1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sức Khỏe Sinh Sản, Vị Thành Niên, Xã Hội Học Lứa Tuổi.pdf

123 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay
Tác giả Nguyễn Hoàng Anh
Người hướng dẫn TS Hoàng Bá Thịnh
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Xã hội học, Sức Khỏe Sinh Sản, Vị Thành Niên
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Output file 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Hoàng Anh Nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay Nghiên cứu[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Hoàng Anh

Nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay Nghiên cứu trường hợp Trường PTTH Yên Hòa, quận Cầu Giấy, trường PTTH Nguyễn Văn cừ, huyện Gia Lâm, Hà Nội

Luận văn ThS Xã hội học : 60 31 30

Nghd : TS Hoàng Bá Thịnh

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Từ năm 1987, vấn đề SKSS và SKSSVTN bắt đầu được đề cập đến Tại Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển của Liên hiệp quốc, Cairô, tháng 4 năm 1994 (Hội nghị Cairô), vấn đề SKSS và SKSSVTN đã trở thành vấn đề được đặc biệt quan tâm và được cụ thể hoá thành 10 nội dung trọng tâm

SKSSVTN đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trong tất cả các mục tiêu, chương trình về SKSS ở tất cả các quốc gia trên thế giới Đã có nhiều nước xây dựng được một chương trình riêng tương đối hoàn chỉnh về

GD, chăm sóc, hỗ trợ tăng cường cho SKSSVTN Vì vậy, nhiều nước đã thu được những kết quả khả quan và những tiến bộ nhất định về chăm sóc,

hỗ trợ tăng cường SKSS

Theo con số thống kê vào năm 2003, nước ta có khoảng hơn 15,13 triệu trẻ VTN (từ 10 đến 19 tuổi) và chiếm khoảng 23,1% dân số Như vậy, VTN ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất cao trong cơ cấu dân số, và đây là một tỷ lệ rất cao trên thế giới Có thể nói rằng, VTN là một nhóm xã hội đặc biệt, thời kỳ VTN là một giai đoạn có nhiều biến đổi và có tính chất

quyết định trong việc hình thành nhân cách của con người Tuy nhiên, "cho

đến nay, các dịch vụ về SKSS đều bỏ qua nhu cầu của nhóm người ở tuổi VTN Xã hội cần đáp ứng nhu cầu này bằng cách cung cấp thông tin giúp

họ đạt đến sự chín chắn cần thiết để họ có thể quyết định đúng đắn và có trách nhiệm Đặc biệt phải giúp họ hiểu biết về bản năng tình dục của mình

và tăng cường khả năng tự bảo vệ, tránh những nguy cơ như mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục (nhất là HIV/AIDS), nạo phá thai, sinh con sớm, vô sinh " [11]

Trang 3

Ở Việt Nam, thời gian qua, việc trang bị kiến thức về SKSS lứa tuổi VTN còn ít được quan tâm Hiểu biết của VTN về SKSS nhìn chung còn hạn chế, do vậy đã xảy ra những hậu quả đáng tiếc Tỷ lệ VTN và các thanh niên nam, nữ có quan hệ tình dục trước hôn nhân đang có chiều hướng gia tăng, việc sống thử, sống gấp, thái độ, hành vi dễ dãi trong tình yêu của thanh thiếu niên, nhất là ở khu vực đô thị có xu hướng trở nên phổ biến Theo thống kê của Hội kế hoạch hoá gia đình, thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới (mỗi năm ước tính có

từ 1,2 - 1,6 triệu ca nạo hút thai), trong đó VTN chiếm khoảng 20% Ở Hà Nội, 15% VTN trong tuổi từ 15 đến 19 đã sinh hoạt tình dục, cả nước có 5% nữ sinh con trước tuổi 18… Bên cạnh đó, hiện tượng lây nhiễm HIV/AIDS ở lứa tuổi VTN cũng đang ở mức báo động Theo thống kê của

Bộ Y tế, có tới 14% số người là trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV/AIDS [52]

Trong nhóm VTN, học sinh PTTH chiếm một tỷ lệ đáng kể có độ tuổi phần lớn từ 16 đến 18 tuổi (từ lớp 10 đến lớp 12) Tính đến học kỳ I năm 2006 - 2007, cả nước ta có 16,36 triệu học sinh phổ thông, trong đó cấp PTTH là 2,99 triệu [4] Năm 2005, số học sinh PTTH của Thành phố

Hà Nội là 108.096 em [49] Hoạt động chủ đạo hàng ngày của nhóm VTN này là học tập, sống phụ thuộc gia đình, chưa có vị trí kinh tế độc lập, đa số chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người công dân về mặt pháp luật Đối với các em học sinh PTTH, tình yêu học trò cũng có điều kiện về thời gian để hình thành và xuất hiện, nhất là những năm cuối của PTTH Một số mối tình học đường đã dẫn đến quan hệ tình dục trước hôn nhân trong khi các em chưa có đủ kiến thức để tự vệ, gây nên những hậu quả đáng tiếc; không những dẫn đến có thai ngoài ý muốn khiến các em phải bỏ học, lấy chồng sớm hoặc nạo phá thai lén lút mà còn ảnh hưởng sức khoẻ, y tế, xã hội, rạn nứt tình cảm gia đình, góp phần gia tăng dân số và cũng tác động không nhỏ đến kinh tế - xã hội của đất nuớc

Trang 4

Theo tài liệu của Trường cán bộ quản lý GD - Đào tạo, trước năm

1994, mục tiêu GD dân số trong các trường phổ thông tại Việt Nam được tập trung vào các nội dung phát triển Sau năm 1994, GD dân số được tập trung ưu tiên vào các nội dung về SKSSVTN Công tác GD dân số/ SKSS trong các trường phổ thông đã từng bước được đổi mới và nâng cao chất lượng cả về nội dung và phương pháp; tuy nhiên cũng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu sự đồng thuận của dư luận xã hội và rất thiếu nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài chính) đảm bảo cho việc triển khai công tác GD dân số/ SKSS trong nhà trường phổ thông

Một vấn đề tồn tại đang gây nhiều tranh cãi hiện nay ở nước ta, đó là

có nên GD SKSSVTN cho VTN hay không? Thực tế cho thấy, so với các thế hệ trước, VTN hiện nay bước vào tuổi dậy thì sớm hơn một tuổi Bên cạnh đó, quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, sự thay đổi về lối sống, sự

du nhập tràn lan chưa kiểm soát được các văn hóa phẩm từ các nước phương Tây và khu vực đã góp phần thúc đẩy làm đảo lộn về chuẩn mực giá trị và chuẩn mực đạo đức trong bước chuyển đổi nên VTN đang chịu những tác động cũng như những áp lực hết sức mạnh mẽ từ môi trường xã hội Từ phía bản thân VTN, các em thật sự có nhu cầu về GD SKSSVTN Bởi lẽ, đa số VTN hiện nay còn thiếu hiểu biết về các nội dung của

SKSSVTN Chỉ một dẫn chứng là 76% các em gái dưới 18 tuổi phá thai

nói rằng đã không biết có thai đã chứng minh nhận định này [34] Vì thế,

việc GD SKSSVTN và trang bị những kiến thức cho VTN nói chung, học sinh PTTH nói riêng có một vai trò đặc biệt quan trọng Trong khi đó, công tác GD SKSSVTN hiện nay vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định; do vẫn còn quan niệm cho rằng vấn đề tình dục, tình yêu là những vấn đề kín đáo, tế nhị, tránh đề cập đến ở phạm vi công cộng, thậm chí ngay cả ở trong gia đình nên đã cản trở việc cung cấp kiến thức về SKSS cho VTN

Rõ ràng là VTN - lớp người tương lai của đất nước rất cần được trang bị những kiến thức cần thiết để bảo vệ SKSS, cụ thể là về giới tính, tình yêu,

Trang 5

tình dục, các biện pháp phòng tránh thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhất là HIV/AIDS

Việc GD SKSSVTN cho VTN hiện nay, trong đó có nhóm VTN trong độ tuổi học sinh PTTH có ý nghĩa quan trọng quyết định đến nhận thức, thái độ và hành vi của mỗi cá nhân người học, góp phần xây dựng lối sống lành mạnh, tích cực trong giới trẻ để bảo vệ sức khoẻ, nòi giống dân tộc, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu Nhu cầu

giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay, nghiên cứu học sinh hai trường PTTH ở thành phố Hà Nội:

trường PTTH Yên Hòa, quận Cầu Giấy và trường PTTH Nguyễn Văn Cừ, huyện Gia Lâm; đồng thời tìm hiểu thái độ của cộng đồng đối với việc GD SKSSVTN của học sinh PTTH, với mong muốn góp phần xây dựng một chương trình GD SKSSVTN thích hợp cho các em trong giai đoạn hiện nay

2 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Trang 6

nguyên nhân, yếu tố tác động đến nhu cầu của học sinh PTTH về SKSSVTN Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra những khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu của của công tác GD SKSSVTN cho học sinh PTTH hiện nay

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nhận thức của học sinh PTTH tại Hà Nội về SKSSVTN và nhu cầu của các em về GD SKSSVTN, đồng thời tìm hiểu thái độ của cộng đồng về GD SKSSVTN cho học sinh PTTH; từ đó có những phân tích đánh giá và đưa ra giải pháp nhằm tăng cường việc đáp ứng được nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.1 Khảo sát nhận thức của học sinh PTTH Hà Nội (từ 16 đến 18 tuổi) về SKSSVTN

4.2 Tìm hiểu nhu cầu của học sinh PTTH Hà Nội về GD SKSSVTN (bao gồm: nhu cầu về các nội dung kiến thức SKSSVTN, nhu cầu được tiếp nhận các kênh thông tin có liên quan đến SKSSVTN, nhu cầu về sự hỗ trợ của xã hội)

4.3 Tìm hiểu thái độ cộng đồng (thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh) về

GD SKSSVTN cho học sinh PTTH Hà Nội hiện nay

4.4 Đề xuất một số giải pháp cần thiết để đáp ứng được nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH

5 ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ, GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH hiện nay

5.2 Khách thể nghiên cứu: học sinh PTTH (từ 16 đến 18 tuổi)

5.3 Đối tượng khảo sát: học sinh Trường PTTH Yên Hòa, quận Cầu Giấy;

Trường PTTH Nguyễn Văn Cừ, huyện Gia Lâm (Hà Nội)

Trang 7

5.4 Phạm vi nghiên cứu:

 Giới hạn vấn đề nghiên cứu: Đề tài tập trung tìm hiểu nhận thức

của học sinh PTTH tại Hà Nội về một số nội dung chính của SKSSVTN, nhu cầu GD SKSSVTN của các em và thái độ của cộng đồng (bao gồm: thầy, cô giáo, cha mẹ học sinh PTTH) về GD SKSSVTN của học sinh PTTH hiện nay

 Không gian nghiên cứu: Trường PTTH Yên Hòa, quận Cầu Giấy

và Trường PTTH Nguyễn Văn Cừ, huyện Gia Lâm, Hà Nội

 Thời gian nghiên cứu: Tháng 9 - 10, năm 2006

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Phương pháp quan sát: chúng tôi nhiều lần thực hiện quan sát không

tham dự (trong tháng 9 - 10, năm 2006) về một số yếu tố liên quan đến nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH tại trường PTTH Yên Hòa, quận

Cầu Giấy và Trường PTTH Nguyễn Văn Cừ, huyện Gia Lâm, Hà Nội

6.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: được chúng tôi sử dụng đối với các em học sinh PTTH nhằm tìm hiểu nhận thức của các em về một số nội dung chính của SKSSVTN và nhu cầu của các em về GD SKSSVTN

Đối tượng được khảo sát là học sinh cấp 3 của trường PTTH Yên Hòa, quận Cầu Giấy (đại diện cho khu vực nội thành Hà Nội) và Trường PTTH Nguyễn Văn Cừ, huyện Gia Lâm (đại diện cho khu vực ngoại thành

Hà Nội), bao gồm các em học sinh đang học tập hệ chính quy tại trường; được chọn theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo cơ cấu khối học

Tổng số phiếu phát ra là 330 phiếu, số phiếu thu vào và xử lý là 328 phiếu, được phân bổ cho hai trường như sau:

- Trường PTTH Yên Hoà: 161/328 phiếu (49,1%),

- Trường PTTH Nguyễn Văn Cừ: 167/328 phiếu (50,1%)

Giới tính của đối tượng được khảo sát:

- Nam: 169/328 học sinh (51,5%);

Trang 8

- Nữ: 159/328 học sinh (48,5%)

Tỷ lệ giới tính của đối tượng được khảo sát đảm bảo được tính đại diện và có ý nghĩa trong quá trình nghiên cứu

Lứa tuổi của đối tượng khảo sát được chia thành các độ tuổi 16, 17,

18 tương ứng với các khối lớp 10, lớp 11 và lớp 12 Trong đó:

50,1%

Tr-êng Yªn Hoµ:

Trang 9

Nghề nghiệp của bố mẹ học sinh được hỏi được chia thành:

bộ môn có liên quan đến vấn đề GD SKSSVTN như Sinh học, GD công dân, thầy cô giáo phụ trách công tác Đoàn thanh niên (6) và các học sinh PTTH của hai trường (6) nhằm thu thập thêm những thông tin sâu sắc và cụ thể hơn về nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH; đồng thời giúp cho chúng ta thấy được rõ hơn quan điểm, thái độ của người được phỏng vấn về

Giái Kh¸ Trung b×nh KÐm

Trang 10

6.4 Phương pháp phân tích tài liệu: bao gồm việc phân tích các công trình thực nghiệm, kết quả những đề tài nghiên cứu liên quan, số liệu thống kê…

phục vụ cho cuộc nghiên cứu

7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ SƠ ĐỒ TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN SỐ

7.1 Giả thuyết nghiên cứu

7.1.1 Học sinh PTTH Hà Nội đã nhận thức được những nội dung cơ bản về SKSSVTN, nhưng nhận thức còn chưa đầy đủ và thiếu chính xác

7.1.2 Học sinh PTTH Hà Nội rất có nhu cầu về GD SKSSVTN (nhu cầu

về các nội dung kiến thức SKSSVTN, nhu cầu được tiếp nhận các kênh thông tin có liên quan đến SKSSVTN, nhu cầu về sự hỗ trợ của xã hội) 7.1.3 Có sự khác biệt về tuổi, giới tính, học vấn và trường của học sinh PTTH tại Hà Nội về nhu cầu GD SKSSVTN

7.1.4 Thầy cô giáo và các bậc phụ huynh đã có cách nhìn cởi mở hơn và ủng hộ việc GD SKSSVTN cho học sinh PTTH hiện nay

7.2 Sơ đồ tương quan giữa các biến số:

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về SKSSVTN được tiến hành rất sớm trên thế giới, nhất

là ở các quốc gia phát triển, nhưng thường được gọi với những tên khác

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - VĂN HÓA - XÃ

Nhu cầu về các nội dung kiến thức SKSSVTN

Nhu cầu được tiếp nhận các kênh thông tin có liên quan đến SKSSVTN

Trang 12

nhau, chẳng hạn như sức khoẻ VTN hay giới tính, tình dục thanh thiếu niên Có lẽ bắt đầu từ Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển (ICPD) tại Cairô (tháng 4 năm 1994), sau khi định nghĩa chính thức về SKSS được thống nhất phổ biến đến mọi quốc gia trên thế giới thì mối quan tâm của không những các nhà khoa học, các nhà GD, các nhà quản lý xã hội mà cả các bậc cha mẹ đối với vấn đề SKSSVTN được đẩy lên một trình độ mới

Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, những nội dung GD SKSS đã được nhiều cấp, nhiều ngành quan tâm chỉ đạo và tổ chức triển khai các hoạt động cụ thể SKSS đã từng bước trở thành nội dung quan trọng của hầu hết các hoạt động dân số; các mục tiêu SKSS cũng là những mục tiêu

cần đạt được của kế hoạch hoá gia đình Theo Tổng quan các nội dung

nghiên cứu về sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản vị thành niên ở Việt Nam từ năm

1995 đến năm 2003, đã có tổng số 146 tài liệu nghiên cứu, khảo sát về chủ

đề này Trong đó có 82/146 (56,1%) tài liệu nghiên cứu về thực trạng tình hình sức khoẻ, SKSSVTN Việt Nam; 18/146 (12,4%) tài liệu nghiên cứu

về những yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ, SKSSVTN Việt Nam; 46/146 (31,5%) tài liệu đề cập đến các yếu tố, giải pháp, biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả GD, chăm sóc sức khoẻ, SKSSVTN [29] Các kết quả này cho thấy, những nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến SKSSVTN

đã được khá nhiều các nhà khoa học xã hội và khoa học tự nhiên quan tâm tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau Mảng nghiên cứu về nhu cầu GD giới tính - SKSSVTN của học sinh PTTH đã được một số tác giả tìm tòi với những phát hiện mới mẻ và thú vị, mặc dù những khảo cứu về vấn đề này còn chưa nhiều Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi xin được đề cập đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu và đặc sắc, những nhận định về nhu cầu GD giới tính - SKSSVTN được đề cập trong một số tác phẩm của các nhà nghiên cứu

SKSSVTN là một vấn đề mới và tế nhị xét về góc độ xã hội Tại Việt Nam, trong nền văn hóa truyền thống, với sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho

Trang 13

giáo, quan hệ tình dục trước hôn nhân bị lên án nặng nề Trải qua hơn 30 năm chiến tranh với thời gian dài của sự chia cắt giữa các cặp vợ chồng, giữa nam và nữ, những vấn đề này lại càng bị lên án Ngày nay, ngay cả với lớp trẻ thì quan hệ tình dục trước hôn nhân vẫn là điều kiêng kỵ Tuy nhiên, do sự chuyển đổi xã hội một cách nhanh chóng trong những năm gần đây mà những quan niệm này cũng đang có những biến đổi Các nghiên cứu cho thấy rằng VTN có hành vi tình dục hiện nay tăng lên và ở một lứa tuổi rất sớm so với những người cùng lứa tuổi ở các thế hệ trước Tuy nhiên, tình dục trước hôn nhân ở tuổi VTN có sự khác nhau rõ ràng giữa các phạm vi văn hóa, xã hội Kết quả của chương trình nghiên cứu về các đối tượng chưa lập gia đình ở tuổi VTN từ 15 đến 19 tuổi sống ở các nước châu Phi và châu Á của Tổ chức Y tế thế giới (năm 1995) cho thấy rằng thanh niên ở các nước châu Phi có hành vi tình dục nhiều hơn các thanh niên cùng lứa tuổi sống ở các nước châu Á Mức độ hoạt động tình dục trong các thanh niên chưa lập gia đình ở các nước châu Á là không đáng kể trong những năm trước và điều này phản ánh một sự chối từ mạnh

mẽ về xã hội và văn hóa đối với hành vi tình dục trước hôn nhân, đặc biệt

là ở nữ [32]

Đầu năm 1998, dự án "Hỗ trợ tăng cường sức khoẻ sinh sản vị thành

niên - VIE/97/P12" do Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

chủ trì đã được triển khai Các đợt truyền thông rộng rãi được tổ chức nhằm tuyên truyền cho VTN về SKSSVTN, về các biện pháp tránh thai và quan

hệ tình dục lành mạnh, an toàn, phòng chống STDs, đặc biệt là HIV/AIDS, giúp cho VTN có nhận thức đúng và tự điều chỉnh hành vi của mình, góp phần hạ thấp tỷ lệ nạo phá thai và có con ngoài ý muốn trước 18 tuổi

Trong báo cáo "Kết quả nghiên cứu khảo sát đánh giá nhanh nhu

cầu sức khoẻ vị thành niên" của các tác giả Martha Morrow, Đỗ Hồng

Ngọc, Trương Trọng Hoàng, Trần Huệ Trinh đã kết luận: Sự cần thiết phải

quan tâm đến VTN như một nhóm dân số riêng biệt ngày càng được nhận

Trang 14

thức rõ nét ở nhiều cấp Tuy nhiên, những hành động cụ thể nhằm vào nhóm người này vẫn chưa nhiều Báo cáo cho thấy, VTN có mức độ nhận

thức và quan tâm cao đối với sức khoẻ, gắn liền với thực tế của môi trường riêng; các em chẳng những quan tâm đến tình trạng thoải mái về thể chất và tinh thần của chính mình, mà các em còn quan tâm đến gia đình, cộng đồng

và địa phương nữa VTN cảm thấy thiếu thốn các thông tin chuyên biệt về sức khoẻ từ nguồn mà các em cảm thấy thoải mái khi tiếp xúc Các em vẫn muốn và cần sự hỗ trợ và bảo vệ của cha mẹ, nhưng cũng sẵn sàng đón nhận những thông tin chi tiết hơn từ nhiều nguồn để có thể thực hiện các phương pháp phòng ngừa và điều trị bệnh Nhóm tác giả này nhận định rằng GD SKSS trong và ngoài nhà trường thường chưa rõ ràng về nội dung

và chỉ giới hạn vào các dự án thí điểm Chính sự thiếu thông tin có tính toàn diện về nhu cầu của VTN gây khó khăn cho việc nhận diện nhóm hành

vi nguy cơ, giám sát xu hướng và triển khai hay lượng giá các chương trình [45]

Tác giả Đặng Quốc Bảo lại quan tâm đến việc GD một số nội dung

của SKSSVTN cho học sinh Trong bài viết "Giáo dục dân số cho học sinh

với chiều sâu là giáo dục giới tính, sức khoẻ sinh sản là vấn đề cần thiết",

tác giả Đặng Quốc Bảo đã nêu lên một số vấn đề cấp thiết hiện nay, đó là

GD giới tính trong nhà trường phải là việc giảng dạy các trí tuệ về giới tính phù hợp với đặc trưng tâm lý, sinh lý, hiểu biết xã hội của học sinh Ông cho rằng, xã hội, gia đình và nhà trường phải phối hợp với nhau để đưa đến cho thế hệ trẻ sự hiểu biết có hệ thống, khoa học, phù hợp với chuẩn mực văn hoá của dân tộc; đồng thời không nên né tránh nội dung này trong quá trình GD ở nhà trường và gia đình [7]

Nhóm tác giả Nguyễn Linh Khiếu, Lê Ngọc Lân, Nguyễn Phương Thảo cũng đã cung cấp một bức tranh khá toàn diện trong nghiên cứu về

“Gia đình trong giáo dục Sức khỏe sinh sản vị thành niên” Kết quả nghiên

cứu này cho thấy, có tới 72,4% VTN nam và 83,0% VTN nữ đánh giá rất

Trang 15

cao tầm quan trọng của những kiến thức về SKSS đối với các em với những lý do: tránh sai lầm và để biết cách tự bảo vệ mình (46,3%), muốn hiểu biết thêm về SKSS (35,0%), thấy có lợi cho bản thân (13,8%) và vì kiến thức về SKSS còn hạn chế (7,5%) Trong ba tổ chức gia đình, nhà trường và xã hội, các em nhận định rằng xã hội (bao gồm các đoàn thể và phương tiện thông tin đại chúng) đang là tổ chức đóng vai trò quan trọng nhất trong việc trang bị kiến thức về SKSS cho VTN (45,0%), sau đó là gia đình (32,0%) và cuối cùng là nhà trường (23,0%) [23]

Thời gian qua, tổ chức hỗ trợ kỹ thuật trong chăm sóc sức khoẻ PATH Canađa phối hợp với Trung tâm truyền thông, giáo dục sức khoẻ -

Sở Y tế Bắc Ninh đã tiến hành khảo sát về “Vai trò và trách nhiệm của

nam giới trong gia đình và chăm sóc sức khoẻ sinh sản” (khảo sát tại huyện Tiên Du, Quế Võ và thị xã Bắc Ninh, 2005), trong đó có khảo sát 158

em là học sinh nam Kết quả cho thấy, khi thắc mắc về những điều có liên quan tới SKSS, 17,7% học sinh trả lời là tự tìm hiểu, ngoài ra, người mà các em tìm đến hỏi là mẹ (13,3%), bố (13,3%), cán bộ y tế (5,1%), thầy cô giáo (0,6%) Trong khi đó, nguồn cung cấp thông tin được các em đánh giá

là phù hợp nhất với học sinh là: đài, ti vi (43%), sách báo (25,9%), thầy cô giáo (12.7%) Số liệu báo cáo cũng cho thấy 4,4% học sinh nam được hỏi cho biết đã có quan hệ tình dục [25]

Năm 2002, nhóm tác giả Đoàn Kim Thắng, Nguyễn Thị Văn, Phan

Quốc Thắng (Viện Xã hội học) đã thực hiện nghiên cứu “Nhu cầu giáo dục

giới tính, sức khoẻ sinh sản của học sinh phổ thông trung học: nghiên cứu tại 4 trường phổ thông trong nội thành Hà Nội” Nghiên cứu này đã khẳng

định việc tìm hiểu nhu cầu của học sinh PTTH về GD giới tính và SKSS là việc làm có ý nghĩa để tìm ra đuợc một điều kiện thích hợp nhất cho việc đáp ứng nhu cầu tiếp thu các kiến thức về GD giới tính và SKSS của VTN nói chung, học sinh PTTH nói riêng Nhóm tác giả đã chỉ ra những nhu cầu của học sinh PTTH nội thành Hà Nội về kiến thức và sự hỗ trợ của xã hội

Trang 16

chủ yếu thông qua các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm học sinh Tuy nhiên, số liệu định lượng trong nghiên cứu này mới tập trung vào đánh giá thực trạng nhận thức của học sinh PTTH về mội số nội dung liên quan đến SKSS Những sự khác biệt về giới tính, độ tuổi, khu vực theo học và thực trạng yêu của học sinh PTTH chưa được khai thác nhiều trong nghiên cứu nhu cầu Ngoài ra, một số nội dung liên quan tới nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh từ phía nhà trường chưa được nghiên cứu làm rõ [32] Mặc dù vậy, đây có thể coi là một tài liệu quan trọng đối với đề tài trong quá trình nghiên cứu, phân tích

Gần đây, cuộc Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt

Nam năm 2003 do Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê thực hiện với sự hỗ trợ

về kỹ thuật và tài chính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), gọi tắt là SAVY đã phân tích tổng hợp nhiều nội dung có liên quan đến VTN và giới tính - SKSSVTN (Chương 4,

5 và 6); trong đó chỉ rõ, các chương trình truyền thông cũng như việc tiếp cận với các nguồn thông tin cho thấy thanh thiếu niên Việt Nam được cung cấp nhiều thông tin về SKSS, đặc biệt là các biện pháp tránh thai, mặc dù hơi ít thông tin về STDs Tuy nhiên, mức độ chính xác của thông tin nắm được nhìn chung vẫn chưa đạt được như mong muốn [9]

Chương trình GD giới tính cũng được đề cập đến nhiều hơn trên báo

chí trong thời gian gần đây Từ những bài giới thiệu về “Giáo dục giới tính

trên thế giới hiện nay” của bác sĩ Trần Bồng Sơn đăng trên Báo Sài Gòn

Giải phóng, thứ bảy, ngày 8/7/2000, người đọc được biết ở Trung Quốc,

GD giới tính đã được tiến hành ngay từ khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời (1949), nhưng phải chịu nhiều năm thăng trầm trong gần 4 thập niên qua các giai đoạn khởi xướng, thực sự tiến hành GD giới tính, giai đoạn phát triển về GD giới tính cho đến giai đoạn củng cố về GD giới tính

từ năm 1998 đến nay Chương trình GD giới tính ở Trung Quốc đã được Ban GD Quốc gia đánh giá đủ quan trọng để đưa vào kế hoạch phát triển

Trang 17

GD nói chung Ở Mỹ, chương trình GD giới tính chỉ được phép dạy cho trẻ

từ độ tuổi 11 trở lên, do đó, dù tất cả các trường Tiểu học Mỹ thấy rất cần thiết phát triển chương trình cho môn học này, họ đều không được phép dạy [5] Một số bài báo khác cũng nêu lên tầm quan trọng của chương trình

GD giới tính cho học sinh, sinh viên ở Việt Nam: “GD giới tính là hình

thành những quan hệ đạo đức lành mạnh giữa các em trai và các em gái

GD giới tính cũng là quá trình xây dựng đạo đức tình dục ở các em” [39]

Một vấn đề khác cũng được nêu trên báo là “Chống thất học về giới tính”,

tác giả bài báo - Giáo sư Đoàn Xuân Mượu - sau khi điểm qua một vài ví

dụ cho thấy hậu quả của việc không được GD giới tính từ khi còn nhỏ đã

đưa ra một kết luận thú vị: “Các bậc cha mẹ cần quan tâm đến vấn đề GD

giới tính vì tựu chung, nó không phải chỉ dành cho lớp trẻ, nhất là những người lúc còn trẻ chưa có cơ hội làm quen với vấn đề này Nay có cơ hội thì nên bắt kịp lớp trẻ để một mặt tự bồi dưỡng, mặt khác để GD, giúp đỡ con cái.” [6]

Nghiên cứu của nhóm tác giả Đoàn Kim Thắng, Dương Chí Thiện về

“Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên” đăng trên Tạp chí

Khoa học Phụ nữ số 3 (46), tháng 5/2001 cho thấy, các kiến thức về GD giới tính và SKSS mà các em lứa tuổi VTN đã có được khá đa dạng phong phú, nó có nhiều hơn những gì mà người lớn chúng ta thường hay đánh giá quá nặng nề hoặc quá xem nhẹ Song những kiến thức này chưa thể nói là đầy đủ và hệ thống được Sự hiểu biết ở các em mới chỉ dừng lại phần lớn trên lý thuyết và sách vở, còn trên thực tế của cuộc sống hàng ngày, những kiến thức đó chưa đủ để các em có thể tự tin mà có những ứng xử và hành động đúng trong tất cả các trường hợp cụ thể Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, bản thân các em đã thể hiện sự quan tâm và mong muốn được học tập, được hiểu biết nhiều hơn nữa những nội dung của lĩnh vực SKSSVTN Điều này hết sức cần thiết và bổ ích rất nhiều cho các em trong cuộc sống hiện tại và tương lai [32]

Trang 18

Nhìn chung, phần lớn các tài liệu nghiên cứu đều khẳng định tầm quan trọng của GD SKSSVTN đối với VTN Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về nhu cầu của VTN nói chung, học sinh PTTH nói riêng về

GD SKSSVTN chưa nhiều Việc tìm hiểu nhu cầu của học sinh PTTH về

GD SKSSVTN có ý nghĩa thiết thực trong việc xây dựng một chương trình

GD SKSSVTN phù hợp với các em, góp phần giúp các em bảo vệ SKSS, phát triển tích cực và lành mạnh

1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

1.2.1 Nhu cầu

Nhu cầu là khái niệm được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Có nhiều công trình

nghiên cứu về nhu cầu và cùng đi đến một nhận định: “Nhu cầu là một

trong những nguồn gốc nội tại sinh ra tính tích cực của con người” [17]

Theo nghĩa hẹp, nhu cầu được hiểu là yêu cầu cần thiết của con

người để sống và tồn tại Theo nghĩa rộng thì nhu cầu là tất cả những yêu

cầu của con người để tồn tại để hạnh phúc và giảm đau khổ [3]

Nhà kinh tế học Philip Kotler cho rằng: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất

yếu mà con người cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển” [41,31]

A Maslow cho rằng, ở con người, ngay từ khi mới ra đời đã có các lớp nhu cầu phân loại một cách nhất quán, tính lôgíc nhất quán chứng tỏ một trật tự xuất hiện các nhu cầu trong quá trình phát triển cá thể Tuy nhiên, hệ thống nhu cầu có tính chất thứ bậc này lại hết sức linh hoạt và biến động Căn cứ vào các đặc trưng cơ bản của nhu cầu, A Maslow đã phân chia nhu cầu từ cấp thấp đến cấp cao theo một hệ thống 5 bậc và sắp xếp nó theo thứ tự hình tháp được gọi là tháp nhu cầu

- Nhóm nhu cầu cấp thấp bao gồm:

+ Nhu cầu sinh lý: Nhu cầu tối thiểu cần thiết cho quá trình phát triển tự nhiên của con người: ăn, mặc, ngủ, nghỉ, chơi

Trang 19

+ Nhu cầu an toàn: Nhu cầu được bảo vệ bản thân, bảo vệ tài sản, được sống yên ổn, ví dụ như bảo hiểm, uống nước sạch, không khí để tồn tại

- Nhóm nhu cầu cấp cao bao gồm:

+ Nhu cầu xã hội: Nhu cầu được yêu thương, nhu cầu lệ thuộc, mong muốn có quan hệ với người khác, sự quan tâm, sự phối hợp hoạt động

+ Nhu cầu được kính trọng về các giá trị bản thân, sự độc lập, sự công nhận thành quả và tôn trọng từ người khác

+ Nhu cầu tự khẳng định mình: phát triển nhân cách, tự hoàn thiện, phát huy những tiềm năng của mình [17]

Theo A Maslow, nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự phân cấp các mức độ quan trọng với nguyên tắc nhu cầu ở cấp độ nào thấp hơn phải được thỏa mãn thì mới nảy sinh các nhu cầu cao hơn Tuy nhiên, không nhất thiết phải thoả mãn hoàn toàn một nhu cầu nào đó như quan điểm của

A Maslow mà chỉ cần thoả mãn một phần nhu cầu cấp dưới nào đó con nguời đã muốn thực hiện nhu cầu cấp cao hơn Tóm lại, việc sắp xếp thứ bậc các nhu cầu như trên chỉ mang tính tương đối Tuy nhiên, việc vận dụng thang nhu cầu của A Maslow vào việc nghiên cứu nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH hiện nay có một ý nghĩa đáng kể, bởi việc biết rõ học sinh PTTH đang ở bậc thang nhu cầu nào, các hoạt động GD SKSSVTN sẽ có thể hướng tới việc thoả mãn nhu cầu đó Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH được giới hạn ở ba nội dung: nhu cầu được tiếp nhận các kênh thông tin có liên quan đến SKSSVTN, nhu cầu về các nội dung kiến thức SKSSVTN, nhu cầu về sự hỗ trợ của xã hội

Trang 20

và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất

cả những yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng các yêu cầu của kinh tế - xã hội” [22, 25-27] Ngoài ra, hiểu theo

nghĩa rộng, GD còn “là sự tác động đến con người của toàn bộ hệ thống

các mối quan hệ xã hội với mục đích chuyển tải các kinh nghiệm xã hội Do

đó, các cá nhân có thể thu nhận được các kinh nghiệm này ở mọi nơi, trong mọi nhóm xã hội khác nhau” [12, 258] Vì vậy, khái niệm GD hiểu theo

nghĩa rộng đồng nhất với khái niệm xã hội hoá được trình bày trong Mục

1.4.1

Hiểu theo nghĩa hẹp, GD bao gồm các quá trình hoạt động nhằm tạo

ra cơ sở khoa học của thế giới quan, lý tưởng đạo đức, thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực con người, kể cả việc phát triển, nâng cao thể lực Quá trình này được thực hiện không chỉ thông qua môn đạo đức mà trong cả các mặt của cuộc sống ở nhà trường, ngoài xã hội và gia đình

Quá trình GD là một quá trình mà trong đó con người được GD tự

giác, tích cực tự GD nhằm hình thành được thế giới quan khoa học và những phẩm chất, nhân cách khác của người công dân dưới sự chỉ đạo của nhà GD Trong quá trình GD, nhà GD đóng một vai trò chủ đạo quan trọng, người được GD tồn tại với tư cách là đối tượng chịu sự tác động có tính định hướng của GD Nhà GD và người được GD có mối quan hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên sự thống nhất biện chứng giữa GD và tự GD

Môi trường GD bao gồm sự thống nhất giữa GD nhà trường, GD gia

đình và GD xã hội

GD có thể chia thành GD nhà trường, GD gia đình và GD xã hội

GD nhà trường hay là GD ở nhà trường là một thiết chế GD chuyên biệt, có những đặc trưng cơ bản như: mang tính ý thức và có mục đích rõ

Trang 21

ràng, được tổ chức và diễn ra theo kế hoạch đào tạo xác định, nội dung GD nhà trường được chọn lọc một cách khoa học và hệ thống Hoạt động GD nhà trường, quá trình GD của nhà trường do giáo viên và các cán bộ quản

lý nhà trường tổ chức và thực hiện

GD gia đình là sự tác động thường xuyên và có mục đích của con người, nhất là người lớn trong gia đình và toàn bộ nếp sống của gia đình đến trẻ Mục tiêu GD của gia đình rất linh hoạt và thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào sự biến biến đổi và phát triển của trẻ, vào sự vận động và phát triển của xã hội xung quanh, vào chính cuộc sống của gia đình và những định hướng giá trị của gia đình

GD xã hội là các hoạt động GD của các thiết chế và môi trường GD ngoài nhà trường, nhằm vào đối tượng là toàn thể xã hội, trong đó có thế hệ trẻ trong và ngoài nhà trường GD xã hội bao gồm: hoạt động GD của các

cơ quan có chức năng GD chung cho toàn xã hội (các cơ quan thông tin tuyên truyền, văn hoá, nghệ thuật ); hoạt động GD của các tổ chức xã hội, các trường Đảng, trường Đoàn ; hoạt động GD của các cơ sở ngoài nhà trường, [30, 25-28]

Trong phạm vi của đề tài, GD SKSSVTN đã được cụ thể hoá từ những hoạt động GD nhà trường, gia đình và xã hội nêu trên, trong đó GD

xã hội được giới hạn ở các nội dung: sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng

1.2.3 Vị thành niên (Adolescent)

Thuật ngữ Adolescent được đưa ra vào năm 1904 theo đề xuất của nhà tâm lý học G Stanley Hal, nhằm để chỉ một thời kỳ quá độ từ trẻ con chuyển lên người lớn Nó cũng được quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớn hoặc đang trưởng thành Theo từ ghép gốc Hán thì khái niệm trên được thể hiện trong thuật ngữ “Vị thành niên” Theo Từ điển tiếng Việt thì “Vị

thành niên là những người chưa đến tuổi trưởng thành để chịu trách nhiệm

về những hành động của mình” [38] Trong các văn bản pháp luật hiện

Trang 22

hành của Nhà nước ta (như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật lao động) có dùng thuật ngữ “Người chưa thành niên” và có quy định rõ hơn về

độ tuổi và mức độ mà người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm đối với từng hoạt động của mình

VTN là một giai đoạn (một thời kỳ) trong quá trình phát triển của con người với đặc điểm lớn nhất là sự tăng trưởng nhanh chóng để đạt tới

sự trưởng thành về cơ thể, sự tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm xã hội, định hình nhân cách để có thể nhận lãnh trách nhiệm xã hội đầy đủ Giai đoạn này được hiểu một cách đơn giản là giai đoạn “sau trẻ con và trước người lớn” của mỗi cá thể, được gọi là “thời kỳ vị thành niên”

Về độ tuổi VTN, theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, VTN nằm trong độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi Một số tài liệu cũng đã phân định tuổi của VTN thành ba nhóm tuổi: VTN sớm (từ 10 đến 13 tuổi), VTN trung bình (từ 13 đến 16 tuổi), VTN muộn (từ 17 đến 19 tuổi) Sự phân chia này dựa theo đặc điểm ít nhiều khác nhau về phát triển cơ thể và tâm sinh lý của lứa tuổi VTN, để lưu ý đến những công việc GD, chăm sóc sức khoẻ cho phù hợp với từng nhóm đối tượng; tuy vậy cách phân chia này cũng chỉ

có tính tương đối Ở Việt Nam, VTN là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi [47] Trong đề tài này, thuật ngữ “Vị thành niên” được dùng để chỉ nhóm đối tượng là lớp người từ 16 đến 18 tuổi Đây là nhóm đối tượng diễn ra rất nhiều thay đổi về tâm sinh lý lứa tuổi dậy thì, đồng thời chịu sự chi phối của các mối quan hệ trong cuộc sống và những tác động mạnh mẽ của những yếu tố xã hội Điều đặc biệt là các em có tâm lý muốn làm người lớn, thích sống độc lập, thích tự khẳng định mình Đối với riêng nhóm học sinh PTTH, đây cũng là thời kỳ mà nhận thức xã hội của các em đang dần trưởng thành, va chạm với xã hội tăng lên, sức ép từ môi trường xung quanh và nhiệm vụ học tập cũng nặng nề hơn những năm phổ thông trước

đó Tìm hiểu nhu cầu GD SKSSVTN ở nhóm đối tượng này sẽ thể hiện rõ

Trang 23

nét những nguyện vọng, mong muốn, yêu cầu của học sinh và VTN về

GD SKSSVTN

1.2.4 Sức khoẻ sinh sản, Sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Khái niệm SKSS đã được chấp nhận và được chính thức hoá trong

phạm vi toàn thế giới từ Hội nghị Cairo: “Sức khoẻ sinh sản là tình trạng

hoàn toàn khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần, xã hội và không chỉ là không

có bệnh tật hay không bị tàn phế về tất cả những gì liên quan tới hệ thống, chức phận và quá trình sinh sản Như thế, sức khoẻ sinh sản có nghĩa là mọi người có thể có cuộc sống tình dục an toàn, hài lòng, họ có khả năng sinh sản, tự do quyết định có sinh con hay không, sinh con khi nào và sinh bao nhiêu con”

Từ khái niệm trên, SKSS được hiểu là có những hàm ý sau đây:

- Con người có quyền có một cuộc sống tình dục thoả mãn và an toàn

- Họ có thể tận hưởng năng lực sinh sản của mình

- Có quyền tự do quyết định có sinh hoạt tình dục không, khi nào sinh hoạt và bao nhiêu lâu sinh hoạt một lần

Điều đó hàm ý rằng cả nam và nữ đều có quyền:

- Quyền được nhận thông tin, quyền tiếp cận và lựa chọn các biện pháp kế hoạch hoá gia đình an toàn, hiệu quả, hợp khả năng kinh

SKSS được cấu thành bởi 10 vấn đề trọng tâm sau, có liên quan chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, trong đó có nội dung SKSSVTN:

Trang 24

- Truyền thông GD rộng rãi về SKSS

Từ đó, SKSSVTN là khái niệm SKSS được ứng dụng một cách thích

hợp và bình đẳng cho đối tượng VTN

1.2.5 Giới tính (Sex)

“Giới tính chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới xét về mặt y - sinh học Sự khác biệt này có liên quan đến quá trình tái sản xuất nòi giống, cụ thể là phụ nữ có thể mang thai và sinh con, còn nam giới là một trong các yếu tố tạo ra quá trình thụ thai” [20]

Từ khái niệm trên, ta thấy, giới tính nói lên tính ổn định về tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinh sản của phụ nữ

và nam giới là không thể thay đổi hay dịch chuyển cho nhau Giới tính là bất biến về thời gian cũng như không gian Xét về giới tính, phụ nữ cổ xưa cũng như phụ nữ ngày nay và phụ nữ ở mọi vùng trên trái đất đều giống nhau ở chức năng mang thai và sinh con, cũng như tất cả nam giới đều giống nhau ở vai trò sinh sản của mình Ngày nay, với tiến bộ của khoa học

kỹ thuật, người ta đã có thể phẫu thuật chuyển đổi giới tính Tuy nhiên, các phẫu thuật này chỉ mang tính hình thể còn không thể thay đổi được các chức năng sinh học

1.2.6 Tình dục (Sexual)

Trang 25

“Tình dục là một nhu cầu tự nhiên của con người bắt đầu xuất hiện

từ tuổi dậy thì và là một phần của bản năng duy trì nòi giống” [15]

Tổ chức Y tế thế giới năm 1975 đã đưa ra khái niệm “Sức khoẻ tình

dục là sự tổng hợp các khía cạnh thể chất, tình cảm, tri thức và xã hội của con người có tính dục, sao cho cuộc sống của con người phong phú hơn, tốt đẹp về nhân cách, về giao tiếp và tình yêu” [15]

Với khái niệm này, tình dục là sự phát triển tự nhiên, mang tính tất yếu của tính dục Khi con người bước vào tuổi dậy thì, những khái niệm và những tình cảm tốt đẹp đối với đối tượng khác giới được phát triển, với những rung cảm ở mức độ khác nhau, đến một mức độ nào đó sẽ có thể có hoạt động tình dục Cùng với việc ngày càng coi trọng chức năng sinh sản của người phụ nữ, mà biểu hiện cụ thể là việc phát triển phong phú nội dung của SKSS như đã trình bày ở phần trên, thì tình dục cũng được thừa nhận như một thực thể sức khoẻ, với một khái niệm rất nhân bản: sức khoẻ tình dục Bản thân cả SKSS cũng bao hàm cả sức khoẻ tình dục, điều mà con người đều có bình đẳng như nhau và cần được đảm bảo quyền về hoạt động tình dục, kể cả những người còn trẻ và những người khuyết tật, thiệt thòi

Hoạt động tình dục là một loại hoạt động phổ biến, bình đẳng và đáng được tôn trọng, nó cũng biểu hiện tình trạng sức khoẻ và hạnh phúc của mỗi con người, đồng thời nhân cách của mỗi con người cũng một phần nào đó được phản ánh qua hoạt động tình dục Ngày nay, sự gia tăng dân số

đã gây nên những tình trạng gay cấn, thậm chí trở thành vấn đề xã hội nhức nhối, ảnh hưởng đến cuộc sống của từng gia đình, từng con người Từ đó việc sinh sản nhiều và sinh sản sớm được coi là một vấn đề nghiêm trọng,

là mối đe doạ với toàn cầu nói chung, cũng như với từng quốc gia nói riêng Chính vì vậy, SKSS nói chung cũng SKSSVTN nói riêng được đền cập đến một cách mạnh mẽ, trong một bối cảnh chung nhằm hạn chế sự gia tăng dân số

Trang 26

Trong phạm vi của đề tài này, cụm từ “quan hệ tình dục” được biểu hiện là quan hệ giao hợp giữa nam và nữ thông qua hoạt động tình dục khác giới thông thường

1.2.7 Tính dục

Uỷ ban GD và Thông tin về Tình dục ở Mỹ vào những năm 1970 đã

đưa ra định nghĩa: “Tính dục là tổng thể con người, bao gồm nhiều khía

cạnh đặc trưng của con trai hay con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục Vì là biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hoá của đời sống Những yếu tố này ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người và do đó tác động trở lại xã hội” [15]

1.2.8 Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs - Sexually transmitted diseases)

STDs là các bệnh của bộ máy sinh dục lây từ người này sang người khác thông qua hình thức hoạt động tình dục Trong phạm vi của đề tài, để phù hợp với mục đích đã đặt ra và phù hợp với sự hiểu biết chung của đối tượng khảo sát, chúng tôi chỉ đề cập đến các bệnh lý thường gặp của bộ máy sinh dục và các bệnh lý đó lây truyền qua hoạt động tình dục khác giới thông thường

STDs là một vấn đề y tế - xã hội khá phức tạp và tương đối nghiêm trọng, nhất là trong điều kiện hiện nay khi các tệ nạn xã hội đang ngày càng gia tăng, số người bị nhiễm HIV/AIDS ngày càng nhiều Tuổi trẻ là lứa tuổi có nguy cơ cao, dễ mắc STDs Muốn giảm STDs và nguy cơ lây nhiễm HIV, cần thiết phải làm thay đổi được hành vi tình dục, đặc biệt là ở những người trẻ tuổi

1.3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

1.3.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trang 27

Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi con người là một thực thể sinh vật

- xã hội Con người là khái niệm chỉ những cá thể người như một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó Con người sống và hoạt động không phải theo những bản năng di truyền có sẵn như các động vật thông thường, mà chủ yếu theo sự phát triển của văn hoá, của tiến bộ lịch sử - xã hội Con người không phải là một động vật thông thường mà là một thực thể vật chất đặc biệt hoạt động có ý thức, có khả năng sáng tạo lại mọi đối tượng khác theo yêu cầu của mình Nội dung thế giới nội tâm và chỉnh thể cuộc sống tong con người không thể là những gì chỉ tự nhiên trực tiếp đưa lại, mà chủ yếu từ hoạt động thực tiễn của con người mang lại Con người là một động vật có tính xã hội với tất cả nội dung văn hoá lịch sử của nó, đó là điểm xuất phát để tiếp cận con người của chủ nghĩa Mác - Lênin [19, 250-279]

Từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về con người, chúng

ta cần nhìn nhận đúng bản chất sinh học trong con người và vai trò quan trọng của hoạt động có ý thức trong con người, để từ đó có phương pháp thích hợp tiếp cận con người từ khía cạnh gia đình, nhà trường và xã hội Đồng thời cần nhìn con người trong sự vận động phát triển, tránh lối suy nghĩ lấy con người ngày hôm qua áp đặt cho con người ngày hôm nay, đặc biệt trong GD lớp trẻ, và cũng phải biết kế thừa những tinh hoa, giá trị của dân tộc, tâm hồn, cốt cách của con người Việt Nam

Có thể khẳng định rằng, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở lý luận cơ bản và là nguyên tắc chung cho mọi khoa học, trong đó có xã hội học Vận dụng tổng hợp những lý luận này, chúng tôi tuân theo các yêu cầu sau:

- Những quy luật vận động phát triển của xã hội phải được xem xét khách quan như nó đang tồn tại Những vấn đề nêu ra trong đề tài đều được xem xét và nghiên cứu trên cơ sở thực tế, tôn trọng và phản ánh đúng sự tồn tại khách quan của các sự kiện xã hội Quá trình

Trang 28

phát triển của VTN và học sinh PTTH đã làm nảy sinh nhu cầu tất yếu về GD SKSSVTN

- Những hiện tượng xã hội phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với nhau Ở đây, đề tài đặt khách thể nghiên cứu trong một hệ thống xã hội, thực hiện các tương tác xã hội với gia đình, thầy cô giáo, bạn bè, những nhóm thành viên khác chứ không xem xét nhóm học sinh PTTH riêng lẻ Đồng thời, đề tài cũng tập trung khai thác các tương quan về tuổi, giới tính, trường học ngay trong nhóm học sinh được hỏi đề tìm hiểu, xem xét sâu sắc hơn mối tương quan giữa các nhóm học sinh, từ đó gợi ý ra những nội dung GD SKSSVTN phù hợp với từng đối tượng học sinh

- Xem xét các hiện tượng xã hội phải hướng đến cái bản chất, không hướng tới cái ngẫu nhiên, bất bình thường Điều này có nghĩa là, các hiện tượng, vấn đề được tìm hiểu, phân tích trong đề tài luôn hướng đến bản chất chứ không xem xét phiến diện, nhỏ lẻ khi tìm hiểu mức

độ nhận thức của học sinh PTTH về một số nội dung cơ bản của SKSSVTN, xác định rõ nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH hiện nay cụ thể là nội dung nào, điều mà các em mong muốn được

hỗ trợ

- Tuân thủ các nguyên tắc lịch sử cụ thể Đây là nguyên tắc được thực hiện xuyên suốt đề tài, được thể hiện trong việc xem xét mọi đối tượng, vấn đề trong lịch sử tiến trình vận động và phát triển; cụ thể là đặt vấn đề GD SKSSVTN trong bối cảnh xã hội từ trước đến nay (quan điểm, thói quen, định kiến xã hội, thiết chế GD ), sự phát triển của lứa tuổi VTN với những đặc điểm tâm sinh lý đặc thù,

- Xem xét yếu tố con người mang bản chất xã hội, là “tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, đồng thời cũng là chủ thể của xã hội Từ đó, coi việc ra sức phát huy nhân tố con người, coi chiến lược con người là điểm mấu chốt của sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 29

1.3.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về GD SKSSVTN cho VTN

GD SKSSVTN là vấn đề thuộc nội dung của chương trình SKSS được đề ra từ Hội nghị Cairo (1994) Tổ chức Y tế thế giới ủng hộ việc GD tình dục cho VTN, vì qua nghiên cứu và khảo sát tại 19 nước đang phát triển, người ta thấy rằng GD tình dục không kích thích VTN hoạt động tình dục sớm hơn mà trái lại nó làm làm cho VTN chậm hoạt động tình dục GD tình dục cũng giúp cho VTN hoạt động tình dục an toàn hơn khi bắt đầu có hoạt động tình dục Tuy nhiên, do truyền thống, phong tục, còn nhiều nước, nhiều người chưa tán thành GD tình dục [15]

Tại Việt Nam, một trong những ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta là các chính sách và chiến lược phát triển con người, đặc biệt coi trọng các quyền của phụ nữ và trẻ em Trong những năm qua, hệ thống bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, kế hoạch hoá gia đình đã hình thành và phát triển không ngừng thành một mạng lưới kéo dài từ Trung ương xuống tận thôn bản Hệ thống này đóng góp một phần không nhỏ trong việc nâng cao sức khoẻ nhân dân nói chung và của bà mẹ, trẻ em, kế hoạch hoá gia đình nói riêng Tuy nhiên, tình trạng sức khoẻ của phụ nữ, trẻ em và VTN vẫn còn nhiều tồn tại, Mặt khác, về nhận thức, về dịch vụ, cơ chế chính sách cũng như về tài chính còn nhiều bất cập

Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS trong giai đoạn 2001 - 2010 được xây dựng và ban hành tại Quyết định số 136/2000/QĐ-TTg ngày 28/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ nhằm cụ thể hoá nội dung Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình cũng như các định hướng chiến lược về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân và chiến lược dân số Việt Nam trong giai đoạn 2000 -

2010 Chiến lược đã thể hiện các quan điểm chỉ đạo, những mục tiêu và những điều cần làm thuộc lĩnh vực SKSS ở Việt Nam trong mười năm tới

với mục tiêu chung là: “Bảo đảm đến năm 2010, tình trạng SKSS được cải

Trang 30

thiện rõ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về chăm sóc SKSS phù hợp với điều kiện của các cộng đồng ở từng địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và đối tượng có khó khăn” (Điểm 1, Khoản 1, Điều 1) Trong đó

các chương trình ưu tiên cần phải triển khai được chú trọng đến bao gồm:

- Nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hoá gia đình

- Đẩy mạnh các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng

- Giảm nạo hút thai và nạo hút thai an toàn

- Thực hiện chương trình phòng chống STDs

- Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia nhằm nâng cao sức khoẻ trẻ em [8]

Một trong các mục tiêu cụ thể của chiến lược này là: “Cải thiện tình

hình SKSS, sức khoẻ tình dục của VTN, thông qua việc GD - tư vấn và cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS phù hợp với lứa tuổi” (trích Điểm b, Khoản 1, Điều 1) Giải pháp đầu tiên của Chiến lược quốc gia về chăm sóc

SKSS là: Thông tin - GD - truyền thông và tuyên truyền vận động, trong đó

có đề cập đến “Thông tin, GD, tư vấn giúp VTN hiểu biết về giới tính và

tình dục, giúp họ hiểu được vấn đề tình dục lành mạnh và tiếp cận một các

dễ dàng, thuận tiện các dịch vụ chăm sóc SKSS, kế hoạch hoá gia đình có chất lượng, ngăn chặn có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn

và lây nhiễm bệnh qua đường tình dục Đặc biệt chú ý đến các nhóm VTN sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, con em các gia đình nghèo, trình độ học vấn thấp Đưa nội dung GD giới tính và tình dục vào chương trình giảng dạy chính thức ở các trường phổ thông” [8]

Một sự kiện quan trọng có ý nghĩa quyết định tăng cường công tác chăm sóc SKSSVTN, thanh niên Việt Nam trong thời gian qua được toàn

xã hội quan tâm, đó là sự ra đời của Luật Thanh niên được Chủ tịch nước

ký Lệnh số 24/2005/L/CTN công bố vào ngày 9/12/2005 và chính thức có

Trang 31

hiệu lực từ ngày 1/7/2006 Nhằm góp phần đưa Luật Thanh niên đi vào cuộc sống, trên cơ sở mục tiêu của Tiểu dự án Đoàn thanh niên trong Chương trình quốc gia 7 hợp tác với Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) giai đoạn 2001 - 2010 (Tiểu dự án VNM7PN 4461), Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã xây dựng kế hoạch hành động triển khai thưc hiện Luật Thanh niên về vấn đề chăm sóc SKSSVTN, thanh niên giai đoạn 2006 -

2010 Kế hoạch hướng tới các mục tiêu cơ bản có liên quan tới việc nâng cao kiến thức, kỹ năng, hành vi của VTN, thanh niên về chăm sóc SKSS, sức khoẻ tình dục; tiếp tục định hướng thông tin cho VTN, thanh niên và tăng cường sự tham gia của VTN, thanh niên trong việc tự bảo vệ và nâng cao sức khoẻ bản thân liên quan đến SKSS, sức khoẻ tình dục…

Góp phần thực hiện thành công Chiến lược Quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001 - 2010, Bộ Y tế đã xây dựng Kế hoạch tổng thể Quốc gia về Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ VTN và thanh niên Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010, định hướng 2020 (đã được phê duyệt tại Quyết

định số 2010/QĐ-BYT ngày 7/6/2006) với mục tiêu chung “Duy trì và cải

thiện tình trạng sức khoẻ bao gồm cả sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần của nhóm tuổi trẻ, giảm thiểu các yếu tố nguy cơ và các vấn đề sức khoẻ, đồng thời tăng cường tiếp cận và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng cho VTN và thanh niên” Kế hoạch đã nêu 5 mục tiêu

Trang 32

5 Hỗ trợ cho nhóm tuổi trẻ có khó khăn và có hoàn cảnh đặc biệt [10]

Như vậy, GD SKSSVTN cho VTN ở nước ta được coi là vấn đề quan trọng nhằm nâng cao SKSS cho VTN, giảm thiểu những tác động, hậu quả tiêu cực do thiếu hiểu biết gây nên và đã được Bộ Y tế, Uỷ ban Dân số - Gia đình Trẻ em (trước đây), đặc biệt là các tổ chức đoàn thể xã hội như Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội chữ thập đỏ…, các tổ chức phi chính phủ đưa vào chương trình nội dung hoạt động của ngành,

tổ chức mình trong khuôn khổ chương trình chăm sóc SKSS nói chung, SKSSVTN nói riêng, góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta

1.4 CÁC HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT

1.4.1 Lý thuyết xã hội học về xã hội hoá

Xã hội hoá là khái niệm đã được sử dụng khá phổ biến hiện nay Có thể hiểu về xã hội hoá theo hai cách cơ bản: Thứ nhất, khái niệm này chỉ sự tăng cường chú ý quan tâm của xã hội về vật chất và tinh thần đến những vấn đề, sự kiện cụ thể nào đó của xã hội mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội có trách nhiệm quan tâm Đó là quá trình xã hội hoá các vấn đề,

sự kiện xã hội như xã hội hoá GD, xã hội hoá y tế Thứ hai, thuật ngữ xã hội hoá được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá trình chuyển biến từ chỉnh thể sinh vật có bản chất xã hội với các tiền đề tự nhiên đến một chỉnh thể đại diện của xã hội loài người [12, 257] Đây chính là quá trình xã hội hoá cá nhân

Theo G Andreeva - nhà khoa học người Nga: “Xã hội hoá là quá

trình hai mặt Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập các mối quan hệ xã hội” [12, 259].

Trang 33

Như vậy, trong quá trình xã hội hoá, mỗi cá nhân vừa thu nhận kiến thức, kinh nghiệm của xã hội, tích luỹ thành kinh nghiệm của bản thân, chuyển hoá nó thành những giá trị, xu hướng của cá nhân, và qua đó lại tham gia tái tạo chúng, góp phần vào kho tàng tri thức, kinh nghiệm của xã hội Ở đây, xã hội hoá cũng đồng thời chính là GD hiểu theo nghĩa là sự tác động đến con người của toàn bộ hệ thống các mối quan hệ xã hội với mục đích chuyển tải các kinh nghiệm ở mọi nơi, trong mọi nhóm xã hội khác nhau Đó chính là vai trò của môi trường xã hội hoá, gồm gia đình, trường học và các tổ chức trước tuổi đi học, các nhóm thành viên và phương tiện thông tin đại chúng [12, 260-263] Môi trường xã hội hoá có thể chia thành môi trường chính thức và không chính thức Trong môi trường chính thức, các cá nhân thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội, học hỏi nhằm thực hiện tốt vai trò của mình bằng con đường GD chính thống (qua các bài giảng trên lớp của các thầy cô giáo, sách, báo, ) Còn trong môi trường không chính thức, các cá nhân lĩnh hội và tái tạo kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực

xã hội qua sự tác động, định hướng của xã hội Điều này cũng có những điểm tương đồng với phân loại GD nhà trường, GD gia đình và GD xã hội

Vận dụng vào đề tài này, tìm hiểu và xác định nhu cầu GD SKSSVTN học sinh PTTH được dựa trên quá trình xã hội hoá cá nhân của học sinh lứa tuổi VTN và xác định đặt trong những môi trường xã hội hoá quan trọng - gia đình, nhà trường, nhóm bạn đồng trang lứa, các phương tiện thông tin đại chúng, xã hội - có tính chất ảnh hưởng lớn tới nhu cầu

GD SKSSVTN cũng như sự phát triển, trưởng thành của các em Lý luận

xã hội học về xã hội hoá là cơ sở quan trọng để đề tài vận dụng khi nghiên cứu học sinh PTTH với quá trình xã hội hoá cá nhân diễn ra mạnh mẽ, thiết lập những mối quan hệ xã hội mới, các tương tác xã hội mới, đồng thời cũng chịu tác động từ sự biến đổi đời sống xã hội Từ đó, đề xuất những kiến nghị tăng cường GD SKSSVTN cho học sinh PTTH nói riêng, VTN nói chung

Trang 34

1.4.2 Lý thuyết học hỏi xã hội

Thuyết học hỏi xã hội cho rằng con người học hỏi từ những người khác qua quan sát, bắt chước và làm mẫu Thuyết này được coi là cây cầu nối giữa các nhà nghiên cứu hành vi và nhận thức, bởi vì nó bao gồm sự chú ý, trí tuệ và động cơ Albert Bandura - người được coi là cha đẻ của

thuyết này - cho rằng: “Phần lớn hành vi của con người là do quan sát

người khác mà thành Từ việc quan sát này, con người có ý tưởng về việc các hành vi mới được thực hiện như thế nào, và trong trường hợp tương tự sau đó, việc quan sát này sẽ đóng vai trò hướng dẫn con người thực hiện tương tự như hành vi đã quan sát” Điều đó có nghĩa là, con người học hỏi

từ việc quan sát thái độ, hành vi và kết quả mang lại của những người khác Thuyết học hỏi xã hội giải thích hành vi của con người theo thuật ngữ sự tương hỗ liên tục giữa nhận thức, hành vi và sự ảnh hưởng của xã hội Sự chú ý, sự duy trì, sự lặp lại và sự thúc đẩy được xem là bốn điều kiện cần thiết đối với việc làm mẫu các hành vi hiệu quả

Bandura cho rằng thế giới và hành vi của con người có tác động tương hỗ lẫn nhau, trong khi chủ nghĩa hành vi khẳng định một cách thiết thực rằng môi trường là nguyên nhân của các hành vi con người Bandura

đã nghiên cứu tính hiếu thắng của thanh thiếu niên và cho rằng nhận xét này quá đơn giản Ông bổ sung rằng, hành vi cũng ảnh hưởng đến môi trường Ông nhận định: cá tính là sự tác động qua lại giữa các thành phần, yếu tố như môi trường, hành vi và quá trình tâm lý của con người [46]

Vận dụng vào phạm vi đề tài nghiên cứu, nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH đặt trong mối tương tác qua lại giữa học sinh với môi trường sống (gia đình, nhà trường, bạn bè, các phương tiện truyền thông ), quá trình phát triển tâm sinh lý lứa tuổi dậy thì và thái độ, quan điểm, nhận thức của các em

1.4.3 Lý thuyết phát triển nhận thức

Trang 35

Một trong những tác giả tiêu biểu của thuyết này là Jean Piaget (1896 - 1980) Phần lớn quan điểm của ông đều tập trung vào nhận thức của con người - quá trình tư duy và hiểu biết của con người Ông đã phát triển lý thuyết cho rằng trẻ em sắp xếp thế giới riêng của chúng theo những cách đặc trưng tương ứng với độ tuổi Ông cho rằng sự phát triển của con người là kết quả của cả hai sự trưởng thành sinh học và gia tăng kinh nghiệm xã hội Ông khẳng định rằng xã hội hoá bao gồm bốn giai đoạn phát triển chính: vận động cảm giác, tiền hoạt động, hoạt động cụ thể và hoạt động chính thức [44, 183]

Giai đoạn đầu tiên trong sự phát triển của con người theo mô hình

của Piaget là giai đoạn vận động cảm giác - mức độ phát triển của con

nguời trong đó thế giới được hiểu chỉ bằng các giác quan theo nghĩa tiếp xúc cụ thể (tương ứng với khoảng thời gian hai năm đầu tiên của đời sống)

Giai đoạn tiền suy tính (tiền hoạt động) ám chỉ mức độ phát triển của

con người trong đó ngôn ngữ và các ký hiệu khác được sử dụng lần đầu tiên, trẻ có thể nhận thức một vấn đề gì đó không cần phải tiếp xúc trực tiếp

(thông thường bắt đầu khi lên hai và kéo dài đến khi bảy tuổi)

Giai đoạn thứ ba trong mô hình của Piaget là giai đoạn suy tính cụ

thể (hoạt động cụ thể), chỉ mức độ phát triển của con người biểu thị đặc

điểm bằng việc sử dụng tính lôgíc để hiểu đồ vật hay sự kiện, nhưng không phải theo nghĩa trừu tượng, trẻ thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong khả năng

hiểu biết và khai thác môi trường, trẻ có thể nhận thức một tình huống từ quan điểm của người khác (tương ứng với độ tuổi từ 7 đến 11)

Giai đoạn thứ tư là giai đoạn suy tính hình thức (hoạt động chính

thức), là mức độ phát triển của con người được biểu thị đặc điểm bằng khả

năng tư duy trừu tượng cao và khả năng tưởng tượng những điều thay thế cho hiện tại (bắt đầu ở tuổi 12)

Piaget tin rằng con người trong mỗi nền văn hoá tiến bộ liên tục qua bốn giai đoạn trên Nhưng ông cũng lưu ý độ tuổi chính xác đạt đến từng

Trang 36

giai đoạn lại khác nhau ở mọi người, tuỳ thuộc khả năng tâm thần bẩm sinh

và cường độ hiểu biết xã hội Thuyết phát triển nhận thức của Piaget nhấn mạnh tầm quan trong của kinh nghiệm xã hội trong sự phát triển nhân cách Con người không có khả năng sáng tạo và tư duy tưởng tượng cao thì không thể phát triển khả năng ở chính mình [44, 160-162]

Vận dụng thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget, đề tài đặt nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH trong sự phát triển nhận thức tương ứng với lứa tuổi VTN VTN có quan điểm, sự nhìn nhận, đánh giá riêng về các vấn đề tình bạn, tình yêu, môi trường sống cùng với sự trưởng thành của bản thân trước sự tác động tổng hợp của các yếu tố kinh tế - xã hội Từ

đó, VTN có nhu cầu được GD về SKSS Ở đây, quá trình xã hội hoá cá nhân là kết quả của sự trưởng thành sinh học - phát triển tâm sinh lý lứa tuổi dậy thì và những kinh nghiệm xã hội mà VTN tích luỹ dần trong quá trình học tập, lao động và tham gia các tương tác xã hội

CHƯƠNG 2

NHẬN THỨC VỀ SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG TRUNG HỌC HIỆN NAY 2.1 VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Trang 37

Trường PTTH Yên Hoà và trường PTTH Nguyễn Văn Cừ là hai trường cấp 3 thuộc hệ thống trường công lập của Sở GD - Đào tạo Thành phố Hà Nội, Bộ GD - Đào tạo

2.1.1 Trường PTTH Yên Hoà

Trường PTTH Yên Hoà được thành lập từ năm 1960 Hiện nay, trường có 41 lớp (32 lớp hệ A, 9 lớp hệ B) với tổng số 1.875 học sinh Trong hai năm học gần đây 2004 - 2005, 2005 - 2006, tỷ lệ học sinh của trường đạt học lực giỏi chiếm từ 9,4 - 10%, học lực khá từ 55 - 58%, 3% là học sinh yếu Tỷ lệ học sinh hạnh kiểm tốt và khá đạt 99,8% Trường có đội thi Olympic các khối cấp Thành phố Học sinh của trường đã giành được nhiều phần thưởng trong các hoạt động văn - thể - mỹ: 3 huy chương vàng, 3 huy chương bạc, 4 huy chương đồng về Thể dục thể thao; 1 huy chương về văn nghệ và tham gia vào đội tuyển thi toàn quốc Tỷ lệ học sinh

đỗ tốt nghiệp hàng năm đạt từ 93 đến 99,5% Số học sinh thi đỗ các trường đại học, cao đẳng đạt 50 - 60% trong những năm gần đây

Từ khi thành lập cho đến nay, trường PTTH Yên Hoà thường xuyên giữ vững danh hiệu trường tiên tiến hoặc tiên tiến xuất sắc Đội ngũ giáo viên là chiến sĩ thi đua, giáo viên dạy giỏi, giáo viên chủ nhiệm giỏi, lao động giỏi cấp thành phố có 32 người Hiện nay, trường có hai tổ lao động giỏi: Tổ Vật lý - Kỹ thuật công nghiệp và Tổ Ngoại ngữ

Trong 47 năm xây dựng và phát triển, trường PTTH Yên Hoà đã được công nhân các danh hiệu thi đua: “Trường tiên tiến chống Mỹ cứu nước” (5 năm), “Trường tiên tiến xuất sắc” (8 năm liền), “Trường tiên tiến” (7 năm) Trường đã được nhận Cờ thi đua của Sở GD và Đào tạo thành phố

Hà Nội (8 năm), Cờ thi đua của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội (2 năm), Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Huân chương lao động hạng

ba (năm 1990, năm 1999)

Hiện nay, trụ sở của trường PTTH Yên Hoà được xây dựng trên đường Nguyễn Khang, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Trang 38

2.1.2 Trường PTTH Nguyễn Văn Cừ

Trường PTTH Nguyễn Văn Cừ được thành lập từ năm 1977, với tên gọi lúc đầu là Trường Cấp 3 vừa học vừa làm Gia Lâm - Hà Nội, nhưng thực chất trường hoạt động như một trường PTTH (do thời điểm đó huyện Gia Lâm đã có bốn trường cấp 3 nên trường được thành lập với tên gọi đó

để đảm bảo cơ cấu hoạt động phù hợp) Trường được đặt trụ sở tại xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội, với khuôn viên rộng rãi, thoáng mát Trong những năm gần đây, nhà trường được phát triển lớn mạnh theo thời gian với sự quan tâm đầu tư của thành phố và Sở GD - Đào tạo thành phố Hà Nội Năm 1993, trường được Nhà nước cho phép chính thức đổi tên thành Trường PTTH Nguyễn Văn Cừ với quy mô được mở rộng hơn trước

Năm học 2006 - 2007, trường có 35 lớp học với tổng số 1.696 học sinh Số biên chế giáo viên, nhân viên nhà trường là 68 người (Ban giám hiệu: 3, giáo viên: 56, nhân viên: 9) Hiện nay, trường có bảy tổ giáo viên: Toán, Văn, Sinh - Hoá - Kỹ thuật nông nghiệp, Lý - Kỹ thuật công nghiệp - Tin, Xã hội, Ngoại ngữ - Thể dục, Hành chính Mỗi năm trường đào tạo được khoảng 500 học sinh tốt nghiệp PTTH, cung cấp nhiều sinh viên cho các trường đại học, cao đẳng Tỷ lệ tốt nghiệp của trường năm 2005 - 2006 đạt khoảng 98% Số học sinh khá, giỏi hàng năm chiếm tỷ lệ khoảng 30 - 35% tổng số học sinh toàn trường

Học sinh trường Nguyễn Văn Cừ có thế mạnh trong các hoạt động

bề nổi Hàng năm, học sinh của trường đều được các giải cao trong các lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, thể thao của thành phố Nhiều năm liền, trường PTTH Nguyễn Văn Cừ được nhận danh hiệu trường tiên tiến của thành phố

2.2 NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH PTTH HÀ NỘI VỀ SKSSVTN 2.2.1 Nhận thức của học sinh PTTH về tuổi dậy thì:

Trang 39

Trả lời câu hỏi “Bạn hãy cho biết một vài ví dụ thể hiện sự biến đổi của nam và nữ trong lứa tuổi dậy thì mà bạn biết”, kết quả là:

* Thay đổi về sinh lý:

- 57,7% học sinh trả lời: cơ thể phát triển cao lớn hơn, tăng cân

- 37,4% cho biết có những biểu hiện: ngực nở, vỡ giọng, có ria mép

- 35,0% cho biết bộ phận sinh dục biến đổi

- 13,5% trả lời vào tuổi này sẽ xuất hiện trứng cá

- 8,5% nói rằng con gái sẽ có kinh nguyệt; 6,7% trả lời sẽ có hiện tượng xuất tinh ở bạn nam

* Thay đổi về tâm lý :

- 36,5% đã trả lời: tính tình thay đổi, thất thường, đôi khi khó hiểu, lúc vui lúc buồn, con gái trở nên e thẹn, dịu dàng, kín đáo, mơ mộng, biết làm đẹp

- 25,8% thì cho rằng các em cảm thấy tự tin hơn, vui vẻ, hoạt bát hơn

- 21,2% cho biết ở tuổi này các em thường khó tính hơn, ương ngạnh, không thích nghe lời người lớn, muốn tỏ ra người lớn

- 9,8% cho rằng các em ở tuổi này đã có sự nhận biết khá chín chắn, biết chọn bạn mà chơi, cởi mở với mọi người

- 7,6% cho biết ở lứa tuổi này các em có thể có những rung động đầu đời, có cảm xúc với những bạn khác giới

Như vậy, về cơ bản, các em đều biết đến một số thay đổi về tâm, sinh lý của tuổi dậy thì Có em khi trả lời về những biến đổi sinh lý trong lứa tuổi dậy thì đã đưa ra nhận định “có khả năng sinh sản” Điều này cho thấy, một mặt các em đã hoặc đang trải qua tuổi dậy thì, đã kiểm nghiệm được từ bản thân mình, nhưng có thể các em đã được biết đến thời kỳ đó qua một phương tiện truyền thông nào đó, có thể là qua sách, báo, phim ảnh, tâm sự bạn bè hoặc qua bố mẹ, anh chị trong gia đình Tuy nhiên, sự hiểu biết ở các em chưa toàn diện và chưa sâu, còn ở mức chung chung Ví

Trang 40

dụ, có em chưa trả lời được cụ thể, mà chỉ nói chung chung “cơ thể có

nhiều biến đổi”, “cơ thể phát triển vượt mức bình thường” Thậm chí có

một số em còn không thể kể ra những biểu hiện này mà trả lời bằng những

câu như “em ngại lắm, không kể ra được”, “câu hỏi này em thấy khó trả

lời quá, mặc dù em cũng biết” Những câu trả lời “đại khái” như thế có

thể cho thấy một số học sinh vẫn còn e ngại khi đề cập đến nội dung SKSSVTN

Biểu đồ 1 dưới đây cho thấy, đa số các em được hỏi đã ý thức được

sự trưởng thành của lứa tuổi VTN nhưng các em không cho rằng đó là sự trưởng thành toàn diện về mọi mặt Tìm hiểu mức độ đồng tình với nhận

định VTN là người đã trưởng thành về mọi mặt: chỉ có 6,4% học sinh được hỏi đồng ý, 62,5% đồng ý một phần, 31,1% không đồng ý Bản thân các em vẫn cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của người lớn Các em cho biết: “Nhiều bạn bè

xung quanh em đều không thích bị coi là trẻ con, lúc nào cũng bị nhắc nhở, nhưng tất nhiên là chúng em cũng biết là mình còn chưa thật sự trưởng thành, còn cần nhiều thời gian nữa” (nữ, lớp 11, NVC) Hay “Em thấy bọn

em cũng chưa người lớn gì đâu, còn trẻ con lắm chị ạ” (nam, lớp 11, YH)

Biểu đồ 1: Mức độ đồng ý với nhận định:

VTN là người đã trưởng thành về mọi mặt

Ngày đăng: 29/06/2023, 08:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w