SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG NHẬP CƯ VÀO HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ TẠI PHƯỜNG PHÚC ĐỒNG – QUẬN LONG BIÊN – TP HÀ NỘI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRỊNH THỊ THÙY DUNG S[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN-
TRỊNH THỊ THÙY DUNG
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ
VÀO HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ
(Nghiên cứu trường hợp tại phường Phúc Đồng, quận Long Biên,
thành phố Hà Nội)
UẬN VĂN THẠC S XÃ HỘI HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN-
TRỊNH THỊ THÙY DUNG
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ
VÀO HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ
(Nghiên cứu trường hợp tại phường Phúc Đồng, quận Long Biên,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Sự tham gia của người nhập cư vào hoạt động đoàn thể (Nghiên cứu trường hợp tại địa bàn phường Phúc Đồng, quận Long biên, thành phố Hà Nội)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Phạm Văn Quyết, trường Khoa học xã hội và Nhân văn Các tài liệu sử dụng tham khảo, trích dẫn trong Luận văn đều đảm bảo rõ nguồn, trung thực Các kết quả nghiên cứu được công bố trong Luận văn là hoàn toàn chính xác, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước
Tôi xin cam đoan điều này là đúng sự thật Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2015
Tác giả
TRỊNH THỊ THÙY DUNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Xã Hội
Học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội
đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo, cung cấp nhiều kiến thức bổ ích cho tác giả trong suốt hai năm học vừa qua
Tác giả xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Phạm Văn Quyết, trường Khoa học xã hội và Nhân văn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để tác giả thực hiện và hoàn thành luận văn
Mặc dù tác giả đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, nhưng do hạn chế về thời gian nghiên cứu nên luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót Tác giả mong muốn nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2015
Tác giả
TRỊNH THỊ THÙY DUNG
Trang 5ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐH KHXH&NV
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGH A VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
GIẤY XÁC NHẬN
Về việc đồng ý cho học viên sử dụng dữ liệu nghiên cứu
PGS.TS Phạm Văn Quyết - Chủ nhiệm đề tài “Hoà nhập xã hội của người
nhập cư”, đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia năm 2014 - 2015, xác nhận:
Học viên Trịnh Thị Thùy Dung là học viên cao học khoa XHH khoá 2013 -
2015 được sử dụng dữ liệu sơ cấp của đề tài để thực hiện luận văn cao học với đề
tài: “Sự tham gia của người nhập cư vào hoạt động đoàn thể (Qua nghiên cứu
trường hợp tại phường Phúc Đồng – quận Long Biên – thành phố Hà Nội)
Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2015
Chủ nhiệm đề tài
PGS TS Phạm Văn Quyết
Trang 6MỤC LỤC MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa của đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 4
5 Câu hỏi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Mẫu nghiên cứu 7
9 Khung lý thuyết 9
NỘI DUNG CHÍNH 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 10
1.2 Cơ sở lý thuyết 15
1.2.1 Lý thuyết Hòa nhập xã hội 15
1.2.2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý 18
1.2.3 Lý thuyết vốn xã hội co cụm 19
1.3.4 Lý thuyết về di dân 22
1.3 Các khái niệm công cụ 23
1.3.1 Khái niệm “Hòa nhập xã hội” 23
1.3.2.Khái niệm “Cộng đồng” 24
1.3.3 Khái niệm “Sự tham gia xã hội” 24
1.3.4 Khái niệm “Lao động nhập cư” 26
1.3.5 Khái niệm “Hoạt động đoàn thể” 27
1.4 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 28
Trang 7CHƯƠNG 2 MỨC ĐỘ THAM GIA HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ CỦA NGƯỜI
AO ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI ĐỊA PHƯƠNG CƯ TRÚ 30
2.1 Hoạt động mang tính chất cộng đồng chung 33
2.2 Hoạt động mang tính chất hướng riêng đến nhóm cộng đồng nhất định 41
CHƯƠNG 3 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ THAM GIA HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ TẠI ĐỊA PHƯƠNG CƯ TRÚ 44
3.1 Các yếu tố từ người nhập cư 44
3.2 Yếu tố xuất phát từ chính quyền địa phương 66
3.3 Yếu tố xuất phát từ người dân sở tại 73
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Mức độ tham gia vào các hoạt động đoàn thể tại địa phương cư trú của người nhập cư 32 Bảng 3.1 Nghề nghiệp ảnh hưởng mức độ tham gia hoạt động quyên góp, từ thiện 55 Bảng 3.2 Số lượng bạn bè có thể tin tưởng được của người nhập cư 65 Bảng 3.3 Mức độ thăm hỏi của chính quyền đại phương sở tại ảnh hưởng tới mức độ tham gia hoạt động bầu cử của người nhập cư 68 Bảng 3.4 Mức độ thăm hỏi của chính quyền địa phương ảnh hưởng mức độ tham gia hoạt động bầu cử tại đị phương nơi đnag sinh sống của người nhập cư 70 Bảng 3.5 Mức độ đến thăm của người dân sở tại ảnh hưởng mức độ tham gia của người dân nhập cư vào các hoạt động lễ hội tại địa phương nơi đang sinh sống 74
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Mức độ được mời tham gia hoạt động đoàn thể của người nhập
cư tại địa phương cư trú 31 Biểu đồ 2.2 Mức độ tham gia hoạt động từ thiện của người dân nhập cư 34 Biểu đồ 2.3 Mức độ tham gia vào hoạt động lễ hội của người dân nhập cư tại địa phương cư trú 36 Biểu đồ 2.4 Mức độ tham gia hoạt động họp tổ dân phố/xóm và hoạt động bầu cử tại địa phương cư trú của người nhập cư 39 Biểu đồ 2.5 Mức độ tham gia vào các hoạt động hội đồng hương thành phố, tổ/nhóm/câu lạc bộ người nhập cư, tổ chức đoàn thể bất kỳ ở địa phương 41 Biểu đồ 3.1 Giới tính của người dân nhập cư ảnh hưởng tới mức độ tham gia các lễ hội của địa phương nơi đang sinh sống 49 Biểu đồ 3.2 Giới tính của người dân nhập cư ảnh hưởng tới mức độ tham gia các hoạt động văn hóa, du lịch, thể thao của địa phương nơi sinh sống 51 Biểu đồ 3.3 Giới tính của người dân nhập cư ảnh hưởng tới mức độ tham gia các hoạt động văn hóa, du lịch, thể thao của công ty 53 Biểu đồ 3.4 Việc làm khi rảnh rỗi 59 Biểu 3.5 Mức độ thăm hỏi của người nhập cư đối với người dân sở tại, chính quyền sở tại và đoàn thể địa phương 61 Biểu đồ 3.6 Cách giải quyết khi gặp khó khăn của người nhập cư 63 Biều đồ 3.7 Mức độ khó khăn khi tiếp xúc với chính quyền sở tại 71 Biểu đồ 3.8 Thái độ và ứng xử xã hội mà người dân nhập cư gặp phải trong đời sống hàng ngày 76
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển với tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa nhanh Đi kèm với đó là hiện tượng đất nông nghiệp bị thu hẹp, lao động tại nông thông dư thừa, thêm vào đó là sự chênh lệch mức thu nhập giữa thành thị và nông thôn gia tăng khoảng cách giàu nghèo Chính vì vậy mà rất nhiều người trong độ tuổi lao động đã di cư từ nông thôn ra thành thị với mong muốn tìm kiếm cơ họi việc làm, gia tăng mức thu nhập bản thân
và giảm mức chênh lệch giàu nghèo
Hà Nội là một trong những đô thị có mật độ dân cư đông đúc nhất trong nước (2087 người/km2) nhưng hàng năm vẫn có một lượng lớn người lao động từ ngoại tỉnh nhập cư đến đây Sở dĩ người dân thường đổ về Hà Nội vì những nguyên nhân sau: Thứ nhất, do nông nghiệp nước ta có những bước phát triển vượt bậc trong việc tăng năng suất và sản lượng, dẫn tới “dư thừa” lao động Đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng “đất chật người đông”, thời gian lao động dư thừa nhiều, đồng thời mặt độ dân số đông, diện tích canh tác thì có hạn Điều đó tất yếu dẫn đến việc một bộ phận người lao động phải ra
đi tìm việc ở các thành phố lớn nhằm tăng thêm thu nhập Sự khác biệt về tiền lương và thu nhập giữa các vùng, đặc biêt giữa nông thôn và thành thị là yếu
tố thúc đẩy quá trình di dân tới đô thị Họ chấp nhận những công việc nặng nhọc, vất vả để mưu sinh và để có tiền gửi về cho gia đình Thứ hai, Hà Nội (cũng như thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn khác) là miền đất hứa của nhiều người về môi trường giáo dục và đào tạo, có điều kiện y tế và chăm sóc sức khỏe, có đời sống văn hóa tinh thần cao hơn, có các phương tiện thông tin đại chúng và các dịch vụ tiện ích khác…
Một lực lượng lớn lao động từ các vùng miền đổ đến các đô thị để làm việc đem đến những thuận lợi và khó khăn nhất định Về mặt thuận lợi có thể
Trang 11kể đến như lực lượng lao động dồi dào, luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu lao động, gia tăng vốn văn hóa, đa dạng đời sống tinh thần… Nhưng kèm theo đó cũng là rất nhiều khó khăn như dư thừa lực lượng lao động, tệ nạn xã hội, khó quản lý nhân khẩu… Trong đó có một vấn đề nổi bật đó là vấn đề hòa nhập cộng đồng của nhóm người lao động nhập cư Người lao động từ nhiều nơi đến thành thị để làm việc nhưng vì nhiều nguyên do họ chưa thể hòa nhập với cộng đồng mà họ đang sinh sống và làm việc Điều này là một bài toán cho xã hội bởi cộng đồng không gắn kết ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống cũng như sự phát triển của nền kinh tế chung Trong vấn đề này các đoàn thể địa phương nơi người nhập cư đến đóng góp vai trò không nhỏ khi bản thân nó là nơi tạo cho cá nhân môi trường gây dựng mạng lưới xã hội, gắn kết cá nhân với cộng đồng, tăng, tăng tính bền vững của cộng đồng Xuất phát từ nguyên
nhân trên tôi nghiên cứu đề tài “Sự tham gia của người lao động nhập cư vào hoạt động đoàn thể (Nghiên cứu trường hợp tại phường Phúc Đồng – quận Long Biên – thành phố Hà Nội)” từ đó đưa ra góc nhìn về vấn đề hòa
nhập cộng đồng tại đô thị đối với người lao động nhập cư
2 Ý nghĩa của đề tài
Mở ra những hướng nghiên cứu mới trong vấn đề liên quan đến đời sống tinh thần của người lao động nhập cư nói chung, những tác động của sự hòa nhập cộng đồng của nhóm người này đến sự phát triển của nơi mà họ đến
Trang 122.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài cung cấp cho chúng ta phần nào trong bức tranh toàn cảnh về sự hòa nhập trong đời sống tinh thần của cộng đồng người lao động nhập cư đến các thành phố thông qua sự tham gia vào các hoạt động đoàn thể địa phương nơi nhập cư nói chung và đến thành phố Hà Nội nói riêng (xét ở địa bàn phường Phúc Đồng, Long Biên) Trong đó ta thấy được những khó khăn, trở ngại họ phải vượt qua, cũng như những điều mà họ làm được để tạo dựng trong môi trường cuộc sống mới Đồng thời, kết quả của đề tài góp phần làm giàu cơ sở thực tiễn giúp cho các nhà hoạch định chính sách và quản lý kinh tế, xã hội có cái nhìn xác thực hơn, từ đó có thể đưa ra chính sách và biện pháp quản lý hữu hiệu hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu sự tham gia của lao động nhập cư vào các hoạt động đoàn thể tại địa phương cư trú
Trang 13Làm rõ mức độ tham gia vào các hoạt động đoàn thể của người dân tại địa bàn đang sinh sống từ đó tìm hiểu những khó khăn của người nhập cư khi hòa nhập vào cộng đồng mới
Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của lao động nhập cư vào các hoạt động đoàn thể tại nơi cư trú
Đưa ra các khuyến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia tích cực của lao động nhập cư tại địa phương cư trú
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự hòa nhập cộng đồng của người lao động nhập cư tại địa phương cư trú thông qua sự tham gia hoạt động đoàn thể
4.3.1 Phạm vi không gian nghiên cứu
Phường Phúc Đồng – quận Long Biên - thành phố Hà Nội
4.3.2 Phạm vi thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu triển khai từ tháng 11/2014 đến tháng 7/2015
5 Câu hỏi nghiên cứu
Mức độ tham gia vào hoạt động đoàn thể của người nhập cư tại địa phương cư trú?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia các hoạt động đoàn thể của lao động di cư ?
Trang 146 Giả thuyết nghiên cứu
Tại địa phương nơi người lao động nhập cư đến (cụ thể là phường Phúc Đồng- quận Long Biên – tp Hà Nội) có rất nhiều các hoạt động đoàn thể được tổ chức để nâng cao đời sống văn hóa và tăng mức gắn kết giữa các cư dân của cộng đồng Tuy nhiên, người lao động nhập cư chưa thực sự tích cực tham gia vào các hoạt động đoàn thể tại địa phương nơi cư trú
Có ba yếu tố chính tác động đến sự tham gia của người dân nhập cư vào hoạt động đoàn thể tại địa phương nơi cư trú:
+ Yếu tố xuất phát từ người dân nhập cư: tuổi, nghề nghiệp, giới tính, kinh tế chi phối thời gian tham gia các hoạt động đoàn thể, trở ngại văn hóa vùng miền…
+ Yếu tố xuất phát từ chính quyền sở tại: chính quyền sở tại chưa tích cực trong việc mời gọi người nhập cư tham gia vào các hoạt động đoàn thể tại địa phương
+ Yếu tố đến từ người dân sở tại: sự kỳ thị người nhập cư của người dân sở tại dẫn đến người lao động nhập cư cảm thấy thiếu sự liên kết với đời sống tại địa phương nơi cư trú
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là phương pháp thực nghiệm được tác giả sử dụng trong quá trình sử dụng thu thập kết quả cho phương pháp phỏng vấn trưng càu ý kiến và phỏng vấn sau Qua phương pháp này tác giả muốn thu nhận hình ảnh trực quan về đời sống của người lao động nhập cư tại phường Phúc Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội cũng như quan sát được thái độ của họ khi nhắc đến việc tham gia hoạt động tập thể từ đó có cái nhìn tổng quan, khách quan về các hoạt động tập thể ở đây và mức độ mong muốn tham gia
Trang 157.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu trong đề tài nghiên cứu này sẽ sử dụng để tìm hiểu về người lao động nhập cư và khó khăn của người nhập cư khi đến sống và làm việc trong môi trường mới cũng như các chính sách mới của chính quyền của đô thị dành cho người nhập cư Việc đọc tài liệu và sử dụng các nguồn tài liệu này làm cơ sở, nền tảng cho việc định hướng nghiên cứu Các tài liệu sẽ giúp cho người viết có cái nhìn phong phú hơn, vừa khái quát vừa cụ thể
về những người lao động di cư từ nơi khác đến để từ đó có những nhận định, đánh giá và kinh nghiệm về lĩnh vực này, phục vụ cho việc nghiên cứu Song song với đó, tác giả sẽ sử dụng chính những nguồn tài liệu đã đọc được là các thông tư, báo in, báo mạng, diễn đàn, trang web… để dẫn chứng vào từng mục
có liên quan cụ thể trong bài
Đặc biệt luận văn sử dụng các dữ liệu định lượng thu được từ cuộc khảo sát với 200 người dân nhập cư tại phường Phúc Đồng – quận Long Biên –
thành phố Hà Nội thuộc đề tài “Hòa nhập xã hội của người nhập cư” do
PGS.TS Phạm Văn Quyết chủ trì
7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Là phương pháp định tính, nghiên cứu này sẽ tiến hành phỏng vấn sâu
15 khách thể là lao động nhập cư và người dân sở tại trên địa bàn phường Phúc Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội với nội dung về những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người nhập cư trong hoạt động đoàn thể tại địa phương cư trú Sử dụng phương pháp này trong bài nhằm mục đích mong muốn hiểu rõ hơn về mức độ tham gia của người lao động nhập cư vào hoạt động tập thể bị hưởng hưởng bởi yếu tố nào
Tên của người tham gia phỏng vấn sẽ được đảm bảo tính khuyết danh
và bảo mật thông tin trong nghiên cứu
Trang 168 Mẫu nghiên cứu
8.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản căn cứ trên danh sách quản lý nhân khẩu chính thức của Ủy ban nhân dân phường Phúc Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội Tổng số đơn vị mẫu lựa chọn là 200 đơn vị Nhóm này rất
đa dạng bao gồm rất nhiều các cá nhân đến từ các vùng khác nhau, học vấn, trình độ tay nghề, công việc… có thể đã từng tham gia hoặc chưa từng tham gia các hoạt động đoàn thể tại địa phương cư trú Việc tiếp cận các đối tượng được thực hiện dưới sự giúp đỡ của cán bộ UBND phường và các đồng chí phụ trách khu dân cư trên địa bàn phường, đảm bảo đúng đối tượng và đủ số lượng mẫu khảo sát
8.2 Giới thiệu mẫu nghiên cứu
Đặc diểm mẫu khảo sát
57%
11%
1,5% 6,5% 15,5% 8,5%
Trang 189 Khung lý thuyết
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - VĂN HÓA – XÃ HỘI
Mức độ tham gia vào hoạt động đoàn thể của người nhập cư tại địa phương cư trú
Yếu tố ảnh hưởng đến sự tham vào hoạt động tập thể của người nhập cư tại địa phương cư trú
Đặc điểm lao động nhập cư
Sự tiếp nhận của chính quyền sở
tại
Sự hợp tác của
cư dân bản địa
Trang 19NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Hai tác giả Lê Ngọc Lân, Phùng Thị Kim Anh, khi phân tích về “Chính
sách việc làm cho lao động nữ nông thôn trong thời kỳ đổi mới” – Tạp chí Xã
hội học cho rằng, tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp cũng tạo nên dòng chảy lao động từ nông thôn ra thành thị, trong đó có nhiều phụ nữ Họ làm đủ các ngành nghề từ giúp việc gia đình, buôn bán phế liệu đến bán hàng rong, thậm chí còn có một số chị em tham gia vào các hoạt động bị xã hội ngăn cấm… Tuy nhiên, việc di chuyển lao động tự do từ các vùng nông thôn
ra thành thị, đặc biệt là các đô thị lớn đang là vấn đề nổi cộm, nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, nhất là các tệ nạn xã hội
Trong bài viết “Di dân, phát triển và bất bình đẳng ở Việt Nam trên
đường đổi mới và hội nhập”, tác giả Nguyễn Thanh Liêm đã chỉ ra mối quan
hệ giữa di dân, phát triển và bất bình đẳng có mối quan hệ tương hỗ, phức tạp
và đa dạng với nhiều chiều cạnh Di dân lao động gắn với dịch chuyển và phân phối lại lao động có thể góp phần giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ cung cầu lao động Vì vậy, di dân lao động góp phần giải quyết thất nghiệp cho vùng đi và đồng thời đáp ứng nhu cầu lao động cho vùng đến Bài viết đề cập đến sự tác động qua lại, tính hai mặt của đổi mới, phát triển, bất bình đẳng đến di dân
Trong bài viết “Đời sống xã hội của thanh niên nhập cư lao động phổ
thông tại các cơ sở sản xuất nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả
Phạm Thanh Thôi (trường Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hồ Chí Minh) trên tạp chí Khoa học trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Mình, đã đưa một số kết quả nghiên cứu về các khía cạnh đời sống xã hội của thanh niên nhập cư lao động phổ thông tại các cơ sở sản xuất nhỏ ở TP Hồ
Trang 20Chí Minh Các khía cạnh của đời sống xã hội như mạng lưới xã hội, quan hệ
xã hội, các điều kiện sống, làm việc, thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội
đô thị được mô tả và phân tích trong nghiên cứu này Đời sống xã hội của thanh niên nhập cư xét trên quan hệ với chủ cơ sở, với các đồng nghiệp tại nơi sống và làm việc được xây dựng chủ yếu trên nền tảng các quan hệ “tình cảm”, “thân thuộc”, “đồng tộc”, “đồng hương” Theo đó, các cơ sở sản xuất nhỏ như là các “hộ gia đình hoạt động kinh tế công nghiệp” và cũng là các
“tiểu văn hóa” đa dạng trong quá trình đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh Theo bài viết, thanh niên khi đến thành phố tìm kiếm việc làm, họ đã tận dụng khá tốt các mối quan hệ để tìm kiểm chỗ ở ban đầu Được sự trợ giúp của người thân, bạn bè, họ không gặp khó khăn về ăn, đi lại trong thời gian tìm việc ở thành phố Cả nam lẫn nữ, phần nhiều đến với công việc ban đầu nơi thành phố là do người thân quen, họ hàng hoặc người đồng hương giới thiệu Tại các cơ sở sản xuất nhỏ, đặc điểm lao động mang tính địa phương và cộng đồng rất cao Vì rằng, họ đã dựa vào “quan hệ thân quen” để giới thiệu cộng việc cho người mới Có những tỉnh thành, thanh niên về thành phố làm thợ hồ (thợ xây dựng) rất nhiều, có tỉnh thì thanh niên nam cũng như nữ về thành phố làm nghề may, có tỉnh thanh niên về thành phố bán quán ăn, quán cà phê hay làm ở các cơ sở… Xét ở nhiều khía cạnh, việc phân nhóm này có những khía cạnh tích cực là tính cộng đồng, sự tương trợ nhau nhiều Những mặt khác, khi những người cùng địa phương đến thành phố làm cùng ngành nghề, khiến
họ có tâm lý chấp nhận công việc, môi trường làm việc bằng mọi giá… Đời sống xã hội của thanh niên nhập cư xét trên điều kiện quan hệ với chủ cơ sở, với các đồng nghiệp còn nặng về “tình cảm”, “cảm tính”, “quan hệ thân thuộc”, đồng tộc, đồng hương Với những đặc tính này, trong môi trường đô thị có những hạn chế nhất định Thanh niên không có sự năng động, họ dễ dàng “ngủ quên” trong cộng đồng của mình Khi đó, nếu các “tiểu văn hoá”
Trang 21này có lối sống tiêu cực, thì ngoài cộng đồng của họ ra, ít có nhân tố hay lực lượng xã hội nào kiểm soát được Đời sống của thanh niên công nhân chịu sự ràng buộc, tác động nhiều từ trách nhiệm “cảm tính” của các chủ cơ sở sản xuất nhỏ Họ không dễ dàng độc lập, không dễ dàng “thăng tiến’ khi suốt 24 giờ làm việc, ăn uống và ngủ nghỉ tại nhà của chủ cơ sở sản xuất Có thể nói,
họ có được việc làm nơi thành phố, nhưng lại không thể tổ chức được đời sống xã hội cho mình Xét khía cạnh đời sống văn hóa, giải trí và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế còn nghèo nàn Các cơ sở sản xuất chưa có chính sách hay kế hoạch gì để cải thiện vấn đề này trong chiến lược đầu tư, phát triển kinh tế của họ Một khi người lao động tai nạn lao động hay bệnh tật, tất
cả họ phải chịu trách nhiệm, chủ cơ sở có giúp chăng cũng mang tính hỗ trợ một phần Quá trình nghiên cứu thực trạng đời sống xã hội của thanh niên nhập cư lao động phổ thông tại các cơ sở sản xuất nhỏ ở tp Hồ Chí Minh, nhóm nghiên cứu cũng dần nhận diện rõ hớn bức tranh về sự phân tầng trong lĩnh vực kinh tế giữa người sử dụng lao động và người “bán” sức lao động ngày càng lớn Theo kết quả khảo sát, hiện có trên 61% cho rằng họ muốn chuyển đổi việc do thu nhập thấp Sự phân tầng còn thể hiện dưới góc độ quyền lực, chủ cơ sở có thể “đuổi” người lao động ra bên ngoài cơ sở bất cứ lúc nào mà không cần đắn đo xét trách nhiệm pháp lý
Theo bài viết “Sự hòa nhập xã hội của người di cư tại Việt Nam –
Hướng đến một mô hình trợ giúp xã hội” của Phạm Văn Quyết và Trần Văn
Kham, trường Khoa học xã hội và Nhân văn, đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra
số liệu bám sát thực tế về người dân nhập cư tại hai đô thị lớn nhất nước ta là
Hà Nội và Hồ Chí Minh Bài viếthướng đến phân tích khía cạnh cụ thể trong trải nghiệm cuộc sống tại đô thị của người di cư và gợi ý một số nội dung cho các mô hình trợ giúp người lao động di cư trong quá trình đô thị hoá ở Việt Nam hiện nay: quan hệ bạn bè, cách thức giải quyết khó khăn, mức độ tham
Trang 22gia các hoạt động tại cộng đồng, nơi ở, những trải nghiệm, xúc cảm, thái độ
về các vấn đề liên quan đến sự tham gia, thực hiện các mối quan hệ-tương tác tại cộng đồng Theo bài viết cũng chỉ ra rằng, tuy có rất nhiều điểm tương đồng, mang tính phổ quát, song do đặc trưng vùng, miền với những đặc điểm riêng về môi trường văn hóa, lối sống, địa lý nên sự tham gia xã hội của người
di cư tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mang những sắc thái riêng nhất định Ở một vài biến số được phân tích người di cư ở thành phố Hồ Chí Minh thể hiện sự tham gia xã hội ở mức cao hơn so với ở Hà Nội, nhưng đồng thời cũng thể hiện môi trường xã hội cho hòa nhập ở thành phố Hồ Chí Minh thuận lợi hơn so với ở Hà Nội Hai tác giả cũng đưa ra nhận định về nội dung các mô hình trợ giúp người lao động di cư ở Việt Nam hiện nay bên cạnh việc quan tâm giải quyết các vấn đề liên quan đến các chiều cạnh kinh tế như việc làm, thu nhập, đào tạo nghề…, cũng rất cần quan tâm đến giải quyết những vấn đề về sự tham gia của người di cư vào đời sống văn hóa, xã hội tại cộng đồng nơi cư trú; thúc đẩy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của cộng đồng, chính quyền, đoàn thể các địa phương trong việc tạo dựng môi trường xã hội cho hòa nhập cộng đồng Mặt khác, cũng rất cần tạo điều kiện cần thiết để người
di cư ý thức được môi trường sống là nguồn lực quan trọng cho việc khắc phục những khó khắn vướng mắc trong đời sống của họ; làm tăng hơn nữa niềm tin xã hội ở họ Trong các mô hình cũng rất cần quan tâm đến những đặc trưng mang màu sắc vùng miền
Trong bài viết “Social Inclusion of the Poor Migrants in the
Contemporary Vietnamese Urban Life: A Quantitative Analysis” (tạm dịch
Hòa nhập xã hội của những người di cư nghèo hiện nay - Cuộc sống đô thị Việt: Một phân tích định lượng) của hai tác giả Phạm Văn Quyết và Trần Văn Kham là bài viết về các chính sách dành cho người di cư trong thởi điểm hiện tại, các xu hướng di cư cũng như tác động của dòng chảy di cư tới đời sống xã
Trang 23hội nói chung Bài viết mô tả đời sống của người di cư trong đô thị hiện đại tại hai đô thị lớn là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, trong đó nhấn mạnh tới vấn đề chính sách xã hội, các dịch vụ xã hội mà người di cư nghèo tại đô thị có thể được hưởng lợi, từ đó đưa ra thuận lợi và khó khăn của người di cư nghèo gặp phải khi hòa nhập với đời sống đô thị
Tác giả Douglas S.Massey trong bài viết “Các nguồn gốc xã hội và kinh tế của nhập cư” (1994), đã chỉ ra rằng, di cư là một vấn đề của mọi xã hội, quốc gia, di cư là một vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu để có những chính sách phù hợp với yêu cầu của nguồn nhân lực tại nơi xuất cư và nơi nhập cư Tác gỉa cho rằng, các mô hình nhập cư đương thời biểu thị cho một
sự đoạn tuyệt với quá khứ Di cư có nguồn gốc là do những yếu tố kinh tế, xã hội, chính sách của mỗi cá nhân, gia đình hay quốc gia Bài viết sử dụng lý thuyết mạng lưới xã hội, lý thuyết kinh tế Marco, lý thuyết kinh tế vi mô, luật nhập cư để phân tích nguồn gốc của nhập cư Qua bài viết, chúng ta có thể có một cách vận dụng lý thuyết trong cách phân tích các vấn đề di dân và nhập cư
Phân tích các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước
về làn sóng người lao động nhập cư vào thành thị cho thấy rằng, vấn đề này được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên các nghiên cứu trước đây cũng chưa làm rõ vấn đề này dưới góc độ hòa nhập cũng như trở ngại, khó khăn của chính vốn xã hội, của tiểu văn hóa của người lao động nhập cư cũng như cộng đồng mà người lao động nhập cư hiện tại đang sinh sống và làm
việc Đây cũng chính là điểm mới trong đề tài “Tham gia của người lao động
nhập cư vào hoạt động đoàn thể ở địa phương (Nghiên cứu tại phường Phúc Đồng – quận Long Biên – thành phố Hà Nội)” Qua đây chúng tôi cũng mang
đến một góc nhìn mới về thực trạng hòa nhập cộng đồng đối với người lao động nhập cư tại đô thị hiện nay
Trang 241.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Lý thuyết Hòa nhập xã hội
Theo mục tiêu và nội dung, khái niệm hòa nhập xã hội và hội nhập xã hội (Social integration) trong nhiều trường hợp được sử dụng với sự phân biệt không đáng kể hoặc không rõ ràng Trong khoa học xã hội, vấn đề hội nhập
xã hội được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và trở thành vấn đề được nghiên cứu rất phổ biến Người đầu tiên đặt dấu ấn đậm nét trong nghiên cứu về hội nhập xã hội, đồng thời cũng là người đặt nền móng cho Chủ nghĩa chức năng
là nhà xã hội học người Pháp Emile Durkheim (1789 - 1857) Quan điểm về hội nhập xã hội của ông được trình bày trong sự gắn kết chặt chẽ với khái
niệm đoàn kết xã hội (social solidarity) Ông sử dụng khái niệm đoàn kết xã hội để chỉ các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với nhóm xã hội Nếu như không có sự đoàn kết xã hội thì các cá nhân riêng lẻ, biệt lập không thể tạo thành xã hội với tư cách là một chỉnh thể
(Lê Ngọc Hùng, 2002) [9;3]
Về hội nhập xã hội, Durkheim cho rằng, xã hội dường như đã sử dụng một sức mạnh bắt buộc đối với mỗi cá nhân Chuẩn mực, niềm tin và các giá trị mà ông gọi là ý thức tập thể được coi như cơ sở đạo đức của xã hội Ý thức tập thể liên kết các cá nhân với nhau tạo ra hội nhập xã hội Ý thức tập thể là chìa khóa quan trọng cho việc giải thích sự tồn tại của xã hội: Nó tạo ra và duy trì xã hội Trong khi đó, ý thức tập thể là sản phẩm của các cá nhân thông qua hành động và tương tác của họ Như vậy, xã hội là một sản phẩm có tính
xã hội được tạo ra bởi các hành động của cá nhân sau đó tác động trở lại bởi một sức mạnh xã hội mang tính bắt buộc đối với mỗi cá nhân Thông qua ý thức tập thể của họ con người trở nên hiểu biết nhau như sinh vật xã hội, chứ không phải như độngvật (dẫn theo Kenneth D Allan, 2005) [9;4]
Trang 25Từ quan điểm của Durkheim, vấn đề hội nhập xã hội tiếp tục được nghiên cứu và mở rộng trong quan điểm của các nhà chức năng luận Theo đó hội nhập xã hội gắn với những nguyên tắc mà qua đó các cá nhân hay các chủ thể hành động được liên kết với nhau Bên cạnh đó, các nhà chức năng luận còn nhấn mạnh đến vấn đề hội nhập hệ thống xã hội Nó được xem như phương thức quan hệ của những yếu tố trong hệ thống xã hội, mà vì hệ thống
đó chúng hành động một cách tập thể để tránh phá vỡ hệ thống, đồng thời chúng luôn hợp tác để thúc đẩy sự hoạt động của hệ thống xã hội như một chỉnh thể Ở góc độ lý luận, hội nhập xã hội chỉ ra những nguyên tắc mà qua
đó các cá nhân theo vị thế xã hội gắn kết với nhau trong không gian xã hội và
đề cập đến các mối quan hệ giữa các chủ thể: các chủ thể chấp nhận các nguyên tắc xã hội như thế nào Hội nhập của một hệ thống xã hội có nghĩa là các tương tác trao đổi qua lại giữa các thành tố của một cấu trúc xã hội cụ thể (Marshall G., 1998) [9;6]
Hòa nhập xã hội giúp thúc đẩy xã hội phát triển đi lên Sự tồn tại của xã hội giữa trên mối liên kết giữa các cá nhân, mối liên kết – quan hệ xã hội càng rộng lớn giữa các cá nhân thì xã hội càng phát triển càng mạnh mẽ, mức độ liên kết càng bền chặt, xã hội càng bền vững
Mỗi cá nhân khi tham gia một cộng đồng đều mong muốn được hòa nhập vào cộng đồng đó Hòa nhập ở đây chính là sự thừa nhận của các thành viên khác rằng cá nhân đó là thành viên của cộng đồng, cá nhân có vị thế trong cộng đồng, được hưởng lợi ích từ cộng đồng mang lại, có tiếng nói trong cộng đồng, có nghĩa vụ xây dựng cộng đồng phát triển Hơn tất cả, khi
cá nhân hòa nhập tốt, họ trở thành thành viên trong cộng đồng thì họ có thể nâng cao vị thế của mình so với các cá nhân còn lại, giúp họ thụ hưởng quyền lợi mong muốn
Trang 26Bản thân người nhập cư tại đô thị Việt Nam thường là người lao động nghèo di cư từ nông thôn ra đô thị với hy vọng kế sinh nhai mới đem lại mức thu nhập mà họ mong muốn Tuy nhiên, quá trình hội nhập vào cộng đồng mới của họ không dễ dàng Họ từ thành viên của cộng đồng nông thôn với bản sắc riêng, mang tính cố hữu của vùng miền riêng biệt tới cộng đồng đô thị mới nên việc hòa nhập về môi trường sống cũng như tạo mối liên kết với cá nhân thuộc cộng đồng mới không phải là điều dễ dàng với họ Sự chuyển đổi
về địa điểm sống, phong cách sống cũng như những giá trị mới khiến cho họ
bị bỡ ngỡ, thậm chí tự co mình trước các mối quan hệ mới Điều này khiến cho họ gặp thiệt thòi khi họ chưa hòa nhập vào cộng đồng tức là họ chưa được các thành viên của cộng đồng thừa nhận, họ bị mất quyền lợi thụ hưởng lợi ích từ cộng đồng mang lại, đồng thời cũng giảm thiểu cơ hội thăng tiến trong công việc, mức thu nhập mong muốn mà ban đầu họ đặt ra có khả năng khó thực hiện hơn Phương thức để hội nhập cộng đồng chính là tham gia các hoạt động mà cộng đồng đó đang thực thi Các hoạt động đó được xây dựng từ các
tổ chức, đòan thể chính trị - xã hội của chính cộng đồng đó Tham gia các hoạt động này càng tích cực, cơ hội gia tăng các mối quan hệ của cá nhân càng cao, tính bền vững của mối liên kết càng bền chặt vì trong quá trình tham gia các hoạt động này bản thân người nhập cư sẽ được gặp gỡ, giao lưu với người sở tại cũng như chính quyền địa phương, là cách giới thiệu bản thân trước cộng đồng mới Đồng thời trong quá tham gia các hoạt động đoàn thể giúp cho người nhập cư khẳng định được năng lực cũng như mong muốn đóng góp xây dựng cộng đồng phát triển Đây chính là phương thức tạo niềm tin, uy tín của người nhập cư với cộng đồng người dân sở tại và là bước đệm giúp họ hòa nhập trở thành thành viên của cộng đồng
Trang 271.2.2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
Các nguyên tắc cơ bản của lý thuyết lựa chọn hợp lý phát sinh từ kinh
tế học cổ điển Trong những năm 1950, nhà kinh tế học người Mỹ đạt giải Nobel về kinh tế học, Herbert Simon, kết hợp cùng đồng sự có tên là James March, đã đưa ra lý thuyết duy lý hạn chế (theory of limited rationality) Dựa vào một loạt các kiểu mẫu khác nhau, Friedman và Hechter đã xếp chung cái
mà họ diễn tả như là một bộ xương của lý Thuyết thường được dịch là lý thuyết lựa chọn hợp lý (hay thuyết lựa chọn duy lý) Trong lý thuyết này, ta
có thể thấy có ba ý cơ bản như sau:
Mọi hành vi và hành động của chủ thể đều có toan tính
Nhưng sự toan tính hành vi hay toan tính hành động không bao giờ đạt được tối ưu vì nguồn lực và nguồn thông tin không bao giờ đầy đủ
Do vậy, chủ thể tự thỏa mãn với việc lựa chọn giải pháp mang lại giá trị theo đó chủ thể cho rằng, lượng giá trị có được từ hành vi hay hành động
ấy tương đương với thông tin, nguồn lực hay bối cảnh của mình [4;353]
Như vậy, tiêu điểm của thuyết lựa chọn hợp lý là các chủ thể Các chủ thể được xem là có các mục đích hay mục tiêu về cái mà hành động của họ hướng tới Ở điểm này, nó không khác nhiều với hành động duy lý – công cụ
mà Max Weber định nghĩa Nhưng điểm khác biệt chính là trong lý thuyết hành động của Max Weber, tác gỉa cho rằng , hành động duy lý ấy đạt tính
“tối đa” hay “tối ưu” trong toàn tính quan hệ phương tiện – mục đích Các chủ thể được xem là có các sở thích (như các giá trị, các tiện ích) Thuyết lựa chọn hợp lý không quan tâm đến tính chất các sở thích này hay các nguồn của chúng Cái quan trọng là hành động được thực hiện để đạt được các đối tượng phù hợp với hệ thống sở thích và điều kiện bất ngờ mà chủ thể gặp phải
Trong việc thao đuổi mục đích đặt ra, các chủ thể phải để mắt tới cái giá của hành động lôi cuốn nhất kế tiếp của họ Một chủ thể có thể lựa chọn
Trang 28cách không theo đuổi mục đích có giá trị cao nhất nếu tiềm năng của họ không đáng kể Nếu kết quả là các cơ may để đạt được mục đích đó quá mong manh và nếu trong việc cố gắng để đạt tới mục đích đó, họ hủy hoại các cơ may đạt được mục đích giá trị nhất kế tiếp của mình Các chủ thể được xem là
cố gắng tối đa hóa các điều lợi của họ và mục tiêu đó có thể bao gồm việc đánh giá mối quan hệ giữa các cơ may đạt được mục đích sơ khởi, và điều mà thành tựu đó thực hiện đối với các cơ may để đạt được đối tượng giá trị nhất thứ hai
xã hội thì không thể đạt được”(Halpern, 2005:39) [4;238]
Như vậy, vốn xã hội là một chiều cạnh của cấu trúc xã hội
Theo ông, vốn xã hội có 3 đặc tính, cụ thể:
1) Thứ nhất, nó tùy thuộc vào mức độ tin cậy nhau của người trong xã hội Nói cách khác, nó tùy thuộc vào nghĩa vụ mà mỗi người tự ý thức và kỳ vọng của người này ở người khác
2) Thứ hai, nó có giá trị gói gém các liên hệ xã hội, và những liên hệ này mang đặc tính của kênh truyền thông Qua tiếp xúc với hàng xóm, bạn bè, mỗi người có thể thu nhập nhiều thông tin hữu ích cho cuộc sống, thay thế phần nào những thông tin trong sách báo, truyền thanh, tuyền hình
Trang 293) Thứ ba, vốn xã hội càng lớn khi xã hội càng nhiều quy tắc (norms), nhất là những quy tắc có kèm trừng phạt (norms accompanied by sanctions)
Coleman cũng chỉ ra một số hình thái xã hội của vốn xã hội:
1) Lòng tin, sự kỳ vọng, trách nhiệm thể hiện trong quan hệ xã hội và nhờ chúng mà hành động được thực hiện đều là những hình thái của vốn xã hội
2) Thông tin được phát triển và thu - phát trong quan hệ giữa người này với người kua mà nhờ nó hành động được thực hiện cũng là hình thái của vốn
xã hội
3) Những chuẩn mực có hiệu lực mà nhờ nó hành động được thực hiện cũng là hình thái của vốn xã hội Dưới hình thái là những chuẩn mực xã hội, vốn xã hội có thể khuyến khích hoặc kiềm chế hành động Ví dụ: Chuẩn mực khiêm tốn có thể khiến mọi người ít cởi mở với người khác
4) Quyền uy, uy tín là hình thái của vốn xã hội: Khi ta chuyển giao quyền kiểm soát hành động động cho một người nhất định có nghĩa là ta đã
tạo ra những vốn xã hội của người đó [4;249]
Như vậy, Coleman đã khẳng định: Vốn xã hội chính là sự tin cậy nhau của con người trong xã hội Về cơ bản, đó là lòng tin của con người đối với nhau trong giai tầng của họ Nó được biểu hiện ra là những chuẩn mực của hành
vi, ứng xử của các cá nhân trong cộng đồng/giai tầng mà họ là thành viên và kèm theo đó là sự trừng phạt khi cá nhân vi phạm những chuẩn mực đó
Về khả năng tác động đến đời sống con người và xã hội, người ta thấy rằng vốn xã hội có thể giúp ích rất nhiều trong việc huy động các nguồn lực nhằm thúc đẩy kinh tế Theo tác giả Woolcock, vốn “co cụm” vào trong được quan niệm là loại vốn tồn tại bên trong các nhóm, các cộng đồng, giúp giảm
thiểu rủi ro, bảo vệ bí mật kinh doanh, và duy trì thực lực kinh tế đã có [1;10]
Nói cách khác, tính “an toàn” và giảm thiểu rủi ro là đặc trưng của vốn co cụm Coleman khẳng định vốn xã hội là “sản phẩm phát sinh” của các hoạt
Trang 30động khác, thông qua mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau Người ta thiết lập và duy trì những quan hệ như thế để tìm kiếm lợi ích
Coleman mô tả vốn xã hội là một cấu trúc, một khuôn khổ, cho sự giao dịch giữa những người hành động (actors) và trong họ với nhau; thúc đẩy các hoạt động sản xuất và trở thành những gì có sẵn (tài nguyên) để cho một cá nhân sử dụng để thực hiện những lợi ích riêng tư của họ Khi ấy, người ta có thể sống với nhau mỗi ngày mà không phải mất công dàn xếp đi, dàn xếp lại vừa mất thì giờ vừa tốn kém Tiêu biểu cho cái vốn kia là hàng xóm đồng ý với nhau nếu nhà nào đi vắng cả nhà thì nhà bên cạnh ngó mắt dùm, những người mua bán kim cương sẽ tự mình chọn lựa kỹ càng để khi giao không phải thử từng viên xem có bị trầy hay không, hội những người giúp nhau chữa bệnh ung thư qua trang web… Đó là sự hoạt động của vốn xã hội hay vốn xã hội trong hành động (social capital in action) Vốn xã hội tạo điều kiện cho các cá nhân hợp tác với nhau vì nó làm giảm khó khăn khi cùng làm một việc chung Người này bỏ sức ra vì biết người khác cũng làm như thế và họ sẽ không muốn làm chung với ai thích làm theo hứng
Tóm lại theo Coleman, vốn xã hội mà mạng lưới của cá nhân hay cộng đồng của họ có xu hướng tăng cường sự thống nhất, đồng nhất bên trong, trong nhóm người gần gũi Các quan hệ gần gũi dựa trên quan hệ gia đình, huyết thống, bạn bè, láng giềng, cùng được coi là “vốn xã hội co cụm” hay cố kết
Tuy nhiên, hậu quả của “co cụm” là loại trừ những người ngoài Vốn xã hội thường mang lại các cố kết bên trong nhóm Tuy nhiên, những cố kết như thế lại tạo khó khăn cho việc mở rộng nhóm, đồng thời ngăn cản sự tham gia của những người ngoài Đồng thời, sự khép kín trong nội bộ nhóm có thể ngăn cản các sang kiến, tạo ra sự ỷ lại tập thể, thiếu năng động Vốn xã hội có thể thông qua quan hệ xã hội, mạng xã hội kiểm soát quá chặt chẽ các cá nhân
và như vậy làm giảm sự tự do, tự chủ và sự riêng tư của các cá nhân Vốn xã hội khép kín trong một nhóm, làm cộng đồng cũng có nguy cơ tạo ra sự bình quân chủ nghĩa trong cách ứng xử với con người
Trang 31tỷ lệ người tham gia di cư có mối quan hệ thuận với khoảng cách giữa hai khu vực nơi họ đến Lý thuyết này của Ravestein đã bị một số học giả phê phán vì
nó không tính đến yếu tố văn hóa, lịch sử, tâm lý, những yếu tố con người có ảnh hưởng mạnh đến quá trình di cư
Lý thuyết của Lewis ra đời vào năm 1950, trong bối cảnh các nước thế giới thứ ba bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, dẫn đến sự bùng nổ cảu làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị Theo ông lý do dau đây làm người
Ta di cư từ nông thôn lên đô thị:
Thứ nhất, sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng của các khu công nghiệp đòi hỏi phải có thêm lực lượng lao động đáp ứng; Sự tăng lên không ngừng của dân số trong khi đất đai không tăng làm cho lao động nông thôn dư thừa Số lao động dư thừa này có xu hướng tìm kiếm các cơ hội việc làm tại các khu công nghiệp và thành phố Lewis coi đây là sự điều tiết có tính tự nhiên, là sự cân bằng lao động giữa các khu vực, các ngành nghề
Thứ hai, do sự chênh lệch về mức thu nhập giữa nông thôn và đô thị Sự di cư lao động này sẽ dừng lại khi mức thu nhập ở đô thị cân bằng với mức thu nhập ở nông thôn Từ quan điểm này, người ta gọi lý thuyết của
Lewis là mô hình cân bằng [3;47,48]
Từ quan điểm này lý giảm việc gia tăng luồng di cư từ nông thôn ra đô thị, lượng người lao động nhập cư phát triển mạnh tại các đô thị lơn tại Việt
Trang 32Nam hiện nay Người di cư đa phần là lao động nghèo mong muốn có cơ hộ thay đổi vị thế tại cộng đồng mới, đem lại mức thu nhập mà họ mong muốn
1.3 Các khái niệm công cụ
1.3.1 Khái niệm “Hòa nhập xã hội”
Theo nghĩa rộng, khái niệm hòa nhập bao gồm tất cả cách thức mà chủ thể tham dự vào lao động xã hội Hay nói cách khác, hội nhập là phức thể các hoạt động hay biểu hiện kết nối việc làm và đào tạo, cả trong quá trình thất nghiệp cũng như thăng tiến việc làm, nghề nghiệp
Theo một định nghĩa khác, hội nhập là tổng thể tất cả những phương thức tiếp cận và tham gia vào thị trường lao động, nhằm đạt tới một vị trí xác định trong hệ thống phân công lao động xã hội và đồng thời cùng với nó là một địa vị xác định trong hệ thống phân tầng xã hội
Người ta có thể xem xét hội nhập từ các giác độ khác nhau Từ giác độ của chủ thể, quá trình hội nhập có thể là quá trình cá nhân hội nhập vào nhóm, hoặc là nhóm, tổ chức hội nhập vào cộng đồng hay phạm vi xã hội lớn hơn Ở đây, đề tài nhìn nhận hòa nhập cộng đồng là quá trình cá nhân hội nhập vào nhóm, vào cộng đồng dân cư, xã hội – nơi cá nhân đến sống và làm việc
Khái niệm hòa nhập xã hội và hội nhập xã hội (Social integration) trong nhiều trường hợp được sử dụng với sự phân biệt không đáng kể hoặc không
rõ ràng Cook S (1994) cho rằng hòa nhập, hội nhập và sự cố kết (cohesion) được sử dụng có thể thay thế cho nhau, nhưng cũng có thể sử dụng với sự khác nhau được nhấn mạnh Ngay trong nghiên cứu của UNRISD (1994) đã cho rằng hội nhập xã hội “với một số người nó là mục tiêu của sự hòa nhập, nghĩa là quyền và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người… Còn với những người khác, nó đơn giản chỉ là cách để mô tả các khuôn mẫu đã được thiết lập
về mối quan hệ của con người trong một xã hội nhất định” [9;2]
Trang 331.3.2.Khái niệm “Cộng đồng”
Cộng đồng là khái niệm cơ bản của các khoa học xã hội và nhân văn, với nhiều tuyến nghĩa khác nhau Có hai cách hiểu về cộng đồng: cộng đồng đồng tính và cộng đồng đồng thể Cộng đồng đồng tính là thuộc tính hay quan
hệ xã hội như tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng Cộng đồng đồng thể là các nhóm người, nhóm xã hội có tính cộng đồng với nhiều thể quy mô khác nhau
Khái niệm cộng đồng bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ cho đến các tổ chức có cấu trúc ít chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá phân tán, được liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, ví dụ như phong trào quần chúng, công chúng, khán giả, đám đông
Jodov trong bài viết “Suy nghĩ về đối tượng xã hội học” đã xác định khái niệm cộng đồng là một phạm trù cơ bản của xã hội học Ở đó tác giả dùng từ “cộng đồng xã hội” Ông xác định đối tượng nghiên cứu của xã hội học chính là cộng đồng xã hội Chính cộng đồng xã hội có thể được xem xét
là phạm trù then chốt, nền tảng trong phân tích xã hội học, để ông định nghĩa:
“Xã hội học là khoa học về sự hình thành, phát triển, vận hành của các cộng đồng xã hội, các tổ chức xã hội và các quá trình xã hội với tư cách là cơ chế liên hệ và tác động qua lại giữa các các cộng đồng xã hội đa dạng, giữa cá nhân và các cộng đồng, khoa học về các tính quy luật của các hành động xã hội và hành vi của chúng”
1.3.3 Khái niệm “Sự tham gia xã hội”
Đây là khái niệm có tần suất lặp lại tương đối nhiều trong nghiên cứu
xã hội học Từ lâu nó đã trở thành thuật ngữ phổ biến trong phát triển và thường được xem là yếu tố góp phần làm cho chính sách tốt hơn, chính quyền hiệu quả hơn và nhờ thế kinh tế phát triển nhanh hơn (Beall, 2000) Tuy nhiên tham gia có thể mang ý nghĩa khác nhau với những người khác nhau, sự
Trang 34tham gia bắt dầu được nhìn nhận như là quyền của người dân tham gia vào những những quyền quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ, nó liên quan nhiều tới quyền công dân và quản trị dân chủ Theo quan điểm xã hội học mỗi cá nhân đều đứng trong một tổ chức nhất định, tổ chức đầu tiên sơ khai nhất nhưng chặt chẽ nhất đó là gia đình và sau đó là các tổ chức ngoài xã hội (như ủy ban nhân dân, trường học, viện nghiên cứu…) Khi đứng trong các tổ chức đó, các cá nhân phải tham gia các hoạt động và tuân theo mệnh lệnh mà
tổ chức đó đề ra theo nguyên tắc nhất định
Trong gia đình các cá nhân tham gia vào các hoạt động sống, hoạt động lao động lao động sản xuất, kinh doanh để tạo ra thu nhập đáp ứng nhu cầu sống, thỏa mãn nhu cầu về vật chất Đồng thời họ còn phải có trách nhiệm, mối quan hệ với các thành viên khác trong gia đình, vì vậy họ phải tham gia vào việc nuôi dưỡng chăm sóc người già và giáo dục trẻ em
Ở ngoài xã hội với tư cách là công dân của xã hội, cá nhân phải đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội và cộng đồng Xã hội tồn tại, ổn định
và phát triển được là do xã hội bao gồm một hệ thống các thiết chế như chính trị, kinh tế, giáo dục, y tế, tôn giáo… Cá nhân phải có mối liên hệ với các thiết chế đó và thực hiện những chức năng mà thiết chế đó đặt ra Sự tham gia đó là
cụ thể hóa bằng vai trò của mình
Trong gia đình, cá nhân tham gia rất nhiều hoạt động từ hoạt động kinh
tế đến các hoạt động giáo dục con cái, chăm sóc người già Họ luôn sát cánh cùng các thành viên của gia đình để tạo nên cá giá trị vật chất cũng như tinh thần cho gia đình mình Trong quá trình tham gia đó có nghĩa là cá nhân thực hiện vai trò của mình và đáp ứng kỳ vọng của người khác đặt lên mình
Như vậy, sự tham gia xã hội được hiểu ở đây là một quá trình của quần chúng cùng tham gia các hoạt động có mục đích cộng đồng, xã hội Hay nói cách khác, sự tham gia xã hội là quá trinh mà trong đó các cá nhân cùng làm
Trang 35một việc để vượt qua trở ngại bản thân và giành nhiều quyền hạn hơn trong cuộc sống của mình
1.3.4 Khái niệm “Lao động nhập cư”
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình Trong quá trình sản xuất, con người sử công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào Như vậy động lực của quá trình triến kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người Vai trò của người lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói
người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm [14]
Người nhập cư ở đây chỉ quan tâm đến những người thay đổi nơi thực
tế thường trú, tức là số người thực tế thường trú của đơn vị hành chính cấp huyện khác (nơi xuất cư) để nhập cư đến đơn vị hành chính đang nghiên cứu (nơi nhập cư) Khái niệm này không bao gồm những người chuyển đến tạm thời (như đến thăm người thân, đến để du lịch hoặc chữa bệnh,…) hoặc loại
“di chuyển con lắc” (như từ nơi làm việc trở về nhà riêng) Người nhập cư chỉ tính những người của các hộ dân cư, trong năm lịch đã từ một đơn vị hành
Trang 36chính cấp huyện khác nhập cư vào xã/phường/thị trấn đang ở và thực tế đang
là nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ, không phụ thuộc người đó đã hay chưa được ngành Công an cho “nhập” hộ khẩu thường trú tại xã/phường/thị trấn
nói trên [14]
Người lao động nhập cư là những lao động chuyển từ các khu vực nông thôn tới các đô thị (không phân biệt thời gian sinh sống) và không được cấp
hộ khẩu thường trú - giấy đăng ký nhân khẩu Họ di cư từ nông thôn ra đô thị
để lao động, tìm kiếm việc làm mới với mức lương mong đợi để gia tăng thu nhập cho bản thân và gia đình
1.3.5 Khái niệm “Hoạt động đoàn thể”
“Đoàn thể” là tổ chức quần chúng gồm những người có chung quyền lợi và nghĩa vụ, hoạt động vì những mục đích chính trị, xã hội nhất định Khái niệm “Đoàn thể nhân dân” bao gồm 2 từ ghép “Đoàn thể” và “Nhân dân” Đây là khái niệm rộng dùng để chỉ chung cho tất cả các tổ chức quần chúng với các tên gọi khác nhau “Đoàn thể nhân dân” thường là tập hợp đối tượng quần chúng có chung một đặc điểm hoặc một số đặc điểm nhất định, hoạt động theo phương thức tự nguyện, dân chủ nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của đối tượng quần chúng tham gia đoàn thể Các đoàn thể nhân dân được pháp luật công nhận và hoạt động tuân theo pháp luật, theo
Điều lệ, không trái với lợi ích chung của dân tộc [14]
Có nhiều hình thức, loại hình đoàn thể nhân dân Có đoàn thể nhân dân được tổ chức theo cả 4 cấp hành chính, nhưng có đoàn thể nhân dân chỉ có ở cấp Trung ương, ngược lại có đoàn thể nhân dân chỉ tổ chức ở cấp cơ sở Có đoàn thể nhân dân quan hệ hoạt động chỉ ở phạm vi trong nước, song có đoàn
thể nhân dân có quan hệ quốc tế rất rộng rãi [14]
Tuỳ theo đặc điểm, yêu cầu đòi hỏi mà các đoàn thể nhân dân mang tính chất chính trị, xã hội, nghề nghiệp khác nhau Có đoàn thể chính trị như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; có đoàn thể xã hội như Hội Người
Trang 37cao tuổi; có đoàn thể mang tính nghề nghiệp rõ ràng như Liên đoàn Bóng đá, Hội Nhà văn Có đoàn thể nhân dân vừa mang tính chính trị, vừa mang tính
xã hội, lại vừa mang tính nghề nghiệp như Công đoàn, Hội Nông dân Suy đến cùng, đoàn thể nhân dân nào cũng đều phục vụ nhiệm vụ chính trị và đều chịu sự lãnh đạo của Đảng, chịu sự tác động và quản lý của Nhà nước
Khái niệm “Hội quần chúng” về thực chất cũng là tên gọi phổ biến của đoàn thể nhân dân Ngược lại, khi nói “Đoàn thể nhân dân” là đã bao hàm hội quần chúng Tuy nhiên, đoàn thể nhân dân là khái niệm rộng hơn, có tổ chức
và hoạt động chặt chẽ hơn hội quần chúng Có nhiều loại hội quần chúng với các tên gọi cụ thể khác nhau thể hiện cho tính đặc thù của nó (về giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, mục đích hoạt động )
Nhìn chung “Đoàn thể nhân dân”, “Hội quần chúng”, kể cả tổ chức xã hội có thể hình thức tổ chức, phương thức hoạt động khác nhau, nhưng đều hướng đến thực hiện các mục tiêu và vai trò xã hội là: chăm lo, bảo vệ và đáp ứng các nhu cầu, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân; đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho quần chúng; phát huy vai trò làm chủ của quần chúng, động viên quần chúng tuyên truyền và tham gia xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước 1
1.4 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
Phường Phúc Đồng được thành lập năm 2003 trên cơ sở 494,76 ha diện tích tự nhiên và 6.994 người của các thôn Tân Thuỵ, Mai Phúc, Sài Đồng và
tổ dân cư 918 thuộc xã Gia Thụy, huyệnGia Lâm Riêng thôn Gia Thụy của
xã Gia Thụy được sáp nhập với một phần diện tích và dân số của thị trấn Gia Lâm để thành lập phường Gia Thụy
Trang 38
Địa giới hành chính phường Phúc Đồng: Đông giáp các phường Việt Hưng, Sài Đồng; Tây giáp phường Bồ Đề; Nam giáp các phường Long Biên, Thạch Bàn; Bắc giáp các phường Gia Thụy, Việt Hưng
Phường Phúc Đồng có diện tích đất tự nhiên là: 494,76ha trong đó đất nông nhiệp còn 51,5 ha
Diện tích đất thu hồi ngày càng nhanh đan xen nhiều cơ quan xí nghiệp đống trên địa bàn phường như công ty cổ phần đầu tư dịch vụ long biên, siêu thị của nhật, khu công nghệ thông tin Hà Nội, nhà máy nước sạch Hà Nội…
Số hộ dân cư trong toàn phường là : 3332 hộ với số nhân khẩu là: 12.769 nhân khẩu có 18 tổ dân phố
Định hướng phát triển kinh tế: vận động nhân dân trên toàn phường tham gia kinh doanh, dịch vụ bán hàng tại các chợ trên địa bàn phường để phát triển kinh tế tăng thu nhập cải thiện cho gia đình để nâng cao mức sống cho từng gia đình
Tập trung chỉ đạo còn một số đất nông nghiệp tập trung dồn điền đổi thửa để phát triển kinh tế, đưa những cây trồng có năng xuất cao vào canh tác
để đảm bảo đời sống cho nhân dân
Chính sách dành cho người nhập cư:
Tạo điều kiện về công ăn việc làm cho các hộ nhập cư đến
Quan tâm đến các hộ tạm trú, tạo điều cho các cháu được học hành trong các trường trên địa bàn phường
Giới thiệu việc làm cho các hộ đến nhập cư tại phường vào các cơ quan
xí nghiệp đóng trên địa bàn phường
Trang 39CHƯƠNG 2 MỨC ĐỘ THAM GIA HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ CỦA NGƯỜI AO ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI ĐỊA PHƯƠNG CƯ TRÚ
Trong lịch sử cách mạng nước ta, các đoàn thể và tổ chức xã hội đã đóng giữ vai trò quan trọng Các tổ chức này đã động viên, tập hợp các tầng lớp nhân dân trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đấu tranh thống nhất nước nhà Vào thời điểm hiện tại, khi đất nước đang trên đà phát triển hội nhập với thế giới, quá trình đô thị hóa công nghiệp hóa diễn ra một cách mạnh mẽ thì vai trò của đoàn thể càng tỏ rõ vai trò của mình hơn bao giờ hết Thông qua tham gia các hoạt động đoàn thể, cá nhân nhận thức được vai trò, quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong cộng đồng chung Việc tham gia vào hoạt động đoàn thể cũng giúp các cá nhân, gắn kết với nhau, thấu hiểu nhau, từ đó nâng cao khả năng hỏa nhập của cá nhân trong cộng đồng chung
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra chín hoạt động đoàn thể mà người dân nhập cư có thể tham gia tại địa phương nơi mình cư trú:
1 Họp tổ dân phố/xóm
2 Hoạt động bầu cử ở địa phương nơi đang sinh sống
3 Các lễ hội ở địa phương nơi đang sinh sống
4 Các hoạt động văn hóa, du lịch, thể thao của địa phương nơi đang sinh sống
5 Các hoạt động văn hóa, du lịch, thể thao của công ty
6 Các hoạt động quyên góp, từ thiện
7 Tổ, nhóm/câu lạc bộ người nhập cư
8 Tổ chức đoàn thể bất kỳ ở địa phương nơi đang sinh sống
9 Hội đồng hương ở thành phố
Vậy trong các hoạt động kể trên thì người dân nhập cư có được mời tham dự không, chúng tôi đã nhận được kết quả từ những người được hỏi như sau:
Trang 40Biểu đồ 2.1 Mức độ được mời tham gia hoạt động đoàn thể của người
nhập cư tại địa phương cư trú
Nguồn Đề tài “Hòa nhập xã hội của người nhập cư” – Phạm Văn Quyết
Nhìn vào biểu đồ trên ta có thể nhận thấy có sự chênh lệch về việc người lao động nhập cư được mời tham gia các hoạt động Trong đó hoạt động từ thiện người nhập cư nhận được lời mới nhiều nhất là 62,5% Tiếp theo đó là hoạt động liên quan đến lễ hội tại địa phương nơi đang sinh sống (58,2%) và hoạt động bầu cử (52,5%) Các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch của địa phương nới đang sinh sống và của công ty thì người nhập cư cũng không nhận được nhiều lời mời Các hoạt động còn lại thì được mời rất ít Để đánh giá về mức độ tham gia các hoạt động này, chúng tôi chia mức độ tham gia theo thang Likert với các thang điểm như sau:
1 điểm = Thường xuyên tham gia
2 điểm = Thỉnh thoảng tham gia
3 điểm = Hiếm khi
4 điểm = Không bao giờ