Một loạt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước được banhành như: Thành lập Hội Người cao tuổi Việt Nam 1995, ban hành Pháp lệnhNgười cao tuổi năm 2000, thành lập Ủy ban quốc gia
Trang 1QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI GIÀ
TRONG XÃ HỘI ĐẠI NAM THẾ KỶ XIX
Lê Quang Chắn *
1 Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên hợp
quốc đã thông qua 2 công ước quan trọng: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế,
xã hội và văn hóa (ICESCR) và Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (ICCPR) Cùng với Tuyên ngôn toàn cầu thế giới về con người (UDHR) và 2 nghị định thư bổ sung cho 2 công ước năm 1966 đã trở thành Bộ luật quốc tế về con người.
Ngoài phần mở đầu, ICESCR gồm có 5 phần với 31 điều và có hiệu lực thihành từ ngày 30/01/1976 Theo quy định của công ước này, con người có một sốquyền kinh tế, xã hội và văn hóa cơ bản như:
- Quyền dân tộc tự quyết (Điều 1);
- Quyền bình đẳng giữa nam và nữ trên lĩnh vực kinh tế, xã hội (Điều 3);
- Quyền về việc làm (Điều 6);
- Quyền có điều kiện làm việc thuận lợi và công bằng (Điều 7);
- Quyền được thành lập và gia nhập công đoàn (Điều 8);
- Quyền an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội (Điều 9);
- Quyền được bảo vệ và trợ giúp gia đình (Điều 10);
- Quyền được có tiêu chuẩn sống thích đáng (Điều 11);
- Quyền đạt tiêu chuẩn cao nhất về sức khỏe thể chất và tinh thần (Điều12);
- Quyền được giáo dục (Điều 13);
- Quyền về văn hóa, quyền được hưởng lợi ích từ những tiến bộ của khoahọc… (Điều 15)
* Viện Sử học - Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Trang 2Những quyền trên áp dụng cho tất cả các tầng lớp dân cư, trong đó cóngười cao tuổi1 Trong xã hội từ xưa đến nay, nhất là các nước phương Đông,người cao tuổi không chỉ có vị trí, vai trò quan trọng mà còn thuộc lớp người dễ bịtổn thương nhất (cùng với phụ nữ, trẻ em, cô nhi, quả phụ, người tàn tật…) Chonên, người cao tuổi nhận luôn được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội Ủy bankinh tế, xã hội và văn hóa của Liêp hợp quốc đã giành riêng phiên họp thứ 13
(năm 1995) để bình luận về Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của người cao tuổi2
Từ khi trở thành thành viên chính thức của công ước này (ngày24/09/1982), Việt Nam đã tích cực tham gia và triển khai những điều khoản củacông ước này Một loạt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước được banhành như: Thành lập Hội Người cao tuổi Việt Nam (1995), ban hành Pháp lệnhNgười cao tuổi (năm 2000), thành lập Ủy ban quốc gia về người cao tuổi (năm2004), ban hành Nghị quyết về việc xúc tiến xây dựng chương trình hành động
quốc gia về người cao tuổi, đặc biệt Luật Người cao tuổi đã được Quốc hội khoá
XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009 (và có hiệu lực thi hành từ ngày01/07/2010)… đã khẳng định vị thế, vai trò của người cao tuổi trong xã hội Điều
3, Luật Người cao tuổi đã quy định: “Người cao tuổi có các quyền sau đây:
a) Được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khoẻ;b) Quyết định sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý muốn; c) Được ưu tiên khi sử dụng các dịch vụ theo quy định của Luật này và cácquy định khác của pháp luật có liên quan;
d) Được tạo điều kiện tham gia hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục, thểthao, giải trí, du lịch và nghỉ ngơi;
đ) Được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khoẻ, nghề nghiệp và cácđiều kiện khác để phát huy vai trò người cao tuổi;
e) Được miễn các khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội, trừ trường hợp
tự nguyện đóng góp;
1 Thuật ngữ dùng để mô tả người cao tuổi khá đa dạng, gồm người già, người già cả, người cao tuổi, người
có tuổi, thế hệ thứ ba… Ở đây, chúng tôi dùng 2 khái niệm có tên gọi khác nhau là người già (dùng trong thời kỳ phong kiến) và người cao tuổi (trong thời hiện đại) nhưng có nội hàm giống nhau.
2 Bình luận chung số 6: Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của người cao tuổi trong Quyền con người
(tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của các ủy ban công ước Liên hợp quốc), Nxb.
Công an nhân dân, HN, 2010, tr 41.
Trang 3g) Được ưu tiên nhận tiền, hiện vật cứu trợ, chăm sóc sức khỏe và chỗ ởnhằm khắc phục khó khăn ban đầu khi gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc rủi
ro bất khả kháng khác;
h) Được tham gia Hội người cao tuổi Việt Nam theo quy định của Điều lệ Hội;i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật”
2 Trong các nhóm tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội có
nhóm thứ 4 tập trung “tìm hiểu mối quan hệ hai chiều, thuận nghịch, các hình thức
và mức độ biểu hiện, giá trị và ý nghĩa của việc nhận thức mối quan hệ quyền conngười với sử học, đặc biệt là lịch sử tư tưởng và các học thuyết chính trị phápluật”3 Mặc dù sử học là một trong 14 ngành khoa học có đối tượng nghiên cứuliên quan đến quyền con người, nhưng nội hàm của những quyền đó được thểhiện đậm nhạt khác nhau trong tiến trình lịch sử Trong chuyên luận này, chúngtôi tập trung khảo cứu những biểu hiện, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, liên quanđến quyền con người thuộc phạm vi điều chỉnh của ICESCR, trong đó có quyềnkinh tế, xã hội và văn hóa của người già trong xã hội Đại Nam thế kỷ XIX
2.1 Trong xã hội Việt Nam cổ truyền, người cao tuổi luôn luôn được trân
trọng, một mặt vì thuần phong mỹ tục trọng xỉ hơn trọng tước, mặt khác vì họ tích
lũy vốn kinh nghiệm sống phong phú, đa dạng
Lý Thái Tổ là người đầu tiên quan tâm và có chính sách ưu đãi đối với ngườigià Ngay sau khi lên ngôi, mùa Xuân tháng 2 năm Canh Tuất (1010), vị vua đầu
triều Lý đã xa giá đến châu Cổ Pháp yết lăng Thái hậu và "ban tiền và lụa cho các
kỳ lão có thứ bậc khác nhau"4, mở đầu cho truyền thống tốt đẹp lụa tặng già của
nước ta Tháng 12 năm đó, vua lại ban chiếu đại xá cho thiên hạ trong 3 năm và
"những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều tha cho cả"5 Từ
đó trở đi, nhà nước phong kiến các triều đại Lý, Trần, Hồ và đầu thời Lê sơ đã nhiềulần ban thưởng và nêu khen những người già, đặc biệt là vào những dịp đại lễ hay
3 Võ Khánh Vinh (Chủ biên): Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã
hội, Nxb Khoa học xã hội, HN, 2010, tr 12.
4 Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám Cương mục, tập I, Nxb Giáo dục,
HN, 2007, tr 268
5 Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư (dịch theo bản khắc năm Chính Hòa
thứ 18 (1697), tập 1, Nxb KHXH, HN, 1993, tr 242.
Trang 4xa giá của vua về các địa phương6 Khi nhà Lê sơ ban hành bộ Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), việc bảo vệ, chăm sóc người già đã được chú ý và đề cao hơn.
Trong tổng số 722 điều của bộ luật này, có nhiều điều khoản quy định liên quan
đến người già, như: Điều 2 (tội Bất hiếu), Điều 16 (quy định việc chuộc tội bằng tiền), Điều 17 (quy định thể lệ xử tội theo luật người già), Điều 475 (tội lăng mạ ông bà, cha mẹ), Điều 665 (không dùng hình phạt để tra tấn người già, trẻ nhỏ và
người tàn tật) Ngoài ra, còn có những điều khoản đề cập đến việc miễn trừ thuếkhóa, phu phen tạp dịch, cấp khẩu phần ruộng đất nơi thôn dã cho người già7
2.2 Khi nhà Nguyễn được thiết lập (năm 1802), không những kế thừa,
phát huy truyền thống kính trọng, ưu đãi đối với người già mà đã cụ thể hóa bằngnhững chính sách và có những điều được ghi thành những điển lệ Tựu trung lại,trong xã hội Đại Nam thế kỷ XIX, những người già có quyền lợi về:
Kinh tế:
Đối với xã hội nông nghiệp, ruộng đất là tài sản quan trọng bậc nhất của tất
cả các tầng lớp nhân dân, trong đó có những người già Nhận biết điều đó, nămGiáp Tý (1804), vua Gia Long đã định lệ quân cấp công điền công thổ: “Vua chorằng phép quân điền buổi quốc sơ đã có định chế, từ loạn Tây Sơn, đồ bản sổ sáchđều mất bỏ, quan danh không chính, quân hiệu không minh, những bọn hào hữu tự
ý lấn cướp, dân gian phần nhiều có cái nạn không đều Bèn sai đình thần thamkhảo phép cũ, bàn định việc chia cấp theo thứ bậc khác nhau”8 Theo quy địnhtrên, khi tiến hành đo chia ruộng đất, các làng xã cần phải quan tâm đến người già.Nếu như “Khẩu phần thì ở trên Nhất phẩm được 18 phần…” thì “Các hạng dânđinh và lão tật 5 phần rưỡi Các hạng lão nhiêu, cố, cùng 4 phần rưỡi Các hạngtiểu nhiêu, nhiêu tật, đốc phế, 4 phần Con bồ côi, đàn bà góa, 3 phần; con cái bồcôi dẫu nhiều, chỉ cho một người trưởng; vợ góa lấy chồng lại mà lại góa thìkhông có phần ruộng” Không những thế, “Lão nhiêu và quả phụ, tuổi 70 trở lên,thì chiếu khẩu phần cấp thêm cho một phần” Đó là luật lệ của triều đình
Tại các vùng thôn quê, nhiều làng xã có lệ ưu đãi người già bằng việc cấpmột phần ruộng đất Tùy theo tình hình ruộng đất công của mỗi làng xã mà đo chia
6 Vào các năm: Nhâm Ngọ (1042), Giáp Dần (1074), Giáp Dần (1194), Tân Mão (1231), Nhâm Dần (1242), Nhâm Tuất (1262), Quý Mùi (1283), Ất Dậu (1405), Mậu Thân (1428), Kỷ Mùi
(1439)… (thống kê theo sách Đại Việt sử ký toàn thư)
7 Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê), Viện Sử học và Nxb Pháp lý, HN, 1991.
8 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập I , Nxb Giáo dục, HN, 2004, tr 599.
Trang 5số lượng nhiều hay ít Xã Thanh Quang (huyện Hoài Đức, Hà Nội), mỗi lão đến
80 tuổi được làng biếu 02 sào ruộng Thôn Dương Liễu (huyện Thanh Chương,Nghệ An) có lệ biếu đất bãi bồi cho người đỗ đạt và những người già, trong đódành hẳn 1 mẫu ở xứ Lá Cờ để làm phần biếu cho các hương lão (từ 70 đến 90tuổi được 1 phần, 100 tuổi được 2 phần) Thôn Thọ Lão (nay thuộc xã Hoàng Tây,huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) đến trước Cách mạng tháng Tám - 1945 vẫn có lệ:Nhân đinh đến 17 tuổi bắt đầu được nhận ruộng công Người đến 53 tuổi, tuổi lênlão, tuy phải trả ruộng công cho làng nhưng họ được miễn mọi đóng góp và đượclàng cấp cho dưỡng lão điền không phải chịu thuế với các mức: Từ 53 đến 70 tuổiđược cấp 2 sào, 80 tuổi được cấp 4 sào và 90 tuổi được cấp cả 1 mẫu ruộng Tấm
bia Tự Đức Nhâm Tý (1852) dựng ở chùa Bồng Lai (xã Hồng Hà, huyện Đan
Phượng, Hà Nội) cũng cho biết: “Ông già bà cả trong xã, nếu tuổi 70 trở lên vị chimỗi người 1 sào đất bãi, từ 80 tuổ được 2 sào, từ 90 tuổi được 6 sào, người 100tuổi thì được một mẫu để dưỡng tuổi già”
Có những nơi - như ở xã Yên Hưng (huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh)hay thôn Tam Giáp (nay thuộc xã Duy Hải, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) - khi
đo chia ruộng công, dân làng dành quyền ưu tiên cho người có tuổi chọn trướcnhững phần ruộng gần, ruộng tốt, tức là lấy theo thứ tự tuổi tác chứ không phảitheo thứ tự của chức tước, phẩm hàm
Ngoài việc được phân chia một phần ruộng đất, người già trong xã hội ĐạiNam thời Nguyễn, nhất là ở các làng xã, còn được ưu đãi hơn trong việc phân chiatài chính Theo quy định của thôn Mậu Lương (xã Trung, huyện Thanh Oai, HàNôi), xã Bá Khê (huyện Văn Giang, Hưng Yên), xã Lan Khê (Nông Cống, ThanhHóa), xã Bằng Liệt (huyện Thanh Trì, Hà Nội)… thì các hương lão cũng là mộttrong những đối tượng được chia phần từ các khoản thu đặc biệt của làng, như: Từtiền cheo cưới, tiền chôn nhờ đất của làng, tiền nhập xã, tiền xin được trụ trì chùalàng… cho đến tiền cho thả vịt ở đồng làng…
Văn hóa - xã hội:
Trong mọi thời đại, vấn đề kinh tế luôn có tầm quan trọng hàng đầu đối vớimỗi con người, nhưng riêng đối với người già, những vấn đề văn hóa - xã hội lại
có vị trí, vai trò đặc biệt hơn Bởi vì, về kinh tế, người già có thể được con cháuđảm bảo, song quyền lợi về chính trị, văn hóa - xã hội phải do nhà nước và cộngđồng xã hội quy định, thừa nhận
Trang 6a Trước hết, nhà nước xác định vị thế của người già trong xã hội để có những chính sách đãi ngộ phù hợp
Lịch sử đã chỉ ra rằng, từ xưa đến nay, "triều đình phong kiến khi còn anhminh, thịnh trị vẫn tôn trọng truyền thống trọng lão"; nói cách khác, "ở triều đình,các vua hiền, tôi thẳng thường là trọng lão" Kế tục truyền thống đó, các vị vuatriều Nguyễn, đặc biệt là Minh Mệnh, đã có nhận thức sâu sắc rằng: “Trăm tuổi
là kỳ hạn thực là điềm tốt trong nước Người trên mà nghĩ đến người già, thì kẻdưới không dám biếng nhác với cha mẹ, ấy là dạy dân lấy đạo hiếu” NămNhâm Ngọ (1822), vua Minh Mệnh đã hạ lệnh: “Từ nay các quan ở thành,doanh, trấn đều nên lưu tâm tìm hỏi; phàm dân gian có người nào thọ đến 100 tuổitrở lên, cho phép hương, lý kê khai họ, tên, tuổi, quê quán và làm cam kết Quantrấn hạt ấy khai đủ thực trạng và lời xét làm sách tâu, do bộ Lễ tâu lên đợi chuẩncho nêu thưởng, để tỏ người thọ đời thăng bình”9 Đó là cơ sở để vua Minh Mệnh
phân chia những người già trong xã hội Đại Nam thành hai thành phần, là Thọ
quan - những người già làm quan, cả đang tại chức lẫn người đã nghỉ hưu, phục
vụ triều đình - và Thọ dân - những người già trong các xã thôn10 Kèm theo đó lànhững lệ định nêu khen và ban thưởng tiền bạc, gấm lụa, vải theo thứ bậc cao thấp
có khác nhau: "Từ nay các chức quan lớn nhỏ, tuổi 80 trở lên, thì cho đề tâu rõràng, đợi chỉ để thưởng cấp tiền lụa theo thứ bậc: Như quan Nhất, Nhị, Tam phẩm
mà thọ đến 100 tuổi thì thưởng 100 lạng bạc, 10 tấm lụa; từ Ngũ, Lục phẩm thì 80lạng bạc, 8 tấm lụa; Thất, Bát, Cửu phẩm thì 60 lạng bạc, 6 tấm lụa Mệnh phụ thìchiếu phẩm mà giảm 1 phần 3 Đều cấp cho biển ngạch, dựng đình ở cửa làng đểnêu khen Lại cách ngoại gia thêm quan hàm và thưởng thêm ghế, gậy, đồ vặt,gấm, đoạn, vàng, lụa Tới kỳ thì tâu rõ ràng, đợi chỉ để ban cấp Thọ 110 tuổi thìlại thêm 50 lạng bạc, 5 tấm lụa; cứ thêm 10 tuổi thì số tiền lụa lại gấp đôi lên,thưởng cấp hậu thêm Còn như sĩ lưu, hương trưởng mà thọ 100 tuổi thì thưởng 30lạng, vải lụa đều 5 tấm, cũng cho biển ngạch và dựng đình treo biển Đàn ông thọ
100 tuổi thì thưởng 30 lạng bạc, vải lụa mỗi thứ 3 tấm, đàn bà thọ 100 tuổi thìthưởng 20 lạng bạc, lụa vải đều 2 tấm; đều được cấp biển treo ở chỗ ở Trở lên, cứ
9 Nội các triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập IV (quyển 101, phần Phong giáo
II), Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005, tr 461.
10 Những chính sách trọng người già của nhà Nguyễn được ghi thành điển lệ, bởi trong mục
"Phong giáo II", quyển 101, sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ có chép rõ các điều về Nêu
thưởng Thọ quan và Nêu thưởng Thọ dân Tuy nhiên, những Mệnh phụ (vợ các quan sống thọ) và
Trinh thọ (những người dân quê sống thọ là nữ giới) cũng được nêu thưởng.
Trang 7thêm 10 tuổi thì thưởng thêm 10 lạng bạc"11 Minh Mệnh cũng là người ban hành
lệ ân chiếu mỗi khi tổ chức tiết đại khánh ở cung Từ Thọ (mừng thọ Hoàng thái
hậu) Trong những dịp đó, quan - dân - trinh thọ đều được thưởng cấp Khôngnhững vậy, mỗi khi đến kỳ đầu xuân, những người thọ 100 tuổi trở lên ở các địaphương đều được chiểu cấp: Thọ nam mỗi người 2 cân rượu, 3 cân thịt; Trinh thọmỗi người 1 cân rượu, 2 cân thịt, để tỏ ý tốt là hậu đãi người già8 Hơn nữa, nhữngngười được ban biển ngạch, nhưng vì một lý do nào đó, hoặc bị mất hoặc bị thấtlạc, mà thân quyến người ấy trình xin làm lại, triều đình đều cho phép, nhưng niênđại cứ lấy năm cấp lại, chỉ gia thêm hai chữ khắc lại
Nếu như Minh Mệnh là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn có những chínhsách ưu đãi đối với người già thì Tự Đức là vị vua có sự quan tâm đặc biệt Trong
35 năm trị vì (1848 - 1883), ông đã 4 lần cho thay đổi việc ban thưởng đối vớingười già Trong lệ ân ban cho các Thọ quan, Thọ dân năm Nhâm Tý (1852), vua
Tự Đức đã bãi bỏ việc ban thưởng bằng tiền bạc, chỉ ban cho lụa và vải: "Thọquan đã hưu trí: Hạng 70 tuổi trở lên, văn từ Lục phẩm đến Cửu phẩm, võ từ Lụcphẩm đến Cửu phẩm, lụa và vải mỗi thứ 1 tấm; văn từ Tứ phẩm đến Lục phẩm, võ
từ Tam phẩm đến Ngũ phẩm, 1 tấm lụa, 2 tấm vải; văn Nhất, Nhị, Tam phẩm, võNhất, Nhị phẩm, lụa và vải mỗi thứ 2 tấm Hạng 80 tuổi trở lên, văn từ Thất phẩmđến Cửu phẩm, võ từ Thất phẩm đến Cửu phẩm, lụa 1 tấm vải 2 tấm; văn từ Tứphẩm đến Lục phẩm, võ từ Tam phẩm đến Ngũ phẩm, lụa và vải mỗi thứ 2 tấm;văn Nhất, Nhị, Tam phẩm; võ Nhất, Nhị phẩm, lụa và vải mỗi thứ 3 tấm Hạng 90tuổi trở lên, văn từ Thất phẩm đến Cửu phẩm, võ từ Lục phẩm đến Cửu phẩm, lụa
và vải mỗi thứ 2 tấm; văn từ Tứ phẩm đến Lục phẩm, võ từ Tam phẩm đến Ngũphẩm, lụa 2 tấm vải 3 tấm; văn Nhất, Nhị, Tam phẩm, võ Nhất, Nhị phẩm, lụa 3tấm, vải 4 tấm Hạng 100 tuổi trở lên, văn từ Thất phẩm đến Cửu phẩm, võ từ Lụcphẩm đến Cửu phẩm, lụa và vải mỗi thứ 3 tấm; văn từ Tứ phẩm đến Lục phẩm, võ
từ Tam phẩm đến Ngũ phẩm, lụa 3 tấm, vải 4 tấm; văn Nhất, Nhị, Tam phẩm, võNhất, Nhị phẩm, lụa, vải mỗi thứ 4 tấm Dân thọ: Hạng 100 tuổi trở lên, lụa 2 tấmvải 3 tấm; hạng 90 tuổi trở lên, lụa 1 tấm vải 2 tấm; hạng 80 tuổi trở lên lụa và vảimỗi thứ 1 tấm; hạng 70 tuổi trở lên vải 2 tấm"9 14 năm sau - năm Bính Dần(1866) - vua Tự Đức lại khôi phục việc thưởng tiền bạc, kèm theo đó là banthưởng thêm những tấm sa tàu, sa nam, lụa, vải: "Quan thọ đến 100 tuổi, Nhấtphẩm thưởng 70 lạng bạc, Nhị phẩm 60 lạng, Tam phẩm 50 lạng, mỗi người 5 tấm
11 Đại Nam thực lục, Sđd, tập II, tr 257
Trang 8sa tàu và 1 tấm biển, Nhà nước làm nhà riêng cho, cứ tăng 10 tuổi được thêm 20lạng bạc và 2 tấm sa tàu, trở xuống đến Bát, Cửu phẩm cũng thế; quan Tứ, Ngũ,Lục phẩm, thưởng bạc 40 lạng, sa nam 4 tấm, 1 biển, Nhà nước làm nhà riêng cho;Thất, Bát, Cửu phẩm thưởng bạc 30 lạng, sa nam 3 tấm và 1 tấm biển, Nhà nướckhông làm nhà riêng cho, dưới cũng thế; những người học trò cùng người đàn anhtrong làng, sống 100 tuổi thưởng bạc 15 lạng, lụa 1 tấm, vải 2 tấm, cứ thêm 10 tuổithưởng thêm 5 lạng bạc, dưới cũng thế; dân đàn ông, thưởng bạc 12 lạng, lụa vảiđều 1 tấm Thọ 90 tuổi (từ đây trở xuống, nguyên trước do đặc cách ban ơn, chưa
có lệ định đến nay mới vâng chỉ chước định), quan Nhất phẩm thưởng bạc 60 lạng,Nhị phẩm 50 lạng, Tam phẩm 40 lạng, sa tàu đều 4 tấm, văn giai Tứ, Ngũ phẩm và
đã bổ làm quan phủ, huyện, châu, võ giai Tứ phẩm đều thưởng bạc 20 lạng, sanam đều 3 tấm Thọ 80 tuổi, Nhất phẩm thưởng bạc 50 lạng, Nhị phẩm 40 lạng,văn quan Tam phẩm 30 lạng, sa tàu đều 3 tấm; văn Tứ phẩm, võ Tam phẩm đềuthưởng bạc 15 lạng, sa nam đều 2 tấm Quan và dân sống đến 100 tuổi, 5 đời cùngcòn sống, về cách thưởng thọ 100 tuổi sẽ theo khoản trước mà làm, không ở lệnày, nếu cùng báo lên thì được thưởng cả hai dưới đây: Nhất, Nhị, Tam phẩmthưởng bạc 20 lạng, sa tàu 4 tấm, lụa vải màu đều 4 tấm, 1 tấm biển, Nhà nướclàm nhà riêng cho, dưới cũng thế; Tứ, Ngũ, Lục phẩm thưởng bạc 15 lạng, sa nam
3 tấm, lụa mùi và vải đều 3 tấm; Thất, Bát, Cửu phẩm thưởng bạc 10 lạng, sa nam
2 tấm, lụa vải màu đều 2 tấm; bọn học trò hương trưởng thưởng bạc 8 lạng, lụa vảimàu đều 2 tấm; người dân đàn ông, thưởng bạc 6 lạng, lụa màu 1 tấm, vải màu 2tấm Người thọ 70, 80, 90 tuổi trở lên, 5 đời cùng còn sống, quan Nhất, Nhị, Tamphẩm thưởng bạc 15 lạng, sa tàu 3 tấm, lụa vải màu đều 3 tấm, 1 tấm biển, Nhànước làm nhà riêng cho (dưới cũng thế); quan Tứ, Ngũ, Lục phẩm thưởng bạc 10lạng, sa nam 2 tấm, lụa vải màu đều 2 tấm; Thất, Bát, Cửu phẩm thưởng bạc 8lạng, sa nam 1 tấm, lụa màu 1 tấm, vải màu 2 tấm, không có nhà riêng (dưới cũngthế); bọn học trò, hương trưởng thưởng bạc 6 lạng, lụa màu 1 tấm, vải màu 2 tấm;người dân đàn ông thưởng bạc 5 lạng, lụa vải màu đều 1 tấm"10 Đặc biệt, để ghinhận sự kiện trọng đại đó, nhà vua ra lệnh phải làm tấm biển thật nguy nga, lộnglẫy, chung quanh được chạm triện rồng hoa, sơn son thếp vàng; mặt trước khắc 2
chữ Sắc tứ, ở giữa khắc ngang 2 chữ Thọ quan to, hàng dưới khắc các chữ họ tên
viên quan ấy; người ở tỉnh, phủ, huyện, tổng, xã nào, sống 100 tuổi, đặc ân banthưởng để nêu điềm lành về người ở đời thăng bình, sau khắc niên hiệu, năm,tháng, ngày Đồng thời, nhà vua cũng cho phép bộ Công dựng một tòa nhà riêng
Trang 9cho ở và để treo tấm biển đó Đối với những gia đình có người thọ 100 tuổi, lại cóngũ đại đồng đường thì cũng cho khắc một tấm biển chung quanh chạm triện rồng
và hoa, sơn son thếp vàng, mặt trước khắc 2 chữ Sắc tứ, ở giữa khắc ngang 4 chữ Dịch diệp diễn tường to, dưới khắc họ tên người ở tỉnh, phủ, huyện, tổng, xã nào
sống 100 tuổi, năm đời cùng còn sống, phía sau cũng khắc niên hiệu, năm, tháng,ngày Tuy nhiên, vì ngân khố triều đình eo hẹp, vận mệnh của dân tộc đang đứngtrước nguy cơ bị quân Pháp chiếm đóng toàn bộ, nên năm Quý Mùi (1883), vua
Tự Đức, mặc dù có chiểu theo lệ của năm Bính Tý (1876), nhưng số tiền bạc, sa
bắc, sa nam, trừu lụa nam phải giảm đi một nửa12
Bên cạnh những chính sách nêu khên trên, các vị vua triều Nguyễn còn cónhiều chế tài pháp luật nhằm bảo vệ thân thể, sức khỏe và tinh thần của người già
Trong phần Luật về tội danh của nhà Nguyễn, người nào tuổi từ 70 tuổi trở lên, 15
tuổi trở xuống và người có bệnh tật suy yếu không chữa được mà phạm vào tội tùphải lưu trở xuống, cho thu tiền chuộc tội Những người từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổitrở xuống, tuy có phạm tội phải xử tử cũng không bắt tội (nếu từ 90 tuổi trở lên màphạm vào tội phản nghịch thì không được dùng luật này); nếu người nào xui làm,thì bắt kẻ xui làm ấy; nếu có tang vật phải đền lại, thì người nhận tang vật phảiđền13 Những người già có phạm tội, phải tù đày thì cũng không được dùng hình
để tra tấn: "Phàm những người nào dự vào hàng bát nghị (được ưu tiên vì lễ) vàngười già 70 tuổi trở lên (xót thương tuổi già), ít tuổi từ 15 trở xuống (vì lòng yêumến trẻ) cùng là người có bệnh tật không chữa được (thương kẻ tàn phế), nếu cóphạm tội, quan tư cũng không nên dùng đồ hình cụ tra tấn, đều căn cứ theo các lờinhân chứng mà định tội Nha môn nào trái luật này, chiếu theo tội cố ý hay lầm lỡbuộc tội cho người mà nghị tội Còn những người theo luật được ẩn giấu cho nhau(vì nể chỗ tình thân) và người già 80 tuổi trở lên, trẻ con từ 10 tuổi trở xuống vàngười có bệnh tật không chữa được đều không cho làm chứng Nha môn nào tráithế xử đánh 50 roi"14 Danh dự và phẩm giá của người già cũng được quan tâm đặc
biệt Điều 253 (Mưu giết ông bà), Điều 288 (Đánh ông bà, cha mẹ), Điều 298 (Mắng nhiếc ông bà, cha mẹ), Điều 300 (Thê thiếp mắng cha mẹ của người chồng
12 Đại Nam thực lục, Sđd, tập VIII, tr 599 - 600
13 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Sđd, tập VI (quyển 180, phần Luật về các tội danh và các lệ), tr 62 - 63 Điều 21 (Nhận giá tiền chuộc đối với người già, trẻ em, người tàn phế) của bộ
Hoàng Việt luật lệ.
14 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Sđd, tập VI (quyển 202, phần Luật hình - Đoán ngục thượng), tr 559 - 560 Điều 369 (Già trẻ không khảo hỏi) của bộ Hoàng Việt luật lệ.
Trang 10đã chết), Điều 307 (Cháu con sai phạm lời răn dạy của ông bà), Điều 335 (Vu cáo cha chồng gian dâm) của bộ Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) đã thể hiện rõ
điều này
b Trong khi đó, ở các làng xã, việc ưu đãi đối với người già được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Đầu tiên là việc lên lão và mừng thọ Đây là một phong tục phổ biến ở hầu
khắp các làng xã Mỗi làng xã lại có những quy định độ tuổi vào lão hay lên lãokhác nhau: “Ở làng Ngọc Than (huyện Quốc Oai, Hà Nội), nếu là chức sắc 45tuổi, đối với thường dân 50 tuổi được lên lão Nhiều lệ làng quy định, đàn ông 53,
55, 57, 60 tuổi mới được lên lão Song, mức quy định phổ biến là đàn ông 50, 55,
60 tuổi được vào lão (gia lão), lên lão, xuất lão vô sự”15 Muốn được công nhậnvào giới lão, các cụ phải có lời, có lễ trình làng, phải nộp tiền vọng hay khao lãotheo quy định của hương ước làng Khoán ước xã Bằng Liệt (huyện Thanh Trì, HàNội) quy định về lệ lên lão như sau: “Nam giới đến tuổi 50 có trầu đến trình làng,được nhập vào sổ hương lão, cho vào lão hạng, chỉ còn chịu một nửa tiền dung,điệu và ngoại tiền16, còn các việc sưu dịch vẫn như cũ Đến 55 tuổi, có lợn, có xôi,rượu kính xã, thì được xếp vào loại lão trưởng, các tiền dung, điệu, sưu dịch đềuđược miễn, chỉ còn phải chịu một nửa ngoại tiền Đến 60 tuổi có trầu trình làng thìxếp vào lão nhiêu, được miễn cả ngoại tiền”
Sau khi nộp tiền vọng và khao lão, tuy tốn kém, nhưng quyền lợi của nhữngngười lên lão rất nhiều Quyền lợi đầu tiên là được giảm bớt, tiến tới miễn hẳn mọisưu thuế, phu phen, tạp dịch Hương lệ năm 1845 của xã Lan Khê (Nông Cống,Thanh Hóa) cho biết: “Từ 50 tuổi trở lên được miễn trừ sai phái các việc công, việc
đê điều Từ 60 tuổi trở lên được miễn trừ thuế thân một nửa Từ 70 tuổi trở lên đượcmiễn hoàn toàn” Khoán lệ năm 1827 của thôn Ngọc Mạch (xã Hương Canh, TừLiêm, Hà Nội) quy định: Người nào 50 tuổi lên lão hạng, tiền dung chỉ còn nạp mộtnửa; đến 55 tuổi mới được đem 1 quan tiền, 1 mâm xôi vọng nhập hương lão, sau
đó được miễn tất cả tiền dung và các sưu sai tạp dịch khác Có nơi như ở thôn BànThạch (xã Thái Nhã, Thanh Chương, Nghệ An), việc phân bổ sưu dịch trên dướiđều chịu công bằng, chỉ trừ các lão hạng từ 70, 80 tuổi trở lên Khoán lệ năm 1856của xã Trung Cần (huyện Thanh Chương, Nghệ An) quy định việc tuần phòng ban
15 Vũ Duy Mền, Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2010, tr 231.
16 Ngoại tiền, có thể là những món tiền phải nộp ngoài tiền dung, tiền điệu theo quy định.
Trang 11đêm trong xã thì mọi người dân đều phải tham gia cho đến tuổi 60, trên 60 mớiđược miễn.
Cũng qua việc khao lão cộng với việc không có điều gì sai trái với hươngước hay phép nước thì các cụ sẽ được dân làng công nhận là lão nhiêu, “hương lãomới mừng lão, mừng thượng thọ theo như lệ làng đặt ra” Thực chất của lễ mừng
thọ là đáp lại lễ khao của các cụ ở làng, đồng thời thể hiện phong tục kính già già
để tuổi cho của dân tộc ta Thông thường, cứ ngày mùng 7, mùng 8 tháng Giêng,
vào ngày khai hạ, các làng xã tổ chức mừng thọ các lão ông Lệ mừng thọ, có nơiđơn giản chỉ là một đôi câu đối mừng (xã Nhân Cương), có nơi chỉ có 2 quan tiềnmừng (như ở thôn Vân Châu, huyện Kim Bảng, Hà Nam), chiếc áo vải điều (thônThọ Toán, huyện Gia Lộc, Hải Dương), áo và lụa (xã Nam Kim Đông)… Cónhững nơi tổ chức lễ này rất chu đáo, như ở thôn Nguyễn Trung (xã Đa Ngưu,Văn Giang, Hưng Yên), đối với lão 90 và 100, ngoài lễ mừng trướng và 20 quantiền, thôn còn tổ chức cả một đêm ca xướng mừng thọ Tuổi thọ càng cao, lễ mừngcàng lớn, đó là quy định của làng Trung Phường: Kỳ lão có phẩm vọng đến 60tuổi thì làng đem rượu ngon đáng giá 1 quan đến mừng Đến 70 tuổi thì thêm 1quan tiền, 1 đôi câu đối bằng giấy hồng điều Đến 80 tuổi thêm 1 áo mịn, 3 quantiền Đến 90 tuổi thêm áo vải quyến mịn và 5 quan tiền Thọ 100 tuổi, thêm áo vảiquyến đỏ và 10 quan tiền Ở thôn Phố Đông (xã Nam Kim Đông, Thanh Chương,Nghệ An), người lên lão 70 tuổi mừng 2 quan, lên lão 80 mừng 4 quan, lên lão 90mừng 10 quan tiền và 2 vuông vải đỏ may áo; lên lão 100 tuổi, tiền mừng 20 quan
và 1 tấm lụa bạch Ở một số nơi khác, dân làng còn tổ chức nghi thức đón lão ra
dự lễ yến lão tại đình làng cho trang trọng như ở làng Trung Phường, thôn BànThạch và Lai Nhã của xã Thái Nhã, xã Thịnh Đại, xã Quảng Xá…
Ở một số làng xã còn có sự phân biệt thân phận của các lão, giữa lão sang với lãohèn, giữa quan tước với dân hội, giữa kỳ lão với hương lão… Sự phân biệt này được thểhiện rõ ràng qua những quy định của xã Vũ Liệt (Thanh Chương, Nghệ An):
70 Câu đối, trầu rượu và 3
quan tiền
Câu đối, trầu rượu và
2 quan tiền
Câu đối và trầu rượu
80 Mừng gấp bội Mừng gấp bội Câu đối, trầu rượu và
2 quan tiền
Trang 1290 và 100 Mừng gấp bội Mừng gấp bội Gấp bội
Sự khu biệt giữa thọ quan với thọ dân cũng được một số làng áp dụng.Hương ước năm 1871 của xã Đô Lương (Nghệ An) có ghi: Thọ quan 80 tuổi được
xã mừng trướng và trầu rượu đáng giá 20 quan Thọ dân 100 tuổi được mừng liễn,trầu rượu đáng giá 5 quan
Bước vào lão hạng, vị trí của những người già có sự thay đổi lớn, đặc biệt
tại chốn đình trung Thông thường, vị thứ đình trung hoặc dựa trên nguyên tắc dĩ
xỉ lệ tọa (căn cứ theo tuổi tác mà ngồi) hoặc dựa vào chức phẩm và học vị Càng
về sau, vị trí của chức phẩm, học vị ngày càng lớn Chốn đình trung làng ĐôngNgạc (huyện Từ Liêm, Hà Nội) được chia làm 10 hàng (mỗi bên 5 hàng) thì 2hàng trên dành cho quan viên, hương lão, thôn trưởng; 8 hàng còn lại là chỗ ngồicủa tám giáp Quy định năm 1870 của xã Hoành Sơn cho biết: Trước tiên là đạikhoa và các quan Bố (chính), Án (sát) trở lên rồi mới đến Cử nhân và các quanphủ huyện, quan văn võ từ tứ phẩm, rồi đến Tú tài và các viên Giáo thụ, Huấn đạo,quan võ từ ngũ phẩm; dưới nữa là Giám sinh, Cai và Phó tổng, Kỳ lão từ 70 tuổitrở lên, rồi mới đến thí sinh, khóa sinh Trật tự chỗ ngồi tại đình làng Lai Nhã(tổng Vũ Liệt) là: Gian giữa chiếu trên là đại khoa và cử nhân, chiếu dưới là chỗ tútài Gian bên trái là của thí sinh, hương đồ, con cháu những người đậu đạt cáckhoa trước Gian bên phải là chỗ ngồi của hương hào, hương sắc, dân hạng Hay ởđình làng Bá Khê những khi yến ẩm, hội họp thì bên tả dành cho quan viên, sắcmục, lý trưởng còn bên hữu là chỗ của trùm trưởng, hương lão Đặc biệt, tại xãBằng Liệt (huyện Thanh Trì, Hà Nội) lại có sự phân định rạch ròi thành 2 hàng ởchốn đình trung: Một bên là thứ tự quan tước và hàng đối diện lấy tuổi tác làmtrọng Vị thứ ở chốn đình trung của các lão cũng liên quan mật thiết đến phần biếu
và một số quyền lợi vật chất khác Đó là một vinh dự lớn của họ, bởi rằng ai cũng
có tư tưởng một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp Trong những dịp cỗ bàn
tại đình làng như lệ khao thành đinh, lệ khao lão, khao vọng đỗ đạt hay các kỳ lễtiết trong năm như kỳ phúc, vào hạ, thượng điền…, những người trọng vọng tronglàng, xã như quan viên, sắc mục, hào lý, hương lão, lão nhiêu… đều nhận đượcphần biếu
Thứ đến là một số quyền lợi về chính trị, xã hội và tôn giáo của các lão
làng Khi khảo cứu về tổ chức quản lý xã thôn cổ truyền, tác giả Vũ Huy Phúc đã
Trang 13tổng kết: Về đại thể, những người nắm quyền xã thôn theo tập quán thiên tước,bao gồm:
- Tiên chỉ và thứ chỉ: Tiên chỉ là người nhiều tuổi nhất làng, không kể trình
độ học vấn và tình hình sức khỏe như thế nào Thứ chỉ là người cao tuổi thứ nhìtrong làng Hai nhân vật này có toàn quyền quyết định mọi việc trong làng
- Các bô lão và quan viên Bô lão bao gồm tất cả các cụ ông từ 60 tuổi trởlên, còn quan viên là những cụ từ 59 tuổi trở xuống (thường số lượng là 12 người)
- Các lý dịch, gồm Lý trưởng và Phó lý
- Các bàn ba (tức những người kế tiếp của quan viên ở trên), thường có 18người17 Nếu theo mô hình này, người già có địa vị ưu đẳng trong làng xã Nhữnglàng xã nào tuân theo mô thức vương tước thì người già chỉ đóng vai trò tư vấn là chủyếu, nhất là trong việc ổn định, duy trì và phát huy thuần phong mỹ tục của làng xãmình
Theo khoán ước của một số làng xã, các lão còn tham gia vào việc hòa giải
và xử những vụ kiện cáo tại địa phương Xã Lương Khê (huyện Lý Nhân, HàNam) có quy định: Trong dân, ai có việc gì bất bình thì trình trưởng lão để giảiquyết ổn thỏa, không được tự tiện đánh chửi nhau ầm ĩ Ở thôn La Xá (huyệnThanh Miện, Hải Dương), hương lão là người cùng với khoa mục, lý trưởng,hương hào giữ quyền xét xử các việc kiện cáo trước khi đương sự kêu lên quan
Đặc biệt, trong việc tế tự, thực hành các nghi thức tôn giáo tại chốn đìnhtrung, các lão thường đóng vai trò chủ chốt Ở xã Hoa Khê (Quỳnh Côi, TháiBình) trước đây, khi tế lễ, thường có 16 cụ tham dự, cụ cao tuổi nhất làm mạnhbái Ở xã Dưỡng Hòa (Kim Bảng, Hà Nam), tương truyền là trang ấp của TrầnKhánh Dư, hàng năm đến ngày 24 tháng Giêng dân làng mở hội, ngược được cửđọc văn tế là cụ cao tuổi nhất và có uy tín trong làng Hay ở xã Bằng Liệt, mộtnăm có 4 kỳ đại tế, thì vị chủ tế bao giờ cũng là hương lão của giáp Đông, 4 giápcòn lại chọn ra 4 vị hương lão làm bồi tế Càng về sau này, vai trò chủ tế đượcchuyển dần sang những quan viên và những người có phẩm hàm, học vị Lệ cáclàng Trung Phường, thôn Kim Hoàng (xã Vân Canh), thôn Dương Phố, thôn BảoNham, xã Trung Cần… có quy định rõ về điều này
17 Vũ Huy Phúc: “Tổ chức quản lý xã thôn - Chức năng và tính chất” trong Nông thôn Việt Nam
trong lịch sử, tập II, Sđd, tr 21 - 22.
Trang 143 Khi khảo cứu về người già trong xã hội Đại Nam thế kỷ XIX, có một
thực tế rõ ràng rằng, số lượng quan viên và dân chúng sống thọ, đạt đến tuổi kì
điệt (70, 80 tuổi), kì di (100 tuổi trở lên) là rất nhiều
3.1 - Thọ quan:
Ngay sau khi ban chỉ dụ nêu thưởng cho Thọ quan và Thọ dân năm Quý
Mùi (1823), 02 Thọ quan đầu tiên được nêu thưởng là Nguyễn Long và Đặng Đức
Huy Nguyễn Long, người trấn Phú Yên, nguyên là Khâm sai Chưởng doanh
chánh Nhất phẩm Tuy chỉ thọ 83 tuổi, nhưng được ân chuẩn theo lệ thưởng của
quan Nhất, Nhị, Tam phẩm 100 tuổi trở lên, với số tiền thưởng là 50 lạng bạc, 5
tấm lụa Đặng Đức Huy, người trấn Bình Định, nguyên là Đốc học, thọ 81 và được
thưởng bạc 20 lạng, lụa 2 tấm, phái viên mang đến tận nhà phụng hành ban cấp
Từ đó trở đi, vua giao cho bộ Lại và trưởng quan các bộ, viện, tự, giám, nha, ty
kê khai đầy đủ họ, tên, tuổi những Thọ quan để chuyển sang bộ Lễ tâu lên đợi
chuẩn cho nêu thưởng Cụ thể:
10 Lưu Văn Diệc Quảng Bình 10 lạng bạc, 1 bộ áo
11 Trần Văn Cúc Thừa Thiên 15 lạng bạc, 1 bộ áo
Trang 15(1826) 13 Nguyễn Văn Toản Quảng Ngãi 80 30 lạng bạc
16 Trần Phúc Mưu Phú Yên 10 lạng bạcĐinh Hợi
21 Phan Ngọc Dũng Quảng Bình 10 lạng bạc, 1 bộ áo
22 Dương Đình Quế Nghệ An
24 Lê Trọng Lãng Hải Dương 10 lạng bạcTân Mão
30 Trần Thiêm Tải Hải Dương 15 lạng bạc
Trang 16Kỷ Dậu
(1849)
màuNhâm Tý
Quý Dậu
(1873)
38 Lê Văn Thạc Thanh Hóa 91
Những quan viên sống thọ lại đương chức thì càng được triều đình nhà
Nguyễn quan tâm đặc biệt hơn Đó là trường hợp của kì lão đại thần Vũ Xuân
Cẩn Vì đã từng làm quan trải 4 triều, tính tình cẩn thận, thuần trung, tuổi đến 80
hãy còn tại chức; cho nên ngày 14 tháng 10 là chính đến kỳ mừng thọ 80 tuổi của
khanh ấy, vua Tự Đức đã gia ân cho 1 cái biển vàng ngự bút 4 chữ Hy triều kỳ
thạc (Bậc lão thành danh vọng ở triều đình); 2 bài thơ ngự chế 9 tiết, 1 cây gậy
cưu, 1 cái mục kích bằng thủy tinh vàng tía, 80 lạng bạch kim, 6 tấm lụa màu, 1 bộ
đồ uống, 1 bộ đồ uống rượu, 3 chiếc đồ sứ, 1 hộp chè ngon, 5 cốc uống rượu Tây
Chuẩn phái cho Quản thị vệ là Tôn Thất Thường, ấn quan Nội các là Nguyễn Văn
Phong mang các vật đến truyền chỉ khen thưởng cho viên quan ấy
Riêng đối với lão thần Tạ Quang Cự, vua Tự Đức cũng xuống dụ rằng:
Viên Đô thống Chưởng phủ sự ở phủ Đô thống Trung quân, tước Vũ Lao hầu Tạ
Quang Cự, làm quan trải 4 triều, có công rõ rệt, tuổi thọ 80, tinh thần còn quắc
thước Ngày 21 tháng này (tháng 10), chính đến ngày mừng thọ, bèn gia ơn
Trang 17chuẩn cho 1 cái biển vàng có ngự bút Lão phúc nguyên huân (Già phúc công
đầu); 1 bài thơ ngự chế 9 tiết, 1 cây gậy cưu, 1 cái mục kích bằng thủy tinh vàngtía, 80 lạng bạch kim, 6 tấm lụa màu, 1 bộ đồ uống chè, 1 bộ đồ uống rượu, 3chiếc đồ sứ, 1 hộp chè ngon, 5 cốc uống rượu Tây Chuẩn cho Quản thị vệ làTrần Kim và ấn quan Nội các là Trần Mẫu mang các vật đến truyền chỉ khenthưởng18 Đến tháng 3 năm Bính Tý (1857), Tạ Quang Cự được vua chuẩn y chonghỉ việc và được ban thêm 5 lạng nhân sâm vua dùng, 15 tấm lụa, 100 lạng bạc
và mũ áo triều chuẩn cho đem theo về; hàng năm vẫn cấp cho nửa lương đểdưỡng lão19
Trong số nhiều Thọ quan, chính sử có chép về hai người thọ 100 tuổi Một
là Ty quan ở Cục Mộc tượng Nguyễn Văn Nhuệ, vì là quan viên tòng Cửu phẩmhưu trí, nên vua Thiệu Trị đã gia ân cho thưởng thụ Bát phẩm cách hộ, lại thưởngcho 60 lạng bạc, 1 tấm lụa, địa phương sở tại dựng làm phường biển (ngôi nhàdựng lên để biển ngạch của vua ban thưởng); đầu xuân cấp cho rượu thịt để tỏ ýtốt ở triều đình hậu dưỡng người già Hai là Nguyễn Văn Ninh, nguyên là Thôngphán tỉnh Bắc Ninh, vì thọ 100 tuổi, nên được vua Tự Đức đặc cách ban cho 50lạng bạc, 5 tấm sa nam, ban biển Thọ quan và dựng nhà để treo biển
3.2 - Thọ dân:
Năm Nhâm Ngọ (1822), vua Minh Mệnh đã xuống ân chiếu cho các địaphương: Những bậc kì lão 100 tuổi trở lên ban cho 3 lạng bạc, 1 tấm lụa; 90 tuổi trởlên ban thưởng 2 lạng bạc, 1 tấm vải; 80 tuổi trở lên cho 1 lạng bạc, 1 tấm vải; 70tuổi trở lên cho 1 tấm vải Cũng trong năm đó, vua đã chuẩn y lời tâu nghị thưởngcho người đàn bà sống thọ ở Thanh Hóa là Hoàng Thị Điệp 20 lạng bạc, ban cho 1
biển ngạch (ở giữa khắc 2 chữ lớn Trinh thọ, mé trên khắc 2 chữ Sắc tứ, ở dưới ghi
niên hiệu, ngày, tháng; chung quanh chạm trổ mây hoa, sơn son thếp vàng) Đặcbiệt, năm 1823, khi Minh Mệnh ban dụ chỉ nêu thưởng cho Thọ quan và Thọ dân,thì các địa phương dâng danh sách Thọ dân từ 100 tuổi trở lên có đến hơn 100người, trong đó: Quảng Trị, Thọ nam 9 người, Trinh thọ 24 người; Quảng Bình,Thọ nam 1 người, Trinh thọ 2 người; Quảng Nam, Thọ nam 27 người, Trinh thọ 10
18 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Sđd, tập IV (quyển 101, phần Phong giáo II), tr 461 Đại Nam thực lục, Sđd, tập VII, tr 227 - 228.
19Đại Nam thực lục, Sđd, tập VII, tr 496.