1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý nhà nước đối với cácvăn phòng công chứng trên địa bàn thành phố hà nội

104 910 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý Nhà nước đối với các Văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý hành chính công
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 849 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

học, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp quản lý với VPCC phù hợp với thựctiễn biến động của lĩnh vực công chứng một cách hiệu quả thông qua banhành văn bản quản lý, tổ chức thực hiện, th

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong cơ chế cũ, nhà nước quản lý và điều hành nền kinh tế đất nướctheo phương thức mệnh lệnh, hành chính, bao cấp, vì vậy, các giao dịch dân

sự hầu như không phát triển, các giao dịch này chủ yếu dựa trên sự tin cậy,các thỏa thuận được thực hiện phần lớn bằng lời nói, viết tay hoặc do cơ quanhành chính nhà nước thị thực Vì vậy, quản lý nhà nước nói chung, quản lýnhà nước về công chứng nói riêng, chưa được quan tâm một cách thấu đáo,làm ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động giao lưu dân sự, kinh tế và xãhội

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế làmgia tăng các giao dịch dân sự, đòi hỏi nhà nước phải có những biện pháp hữuhiệu để quản lý các giao dịch dân sự, kinh tế, cũng như bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân,góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội

Cùng với sự ra đời của Luật Công chứng là sự xuất hiện của các Vănphòng công chứng (VPCC) Điều này đã khắc phục được những hạn chế đáng

kể như sự quá tải của các Phòng Công chứng, cũng như việc phân định giữacông chứng và chứng thực, vấn đề phân cấp, phân quyền trong quảm lý nhànước (QLNN) về công chứng… Sự ra đời của VPCC đã góp phần chuyênnghiệp hóa và xã hội hóa hoạt động công chứng được coi là bước đột phátrong cải cách hoạt động công chứng ở Việt Nam Tuy nhiên, việc ra đời củaVPCC bên cạnh Phòng Công chứng cũng đặt ra những vấn đề cấp bách trongquản lý, mà Luật Công chứng không thể tiên liệu hết được những vướng mắc,khó khăn khi triển khai thực hiện trên thực tế với rất nhiều biến động Từ đó

có thể thấy, công tác QLNN về hoạt động công chứng là rất quan trọng vànhạy cảm trong xu hướng “xã hội hóa dịch vụ công”, rất cần thiết phải hoànthiện trên cơ sở định hướng đúng với mục tiêu chính trị, xã hội, kinh tế lâudài, đảm bảo lợi ích tối cao cho người dân, đảm bảo hiệu quả trong công tácQLNN, đồng thời đề cao tính tự chịu trách nhiệm cá nhân của công dân

Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng đặt ra trong QLNN đối với VPCCtrong giai đoạn hiện nay về mặt lý luận, thực tiễn, xây dựng các luận cứ khoa

Trang 2

học, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp quản lý với VPCC phù hợp với thựctiễn biến động của lĩnh vực công chứng một cách hiệu quả thông qua banhành văn bản quản lý, tổ chức thực hiện, thanh tra kiểm tra trên thực tế tại địabàn thành phố Hà Nội, một trong những địa bàn phức tạp nhất toàn quốc.

Chính vì lý do trên tác giả chọn đề tài “Quản lý Nhà nước đối với cácVăn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công.

2 Tình hình nghiên cứu

Đối với phần lớn các nước phát triển trên thế giới, vấn đề quản lý đối vớiVPCC đã được quy định khá rõ ràng và cụ thể trong các văn bản pháp luật thựcđịnh, hệ thống công chứng, cũng như đối với VPCC được thành lập, hoạt động,thanh tra, kiểm tra, … đã được hình thành từ rất lâu đời Ở nước ta, công chứngvới tư cách là một hoạt động bổ trợ tư pháp xuất hiện ở Việt Nam chưa lâu, tuynhiên thời gian qua đã có một số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này như sau:

- Đề tài khoa học mang mã số 92-98-244 về “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt Nam”

do Bộ Tư pháp tổ chức nghiên cứu và nghiệm thu vào tháng 5 năm1993;

- Luận án tiến sĩ “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay” của tác giả Đặng Văn Khanh năm 2000;

- Luận án tiến sĩ luật học “Nghiên cứu pháp luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay”, mã số:

62.38.01.01 của tác giả Tuấn Đạo Thanh năm 2008;

- Luận văn thạc sĩ “Một số vấn đề công chứng các giao dịch về tài sản ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp” của tác giả Đỗ Xuân Hòa.

- Luận văn thạc sĩ “Công chứng Nhà nước những vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta” của tác giả Trần Ngọc Nga.

- Luận văn thạc sĩ “Xã hội hoá công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số

vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Quang Minh năm 2009 ;

- Luận văn thạc sĩ: “Phân cấp QLNN về công chứng, chứng thực (Qua thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phan Hải Hồ năm 2008;

Trang 3

Nhìn chung trên phương diện khoa học quản lý hành chính công, chưa

có các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về QLNN với các VPCC, nhất là từkhi Luật Công chứng ra đời và phải sau 13 tháng mới được thành lậpVPCC đầu tiên Luật Công chứng là cơ sở pháp lý quan trọng để nhà nướcquản lý các giao dịch dân sự nhưng đến nay, do biến động của tình hìnhthực tiễn có nhiều vấn đề mà Luật Công chứng chưa tiên liệu được, vấn đềđặt ra là làm thế nào để quản lý các hoạt động của VPCC một cách hiệuquả, khoa học để có thể đảm bảo ổn định và phát triển xã hội bền vững

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối

với VPCC và thực tiễn quản lý nhà nước đối với VPCC trên địa bànthành phố Hà Nội

b Phạm vi nghiên cứu:

Về thời gian: Hoạt động quản lý nhà nước đối với VPCC từ khi có LuậtCông chứng;

Về không gian: Nghiên cứu các VPCC trên địa bàn thành phố Hà Nội

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

a Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản

lý nhà nước đối với VPCC, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoànthiện quản lý nhà nước đối với VPCC ở thành phố Hà Nội hiện nay

b Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm sáng tỏ lý luận QLNN đối với VPCC, trên mô mình VPCC của một

số quốc gia trên thế giới và Việt Nam;

- Phân tích, đánh giá, vai trò QLNN với VPCC trên văn bản quản lý, tổchức thực hiện, thanh tra, kiểm tra, đánh giá thực trạng QLNN đối với môhình này trên địa bàn thành phố Hà Nội;

- Đề xuất, xây dựng phương hướng hoàn thiện và một số giải pháp hữuhiệu đối với QLNN với các VPCC ở trên địa bàn thành phố Hà Nội Vạch ranhững nguyên nhân của những bất cập, vướng mắc trên phía cạnh thực tiễncủa hoạt động quản lý cũng như các quy định của pháp luật

5 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như

Trang 4

phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp điều tra, phươngpháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, nhằm làmsáng tỏ và nội dung nghiên cứu của đề tài Dựa trên quan điểm đổi mới toàndiện của Đảng và Nhà nước ta trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội vàđặc biệt trong lĩnh vực cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hànhchính nói riêng

6 Đóng góp của luận văn

Là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối có hệ thống

và toàn diện về QLNN đối với các VPCC trên địa bàn Hà Nội Vì thế, luận văn

có một số đóng góp khoa học mới sau:

- Đưa ra khái niệm, chỉ ra đặc điểm, phân tích nội dung quản lý, QLNN

đối với các VPCC

- Phân tích và chỉ ra được ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của

thực trạng QLNN đối với VPCC trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Đề xuất được hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối vớiVPCC trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 chương, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI

VỚI VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG

1.1 QUAN NIỆM VỀ CÔNG CHỨNG VÀ VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG

1.1.1 Tổng quan về các mô hình công chứng trên thế giới

Công chứng đã có lịch sử hình thành, phát triển hàng ngàn năm và gắn

bó chặt chẽ với đời sống dân sự Khởi đầu, công chứng là một nghề tự dotrong xã hội, phục vụ cho nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi thiếtlập các văn tự, khế ước Trải qua sự thăng trầm của lịch sử, công chứng đãkhẳng định sự tồn tại vững chắc và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xãhội, được nhà nước thừa nhận và trở thành hoạt động hỗ trợ đắc lực cho côngdân và nhà nước trên cả hai phương diện: Hỗ trợ hành pháp (quản lý nhànước) và bổ trợ tư pháp

Cho đến nay, công chứng tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới vàhình thành nên ba hệ thống công chứng sau:

- Hệ thống công chứng Latinh (chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của hệ thốngluật La mã, còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự - Civil Law) Hệ thống nàytồn tại ở hầu hết các nước thuộc cộng đồng châu Âu (trừ Đan Mạch và Anh);châu Phi (các nước thuộc địa cũ của Pháp); các nước châu Mỹ - La tinh, bangQuebec của Canada, bang Luisane của Hoa Kỳ, một số nước châu Á (NhậtBản, Thổ Nhĩ Kỳ ) Hiện này, hệ thống công chứng Latinh đã hình thành tổchức quốc tế của mình đó là Liên đoàn Công chứng quốc tế Latinh (tên viếttắt là UINL) với thành viên chính thức khoảng hơn 60 quốc gia Do đặc điểmcủa các nước theo hệ thống luật civil law là trọng vật chứng hơn nhân chứng

Hệ thống luật latinh có nhưng đặc điểm sau:

- Phạm vi công chứng được pháp luật quy định cụ thể, chặt chẽ việcnào phải công chứng (bặt buộc), việc nào không phải công chứng nhưngđương sự yêu cầu công chứng;

- Giá trị pháp lý cuả văn bản công chứng rất cao, văn bản có hiệu lựcthi hành đối với các bên đương sự như một phán quyết của tòa án Ở một sốnước gọi Công chứng viên là “thẩm phán về hợp đồng”;

Trang 6

- Công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm, có thể là công chức hoặckhông, nhưng để hành nghề công chứng họ phải được Nhà nước bổ nhiệm vàhoạt động chuyên trách chứ không kiêm nhiệm về công chứng;

- Hệ thống công chứng của các nước theo luật án lệ (Hay hệ thống côngchứng Anglo-saxon, gắn liền với hệ thống pháp luật Anglo-Saxon (CommonLaw), tồn tại ở các quốc gia: Vương quốc Anh, Mỹ (trừ bang Luisane),Canada (trừ bang Quebec); Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Đài Loan

Luật án lệ tương đối linh hoạt, nhân chứng được tôn trọng hơn vậtchứng Hoạt động công chứng này mang đặc điểm sau:

- Phạm vị công chứng không được quy định rõ ràng; Nội dung hành vi,hình thức văn bản không được pháp luật quy định chặt chẽ, văn bản côngchứng không có hiệu lực bắt buộc thực hiện với các bên như một phán quyếtcủa tòa

Công chứng là một nghề tự do, và luật sư có thể kiêm cả công chứng.Với những đặc tính này, cho thấy tính chất chuyên môn nghề nghiệp về côngchứng ở quốc gia này không cao

Hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng tập thể) tồn tại ở cácnước Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) trước đây và phát triển mạnh vào các năm

70 của thế kỷ XX đến trước năm 1990, bao gồm: Liên Xô, Ba Lan, ĐôngĐức, Bungari, Hungari, Rumani, Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam

Trước đây, công chứng tập thể là công chứng Nhà nước, Công chứngviên là công chức nhà nước, Phòng Công chứng là cơ quan Nhà nước, Nhànước lập ra theo đơn vị hành chính Nhưng nơi chưa có Phòng Công chứngthì chính quyền thực hiện việc công chứng Có nơi Phòng Phòng chứng vàchính quyền cùng thực hiện hành vi công chứng: Hành vi công chứng đượcxác định một cách rõ ràng bằng cách liệt kê những công việc Công chứngviên được làm, hình thức của văn bản công chứng không được quy định cụthể; đặc biệt rất ít quan tâm đến công tác lưu trữ văn bản, giá trị pháp lý củavăn bản không được coi trọng, vai trò trách nhiệm của Công chứng viên nhất

là trách nhiệm vật chất không được đề cập Họ chỉ chịu trách nhiệm hànhchính trước cơ quan Nhà nước cấp trên mà không chịu trách nhiệm dân sựtrước đương sự

Trang 7

Sau khi Liên Xô và các nước XHCN tan rã, thì hầu hết các nước này đãchuyển dần sang mô hình công chứng Latinh Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởngcủa hệ thống công chứng tập thể này, sau này khi có Luật Công chứng năm

2006 Việt Nam đã có một bước chuyển mới, song vẫn chịu ảnh hưởng nặngcủa hệ thông công chứng Collectiviste

Mặc dù hình thành ba hệ thống công chứng như trên, song chung quylại, chỉ có hai mô hình công chứng: mô hình công chứng tự do (ở hệ thốngcông chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo-Saxon) và mô hình côngchứng nhà nước (chỉ tồn tại ở hệ thống công chứng Collectiviste)

Ở mô hình công chứng tự do, các Công chứng viên được nhà nước bổnhiệm, hành nghề tự do theo quy định của pháp luật đối với các hình thứcVPCC tư nhân hoặc VPCC tập thể, tự chủ trong tổ chức, hoạt động, tự hạchtoán và đóng thuế cho nhà nước Công chứng viên chịu trách nhiệm cá nhân

về hành vi công chứng của mình, phải bồi thường thiệt hại bằng tài khoản tiền

ký quỹ của mình nếu hành vi công chứng gây thiệt hại cho khách hàng hoặcngười thứ ba

Ở mô hình công chứng nhà nước, cơ quan công chứng là thiết chế nhànước, Công chứng viên là công chức nhà nước, do nhà nước bổ nhiệm, hưởnglương từ ngân sách nhà nước, Công chứng viên không phải chịu trách nhiệmvật chất trước đương sự về các hậu quả do hành vi công chứng trái pháp luậtcủa mình gây ra, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước nhà nước Lệ phícông chứng được nộp cho ngân sách nhà nước, có trích lại một phần để trangtrải thêm cho hoạt động của phòng công chứng Có thể nói, với sự bao cấptoàn bộ của nhà nước, mô hình công chứng nhà nước chỉ phù hợp với cơ chế

kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế hiện vật, trong đó, các giao lưu dân sự,kinh tế, thương mại không phát triển ở đó, vai trò công chứng chủ yếu lànhằm bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ tài sản XHCN và tài sản cá nhân

Có thể thấy rõ ưu thế vượt trội của mô hình công chứng tự do so với

mô hình công chứng nhà nước Đó là sự đề cao, phát huy trách nhiệm cá nhâncủa Công chứng viên, tạo ra cơ chế cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực để cácCông chứng viên phát huy tính tích cực, chủ động nhiệt tình trong hoạt độngcủa mình, giảm nhẹ sự bao cấp của nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước tinhgiản, gọn nhẹ, tách bạch chức năng QLNN với chức năng cung ứng dịch vụ

Trang 8

công trong lĩnh vực công chứng Mô hình tổ chức này không chỉ tiết kiệm chongân sách nhà nước mà còn tăng thu ngân sách thông qua việc đóng thuế củacác Công chứng viên Về mặt tổ chức và hoạt động, mô hình công chứng tự

do tạo ra sự linh hoạt về mặt tổ chức, bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu côngchứng của nhân dân

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm công chứng

1.1.2.1 Khái niệm về công chứng

Lịch sử hoạt động công chứng, chứng thực, làm chứng gắn liền với sựphát triển của xã hội Suốt từ thời kỳ cổ đại đến trung cổ, giữa người làm côngchứng (Công chứng viên) và người lập văn tự thuê chưa được phân biệt rõràng Ở thời kỳ cổ đại, người ta đã thấy những viên thư lại tiến hành soạn thảocác khế ước (hợp đồng) theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, khó có thể bị thayđổi về sau, khác hẳn với những khế ước không thành văn theo truyền thống(giao kết miệng) Lịch sử hình thành và phát triển nhà nước cũng cho thấy, đã

có thời kỳ chưa có khái niệm công chứng Một số tác giả nghiên cứu về côngchứng cho rằng, có hai loại hình thực hiện công chứng là tư chứng thư vàcông chứng thư Các tác giả đã đưa ra các khái niệm "công" và "tư" để phânbiệt giữa những cá nhân tự do làm chứng với các chức danh được nhà nướcgiao cho nhiệm vụ thực hiện hành vì công chứng hoặc Nhà nước trực tiếpthực hiện các việc công chứng Điều này được lý giải như sau:

- Tư chứng thư (chỉ người làm chứng tự do): Trong nhân dân ta tồn tại

một truyền thống là mỗi khi có các giao dịch quan trọng đều phải nhờ nhữngngười có uy tín trong gia tộc, trong thôn xóm đứng ra làm chứng để xác nhận.Khi có tranh chấp xảy ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào hìnhthức chứng nhận trên để chứng minh sự thật, lấy đó làm cơ sở để giải quyết

vụ việc tranh chấp Những văn tự được lập ra do các cá nhân công dân thựchiện và có người thứ ba làm chứng với tư cách cá nhân nên được gọi là "tưchứng thư" Đây là một dạng chứng nhận của bất kỳ một cá nhân nào, thựchiện một cách tự do, làm chứng không phải là nghề chuyên môn mà họ đượcgiao, nhà nước không những không cấm mà còn có phần khuyên khích nhândân tham gia cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu Loại hình này xuất hiện từthời cổ đại và tồn tại cho đến tận ngày nay Ở Việt Nam, các thể thức giấy tờ,khế ước như chúc thư, văn khế bán ruộng đất, văn khế cầm cố ruộng đất…

Trang 9

đều quy định người chứng kiến, người bảo lãnh, người viết thay phải điểm chỉvào văn tự Đây là những quy định nhằm bảo đảm hiệu lực pháp lý, hạn chếtranh chấp kiện tụng Ngày nay, Bộ luật Dân sự của nước ta vẫn quy địnhtrong quan hệ dân sự các bên phải thiện chí, trung thực… Nếu một bên chorằng bên kia không trung thực, thì phải có chứng cứ (chứng cứ ở đây bao hàm

cả những chứng cứ do cơ quan chuyên trách cung cấp và cả chứng cứ do bất

kỳ tổ chức, cá nhân nào cung cấp

Như vậy, cho đến nay vẫn tồn tại một loại hoạt động chứng nhận, xácnhận, cung cấp chứng cứ của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào, nhằm phảnảnh một sự kiện, hiện tượng mà họ cho là có thật, ví dụ: Cung cấp chứng cứcho Tòa án, xác nhận thời gian công tác, làm chứng cho việc giao tiền muabán nhà… Đây là một loại chứng nhận vẫn tồn tại và có ý nghĩa thiết thựctrong đời sống xã hội, nhưng không phải là hoạt động công chứng với danhnghĩa là một tổ chức được nhà nước công nhân hoặc cho phép hoạt động

Có thể nói, tư chứng thư là một hình thức hoạt động phong phú và đadạng, dù ở giai đoạn lịch sử hay điều kiện xã hội nào cũng phải cần đến nhưmột nhu cầu tất yếu cho xã hội

- Công chứng thư (do nhà nước thực hiện hoặc ủy quyền): Đây là hoạt

động chứng nhận, chứng thực, xác nhận có tính chất công, phục vụ lợi íchcông, do nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, vì vậy được gọi là côngchứng Tổ chức công chứng và người thực hiện hành vì công chứng đượcnhà nước ra quyết định công nhận và cho phép hoạt động nhằm bảo đảm tínhxác thực trong hoạt động giao dịch và các quan hệ khác theo quy định củapháp luật hoặc theo yêu cầu của công dân, tổ chức, được thể hiện bằng cáchình thức nhà nước trực tiếp thực hiện (công chứng nhà nước) hoặc nhà nước

ủy quyền (công chứng tự do)

Hiện tại có những quan điểm cho rằng, công chứng có nghĩa là lấycông quyền mà làm chứng (Attestation), sự chứng nhận của nhà nước ở đâymang tính quyền lực công Quan điểm khác cho rằng, bản thân thuật ngữcông chứng đã mang ý nghĩa là sự làm chứng công khai, có dấu ấn của côngquyền, công chứng viên là người được nhà nước bổ nhiệm thực hiện mộtcông vụ (Thuật ngữ công vụ ở đây được hiểu là không hoàn toàn lệ thuộcvào những quy định của pháp luật về nền hành chính công) Công chứng là

Trang 10

một hoạt động hành chính công, lấy lẽ công để làm chứng, là sự nhận thức,xác thực hoặc xác nhận một sự kiện, một hiện tượng đúng là như thế

Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng, hoạt động công chứng thể hiện vaitrò của quần chúng (công chúng, dân chúng), hoạt động phục vụ lợi ích côngcộng, thể hiện tính công khai do nhà nước cho phép và thừa nhận Hoạt độngcông chứng không phải là hoạt động thực thi công quyền, không phải lấy

quyền công, lẽ công mà mà đơn giản chỉ là chứng nhận như quan điểm vừa

nêu trên, chúng tôi tán thành với quan điểm này

Công chứng với tư cách là một thể chế pháp lý đã hình thành ở nước takhá sớm, từ những năm 1930 dưới thời Pháp thuộc, nhưng mãi đến năm

1987, thuật ngữ “công chứng” mới bắt đầu được sử dụng một cách rộng rãi.Việc xác định khái niệm công chứng là vấn đề mấu chốt của hoạt độngcông chứng, có vai trò lý luận cũng như thực tiễn vô cùng quan trọng, nókhông những ảnh hưởng đến mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động mà căn cứvào đó người ta có thể xác định được phạm vi, nội dung, thậm chí đến quyền

và nghĩa vụ của những cá nhân, được tổ chức giao cho quyền năng thực hiệnchức năng QLNN Cho đến nay, chúng ta đã có 5 khái niệm khác nhau vềcông chứng phục vụ cho công tác QLNN về công chứng trong các văn bảnquy phạm pháp luật của nhà nước ta Cụ thể như sau:

- Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng

dẫn công tác công chứng nhà nước quy định: “Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản,

sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”

- Nghị định số 45/HĐBT của HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về tổ

chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định: “Công chứng là việc chứng nhận xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ

Trang 11

chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”.

- Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 của Chính phủ về tổ

chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định: “Công chứng là việc chứng nhận xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu”.

- Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 của Chính

phủ về công chứng, chứng thực, tại điều 2 quy định: “Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, thương mại và quan

hệ xã hội khác (Sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này” Đáng chú ý, Nghị định này đã có sự

phân định rõ khái niệm công chứng và chứng thực, điều mà các Nghị định

trước đây chưa làm rõ được, bản chất của hành vi công chứng là:“chứng nhận tính xác thực của hợp đồng”, còn hành vi chứng thực lại chỉ là việc

“xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân” Như

vậy, theo quy định nêu trên, hành vi công chứng chính là việc xác lập giá trịpháp lý cho văn bản, hợp đồng; còn hành vi chứng thực chỉ đơn thuần là việcsao lại các văn bản, hợp đồng mà thôi

- Luật Công chứng năm 2006 quy định: “Công chứng là việc Công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”

Có thể nhận thấy, những khái niệm về công chứng gắn liền với nhữngthay đổi của xã hội nước ta Ở các giai đoạn phát triển khác nhau thì kháiniệm về công chứng rõ ràng có những thay đổi nhất định Sự thay đổi này thể

Trang 12

hiện quan điểm của nhà nước ta về công chứng cũng như trình độ phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng xét về bản chất và mục đích của hành vi thìvẫn không thay đổi

Từ các quy định pháp luật trên đây, có thể hiểu: Công chứng là việc Công chứng viên, theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức hoặc quy định của pháp luật, chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các văn bản hợp đồng, giao dịch nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.

1.1.2.2 Đặc điểm của công chứng

Thứ nhất, công chứng là hành vi do Công chứng viên thực hiện Điều này phân biệt với chứng thực là hành vi do người đại diện của cơ quan hành chính công quyền thực hiện.

Công chứng viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, chịutrách nhiệm tiếp nhận hoặc lập các hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu củangười yêu cầu công chứng đảm bảo cho các hợp đồng, giao dịch sau khi đượcchứng nhận có giá trị pháp lý như một văn bản của cơ quan công quyền

Công chứng viên Phòng Công chứng là công chức, viên chức nhà nướcđược hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Công chứng viênVăn phòng côngchứng không phải là công chức, viên chức nhà nước, lương và các khoản thunhập khác được trích từ nguồn thu phí công chứng, thù lao công chứng vànguồn thu hợp pháp khác từ hợp đồng công chứng

Thứ hai, nội dung cơ bản của công chứng là chứng nhận các hợp đồng

và lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của công dân, tổ chức và chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật.

Đây là đặc điểm quan trọng của hoạt động công chứng để phân biệt vớicác hoạt động mang tính chất hành chính khác của các cơ quan công quyền.Việc lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng vàchứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật chính là việctạo nên các văn bản công chứng

Lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng làviệc Công chứng viên, bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình giúp người yêucầu công chứng thể hiện được ý chí, nguyện vọng của mình được thỏa thuậnbằng văn bản, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hoặc tư

Trang 13

vấn, góp ý để người yêu cầu công chứng thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọngcủa mình một cách rõ ràng, chính xác trong các văn bản họ tự lập nhằm đảmbảo tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch họ tự lập Nói cách khác, hành

vi của Công chứng viên nhằm xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợpđồng hoặc các giao dịch

Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch là vô

cùng quan trọng nhằm bảo đảm cho chúng có giá trị chứng cứ Trong phápluật về tố tụng, khi nói đến chứng cứ thì bao giờ cũng đề cao tính xác thựccủa các sự kiện, tình tiết có thực, khách quan được coi là chứng cứ Sở dĩpháp luật coi văn bản công chứng có giá trị chứng cứ cũng là do tính xác thựccủa các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được Công chứng viên xácnhận Tính xác thực này được Công chứng viên kiểm chứng và xác nhận ngaykhi nó xảy ra trong thực tế, trong số đó có những tình tiết, sự kiện chỉ xảy ramột lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau (ví dụ: Sự tự nguyện của cácbên khi ký kết hợp đồng) và do đó, nếu không có Công chứng viên xác nhậnthì về sau rất dễ xảy ra tranh chấp mà toà án không thể xác minh được

Chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật là việc

Công chứng viên, bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình xác nhận tính hợp

pháp của hợp đồng, giao dịch Đây là điểm khác biệt giữa trường phái côngchứng nội dung (công chứng hệ Latine) và trường phái công chứng hình thức(công chứng hệ Anglosason) Trong công chứng hệ Latine thì các hợp đồng,giao dịch hợp pháp mới được Công chứng viên xác nhận, những hợp đồng,giao dịch bất hợp pháp thì bị từ chối công chứng Đặc điểm này của côngchứng hệ Latine quy định chức năng phòng ngừa các tranh chấp trong hợpđồng, giao dịch của công chứng

Nội hàm của khái niệm công chứng là tạo lập nên một loại chứng cứ viết,

có giá trị pháp lý cao, vì các hợp đồng, giấy tờ này được chứng nhận tính xácthực của nó do những người có thẩm quyền công chứng, chứng nhận nên nómang dấu ấn của công quyền và trở thành “công chứng thư” Về ngoại diêncủa khái niệm công chứng bao hàm các loại giấy tờ, hợp đồng mà theo quyđịnh của pháp luật bắt buộc phải công chứng, hoặc cá nhân tổ chức tự nguyệncông chứng để những giấy tờ này trở thành một chứng cứ pháp lý

Thứ ba, văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và giá trị thực hiện.

Trang 14

Văn bản công chứng do Công chứng viên lập theo trình tự, thể thức bắtbuộc, ghi lại chính xác thời gian, không gian, ý chí, nguyện vọng cũng nhưnăng lực chủ thể của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch Vănbản công chứng trước hết nhằm tạo lập giá trị thực hiện giữa các bên tham giagiao dịch, hợp đồng bằng việc ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên, làcăn cứ pháp lý không thể bác bỏ buộc các bên phải thực hiện đúng các camkết đã xác lập, đồng thời có giá trị pháp lý cả với bên thứ ba.

Thứ tư, Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với tổ chức và hoạt động công chứng

Hoạt động công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công Công chứng

là một biện pháp phòng ngừa tranh chấp, giúp công dân, tổ chức thực hiện vàbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng pháp luật Hoạt động côngchứng là hoạt động bổ trợ tư pháp, cung cấp chứng cứ cho hợp đồng tư phápnhưng hoàn toàn khác với hoạt động của các cơ quan tư pháp

Trước đây, công chứng ở Việt Nam hoàn toàn do các cơ quan nhà nướcthực hiện, mang tính quyền lực nhà nước Hiện nay, theo Luật Công chứngnăm 2006, tổ chức hành nghề công chứng gồm Phòng Công chứng (doUBND cấp tỉnh thành lập, trực thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở và con dấu riêng)vàVăn phòng công chứng (do Công chứng viên thành lập, hoạt động theo quyđịnh của Luật Doanh nghiệp) Cả 2 loại hình này đều đặt dưới sự quản lý củanhà nước

1.1.3 Khái quát chung về Văn phòng công chứng

1.1.3.1 Khái niệm Văn phòng công chứng

Mô hình VPCC đã có từ rất lâu trên thế giới, còn ở Việt Nam, VPCC chỉxuất hiện sau khi Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực pháp luật Đây làlần đầu tiên Việt Nam thừa nhận một mô hình VPCC, tồn tại song song bêncạnh Phòng Công chứng, là một trong hai hình thức tổ chức hành nghề côngchứng được quy định tại Điều 23 của Luật Công chứng

Có thể nói, sự ra đời của Luật Công chứng 2006, với chủ trươngchuyển giao, sắp xếp lại thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tổchức có thẩm quyền công chứng, cũng như việc luật hóa mô hình VPCC đãđánh dấu một bước tiến quan trọng trong quản lý nhà nước đối với hoạt độngcông chứng ở nước ta hiện nay, là bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực công

Trang 15

chứng Luật Công chứng là cơ sở pháp lý để nhà nước quản lý các giao dịchdân sự và thúc đẩy chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng.

Việc thành lập các VPCC ở nước ta được xuất phát từ những lý do sauđây:

- Thực tiễn hoạt động của công chứng trong thời gian qua cho thấy, nhucầu công chứng của tổ chức cá nhân ngày một tăng cao trong khi sự phát triểncủa các Phòng Công chứng không theo kịp, dẫn đến quá tải Công chứng viên

là công chức nhà nước nên việc phát triển đội ngũ Công chứng viên gặp rấtnhiều khó khăn do thiếu biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất từ đó dẫn đến việcphát triển các tổ chức hành nghề công chứng không theo kịp sự phát triển vềnhu cầu công chứng của tổ chức, cá nhân Đồng thời, thực hiện chủ trương xãhội hoá công chứng đã được đề ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ

Chính trị là “Xây dựng mô hình QLNN về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi thích hợp để từng bước

xã hội hoá công việc này”.

- Nền kinh tế nước ta chuyển từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tếthị trường thì việc phải thay đổi cách làm, cách nghĩ bằng chủ trương xã hộihoá là chủ trương rất lớn mà Đại hội lần thứ X đặt ra và điều đó là phù hợp.Trong xây dựng nhà nước pháp quyền nhà nước không thể ôm tất cả, cơ quannhà nước chỉ làm những gì đích thực mình phải làm, còn lại nhà nước phải trởthành bà đỡ cho các hoạt động khác trên cơ sở ban hành chính sách pháp luật

- Việc quy định VPCC do Công chứng viên không phải là công chức nhànước thành lập phù hợp với mô hình công chứng Latin, phù hợp với xu thếphát triển của công chứng nhiều nước trên thế giới; Công chứng viên khôngphải là công chức nhà nước nhưng do nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệm.VPCC không phải là cơ quan hành chính nhà nước Một số nước theo môhình công chứng nhà nước thuần tuý trước đây cũng dần dần chuyển đổi vàtồn tại và cả hai mô hình công chứng nhà nước và công chứng hành nghề tự

do như Trung Quốc, Nga, Ba Lan…

Xuất phát từ những lý do trên, Điều 26 Luật Công chứng đã quy định

về VPCC như sau:

1 VPCC do Công chứng viên thành lập VPCC do một Công chứng viên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình DNTN VPCC

Trang 16

do hai Công chứng viên trở lên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh Người đại diện theo pháp luật của VPCC là Trưởng văn phòng Trưởng VPCC phải là Công chứng viên.

2 VPCC có trụ sở, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc

tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ kinh phí đóng góp của Công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác Chính phủ quy định con dấu của VPCC.

3 Tên gọi của VPCC do Công chứng viên lựa chọn nhưng phải bao gồm cụm

từ “Văn phòng Công chứng”, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu

vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Từ quy định của pháp luật trên đây, có thể hiểu một cách khái quát: Văn phòng công chứng là doanh nghiệp, trong đó có ít nhất một công chứng viên trở lên thành lập, được tổ chức theo loại hình DNTN hoặc Công ty Hợp danh, thực hiện các hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật

Có thể nói, VPCC ra đời đánh dấu một bước phát triển xã hội hóa, xoá

bỏ độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực công chứng Trong quá trình đó,nhà nước rút dần khỏi việc trực tiếp cung ứng dịch vụ công chứng, tiến tớichuyển giao hẳn cho các chủ thể phi nhà nước thực hiện, nhà nước chỉ đóngvai trò duy nhất là người thực hiện QLNN Vì đây là mô hình hoàn toàn mới,chưa có tiền lệ, nên việc tổ chức thực hiện việc quản lý không tránh khỏinhững bỡ ngỡ Trong giai đoạn đầu của quá trình cải cách, song song tồn tạihai hệ thống bên cạnh các Phòng Công chứng nhà nước đã thành lập, với cácCông chứng viên nhà nước là các VPCC mới thành lập, dần được nhân rộngvới các Công chứng viên hành nghề tự do, đặt dưới sự quản lý bằng pháp luậtcủa nhà nước

Mặc dù còn nhiều khó khăn trong tổ chức, hoạt động, song trong giai đoạnđầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế của đất nước, VPCC thực sự đã gópphần tạo môi trường pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mạiphát triển, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, tạo sự ổn định cho xãhội Điều quan trọng hơn là sự ra đời của VPCC đã góp phần mở rộng dân

Trang 17

chủ, tạo điều kiện để người dân bước đầu hình thành ý thức sử dụng các công

cụ pháp lý, biện pháp hợp pháp để bảo vệ mình trong đời sống dân sự; tạo chongười dân ý thức, trách nhiệm tốt hơn khi tham gia giao lưu dân sự, kinh tế,thương mại

1.1.3.2 Đặc điểm của Văn phòng công chứng

a Về tổ chức của Văn phòng công chứng

Theo quy định tại điều 26 của Luật Công chứng, VPCC là tổ chức dịch

vụ công do một hoặc một số Công chứng viên hành nghề tự do thành lập.VPCC do một Công chứng viên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loạihình Doanh nghiệp Tư nhân; do hai Công chứng viên trở lên thành lập được

tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty Hợp danh Người đại diện theopháp luật của VPCC là trưởng VPCC Trưởng VPCC phải là Công chứngviên VPCC có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc

tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ kinh phí đóng góp của Công chứngviên, phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu nhập hợp phápkhác

Việc xác định VPCC hoạt động theo loại hình DNTN hay Công ty Hợpdanh nhằm mục đích chính là xác định về thuế, thuê lao động, kế toán, thống

kê, … Các quyền và nghĩa vụ của VPCC được quy định trong Luật Côngchứng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan

b Về hoạt động củaVăn phòng công chứng

Hoạt động của VPCC vừa mang tính công quyền (nhân danh nhà nước vìlợi ích Nhà nước), vừa mang tích chất dịch vụ công (nhằm mục đích phục vụngày càng tốt hơn cho lợi ích của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu côngchứng, trên cơ sở phù hợp với lợi ích của toàn xã hội) Tính chất dịch vụ côngcủa VPCC hướng đến 3 lợi ích:

- Lợi ích của Nhà nước: Sự ra đời của VPCC đã giúp nhà nước vừa giảmbớt được gánh nặng cho mình vừa phát huy được tối đa nguồn lực trong xãhội, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

- Lợi ích của các bên tham gia giao dịch: VPCC đã giúp cho các tổ chức,

cá nhân thực hiện các giao dịch của mình một cách thuận lợi, đồng thời bảo

vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch;

Trang 18

- Lợi ích của VPCC: VPCC khi thực hiện hoạt động công chứng được thuphí và thù lao công chứng theo quy định

c Nguồn tài chính của Văn phòng công chứng

VPCC hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu kinhphí đóng góp của Công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng vàcác nguồn thu hợp pháp khác, bao gồm:

- Kinh phí đóng góp của Công chứng viên: Theo Luật Doanh nghiệp

- Phí công chứng: Phí công chứng bao gồm phí công chứng hợp đồng,

giao dịch, phí lưu giữ di chúc, phí cấp bản sao văn bản công chứng Mức thuphí công chứng được áp dụng thống nhất đối với Phòng Công chứng vàVPCC Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp quy định mức thu, chế

độ quản lý, sử dụng phí công chứng

- Thù lao công chứng: Là khoản tiền do VPCC thu từ việc soạn thảo

hợp đồng, giao dịch, đánh máy, sao chụp và các việc khác liên quan đến côngviệc công chứng theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng Mức thù lao đốivới từng loại việc do tổ chức hành nghề công chứng xác định

- Các nguồn thu khác: Là khoản tiền do VPCC thu từ việc người yêu

cầu công chứng đề nghị xác minh, giám định hoặc thực hiện công chứngngoài trụ sở của VPCC

Mức chi phí này do người yêu cầu công chứng và tổ chức hành nghề côngchứng thoả thuận

d Hoạt động công chứng là hoạt động dịch vụ công

Việc xã hội hóa hoạt động công chứng không phải là “tư nhân hoá hoạtđộng công chứng” và cũng không phải là “chuyển chức năng công chứng từtay nhà nước cho bất cứ ai trong xã hội” mà là hoạt động dịch vụ công Tuykhông phải là hoạt động quản lý nhà nước nhưng nó góp phần hỗ trợ tích cực

để nhà nước thực hiện quản lý đối với các hợp đồng, giao dịch Trong điềukiện nền kinh tế thị trường, khi các quan hệ dân sự, thương mại được mởrộng thì sự hiện diện của cácVăn phòng công chứng là hết sức cần thiết, gópphần chia sẻ sự quá tải của các Phòng Công chứng, đồng thời cũng tạo nên sựcạnh tranh lành mạnh cho lĩnh vực hoạt động này VPCC ra đời đã chia sẽgánh nặng với chính nhà nước, trước đây công chứng hoàn toàn độc quyền,cảnh xếp hàng dài trước cửa các Phòng Công chứng là chuyện thường ngày

Trang 19

mà gây bức xúc cho người dân Mở ra các VPCC chất lượng được cải cáchmột cách đáng kể, ngày một nâng cao chất lượng dịch vụ công cùng với vaitrò của nhà nước góp phần quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật, bảo vệ thểchế nền hành chính nhà nước và quyền lợi chính đáng của công dân, góp phầntăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VĂN PHÒNG CÔNGCHỨNG

1.2.1 Khái niệm quản lý, quản lý nhà nước

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ýnghĩa:

- “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định;

- “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định.Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quátrình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý” Quá trình “quản” gồm sự coisóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việcsửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển” Nếu người quản

lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ;tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức,đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triểnkhông bền vững Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có

“quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng Sự quản

lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuậtlàm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau

Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý:

- Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đãtừng nói rằng: “Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi

cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo” Tiếng Việtcũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và “leader”trong tiếng Anh

- Theo Haror Koontz, quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sựphối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định

Trang 20

- Theo Mariparker Follit (1868 – 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triếthọc Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thôngqua người khác”.

- Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 nămnhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa họcmới xuất hiện Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách

“Các nguyên tắc quản lý theo khoa học” Theo ông thì người quản lý phải lànhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc

Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảoquan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn vàkiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng cácnguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”

Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ kháiniệm “tổ chức” Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉnói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùnghoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích gì đó mộtcon người riêng lẻ không thể đạt đến Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơcấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổchức hoạt động và đạt được mục đích của mình

Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất

cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câuhỏi; Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thểquản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì?(Công cụ quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý) Từ đó chúng ta cóthể đưa ra định nghĩa:

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường.

Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội Bất kỳ ở đâu, lúcnào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuấthiện quản lý Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành

Trang 21

các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trênnhững quy luật khách quan Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượngquản lý càng cao.

Khái niệm quản lý nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời

và tồn tại của nhà nước

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của

cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên cácphương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhànước là hoạt động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan lập pháp, cơquan hành pháp, cơ quan tư pháp Quản lý nhà nước có các đặc điểm sau đây:

- Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, công chức trong bộ máy nhànước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp vàquyền tư pháp

- Đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinhsống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

- Quản lý nhà nước có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoạigiao…

Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định

và phát triển bền vững trong xã hội

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều

hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mụctiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nóichung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tínhchất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độcông tác nội bộ của mình, chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sátnhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luậtcán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ Quản lý nhà nước theonghĩa hẹp còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước với cácđặc điểm sau đây:

Thứ nhất, Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang quyền lực nhà nước.

Trang 22

Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước trước hết thểhiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông quaphương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọngđược sử dụng là văn bản quản lý hành chính nhà nước Bằng việc ban hànhvăn bản, chủ thể quản lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dướidạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt độngxây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thểhóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trênthành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn;dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trựctiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dướinhững dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động, nhằm tổ chức thựchiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lậpvới cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hànhchính nhà nước.

Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp.

Cách hiểu phổ biến hiện nay thì nhà nước có ba quyền năng: lập pháp,hành pháp và tư pháp Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếuthuộc về các cơ quan hành chính nhà nước, tuy nhiên trong rất nhiều hoạtđộng khác như: việc ổn định tổ chức nội bộ của các cơ quan nhà nước, hoạtđộng quản lý được tiến hành bởi các bộ…Trong những trường hợp này quyềnnăng hành pháp cũng thể hiện rõ nét và nếu xét về bản chất thì tương đồngvới hoạt động hành pháp của các cơ quan hành chính nhà nước

Thứ ba, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ

Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ

quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương tới địaphương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉđạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sựliên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp,tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khácnhau Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều

Trang 23

kiện kinh tế - xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địaphương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy hànhchính còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủđộng sáng tạo cho chính quyền địa phương.

Thứ tư, hoạt động quản lý hành chính nhà nước mang tính chấp hành

và điều hành.

Tính chấp hành và điều hành của hoạt động QLNN thể hiện trong việcnhững hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đíchthực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thểquản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấpdưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…,trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật

QLNN là một dạng đặc biệt của quản lý, được sử dụng các quyền lựcnhà nước như lập pháp hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đờisống xã hội Trong đó, QLNN mang tính quyền lực đặc biệt là tính tổ chứccao, và có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu,hơn cả là QLNN ở Việt Nam mang nguyên tắc tập trung dân chủ QLNNkhông có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý và

nó luôn đảm bảo tính liên tục, ổn định trong tổ chức

1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của Quản lý Nhà nước đối với Văn phòng công chứng

1.2.2.1 Khái niệm Quản lý Nhà nước đối với Văn phòng công chứng

Từ khi ra đời VPCC, công chứng được biết đến như một hoạt động dịch

vụ pháp lý để đảm bảo cho các giao dịch, nếu nhà nước không có nhữngchính sách quản lý phù hợp thì vô hình chung hoạt động VPCC có thể trởthành công cụ tiếp sức cho các hành vi vi phạm pháp luật, thực tế thì sau khicác VPCC được thành lập một cách ồ ạt không có quy hoạch tổng thể, bảnthân đây là lĩnh vực mới gần như QLNN đang bỏ ngỏ, vì thế thời gian qua đã

có những hậu quả vô cùng to lớn

Quản lý Nhà nước với VPCC là việc nhà nước dùng các biện pháp, công cụ có được tác động vào lĩnh vực công chứng để hệ thống VPCC hoạt động đúng định hướng, mục tiêu mà Nhà nước mong muốn

Trang 24

Trong thời gian qua, hoạt động của VPCC ở nước ta đã có những đónggóp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khẳng định ngàycàng rõ hơn vị trí vai trò quan trọng của công chứng trong đời sống xã hội,đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về công chứng của nhân dân trong nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời là công cụ đắc lực phục

vụ QLNN có hiệu quả, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch, góp phầntích cực vào việc phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, tăng cường phápchế xã hội chủ nghĩa

1.2.2.2 Đặc điểm của Quản lý Nhà nước đối với Văn phòng công chứng

a Quản lý nhà nước đối với Văn phòng công chứng nhằm đảm bảo sự

ổn định và phát triển của các Văn phòng công chứng theo hướng xã hội hóa

Với vai trò, chức năng và vị trí đặc biệt nên các tổ chức hành nghề côngchứng phải mang tính ổn định và phát triển bền vững rất cao Không giốngnhư sự phát triển của các mô hình dịch vụ công khác, sự phát triển của các tổchức hành nghề công chứng cần có sự điều tiết, phân bổ và kiểm soát trongmột quy hoạch, nhất là sau khi hoạt động công chứng đã được xã hội hóa.Chính vì vậy, rất cần thiết có quy hoạch phát triển các mạng lưới các tổ chứchành nghề công chứng, cũng như thực hiện QLNN về công chứng trên toànthành phố để bảo đảm các tổ chức hành nghề công chứng được thành lập vàphân bố một cách hợp lý, khoa học, đáp ứng các yêu cầu công chứng củanhân dân một cách đầy đủ và thuận tiện

Mục tiêu của xã hội hóa công chứng là phát triển rộng mạng lưới côngchứng, xóa bỏ việc kiêm nhiệm chức năng công chứng của các cơ quan hànhchính, nâng cao chất lượng dịch vụ công Cải cách xã hội gắn liền với cảicách hoạt động tư pháp là một trong những lĩnh vực được quan tâm hàng đầu.Nếu nhà nước buông lỏng quản lý, hậu quả sẽ là vô cùng nghiêm trọng Thực

tế đã chứng minh, do chúng ta chưa có đựợc một hệ thống pháp luật trải rộng

và thống nhất trong việc áp dụng, chưa có một ngân hàng hồ sơ lưu trữ tốt nên

đã có rất nhiều tranh chấp phát sinh từ hoạt động của công chứng Điều đóthêm một lần nữa khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của VPCC trong sựnghiệp phát triển ổn định kinh tế xã hội tại Việt Nam hiện nay Mô hìnhVPCC đã truyền tải ý chí đổi mới của nhà nước, góp phần thiết thực vào hoạtđộng xây dựng chính sách công về công chứng theo tinh thần Nghị quyết Đại

Trang 25

hội X của Đảng: “Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân” “Đổi mới

cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng”, “Phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội

để cùng nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội và chăm lo phát triển các dịch

vụ công cộng”

Việc xã hội hóa dịch vụ công chứng cũng đồng nghĩa với việc cần nângcao trách nhiệm của cơ quan QLNN đối với hoạt động cung ứng loại hìnhdịch vụ này QLNN đối với hoạt động công chứng sau khi hệ thống cácVPCC được thành lập có những điểm mới thay đổi căn bản, theo đó, đốitượng của hoạt động QLNN hiện nay ngoài các Phòng Công chứng còn baogồm các VPCC Hoạt động QLNN đối với Văn phòng công chứng gắn liềnvới việc quy định các tiêu chuẩn thành lập VPCC, cấp phép thành lập, bổnhiệm Công chứng viên, giám sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động công chứng

b Quản lý nhà nước đối với Văn phòng công chứng nhằm đảm bảo tính xác thực, tính hợp pháp cũng như hiệu lực của văn bản công chứng

Với vai trò của công chứng là chứng nhận tính xác thực (sự có thực,hợp pháp của các hợp đồng giao dịch) công chứng có vai trò tích cực trongviệc phòng ngừa các tranh chấp hợp đồng, giao dịch có thể xảy ra Vì thế, vănbản công chứng có ý nghĩa là chứng cứ trước tòa, là căn cứ pháp lý hợp pháp

để xác lập quyền sở hữu cho các bên có quyền liên quan (ví dụ văn bản côngchứng hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất làcăn cứ để cơ quan đăng ký nhà đất cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở,quyền sử dụng đất cho các chủ thể ) Ngoài ra, công chứng còn có vai trò tưvấn: Công chứng viên tư vấn cho người yêu cầu công chứng về các thủ tụcpháp lý trong hoạt động công chứng (khác với luật sư) ; Hoạt động côngchứng đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước (thu phí công chứng )

Có thể nói công chứng có mặt hầu hết trên các lĩnh vực, và gắn liền vớiđời sống của một cá nhân, một con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi, đếnmọi hoạt động của một xã hội để đảm bảo cho mọi giao dịch xã hội được pháttriển an toàn, bền vững Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường cần phảithiết lập và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, cũng như quyền được hưởng các lợiích kinh tế xuất phát từ các sử dụng quyền sở hữu đó thông qua công chứng

Trang 26

Văn bản công chứng là hành lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi ích hợppháp của công dân, tổ chức, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừahành vi vi phạm pháp luật, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp hoặc khi có rủi rotranh chấp xảy ra các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào văn bảncông chứng để giải quyết các vụ việc tranh chấp Văn bản công chứng có giátrị chứng cứ và Công chứng viên là người được nhà nước bổ nhiệm, chịutrách nhiệm trước pháp luật đối với những giao dịch, hợp đồng mà mìnhchứng nhận, vì thế, nó có hiệu lực thi hành đối với các bên.

c Quản lý nhà nước đối với Văn phòng công chứng nhằm đảm bảo cho hoạt động của Văn phòng công chứng đúng phạm vi quy định của pháp luật, không trái pháp luật và đaọ đức xã hội

QLNN có vai trò định hướng sự phát triển của ngành theo lĩnh vựccông chứng, xuất phát từ bản chất của hoạt động công chứng là một hoạt độngcông quyền của nhà nước, công chứng là hoạt động được nhà nước ủy quyền

để chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các hợp đồng, giao dịch Vìthế, việc xác định phạm vi, ranh giới các việc công chứng, nói cách khác làxác định thẩm quyền củaVăn phòng công chứng được làm những việc gì có ýnghĩa rất quan trọng đối với nhà nước trong quản lý đối vớiVăn phòng côngchứng, nhằm phòng ngừa những vi phạm rất dễ xảy ra trong lĩnh vực này

Việc xác định phạm vi công chứng ở các nước không giống nhau, tùythuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng nước và do nhà nước lựa chọn,

nhưng thông thường có 2 cách: Cách thứ nhất, nhà nước liệt kê các việc công chứng: được áp dụng ở các nước Xã hội Chủ nghĩa trước đây; cách thứ hai,

nhà nước xác định phạm vi (khung pháp lý), sau đó các văn bản pháp luật sẽquy định những việc bắt buộc phải công chứng (Anh, Pháp, Đức)

Ở Việt Nam, thực tiễn hoạt động công chứng từ khi có Nghị định45/HĐBT cho thấy, hoạt động công chứng ngày càng phát triển Một mặt, do

sự phát triển của nền kinh tế thị trường tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế,thương mại ngày càng phong phú, đa dạng; mặt khác, do nhận thức pháp luậtcủa người dân về quyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ dân sự ngày

càng cao Với mục đích: “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” [25, tr 17], đã

Trang 27

chứng minh một chân lý rằng, trong bất kỳ lĩnh vực nào, để đạt được thànhcông, yếu tố đầu tiên là phải xác định được mục đích của công việc đó cầnhay không cần phải làm cái gì Trong lĩnh vực hoạt động công chứng, việcxác định phạm vi công chứng mở rộng hay thu hẹp sẽ tùy thuộc vào nhu cầuquản lý nhà nước ở từng giai đoạn cụ thể.

Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển rất năng động của cơ chế thịtrường và sự hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của công chứng ngày càng trởnên quan trọng, giúp nhà nước quản lý tốt các hoạt động giao dịch Luật Côngchứng năm 2006 đã thể hiện bước đột phá trong việc mở rộng phạm vi côngchứng, theo hướng: Cơ quan công chứng được phép chứng nhận các hợpđồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức

tự nguyện yêu cầu, trừ quy định tại khoản 1 điều 2 Luật Công chứng Đây lànhững quy định rất tiến bộ, vừa có tính khoa học, vừa có tính pháp lý Việcxác định mục đích và nội dung hợp đồng khi công chứng không vi phạm phápluật, không trái đạo đức xã hội là giới hạn phạm vi hoạt động củaVăn phòngcông chứng Nhà nước sẽ áp dụng trách nhiệm pháp lý rất nặng nề đối với cácchủ thể thực hiện hành vi công chứng, đòi hỏi Công chứng viên vừa phải cónghiệp vụ chuyên môn cao, vừa phải có đạo đức nghề nghiệp trong sáng mới

có thể đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ

Công chứng viên của VPCC đều do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm

và hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật Công chứng viên trongtác nghiệp chuyên môn không chịu trách nhiệm trước cơ quản lý hay trướcTrưởng phòng mà tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Công chứng viên có sựđộc lập khi tác nghiệp, vì thế ở khía cạnh này, Công chứng viên không bị lệthuộc vào cấp trên Pháp luật không cho phép các cơ quan quản lý, trưởngVPCC áp đặt mệnh lệnh hành chính hay can thiệp thiếu căn cứ pháp luật vàotác nghiệp chuyên môn Để đảm bảo việc các Công chứng viên làm đúng theoquy định của pháp luật, VPCC phải đảm bảo bằng việc mua bảo hiểm, tuynhiên bảo hiểm như thế nào, và đền bù như thế nào khi các Công chứng viênthực hiện công chứng sai quy định của pháp luật thì gần như trong các vănbản QLNN đều chưa tiên liệu được vấn đề này Ví du: Như vụ việc củaTrưởng VPCC Việt Tín là một ví dụ, qua đó với số lượng khoảng 200 bộ hồ

sơ giao dịch vị phạm pháp luật đã để lại một hậu quả vô cùng to lớn, làm ảnh

Trang 28

hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định của xã hội, người phải chịu hậuquả này không ai khác chính là các cá nhân, tổ chức tham gia các giao dịchnày Bản thân họ phải tự bảo vệ quyền lợi của mình chứ không phải ai khác.Điều này đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho sự QLNN với các VPCC,buộc nhà nước phải có những biện pháp hữu hiệu Quy định chi tiết hơn, cácluật quy định phải đồng nhất tránh tình trạng làm thế nào cũng đúng Hậu quảcuối cùng chỉ là những bên tham gia các giao dịch không được đảm bảo sẽphải hứng chịu.

1.2.3 Các nguyên tắc quản lý nhà nước đối với Văn phòng công chứng

1.2.3.1 Nguyên tắc bảo đảm sự quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Văn phòng công chứng

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, Chính phủ thống nhấtquản lý nhà nước vềVăn phòng công chứng; Bộ Tư pháp chịu trách nhiệmtrước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước đối vớiVăn phòngcông chứng trong phạm vi toàn quốc; UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước đốivớiVăn phòng công chứng trên phạm vi địa phương

1.2.3.2 Nguyên tắc bảo đảm sự độc lập và tự chịu trách nhiệm của Công chứng viên trong thực hiện hoạt động công chứng

Ở Việt Nam hiện nay, công chứng là hoạt động do nhà nước tổ chức vàquản lý, song hành vi công chứng lại do Công chứng viên thực hiện một cáchđộc lập, không bị chi phối hoặc áp đặt bởi bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào, vìthế, người thực hiện hành vi công chứng phải chịu trách nhiệm cá nhân trướcpháp luật về công việc do mình thực hiện Theo quy định hiện hành, côngchứng là một trong số các nghề bổ trợ tư pháp, Công chứng viên là một chứcdanh tư pháp Công chứng viên hoạt động độc lập, tuân theo pháp luật, thủtrưởng cơ quan công chứng không chịu trách nhiệm về văn bản công chứng

do công chứng viên thực hiện

Ngoài ra, Công chứng viên còn phải đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối vềnội dung công chứng và các thông tin liên quan đến hoạt động công chứng,trừ những trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản

về việc cung cấp hồ sơ công chứng phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra,truy tố, xét xử vụ việc có liên quan đến việc đã công chứng

Trang 29

1.2.3.3 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa trong quản

lý hoạt động của Văn phòng công chứng

Nguyên tắc pháp chế XHCN trong quản lý hoạt động củaVăn phòngcông chứng đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước về công chứng khi thực hiệnvai trò quản lý, điều hành phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật;những người yêu cầu công chứng và những người thực hiện hành vi côngchứng phải nghiêm chỉnh và triệt để tuân thủ pháp luật trong thực hiện quyền

và nghĩa vụ của mình nhằm đảm bảo sự thống nhất về kỷ cương, trật tự, hiệulực và hiệu quả quản lý nhà nước

1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước đối với Văn phòng công chứng

Quản lý nhà nước đối với Văn phòng công chứng gồm: Thành lập, hoạtđộng, giải thể, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lí vi phạm

về công chứng, có thể chia thành 3 nội dung chính:

Thứ nhất, quản lý Văn phòng công chứng về mặt hình thức

Luật Công chứng và các văn bản pháp luật khác có liên quan đều cócác quy định trực tiếp về tổ chức, hoạt động, quyền và nghĩa vụ của VPCC;tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, quyền và nghĩa vụ của công chứng viên; thủtục, yêu cầu đối với hoạt động công chứng Nội dung này bao gồm các quyđịnh:

- Điều kiện, hồ sơ thành lập VPCC: Điều kiện thành lập VPCC rấtthông thoáng nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển mô hình VPCC TheoLuật Công chứng thì khi xin phép thành lập VPCC, Công chứng viên thànhlập VPCC phải có hồ sơ đề nghị thành lập văn phòng gửi UBND cấp tỉnh, hồ

sơ gồm có:

- Đơn đề nghị thành lập VPCC: theo Quyết định số 01/2008/QĐ-BTPngày 20/02/2008 của Bộ Tư Pháp đối với VPCC do một Công chứng viênthành lập hoặc Quyết định số 01/2008/QĐ-BTP ngày 20/2/2008 của Bộ Tưpháp đối với VPCC do hai Công chứng viên trở lên thành lập

- Đề án thành lậpVăn phòng công chứng: Đề án thành lập cần phải nêu

rõ sự cần thiết thành lập, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ

sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện;

VPCC có trụ sở riêng với địa chỉ cụ thể và phải đáp ứng các yêu cầunhư phải đủ diện tích làm việc cho Công chứng viên, nhân viên, tiếp người

Trang 30

yêu cầu công chứng và lưu trữ hồ sơ theo quy định của pháp luật, nếu là địađiểm đi thuê thì tối thiểu phải 03 năm và diện tích cho phép phải đủ lớn Mụcđích của việc quy định này là để Công chứng viên khi chuẩn bị các thủ tụcthành lập VPCC phải xác định rõ: hoạt động công chứng phải tương xứng vớitính chất là một tổ chức thay mặt nhà nước thực hiện dịch vụ công, phải được

tổ chức thực hiện một cách quy củ, tránh tình trạng tạm bợ của hoạt độngcông chứng hoặc kết hợp thực hiện các dịch vụ khác không phù hợp với tínhnghiêm túc của hoạt động công chứng

- Bản sao quyết định bổ nhiệm Công chứng viên

Sở Tư pháp là cơ quan giúp Uỷ ban Nhân dân tiếp nhận, xem xét, kiểm tra hồ

sơ đề nghị thành lập VPCC, trình Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định chophép thành lập VPCC Sau khi được cấp phép thành lập, VPCC phải đăng kýhoạt động tại Sở Tư pháp của địa phương nơi cho phép thành lập trong thờihạn 90 ngày

Thứ hai, quản lý Văn phòng công chứng về mặt nội dung (quản lý nhà nước đối với các hợp đồng giao dịch thông qua hoạt động của VPCC).

Vấn đề này không được quy định một cách trực tiếp trong Luật Côngchứng mà pháp luật chỉ có thể tác động gián tiếp thông qua các quy định vềnguyên tắc của hoạt động VPCC, áp dụng pháp luật của nhiều lĩnh vực khácnhau Sự ra đời của các VPCC chính là sự "san sẻ" một phần quyền lực củanhà nước cho các Công chứng viên Vai trò của họ được ví như một "thẩmphán phòng ngừa" Chính vì vậy, việc thẩm định kỹ càng các văn bản trướckhi công chứng là công việc tối quan trọng của các văn phòng này Bởi nếuVPCC chứng thực không chính xác, sẽ gây thiệt hại rủi ro cho khách hàng thì

họ sẽ phải bồi thường bằng tài sản của mình hoặc khách hàng có thể kiệnCông chứng viên, VPCC ra tòa

Hoạt động công chứng bao gồm một loạt các thủ tục rất phức tạp kể từkhi Công chứng viên tiếp nhận ý chí của các bên giao kết hợp đồng như: xácđịnh tư cách chủ thể của các bên, kiểm tra năng lực hành vi dân sự của chủthể, tính tự nguyện của các bên trong giao kết hợp đồng, xác định nguồn gốchợp pháp của đối tượng hợp đồng, kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng

Trên thực tế còn nhiều bất cập trong quy định pháp luật của lĩnh vựcnày Như giấy tờ tùy thân cần xuất trình khi làm thủ tục công chứng hợp

Trang 31

đồng, văn bản cũng lại thành ra… chuyện không nhỏ luật quy định người yêucầu công chứng phải nộp bản sao giấy tờ tùy thân Tuy nhiên, chưa thấy vănbản nào nói rõ giấy tờ tùy thân là loại gì nên văn phòng từ chối công chứngkhi người yêu cầu xuất trình giấy phép lái xe, thẻ đảng viên, thẻ sinh viên…

vì các loại giấy tờ tùy thân khác bị mất, bị rách nát không thể nhận dạng.Cạnh đó, chủ thể là hộ gia đình cũng làm các Phòng Công chứng lúng túng:Thành viên nào trong hộ gia đình được tham gia xác lập hợp đồng giao dịch?Trên thực tế các thành viên nhập nhờ vào hộ khẩu đúng vào thời điểm cấpgiấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thì giải quyết thế nào ?Các thành viên nhập vào sau thời điểm cấp sổ hộ khẩu có được tham gia kýkết hợp đồng, giao dịch không ?

Có thể thấy được, sau gần 3 năm khi Luật Công chứng có hiệu lực (từ1-7-2007), áp lực quá tải ở các Phòng Công chứng nhà nước đã giảm Hàngloạt các VPCC được ra đời Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh các VPCCkhiến công tác quản lý hoạt động này đã bộc lộ nhiều kẽ hở, nảy sinh tộiphạm hình sự… Nhất là từ sau cái chết đột ngột của ông Nguyễn Minh Hải -Trưởng VPCC Việt Tín (trụ sở tại phố Tô Hiến Thành, quận Hai Bà Trưng,

Hà Nội), cơ quan chức năng đã phát hiện ra rất nhiều hợp đồng được làm giảtinh vi mà văn phòng này công chứng Tuy nhiên, qua đó cho thấy, sự quản lýhoạt động của các VPCC còn lỏng lẻo, tạo cơ hội các đối tượng phạm tội

“khoét sâu” vào lỗ hổng này Đó chính là việc làm giả các tài liệu, con dấu,chữ ký trong các hợp đồng giao dịch dân sự, các giấy tờ công chứng uỷ quyền

để mua, bán và sang nhượng tài sản… Trong những bộ hồ sơ giả được VPCCViệt Tín công chứng do một số đối tượng đã làm giả các văn bản hợp đồngcông chứng uỷ quyền của một VPCC khác với nội dung nhượng tài sản nhà,đất Sau đó, mang hợp đồng uỷ quyền giả này đến VPCC Việt Tín để côngchứng hợp đồng mua bán tài sản cho người mua Qua đó thấy được nhữngvấn đề bất cập của việc áp dụng trình tự, thủ tục công chứng và đặc biệtnhưng vụ việc trên đã gióng lên hồi chuông đáng ngại về công tác thẩm địnhvăn bản cũng như các “lùm xùm” xung quanh hoạt động của VPCC, nhất làkhi yếu tố cạnh tranh, hút khách được nhiều văn phòng đưa lên hàng đầu.Việc bố trí địa điểm đặt các VPCC không khoa học, nhiều VPCC co cụm lạiphía Tây thành phố cũng vô tình tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh, nơi

Trang 32

thì thiếu chỗ thì thừa Hiện có tình trạng khách hàng khi bị một văn phòng từchối công chứng hợp đồng giao dịch vì thấy nội dung hợp đồng không phùhợp theo quy định đã mang ngay sang văn phòng khác và được chấp nhận.Hiện tượng "phá rào," dễ dãi trong việc chấp nhận công chứng các loại hợpđồng đã khiến cho chất lượng công chứng tại những văn phòng này đangđược đặt nhiều câu hỏi Thực tế cho thấy, sự non kém về nghiệp vụ và kinhnghiệm của không ít Công chứng viên đã dẫn tới tình trạng công chứng ẩu, kýxác thực công chứng mà không đọc kỹ văn bản Kết quả là có bản công chứng

bị cơ quan chức năng trả lại, không chấp thuận Đã có trường hợp VPCCchứng nhận giấy ủy quyền ra tòa để giải quyết vụ việc, nhưng lại bị tòa án trảlại vì trong giấy chứng nhận ủy quyền đó, đương sự chưa ký thì Công chứngviên đã ký sẵn rồi Có văn phòng chứng nhận di chúc thừa kế cho người thuộchàng thừa kế thứ nhất (trong khi người đó đã chết trên thực tế) nhưng lại bỏqua con của người đó

Hiện nay việc công chứng hợp đồng, giao dịch có liên quan đến bấtđộng sản có tình trạng khá lộn xộn, thiếu sự gắn kết giữa các tổ chức hànhnghề công chứng, thậm chí là sự đối lập nhau trong hoạt động nghiệp vụ thểhiện ở hiện tượng nơi này từ chối vì có thông tin ngăn chặn giao dịch, giấy tờkhông hợp lệ nhưng nơi kia lại công chứng vì không được chia sẻ thông tin.Nghiêm trọng hơn, hiện tượng một tài sản được công chứng ở nhiều tổ chứchành nghề công chứng với những chủ thể khác nhau không phải là hiếm gặp.Chính thực trạng này đã tạo điều kiện cho những Công chứng viên hạn chế vềtrình độ nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp trục lợi, sự nghi ngại của ngườiyêu cầu công chứng cũng như các cơ quan hữu quan đối với các tổ chức hànhnghề công chứng sau khi xã hội hoá cũng vì thế mà không dễ gì thay đổi Bêncạnh đó, hệ thống các VPCC thiếu sự liên kết thông qua mạng nội bộ để chia

sẻ thông tin, không có cơ sở dữ liệu chung để kiểm soát thực trạng các hợpđồng dẫn đến tình trạng một hợp đồng mua bán nhưng lại có tới 2 VPCC kýxác thực Nhiều ý kiến cho rằng bên cạnh việc tăng cường quản lý của các cơquan chức năng, cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu chung về công chứng trênmạng internet để giúp Công chứng viên ở VPCC tại các tỉnh, thành phố pháthiện những hợp đồng công chứng phạm pháp; thành lập Hiệp hội Công chứng

và cho rằng việc Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp các địa phương thường xuyên

Trang 33

mở lớp dạy, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ Công chứng viên tạicác VPCC là hết sức cần thiết, tránh những thiệt hại không đáng có về lâu dài.

Thứ ba, quản lý Văn phòng công chứng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm

Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm là một nội dung quan trọng trongcông tác lãnh đạo, quản lý nhà nước, là nhiệm vụ không thể thiếu của cơ quanlãnh đạo và chỉ đạo; là một trong ba việc phải làm của cơ quan Đảng và chínhquyền các cấp, là một bộ phận hợp thành của công tác lãnh đạo của Đảng vàNhà nước: Quyết định đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật; tổ chứcthực hiện và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện đó

Từ trước đến nay, Đảng ta luôn coi trọng công tác kiểm tra, coi đó là một bộphận rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng cũng như trong toàn bộcông tác lãnh đạo của Đảng Trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền thìcàng phải tăng cường công tác kiểm tra của Đảng, công tác kiểm tra, thanh tracủa Nhà nước Công tác thanh tra, kiểm tra là một chức năng quan trọng và cótính chất thường xuyên của cơ quan lãnh đạo và chỉ đạo

Thanh tra nhằm kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật Công chứng vàcác văn bản hướng dẫn thi hành, kịp thời phát hiện những vướng mắc bất cậpkhó khăn để có giải pháp phù hợp đối với cácVăn phòng công chứng Theoquy định, Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lýthống nhất về công chứng trong phạm vi cả nước Ban hành và hướng dẫn sửdụng hệ thống sổ công chứng, chứng thực, mẫu hợp đồng, giao dịch, mẫu lờichứng, đào tạo nghề công chứng Sở Tư pháp giúp Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnhthực hiện các nhiệm vụ quản lý công chứng, chứng thực như: Bồi dưỡngnghiệp vụ cho người thực hiện công chứng, hướng dẫn kiểm tra, thanh tra xử

lý Vì mô hình VPCC là mới, vì thế mà các quy định về thanh tra, kiểm tra,

xử lý bước đầu đã được tăng cường

Bằng những kết luận thanh tra đánh giá đúng thực trạng việc thực hiệnchủ trương, chính sách, pháp luật đối với các VPCC, ở ngành hoặc ở nhữngđơn vị cơ quan được thanh tra, kiểm tra với những nhận xét ưu, khuyết điểm,làm rõ nguyên nhân, có kiến nghị sửa chữa, khắc phục những khuyết điểm,thiếu sót mà thanh tra đã phát hiện, trong đó có những sơ hở, khiếm khuyếtcủa chủ trương, chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý… giúp cho cơ quan

Trang 34

lãnh đạo của Đảng, Nhà nước không những nắm được tình hình thực hiện chủtrương, chính sách, pháp luật, chỉ thị, mệnh lệnh… mà còn có cơ sở thực tiễn

để nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật,

cơ chế quản lý… đã ban hành hoặc ban hành chính sách mới phù hợp với sựphát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhậpkhu vực và thế giới

Kiểm tra, thanh tra là một biện pháp quan trọng góp phần tích cực phòng,chống bênh quan liêu, nạn tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm phápluật khác

Thực tiễn cho thấy, công tác thanh tra, kiểm tra ngày càng được nhìnnhận đầy đủ hơn vai trò của nó trong quá trình phát triển bộ máy nhà nướcXHCN Nếu như thời gian đầu Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp chỉ nhấn mạnh đếncông tác thanh tra nhằm “giám sát”, “kiểm soát”, coi đó như một sự bảo đảmcho việc thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách thì những năm tiếpsau đó, vai trò của thanh tra còn được khẳng định rõ ràng bằng các văn bảnluật, dưới luật, nó tham gia thúc đẩy quá trình phát triển của các chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Thanh tra không chỉ phát hiện

ra những sơ hở của bản thân cơ chế, chính sách, chỉ ra những khuyết tật của

bộ máy và quá trình vận hành bộ máy để sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh nhằmhoàn thiện hơn cơ chế, chính sách, đồng thời phát hiện biểu dương nhữngnhân tố mới, nhân tố tích cực và nhân rộng, phát huy những nhân tố điểnhình, tích cực đó

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VĂN PHÒNG CÔNG

CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 KHÁI QUÁT VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, TÌNH HÌNH DÂN CƯ, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

Hà Nội là thủ đô, đồng thời là thành phố đứng đầu Việt Nam về diệntích và thứ hai về dân số cả nước Nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú,nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ nhữngbuổi đầu của lịch sử Việt Nam Hiện nay Hà Nội gồm một thị xã, 10 quận và

19 huyện ngoại thành Cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một tronghai trung tâm kinh tế lớn của cả quốc gia

Hà Nội vào nửa đầu thế kỷ XX còn rất nhỏ Năm 1954, khi tiếp quảnThủ đô, Hà Nội chỉ rộng 152 km2, với 53.000 dân sinh sống Từ đó đến nay,sau nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính (trong đó có 3 lần mở rộng vàonăm 1961; 1978; và 2008), Hà Nội đã có diện tích tự nhiên tới 3.344,7002km2 và dân số là 6.448.837 người Sự mở rộng phạm vi lãnh thổ đã tạo cho

Hà Nội nhiều cơ hội phát triển cả về kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng và cảnhquan đô thị Xét về quy mô, năm 2009 Hà Nội đứng đầu cả nước về diện tích,thứ hai về dân số và tổng sản phẩm quốc nội (chỉ sau Tp Hồ Chí Minh) Nếunăm 2000, GDP của Hà Nội mới đạt 39.944 tỷ đồng (chiếm 9,04% tổng GDP

cả nước), thì đến năm 2007 đã tăng lên 137.935 tỷ (chiếm 12,06%), và năm

2009 là 205.890 tỷ đồng (chiếm 12,41%)

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hà Nội luôn nằm trong “Top” đầu

cả nước Kinh tế Hà Nội trong hai thập niên qua luôn đạt mức tăng trưởng khácao so với cả nước, trong đó bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt: 11,24%;2006-2009: 10,22% (cả nước tương ứng là 7,51% và 7,08%) Năm 2009, dotác động của khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu nên tốc độ tăngtrưởng kinh tế Hà Nội bị chững lại, song vẫn đạt mức cao hơn 23% so với cảnước, chỉ thấp hơn Tp Hồ Chí Minh (6,7% so với 5,32% và 8%) Sang năm

2010, tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm đạt 10,1% so với cùng kỳ nămtrước (cả nước: 6,16%), dự báo cả năm ước đạt khoảng 8%-8,5%, đưa tốc độ

Trang 36

tăng trưởng GDP trung bình thời kỳ 2006-2010 đạt khoảng 9,85% (cả nước6,96%)

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hà Nội

Nguồn: www.hanoi.gov.vn; và TBKTVN: Kinh tế VN và TG 2009-2010 (Năm

2010 là số liệu ước tính)

Rõ ràng, trong mọi điều kiện, dù thuận lợi hay khó khăn Hà Nội vẫnduy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, gấp từ 1,26 - 1,43 lần so với cảnước

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, ưu tiên phát triển xãhội hóa các loại hình dịch vụ: 10 năm qua, cơ cấu kinh tế Hà Nội đã chuyểndịch theo hướng giá trị nông, lâm, thủy sản tăng tuyệt đối (từ 4.154 tỷđồng/2000 lên 13.003 tỷ/ 2009) nhưng giảm tương đối (từ 10,4% xuống còn6,3%); tương ứng giá trị công nghiệp vừa tăng tuyệt đối (từ 14.570 tỷ đồnglên 85,297 tỷ đồng), vừa tăng tương đối (từ 36,5% lên 41,3%); còn ngànhdịch vụ, tuy tỷ trọng có giảm nhẹ từ 53,1%/2000 xuống còn 52,4%/2009,nhưng giá trị tuyệt đối vẫn tăng lên 5 lần, từ 21.220 tỷ đồng lên 107.590 tỷđồng

Từ năm 2008 tốc độ chuyển dịch cơ cấu bị chậm lại Tỷ trọng giá trịnông nghiệp/GDP so với năm 2007 không thay đổi, tỷ trọng côngnghiệp/GDP thậm chí còn giảm 0,2% Nhưng sang năm 2009, tỷ trọng nôngnghiệp/GDP lại giảm xuống được 0,2% So với cả nước, cơ cấu kinh tế của

Hà Nội tiến bộ hơn rất nhiều Số liệu năm 2009 cho thấy, tỷ trọng giá trị công

Trang 37

nghiệp - xây dựng và dịch vụ của Hà Nội đạt 94%/GDP, nhưng cả nước chỉđạt chưa đầy 80%.

Bảng 2: Biểu đồ cơ cấu kinh tế Hà Nội

Với nhận thức phải phát triển kinh tế Hà Nội xứng tầm với một Thủ đô hiệnđại, trong hai thập kỷ gần đây Hà Nội đã tập trung nguồn lực để phát triểnnhanh công nghiệp và dịch vụ Kết quả là, nhiều khu - cụm công nghiệp, điểmcông nghiệp làng nghề ra đời, trở thành trụ cột của sự phát triển kinh tế thànhphố

Thu nhập và đời sống của người dân

Sau 10 năm (2000-2009), mức thu nhập bình quân đầu người tại Hà Nội đãtăng lên 332%, bình quân mỗi năm tăng 33,2% (tương ứng, cả nước tăng290% và 29%) Theo dự báo của Thành phố, năm 2010 thu nhập bình quân cóthể lên đến 35 – 36 triệu đồng, tăng 10% - 13% so với năm 2009 Hiện tại, thunhập bình quân của Hà Nội đã cao gấp 64,8% so với mức trung bình cả nước(Bảng 1)

Bảng 3: GDP bình quân đầu người của Hà Nội và cả nước 2000 - 2010

Đơn vị: Triệu đồng

2000 2005 2006 2007 2008 2009 Ước tính 2010

Hà Nội 7,4 15,6 18,4 22,4 28,1 31,8 35-36*

Cả nước 5,7 10,2 11,7 13,6 17,4 19,3

-Nguồn: - Cục Thống kê Hà Nội, Niên giám thống kê 2008;

Tại Đề án “Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô Hà Nội đếnnăm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, các cơ quan lập chiến lược và quy hoạchphát triển kinh tế - xã hội Thủ đô dự kiến nhu cầu đầu tư toàn xã hội của Hà

Trang 38

Nội là 60 tỷ USD vào thời kỳ 2011-2015 và khoảng 97-98 tỷ USD vào thời

kỳ 2016-2020 Các cơ quan này cũng tính toán đến năm 2020 quy mô dân sốcủa Hà Nội đạt 8 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa đạt 54%, tăng trưởng tổng sảnphẩm trong nước hàng năm đạt 9-10% vào thời kỳ 2011-2020, GDP đầungười đạt 5.100 - 5.300USD/năm Cơ cấu lao động năm 2020 của Thủ đô sẽlà: Dịch vụ 55-56%; công nghiệp-xây dựng 29-30%; nông nghiệp 14-16%;năm 2030 tương ứng là: 59-60%; 34-35% và 5-6%, tỷ lệ dân số đô thị khoảng54-55%; năm 2030 khoảng 9,5 triệu người, tỷ lệ dân số đô thị khoảng 67-70% Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,86-0,90 Tỷ lệ thấtnghiệp khu vực đô thị năm 2020 dưới 5% Hệ thống giáo dục và đào tạo của

Hà Nội cũng sẽ được chuẩn hóa, tiên tiến và hiện đại Tỷ lệ lao động qua đàotạo năm 2020 dự kiến đạt 70-75% và năm 2030 là khoảng 85-90%

Trong Đề án Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội của Hà Nội đếnnăm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, thành phố Hà Nội xác định các khâu độtphá là: Xây dựng mô hình quản lý đô thị, cải cách hành chính, phát triểnnhanh nguồn nhân lực, phát triển đô thị vệ tinh để tạo những không gian pháttriển mới và giảm áp lực cho đô thị trung tâm Mục tiêu đặt ra là Hà Nội đứngthứ hai về quy mô kinh tế trong số các tỉnh thành trong cả nước và xếp hạngtrung bình trong số các thành phố có quy mô kinh tế lớn nhất thế giới với tốc

độ tăng trưởng GDP bình quân từ 9% đến 10%/năm trong giai đoạn

2011-2020, cơ cấu kinh tế chuyển dịch từng bước theo xu thế hiện đại hóa ưu tiênphát triển các ngành công nghiệp, công nghệ dịch vụ chất lượng cao kết hợpvới nông nghiệp đô thị sinh thái, kỹ thuật và sẽ thành lập một số quận, tổchức không gian đô thị theo mô hình trùm đô thị bao gồm: Đô thị trung tâmhạn nhân và 5 đô thị vệ tinh là: Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên -Phú Minh, Sóc Sơn Trên cơ sở đó sẽ có kế hoạch quy hoạch và đầu tư chophát triển phù hợp với các phân khu chức năng của các đô thị vệ tinh nêu trên.VPCC cũng được quy hoạch theo chiến lược pháp triển kinh tế của thành phố.Với mục tiêu dài hạn - tầm nhìn đến năm 2050 là đưa Hà Nội thành đô thị đặcbiệt, giàu, đẹp, văn hiến, văn minh, thanh lịch, dân tộc và hiện đại, tiêu biểucho cả nước Hà Nội sẽ trở thành trung tâm văn hoá lớn, nơi hội tụ các giá trịvăn hoá truyền thống, hiện đại đặc sắc của Việt Nam Thủ đô sẽ là trung tâmsáng tạo hàng đầu của cả nước với nhiều lĩnh vực đạt trình độ quốc tế Không

Trang 39

những thế, Hà Nội sẽ còn là trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ và thươngmại lớn nhất ở phía Bắc, thứ hai của cả nước và có vị trí cao trong khu vực,kinh tế tri thức phát triển với cơ cấu hiện đại, năng động và hiệu quả, về cơbản không còn khoảng cách giữa đô thị và nông thôn Hệ thống kết cấu hạtầng đa dạng, hiện đại, đồng bộ liên hoàn kết nối thông suốt trong thành phố

và với tất cả các địa phương trong nước và quốc tế Hà Nội đi đầu về pháttriển xã hội, thực hiện an sinh xã hội và là trung tâm giao dịch quốc tế chínhcủa cả nước và giao dịch quốc tế quan trọng trong khu vực Năm 2050, HàNội sẽ là thành phố xanh, kết hợp hài hoà giữa các đô thị và khu vực nôngthôn với hệ sinh thái bền vững, sạch, đẹp, môi trường được bảo vệ tốt; là khuvực phòng thủ vững mạnh, an ninh chính trị được đảm bảo; “Thành phố HoàBình”, trật tự an toàn xã hội tốt

Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế xã hội mạnh mẽ trong những nămtới, việc thực hiện cải cách hành chính, đặc biệt là việc xã hội hóa hoạt độngcông chứng sẽ góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô

Bên cạnh sự phát triển kinh tế - xã hội, Hà Nội là một địa bàn rộng diễn

ra các hoạt động kinh tế - xã hội đa dạng, sôi động nên những tranh chấp phátsinh từ những giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại xuất hiện ngày một nhiều.Đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thươngmại thế giới (WTO) đã thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển ngày mộtmạnh mẽ Thực tiễn đã chứng minh trong nền kinh tế thị trường, cá nhân vàcác tổ chức đều rất cần các chứng cứ viết đảm bảo độ an toàn, tin cậy cho cácquan hệ kinh tế, thương mại, dân sự theo đúng pháp luật, góp phần làm lànhmạnh hóa các quan hệ xã hội Vì vậy, dự báo nhu cầu công chứng của ngườidân Hà Nội trong thời gian tới là rất lớn

Xuất phát từ nhu cầu công chứng của người dân ngày một lớn đòi hỏi

sự phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng để góp phần phục vụ chohoạt động kinh tế - xã hội, phòng ngừa tranh chấp, cung cấp tài liệu có giá trịchứng cứ phục vụ cho việc điều tra, xét xử, giải quyết tranh chấp, tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước phápquyền của dân, do dân và vì dân Phát triển tổ chức hành nghề công chứng lànhiệm vụ quan trọng trong chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng; Cảicách thủ tục hành chính sẽ đem lại nhiều cơ hội phát triển tổ chức hành nghề

Trang 40

công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội Mô hình VPCC là một hình thứcmới của tổ chức hành nghề công chứng, về lâu dài VPCC sẽ là hình thức phổbiến của tổ chức hành nghề công chứng ở nước ta Còn mô hình Phòng Côngchứng nhà nước trước mắt là vẫn cần thiết, đặc biệt là ở các địa phương miềnnúi, vùng sâu, trong tương lai khi mà nền kinh tế thị trường phát triểnmạnh thì mô hình này sẽ thu hẹp lại theo hướng “phi nhà nước hóa”.

Qua các căn cứ trên và qua dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hộicủa thành phố Hà Nội đến năm 2020, dự báo nhu cầu công chứng của các cánhân và tổ chức trên địa bàn thành phố, nhận thấy việc thành lập thêm các tổchức hành nghề công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới

là rất cần thiết đòi hỏi các cơ quan QLNN có trách nhiệm xây dựng quy hoachphát triển của các tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020 một cáchhợp lý và phù hợp

2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

Ngày 29/11/2006, Quốc hội khóa XI, họp kỳ họp thứ 10 đã thông quaLuật số 82/2006/QH11 quy định về công chứng Luật Công chứng có hiệu lực

đi vào cuộc sống kể từ 01/01/2007 Ngày 04/01/2008, Thủ tướng Chính phủ

đã ký ban hành Nghị định số 02/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành một số điều trong Luật Công chứng Đây là cơ sở pháp lý để nhànước thực hiện việc quản lý đối với VPCC

Sau hơn hai năm thực hiện Luật Công chứng ở thủ đô đã khẳng địnhchủ trương xã hội hóa công chứng là hoàn toàn đúng đắn, đã được xã hội đónnhận với chiều hướng tích cực Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn thànhphố Hà Nội có 51 tổ chức hành nghề công chứng Trong đó, có 9 Phòng Côngchứng (đã thành lập những năm 1990) với tổng số 36 Công chứng viên; 42VPCC (14 VPCC hoạt động theo mô hình công ty hợp danh và 28 VPCC hoạtđộng theo loại hình DNTN) với tổng số 66 Công chứng viên

Về hoạt động: Sau hai năm thực hiện tích cực chủ trương xã hội hóahoạt động công chứng, các Phòng Công chứng và VPCC đều đạt được nhữngkết quả tốt với số lượng hợp đồng giao dịch không ngừng tăng theo các năm

và đạt được doanh thu lớn không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm cho

Ngày đăng: 27/05/2014, 11:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Huy Bằng (1999), Những cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện công chứng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Hà nội 2. Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi, bổ sung năm 2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiệncông chứng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Vũ Huy Bằng
Năm: 1999
5. Bài báo “Công chứng Nhà nước thành phố Hà Nội, những vấn đề cần quan tâm” của tác giả Trần Anh Tuấn đăng trên tạp chí QLNN số 11 tháng 6 năm 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chứng Nhà nước thành phố Hà Nội, những vấn đề cầnquan tâm
6. Bài “Công chứng Nhà nước - công cụ hưu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức” của tác giả Dương Đình Thành đăng trên tạp chí Pháp luật số chuyên đề tháng 7 năm 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chứng Nhà nước - công cụ hưu hiệu bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp của công dân và tổ chức
7. “Một số nhận xét về pháp luật hiện hành về công chứng Nhà nước và hướng hoàn thiện” của tác giả Trần Thất và Đặng Văn Khanh đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về pháp luật hiện hành về công chứng Nhà nước vàhướng hoàn thiện
29.Cục Thống kê Hà Nội: Niên giám thống kê 2009 30.http://khudothimoi.com/quyhoach/qh-mien-bac/2070 Link
4. Tạp chí Thông tin khoa học pháp lí: Chuyên đề: Phân cấp chứng thực bản sao tiếng Việt tại thành phố Hồ Chí Minh và mô hình tổ chức, hoạt động của các Phòng Công chứng Khác
8. Luật công chứng và vấn đề xã hội hoá hoạt động công chứng / TS.Lê Quốc Hùng // Nghiên cứu lập pháp. Văn phòng quốc hội, Số21(158) tháng11/2009, tr.52 – 55 Khác
9. Xã hội hoá hoạt động công chứng và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về công chứng / Nguyễn Ngọc Bích // Tạp chí Dân chủ pháp luật. Bộ Tư pháp, Số 6/2008, tr. 5 – 8 Khác
10. Một số bất cập về cấp bản sao, chứng thực bản sao và chứng thực chữ ký / Hà Linh // Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Bộ Tư pháp, Số 8/2008, tr.60 – 61 Khác
11. Tránh nhầm lẫn việc công chứng với chứng thực / Phan Thuỷ // Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Bộ Tư pháp, Số 9/2008, tr. 47 - 50 Khác
12. QLNN về công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra / ThS.Đặng Văn Tường // QLNN. Học viện hành chính. Số168 tháng 1/2010, tr. 47 - 50 Khác
13. Xã hội hoá công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn : Luận án thạc sỹ / Nguyễn Quang Minh; Người hướng dẫn:TS. Nguyễn Thị Hồi . - Hà Nội, 2009. - 66 tr. ; 28 cm Khác
14. Công chứng quyền sử dụng đất của cá nhân, hộ gia đình để vay vốn nơi chứng, nơi ... không? / Bùi Đăng Vương // Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Bộ Tư pháp, Số 2/2010, tr. 42 - 43, 47 Khác
15. Kết quả hai năm thực hiện Luật công chứng và một số kiến nghị / Đỗ Hoàng Yến // Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Bộ Tư pháp, Số chuyên đề 2/2010, tr. 2 - 7 Khác
16. Hà Nội với việc thực hiện xã hội hoá công chứng / Phạm Xuân Phương // Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Bộ Tư pháp, Số chuyên đề 2/2010, tr. 13 -15 Khác
17. Cần có quy định và hướng dẫn cụ thể một số thủ tục công chứng / Lê Thị Bích Hạnh // Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Bộ Tư pháp, Số chuyên đề 2/2010, tr. 23 - 25, 32 Khác
19. Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay: Luận án TS Luật học: 5.05.05 / Đặng Văn Khanh. - H., 2000. - 205tr Khác
20.Một số ý kiến về việc thực hiện yêu cầu công chứng, chứng thực hợp đồng giao dịch của doanh nghiệp / Trịnh Duy Hưng // Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Bộ Tư pháp, Số chuyên đề 2/2010, tr. 30 - 32 Khác
21.Công chứng hợp đồng kinh tế và các thoả thuận biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế - thực trạng và giải pháp : Luận án thạc sĩ luật học / Nguyễn Thị Hạnh . - H. : Trường Đại học Luật Hà Nội, 1998 . - 117 tr Khác
22.Luật công chứng năm 2006 và văn bản hướng dẫn thi hành . - H. : Chính trị quốc gia, 2008 . - 81 tr Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hà Nội - quản lý nhà nước đối với cácvăn phòng công chứng trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hà Nội (Trang 36)
Bảng 2: Biểu đồ cơ cấu kinh tế Hà Nội - quản lý nhà nước đối với cácvăn phòng công chứng trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 2 Biểu đồ cơ cấu kinh tế Hà Nội (Trang 37)
BẢNG 4: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG TẠI HÀ NỘI ĐẾN THÁNG 8/2010 - quản lý nhà nước đối với cácvăn phòng công chứng trên địa bàn thành phố hà nội
BẢNG 4 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG TẠI HÀ NỘI ĐẾN THÁNG 8/2010 (Trang 42)
BẢNG 5: QUY HOẠCH DỰ KIẾN THÀNH LẬP TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG ĐẾN NĂM 2020 - quản lý nhà nước đối với cácvăn phòng công chứng trên địa bàn thành phố hà nội
BẢNG 5 QUY HOẠCH DỰ KIẾN THÀNH LẬP TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG ĐẾN NĂM 2020 (Trang 75)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w