Tuy nhiên do một số nguyên nhân chủ quan như chưa có chiến lược cụ thể trong quá trình nghiên cứu, sự thách thức về chi phí đầu tư, nguồn lực phát triển nghiên cứu...và một số nguyên nhâ
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
KHOA LƯU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐẾN CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, nhóm em đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ Ban lãnh đạo cùng thầy cô trong Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng đã giúp đỡ nhóm em trong việc nghiên cứu tìm kiếm tài liệu và học hỏi kinh nghiệm để chúng em hoàn thiện công trình nghiên cứu khoa học
Trước hết, nhóm em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Nguyễn Thùy Linh – giảng viên hướng dẫn khoa học đã luôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn nhóm trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Nhóm em xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng cùng toàn thể các thầy cô công tác trong khoa đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ nhóm em trong quá trình học tập và nghiên cứu Tuy nhiên, vì điều kiện về năng lực nghiên cứu khoa học của chúng em còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, các nhà khoa học để bài nghiên cứu của nhóm em được hoàn thiện hơn
Nhóm em xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài “Tác động của chuyển đổi số đến chất lượng học tập
của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội” là một
công trình nghiên cứu của nhóm dưới sự hướng dẫn của giảng viên: ThS Nguyễn Thị Thùy Linh Ngoài ra, không có bất cứ sự sao chép nào của người khác Đề tài
là sản phẩm mà nhóm em đã nỗ lực nghiên cứu trong quá trình học tập tại trường Các thông tin sử dụng phân tích trong đề tài kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực, do nhóm tự tìm hiểu phân tích một cách khách quan và có nguồn gốc rõ ràng Nhóm em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu như có vấn đề xảy ra
Hà Nội, Ngày tháng 4 năm 2023
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Sừng Thanh Xuân
Trang 4DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
trực tuyến với số lượng lớn)
QĐ-BG&ĐT Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 5Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ sinh viên các khóa tham gia khảo sát về tác động
của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa QTVP trường ĐHNVHN
26
Biểu đồ 2.2 Tầm quan trọng của chuyển đổi số đối với chất lượng
học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường ĐHNVHN
28
Biểu đồ 2.3 Mức độ đồng ý chuyển đổi số có tác động tích cực đến
việc nâng cao tinh thần tự giác học tập của sinh viên
30
Biều đồ 2.4 Mức độ đồng ý chuyển đổi số có tác động tích cực đến
khả năng mở rộng nguồn học liệu
32
Biều đồ 2.5 Mức độ đồng ý chuyển đổi số có tác động tích cực đến
việc làm thay đổi trải nghiệm học tập
33
Biều đồ 2.6 Mức độ đồng ý chuyển đổi số có tác động tích cực đến
việc làm thay đổi phương pháp giảng dạy
35
Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ sử dụng thiết bị học trực tuyến của sinh viên
Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội
37
Biểu đồ 2.8 Mức độ sử dụng công cụ, phần mềm hỗ trợ dạy học trực
tuyến của giảng viên và sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội
40
Trang 6DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ lệ tằn suất giảng viên, sinh viên Khoa Quản trị văn
phòng bị ảnh hưởng của đường truyền
38
Bảng 2.2 Mức độ hài lòng của giảng viên, sinh viên Khoa Quản
trị văn phòng về phần mềm triển khai nền tảng học trực tuyến
39
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 4
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG 5
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu: 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 7
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4.1 Mục đích nghiên cứu: 7
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 8
5 Giả thuyết nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
6.1 Phương pháp điều tra xã hội học: 8
6.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp 8
6.3 Phương pháp tiếp cận hệ thống: 9
6.4 Phương pháp tổng kết thực tiễn 9
7 Đóng góp của đề tài 9
7.1 Đóng góp về mặt lý luận 9
7.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 9
8 Bố cục của đề tài 10
Chương 1 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản 11
1.1.1 Chuyển đổi số 11
1.1.2 Chất lượng học tập 12
1.2 Vai trò của chuyển đổi số chất lượng học tập 13
1.3 Tác động của chuyển đổi số đến chất lượng học tập của sinh viên 14
Trang 81.3.1 Tác động tích cực của chuyển đổi số đến chất lượng học tập của sinh
viên 14
1.3.2 Tác động tiêu cực của chuyển đổi số đến chất lượng học tập của sinh viên 16
1.4 Hình thức chuyển đổi số 18
1.5 Điều kiện đảm bảo chuyển đổi số trong việc nâng cao chất lượng học tập của sinh viên 19
1.6 Quy trình chuyển đổi số của trường đại học 21
Tiểu kết: 24
Chương 2: 25
THỰC TRẠNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 25
2.1 Khái quát về sinh viên Khoa quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội 25
2.2 Giới thiệu chung về tỷ lệ sinh viên các khóa tham gia khảo sát tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên 26
2.3 Thực trạng về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng 27
2.3.1 Tầm quan trọng của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng 28
2.3.2 Tác động tích cực của chuyển đối số đến chất lượng học tập của sinh viên 30
2.3.3 Tác động tiêu cực của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng 36
2.3.4 Nguyên nhân 42
2.3.4.1 Nguyên nhân khách quan 42
Tiểu kết: 43
Chương 3 44
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI (NAY LÀ KHOA LƯU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA) 44
3.1 Đối với cơ quan Nhà nước 44
3.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp lý và ứng dụng các phần mền quản lý 44
3.1.2 Thúc đẩy tiến độ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 45
Trang 93.2 Đối với nhà trường 46
3.2.1 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng mạng đồng bộ 46
3.2.2 Xây dựng thư viện, học liệu số 47
3.2.3 Tăng cường tuyên truyền, định hướng cho sinh viên về chuyển đổi số 48
3.2.4 Bồi dưỡng kỹ năng cho nhân lực chuyển đổi số 49
3.3 Đối với sinh viên 50
3.3.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc chuyển đổi số đối với chất lượng học tập 50
3.3.2 Kết hợp giữa việc học và trải nghiệm thực tế 51
3.3.3 Trang bị các kỹ năng số 51
Tiểu kết: 53
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong ngành Giáo dục và Đào tạo việc chuyển đổi số đóng vai trò rất quan trọng để nâng cao chất lượng học tập của học sinh, sinh viên; có thể hiểu đơn giản
việc chuyển đổi số là “một quá trình cải tiến một đối tượng thông qua kích hoạt
những thay đổi đáng kể trong các thuộc tính của nó, trên cơ sở kết hợp thông tin, thiết bị điện tử, công nghệ giao tiếp và kết nối trực tuyến” (Vital 2019)[13] Trong những năm gần đây việc chuyển đổi số có tác động rất lớn đến các nước trên thế giới Một số quốc gia trên thế giới hiện nay đã và đang triển khai thực hiện chiến lược quốc gia về chuyển đổi số và đã đạt được những kết quả nhất định, điển hình
có một số quốc gia theo nghiên cứu của Microsoft tại khu Châu Á Thái Bình Dương tác động mà chuyển đổi số mang lại cho GDP năm 2019 là 25% và tới năm
2021 là 60% Kết quả nghiên cứu của McKinsey chỉ ra rằng vào năm 2025 mức độ tác động của chuyển đổi số tới GDP của nước Brazil là khoảng 35%, với đất nước
Mỹ là 25% Trong bối cảnh hòa nhập với thế giới và tác động của cách mạng công nghiệp 4.0; với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, chuyển đổi số đang dần trở thành một xu thế trong nhiều lĩnh vực trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.Thực tiễn ở Việt Nam hiện nay có thể thấy rõ tầm quan trọng của chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục được thể hiện ở Quyết định số 749/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 03 tháng 6 năm 2020 về việc phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”[5] Trong quyết định trên Thủ tướng chính phủ đã nêu rõ quan điểm “Người
dân là trung tâm của chuyển đổi số Lĩnh vực có tác động xã hội, liên quan hàng ngày tới người dân, thay đổi nhận thức nhanh nhất, mang lại hiệu quả, giúp tiết kiệm chi phí cần ưu tiên chuyển đổi số trước, bao gồm: Y tế, Giáo dục, Tài chính - Ngân hàng, Nông nghiệp, Giao thông vận tải và logistics, Năng lượng, Tài nguyên
và Môi trường, Sản xuất công nghiệp”
Theo Quyết định số 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày
Trang 1125/01/2022 về việc phê duyệt Đề án Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm
2203 Trong đó xác định rõ mục tiêu chung là: “Tận dụng tiến bộ công nghệ để
thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong dạy và học, nâng cao chất lượng và cơ hội tiếp cận giáo dục, hiệu quả quản lý giáo dục; xây dựng nền giáo dục mở thích ứng trên nền tảng số, góp phần phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số”[7] Theo
thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Zoom là nền tảng hội nghị truyền hình trực tuyến, có hơn 300 triệu người tham gia cuộc họp mỗi ngày vào tháng 04 năm 2020, so với mức 10 triệu vào tháng 12 năm 2019 Sự phát triển và ứng dụng công nghệ đã giúp cho việc dạy
và học của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng diễn ra một cách nhanh và hiệu quả giúp cho sinh viên có những thay đổi tích cực trong học tập và giúp các trường lớp đặc biệt là đại học tiếp tục duy trì hoạt động đào tạo và kết nối với hàng ngàn sinh viên, với các giảng viên trong toàn quốc dù khoảng cách rất xa Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực của chuyển đổi số trong việc nâng cao chất lượng học tập còn những bất cập nhất định gây ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng
Các nghiên cứu về tác động chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào đạo hiện nay đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên do một số nguyên nhân chủ quan như chưa có chiến lược cụ thể trong quá trình nghiên cứu, sự thách thức
về chi phí đầu tư, nguồn lực phát triển nghiên cứu và một số nguyên nhân khách quan như thách thức về công nghệ, bảo mật dữ liệu và các vấn đề pháp lý liên quan khác nhau nên các nghiên cứu chưa hệ thống hóa và làm chưa rõ được việc chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo có những tác động cụ thể như thế nào đối với chất lượng học tập của sinh viên trong giai đoạn hiện nay.Vì vậy, để thúc đẩy
sự tác động tích cực của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên, nhóm nghiên cứu chúng em chọn Khoa Quản trị văn phòng - Trường Đại học Nội
vụ Hà Nội, cũng chính là ngôi trường mà chúng em đang theo học để nghiên cứu,
Trang 12chất lượng học tập của các bạn sinh viên Khoa Quản trị văn phòng – Trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói riêng và sinh viên trên cả nước nói chung
Từ những lý do trên nhóm chúng tôi lựa chọn đề tài “Tác động của chuyển
đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội” làm đề tài để nghiên cứu
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Qua quá trình tìm hiểu về tình hình nghiên cứu cho thấy chuyển đổi số luôn là một vấn đề rất được nhiều người quan tâm tới đặc biệt là chuyển đổi số trong giáo dục đối với chất lượng học tập của sinh viên tại các trường Đại học có rất nhiều đề tài, giáo trình, sách chuyên khảo, bài viết được đăng trên các tạp chí Mỗi đề tài nghiên cứu đều có cách tiếp cận, phân tích và nhìn nhận khác nhau dựa vào khía cạnh và quan điểm của mỗi cá nhân Trong đó, liên quan nhiều đến chủ đề này tiêu biểu:
Thứ nhất, tình hình nghiên cứu trong nước:
Cuốn sách của Đinh Tiến Minh và cộng sự (2021)[3] đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chuyển đổi số cần triển khai ngay tại các cơ sở, trường đại học như Đại học Kinh tế TP.HCM Các tác giả đã đánh giá hiện trạng học tập từ các tình huống điển hình tại các trường đại học trên toàn thế giới và Việt Nam thông qua khảo sát 9.706 sinh viên, bao gồm sinh viên đại học, sinh viên vừa học vừa làm và sau đại học cùng với các phản hồi từ các giảng viên Khảo sát cho thấy, học trực tuyến có giáo viên hướng dẫn mang lại nhiều mặt tích cực cho người học nhưng không thể thay thế hoàn toàn mô hình đào tạo truyền thống khi xét từ nhiều góc độ sư phạm Hoạt động học trực tuyến cũng mang lại những lợi ích rõ rệt Tuy nhiên, một số thách thức phát sinh bao gồm giảm tương tác giữa người hướng dẫn và người học, cũng như giữa các sinh viên với nhau Việc bảo trì cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng khó khăn, chẳng hạn như đường truyền mạng, sự cố kỹ thuật với các ứng dụng học tập
và thậm chí mất điện Những khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ để học trực tuyến có thể khiến người học mất tập trung, thiếu tập trung Cuối cùng, nhóm tác
Trang 13giả đề xuất các bước mà Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cần tiến hành để áp dụng thành công học tập kết hợp vào chương trình đào tạo của mình Trong nghiên cứu của Dương Thị Thái và cộng sự (2021)[8], họ đã xem xét tài liệu một cách có hệ thống để cung cấp cái nhìn tổng quan toàn diện về các hoạt động chuyển đổi kỹ thuật số trong giáo dục đại học bằng cách sử dụng các cơ sở
dữ liệu như Web of Science (WOS), Google Scholar, Research Gate, và ScienceDirect để truy cập các bài viết về chuyển đổi kỹ thuật số trong giáo dục đại học Các bài báo được chọn để bình duyệt phải đáp ứng các tiêu chí sau: có nội dung về chuyển đổi số trong giáo dục đại học, được viết bằng tiếng Anh và có thể truy cập toàn văn Dựa trên kết quả của tổng quan hệ thống này, nghiên cứu thử nghiệm trong tương lai có thể xác định và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai các hoạt động chuyển đổi kỹ thuật số trong giáo dục đại học
Theo nghiên cứu của Phạm Thị Mai Vui (2021)[11] sử dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp, bao gồm cả kỹ thuật định lượng và định tính như phân tích tần suất
và kiểm định tương quan, để điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên trực tuyến trong giai đoạn COVID-19 Nghiên cứu đã phân loại các yếu
tố thành 3 nhóm: tương tác trực tuyến, khả năng sử dụng internet và khả năng tự học Đối tượng tham gia khảo sát là 2.338 sinh viên đến từ một trường đại học ở Việt Nam
Theo nghiên cứu của Trần Công Phong và cộng sự (2019)[4] tác giả đề cập tới một số khái niệm mới về chuyển đổi kĩ thuật số trong giáo dục Bên cạnh đó còn nêu ra một số thành tựu và các khuynh hướng hàng đầu của chuyển đổi số trong bối cảnh Công nghiệp 4.0 Theo kết quả của khảo cứu hiện nay, các thành phần cơ sở hạ tầng của môi trường học tập thông minh đã được tìm thấy và được xác định rõ ràng, các câu hỏi cùng các vấn đề mở trong các khía cạnh liên quan của nghiên cứu cơ bản và triển khai công nghệ, đối với việc chuyển đổi thành công các truyền thống thành trường học mới trong kỷ nguyên số - trường học thông minh ở Việt Nam cũng được chỉ ra
Trang 14Theo nghiên cứu của Vũ Văn Tuấn (2022)[10] bàn về chuyển đổi số trong dạy và học tại Đại học Luật Hà Nội với các yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm học trực tuyến như điều kiện kỹ thuật, trang thiết bị, mối quan hệ của sinh viên, tương tác học tập và ý kiến của giảng viên về học trực tuyến
Thứ hai, tình hình nghiên cứu nước ngoài:
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Pinchuk, OlgaP và cộng sự (2019)[14]chuyển đổi số mang lại những lợi ích tích cực đối với nền giáo dục ngày càng phát triển như ngày nay, các phương pháp tiếp cận độc đáo và khả năng tiếp nhận kiến thức thực tế, môi trường giáo dục hiện đại, đặc biệt là kỹ thuật số, hỗ trợ toàn bộ quá trình giáo dục và học tập, cũng như phát triển các khóa học, tương tác với cộng đồng…Quỹ đạo giáo dục cá nhân của mỗi học sinh (với khả năng giáo dục không đồng bộ hoàn toàn, kết hợp giữa quá trình giáo dục và các hoạt động ngoại khóa, với sự kèm cặp của quỹ đạo này bởi người cố vấn); Hệ thống đánh giá linh hoạt tập trung vào việc hỗ trợ động lực của học sinh; Nguồn lực (học sinh và giáo viên) cho các thí nghiệm học tập cá nhân và nhóm; Kiến trúc linh hoạt của các cơ sở giáo dục, cho phép thực hiện một số lượng lớn các định dạng giáo dục cho các hoạt động độc lập và nhóm của học sinh; Giáo dục theo chiều ngang trong cộng đồng, bao gồm cả việc sử dụng mạng điện tử
Theo quan điểm của tác giả Omur Hakan Kuzu (2020)[15] chuyển đổi số đã trở thành vấn đề ưu tiên hàng đầu của các cơ sở giáo dục đại học cũng như nhiều tổ chức lớn hiện nay Điều này mang đến cho giáo dục đại học có những phương thức học mới, nâng cao chất lượng giảng dạy và thay đổi các nghiên cứu… Song song với những lợi ích và tầm nhìn của con người về chuyển đổi số sẽ mang lại những giá trị to lớn cho nền giáo dục đại học thì những thách thức trên con đường đạt được đó cũng rất nhiều
Sự chuyển đổi qua việc áp dụng công nghệ kỹ thuật số vào trong các lĩnh vực như quản
lý mô hình kinh doanh, mô hình giáo trình, chương trình đánh giá, phân tích thông tin
và học tập…Mục đích chính mà chuyển đổi số mang lại trong nền giáo dục cao cấp là tái thiết lập lại quy mô giáo dục và nâng cao chất lượng giảng dạy Dường như sự
Trang 15chuyển đổi số trong giáo dục đại học đang dần trở thành điều kiện tiên quyết để các sinh viên chọn trường và với các giáo viên thì việc có những bước chuyển đổi số đã giúp cho quá trình nghiên cứu của họ dễ hơn và truyền tải lại cũng tốt hơn
Nhóm tác giả Bogdandy, B.Tamas, J.Toth, Z.Ieee (2020)[16] chuyển đổi kỹ thuật
số là quá trình chậm chạp trong giáo dục và đã trở thành một chủ đề cấp bách vào mùa xuân năm 2020 do Covid – 19 Vào giữa tháng 3, Chính phủ Hungary đã đóng cửa các trường học, đại học và các lớp học được tổ chức dưới hình thức trực tuyến Điều này khiến cả học sinh và giáo viên phải đối mặt với những thách thức bất ngờ Cuộc khảo sát được thực hiện giữa các sinh viên Khoa học Máy tính và Công nghệ Thông tin của Đại học Eszterhary Karoly vào cuối học kỳ Cuộc khảo sát của trường tập trung vào trải nghiệm, cảm xúc và biểu hiện tổng thể của học sinh liên quan đến giáo dục kỹ thuật đó
và những thay đổi gần đây Hơn nữa, cuộc khảo sát còn có những câu hỏi về sự chuẩn
bị kỹ thuật cơ sở hạ tầng Các câu trả lời được sử lý bằng các công cụ phân tích dữ liệu thống kê nổi tiếng Dựa trên kết quả, các sinh viên rất thích nên giáo dục kỹ thuật số và một nữa trong số họ sẵn sàng tiếp tục nó trong tương lai Ngoài ra, sinh viên muốn sử dụng thiết bị cá nhân trong các buổi học bởi những tiện ích và hiểu biết của họ giúp họ
có thể tập trung vào việc học Thật không may, một sinh viên đã được gặp sự cố kỹ thuật có thể do môi trường phần mềm không đồng nhất và có thể được giải quyết bằng tài liệu hỗ trợ Chuyển đổi kỹ thuật số được coi là thành công và phản hồi sẽ được tích
hợp vào các lớp học trực tuyến của trường
Theo Swen và Reinhard (2020)[17] có ba yếu tố ảnh hưởng chính đến sự thành công của chuyển đổi số bao gồm: ứng dụng công nghệ mới, công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động, năng lực của người lãnh đạo Tác giả đã phân tích các yếu tố này trong một mô hình đa cấp, bắt đầu từ cấp độ cá nhân và nhóm đến cấp độ tổ chức Chiến lược kinh doanh dài hạn rõ ràng, chuyên môn của nhà quản lý, nguồn nhân lực và công nghệ được coi là yếu tố quan trọng quyết định thành công của quá trình số hóa Yếu tố con người được coi là một trong những trụ cột quan trọng nhất quyết định đến sự thành bại của chiến lược chuyển đổi số Điều này bao gồm năng lực của nhân
Trang 16viên, khả năng thích ứng với công nghệ mới và hiểu biết về việc sử dụng công nghệ thông tin
Theo Maltese (2018)[12] sự chuyển đổi số trong kế hoạch chiến lược của các trường đại học bao gồm các lĩnh vực như giáo dục, nghiên cứu, dịch vụ cộng đồng và quản lý Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số là bối cảnh của trường đại học, sự hỗ trợ công nghệ và các dịch vụ liên quan đến tài liệu kỹ thuật số, hồ sơ cá nhân, chính sách giáo dục, quy mô và văn hóa nhà trường, kết quả học tập, sự khan hiếm nguồn tài nguyên học liệu và tâm lý ngại thay đổi lớn Các yếu tố này có thể ảnh hưởng đến sự thành công của việc chuyển đổi số tại các trường đại học
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn Phòng trường Đại Học Nội vụ Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về những phương diện cơ bản trong tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên như: Vai trò, hình thức, điều kiện đảm bảo chuyển đổi số và phân tích tác động tích cực, tiêu cực của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên
- Phạm vi không gian: Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội giai đoạn 2021-2022
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Từ việc nghiên cứu về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập
Trang 17của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội, nhóm em chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy tác động tích cực của chuyển đổi
số đối với chất lượng học tập của sinh viên Quản trị Văn Phòng ở trường
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đề tài thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về Tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập
- Phân tích đánh giá thực trạng về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội
vụ Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Quản trị văn phòng của trường
5 Giả thuyết nghiên cứu
Chuyển đổi số tác động tích cực và tiêu cực đến chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
6.1 Phương pháp điều tra xã hội học:
Điều tra sinh viên Khoa Quản trị văn phòng với số lượng 100 phiếu Nhằm thu thập thông tin thực tiễn về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội
6.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp
Phân tích một số tài liệu về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Trang 18Phương pháp phân tích từ các thông tin thu thập được nhằm làm rõ thực trạng
về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội
6.3 Phương pháp tiếp cận hệ thống:
Đề tài tiếp cận thực tiễn nghiên cứu về hoạt động chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục; đồng thời tìm hiểu, thu thập và nghiên cứu tài liệu chính thống có liên quan đến đề tài Trên cơ sở đó đã hệ thống hóa, khái quát và so sánh để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đề tài, nghiên cứu thực trạng và giải pháp để thúc đẩy tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội
6.4 Phương pháp tổng kết thực tiễn
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và logic phân tích, luận chứng để làm sáng tỏ các quan điểm và giải pháp nhằm thúc đẩy tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội
7 Đóng góp của đề tài
7.1 Đóng góp về mặt lý luận
Một là, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ, bổ sung và làm phong phú thêm các vấn đề lý luận về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội Hai là, đề tài góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội
7.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói riêng và mọi sinh viên nói chung khi
Trang 19nghiên cứu, học tập về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên
Trang 20Truyền thông – Chương trình Chuyển đổi số Quốc gia: “Chuyển đổi số là quá
trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số.”
Theo công ty kiểm toán PwC (2013) thì “Chuyển đổi số có thể hiểu là sự
chuyển đổi cơ bản của toàn bộ thế giới kinh doanh (business world) thông qua việc thiết lập các công nghệ mới dựa trên nền tảng Internet với tác động cơ bản đến toàn xã hội.”
Bên cạnh đó trang Tech Republic – Tạp trí trực tuyến, cộng đồng xã hội dành
cho các chuyên gia CNTT đã đưa ra khái niệm chuyển đổi số được hiểu là“Cách
sử dụng công nghệ để thực hiện lại quy trình sao cho hiệu quả hơn hoặc hiệu quả hơn.”
Theo Microsoft lại cho rằng: “Chuyển đổi số là việc tư duy lại cách thức các
tổ chức tập hợp mọi người, dữ liệu và quy trình để tạo ra những giá trị mới.”
Theo tác giả Kaputa và cộng sự (2022)[18],“Chuyển đổi số là việc sử dụng kỹ
thuật số, ngoài những cải tiến và hỗ trợ của các phương pháp truyền thống (văn bản, tương tác trực tiếp), nhằm khuyến khích và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.”
Tóm lại, có nhiều quan niệm và cách diễn đạt khác nhau, nhưng có một điểm
chung thống nhất: “Chuyển đổi số là quá trình tích hợp đầy đủ các công nghệ kỹ
thuật số vào tất cả các lĩnh vực giáo dục, khoa học, kinh tế, xã hội, làm thay đổi
Trang 21tổng thể và toàn diện cách thức vận hành, mô hình hoạt động của cá nhân, tổ chức
về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số như: công nghệ điện toán đám mây (Cloud Computing), dữ liệu lớn (big data), internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI); Giúp cho hoạt động sống và làm việc của cá nhân, tổ chức trở nên nhanh chóng và tiện lợi hơn.”
1.1.2 Chất lượng học tập
Trong quá trình nghiên cứu nhóm em thấy rằng do những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau nên đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “ Chất lượng học tập”, ở đây nhóm em đã tổng hợp từ hội thảo quốc gia về chất lượng
giáo dục và kỹ năng sống (2003) và thu thập thông tin từ “Tài liệu Viện Chiến lược
và Chương trình giáo dục (2004) và nhận thấy có hai cách hiểu nổi bật và hợp lý
theo quan điểm của tác giả Phạm Minh Hạc và Đặng Thành Hưng:
Ở cách hiểu thứ nhất, Có thể kể đến quan điểm của tác giả Phạm Minh Hạc (2003)[1], trong hội thảo quốc gia về chất lượng giáo dục và kỹ năng sống, ông cho
rằng “Chất lượng học tập là sự phù hợp với mục tiêu học tập và là kết quả tổng
hợp phản ánh mức độ thực hiện mục tiêu chương trình học tập – đào tạo ở từng người học, từng lớp, từng trường, địa phương và cả nước có được sự phát triển bền vững”
Ở cách hiểu thứ hai, theo quan điểm của tác giả Đặng Thành Hưng (2004)[2]trong nghiên cứu về “Một số lý luận và kỹ thuật đánh giá sự phát triển của giáo
dục”, ông đã đưa ra “Chất lượng học tập là toàn bộ thuộc tính, đặc điểm bản chất
của tất cả các bộ phận thuộc nền giáo dục nhất định Làm cho nền giáo dục đó có khả năng đáp ứng các mục tiêu phát triển đất nước bền vững, thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của nhân dân và sự phát triển của người học Khi một nền giáo dục có khả năng như vậy thì nó là nền giáo dục chất lượng mong muốn đối với mỗi quốc gia.”
Tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát về chất lượng học tập là chất lượng
mà học sinh, sinh viên và mọi người được đào tạo từ hoạt động giáo dục hay có thể
Trang 22hiểu đơn giản chất lượng học tập là sự đáp ứng mục tiêu đã đề ra của giáo dục Chẳng hạn mục tiêu giáo dục đại học toàn diện có thể: Phẩm chất đạo đức, lý tưởng, tri thức (trình độ chuyên môn, xã hội, ngoại ngữ, tin học ), kỹ năng sống
và khả năng cập nhập thông tin, giao tiếp, hợp tác; khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm cho bản thân và người khác; năng lực thích ứng với những thay đổi của công nghệ Hoặc mục tiêu giáo dục là nhằm đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện từ tri thức, đạo đức, sức khỏe Có thể thấy, việc nâng cao chất lượng học tập là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để có thể đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
Như vậy, từ hai khái niệm về “Chuyển đổi số” và “Chất lượng học tập” chúng
ta có thể thấy rằng giữa việc chuyển đổi số và nâng cao chất lượng học tập có mối liên hệ hỗ trợ là thúc đẩy lẫn nhau Để đảm bảo rằng chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục được diễn ra một cách nhanh, toàn diện và đạt được nhiều thành tựu chúng ta không chỉ nhờ vào Khoa học - Công nghệ mà yếu tố tiên quyết nhất là con người Để con người có trí tuệ, có năng lực lãnh đạo và điều hành được công nghệ, thiết bị thì mọi người cần nâng cao năng lực, chất lượng học tập của bản thân mỗi chúng ta khi còn là học sinh, sinh viên
1.2 Vai trò của chuyển đổi số chất lượng học tập
Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 749/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” Theo đó, ngành Giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi số thứ hai sau lĩnh vực Y tế Điều đó chúng ta có thể thấy được chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng, không chỉ đối với sự phát triển của ngành mà còn tác động rất lớn đối với sự phát triển và hội nhập của đất nước
Là trung tâm sáng tạo và truyền tải kiến thức, kỷ nguyên số đòi hỏi giáo dục đại học cung cấp ra thị trường những lực lượng lao động có tay nghề cao, có kỹ năng công nghệ hiện đại Nếu như trong các mô hình giáo dục truyền thống trước đây, hai nhiệm vụ cơ bản của các trường đại học là đào tạo và nghiên cứu khoa
Trang 23học, thì theo tác giả Compagnucci và Spigarelli (2020), “ở mô hình đại học trong
kỷ nguyên số ở thời đại 4.0 đang là bước chuyển mình về chất đối với các trường đại học, nhằm thực hiện được thêm một nhiệm vụ nữa của giáo dục đại học hiện đại, là tham gia vào việc đóng góp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước” Để đáp ứng được thêm yêu cầu thứ ba này, các trường phải thực hiện hóa chương trình giảng dạy, không những chỉ là về kiến thức, mà bao gồm cả các phương thức đào tạo mới, để tăng tốc độ giảng dạy và học kỹ thuật số
1.3 Tác động của chuyển đổi số đến chất lượng học tập của sinh viên
1.3.1 Tác động tích cực của chuyển đổi số đến chất lượng học tập của sinh viên
Qua việc nghiên cứu về tác động của chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục, nhóm em nhận thấy chuyển đổi số là một xu thế tất yếu trong thời đại công nghệ 4.0 và có tác động tích cực rất lớn đến giáo dục:
Thứ nhất, giúp nâng cao chất lượng giáo dục: Ngày nay, các thành tựu công
nghệ như IoT (Internet Of Things - Internet) giúp nâng cao tăng cường quản lý, giám sát trong các cơ sở giáo dục, theo dõi hành vi của người học, Công nghệ Big data (dữ liệu lớn) sẽ giúp phân tích hành vi học tập của người học để hỗ trợ, tư vấn phù hợp, hay Blockchain sẽ giúp xây dựng hệ thống quản lý thông tin và hồ sơ giáo dục của người học, cho phép hợp nhất, quản lý và chia sẻ dữ liệu từ nhiều trường học khác nhau, giúp ghi chép lại quá trình học tập, những bảng điểm của người học để đảm bảo thông tin dữ liệu được đồng nhất, một cách chính xác và minh bạch nhất
Thứ hai, tăng tính tương tác, tính thực hành - ứng dụng: Ứng dụng thực tế ảo
(Virtual Reality - VR), thực tế tăng cường (Augmented Reality - AR) trong giáo dục để tạo nên các phòng thí nghiệm ảo, mô hình thực tế ảo có khả năng tương tác thích hợp với người dùng, hay các cuốn sách AR (Augmented Reality), phần mềm Blippar dạy khoa học vũ trụ… giúp cho người học có những trải nghiệm đa giác
Trang 24quan hơn, dễ hiểu, dễ nhớ và gây tò mò, hứng thú cho người học, đồng thời tăng tính tương tác, thực hành và có thể ứng dụng kiến thức đã học ngay trong thực tiễn lớp học
Thứ ba, tạo không gian và thời gian học linh động, thúc đẩy giáo dục mở -
bình đẳng – cá thể hóa: Thời gian gần đây, khóa học trực tuyến đại chúng mở (MOOC) và bùng nổ với các tên tuổi lớn trên thế giới như: Udacity, Coursera, edX, Udemy, FutureLearn tạo ra rất nhiều điều kiện cho người học được tiếp thu kiến thức một cách linh động và thuận tiện mọi lúc, mọi nơi thông qua Internet Điều này thúc đẩy cho một nền giáo dục mở, giúp mọi người tiếp cận thông tin đa chiều, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian, chi phí, từ đó phát triển nhanh về kiến thức, nhận thức và tư duy của mỗi chúng ta các kiến thức tiếp thu dễ dàng và thuận tiện hơn, giúp nề gaiso dục nước ta phát triển Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học và người dạy kết nối với vô vàn kiến thức chất lượng và hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào Tài nguyên học liệu mở và kiến thức lớn là một xu hướng giúp phát triển mạnh trong nền giáo dục
Thứ tư, giảm chi phí đào tạo: Với sự phát triển mạnh của Internet, các mô
hình dạy học trực tuyến (e-learning) giúp giảm chi phí đào tạo Theo đó, chi phí khóa học sẽ được giảm đến mức tối thiểu so với việc học trực tiếp tại giảng đường
Cơ sở đào tạo tiết kiệm được chi phí trang bị cơ sở vật chất, chi phí chi trả cho giảng viên và chuyên gia tham gia giảng dạy,người học tiết kiệm được học phí, chi phí sinh hoạt và tài liệu học tập từ chi phí mua giáo trình, học liệu và chi phí cho việc in ấn
Thứ năm, cơ sở đào tạo vận hành tốt hơn: Việc ứng dụng công nghệ vào vận
hành giúp quản lý giảng viên và học viên được triệt để hơn, giảm tải các lãng phí đến mức tối thiểu, tăng hiệu suất và chất lượng làm việc tối đa
Thứ sáu, đánh giá: kiến thức người học, các tài liệu hướng dẫn và đo lường sự
tiến bộ của mọi người, CNTT có thể sử dụng để đánh giá người học ngoài ra có thể
Trang 25phân tích các dữ liệu có chuẩn xác hay không, giáo viên có thể áp dụng CNTT để truyền tải các thông tin mà họ muốn truyền đạt cho học viên Sinh viên có thể trả lời các câu hỏi của giảng viên thông qua sự hỗ trợ của các phần mềm, từ đó giảng viên có thể đánh giá chính xác về kiến thức của từng sinh viên thông qua các ứng dụng của CNTT
Thứ bảy, tiết kiệm thời gian: Công nghệ số hóa giúp tiết kiệm rất nhiều thời
gian của mọi người trên thế giới Đào tạo trên nền tảng số có thể coi là “cứu cánh” của những học sinh, sinh viên sống tại những khu vực xa xôi nhất của đất nước Hiện nay, đã có những nền tảng cho phép học sinh, sinh viên chỉ cần đăng nhập vào một trang web là đã có thể bắt đầu bài học của mình, mà không cần phải di chuyển hàng giờ trên đường để đến địa điểm học tập Có thể thấy rõ trong tình hình covid-19 vừa qua việc học trực tuyến của chúng ta rất phổ biến nhờ các ứng dụng như: TranS, Zoom khi cả nước phải giãn cách nhưng việc học vẫn được duy trì Đó chính là thành quả của công nghệ số
1.3.2 Tác động tiêu cực của chuyển đổi số đến chất lượng học tập của sinh viên
Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam đang từng bước phát triển, bên cạnh những tác động tích cực mang lại giúp cho việc dạy và học trở nên nhẹ nhàng và thông minh hơn thì chuyển đổi số ở các trường đại học vẫn gặp nhiều tác động tiêu cực Tác động đến nguồn nhân lực con người, về cơ sở hạ tầng, về chi phí, đổi mới về phương pháp dạy và học…làm cho việc ứng dụng chuyển đổi
số ngày càng trở nên khó khăn hơn trong các giai đoạn gần hoàn thiện Cụ thể, theo kết quả nghiên cứu, những tác động tiêu cực của chuyển đổi số thường gặp ở các trường đại học là:
Thứ nhất, sinh viên thiếu tập trung hơn trong giờ học so với phương pháp học truyền thống Trong các lớp học truyền thống sinh viên có thể phản hồi trực tiếp ngay lập tức và khi sinh viên gặp vấn đề trong chương trình học có thể giải quyết nhanh chóng và trực tiếp trong giờ học Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp giảng
Trang 26cách và thiếu tương tác làm cho sinh viên thiếu tập trung vào bài học Bên cạnh đó làm cho sinh viên và giảng viên thiếu sự giao tiếp trực tiếp giữa con người với nhau trong quá trình học Sự cô lập với xã hội cùng với việc thiếu giao tiếp sẽ làm cho sinh viên thiếu tập trung vào giờ học của mình
Thứ hai, dễ gian lận hơn trong quá trình thi cử: Thực tế, thi cử trên ứng dụng qua trực tuyến là cơ hội để gian lận, hơn nữa việc tiến hành thi trên môi trường mạng mang tính rủi ro cao, đây cũng là xu thế chung đang phát triển nên các tiêu chí đánh giá vẫn chưa rõ ràng và rất khó khăn trong việc đánh giá đúng thực lực của sinh viên, khi áp dụng những ứng dụng công nghệ vào quá trình thi cử sẽ dẫn đến việc sinh viên gian lận và thiếu trung thực trong bài làm điều đó là một hiện tượng tiêu cực Hơn nữa, việc gian lận trong thi cử khi chúng ta sử dụng các ứng dụng sẽ làm cho sinh viên suy thoái về đạo đức
Thứ ba, thiếu thiết bị, cơ sở hạ tầng và đường truyền Để giáo dục có thể diễn
ra theo hình thức trực tuyến, toàn bộ đầu vào cho quá trình giáo dục phải được số hóa, trong đó quan trọng nhất là học liệu, tài liệu, sách giáo trình Toàn bộ dữ liệu
về con người cũng cần phải số hóa để thực hiện quy trình quản lý người học và thực hiện đánh giá quá trình cũng như các kết quả học tập Hạ tầng mạng, các trang thiết bị công nghệ thông tin như: máy tính, camera, máy in, máy quét…đường truyền, dịch vụ Internet của các trường, giáo viên, học sinh, đặc biệt ở các vùng xa, vùng khó khăn còn thiếu, rất lạc hậu, chưa thể đồng bộ, nhiều nơi sẽ bị bỏ lại so với thời đại bởi vì chưa thể đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi số Bên cạnh đó,
đa phần các trường mang đặc thù giáo dục đào tạo truyền thống, nên hầu như đều thiếu nguồn lực, đặc biệt là bộ phận CNTT, cũng là trở ngại rất lớn và gây ảnh hưởng mạnh đến việc chuyển đổi số Các bộ phận này thường thiếu nguồn lực có trình độ cao nên không thể đáp ứng được nhu cầu của chuyển đổi số
Thứ tư, khó khăn trong việc lựa chọn tài liệu chính thống Đương nhiên khi có quá nhiều tài liệu tham khảo không rõ nguồn gốc sẽ làm cho sinh viên cảm thấy
hoang mang và lựa chọn không chính xác Với sự phát triển của Khoa học - Công
Trang 27nghệ số kết nối tất cả vạn vật, mang lại nhiều lợi ích, thời cơ, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ về việc lựa chọn tài liệu chính thống Quá nhiều tài liệu sẽ khiến cho sinh viên thu thập và xử lý tài liệu khó từ đó sẽ làm cho nhiều bạn sinh viên học sai tài liệu gốc và ảnh hưởng rất tiêu cực đến việc nâng cao chất lượng học tập của sinh viên
Tóm lại, chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục tại các trường đại học vừa có những tác động tích cực và cũng có những tác động tiêu cực Cụ thể, nhờ những tác động tích cực của chuyển đổi số, ở nước ta nhiều cơ sở giáo dục và các trường học đã áp dụng giảng dạy trực tuyến (online) trong suốt thời gian diễn ra dịch Covid-19 vừa qua và những thời gian sau đó, sự phát triển của các ứng dụng trên nền tảng mạng xã hội giúp người dùng dễ dàng tương tác một cách nhanh hơn, mọi lúc mọi nơi, đã tạo điều kiện cho giáo dục trực tuyến phát triển lên tầng cao hơn Tuy nhiên, chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục vẫn có những tác động tiêu cực, bên cạnh một số trường đã áp dụng công nghệ vào giảng dạy trực tuyến từ nhiều năm trước đây, vẫn còn khá nhiều trường chưa quen với hình thức đào tạo dạy – học trực tuyến, hoặc cơ sở vật chất, hạ tầng thông tin chưa đảm bảo để thực hiện giảng dạy trực tuyến một cách có hiệu quả nhất, và phát huy được năng lực dạy học của giảng viên và sự tư duy, sáng tạo của người học
1.4 Hình thức chuyển đổi số
Theo chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ, chuyển đổi số trong ngành giáo dục, nghĩa là việc áp dụng công nghệ, cũng như dựa vào mục đích, cơ cấu tổ chức của cơ sở giáo dục và được ứng dụng dưới 3 hình thức chính: Ứng dụng công nghệ trong lớp học (Cơ sở vật chất lớp học, công cụ giảng dạy) Ứng dụng công nghệ trong phương pháp dạy học (Áp dụng các xu hướng giáo dục công nghệ như Lớp học thông minh, Game hóa (Gamification), Lập trình vào giảng dạy Ứng dụng công nghệ trong quản lý (Công cụ quản lý và vận hành)
Trang 28Chuyển đổi số trong giáo dục đào tạo tập trung vào hai nội dung chủ đạo là chuyển đổi số, quản lý giáo dục và chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học Chuyển đổi số trong quản lý là số hóa thông tin quản lý, tạo ra những hệ thống cơ sở dữ liệu lớn liên thông, triển khai các dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng các công nghệ 4.0 để quản lý, điều hành, dự báo, hỗ trợ các cấp lãnh đạo, quản lý ra quyết định trong lãnh đạo, điều hành Chuyển đổi số trong dạy, học và kiểm tra, đánh giá là số hóa học liệu, thư viện số, phòng thí nghiệm ảo, triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến chuyển đổi toàn bộ cách thức, phương pháp gian
số, khai thác công nghệ thông tin để tổ chức giảng dạy thành công
1.5 Điều kiện đảm bảo chuyển đổi số trong việc nâng cao chất lượng học tập của sinh viên
Quá trình chuyển đổi số trong ngành giáo dục cần dựa trên nền tảng công nghệ Đặc biệt, nền tảng này cần được thống nhất trong mọi hệ thống với khoảng nhiều giảng viên, học sinh, sinh viên Điều này giúp tất cả mọi người từ giáo viên đến học sinh, sinh viên hay các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục đào tạo đều được tham gia Để đảm bảo rằng chuyển đổi số được diễn ra một cách thuận lợi và nhanh chóng trong giáo dục chúng ta cần đảm bảo những điều kiện sau đây:
Thứ nhất, chuyển đổi số đòi hỏi hạ tầng công nghệ mới, trang thiết bị mới cho
cả người học, người trực tiếp giảng dạy, cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý Đi kèm thiết bị phần cứng là các ứng dụng phần mền, các nền tảng (Platform) để toàn bộ mọi hoạt động giáo dục và quản lý của các cấp diễn ra trên đó Vì vậy các nền tảng
hạ tầng CNTT-VT, cơ sở vật chất phải được trang bị đồng bộ trong toàn ngành giáo dục để đảm bảo việc quản lý, dạy – học có thể được thực hiện một cách toàn diện ở tất cả các địa phương, nhà trường có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khác nhau, đảm bảo môi trường mạng thông suốt, ổn định, an toàn thông tin
Thứ hai,để chuyển đối số đảm bảo được thành công ngoài việc trang bị cơ sở
hạ tầng thì cần phải tuyên truyền, thống nhất, thông suốt về nhận thức trong toàn ngành, đến từng nhà trường, mỗi cá nhân Nhận định rằng chuyển đổi số là xu thế
Trang 29tất yếu của ngành, diễn ra với tốc độ rất nhanh, do đó cần có sự chuẩn bị, đầu tư sưu tầm, tạo sức mạnh cộng hưởng và quyết tâm cao
Thứ ba, nếu như ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục chủ yếu đề cập
đến những chương trình, phần mềm riêng lẻ, tách biệt, chuyển đổi số yêu cầu tất cả những thứ riêng lẻ này phải tương thích và kết nối với nhau, tích hợp và hoạt động trên cùng một nền tảng số.Nền tảng số này cho phép các hoạt động giảng dạy, quản
lý, học tập, kiểm tra, đánh giá, thi cử, quản lý người học và việc giảng dạy, cũng như toàn bộ việc tương tác giữa người học với giáo viên và nhà trường cùng diễn
ra Để đảm bảo việc tương tác một cách toàn diện thì cần có các cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho chuyển đổi số trong toàn ngành Đó là các chính sách liên quan đến học liệu như:
Sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả Liên quan đến chất lượng việc dạy học trên môi trường mạng như an toàn thông tin mạng, liên quan đến chính trị, tư tưởng, đạo đức người dạy, người học như bảo mật thông tin cá nhân, an ninh thông tin trên môi trường mạng, và các quy định liên quan đến điều kiện tổ chức dạy – học trên mạng, kiểm định chất lượng, tính pháp lý và công nhận kết quả khi dạy – học trực tuyến
Thứ tư, là văn hóa giáo dục số: gồm các vấn đề về thái độ học tập, hiểu biết
về đạo đức học thuật, tính tự giác, ý thức về học tập suốt đời
Thứ năm,phải đảm bảo nguồn nhân lực yếu tố nhân lực chính là điều kiện cần
tiếp theo cho việc chuyển đổi số trong ngành giáo dục được hoàn tất Thế nên,các trường Đại học nên tăng cường đào tạo đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật chuyên về công nghệ Thậm chí, nên mở rộng thêm những hệ đào tạo tài năng Cần bồi dưỡng được đội ngũ nhân lực (cán bộ, quản lý, giáo viên, giảng viên, học sinh, sinh viên) có kiến thức, kỹ năng sử dụng CNTT Kỹ năng an toàn thông tin, kỹ năng khai thác,
sử dụng hiệu quả các ứng dụng phục vụ việc dạy – học
Trang 301.6 Quy trình chuyển đổi số của trường đại học
Quy trình chuyển đổi số tại các trường đại học được các học giả (Alenezi, 2021; Doering và cộng sự, 2021) thống nhất gồm các giai đoạn cơ bản sau:
Hình 1 Quy trình chuyển đổi số trong trường đại học (Nguồn: Tổng hợp theo
Alenezi, 2021; Doering và cộng sự, 2021)
Giai đoạn 1: Số hóa tài liệu và thư viện Tài liệu là nơi lưu truyền kiến thức,
phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu Do đó, số hóa tài liệu trở thành một yêu cầu tất yếu, căn bản trong chuyển đổi số tại các trường đại học Quá trình này
1
• Số hóa tài liệu và thư viện:
• Số hóa tài liệu, giáo trình
• Tự động hóa tương tác các hoạt động thư viện
• Giảng dạy trực tuyến
• Số hóa bài giảng
• Giảng dạy trực tuyến
4 • Quản lý sinh viên trực tuyến
• Quản lý trực tuyến quá trình học tập của sinh viên
• Tương tác và hỗ trợ sinh viên trực tuyến
Trang 31kéo theo những thay đổi cơ bản quy trình hoạt động, mặc dù mục đích và đối tượng không đổi, của thư viện tại các trường Việc quản lý và thực hiện các nhiệm
vụ liên quan đến truy cập, bảo quản bản quyền của tài liệu số đòi hỏi không chỉ nền tảng công nghệ, mà cả những kỹ năng số đặc thù của đội ngũ nhân viên thư viện trong vận hành thư viện Ở mức phát triển cao, tự động hóa các dịch vụ truy cập,
hỗ trợ của thư viện có thể được triển khai thông qua các ứng dụng tương tác trí thông minh nhân tạo
Giai đoạn 2: Xây dựng và triển khai nền tảng vận hành số Đây là giai đoạn
quan trọng nhất của quy trình chuyển đổi số tại các trường đại học, vì nền tảng vận hành số vừa phải giải quyết được vấn đề về công nghệ, vừa phải đáp ứng được quy trình vận hành chung và đặc thù của trường đại học, với các dữ liệu tích hợp dữ liệu vào một nền tảng vận hành thống nhất và đồng bộ Nền tảng số không chỉ tăng tính minh bạch, mà còn hợp lý hóa các quy trình, giúp trường đại học linh động và hiệu quả hơn trong các hoạt động giảng dạy, hỗ trợ và quản lý của mình
Giai đoạn 3:Giảng dạy công nghệ Trong giai đoạn này, hoạt động giảng dạy
trực tiếp truyền thống sẽ giảm dần, thay thế bằng giảng dạy trực tuyến Không có nghĩa giảng dạy trực tiếp sẽ bị xóa bỏ, mà triển khai song song cũng hình thức trực tuyến Cốt lõi trong giai đoạn này là ứng dụng công nghệ trong giảng dạy, từ việc
số hóa bài giảng, thiết kế bài giảng tương tác tự động tình huống, đặc biệt ứng dụng trí thông minh nhân tạo trong các bài thực nghiệm và giả lập
Giai đoạn 4: Quản lý sinh viên trực tuyến Học viên là khách hàng của các
trường đại học, vì vậy điều quan trọng là phải theo dõi quá trình học tập của sinh viên để đảm bảo trường đại học hiểu rõ hơn về sinh viên của mình, và có thể điều chỉnh dịch vụ giáo dục phù hợp với nhu cầu và mong muốn của họ Nội dung quản
lý vòng đời đại học của học viên, từ khi nhập học, các môn học, quá trình học các môn, các hoạt động cộng đồng Bằng cách số hóa các quy trình của mình, các trường đại học có thể tương tác, và hỗ trợ sinh viên một cách tốt, nhanh nhất thông qua hình thức trực tuyến
Trang 32Giai đoạn 5: Triển khai các dịch vụ hỗ trợ và chứng nhận trực tuyến Đây là
giai đoạn cuối cùng vận hành trực tuyến hầu như toàn bộ các dịch vụ và hoạt động của trường đại học Thế hệ học viên ngày nay lớn lên cùng Internet và các thiết bị
di động, nên đã hình thành thói quen và nhu cầu sử dụng các dịch vụ trực tuyến Vì vậy, sinh viên hầu như mong đợi các hình thức trực tuyến khi thanh toán học phí
và các khoản phí liên quan Hơn thế nữa điều này giúp tăng tính an toàn cho các giao dịch tài chính và thuận tiện hơn cho sinh viên Ngoài ra việc số hóa các chứng nhận, chứng chỉ, văn bằng trực tuyến có chữ ký số cũng nên được áp dụng Điều này có thể giúp cho các trường đại học có thể giảm số lượng séc giấy phải quản lý
và sử dụng Nhờ quy trình làm việc được số hóa và tự động hóa nên năng suất đã tăng vì nó giảm bớt gánh nặng cho giảng viên và nhân viên về khối lượng của công việc không quan trọng
Về lý thuyết các giai đoạn sẽ diễn ra theo tuần tự từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối Tuy nhiên, trong thực tế quy trình có thể linh động theo bất cứ trình tự nào, hoặc thậm chí các giai đoạn có thể đồng thời được triển khai tùy theo đặc điểm, nguồn lực và thời cơ khác nhau đối với mỗi trường đại học
Trang 33Tiểu kết:
Trong chương 1, nhóm em đã trình bày một số khái niệm cơ bản về chuyển đổi số, chất lượng học tập Đồng thời phân tích một số nội dung về: Vai trò, các tác động của chuyển đổi số, hình thức, các điều kiện đảm bảo chuyển đổi số và quy trình chuyển đối số của trường đại học Các vấn đề lí luận trên làm cơ sở để chúng tôi nghiên cứu thực trạng về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên khoa QTVP trường ĐHNVHN, Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập của sinh viên khoa QTVP
Trang 34Chương 2:
THỰC TRẠNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
2.1 Khái quát về sinh viên Khoa quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ
Hà Nội
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc
Bộ Nội Vụ, tiền thân là Trường Trung học Văn thư Lưu trữ Trung ương I được thành lập năm 1971 theo quyết định số 109/BT ngày 18/12/1971 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Năm 1996, trường được đổi tên thành trường Trung học Lưu trữ và nghiệp vụ Văn phòng I Theo quyết định số 3225/QĐ-BGD&ĐT-TCCT ngày 15 tháng 6 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo được đổi tên trường thành trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I Ngày 21/4/2008, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký quyết định số 2275/QĐ-BGDĐT đổi tên trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I thành trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội, đến năm 2011 đổi tên là trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Trải qua quá trình 45 năm hình thành và phát triển hiện nay Trường Đại học Nội vụ Hà Nội vẫn duy trì và tiếp tục phát huy truyền thống giảng dạy, đào tạo trước đây và mở thêm một số ngành mới đào tạo mới.Khoa Quản trị văn phòng là một trong tám Khoa thuộc trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Khoa có các tên gọi khác nhau theo từng giai đoạn “Hành chính văn phòng” (2001-2004), “Khoa Hành chính văn phòng” (2004-2008), “Khoa Quản trị văn phòng” (2008-đến nay) Về chức năng và nhiệm vụ Khoa Quản trị văn phòng có chức năng tổ chức thực hiện quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ đại học và thấp hơn trong lĩnh vực Quản trị văn phòng, Thư ký văn phòng, Kế toán, Thống kê và các ngành nghề khác có liên quan Sứ mạng – Tầm nhìn – Triết lý và quan điểm đào tạo Sứ mạng: Giúp người học phát huy hết những năng lực tiềm ẩn của chính mình với một văn hóa giáo dục hiện đại, cung cấp cho người học chương trình đào tạo về