1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu Trúc Hai Mặt Và Tính Liên Thông Của Từ Điển Địa Danh Lịch Sử.docx

102 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cấu Trúc Hai Mặt Và Tính Liên Thông Của Từ Điển Địa Danh Lịch Sử Quân Sự
Tác giả Hoàng Thị Nga
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Văn Tỡnh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 295,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HOÀNG THỊ NGA CẤU TRÚC HAI MẶT VÀ TÍNH LIÊN THÔNG CỦA TỪ ĐIỂN ĐỊA DANH LỊCH SỬ QUÂN SỰ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC ĐẠI HỌC[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN

Tình

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Văn Tình đã

luôn tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luậnvăn này

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Ngôn ngữ học Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạomôi trường thuận lợi để tôi học tập và nghiên cứu

-Cuối cùng, xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè vàđồng nghiệp luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thànhluận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Hoàng Thị Nga

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu trình bày trong đề tài là chính xác Kết quả nghiên cứu của đề tài ch•a từng đ•ợc công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác.

Hoàng Thị Nga

Trang 5

MỞ ĐẦU

MỤC LỤC

Trang3

1.1.1 Vài nét về sự ra đời và phát triển của từ điển và từ điển

1.1.2 Chức năng và đặc điểm cơ bản của từ điển 8

1.2 Nhận thức chung về từ điển bách khoa 141.2.1 Chức năng, đặc điểm của từ điển bách khoa 14

1.4.1 Các kiểu định nghĩa trong từ điển giải thích 241.4.2 Đặc điểm và phương pháp định nghĩa khái niệm

Chương 2: CẤU TRÚC VĨ MÔ – TÍNH TỔNG THỂ

CỦA TỪ ĐIỂN ĐỊA DANH LỊCH SỬ QUÂN SỰ 35

Trang 6

Chương 3 CẤU TRÚC VI MÔ – THÔNG TIN CHI TIẾT

CỦA TỪ ĐIỂN ĐỊA DANH LỊCH SỬ QUÂN SỰ 53

Chương 4 TÍNH LIÊN THÔNG CỦA TỪ ĐIỂN ĐỊA DANH

4.2 Cấu trúc vĩ mô và tính hệ thống trong cấu trúc vĩ mô

của Từ điển thuật ngữ Địa danh Lịch sử Quân sự 68

4.2.2 Tính hệ thống trong cấu trúc vĩ mô 694.3 Vấn đề tính hệ thống trong từ điển 71

4.3.2 Tính tiện dụng của từ điển và ảnh hưởng của nó đến

Trang 7

1 Lí do chọn đề tài MỞ ĐẦU

Từ điển là loại sách có chức năng xã hội rộng lớn Nó cung cấp vốn

từ ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, giúp cho việc học tiếng

mẹ đẻ và học ngoại ngữ, mở rộng vốn hiểu biết của con người về sự vật,khái niệm trong thế giới tự nhiên và xã hội Từ điển là một sản phẩm khoahọc có tác dụng đặc biệt đối với sự phát triển văn hoá, giáo dục, nâng caodân trí và mở rộng giao lưu giữa các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau

Trong thời đại ngày nay, số lượng phát hành, số lượng, chủng loại vàchất lượng của từ điển nói chung, từ điển bách khoa chuyên ngành nói riêng

là một tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển văn hoá, giáo dục,khoa học kĩ thuật của một quốc gia Chính vì vậy, việc nghiên cứu từ điểnhọc, cả lí luận và thực tiễn có tác dụng lớn trong việc nâng cao chất lượngbiên soạn từ điển

Việc biên soạn và xuất bản từ điển ở nước ta đã có nhiều dấu hiệu đổimới Số lượng và chủng loại từ điển tăng trưởng đáng kể trong vài ba nămgần đây Một số quyển từ điển đã phần nào đáp ứng được yêu cầu củangười sử dụng Tuy nhiên, bên cạnh đó, còn có nhiều quyển từ điển chấtlượng chưa đáp ứng yêu cầu, thậm chí có những sai sót lớn về nội dungcũng như in ấn

Trong bối cảnh về sự ra đời và phát triển của từ điển học trên thế giớinói chung, công tác nghiên cứu lí luận từ điển học và biên soạn từ điển ở nước

ta cũng được hình thành trong thời gian có muộn Gần đây, tuy đã được quantâm chú ý và có một số thành tựu đáng kể, nhưng nhìn chung, từ điển học ViệtNam vẫn chưa phát triển kịp với yêu cầu của thời đại Trong khi đó, cùng với

sự phát triển của các bộ môn ngôn ngữ học khác và sự bùng nổ của công nghệtin học, từ điển học ở một số nước phát triển đã có những bước tiến mạnh mẽ

và không ngừng

Các nhà từ điển học đã phân chia ra hai loại từ điển công cụ: Từ

Trang 8

nghĩa/trái nghĩa, từ điển song ngữ, đa ngữ ) và Từ điển tri thức (từ điển

bách khoa, bách khoa thư, bách khoa toàn thư ) Tuy nhiên, bất luận loại

từ điển nào cũng đều được biên soạn trên cơ sở của các cấu trúc vĩ mô(cấu trúc tổng thể) và cấu trúc vi mô (cấu trúc chi tiết mục từ) Vì vậy,việc xem xét cấu trúc hai mặt này là vấn đề phải quan tâm tới mọi loạihình từ điển của nước ta hiện nay

Tình hình trên đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lí

luận và kinh nghiệm từ điển học Luận văn với đề tài “Cấu trúc hai mặt và tính liên thông của Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự ” hi vọng có thể đóng

góp phần nào cho nhiệm vụ quan trọng và cấp bách này

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là cấu trúc vĩ mô và cấu

trúc vi mô của Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự xuất bản năm 2006 Đi

sâu hơn nữa, luận văn tiến hành tìm hiểu các kiểu định nghĩa để từ đó rút ra

các mẫu định nghĩa trong Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự Không chỉ

dừng lại ở đó, luận văn còn đi sâu tìm hiểu những nội dung được thể hiện vàcách tổ chức, sắp xếp các nội dung đó trong lời giải thích của một số nhómloại mục từ tiêu biểu trong Từ điển

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu làm rõ một số vấn đề về cấu

trúc vi mô của Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự Đó là: một số mẫu định

nghĩa được sử dụng; và, những nội dung được đưa vào lời giải thích của

mục từ trong Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ đối chiếu, sosánh yêu cầu của từ điển học hiện đại với thực tiễn biên soạn từ điển ở

nước ta qua cuốn từ điển được chọn làm đối tượng nghiên cứu là Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự Trên cơ sở đó, hệ thống hoá, khái quát hoá, mô

hình hoá một số mẫu định nghĩa cơ bản, những nội dung đưa vào lời giải

thích của mục từ trong Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- So sánh - đối chiếu các kiểu định nghĩa, cách tổ chức nội dung

thông tin trong cấu trúc vi mô của từ điển bách khoa nói chung, Từ điển Địa danh lịch sử Quân sự nói riêng với từ điển giải thích, đồng thời, trong một

số trường hợp, đối chiếu với yêu cầu của lí thuyết từ điển học hiện đại

- Phương pháp hệ thống cấu trúc của từ điển học (một số phân ngànhcủa ngôn ngữ học ứng dụng)

- Phương pháp miêu tả; phương pháp thống kê

- Vận dụng một số khái niệm và phương pháp của logic học, đặc biệt

là phương pháp quy nạp để khái quát một số vấn đề

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Đây là luận văn đầu tiên đề cập đến vấn đề định nghĩa trong Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự Trong tình hình các công trình nghiên cứu từ

điển học ở Việt Nam nói chung và trong lực lượng vũ trang nói riêng cònquá ít, những kết quả nghiên cứu dù là bước đầu của luận văn có thể gópmột phần nhỏ vào việc bổ sung lí luận cho lĩnh vực khoa học này đặc biệt

là những vấn đề liên quan tới từ điển địa danh lịch sử nói chung

Trong một chừng mực nào đó, những kết quả nghiên cứu cụ thể củaluận văn về các kiểu định nghĩa, cách xử lí các nội dung trong lời giải thíchcủa mục từ có thể được vận dụng trong việc biên soạn nhằm nâng cao chất

lượng, đảm bảo sự nhất quán, tăng sự hấp dẫn cho Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự.

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí thuyết Từ điển học những vấn đề lí luận cơ bản

- Chương 2: Bàn về vấn đề liên quan đến cấu trúc vĩ mô – tính hệ

thống của Từ điển địa danh Lịch sử Quân sự.

- Chương 3: Cấu trúc vi mô – thông tin chi tiết của Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự.

- Chương 4: Tính liên thông của Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự.

Trang 10

NỘI DUNG

Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1 1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Vài nét về sự ra đời và phát triển của từ điển và từ điển học

Do nhu cầu của xã hội, một trong những loại sách ra đời sớm là từ điển.Quyển từ điển đầu tiên trên thế giới là quyển từ vựng do người Hy Lạp biênsoạn thế kỉ V trước Công nguyên; thu thập và giải thích các từ khó trong cáctác phẩm thời cổ đai, đặc biệt những tác phẩm của Homer Ở Việt Nam, trước

đây mấy thế kỉ, chỉ có những từ điển song ngữ đối chiếu như “An Nam — Lusitan — La tinh” (“Việt - Bồ - La”) do Alexandre de Rhodes biên soạn, xuất

bản ở Roma năm 1651 ; tiếp theo là một số từ điển Hán - Việt cỡ nhỏ như

“Tam thiên tự giải âm” do Ngô Thì Nhậm biên soạn, xuất bản năm 1831,

“Thiên tự văn giải âm”; và một số quyển từ điển đối chiếu Pháp - Việt như Dictionnaire F'rancais- Annamite et Aniiamite-Fratuiis (G.Aubaret, Paris, 1867), Petit Dictionnaire Francais-Anmmite (PJ.B Trương Vĩnh Ký,

Sài Gòn, 1884) Cuối thế kỉ XIX mới có quyển từ điển giải thích tiếng Việt

đầu tiên, Đại Nam Quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895) và sau hơn ba mươi năm sau mới có quyển thứ hai, Việt Nam Tự điển của Hội Khai

trí Tiến Đức ( 1931 )

Cuối thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của khoa học, kinh tế, giáo dụctrên phạm vi toàn cầu, nhu cầu về từ điển của xã hội tăng nhanh, từ điểnđược biên soạn và xuất bản với số lượng lớn và nhiều chủng loại đa dạng.Đặc biệt, gần đây, sự bùng nổ của công nghệ tin học đã tạo ra một bướcphát triển mới trong các khâu biên soạn, in ấn từ điển; sản phẩm từ điểnkhông chỉ là những quyển sách bằng giấy mà còn ở dạng từ điển điện tử

Ngược lại với thời điểm ra đời của từ điển, từ điển học lại ra đời rấtmuộn Đến những năm bốn mươi của thế kỉ XX, lí thuyết từ điển học mới

Trang 11

được khởi xướng bằng bài viết “Thử bàn về lí thuyết đại cương về từ điển

Trang 12

học” của L.V.Serba Đến năm 1971, bộ môn từ điển học đã có bước ngoặt đáng kể với sự ra đời của hai công trình: Giáo trình từ điển học của Ladislav Zgusta, xuất bản ở Praha và Nghiên cứu từ điển hiện đại bằng tiếng Pháp về ngôn ngữ học và kí hiệu học của Josette Rey Debove, xuất

bản ở Paris Gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ học nóichung, của ngữ nghĩa học, từ vựng học nói riêng, từ điển học cũng pháttriển mạnh mẽ

Ở Việt Nam, nhiều bài viết có giá trị thể hiện sự quan tâm của các tác

giả trong lĩnh vực này, như: Về việc biên soạn một quyển từ điển tiếng Việt mới (Hoàng Phê, 1969); Một vài nhận xét về từ điển giải thích của ta (Vương Lộc, 1969); Một số ý kiến về việc giải thích nghĩa của từ trong từ điển tiếng Việt (Đỗ Hữu Châu, 1969); Về việc giải thích nghĩa của từ nhiều nghĩa trong

từ điển tiếng Việt (Nguyên Văn Tu, 1969); Một số kinh nghiệm biên soạn từ điển ngôn ngữ ở các nước xã hội chủ nghĩa (Bùi Khắc Việt, 1969); Việc chọn

và giải thích từ ngữ miền Nam trong một quyên từ điển tiếng Việt loại phổ thông (Nguyễn Quang, 1970); Vấn đề biên soạn hư từ trong việc biên soạn từ điển giải thích (Hồng Dân, 1971); Các bài viết trên đã đề cập đến nhiều mặt,

nhiều vấn đề cần chú ý trong thực tế biên soạn từ điển tiếng Việt

Đến năm 1997, mới có một công trình chuyên đề về từ điển học, Một

số vấn đề từ điển học, gồm tập hợp 9 bài viết, đúc kết những kinh nghiệm

biên soạn từ điển ở nước ta và một số vấn đề lí luận từ điển học Các bàiviết trong công trình này đã đi sâu vào một số vấn đề lí luận từ điển, như:những nét khái quát về cấu trúc vĩ mô, cấu trúc vi mô, hệ thống các kiểuchú, phương pháp biên soạn từ điển đồng nghĩa Tuy nhiên, các vấn đề màcác tác giả đề cập đến trong công trình này đều là những vấn đề trong từđiển giải thích, không có tác giả nào đề cập đến các vấn đề của từ điểnbáeh khoa, nhất là vấn đề về các kiểu định nghĩa

Trang 13

Ngày nay, từ điển học đã được coi là một bộ môn ngôn ngữ học ứngdụng quan trọng, với đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các loại hình từ điển, cấutrúc vĩ mô, cấu trúc vi mô Gần đây, giới từ điển học còn chú ý đến hai mặtkhác nữa là lịch sử của từ điển và việc áp dụng công nghệ tin học vào công tácbiên soạn từ điển.

1.1.2 Chức năng và đặc điểm cơ bản của từ điển

1.1.2.1.Khái niệm từ điển

Từ điển là một công cụ đắc lực giúp cho con người nắm vững công

cụ ngôn ngữ và sử dụng có hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình,đồng thời góp phần chuẩn hoá ngôn ngữ

Theo tác giả Nguyễn Văn Tu, từ điển là “sách tra cứu bao gồm các từ,ngữ được sắp xếp theo một trật tự nhất định, giải thích ý nghĩa của các đơn

vị được miêu tả, cung cấp những thông tin khác nhau về chúng hoặc dịchchúng ra một ngôn ngữ khác, hoặc ; thông báo những kiến thức về các đốitượng do chúng biểu thị”

Trong cuốn Giáo trình từ điển học (1971), L Zgusta đã dẫn ra một

định nghĩa về từ điển của Bergl mà ông cho là một trong những định nghĩa tốtnhất: “Một cuốn từ điển là một danh mục được sắp xếp có hệ thống của cáchình thức ngôn từ được xã hội hoá, thu thập từ những thói quen nói năng củamột cộng đồng ngôn ngữ nhất định và được người biên soạn chú giải sao chongười đọc có một trình độ nhất định hiểu được ý nghĩa của từng hình thứcngôn ngữ riêng rẽ và biết được nhũng điều cần yếu về chức năng của nó trongcộng đồng ngôn ngữ ấy”

Trong công trình Một số vấn đề lý luận và phương pháp luận cơ bản về

từ điển học và bách khoa thư Việt Nam do tác giả Phạm Hùng Việt làm chủ

nhiệm, các tác giả cho rằng: “Từ điển là một công trình tra cứu, luôn chứacác từ ngữ tách rời của vốn từ ngữ chung (hay một bộ phận các từ ngữchuyên biệt) của ngôn ngữ, kèm theo các thông tin (đầy đủ hoặc chỉ một số

Trang 14

sự phái sinh và lịch sử của các từ ngữ đó Để tiện tra cứu, ở phần lớn các từ

Trang 15

điển, các từ ngữ được sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái; các thông tin được minh hoạ bằng những trích dẫn từ các tác phẩm văn học”.

Từ những định nghĩa và sự tường giải về từ điển, có thể thấy một sốđặc tính chung trong từ điển như sau:

Từ điển là loại công trình dùng để tra cứu, giúp cho người đọc tìmkiếm những thông tin qua các từ ngữ được tập hợp và trình bày (các đầumực từ) Các đầu mục từ được sắp xếp theo một trật tự nhất định, có thể đikèm là các thông tin phụ liên quan đến đầu mục này

Trong mỗi mục từ, được trình bày có hệ thống là các nội dung thôngtin (tri thức) - phần còn lại ngoài các đầu mục từ, có vai trò giải thích nộidung của đầu mục từ hoặc cung cấp các thông tin về đối tượng đã được nêutrong đầu mục từ

Chức năng của từ điển

1 Từ điển có chức năng cung cấp thông tin Đây là chức năng cơbản của từ điển và chi phối các chức năng khác Bằng cách diễn đạt tri thứcngắn gọn, cô đọng nhất, từ điển là một phương tiện hữu hiệu để tàng trữ vàcung cấp thông tin các thông tin do từ điển cung cấp có thể là các thông tin

về ngôn ngữ, văn hoá, xã hội, kinh tế, khoa học

2 Từ điển giúp giải thích, cung cấp và hướng dẫn cách sử dụng từngữ của một ngôn ngữ, do đó, từ điển còn có chức năng nữa là chức năngphục vụ giao tiếp, giúp cho việc giao tiếp trong nội bộ một dân tộc cùng

sử dụng chung một ngôn ngữ hay giữa các dân tộc sử dụng các ngôn ngữkhác nhau

3 Từ điển có chức năng hướng dẫn, giáo dục ngôn ngữ Từ điển làcông cụ đắc lực trong việc dạy và học ngôn ngữ Người sử dụng từ điểnthường coi từ điển là người thầy không lời, là trọng tài trong các cuộc tranhluận về từ ngữ

Trang 16

4 Từ điển có chức năng chuẩn hoá ngôn ngữ Ngôn ngữ rất đa dạng

và luôn luôn vận động phát triển Hiện tượng một chuẩn mới hình thànhbên cạnh một chuẩn cũ luôn luôn tồn tại, nhất là trong lĩnh vực từ vựng Cáimới và cái cũ song song tồn tại trong một thời gian, thường là cuối cùng cái

cũ nhường chỗ cho cái mới, nhưng không phải bao giờ cũng vậy Từ điểnphải thường xuyên được cập nhật, giới thiệu chuẩn ngôn ngữ trong sự biếnđổi, phát triển nên từ điển đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn hoángôn ngữ

5 Ngoài các chức năng trên, từ điển còn có thêm chức năng phục vụnghiên cứu Qua từ điển người ta có thế rút ra được những nguyên tắc, líluận về từ điển học, đồng thời cũng có thể lấy từ điển làm tư liệu nghiêncứu nhiều lĩnh vực khác của ngôn ngữ học

Đặc điểm của từ điển:

Để thực hiện các chức năng nêu trên, từ điển có những đặc điểmriêng khác biệt với tất cả các loại sách khác

1 Là một loại sách phục vụ nghiên cứu giáo dục, từ điển có tính khoahọc Tính khoa học được thể hiện ở nhiều mặt, từ việc xác định nguyên tắcbiên soạn, phạm vi thu thập từ ngữ đến cách thức định nghĩa, cung cấp cácthông tin mở rộng Đối với từ điển bách khoa, độ chính xác là thước đo củatính khoa học

2 Từ điển thu thập và giải thích các từ ngữ được dùng trong đời sốngcủa con người, cũng có nghĩa là nó đề cập đến mọi khía cạnh của đời sốnghiện thực, dù muốn hay không muốn, nó phản ánh một sự lí giải và mộtcách đánh giá về các vấn đề văn hoá, khoa học, chính trị, xã hội TheoHoàng Phê, từ điển phản ánh thế giới quan, quan điểm, lập trường củangười biên soạn, dù rằng người biên soạn có đầy đủ ý thức hay không vềviệc đó Do đó, từ điển mang trong mình tính tư tưởng

Trang 17

3 Đặc điểm thứ ba của từ điển là tính tiện dụng Từ điển là loại sáchcông cụ mang tính phổ cập (trừ các từ điển chuyên ngành), có đối tượng sửdụng là đông đảo người sử dụng ngôn ngữ ở những trình độ khác nhau.Điều này đòi hỏi ở từ điển tính tiện dụng, dễ hiểu, dễ tra cứu Điều nàydường như ít nhiều mâu thuẫn với đặc điểm về tính khoa học của từ điển.Mâu thuẫn đó làm cho công tác biên soạn từ điển càng trở nên khó khăn.Dung hoà được mâu thuẫn này, đảm bảo đồng thời hai yêu cầu khoa học vàtiện dụng của từ điển là cả một nghệ thuật.

4 Một kết quả của sự dung hoà đó được biểu hiện qua phương thứctrình bày của từ điển Từ điển luôn được tổ chức theo hai cấu trúc: cấu trúc

vĩ mô (cấu trúc tổng thể hay cấu trúc bảng từ) và cấu trúc vi mô (cấu trúcmục từ) Kiểu cấu trúc đó làm cho từ điển không lẫn lộn với các sách khác,các thông tin trong từ điển được trình bày một cách vừa khoa học, vừa tiệndùng Với từ điển, tính khoa học và tính tiện dùng là hai đặc điểm cơ bản

1.1.3 Cách phân loại từ điển

Trên thế giới đã từng có nhiều học giả nổi tiếng đề cập đến vấn đề phânloại từ điển như Shcherba (1940), Makiel (1959, 1967), Cornyn (1967), Gelb

§1968), Zgusta (1971) Ở Việt Nam, phải kể đến Nguyễn Ngọc Trâm (2003),Dương Kỳ Đức (2000), Chu Bích Thu, Vũ Quang Hào (2005), NguyễnTrọng Báu Nhìn chung, cách phân loại của các tác giả mới chỉ dừng lại ở mứckhái quát, chưa đi vào từng loại cụ thể Đáng chú ý là cách phân loại củaL.V.Sherba phân chia từ điển theo 6 cặp đối lập:

1 Từ điển hàn lâm và từ điển tra cứu: từ điển hàn lâm phản ánh ý thức

ngôn ngữ hiện thực, thống nhất của cả cộng đồng trong một thời gian nhấtđịnh, còn từ điển tra cứu không nhất thiết có sự thống nhất của cả cộng đồng,

từ ngữ có thể được thu thập ở những thời đại khác nhau, những địa phươngkhác nhau

2 Từ điển bách khoa và từ điển ngôn ngữ: từ điển bách khoa cung cấp

thông tin về sự vật, hiện tượng, khái niệm; từ điển ngôn ngữ cung cấp thông

Trang 18

tin về kí hiệu ngôn ngữ.

Trang 19

3 Từ điển thesaurus (từ điển tổng toàn) và từ điển thông thường: từ

điển piesaurus thu thập toàn bộ từ ngữ có trong một ngôn ngữ (dù chỉ xuất hiệnmột lần) và những lời tích dẫn có chứa các từ ngữ đó; từ điển thông thường thìchỉ thu thập những đơn vị từ có tính ổn định và một số thí dụ minh hoạ Sự đốilập giữa hai từ điển này thực ra là sự đối lập giữa tư liệu ngôn ngữ và hệ thốngngôn ngữ

4 Từ điển thông thường và từ điển ý niệm: từ điển thông thường lấy

vỏ ngữ âm của từ làm cơ sở, các đơn vị được sắp xếp theo trật tự chữ viết;

từ điển ý niệm lấy nội dung của từ làm cơ sở, các đơn vị được sắp xếp theonhóm chủ đề

5 Từ điển giải thích và từ điển đối dịch: từ điển giải thích nhằm làm

sáng tỏ bản chất kí hiệu của một ngôn ngữ bằng chính ngôn ngữ ấy Từđiển đối dịch nhằm làm hiểu rõ một ngôn ngữ khác

6 Từ điển phi lịch sử và từ điển lịch sử: từ điển phi lịch sử phản ánh từ

ngữ trong một khoảng thời gian hiện thời còn từ điển lịch sử phản ánh cả quátrình lịch sử, sự xuất hiện, sự biến đổi và thậm chí cả sự mất đi của các từ

ngữ.L.Zgusta phân loại cụ thể hơn cho từ điển ngôn ngữ và đưa thêm mộttiêu chí về cỡ của từ điển Ông cho rằng, sự phân loại đầu tiên, có tính chấtbao quát nhất là sự phân biệt giữa từ điển ngôn ngữ và từ điển bách khoa.Theo ông, “các từ điển ngôn ngữ chủ yếu đề cập đến ngôn ngữ, tức là đềcập đến các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ và tất cả các đặc tính ngôn ngữcủa chúng Ngược lại, các từ điển bách khoa chỉ đề cập chủ yếu đến cácdenótate của các đơn vị từ vựng, chúng cho những thôrg tin vê thế giớingoài ngôn ngữ có tính chất vật chất hoặc phi vật chất”

Tiếp tục phân loại từ điển ngôn ngữ, ông chia ra thành các loại cơbản theo bốn tiêu chí sau:

1 Theo tiêu chí thời gian, có sự đối lập giữa từ điển lịch đại và từ

Trang 20

điển đồng đại Theo L.Zgusta, đây là một trong những sự phân loại quan

Trang 21

trọng nhất đối với các từ điển ngôn ngữ Ông đã nêu ra các đặc điểm khácbiệt giữa hai loại là trong khi từ điển lịch đại chỉ quan tâm chủ yếu đến lịch

sử sự phát triển của từ ngữ cả về nghĩa và hình thức thì nhiệm vụ của từđiển đồng đại là đề cập đến kho từ vựng của một ngôn ngữ trong một giaiđoạn phát triển nhất định của chúng Đồng thời ông lưu ý đến “tình trạngluôn có sự chồng chéo giữa các lĩnh vực của từ điển lịch sử với lĩnh vựccủa từ điển đồng đại” , “khái niệm về từ điển được coi là đồng đại chỉ cótính chất tương đối”

2 Theo phạm vi thu thập toàn bộ hay một bộ phận từ vựng của mộtngôn ngữ, có từ điển phổ thông và từ điển hạn chế (hoặc đặc biệt) Tínhchất “hạn chế” hay “đặc biệt” của từ điển hạn chế là do quyết định của ngườibiên soạn chỉ lựa chọn thu thập một bộ phận hẹp từ ngữ nhất định Có thể cónhiều tiêu chuẩn lựa chọn, nên có nhiều loại từ điển hạn chế khác nhau, chằnghạn như từ điển phương ngữ, từ điển học sinh, từ điển thuật ngữ mộtngành Đối lập lại, từ điển phố thông thu thập toàn bộ ngôn ngữ phổthông, nghĩa là ngôn ngữ chuẩn toàn dân được dùng một cách phổ biến Loạinày lại được chia nhỏ hơn nữa, thành từ điển miêu tả - chuẩn và từ điển miêu

tả - chung Từ điển miêu tả

- chuẩn khác từ điển miêu tả - chung ở một tính chất cơ bản là nó không chỉ

“tìm ra cái gì là chuẩn trong thời kì từ điển được phát hành” mà còn định ratiêu chuẩn cho người sử dụng trong tương lai Nghĩa là từ điển miêu tả -chuẩn không chỉ phản ánh những tính chất và quy tắc phổ biến của ngônngữ hiện thời mà còn “lường trước tình hình sử dụng của tương lai” dựavào quy luật phát triển của ngôn ngữ”

3 Theo số lượng ngôn ngữ được miêu tả, có từ điển một thứ tiếng và

từ điển hai thứ tiếng (thường rất ít từ điển có từ ba thứ tiếng trở lên) Mục đíchcủa từ điển hai thứ tiếng là giúp cho việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữkhác hoặc cho việc giao tiếp bằng một ngôn ngữ khác không phải là tiếng mẹ

Trang 22

đẻ Do

Trang 23

tính không đồng hình giữa các ngôn ngữ, từ điển hai thứ tiếng gặp rất nhiều khókhăn trong việc đưa ra các đơn vị từ vựng tương đương.

4 Tiêu chí cuối cùng là dựa vào cỡ từ điển, có từ điển cỡ nhỏ và từ

điển cỡ lớn Đây là một trong những mặt không thể nói được thật chính xác

mà chỉ có thể là sự đánh giá có tính chất ấn tượng Cỡ của từ điển không chỉ làkhối lượng và như vậy số lượng mục từ của từ điển, có thế nói một cáchchính xác, chỉ nêu lên được một cách khái quát về khả năng thông tin của nó.Phần lớn phụ thuộc vào bản thân mục từ được thực hiện như thế nào

Trên đây chỉ là “khung” của các sự phân loại Các tiêu chí ở mỗi sự phânloại trên có thể tiếp tục được cụ thể hoá, và theo đó có thể phân loại từ điểnthành nhiều loại nhỏ hơn Thêm nữa, do các tiêu chí tương đối độc lập, nên cóthể có sự phối hợp một số tiêu chí trong sự phân loại từ điển Điều này dẫn đếntình trạng là trên thực tế các kiểu loại từ điển rất đa dạng, phong phú Sự phânloại từ điển có ý nghĩa đặc biệt

1.2 Nhận thức chung về từ điển bách khoa

1.2.1 Chức năng, đặc điểm của từ điển bách khoa

Từ điển bách khoa được phát triển từ từ điển Từ điển bách khoa xuấthiện là do sự ảnh hưởng qua lại và xích lại gần nhau giữa bách khoa toàn thư

và từ điển ngôn ngữ Chính vì vậy, khi nhận diện khái niệm từ điển báchkhoa, một mặt người ta cố gắng phân biệt nó với từ điển ngôn ngữ (chủ yếu là

từ điển giải thích); mặt khác, phân biệt nó với bách khoa thư.

Từ điển bách khoa có đặc điểm chung với các loại từ điển và bách khoathư ở chỗ, chúng đều là các công trình tra cứu, giúp người đọc tìm hiểu các

thông tin; các đầu mục từ được sắp xếp theo một trật tự nhât định; cácthông tin trong mục từ được trình bày một cách có hệ thống Tuy nhiên,người ta cũng nhận thấy giữa chúng có những sự khác biệt nhất định

Từ điển giải thích cung cấp mọi thông tin về bản thân kí hiệu ngônngữ, còn từ điển bách khoa cung cấp thông tin về sự vật, khái niệm được từ

Trang 24

ngữ biểu thị Phạm vi thu thập của từ điển giải thích là các đơn vị từ vựngcủa một ngôn ngữ Còn từ điển bách khoa, do lấy sự vật, khái niệm làm đốitượng, nên chỉ thu thập những từ có ý nghĩa biểu vật, biểu niệm cụ thể màkhông phụ thuộc vào nhân tố người sử dụng hay hoàn cảnh nói năng.Nhiệm vụ của từ điển bách khoa là cung cấp kiến thức về các đối tượng do

từ ngữ biếu thị, còn nhiệm vụ của từ điển ngôn ngữ là cung cấp kiến thức vềchính các đơn vị từ ngữ Do nhiệm vụ khác nhau như vậy mà thông tintrong từng mục từ của từ điển giải thích có thể là toàn bộ các thông tin về kíhiệu ngôn ngữ, bao gồm rất nhiều mặt như thông tin về ngữ âm, từ vựng,ngữ nghĩa, ngữ dụng, ngữ pháp ; ngược lại, thông tin trong từ điển báchkhoa là các thông tin về sự vật, khái niệm mà từ đầu mục biểu thị, ngoàiphần định nghĩa còn có thể có thông tin mở rộng về lịch sử ra đời, quá trìnhphát triển Vì vậy, lời giải thích trong từ điển bách khoa sâu hơn rộng hơn,nhưng cấu trúc vi mô thì thường đơn giản hơn từ điển giải thích

Định nghĩa trong từ điển bách khoa là định nghĩa khái niệm, là sự giảithích chính xác, đầy đủ những đặc trưng cơ bản của khái niệm, sự vật mà từngữ biểu thị Định nghĩa từ ngữ trong từ điển giải thích chỉ nhằm nêu lênnhững đặc trưng khu biệt của từ đủ để người sử dụng nhận biết và phân biệt

nó với những từ ngữ khác Tuy nhiên, trên thực tế, “những đặc trưng cơ bảncủa khái niệm, sự vật mà từ ngữ biểu thị” trong từ điển bách khoa và

“những đặc trưng cơ bản của từ ngữ trong từ điển giải thích không phải lúcnào cũng có ranh giới rõ ràng Nếu hình dung một từ mà từ đó quy chiếumột sự vật thì không một tiêu chí khách quan nào có thể giúp chúng ta phânbiệt một định nghĩa về từ theo nghĩa phân tích từ đó về ngữ nghĩa, với mộtđịnh nghĩa về sự vật, vid trong định nghĩa người ta đi tới sự vật bằng từ và

từ bắt buộc phải trả trở về sự vật Theo quan điểm chung của số đông cácnhà nghiên cứu, trong nội dung nghĩa từ bao giờ cũng có một hàm lượng

Trang 25

thông tin bách khoa Xu hướng chung hiện nay của từ điển học hiện đại làlời giải thích trong từ điển giải thích ngày càng có xu hướng gần với lời giảithích trong từ điển bách khoa, nói một cách chính xác hơn, thông tin báchkhoa ngày càng được chú ý nhiều hơn trong từ điển giải thích.

Mặc dù đều là "công trình bách khoa", nhưng giữa từ điển bách khoa

và bách khoa thư cũng có những khác biệt nhất định Bách khoa thư có chứcnàng hệ thống hoá toàn bộ tri thức cơ bản và chuyên sâu, nhiều mặt về một haynhiều ngành khoa học hoặc hoạt động thực tiễn Từ điển bách khoa lại cóchức năng cung cấp những thông tin vắn tắt phổ cập về các khái niệm củamột hay nhiều ngành khoa học hoặc hoạt động thực tiễn Nếu như bách khoathư được dùng chủ yếu để giáo dục, tự học, tự nghiên cứu về nhiều mặt quacác chủ đề tri thức độc lập, thì từ điển bách khoa lại chủ yếu được dùng để tracứu, tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng, số lương mục từ trong báchkhoa thư thường ít nhưng chủ đề lại rất rộng và có biên độ dài Ngược lại, sốlựợng mục từ trong từ điển bách khoa nhiều, nhưng chủ đề hẹp và có biên độngắn

Như vậy, “từ điển bách khoa là một dạng công trình tra cứu có tínhchuyển tiếp giữa từ điển ngôn ngữ và bách khoa thư (vừa có tiêu chí chungvới từ điển ngôn ngữ vừa có tiêu chí chung với bách khoa thư); có chức năngcung cấp những thông tin vắn tắt chung quanh các khái niệm khoa học, kĩthuật, nghệ thuật hay tri thức thực tiễn khác Đây là loại sách chủ yếu đểngười ta tra cứu, tìm hiểu”

1.2.2 Cách phân loại từ điển bách khoa

Trong công trình Một số vấn đề lí luận và phương pháp luận cơ bản về

từ điển học và bách khoa thư Việt Nam do tác giả Phạm Hùng Việt làm chủ

nhiệm, các tác giả cho rằng, từ điển bách khoa và bách khoa thư có nhiều điểm

khác nhau nhưng có đặc điểm chung về tính sự kiện của thông tin được

chuyền tải trong các mục từ Theo cách mà Nguyễn Kim Thản đề xuất, các tác

Trang 26

giả đã sử dụng công trình bách khoa làm tên gọi chung cho từ điển bách

khoa và bách

Trang 27

khoa thư Công trình bách khoa là loại công trình tra cứu phản ánh tri thức củamột xã hội Theo các tác giả, có nhiều cách phân loại từ điển bách khoa, có thể

kể đến một số cách phân loại thường gặp sau:

a, Dựa vào nội dung có thể phân các công trình bách khoa thành 2 loại

lớn: công trình bách khoa tổng hợp và công trình bách khoa chuyên ngành.Công trình bách khoa tổng hợp là những công trình tra cứu điển hình của mộtquốc gia, thường bao gồm nhiều tập, trong đó trình bày tri thức về tất cả cácngành khoa học, kĩ thuật, văn hoá, nghệ thuật Thuộc về loại này có thể kể đến

Từ điển bách khoa Xô Viết của Liên Xô, Americana của Mĩ (30 tập), đại bách khoa toàn thư Trung Qưôc (74 tập), Từ điển bách khoa Việt Nam (4 tập)

Công trình bách khoa chuyên ngành trình bày tri thức về một ngành khoa học,

kĩ thuật, văn hoá, nghệ thuật nhất định (hoặc một bộ môn của một ngành khoa

học, một chuyên dề nào đó) Thuộc về loại này có thể kể đến Bách khoa toàn thư Triết học của Liên Xô (5 tập 1960 -1970), bách khoa toàn thư về nhiếp ảnh

của Anh (1949), từ điển bách khoa sinh học của một tập thể tác giải Việt Nam(năm 2003)

b, Dựa vào quy mô có thể chia các công trình bách khoa thành hai loạichủ yếu: Công trình bách khoa cỡ lớn và công trình bách khoa cỡ nhỏ Côngtrình bách khoa cỡ lớn thường có dung lượng hàng chục tập trở lên, có khitới hàng trăm tập Thí dụ: bách khoa thư thuần học của linh mục Mingne 168tập, bách khoa toàn thư Tây Ban Nha – Mỹ (1805 – 1933) gồm 80 tập báchkhoa toàn thư Xô Viết cỡ lớn in lần thứ nhất 66 tập công trình bách khoa

Trang 28

e, theo phạm vi đề cập có thể phân chia các công trình bách khoa thànhcác công trình bách khoa chung và công trình bách khoa riêng (địa phươngdân tộc ) Công trình bách khoa chung là loại công trình cung cấp thông tin vềtoàn thế giới và toàn quốc Bách khoa thư của các nước Anh, Mỹ, Pháp,Trung Quốc thuộc loại này Công trình bách khoa riêng (địa phương dântộc )là loại công trình cung cấp thông tin về một bộ phận trong nước, chẳng

hặn Bách

khoa thư về Moskva, Bách khoa thư về Leningrat ở Liên Xô, Bách khoa thư Hà Nội, Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng ở Việt Nam.

1.3 Cấu trúc của từ điển

1.3.1 Cấu trúc của từ điển giải thích

13.1.1 Cấu trúc vĩ mô của từ điển giải thích

Các mục từ trong từ điển giải thích được thu thập theo những tiêu chínhất định, tạo thành một bảng từ có tính hệ thống, đảm bảo sự nhất quán,

có cấu trúc chặt chẽ Đây là cấu trúc có quan hệ dọc, suốt từ đầu đến cuối

quyển từ điển, nên được gọi là cấu trúc vĩ mô “Cấu trúc vĩ mô là cấu trúc

bao gồm toàn thể các mục từ được sắp xếp theo một trật tự xác định; còn

từ Công việc này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cỡ, loại từ điển, số lượng,chủng loại của các nguồn tư liệu, ngữ cảm của người biên soạn

Là sách công cụ dùng để tra cứu, từ điển bao giờ cũng được sap xếptheo một trật tự nhất định Tuỳ theo loại hình ngôn ngữ, có thế có nhiều

Trang 29

cách sấp xếp khác nhau, chẳng hạn, có thể sắp xếp theo trật tự chữ cái, theo

Trang 30

chủ đê, theo tần số, hoặc theo bộ chữ (đối với từ điển tiếng Hán), Tuynhiên, cách sắp xếp phố biến nhất là xếp theo trật tự bảng chữ cái.

1.3.1.2 Cấu trúc vi mô của từ điển giải thích

Giống như các loại từ điển khác, cấu trúc vi mô của từ điển giảithích cũng bao gồm hai phần chính: mục từ và các thông tin trong mục từ

đó Như vậy, mục từ trong từ điển là đơn vị đặc biệt, đa chức năng, haycòn gọi là đơn vị kép, nó vừa là đon vị cơ bản của cấu trúc vĩ mô (trongmối quan hệ dọc, với hệ thông bảng từ), vừa là đơn vị của cấu trúc vi mô(trong mối quan hệ ngang, với các thông tin về chính bản thân nó)

L.Zgusta gọi hai thành phần chính của cấu trúc vi mô là “phần đề”(mục từ) và “phần chính” (các thông tin) J.Rey Debove coi mục từ trong

từ điển có cấu trúc như một câu, trong đó đơn vị mục từ là chủ ngữ, cácthông tin là vị ngữ Hai quan niệm này cùng nêu lên một đặc tính cơ bảncủa cấu trúc mục từ là tính “đề - thuyết”( phần được nêu ra và phần đượcthuyết minh làm rõ) Trên cấu trúc bề mặt, “phần đề” chỉ gồm một yếu tố,

đó là mục từ, còn “phần thuyết” thường là nhiều yếu tố, đó là các thông tinnhiều mặt về mục từ Nhưng xét về cấu trúc sâu, mỗi cấu trúc vi mô baogồm nhiều cấu trúc đề - thuyết bình đẳng với nhau Bởi vì mỗi thông tinđều có quan hệ trực tiếp với mục tù' làm thành cấu trúc đề - thuyết, nhưngtrên bề mặt, phần đề luôn luôn được tỉnh lược (chỉ xuất hiện một lần duynhất) Nối giữa “phần đề” và “phần thuyết” là một số hệ từ Những hệ từnày có thể hiển ngôn hoặc không hiển ngôn nhưng rất dễ được khôi phục ởdạng hiển ngôn Tiếp thu và phát triển quan niệm này vào nghiên cứu từđiển tiếng Việt, Chu Bích Thu đã khai thác sâu hơn các mối liên kết trongcấu trúc vi mô Ngoài tính tỉnh lược là đặc trưng cơ bản, còn phải kể đếncác mối liên kết bằng phép liên kết tuyến tính và phép lặp

Theo tác giả Chu Bích Thu, các loại thông tin thường thấy trong cấu

trúc vi mô của từ điến giải thích là: chính tả, ngữ âm, từ loại, phong cách,

Trang 31

phạm vi sử dụng, kết hợp cú pháp, kết hợp từ vựng, định nghĩa, kết hợp từ vựng - cú pháp, định hướng ngữ dụng, đồng nghĩa - trái nghĩa, ví dụ Các

thông tin này dược thê hiện bằng những phương tiện đa dạng, tuỳ thuộcvào từng ngôn ngữ, vào quan niệm từ điển học của những người’ biênsoạn Thông thường các thông tin về từ loại, phong cách, sắc thái đượcthể hiện bằng những kí hiệu viết tắt; các thône tin về ý nghĩa, cách dùng thường được trình bày đầy đủ

1.3.2 Cấu trúc của từ điển bách khoa

1.3.2.1 Cấu trúc vĩ mô của từ điển bách khoa

Cấu trúc vĩ mô trong từ điển bách khoa chính là bảng đầu mục từ tên gọi các khái niệm, sự vật, sự kiện, nhân vật mà thông tin về chúngđược trình bày trong mục từ Thông thường, bảng mục từ của từ điển báchkhoa được lập dựa trên sự phân loại tri thức và khoa học của các ngành và

-bộ môn; các cuốn từ điển, từ điển thuật ngữ; các ấn phẩm đã công bố vàcác nguồn tư liệu khác

Bảng đâu mục từ trong từ điên bách kh.03 chính là Viêc thê hiện cuths cúci việc phân loại tri thức, là bước triển khai của phân loại tri thức vàliên kết nội dung, là bộ khung của từ điển bách khoa Ngoài những đặc trưng

cơ bản như tính tư tưởng, tính khoa học, tính hiện đại, đồng thời bảo đảmtính ngắn gọn, dễ tra cứu, bảng từ trong từ điển bách khoa phải quán triệt bamục tiêu, đó là: tính hiện thực trong phân loại khoa học; sự phát triển của cácngành khoa học và xu hướng liên kết các bộ môn khoa học; khuynh hướngxuất hiện các ngành khoa học mói

Bảng đầu mục từ mang tính khoa học phải được xây dựng trên cơ sởphân loại tri thức đưa vào từ điển bách khoa theo một chu trình khép kín, cótầng bậc và cấp độ, đặc biệt là đầu mục từ phải mang tính khái niệm Nó phảibao gồm đầy đủ những khái niệm của các chuyên ngành khoa học Mỗi chuyênngành cũng phải

Trang 32

hoàn chỉnh về mặt kết cấu và nội dung, nghĩa là mỗi chuyên ngành, đến lượtmình, cũng phải đầy đủ các bộ môn khoa học Nó cũng phải phản ánh tính thốngnhất và kế thừa tri thức cổ kim, được ghi nhận qua các tên gọi (đầu mục từ) củacác khái niệm.

Phân loại tri thức được coi là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình chuẩn

bị, lập kế hoạch, xây dựng bảng từ, biên soạn nội dung và biên tập bản thảo.Tuỳ pheo sự phát triển của khoa học ở từng thời kì, từng nước, mục đích yêucầu của từng loại từ điển bách khoa và ý đồ của những người tổ chức mà chọncách phân loại Việc phân loại tri thức không phải là liệt kê các thành phầntham gia một cách |hình thức, mà là phải xác định được các mối quan hệnội tại của từng thành phần tham gia và giữa các thành phần Chỉ khi nào lậpđược mạng lưới quan hệ và dựng được bộ khung cho từ điển bách khoa thìmớí coi là hoàn thành phân loại tri thức

Trong quá trình xây dựng bảng mục từ tổng hợp, cần tránh tính ngẫuhứng, thiếu khách quan, thiếu quan điểm tổng thể, toàn diện, đôi khi còn cóbiểu hiện thiên kiến, bản vị của một số người biên soạn Do vậy, trước khixây dựng bảng đầu mục từ phải nghiên cứu kĩ các hệ thống phân loại khoahọc và hình thành được bảng cấu trúc các chủ đề theo phân loại khoa học, cácngành, phân ngành, các bộ môn khoa học, các khái niệm, các thuật ngữ, cácchủ đề tri thức, các sự kiện, các tổ chức, các địa danh, nhân vật Trên cơ sởbảng cấu trúc phân loại mục từ mới có thể xây dựng được một bảng mục từtổng hợp, để bảo đảm không trùng lặp, không bỏ sót, và từ đó hình thànhđược các mục từ biệt lập và liên ngành, thuộc nhiều loại khác nhau, dưới cáchình thức dài, trung bình và ngắn

1.3.2.2 Cấu trúc vi mô của từ điển bách khoa

Cấu trúc vi mô của từ điển bách khoa là thiết kế bên trong (mục từ) của

từ điển bách khoa Cấu trúc vi mô đưa ra các thông tin mang tính sự kiện, chi

Trang 33

Mục từ trong từ điển bách khoa phải là một khái niệm hoàn chỉnhhoặc một chủ đề tri thức độc lập, có thể tra cứu, tìm đọc độc lập Đối vớicùng một chủ đề, từ điển có thể trình bày với những kiến thức ở mức độnông sâu khác nhau đế thích hợp với các loại độc giả có trình độ văn hoákhác nhau và có nhu cầu học tập, nghiên cứu khác nhau Mục từ của từđiển bách khoa cần hướng tới ba yêu cầu

- Tính tri thức: yêu cầu tri thức phải chuẩn xác, chắc chắn;

- Tính tư liệu: yêu cầu tư liệu phải cơ bản, tinh gọn, chuẩn xác;

- Tính tra cứu: yêu cầu đảm bảo cho độc giả có thể tra tìm được rấtnhanh, đọc được dễ dàng, nghĩa là phải giúp cho độc giả có thể sử dụngthời gian ngắn nhất, có thể tra cứu thuận lợi nhất, tìm đọc được những trithức và tư liệu cần thiết

Đối với những mục từ dài, trình bày những khái niệm quan trọng,những chủ đề rộng thường có phân tầng lớp, cấp bậc có ghi các tiêu đề.Những tiêu đề này cũng là những đơn nguyên tri thức để tra cứu, tìm kiếm.Đầu mục từ trong từ điển bách khoa là tên gọi mục từ có thể được biếuthị bằng một khái niệm (từ, thuật ngữ), một tên riêng, hoặc một cụm từ có kèmtên riêng, đặt ở đầu mục từ, được sắp xếp theo abc , hoặc theo đề tài, tra cứutheo chữ cái đầu của tiếng đầu tiên Căn cứ vào hình thức của đầu mục từ có

thể xếp tất cả các đầu mục từ vào hai khối: khối khái niệm (từ, thuật ngữ) và khối tên riêng (kế cả những cụm từ có kèm theo tên riêng).

Khối khái niệm (từ, thuật ngữ) là khối bao gồm nhũng khái niệm phổ

biến chung cho toàn thể nhân loại, khái niệm đặc thù của từng dân tộc hoặckhái niệm riêng của từng ngành khoa học Những khái niệm này có thế được

biểu thị bằng một từ, một thuật ngữ hoặc một cụm từ Ví dụ: áo, áp thấp nhiệt đới, bội chỉ nqân sách

Khối tên riêng (đầu mục từ là tên riêng hoặc đầu mục từ ngoài danh

từ chung có kèm tên riêng) Khối này được phân ra các loại sau đây:

Trang 34

- Đầu mục từ chỉ tên người (nhân vật)

- Đầu mục từ chỉ tên đất (địa danh)

- Đầu mục từ chỉ các tổ chức, cơ quan

- Đầu mục từ chỉ sự vật cụ thế (sự vật có tên riênghoặc kèm theo tên riêng)

- Đầu mục từ chỉ sự kiện

- Đầu mục từ chỉ quan niệm

- Đầu mục từ chỉ văn kiện - tài liệu lịch sử

- Đầu mục từ chỉ mật danh, danh pháp, khẩu hiệu,danh hiệu

Việc xếp theo các loại trên cũng chỉ mang tính ước lệ Tuy nhiên, nó cómột ý nghĩa thực tiễn, vì có liên quan đến việc phân phối tỉ lệ, việc sắp xếp đầumục từ cho thuận tiện việc ữa cứu Thông qua tỉ lệ các loại đầu mục từ vàthông qua việc sắp xểp, có thể đánh giá phần nào cấu trúc của cuốn từ điểnbách khoa và nội dung của nó

Trong từ điển bách khoa, mục từ là đơn vị tra cứu chính, chứa đựngnhững thông tin nhằm giải thích hoặc chỉ dẫn khoa học của các khái niệm,tên gọi có mặt trong bảng từ chuyên ngành hoặc bảng từ tổng hợp Thànhphần đầy đủ trong một mục từ có thể bao gồm:

- Định nghĩa, nội dung giải thích đầu mục từ và những chỉ dẫn khoahọc có liên quan đến đầu mục từ

- Minh hoạ, ảnh, bản đồ

- Thư mục, tư liệu trích dẫn và xuất xứ của tư

liệu Tên tác giả biên soạn mục từ

Trong một mục từ không nhất thiết phải có đầy đủ năm thành phầntrên Thành phần trong một mục từ nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào loại hìnhmục từ và vào từng công trình bách khoa cụ thể Dung lượng (kí hiệu inhoặc con chữ) cũng không giống nhau, có mục từ chỉ vài ba chục kí hiệu in,nhưng cũng có mục từ cũng có tới vài chục nghìn kí hiệu in

Trang 35

1.4 Các kiểu định nghĩa của từ điển

1.4.1 Các kiểu định nghĩa trong từ điển giải thích

Định nghĩa là thành phần hạt nhân trong số các thông tin của cấu vi môtrong một cuốn từ điển giải thích Giải thích từ ngữ trong từ điển là công việcquan trọng nhất, khó khăn nhất và thường bị phê phán nhiều nhất

Khảo sát định nghĩa trong một số cuốn từ điển, các tác giả của công trình

“ Một số vấn đề cơ bản về lí luận và phương pháp luận của thế giới và Việt Nam vể biên soạn các loại từ điến ngữ văn” đã chỉ ra các phương pháp định

nghĩa được sử dụng trong các từ điển giải thích tiếng Việt:

Phương pháp định nghĩa bằng phân tích (định nghĩa tự nhiên)

Đặc điểm cơ bản của lời giải thích trong từ điển là cách giải thích tự nhiên

- kiểu giải thích thường gặp trong đời sống Giải thích tự nhiên là diễnđạt từ ngữ A bằng từ ngữ B, trong đó B và A phải có cùng nội dung, B phảiđồng nghĩa với A Giải thích tự nhiên có hai đặc điểm: đây là một hoạt động tựnhiên trong đời sống xã hội khi có yêu cầu làm cho người khác hiểu mình,bằng cách sử dụng năng lực mở rộng, triển khai của ngôn ngữ; dùng cái dễ để

giải thích cái khó, cái biết rồi để giải thích cái chưa biết Ví dụ: mục từ đi có

- KT: dời bước; dùng cách gì làm cho ở chỗ này dời ra chỗ khác

Chân đi; đi xe; đi tầu.

DVT: Bước chân mà tiến lên Loài chim cũng như loài người đi bằng

hai chân; loài thú đi bốn chân.

DTD: Di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác bằng những bước chân Trẻ tập

|- đi Đi từng bước một Đi bách bộ

* Phương pháp định nghĩa bằng cách dùng từ bao:

Trang 36

sự vật, hiện tƣợng, khái niệm vào khái niệm cùng loại rộng hơn, rồi vạch ranhững

Trang 37

đặc trưng khu biệt của khái niệm được giải thích Phương pháp định nghĩa này

là môt dạng đăc biệt của phương pháp định nghĩa bằng phân tích

Ví dụ: định nghĩa của danh mục từ hành

HP: Cây thân ngầm, hình dẹp, mang nhiều lá mọng nước xếp úp vàonhau thành một khối hình củ, dùng làm gia vị

VT: Loại cây đơn tử diệp, thân ngầm, hình dẹp, mang nhiều lá vảy mọngnước và xếp úp vào nhau

DVT: Một thứ rau có củ hăng hăng, cay cay, dùng làm gia vị Thịt đầy sanh, không hành không ngon.

TN: Loại rau như cây cỏ, có củ vị hăng và cay cay, thường dùng làm đồ gia vị

* Phương pháp định nghĩa bằng dùng từ đồng nghĩa:

Là kiểu định nghĩa bằng cách đưa ra từ đồng nghĩa với từ đangcần định nghĩa Đây là kiểu giải thích phổ biến trong từ điển và cũng làkiểu giải thích từ ngữ thường gặp trong giao tiếp

Ví dụ: định nghĩa của mục từ heo

HP: (phg.) Lợn

KT: Con lợn

DVT: Lợn Heo sữa; heo con; thịt heo, lòng heo.

VT: dt Lợn

NL: Từ miền Nam chỉ con lợn

DTD: Lợn Nói toạc móng heo (tng).

TN: Có nơi gọi là lợn, súc vật nuôi để ăn thịt

* Phương pháp định nghĩa bằng cách dùng từ trái nghĩa:

Là phương pháp định nghĩa bằng cách phủ định từ (hoặc các từ) có

ý nghĩa đối lập với từ được định nghĩa

Ví dụ: định nghĩa của mục từ ngắn

HP: Có chiều dài dưới mức bình thường, hoặc không bằng so với các

vật khác; trái với dài Áo may dài quá cắt tóc ngắn Năm ngón tay có ngón

Trang 38

KT: Nói về một chiều so sánh với chiều khác mà kém Trái với dài.

DVT: Trái với dài, về không gian Áo ngắn; đường ngắn; ngắn tay với chẳng tới trời.

vT: Có hai đầu gần nhau trong không gian hay thời gian Phố ngắn; Ngày vui chẳng đầy gang tay (K)

LVD; Vắn, cụt Truyện ngắn; Cơn lạnh còn có cơn nóng, Cơn đắp áo ngắn cơn chung áo dài.

NL: Có chiều dài rất hạn chế trong không gian hay trong thời gian Đừng chê lươn ngắn mà tham chạch dài (tng.); Ngày vui ngắn chẳng đầy gang (K); Sông sâu, sào ngắn khôn dò (cd).

- TN: Cụt, trái với dài Tóc ngắn Sào ngắn.

Phương pháp định nghĩa bằng chỉ dẫn:

Là phương pháp định nghĩa bằng cách đưa từ đang cần định nghĩa

ra so sánh với một đối tượng của thế giới ngoài ngôn ngữ Đối tượngngoài ngôn ngữ được chọn phải là cái điển hình nhất, phổ biến nhất, cóthuộc tính dễ gợi sự liên tưởng nhất tới nghĩa của từ Phương pháp giảithích này thường được áp dụng với những từ biêu thị sự cảm nhận trựctiếp hiện thực như cảm nhận về màu sắc, mùi vị, âm thanh

Ví dụ: định nghĩa của mục từ cay.

- HP: Có vị làm cho tê xót đầu lưỡi, như vị của ớt Quả ớt cay Rượu cay Gừng cay muối mặn,

- KT: Nói cái vị hăng nồng làm cho tê tái đầu lưỡi Nghĩa bóng làcăm tức một việc gì

- DVT: Chỉ vị nóng nồng, thường làm cho lưỡi tê tái, của những chất như ớt, tiêu

- DTD: Có vị nồng, làm cho tê đầu lưỡi Cay như ớt Rượu cay Gùng cay muối mặn.

Trang 39

*Phương pháp định nghĩa bằng cách nêu chức năng của từ ngữ

Là phương pháp dùng siêu ngôn nsữ miêu tả để nêu lên chức năng của

từ được định nghĩa Đây là cách định nghĩa thường áp dụng cho các hư từ

HP: Từ biểu thị quan hệ liên hợp giữa hai sự vật, hiện tượng, quá trình,

I tính chất cùng loại, cùng phạm trù Tôi và nó Nó biết tiếng Hán, và tiếng Nhật Mưa to và gió lớn.

KT: Cùng, với Tôi và anh Người và vật

DVT: Cùng, với Anh và em; người và vật //Dùng đũa đưa đồ ăn vào miệng: và cơm; và đồ ăn.//tl Vài

LVD: Với, cùng, tiếng kèm theo người, vật hạy sự việc chót khi đã kể

nhiều rồi Anh tìm nó và bảo nó đến đây.

NL: Từ dùng để nối hai từ, hai mệnh đề để thêm ý Anh và tôi cùng đi; n Cháu rất ngoan và học rất giỏi.

DTD: Từ biểu hiện quan hệ liên hợp giữa hai sự vật, hiện tượng, quá

trình, tính chất, hoạt động cùng loại Tôi và anh; đẹp người đẹp nết; nói và làm phải đi đôi với nhau.

Để nhận biết và phân biệt các sự vật, hiện tượng khác nhau trong thếgiới xung quanh, con người cần phải có khái niệm về các sự vật, hiện tượng

đó Khi diễn đạt khái niệm ra bằng ngôn từ, chúng ta có lời định nghĩa.Trong cuộc sống của mỗi con người, có lẽ ai cũng đã từng nhiều lần có nhucầu tạo lập và tạo lập được những định nghĩa để tìm hiểu và phân biệt các

sự vật, hiện tượng vô cùng đa dạng, phong phú xung quanh mình Địnhnghĩa chính là việc nêu lên những thuộc tính bản chất để nhận biết sự vật,hiện tượng, đồng thời phân biệt nó vói các sự vật, hiện tượng khác

Tuy nhiên, định nghĩa khái niệm là một vấn đề hết sức phức tạp, nógắn liền với sự phát triển của các ngành khoa học, với logic học, triết học

Trong tác phẩm Logic học phổ thông, tác giả Hoàng Chúng đã đưa ra một số

đặc điểm cơ bản của định nghĩa khái niệm như sau:

Trang 40

Cấu trúc logic của định nghĩa thường có dạng “A là B”: trong đó A làkhái niệm được định nghĩa, là khái niệm mới, cần được làm sáng tỏ; B làkhái niệm định nghĩa, trong đó nêu lên các dấu hiệu đặc trưng, phân biệtvới những khái niệm khác đã được biết Đến lượt mình, thành phần B lại cónhiều cấu trúc logic khác nhau Chẳng hạn, dựa vào mối quan hệ rộng hơn,hẹp hơn giữa các khái niệm người ta có thể có hai cách định nghĩa:

Định nghĩa những khái niệm mới hẹp hơn những khái niệm đã biết

bằng cách nêu ra chủng và sự khác nhau về loại theo công thức (A là dấu của phép hội, đọc là và):

Khái niệm được định nghĩa - chủng

con và nuôi con bằng sữa theo đúng đặc trưng của loài thú); ngược lại có

những loài chúng ta tưởng không phải là cá thì chúng lại là cá đích thực Ví dụ: lươn và chạch đều là cá vì chúng có đủ bốn đặc trung nêu trên, mặc dù

mang và vây của chúng rất nhỏ, nhưng chúng vẫn dùng mang đế thở và dùngvây để bơi

Hoặc định nghĩa những khái niệm mới, rộng hơn những khái niệm đãbiết bằng cách liệt kê những khái niệm hẹp hơn được bao hàm trong khái

niệm ấy trong công thức (V là dấu của phép tuyển, đọc là hoặc):

Khái niệm được định nghĩa = BI

Ngày đăng: 29/06/2023, 13:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Phê (1969), “Về việc biên soạn một quyển từ điển tiếng Việt mới”, ngôn ngữ, (2), tr.3 -18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về việc biên soạn một quyển từ điển tiếng Việt mới”
Tác giả: Hoàng Phê
Năm: 1969
3. Hoàng Phê và Nguyễn Ngọc Trâm (1997), “Một số vấn đề từ điển học”, Một số vấn đề từ điển học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề từ điển học”
Tác giả: Hoàng Phê và Nguyễn Ngọc Trâm
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1997
4. F.de Saussure (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: F.de Saussure
Nhà XB: NXB Khoa họcXã hội
Năm: 1973
5. Chu Bích Thu (1997), “Một số nét khái quát về cấu trúc vi mô của từ điển giải thích”, trong Một số vấn đề từ điển học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số nét khái quát về cấu trúc vi mô của từ điển giải thích”
Tác giả: Chu Bích Thu
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1997
6. Nguyễn Ngọc Trâm (1997), “Một vài nhận xét về cấu trúc vĩ mô của từ điển giải thích Tiếng Việt”, trong Một số vấn đề từ điển học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một vài nhận xét về cấu trúc vĩ mô của từđiển giải thích Tiếng Việt”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Trâm
Nhà XB: NXBKhoa học Xã hội
Năm: 1997
7. Từ điển Thuật ngữ Địa danh Lịch sử Quân sự (Trung tâm từ điển bách khoa Quân sự), NXB Quân đội Nhân dân 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thuật ngữ Địa danh Lịch sử Quân sự
Nhà XB: NXB Quân đội Nhân dân 2006
8. Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên), NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Đà Nẵng 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB ĐàNẵng – Trung tâm Từ điển học
9. Từ điển Bách khoa Việt Nam, Trung tâm Biên soạn TĐBK VN. Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam
10. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội. 11.Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Đại học vàTrung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, "NXB Giáo dục Hà Nội. 11.Đỗ Hữu Châu (1987), "Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội. 11.Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội. 11.Đỗ Hữu Châu (1987)
Năm: 1987
15.Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học vàTrung học chuyên nghiệp
Năm: 1985

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  minh  họa  cần  có  sự  chọn  lựa  những tiêu  bản  điển  hình,  phù  hợp tương  thích với nội dung văn bản - Cấu Trúc Hai Mặt Và Tính Liên Thông Của Từ Điển Địa Danh Lịch Sử.docx
nh minh họa cần có sự chọn lựa những tiêu bản điển hình, phù hợp tương thích với nội dung văn bản (Trang 73)
Hình minh họa đƣợc gọi là kênh hình, một bộ phận quan trọng trong từ điển  thuật ngữ quân sự giúp tiết kiệm đƣợc văn bản và có tác dụng làm sáng tỏ phần nội  dung của mục từ - Cấu Trúc Hai Mặt Và Tính Liên Thông Của Từ Điển Địa Danh Lịch Sử.docx
Hình minh họa đƣợc gọi là kênh hình, một bộ phận quan trọng trong từ điển thuật ngữ quân sự giúp tiết kiệm đƣợc văn bản và có tác dụng làm sáng tỏ phần nội dung của mục từ (Trang 75)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w