Hà Nội 2015 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN TUẤN ANH SỰ KIỆN “GIÀN KHOAN HẢI DƢƠNG 981” DƢỚI GÓC NHÌN CỦA BÁO ĐIỆN TỬ ĐỐI NGOẠI BẰNG TIẾNG ANH CỦA VIỆT NAM VÀ[.]
Trang 1Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
NGUYỄN TUẤN ANH
SỰ KIỆN “GIÀN KHOAN HẢI DƯƠNG 981” DƯỚI GÓC NHÌN CỦA BÁO ĐIỆN TỬ ĐỐI NGOẠI BẰNG TIẾNG ANH CỦA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
Trang 2Hà Nội -
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
NGUYỄN TUẤN ANH
SỰ KIỆN “GIÀN KHOAN HẢI DƯƠNG 981” DƯỚI GÓC NHÌN CỦA BÁO ĐIỆN TỬ ĐỐI NGOẠI BẰNG TIẾNG ANH CỦA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đặng Thị Thu Hương
Xác nhận đã chỉnh sửa theo yêu cầu của Hội đồng.
Ngày tháng năm
Chủ tịch Hội đồng
Trang 3Hà Nội -
PGS TS Đinh Văn Hường
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tin xin cam đoan toàn bộ nội dung của luận văn Sự kiện “giàn khoan HảiDương 981” dưới góc nhìn của báo điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam
và Trung Quốc là những kiến thức do tôi thu nhận được trong quá trình học tập vànghiên cứu đề tài của mình, không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu nào
Trong luận văn, tôi có sử dụng một số trích dẫn từ các nguồn tài liệu thamkhảo Các tài liệu trích dẫn đều được dẫn nguồn đầy đủ
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2015
Học viên
Nguyễn Tuấn Anh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn các thầy, cô giáo trongKhoa Báo chí và Truyền thông - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn/Đại học Quốc gia Hà Nội đã đào tạo cho tôi những kiến thức, kỹ năng cầnthiết trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS TS Đặng Thị ThuHương, giảng viên hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này Cô đã tận tâmchỉ bảo, định hướng cho tôi về mặt lý luận và phương pháp nghiên cứu, đồng thờigợi mở những kiến thức khoa học mới để tôi vận dụng vào luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các phóng viên, biên tập viên báo điện tử NhânDân điện tử và Thanh Niên online, đặc biệt là những biên tập viên chuyên trangtiếng Anh của hai tờ báo trên, cùng bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôitrong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Do còn có hạn chế về mặt thời gian và kiến thức, tôi nhận thấy luận văn củamình còn những thiếu sót nhất định Kính mong sự góp ý và sửa chữa của các thầy,
cô giáo, hội đồng phản biện cũng như các bạn học viên để luận văn được hoàn thiệnhơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2015
Học viên
Nguyễn Tuấn Anh
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, MÔ HÌNH 7
MỞ ĐẦU 9
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁO ĐIỆN TỬ ĐỐI NGOẠI VÀ SỰ KIỆN “GIÀN KHOAN HẢI DƯƠNG 981” 18
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 18
1.2 Sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” 25
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về thông tin đối ngoại nói chung và sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” nói riêng 27
1.4 Vai trò của báo điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh trong sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” 33
1.5 Giới thiệu các tờ báo điện tử trong diện khảo sát 37
* Tiểu kết chương 1 44
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC ĐƯA TIN CỦA BÁO ĐIỆN TỬ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 46
2.1 Thực trạng báo điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam 46
2.1.1 Tần số tin, bài về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” 46
2.1.2 Nội dung thông tin về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” 48
2.1.3 Hình thức chuyển tải thông tin về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” .72
2.1.4 Tính tương tác trong các bài viết về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” 79 2.2 Thực trạng báo điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh của Trung Quốc 82
2.2.1 Tần số tin, bài về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” 82
2.2.2 Nội dung thông tin về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” 84
Trang 72.2.3 Hình thức chuyển tải thông tin về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981”
90
2.2.4 Tính tương tác trong các bài viết về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” 91 2.3 Đánh giá về nội dung thông tin và cách đưa tin của báo điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam và Trung Quốc 94
2.3.1 Về nội dung thông tin 94
2.3.2 Về cách đưa tin 96
* Tiểu kết chương 2 98
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO ĐIỆN TỬ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO 99
3.1 Đánh giá thành công, hạn chế và bài học kinh nghiệm 99
3.1.1 Thành công 99
3.1.2 Hạn chế 101
3.1.3 Bài học kinh nghiệm 102
3.2 Nguyên nhân thành công và hạn chế 104
3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng báo điện tử đối ngoại của Việt Nam trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo 109
3.3.1 Giải pháp chung 109
3.3.2 Giải pháp cụ thể 115
KẾT LUẬN 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 PHỤ LỤC
Trang 9HLHTN Hội Liên hiệp thanh niên
PGS TS Phó Giáo sƣ, Tiến sĩ
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, MÔ HÌNH
Bảng 2.1 Tần số tin, bài về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” của
báo Nhân Dân dân điện tử bằng tiếng Anh thời gian từ02/5/2014 đến 15/7/2014
Bảng 2.2 Tần số tin, bài về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” của
báo Thanh Niên online bằng tiếng Anh thời gian từ02/5/2014 đến 15/7/2014
Bảng 2.3 Tỉ lệ bài viết về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” của
báo Nhân Dân điện tử và Thanh Niên online bằng tiếng AnhBảng 2.4 Tỉ lệ bài viết về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” của
Nhân Dân điện tử bằng tiếng AnhBảng 2.5 Tỉ lệ bài viết về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” của
báo Thanh Niên online bằng tiếng AnhBảng 2.6 Tỉ lệ các thể loại báo chí về sự kiện “giàn khoan Hải Dương
981” trên hai tờ Nhân Dân điện tử và Thanh Niên onlineBảng 2.7 Tỉ lệ tin, bài về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” trên
hai tờ Nhân Dân điện tử và Thanh Niên online sử dụngvideo, hình ảnh minh họa
Bảng 2.8 Tần số tin, bài về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” của
BĐT China Daily bằng tiếng Anh của Trung Quốc tính từ02/5/2014 đến 15/7/2014
Bảng 2.9 Các bài liên quan đến sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981”
của BĐT China Daily bằng tiếng Anh của Trung Quốc tính
từ 02/5/2014 đến 16/7/2014Bảng 2.10 Tần số tin, bài về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” của
BĐT Thời báo Hoàn cầu bằng tiếng Anh của Trung Quốctính từ 02/5/2014 đến 17/7/2014
Trang44
45
4747486975
Trang 11của BĐT Thời báo Hoàn Cầu bằng tiếng Anh của TrungQuốc tính từ 02/5/2014 đến 17/7/2014
Bảng 2.12 Tỉ lệ các thể loại báo chí về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 86
981” trên hai tờ BĐT tiếng Anh của Trung Quốc là China Daily
và Thời báo Hoàn CầuHình 2.1 Cách bố trí, sắp đặt vị trí các nút, công cụ tương tác mạng 76
xã hội trên Nhân Dân điện tử bằng tiếng AnhHình 2.2 Cách bố trí, sắp đặt vị trí các nút, công cụ tương tác mạng 77
xã hội trên Thanh Niên online bằng tiếng AnhHình 2.3 Cách bố trí, sắp đặt vị trí các nút, công cụ tương tác mạng 87
xã hội trên BĐT China Daily bằng tiếng AnhHình 2.4 Cách bố trí, sắp đặt vị trí các nút, công cụ tương tác mạng 88
xã hội trên BĐT Thời báo Hoàn Cầu bằng tiếng Anh
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chỉ đạo công tác TTĐN, coi đây là mộttrong những bộ phận quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng Kết luận số 16-KL/TW ngày 14 ngày 02 năm 2012 của Bộ Chính trị về chiến lược phát triển thông
tin đối ngoại giai đoạn 2011-2020, xác định rõ: “Công tác TTĐN là bộ phận rất
quan trọng trong công tác tuyên truyền và công tác tư tưởng của Đảng ta, đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng chuyên trách là nòng cốt” Trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, công tác TTĐN đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng trong tuyên truyền quan điểm, đườnglối, chính sách của Đảng, Nhà nước, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, hình ảnhđất nước, con người Việt Nam cho bạn bè quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài;thành tựu đạt được của nhân dân thế giới, nhất là những quốc gia có quan hệ đối tácvới Việt Nam, tạo được sự đồng thuận của bạn bè quốc tế, tiếp tục, ủng hộ, giúp đỡnhân dân ta xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh chống quan điểm sai trái,thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnhthổ, giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới lãnh thổ, vùng trời Tổ quốc, bảo vệĐảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN
Trong gần 30 năm đổi mới và hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới,công tác thông tin, tuyên truyền về biển đảo, luôn được Đảng và Nhà nước ta lãnhđạo, chỉ đạo chặt chẽ, có chiến lược lâu dài, quyết sách chỉ đạo đúng đắn, địnhhướng quan trọng Bên cạnh thông tin về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước,những thông tin chuyên đề, phóng sự - điều tra, tin tức nóng hổi về biển đảo đã vàđang trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm của dư luận ở trong nước và ngoài nước,nhất là người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài Đây là vấn đề thiêng liêng, hệtrọng, thể hiện lòng yêu nước, ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của
Tổ quốc Việt Nam XHCN
Trang 13Thời gian gần đây, tình hình Biển Đông vốn đã khá phức tạp kể từ khi TrungQuốc sử dụng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, một số đảo trên quần đảoTrường Sa của Việt Nam, lại càng trở nên phức tạp và căng thẳng hơn với sựkiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyềnkinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (viết tắt là sự kiện “giàn khoan Hải Dương981”).
Trước bối cảnh diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường và nóng bỏng của sựkiện “giàn khoan Hải Dương 981”, BĐT đối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam đãthể hiện vai trò là vũ khí sắc bén, có hiệu quả của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấutranh với hành động sai trái của Trung Quốc ở Biển Đông Bằng những thông tinkhách quan, chính xác, kịp thời, có tính thuyết phục cao, BĐT đối ngoại bằng tiếngAnh đã cung cấp cho bạn bè quốc tế, người Việt Nam sống ở nước ngoài có thôngtin tin cậy, hiểu rõ hơn quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về CQBĐ củaViệt Nam Từ đó, hình thành các cuộc mít tinh, tuần hành ở khắp nơi trên thế giớiủng hộ Việt Nam, phản đối và yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng biển
nước ta.Việc phát huy vai trò của công tác TTĐN bằng tiếng Anh về chủ quyền biểnđảo nói chung và sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” nói riêng là vô cùng cầnthiết, cấp bách Cùng với các loại hình báo chí hiện nay, BĐT đối ngoại bằng tiếngAnh có thế mạnh vượt trội trong lĩnh vực TTĐN của Việt Nam Mục đích củaTTĐN bằng tiếng Anh là truyền tải lập trường, quan điểm, chính sách của Đảng,Nhà nước Việt Nam đến với bạn bè quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình củanhân dân thế giới; định hướng tư tưởng cho người Việt Nam ở nước ngoài, nângcao trách nhiệm của mỗi công dân với Tổ quốc, với việc bảo vệ CQBĐ; đưaTTĐN trở thành “sức mạnh mềm”, mũi tiến công đầu tiên trên mặt trận đấu tranhbảo vệ Tổ quốc
Nghiên cứu sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép “giàn khoan Hải Dương 981” trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên các trang BĐT bằng tiếng Anh là một hướng nghiên cứu cần thiết của báo chí học, góp thêm một
Trang 14tiếng nói “tƣ vấn” cho hoạt động TTĐN ngày càng có chất lƣợng, hiệu quả hơn; góp
Trang 15phần khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của BĐT đối ngoại bằng tiếng Anh củaViệt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ CQBĐ, đồng thời, góp phần tìm hiểu cáchthức đưa tin về vụ việc “giàn khoan Hải Dương 981” của báo chí đối ngoại củaTrung Quốc, từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm và giải pháp cho việc truyền thôngđối ngoại bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam giai đoạn phát triển mới Chính
vì vậy, tác giả luận văn chọn đề tài nghiên cứu “Sự kiện “giàn khoan Hải Dương
981” dưới góc nhìn của báo điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam và Trung Quốc” làm đề tài luận văn cao học ngành báo chí của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về hoạt động TTĐN trên một số phương tiện thông tin đại chúng
là việc không hoàn toàn mới, đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu và đượccông bố như sau:
- Công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài: “Media Power in
Politics” (Sức mạnh của truyền thông trong chính trị) của Doris A.Graber năm
2000; “The Creation of The Media: Political Origins of Modern Communications”
(Sáng tạo phương tiện truyền thông đại chúng: nguồn gốc chính trị của các phương
tiện liên lạc hiện đại) của Paul Starr, New York, Basic Books, năm 2004; “Phương
tiện truyền thông trong kỷ nguyên công nghệ thông tin” của Sayling Wen, Nxb Lý
luận chính trị, Hà Nội, 2002; “Đưa tin thời toàn cầu hoá” của Anya Schifrin và
Amer Bisat, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2004; Đây là những nghiên cứumang tính lý luận về thông tin đại chúng trong thời đại công nghệ số, có tính chấtkhái quát cao
- Công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước: “Sử dụng Internet trong
công tác TTĐN ở Trung Quốc” của Đào Vân Anh, Tạp chí TTĐN, số (29) 8/2006;
“Những nhiệm vụ chủ yếu của công tác TTĐN nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng” của Phạm Gia Khiêm, Tạp chí
TTĐN, số(85) 4/2011; “Một số vấn đề cần quan tâm trong TTĐN trên báo chí hiện
nay” của Nguyễn Hồng Vinh, Tạp chí TTĐN, số (87) 6/2011; “Báo chí điện tử với
Trang 16hoạt động TTĐN: Cơ hội và thách thức” của Doãn Thị Thuận, Tạp chí TTĐN, số
(92) 11/2011;“Báo chí với thông tin quốc tế” của Đỗ Xuân Hà, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1999; “Báo chí và Ngoại giao” của TS Dương Văn Quảng, Nxb Thế giới, 2002; “Truyền thông đại chúng trong công tác TTĐN của Việt Nam hiện nay”
của Phạm Minh Sơn và Nguyễn Thị Quế, Nxb Chính trị - Hành chính, 2009; Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề của báo chí đốingoại, đặc biệt là BĐT đối ngoại của Việt Nam, nhưng chưa nghiên cứu về BĐTđối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam và Trung Quốc
- Các đề tài, luận văn nghiên cứu có liên quan đến báo chí và TTĐN đã
được công bố: “Hoạt động truyền thông đại chúng trong công tác TTĐN của
Việt Nam hiện nay” của PGS TS Phạm Minh Sơn, đề tài khoa học cấp Bộ, năm
2007; “Đặc điểm báo chí đối ngoại Việt Nam thời kì 1995-2000” của Đặng Thị Thu Hương, luận văn thạc sĩ, năm 2011; “Công tác TTĐN trên BĐT Việt Nam
hiện nay” của Trần Vĩnh Tiến, đề tài nghiên cứu khoa học, năm 2007; “BĐT ĐCSVN với nhiệm vụ TTĐN” của Phạm Đức Thái, luận văn thạc sĩ, năm
2011;“TTĐN trên truyền hình Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Mai Hoa, luận văn thạc sĩ, năm 2011;“Nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin của bản
tin đối ngoại Thông tấn xã Việt Nam” của Trần Thuý Hà, khoá luận tốt nghiệp,
năm 2002;
Nghiên cứu về tranh chấp chủ quyền biển đảo là vấn đề mang tính lịch sử, do
đó các tài liệu nghiên cứu về đề tài này khá nhiều và đa dạng, nổi bật là những công
trình nghiên cứu sau: “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của
Mc Gendreau - Monique Chemillier, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1998;
“Cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa” của Trần Văn Kha, năm 1984; “Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa” của Lưu Văn Lợi, năm 1995; “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đào Hoàng Sa và Trường Sa” của TS Nguyễn Nhã,
năm 2003; “Biển Đông và hải đảo Việt Nam” của nhiều tác giả, năm 2010; “Bằng
chứng lịch sử và cơ sở pháp lý: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” của nhiều
Trang 17tác giả, năm 2011; “Người Việt với biển” của Nguyễn Văn Kim, Nxb Thế giới, năm 2011;“Vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam qua một số BĐT Anh ngữ” của Nguyễn Thị Quỳnh Nga, luận văn thạc sĩ, năm 2014; “So sánh phương thức tuyên truyền về
Biển Đông giữa báo chí Việt Nam và báo chí Trung Quốc” của Văn Nghiệp Chúc,
luận văn thạc sĩ, năm 2012;
Đầu tháng 5 năm 2014, Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương
981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đã làm nóng dưluận trong và ngoài nước Các nhà nghiên cứu, chuyên gia, học giả, nhà làm luật…trong và ngoài nước đồng loạt lên tiếng phản đối hành động phi pháp của TrungQuốc Trong đó có một số công trình nghiên cứu về sự kiện này được công bố như:
“Hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc trong vùng biển Việt Nam dưới góc nhìn của công luận quốc tế” của Nguyễn Ngọc Ánh, tạp chí Quan hệ
Quốc phòng, số 27 quý III năm 2014;
Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu về biển đảo trên Biển Đông
và sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” đều tập trung khai thác vấn đề dưới góc độpháp lý hoặc địa chính trị, chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ báo chíhọc Việc nghiên cứu các hoạt động TTĐN của Việt Nam nếu được đề cập thì cũngchỉ dừng lại trên bình diện vĩ mô, chưa quan tâm nhiều đến BĐT đối ngoại bằngtiếng Anh Vì vậy, sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” dưới góc nhìn của BĐTđối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam và Trung Quốc là một đề tài mới, có tínhthời sự và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh tranh chấp CQBĐ trên BiểnĐông hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn hoạt động TTĐN; khảo sát,phân tích hoạt động TTĐN về sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HảiDương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên một số
tờ BĐT đối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam và Trung Quốc, luận văn nêu bật
Trang 18thực trạng về nội dung và hình thức TTĐN của BĐT bằng tiếng Anh của Việt Nam
và Trung Quốc đối với sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981”, từ đó, chỉ ra nhữngthành tựu đã đạt được, những hạn chế còn tồn tại và đề xuất giải pháp nâng cao chấtlượng, hiệu quả của báo điện từ đối ngoại bằng tiếng nước ngoài của Việt Nam nóichung, báo điện tử bằng tiếng Anh nói riêng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của công tác TTĐN trên báo điện tử, nhữngnhân tố ảnh hưởng và vai trò của BĐT trong công tác TTĐN
- Nêu bật tầm quan trọng của công tác TTĐN về sự kiện Trung Quốc hạ đặttrái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địacủa Việt Nam
- Tìm hiểu chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong côngtác TTĐN về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trongvùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước ta
- Khảo sát nội dung, hình thức thông tin về sự kiện “giàn khoan Hải Dương981” giữa BĐT đối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam và Trung Quốc, từ đó hệthống hoá những quan điểm và phân tích tổng quan những nét chính của công tácthông tin, tuyên truyền về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” của hai nước trongkhoảng thời gian từ ngày 02/5/2014 đến 15/7/2014 (khoảng thời gian từ khi giànkhoan Hải Dương 981 bắt đầu hạ đặt trái phép đến lúc rút khỏi vùng đặc quyềnkinh tế và thềm lục địa của Việt Nam) Luận văn khái quát các kết quả, mặt tíchcực, hạn chế của một số BĐT đối ngoại trong nước qua quá trình tuyên truyền
về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981”; đề xuất những giải pháp, cách tiếp cậnnhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TTĐN trong những vụ việc tương tựtương lai có thể xảy ra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 19Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự kiện “giàn khoan Hải Dương981” dưới góc nhìn của báo chí đối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam và TrungQuốc.
Khách thể nghiên cứu, đối tượng khảo sát là hai tờ báo điện tử đối ngoạibằng tiếng Anh của Việt Nam là báo Nhân Dân điện tử (en.nhandan.org.vn), BáoThanh Niên online (Thanhniennews.com) và hai tờ báo điện tử đối ngoại bằng tiếngAnh của Trung Quốc là Thời báo Hoàn Cầu (globaltimes.cn), China Daily(chinadaily.com.cn)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi bốn tờ báo điện tử đối ngoạibằng tiếng Anh của Việt Nam và Trung Quốc Cụ thể, hai tờ báo điện tử đối ngoạibằng tiếng Anh của Việt Nam là báo Nhân Dân điện tử (en.nhandan.org.vn), báoThanh Niên online (Thanhniennews.com) và hai tờ báo điện tử đối ngoại bằng tiếngAnh của Trung Quốc là Thời báo Hoàn Cầu (globaltimes.cn), China Daily(chinadaily.com.cn)
Phạm vi thời gian khảo sát 4 tờ báo điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh trong
75 ngày, từ ngày 02/5/2014 đến ngày 15/7/2014 - thời điểm Trung Quốc chính thức
hạ đặt trái phép và rút giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa nước ta
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp phương pháp luận Mác - Lênin, phương phápnghiên cứu khoa học chung và các phương pháp nghiên cứu đặc thù của ngành báochí học như:
- Phương pháp luận Mác-Lênin: dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủnghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu, tìm hiểu trên cơ sở lý luận các quan điểm củaĐảng và Nhà nước
- Phương pháp logic: dựa trên nguồn tài liệu để suy luận, đưa ra nhận xét, đánh giá
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: thu thập và nghiên cứu các nguồn tàiliệu có liên quan
Trang 20- Phương pháp nghiên cứu lịch sử và tài liệu thứ cấp: hệ thống hóa các côngtrình đã nghiên cứu trước đó về vấn đề TTĐN, cũng như các văn bản, chỉ thị, nghịquyết của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực TTĐN,…
- Phương pháp phân tích thông điệp báo chí: phân tích nội dung và hình thứcthông tin của các bài viết về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” trên BĐT tiếngAnh của Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian từ ngày 02/5/2014 đến ngày15/7/2014
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn có ý nghĩa đóng góp, bổ sung, làm phong phú thêm hệ thống lýluận TTĐN và báo điện tử; góp phần xây dựng và hoàn thiện các lý luận về vai tròcủa báo chí trong công tác TTĐN hiện nay
Nội dung của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích choviệc nghiên cứu các vấn đề có liên quan
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ những thành công, hạn chế, bài học kinh nghiệm,nguyên nhân thành công, hạn chế của báo điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh củaViệt Nam về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981”, từ đó đề xuất giải pháp nângcao chất lượng công tác thông tin đối ngoại trên lĩnh vực chủ quyền biển đảo củaViệt Nam trên báo điện tử đối ngoại bằng tiếng nước ngoài, làm cơ sở cho hoạtđộng TTĐN về CQBĐ
Luận văn cũng đưa ra những định hướng cho việc làm tin đối ngoại bằngtiếng Anh trên các tờ báo điện tử, để có chiến lược phù hợp hơn cho loại hình báochí này, đạt hiệu quả tốt nhất với những đối tượng đặc thù hướng đến
Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng báo chí đối ngoạiphù hợp với những chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Trang 21Chương 1: Một số vấn đề chung về báo điện tử đối ngoại và sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981”.
Chương 2: Khảo sát, đánh giá việc đưa tin của báo điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam và Trung Quốc
Chương 3: Một số vấn đề rút ra và giải pháp nâng cao chất lượng báo điện
tử đối ngoại Việt Nam trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo
Trang 22Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁO ĐIỆN TỬ ĐỐI NGOẠI VÀ SỰ KIỆN “GIÀN KHOAN HẢI DƯƠNG 981”
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm thông tin đối ngoại
- Thông tin
Thông tin là khái niệm cơ bản của khoa học và là khái niệm trung tâm của xãhội trong thời đại chúng ta Mọi quan hệ của con người với giới tự nhiện, xã hội haymọi quan hệ giữa các quốc gia với nhau đều phải dựa trên một thông tin nhất định.Mọi tri thức khoa học của con người đều bắt nguồn từ thông tin về đối tượng, sựvật, hiện tượng nhận thức Những tri thức khoa học đó khẳng định bản chất và chấtluợng nhận thức của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh
Nghiên cứu trên một số từ điển, thuật ngữ thông tin có nhiều định nghĩa khác
nhau, chẳng hạn: Từ điển Oxford English Dictionary định nghĩa thông tin là “điều
mà người ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức”; có từ điển định nghĩa:
“Thông tin là điều mà người ta biết” hoặc “thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng th m sự hiểu biết của con người” [51]
Sự khác nhau trong định nghĩa về thông tin có nguyên nhân từ cách tiếp cậnđối tượng nghiên cứu Nếu hiểu thông tin là tri thức, là cái người ta biết… là cáchtiếp cận dưới góc độ kết quả của nhận thức Hiểu thông tin là sự chuyển giao trithức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người… là cách tiếp cận thông tin ở cấp độgiáo dục, truyền đạt, phổ biến, nhân rộng tri thức… Hai cách tiếp cận trên, chưaphản ánh đúng bản chất của thông tin
Theo tiếng Latin,“Informatio”, gốc của từ hiện đại “information” thông tin)
có hai nghĩa Một là, sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng
về đối tượng nhận thức Hai là, chỉ một hành động rất cụ thể là tạo ra một hình dạng
Trang 23mới (forme) trên cơ sở của truyền đạt Ngày nay, trước sự phát triển của xã hội thì khái niệm thông tin cũng có sự phát triển mới [51].
Theo quan điểm triết học: thông tin là sự phản ánh của con người về thế giớikhách quan bằng ngôn ngữ, chỉ đạo hoạt động cải tạo thế giới phục vụ đời sống của
con người [51] Theo quan niệm trên, thông tin có hai nghĩa: thứ nhất, thông tin là
một hoạt động, gồn hoạt động nhận thức, phản ánh; hoạt động phổ biến, thông báo
kết quả nhận thức; thứ hai, thông tin là có mục đích biến đổi nhận thức, nâng cao
năng lực hoạt động cải tạo sự vật, hiện tượng phục vụ cho nhu cầu con người, xãhội nhất định
Từ các quan niệm trên, có thể định nghĩa: Thông tin là hoạt động nhận thức
về một sự vật, một hiện tượng khách quan được biểu đạt bằng ngôn ngữ, lưu trữ qua các phương tiện đặc trưng của xã hội nhằm định hướng hoạt động thực tiễn của con người.
- Thông tin đối ngoại
Đối với mỗi quốc gia, thông tin được xác định ở hai mảng chính là thông tinđối nội và thông tin đối ngoại TTĐN là một bộ phận quan trọng trong chiến lượcthông tin phục vụ lợi ích quốc gia Ngày nay, trong quan hệ quốc tế hiện đại, khái
niệm “quyền lực mềm” và “ngoại giao công chúng” ngày càng trở lên phổ biến.
Theo đó, TTĐN và văn hoá đối ngoại được coi là công cụ quan trọng được cácquốc gia triển khai thực hiện nhằm ảnh hưởng đến công luận quốc tế phục vụ chochính sách đối ngoại dài hạn hoặc chính sách đối ngoại ngắn hạn cụ thể Ngàynay các quốc gia trên thế giới đều coi TTĐN là một bộ phận thiết yếu, không táchrời của chính sách đối ngoại, có sức mạnh như sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh
tế… Các thuật ngữ: “TTĐN”, “công tác TTĐN”, “người làm công tác TTĐN” đã
trở thành thuật ngữ phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên,quan niệm về TTĐN còn có nhiều cách hiểu khác nhau của từng cá nhân hoặc cộngđồng
Theo từ điển thuật ngữ quan hệ quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, thuật
ngữ “public diplomacy” là chỉ những chương trình được chính phủ bảo trợ nhằm
Trang 24thông tin và tác động lên quan điểm của nhân dân các nước khác Phương tiện chủyếu của hoạt động TTĐN là thông qua các ấn phẩm, phim ảnh, giao lưu văn hóa,phát thanh, truyền hình… Theo trung tâm Ngoại giao công chúng Edward R.Murrow (The Edward R Murrow Center of Public Diplomacy) thuộc Đại học Tufts
(Hoa Kỳ), “public diplomacy” được định nghĩa như sau: “Ngoại giao công chúng
li n quan đến những ảnh hưởng của thái độ công chúng đối với sự hình thành và thực hiện các chính sách ngoại giao; nó bao gồm sự đa chiều trong quan hệ quốc tế vượt ra ngoài phạm vi ngoại giao truyền thống; sự tác động của một chính phủ lên quan điểm của nhân dân các nước khác; sự tương tác giữa các nhóm cá nhân và các nhóm lợi ích trong một quốc gia với quốc gia khác; tình hình quốc tế và những tác động của nó lên các chính sách; sự thông tin giữa những người làm về thông tin như các nhà ngoại giao và phóng vi n nước ngoài, quá trình truyền thông văn hóa”.
Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg ngày 26/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ Việt
Nam “về tăng cường quản lý và đẩy mạnh công tác TTĐN” đã đưa ra quan niệm về TTĐN dựa trên chính những nhiệm vụ của TTĐN: “TTĐN là một bộ phận rất quan
trọng của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta nhằm làm cho các nước, người nước ngoài (bao gồm cả người nước ngoài đang sinh sống, công tác tại Việt Nam), người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam, đường lối, chủ trương chính sách và thành tựu đổi mới của nước ta,
tr n cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân đân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [62].
Quan niệm trên đã liệt kê được các dấu hiệu chính mang tính cơ bản của TTĐN như
vị trí, đối tượng, phạm vi tác động, mục tiêu và nhiệm vụ của TTĐN
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học phát hành năm 2002, thuật ngữ
TTĐN được tách ra thành hai khái niệm đơn lẻ trong khái niệm chung gồm: “thông
tin” là truyền tin cho nhau để biết;“đối ngoại” là đối với nước ngoài, bên ngoài;
đường lối, chính sách, sự giao thiệp của nhà nước, của một tổ chức
Trong cuốn Báo chí và Truyền thông đối ngoại do PGS TS Lê Thanh Bình
Trang 25làm chủ biên, NXB Chính trị quốc gia phát hành năm 2012 định nghĩa: TTĐN làhoạt động thông tin ra nước ngoài của một nhà nước, là hoạt động thông tin tronglĩnh vực đối ngoại.
Trong cuốn sách Thông tin đối ngoại Việt Nam: Một số vấn đề lý luận vàthực tiễn của PGS TS Phạm Minh Sơn do NXB Chính trị - Hành chính xuất bảnnăm 2011, tác giả cho rằng có thể tiếp cận TTĐN theo ba cách:
- TTĐN là một dạng thông tin
- TTĐN là một lĩnh vực hoạt động
- TTĐN là một ngành đào tạo
Từ cách tiếp cận đó, PGS TS Phạm Minh Sơn định nghĩa TTĐN “là một bộ
phận quan trọng trong công tác tư tưởng và đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm cho thế giới hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, những thành tựu, những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam; đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, chống phá Việt Nam; làm cho nhân dân
ta hiểu rõ về thế giới; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đồng thuật và đóng góp của đồng bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [47; tr.16-17] Định nghĩa trên khẳng
định được chủ thể, khách thể; nội dung, mục tiêu của TTĐN ở nước ta và quanniệm này có tính khái quát cao, được sử dụng phổ biến nhất trong lĩnh vực TTĐNhiện nay
Đặt trong mối quan hệ với công tác tư tưởng - văn hóa, công tác đối ngoạicủa Đảng thì TTĐN là một bộ phận rất quan trọng, đồng thời là một bộ phận cấuthành hoạt động đối ngoại của Đảng, của cả hệ thống chính trị, mọi tầng lớp nhândân Việt Nam Quan niệm này vừa khẳng định chủ thể TTĐN, vừa khẳng định vaitrò lãnh đạo của ĐCSVN, quản lý của Nhà nước trong hoạt động TTĐN
Đối tượng (khách thể) tác động của TTĐN của Đảng rất rộng bao gồm: nhândân các nước (gọi tắt là người nước ngoài, trong đó có người nước ngoài đangsinh
Trang 26sống, công tác, học tập tại Việt Nam), chính phủ, các tổ chức chính trị, xã hội củacác quốc gia (nhất là các quốc gia có quan hệ mật thiết, đối tác của Việt Nam); nhândân Việt Nam (gọi tắt là người Việt Nam, trong đó có người Việt Nam đang sinhsống, làm việc, học tập ở nước ngoài) Đối tượng này quy định việc sử dụng mọiphương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là ngôn ngữ và các phương thức truyềnthông đa đạng khác nhau, trong đó, phương tiện thông tin đại chúng là phương tiện
cơ bản nhất, hướng tới công chúng quốc tế rộng lớn nhất
Mục đích của TTĐN là nhằm làm cho thế giới hiểu rõ đường lối, chính sáchcủa Đảng, Nhà nước, những thành tựu, những giá trị vật chất và tinh thần của dântộc Việt Nam; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế;tạo sự đồng thuật và đóng góp của đồng bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc; làm cho nhân dân ta hiểu rõ về thế giới; trên cơ sở đó đấutranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam Mụctiêu cụ thể hoạt động TTĐN của Việt Nam là đem lại sự hiểu biết, tin cậy, sẵn sànghợp tác, trao đổi có hiệu quả nhiều mặt đời sống xã hội với tất cả các đối tác, dựatrên cơ sở pháp luật quốc tế, pháp luật các nước tham gia vào mối quan hệ cùng cólợi, vì mục đích hòa bình, sự phát triển bền vững ở khu vực, thế giới
1.1.2 Khái niệm báo điện tử
Báo điện tử hay báo mạng là loại hình báo chí được xây dựng dưới hìnhthức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng Internet BĐT được xuất bảnbởi Tòa soạn báo điện tử Người đọc BĐT dựa trên máy tính, điện thoại di động,máy tính bảng có kết nối Internet để thu thập thông tin
Khái niệm BĐT bắt đầu xuất hiện vào năm 1992 cùng với sự ra đời của tờbáo Online Journal Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại nhiều cách gọi và cáchhiểu khác nhau đối với loại hình BĐT như: BĐT (Electronic Journal), báo trựctuyến (Online Newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí Internet (InternetNewspaper) Ngoài ra, trong các công trình nghiên cứu báo chí học, nhất là tronglĩnh vực truyền thông mới cũng xuất hiện các khái niệm với cùng đặc tính như: xuấtbản trực tuyến Online publishing), phương tiện truyền thông trực tuyến (Online
Trang 27media), nhà báo trực tuyến (Online journalist), phát thanh trực tuyến (Online radio),truyền hình trực tuyến (Online television).
Ở Việt Nam, thuật ngữ BĐT được sử dụng khá phổ biến, chẳng hạn BĐTNhân Dân, BĐT Quân đội Nhân dân, BĐT Lao động Ngoài ra, còn nhiều ngườigọi chúng bằng các tên khác như: báo mạng, báo chí Internet, báo trực tuyến, báoonline
Điều 3, Chương 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chíđược Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, số 12/1999/QH10 ngày
12/6/1999, định nghĩa BĐT là: “Báo mạng (được thực hiện trên mạng thông tin
máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài”.
Hiện nay, BĐT cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là loại báo mà người đọctiếp cận thông tin trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng khi có kết nốiInternet
Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, không thể đồng nhất các trang tin trênmạng máy tính với báo điện tử, bởi vì, BĐT phải là báo chính thức được cấp giấyphép và tin tức được phổ cập mà không có sự chép lại từ tờ báo in Mặt khác, cómột dạng website cũng đăng tải các tin tức nhưng chưa phải là báo điện tử, đó làtrang tin điện tử Trang tin điện tử không cần phải phép như BĐT nhưng vẫn đăng
và lưu truyền tin tức, đa số các tin là lấy lại từ nguồn khác Trên thực tế hiện nay có
ít BĐT nhưng số lượng trang tin điện tử thì rất lớn
Năm 1993, Việt Nam bắt đầu nghiên cứu việc sử dụng Internet Ngày 05/3/
1997, Chính phủ ban hành Nghị định 21/CP về Quy chế tạm thời quản lý, thiết lập
và sử dụng mạng Internet ở Việt Nam Internet quốc gia Việt Nam chính thức hòamạng Internet toàn cầu ngày 19/11/1997 Từ đây, báo chí điện tử nước ta và việckhai thác mạng Internet chính thức được đưa vào hoạt động Trong bối cảnh nhiềuquốc gia trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức trên cơ sở sử dụng nhữngthành tựu của cuộc cách mạng công nghệ thông tin, việc phát triển nhanh Internet
để khắc phục sự tụt hậu xa hơn các nước trên thế giới về công nghệ thông tin là yêucầu rất bức thiết đối với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Ngày 02/02/1997, Tạp chí
Trang 28Quê hương điện tử thuộc Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài trựcthuộc Bộ Ngoại giao ra đời, đánh dấu bước phát triển đầu tiên của BĐT Việt Nam.Quá trình phát triển, BĐT Việt Nam đã đóng một vai trò quan trọng trong các hoạtđộng tuyên truyền nói chung và hoạt động tuyên truyền đối ngoại nói riêng.
Cùng với sự phát triển chóng mặt của các công nghệ truyền dẫn, giúp đẩynhanh tốc độ truy tải, số lượng các tờ BĐT cũng nở rộ khắp nơi trên thế giới BĐT
có tác dụng và tiện ích hơn hắn các loại hình báo chí truyền thống, dung lượngthông tin rất lớn, tương tác thông tin nhanh, phát hành không bị trở ngại về khônggian, thời gian, biên giới quốc gia
Báo điện tử có sự tích hợp của công nghệ đa phương tiện, nghĩa là không chỉvăn bản, hình ảnh mà còn cả âm thanh, video và các chương trình tương tác khác
Có thể coi BĐT ngày nay là sự hội tụ của cả báo giấy (text), báo tiếng (audio) vàbáo hình (video) Không bị giới hạn bởi khuôn khổ, số trang, không bị phụ thuộcvào khoảng cách địa lý nên BĐT có khả năng truyền tải thông tin đi khắp toàn cầuvới số lượng người đọc không giới hạn Thông tin từ khi thu thập đến khi phát hànhđều được diễn ra rất nhanh chóng, với những thao tác hết sức đơn giản nên BĐT cóthể tức thời và phi định kỳ, luôn sống 24/24h BĐT chiếm ưu thế tuyệt đối trongviệc thiết lập các diễn đàn, các cuộc giao lưu, bàn tròn, phỏng vấn trực tuyến nhằm tăng mối quan hệ giữa tòa soạn với độc giả, giữa độc giả với nhau, tạo cơ hộicho độc giả có thể giao lưu, trao đổi với nhân vật mình quan tâm, yêu thích BĐT làmột thư viện đúng nghĩa, người đọc không chỉ xem các tin, bài hiện tại, mà còn đọcđược những tin, bài trong quá khứ Ngoài ra, nó còn cung cấp cho người đọc mộtcông cụ tìm kiếm thông tin khoa học và hiệu quả Với những ưu thế không thể phủnhận, BĐT đang trở thành kênh truyền thông được nhiều người lựa chọn
Như vậy, dựa trên những định nghĩa của một số nhà nghiên cứu cũng nhưphân tích nhiều quan điểm và các tiêu chí xác định, có thể định nghĩa BĐT như sau:
BĐT là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một website và phát hành trên mạng Internet BĐT là sản phẩm đặc biệt, được sinh ra từ sự kết hợp của
Trang 29các loại hình báo chí truyền thống BĐT sử dụng yếu tố công nghệ cao như là mộtquyết tố quyết định Quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền mạngInternet toàn cầu.
1.2 Sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981”
Giàn khoan dầu Hải Dương 981 có tên tiếng Trung là 海海海海 981; bínhâm: Hǎiyáng Shíyóu 981; tên Hán-Việt là Hải Dương Thạch Du 981; tên viết tắttiếng Anh là CNOOC 981; báo chí tiếng Việt gọi là giàn khoan Hải Dương 981.Đây là giàn khoan biển sâu di động có kích cỡ lớn đầu tiên do Trung Quốc sản xuất
và do Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC: China NationalOffshore Oil Corporation) sở hữu
Ngày 02/5/2014, Trung Quốc di chuyển giàn khoan Hải Dương 981 tới vị trícách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 17 hải lý về phía nam,cách đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía đông Đây
là vị trí nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam theoCông ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển
Trung Quốc huy động tới 80 tàu thuyền các loại, trong đó có 7 tàu quân sựnhư: tàu hộ vệ tên lửa 534, tàu tuần tiễu tên lửa tấn công nhanh 753 và 33 tàu hảicảnh, cùng nhiều tàu vận tải, tàu cá để bảo vệ giàn khoan Hải Dương 981 Ngoài ra,hàng ngày còn có hàng chục tốp máy bay hoạt động trên khu vực Có những thờiđiểm, số lượng tàu hộ tống của Trung Quốc lên tới hơn 100 chiếc, trong đó có cáctàu chiến thường xuyên di chuyển xung quanh giàn khoan [39]
Để bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trong vùng đặcquyền kinh tế theo đúng quy định của luật pháp quốc tế, nước ta đã cử 29 tàu tớicác khu vực gần giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc, khi nhận thấy giàn
khoan này định “thiết lập vị trí cố định” Lực lượng thực thi pháp luật của Việt
Nam tích cực tuyên truyền, kêu gọi Trung Quốc chấm dứt ngay hành vi vi phạmpháp luật quốc tế, rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam
Ngày 4/5/2014, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam gửi thư đến Chủ tịch và Tổng
Trang 30giám đốc của Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc cực lực phản đối hànhđộng của phía Trung Quốc và kiên quyết yêu cầu Tổng Công ty Dầu khí Hải dươngTrung Quốc dừng ngay lập tức các hoạt động bất hợp pháp và rút giàn khoan HảiDương 981 ra khỏi vùng biển của Việt Nam.
Ngày 05/5/2015, Việt Nam tổ chức họp báo, người phát ngôn Bộ Ngoại giaokhẳng định mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển của Việt Nam khichưa được phép của Việt Nam đều là bất hợp pháp và vô giá trị
Đáp lại, tàu Trung Quốc liên tục có những hành vi gây hấn, khiêu khích như
mở bạt che pháo để uy hiếp, sử dụng vòi rồng tấn công tàu của Việt Nam, sẵn sàngđâm húc gây hư hỏng cho tàu Việt Nam và làm bị thương một số kiểm ngư viên
Ngày 11/5/2014, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 24 ở Myanmar,Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng lần đầu tiên công khai tố cáo Trung Quốc
về việc đưa giàn khoan Hải Dương 981 cùng hơn 80 tàu đi vào vùng biển ViệtNam và kêu gọi sự ủng hộ của quốc tế
Ngày 15/5/2014, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình tuyên bố ViệtNam đã đưa công hàm phản đối Trung Quốc ra Liên Hiệp Quốc Ngày 20/5/2014,phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên Hiệp Quốc tại Genève đã gửi thôngcáo đến Văn phòng Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và các tổ chức
quốc tế khác cũng như các cơ quan báo chí có trụ sở tại Genève, về sự kiện “Trung
Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông”.
Ngày 26/5/2014, tàu Trung Quốc bao vây và đâm chìm một tàu cá của ngưdân Đà Nẵng ở khu vực Nam Tây Nam cách giàn khoan 17 hải lý, là ngư trườngtruyền thống, thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam
Việt Nam đã tích cực tuyên truyền, giải thích rõ lập trường của mình cũngnhư cập nhật tình hình trên biển cho bạn bè quốc tế để dư luận các nước hiểu rõ sựhung hăng, ngang ngược của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của ViệtNam Cộng đồng quốc tế đã có những phản ứng quyết liệt trước cách hành xử hunghăng, ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông Một loạt các quốc gia như
Trang 31Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Ấn Độ đã lên án các hành động bất chấp luậtpháp quốc tế, gây mất ổn định và làm gia tăng căng thẳng trong khu vực của BắcKinh.
Tại Đối thoại Shangri-La diễn ra vào tháng 6/2014 ở Singapore, nguyên thủ
và lãnh đạo các nước như Nhật Bản và Mỹ đã kịch liệt lên án các hành vi ngangngược của Trung Quốc Trước đó, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cũngkhẳng định Việt Nam sẽ nghiên cứu mọi phương án để bảo vệ chủ quyền, quyềnchủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình, kể cả phương án pháp lý, đó làkiện Trung Quốc lên tòa án quốc tế
Ở trong nước, dư luận Trung Quốc cũng xuất hiện ngày càng nhiều tiếng nóiphản đối hành vi ngang ngược của Bắc Kinh đối với các nước láng giềng Nhiều
học giả Trung Quốc cho rằng việc chính phủ của họ “gây chuyện” với các nước
láng giềng sẽ không đem đến một kết cục có lợi, đồng thời phản bác những lập luận
mà nhà cầm quyền đưa ra về tuyên bố chủ quyền phi lý bên trong “đường lưỡi bò”.
Ngày 15/7/2014,Trung Quốc đã quyết định rút Hải Dương 981 ra khỏi vùngđặc quyền kinh tế của Việt Nam sớm hơn 1 tháng so với kế hoạch và được lý giải
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về thông tin đối ngoại nói chung
và sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” nói riêng
Trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, với chủ
trương: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp
tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng
Trang 32quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” [25; tr.138], Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng công tác thông tin đối ngoại.
Kết luận số 16-KL/TW ngày 14 ngày 02 năm 2012 của Bộ Chính trị về chiến lược
phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011-2020 khẳng định: “Công tác thông tin
đối ngoại là bộ phận rất quan trọng trong công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng của Đảng và là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài Thực hiện công tác thông tin đối ngoại là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trước hết là của các cơ quan chuy n trách thông tin đối ngoại, các cơ quan báo chí, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự quản lý của Nhà nước Phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong hoạt động thông tin đối ngoại Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vừa là đối tượng, vừa
là nguồn lực của công tác thông tin đối ngoại” Trước yêu cầu hội nhập quốc tế,
đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta yêu cầu công
tác thông tin đối ngoại phải: “Đẩy mạnh công tác văn hóa, thông tin đối ngoại, góp
phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước”; tiếp tục “mở rộng, nâng cao chất lượng thông tin, hiệu quả thông tin đối ngoại” trong giai đoạn mới [20; tr.282] Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về công
tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản chỉđạo công tác thông tin đối ngoại, trong đó, Chỉ thị 11-CT/TW ngày 13/6/192 của
Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa VII) “Về đổi mới và tăng cường công tác
thông tin đối ngoại” xác định những định hướng cơ bản chỉ đạo hoạt động thông tin
đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam XHCN; Chỉ thị
26-CT/TW ngày 10/9/1998 của Ban Bí thư Tung ương Đảng (Khóa X) “Về tiếp tục
đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới”; Quyết
định số 16-QĐ/TW ngày 27/12/2001 của Ban Bí thư Tung ương Đảng (Khóa X)
“Về việc thành lập Ban chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại” Hội nghị lần thứ IV
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) đã thông qua Nghị quyết 09-NQ/TW
ngày 9/2/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó nhấn mạnh
“Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương” và khẳng định: "Nước ta
Trang 33phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển tr n cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn" Đặc biệt, trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng trong lĩnh vực
công nghệ thông tin, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đặt ra yêu
cầu công tác thông tin đối ngoại là: “Đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá
văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước, con người Việt nam với thế giới Mở rộng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông tin đối ngoại, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, báo chí, xuất bản Xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài”
[25]
Quán triệt và thực hiện quan điểm của Đảng, Thủ tưởng Chính phủ đã ra cácquyết định, chỉ thị, quy chế quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại; Đề án đảm bảomạng lưới thông tin biển đảo; Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo
vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam Ngày 22 tháng 8 năm 2013
Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 368/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình hành
động của Chính phủ về thông tin đối ngoại giai đoạn 2013-2020” Ngày 07 tháng
9 năm 2015, Chính phủ ra Nghị định số 72/2015/NĐ-CP “Về quản lý hoạt động
thông tin đối ngoại” Nghị định 72/2015/NĐ-CP quy định về quản lý hoạt động
thông tin đối ngoại; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcChính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc quản
lý và triển khai hoạt động thông tin đối ngoại Điều 3 về nguyên tắc hoạt độngthông tin đối ngoại quy định:
“1 Tuân thủ chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tuân thủ pháp luật và phong tục tập quán của nước sở tại.
Trang 342 Bảo đảm không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội,
uy tín, hình ảnh, quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế của Việt Nam; bảo vệ bí mật nhà nước.
3 Không kích động nhân dân chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân; không kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước.
4 Bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời theo đúng định hướng thông tin tuyên truyền đối ngoại của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ cũng như các chương trình, kế hoạch thông tin đối ngoại đã được phê duyệt; không đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân”.
Những quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về công tác thông tin đối ngoại là
cơ sở pháp lý cần thiết, tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý, cơ quan thông tin đốingoại đổi mới mạnh mẽ nội dung và hình thức thông tin, đa dạng hóa phương thức
thông tin với phương châm “chính xác, kịp thời, sinh động, phù hợp từng đối
tượng” Huy động mọi khả năng, mọi phương tiện, mọi hình thức cả ở trong nước
và nước ngoài để tham gia công tác thông tin đối ngoại Tăng cường đầu tư cótrọng tâm, trọng điểm về nguồn nhân lực và tài chính cho công tác thông tin đốingoại Hiện đại hóa phương tiện, chú trọng áp dụng những thành tựu mới nhấtcủa công nghệ thông tin để mở rộng địa bàn, đối tượng, đi đôi với phát huy cácphương thức, biện pháp truyền thống, nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin đốingoại
Thời gian gần đây, tình hình Biển Đông có những diễn biến phức tạp, trởthành điểm nóng của Khu vực Đông Nam Á Vấn đề căng thẳng, thu hút sự quantâm chú ý nhất của dư luận quốc tế là khi Trung Quốc Trung Quốc ngang nhiên hạđặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụcđịa của Việt Nam Trên cơ sở nắm chắc diễn biến tình hình, âm mưu, ý đồ củaTrung Quốc, Đảng, Nhà nước ta đã có những giải pháp chỉ đạo, định hướng đấu
tranh giải quyết vụ việc giữa hai nước trên Biển Đông với chủ trương: thứ nhất,
Trang 35kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, quyền chủ quyền và lợi ích trong vùng đặc
quyền kinh tế 200 hải lý ở Biển Đông; thứ hai, giữ vững môi trường hòa bình, ổn
định để phát triển kinh tế đất nước
Đảng, Nhà nước chủ trương kiềm chế, kiên trì đấu tranh với Trung Quốcbằng biện pháp hòa bình, không để xảy ra xung đột vũ trang Sử dụng tổng hợp cácbiện pháp đấu tranh, trong đó đấu tranh chính trị, ngoại giao, đấu tranh trên thực địakết hợp với đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng dư luận, tạo sự đồngthuận, nhất trí cao trong Đảng và nhân dân là chính Tích cực chuẩn bị cơ sở pháp
lý, sẵn sàng đấu tranh với Trung Quốc bằng biện pháplý khi đấu tranh chính trị,ngoại giao không đạt được kết quả Chủ động sử dụng biện pháp pháp lý theohướng từ thấp đến cao với bước đi thích hợp, chắc chắn khi thời cơ đến thì triểnkhai thực hiện
Quá trình diễn ra sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981”, Đảng, Nhà nướcluôn luôn theo dõi sát tình hình, nghe báo cáo của các cơ quan chức năng về việcthực hiện các chủ trương, giải pháp của ta phản đối, đấu tranh đòi phía Trung Quốcphải dừng việc hạ đặt giàn khoan thăm dò dầu khí Hải Dương 981 trong vùng biểnnước ta Tại Thông báo Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI, Đảng khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng,
kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hoà bình tr n cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuy n bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và những thoả thuận giữa lãnh đạo cấp cao Việt Nam - Trung Quốc; đồng thời giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng k u gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tăng cường đoàn kết, nhất trí, đồng tâm hiệp lực cả nước một lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, ki n quyết bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để hợp tác và phát triển; phấn đấu hoàn
Trang 36thành các mục ti u mà Đại hội XI của Đảng đã đề ra, thực hiện thắng lợi hai nhiệm
vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN” [3].
Về chính trị - ngoại giao, Việt Nam đã tiến hành trên 30 lần giao thiệp trựctiếp với phía Trung Quốc về vụ việc “giàn khoan Hải Dương 981” Tổng Bí thưNguyễn Phú Trọng đã gửi thư cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình yêucầu rút giàn khoan để hai nước tiến hành đàm phán
Về đấu tranh trên thực địa, ta đã kiềm chế, bình tĩnh, kiên quyết bảo vệ chủquyền trên cơ sở luật pháp và các thỏa thuận đã đạt được giữa ASEAN và TrungQuốc cũng như giữa Việt Nam với Trung Quốc Ngay sau khi Trung Quốc hạ đặtgiàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa củaViệt Nam và trong suốt quá trình Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 ởkhu vực nam, đông nam đảo Tri Tôn 17-26 hải lý, lực lượng Cảnh Sát biển, KiểmNgư, tàu cá của ngư dân của Việt Nam đã bán sát trận địa, tiến hành tuyên truyền,đấu tranh, yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan cùng toàn bộ lực lượng, phương tiện
ra khỏi vùng biển Việt Nam Lực lượng của ta đã kiên trì, linh hoạt, kiên quyết bảo
vệ chủ quyền, không nổ súng, không gây xung đột vũ trang, không chủ động đâm
va, không dùng vòi rồng phun nước vào các tàu của Trung Quốc
Trên mặt trận tư tưởng, báo chí của ta nhạy bén truyền đi những phát ngôn
“cứng rắn” của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước thể hiện ý chí kiên quyết vàtinh thần thiện chí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta với hành vi vi phạm củaTrung Quốc, kịp thời định hướng dư luận trong và ngoài nước Bên cạnh đó, báođiện tử cũng đã đưa tin nhanh và chính xác phát ngôn của ngoại giao Việt Namtrong các cuộc họp báo quốc tế để tố cáo, phản đối các hành động sai trái, ngangngược của Trung Quốc; đề nghị các nước, các tổ chức trên thế giới lên tiếng phảnđối các hành vi sai trái của Trung Quốc Tổ chức đưa nhà báo nước ngoài ra thựcđịa nắm bắt thực tiễn, kịp thời đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng,tạo được sự đồng thuận, ủng hộ của dư luận quốc tế Trên các diễn đàn quốc tế vàkhu vực, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước đã đưa ra nhiều
Trang 37ràng về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” và khẳng định: “Việt Nam nhất định
không chấp nhận đánh đổi chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc” [5].
Những tin tức về Nhà nước ta đã gửi công hàm phản đối lên Tổng Thư kýLiên Hợp Quốc Ban Ki-mun; thư báo cáo về hành động của Trung Quốc đến TổngThư ký Liên minh Nghị viện thế giới… Công tác thông tin truyền thông đã sửdụng, phát huy sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng vạch rõ hành visai trái của Trung Quốc, tố cáo Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng vùng đặcquyền kinh tế của Việt Nam để nhân dân thế giới, Việt Nam hiểu rõ tình hình, ủng
hộ Việt Nam, lên án Trung Quốc
Về đấu tranh pháp lý, chúng ta đã tích cực chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ sẵn sàngkiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về vấn đề tranh chấp ở Biển Đông
Sự nhất quán của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta về quan điểm, chủtrương giải quyết sư kiện “giàn khoan Hải Dương 981” đã tạo được sức mạnh tổnghợp của đại đoàn kết toàn dân tộc và quốc tế, sáng tạo nhiều hình thức, biện phápđấu tranh vừa kiên quyết vừa linh hoạt, khôn khéo, từng bước hạn chế, đẩy lùi thamvọng của Trung Quốc
1.4 Vai trò của báo điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh trong sự kiện
“giàn khoan Hải Dương 981”
Trước năm 1997, TTĐN chủ yếu do các cơ quan báo chí đối ngoại thực hiệnnhư: Ban biên tập đối ngoại Đài TNVN phát bằng 12 thứ tiếng); các ấn phẩm đốingoại của TTXVN bằng các ngôn ngữ: Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Trung Quốc,Nga Các tờ báo tiếng Việt khi đó phục vụ công chúng trong nước là chủ yếu, ít cókhả năng đến với các độc giả nước ngoài
Những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật, đặc biệt
là sự bùng nổ của công nghệ thông tin, BĐT của Việt Nam có những bước pháttriển vượt bậc về số lượng báo, chất lượng nội dung, đáp ứng yêu cầu ngày càngcao
Trang 38của quá trình hội nhập quốc tế ở nước ta Công tác TTĐN đã trở thành một chuyênmục, chương trình trên các đài truyền hình, đài phát thanh, các báo điện tử nhưTTXVN, Đài THVN, Đài TNVN, BĐT ĐCSVN, Báo Nhân Dân điện tử, BáoThanh Niên online, Tạp chí TTĐN, Tạp chí Quê hương… Trong quá trình hội nhậpquốc tế, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - chính trị, CQBĐ đặt ra yêucầu, nhiệm vụ to lớn cho công tác TTĐN của Đảng, làm cho nhân dân, các chínhphủ, quốc gia trên thế giới, người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm,đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của nhân dân ta Từ yêu cầu cấp thiết đó,BĐT đối ngoại bằng tiếng Anh của Việt Nam ra đời Bởi tiếng Anh là một trong sáungôn ngữ chính thức của Liên Hiệp Quốc (tiếng Ả Rập, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếngPháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Trung Quốc) Tiếng Anh (English) là một ngônngữ thuộc nhánh miền Tây của nhóm ngôn ngữ German trong ngữ hệ Ấn-Âu Đây
là ngôn ngữ sử dụng rộng rãi nhất thế giới, là ngôn ngữ mẹ đẻ của Liên hiệp Anh,
Mỹ, Canada, Cộng hòa Ireland, New Zealand và một số quốc đảo trong vùngCaribbean Tiếng Anh ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ ba trên thế giới, sau TiếngHoa và Tiếng Tây Ban Nha; là ngôn ngữ thứ hai được sử dụng rộng rãi, chính thứccủa Liên minh châu Âu, Khối Thịnh vượng chung Anh, Liên hiệp Quốc… TiếngAnh ngày càng được sử dụng phổ biến nhờ ảnh hưởng của Mỹ và Anh trên các lĩnhvực quân sự, kinh tế, khoa học, tin học, chính trị và văn hóa trên thế giới Hơn 4,5triệu người Việt đang sinh sống, lao động, học tập ở 103 nước, vùng lãnh thổ là đốitượng quan trọng của TTĐN Đây là đối tượng có kiều hối gửi về nước tăng trungbình 10-15%/năm, năm 2011 đạt trên 9 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành một trong
10 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất Dự kiến kiều hối năm 2015 lên tới 13 - 14 tỷUSD [2], đóng góp quan trọng vào việc ổn định cán cân thanh toán và kinh tế củađất nước Người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và sinh viên Việt Nam học tậptại các nước có nền kinh tế phát triển cao là lực lượng làm công tác TTĐN có hiệuquả, nhanh và có sức thu hút cao đối với học sinh, sinh viên, thanh niên nước sở tại
Các trang thông tin điện tử bằng tiếng Anh như Vietnam Plus, BĐTĐCSVN, Đài TNVN, trong đó có chuyên trang tiếng Anh của hai tờ Nhân Dân
Trang 39điện tử (en.nhandan.org.vn) và Thanh Niên online (Thanhniennews.com) Tuychất lượng còn hạn chế, nhưng các trang thông tin điện tử bằng tiếng Anh là kênhTTĐN chủ yếu, đóng vai trò rất quan trọng công tác tuyên truyền đối ngoại củaĐảng, Nhà nước ta.
Ngay sau khi Trung Quốc tiến hành hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương
981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, các phương tiệntruyền thông đại chúng đã ngay lập tức đưa tin phản ánh và cập nhật tình hình diễnbiến cũng như phản ứng của Đảng và Nhà nước ta về hành động xâm phạm quyềnchủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam Cáchình thức đưa tin, phản ánh không chỉ bằng tiếng Việt mà còn nhanh chóng đượcđưa tin bằng tiếng Anh để kịp thời thông tin tới nhân dân thế giới về các hành độnghung hăng của Trung Quốc, tinh thần đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam trongcách giải quyết, xử lý vấn đề trên tinh thần hòa binh và hợp tác
Đặc biệt, BĐT đối ngoại bằng tiếng Anh luôn bám sát tình hình thực địa, bámsát tàu thuyền của Lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, ngư dân, phản ánh kịp thờitinh thần đấu tranh anh dũng, khôn khéo, sáng tạo của lực lượng chấp pháp của ta,lên án những hành động trắng trợn, ngang ngược của Hải quân Trung Quốc trênvùng biển Hoàng Sa của Việt Nam Các bản tin tiếng Anh đã chủ trọng khai tháckịp thời dư luận quốc tế, quan điểm của chính khách, các nhà khoa học, các nhànghiên cứu và bạn bè quốc tế… để cung cấp thông tin về sự kiện “giàn khoan HảiDương 981” liên tục, chính xác Các nguồn tin về sự kiện sự kiện “giàn khoan HảiDương 981” của TTXVN được các hãng truyền thông khu vực và quốc tế coi lànguồn tin đáng tin cậy để khai thác, tái đăng thường xuyên như: CNN, BBC, Đàitruyền hình Phượng Hoàng Hông Công (Ifeng.com), trang mạng “Trái tim TQ”china.com), trang tin ASEAN 168.com, Thông tấn Campuchia akp.go.kh), Làokpl.net.la), trang điện tử của Tổ chức các hãng thông tấn chấu Á-Thái Bình Dươngoannanews.org)… Những thông tin sống động về tinh thần đấu tranh kiên quyết củatoàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã cổ vũ kịp thời tinh thần đoàn kết, hưởng ứng,ủng hộ của nhân dân thế giới, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Trang 40Có thể thấy, cùng với diễn biến trên thực địa, hàng loạt các biện pháp, hoạtđộng trên nhiều mặt trận đồng thời được triển khai để đấu tranh chống lại hành độngngang ngược của Trung Quốc Để các biện pháp này trở nên thực sự hiệu quả, thểhiện được tinh thần chính nghĩa của Việt Nam, các tin, bài đăng trên các BĐT đốingoại bằng tiếng Anh của Việt Nam đã đóng một vai trò quan trọng, giúp nhân dânthế giới nắm bắt và hiểu được tình hình thực tế trên thực địa và tranh thủ được sựủng hộ của dư luận quốc tế gây sức ép, buộc Trung Quốc phải sớm rút giàn khoanHải Dương 981 về nước trước kế hoạch.
BĐT đối ngoại bằng tiếng Anh là mũi nhọn trong công tác TTĐN của Đảng
về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” Thế mạnh của BĐT đối ngoại bằng tiếngAnh truyền tải thông tin kịp thời, nhanh nhất đến với công chúng ở mọi quốc giatrên thế giới, không bị ngăn cản bởi các mục đích chính trị của thế lực chống pháViệt Nam Nó thực sự là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống diễn biến hòabình trên mặt trận tư tưởng; kịp thời vạch trần những luận điệu xuyên tạc, vu khốngcủa các thế lực thù địch ở ngoài nước BĐT đối ngoại bằng tiếng Anh trở thànhphương tiện TTĐN quan trọng, có hiệu quả nhất so với các phương tiện thông tinkhác Trong tương lai, BĐT đối ngoại bằng tiếng Anh sẽ trở thành kênh thông tinchính trị đối ngoại có vị trí hàng đầu ở nước ta
Bên cạnh đó, thế mạnh về khả năng phản hồi trực tiếp, tương tác hai chiềugiữa cơ quan báo chí với độc giả trong việc trao đổi, đánh giá, đưa ra ý kiến, có thểbình luận, đối chất thông tin ngay trên trên mạng Nhờ đó, BĐT đối ngoại bằngtiếng Anh có thể nắm bắt nhanh chóng tâm tư, chính kiến, nguyện vọng, thị hiếu,tình cảm của độc giả đối với sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” và tinh thần dấutranh của nhân dân ta, từ đó có những điều chỉnh cần thiết, góp phần tăng hiệu quảTTĐN của Đảng Đặc biệt, BĐT nói chung và BĐT đối ngoại nói riêng có sức chứa
to lớn, dung lượng thông tin gần như không hạn chế, có cấu trúc rộng về khônggian, sâu về thời gian với nhiều tầng sự kiện, giúp độc giả có thể truy tìm, tra cứunhanh chóng và chính xác, giúp họ có cái nhìn chính xác, khoa học hơn đối với các
sự kiện diễn ra ở trong nước và thế giới về sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981”