: Tại sao hằng ngày chúng ta cần phải uống đủ nước (trung bình đối với nam giới cần cung cấp cho cơ thể khoảng 3,7 lít nước mỗi ngày, đối với nữ giới cần cung cấp cho cơ thể khoảng 2,7 lít nước mỗi ngày)?
Trả lời:
Vấn đề 1: Trong rau, quả đều chứa một hàm lượng nước nhất định Nếu để vào ngăn đá, nước sẽ đóng băng, khi nước đóng băng làm tế bào to ra sẽ phá vỡ các bào quan, làm hỏng tế bào và làm cho rau quả nhanh chóng bị hỏng Vì vậy nên bảo quản trong ngăn mát của tủ lạnh
Vấn đề 2: Nước là dung môi của các phản ứng hóa học trong cơ thể, Nước
là một chất phản ứng tham gia trực tiếp vào các phản ứng khác nhau của cơ thể, nước giúp điều hòa nhiệt độ cơ thể,…
2.2.3 Ví dụ 3
Sau khi tìm hiểu xong kiến thức về carbohydrate, giáo viên đưa tình huống sau và yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm 4 học sinh (theo bàn) và sử dụng kỹ thuật khăn trải bàn để học sinh tìm ra câu trả lời
Một bệnh nhân bị suy nhược cơ thể được đưa đến gặp bác sĩ Sau khi xem xét tình hình, bác sĩ chỉ định tiêm cho bệnh nhân một mũi chất X vào tĩnh mạch Sau một thời gian ngắn, thể trạng của bệnh nhân này nhanh hồi phục trở lại
- Chất X mà bác sĩ đã tiêm cho bệnh nhân là gì? Tại sao khi tiêm chất X thì thể trạng của bệnh nhân dần hồi phục trở lại?
- Có thể thay chất X bằng các chất như maltose, saccharose được không? Giải thích
Trả lời:
- Chất X được tiêm cho bệnh nhân là glucose Sau khi tiêm, glucose được phân giải để cung cấp năng lượng cho tế bào, vì vậy thể trạng của bệnh nhân này dần hồi phục
- Không thể thay thể glucose bằng maltose hay saccharose vì các loại đường này đưa vào cơ thể phải qua quá trình biến đổi để tạo sản phẩm cuối cùng
là glucose để hấp thụ vào máu Với các bệnh nhân suy nhược cơ thể có thể trạng yếu, khó có thể hấp thụ các loại đường khác
2.2.4 Ví dụ 4
Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về lipid, tôi nêu vấn đề để học sinh cùng
Trang 9thảo luận: Khi ăn cà chua hoặc hành chưng trong mỡ, cơ thể người có thể hấp thụ được những loại vitamin gì?
Trả lời: Khi ăn cà chua hoặc hành chưng trong mỡ, cơ thể người có thể hấp thụ được những loại vitamin tan trong chất béo như A, D, E, K Vì: Trong
cà chua có sắc tố carotenoid (là một sắc tố có bản chất là lipid), trong hành chưng mỡ cũng có chứa rất nhiều lipid
2.2.5 Ví dụ 5
Khi hình thành kiến thức Màng sinh chất, giáo viên có thể thực hiện liên
hệ thực tiễn đối với học sinh về hiện tượng cấy ghép mô, qua tình huống
Hiện nay nhiều bệnh nhân bị suy thận mạn giai đoạn cuối, bác sĩ chỉ định cần thay thận Tuy nhiên việc thay thận cần những điều kiện nghiêm ngặt: làm các xét nghiệm nhằm xác định sự phù hợp giữa người nhận và hiến (nhóm máu, HLA, đo chéo huyết thanh, tiền mẫn cảm của người nhận), tình trạng sức khỏe chung của cả 2 người (các xét nghiệm sinh hóa, huyết học, đông máu, vi khuẩn, virus, ký sinh trùng ), tình trạng giải phẫu chức năng mạch máu thận của người hiến và mạch máu vùng chậu của người nhận Nếu tất cả các xét nghiệm đảm bảo yêu cầu nhận và hiến thận, được hội đồng chuyên môn của bệnh viện thông qua, thì phẫu thuật lấy thận để ghép và phẫu thuật ghép thận sẽ được tiến hành đồng thời
Dựa vào kiến thức về màng sinh chất, em hãy giải thích vì sao cần có sự tương thích giữa người cho với người nhận thận
Trả lời: Trên màng sinh chất có các gai glycoprotein đặc trưng cho từng loại tế bào Nhờ vậy các tế bào có thể nhận ra các tế bào lạ khi được ghép vào và đào thải chúng
Trang 102.3 Rèn luyện kỹ năng VDKT vào phần vận dụng cuối bài học
2.3.1 Ví dụ 1
Sau khi dạy bài 6 – Các phân tử sinh học trong tế bào thì tôi đã tổ chức cho học sinh VDKT đã học để giải quyết các vấn đề liên quan đến thực tiễn thông qua việc chuẩn bị 04 câu hỏi, mỗi câu tương ứng với 01 mảnh ghép, sau
đó sử dụng vòng quay chiếc nón kì diệu để chọn học sinh một cách ngẫu nhiên
để giải quyết tình huống bí ẩn sau mảnh ghép Nếu học sinh nào giải thích chưa đúng thì các học sinh khác được quyền bổ sung
Câu 1 – Mảnh ghép 1: Để giảm béo, nhiều người đã cắt bỏ hoàn toàn chất béo trong khẩu phần ăn Theo em, điều này là nên hay không nên? Dưới góc độ sinh học, chúng ta cần làm gì để duy trì cân nặng và một cơ thể khỏe mạnh?
Câu 2 – Mảnh ghép 2: Giải thích vì sao khi khẩu phần ăn thiếu protein thì
cơ thể, đặc biệt là trẻ em, thường gầy yếu, chậm lớn, hay phù nề và dễ mắc bệnh truyền nhiễm?
Câu 3 – Mảnh ghép 3: Khi chế biến món salad, việc trộn dầu thực vật vào rau sống có tác dụng gì đối với sự hấp thu chất dinh dưỡng? Giải thích
Câu 4 – Mảnh ghép 4: Tại sao nên ăn nhiều loại rau xanh khác nhau trong khi thành phần chính của các loại rau là cellulose – chất mà con người không thể tiêu hóa được?
Trả lời:
Câu 1: Để giảm béo, nhiều người đã cắt bỏ hoàn toàn chất béo trong khẩu phần ăn Điều này không nên, bởi vì: + Chất béo không chỉ là nguồn sinh năng lượng quan trọng mà còn đóng vai trò là dung môi để hòa tan các vitamin thiết yếu cho cơ thể như A, D, E, K,
Câu 2: Khẩu phần thức ăn thiếu protein thì cơ thể, đặc biệt là trẻ em, thường gầy yếu, chậm lớn, hay bị phù nề và dễ mắc bệnh truyền nhiễm vì:
- Protein tham gia cấu trúc lên các các bào quan và bộ khung tế bào, tham gia cấu tạo nên các enzyme xúc tác cho các phản ứng trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong tế bào Do đó, nếu thiếu hụt protein, cơ thể sẽ không có nguyên liệu và năng lượng để xây dựng cơ thể, khiến cơ thể gầy yếu, chậm lớn
- Là một thành phần cấu tạo của tế bào và các cơ quan, protein thực sự giúp duy trì đủ lượng dịch cơ thể cần Nếu bạn không có đủ protein từ chế độ ăn, những cấu trúc này có thể bị phá vỡ, cho phép các chất lỏng rò rỉ, gây ra phù nề hoặc tích tụ chất lỏng trong cơ thể
Trang 11- Các kháng thể có bản chất là protein giữ chức năng chống lại các phân
tử kháng nguyên từ môi trường ngoài xâm nhập vào cơ thể Do đó, khi thiếu hụt protein, cơ thể thiếu hụt các kháng thể dẫn đến dễ mắc bệnh truyền nhiễm
Câu 3: Dầu thực vật là một loại triglyceride có khả năng hòa tan nhiều loại vitamin tan trong dầu như A, D, E, K → Việc trộn dầu thực vật vào rau sống giúp cho cơ thể hấp thụ các vitamin này ở trong rau sống được tối đa nhất
Câu 4: Cấu tạo hệ tiêu hóa của con người không thể tiêu hóa được cellulose trong thực vật Tuy nhiên ngoài cellulose trong thực vật còn chứa nhiều loại vitamin và khoáng chất thiết yếu mà con người có thể hấp thu được
Tuy cellulose không thể bị tiêu hóa trong hệ tiêu hóa của con người, nhưng cellulose giúp ổn định cấu trúc của phân, giúp đào thải phân tốt hơn tránh táo bón
2.3.2 Ví dụ 2
Kết thúc bài tế bào nhân sơ, tôi tổ chức cho học sinh VDKT thông qua trò chơi “ai nhanh hơn”, cách tổ chức như sau: tôi chuẩn bị 04 mảnh ghép ghi tên bệnh (ngộ độc thực phẩm, tiêu chảy, viêm phổi, cúm), yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 02 người và giơ tay giành quyền ghép đúng tên bệnh với nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn hay virus gây ra Sau khi học sinh ghép đúng theo yêu cầu thì giáo viên yêu cầu các em thảo luận cách phòng tránh các bệnh đó
2.3.3 Ví dụ 3
Kết thúc tìm hiểu về Enzyme, tôi nêu ra các vấn đề và yêu cầu học sinh sử dụng hoạt động Think – pair – share để cùng nhau thảo luận và giải thích các vấn đề sau:
- Tại sao một số người lớn không uống được sữa của trẻ em?
- Vì sao khi nhai cơm một lúc thấy có vị ngọt?
- Tại sao ăn thịt bò khô với nộm đu đủ lại dễ tiêu hóa hơn chỉ ăn thịt bò khô? Trả lời:
- Sữa trẻ em thường có lượng đạm và chất béo cao do giai đoạn của trẻ cần phải phát triển một cách đầy đủ và tối đa nhất Trong khi đó cơ thể người lớn lại có nhu cầu về chất đạm và chất béo ít hơn trẻ nhỏ, vì thế sẽ gây ra tình trạng thừa chất nếu người lớn uống sữa bột trẻ em
- Khi ta nhai cơm lâu trong miệng thấy có cảm giác ngọt vì tinh bột trong cơm đã chịu tác dụng của enzim amilaza trong nước bọt và biến đổi một thành phần thành đường mantôzơ, đường này đã tác động vào các gai vị giác trên lưỡi cho ta cảm giác ngọt