Trong dòng chảy tiểu thuyết đương đại, Nguyễn Bình Phương được coi là một trong những nhà văn ghi được dấu ấn sáng tạo khi vận dụng thủ pháp liên văn bản trong sáng tác của mình.. Lịch s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ NGUYÊN HÀ
LIÊN VĂN BẢN TRONG KỂ XONG RỒI ĐI
CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
ĐÀ NẴNG, NĂM 2023
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ NGUYÊN HÀ
LIÊN VĂN BẢN TRONG KỂ XONG RỒI ĐI
CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 822 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI BÍCH HẠNH
ĐÀ NẴNG, NĂM 2023
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, của các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ văn, Trường Đại học
Sư phạm – ĐH Đà Nẵng đã trực tiếp giảng dạy trong toàn khóa học; đã tạo điều kiện, góp ý cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Bùi Bích Hạnh, giảng viên Trường Đại học Sư phạm – ĐH Đà Nẵng, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý tận tình để tôi thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Với nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót; vì thế, rất mong nhận được các ý kiến đóng góp từ quý thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn đọc
Trang 6NAME OFTHESIS:
CONTACT DEVICE IN THE TIME DONE BY NGUYEN BINH PHUONG
Major: Vietnamese Literature
Full name of Master student: Le Thi Nguyen Ha
Supervisors: Dr Bui Bich Hanh
Training institution: Da Nang National University of Education
Summary:
The thesis has researched and studied Nguyen Binh Phuong's Tell and Go in the context of
Vietnamese culture and literature, in the process of contemporary Vietnamese novels and in the structure of Nguyen Binh Phuong's novels to identify a generalize, profoundly the intertextual
dialogue in the works See the similarities and differences between Tell and Go with other novels
by Nguyen Binh Phuong that are intertextual; thereby clarifying the uniqueness and uniqueness of Nguyen Binh Phuong's writing technique From the intertextual expressions in the story is finished, Nguyen Binh Phuong, the writer analyzes the aesthetic effect of the interaction of co- existing text codes to generalize into intertextual forms and their meanings in contributing to the characteristic and style of Nguyen Binh Phuong's novels
Research direction on Nguyen Binh Phuong's novel "Tell it and then Go" on the basis of applying intertextual theory in understanding and surveying "gaps", the thesis affirms Nguyen Binh Phuong's novel style with technical skills The art of writing novels weaves and weaves the techniques of structural "games" through the effective and diverse application of intertextual techniques
The topic can be applied to research and teaching issues of writing techniques,
genre-specific compositional styles in the art world
Keywords: Intertextuality, Nguyen Binh Phương, contemporary Vietnamese novel, text
code, style
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Giới thuyết thuật ngữ 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
8 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1 TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG TRONG TIẾN TRÌNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 7
1.1 Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 – hành trình cách tân với xu hướng “trò chơi văn học” 7
1.1.1 Khuynh hướng đối thoại với thực tại bất toàn 8
1.1.2 Quan niệm thực tại như “trò chơi” và ý thức kiến tạo thực tại 11
1.1.3 Kĩ thuật viết tương tác các mã văn bản 13
1.2 Nguyễn Bình Phương - “người đi về phía hậu hiện đại rõ nhất” 16
1.2.1 “Người loay hoay đi tìm cách kể” 16
1.2.2 “Viết là tìm thấy một quy tắc trên cơ sở đánh mất một quy tắc” 19
1.2.3 Nỗ lực thể nghiệm “khác”: trò chơi cấu trúc liên văn bản 20
Chương 2 LIÊN VĂN BẢN TRONG KỂ XONG RỒI ĐI NHÌN TỪ TƯ DUY NGHỆ THUẬT 25
2.1 Chồng xếp thế giới hư thực 25
2.1.1 Những mảnh ghép của hiện thực dị thường 25
2.1.2 Thực tại phồn tạp từ cái nhìn bất tin, hoài nghi của con người 27
2.1.3 Thế giới vô thức và những giấc mơ 30
2.2 Đối thoại về chiến tranh 34
2.2.1 Những cơn mê dội về từ quá khứ 35
2.2.2 … đến những ám ảnh hiện tại 36
2.2.3 ….và đồng hiện những sang chấn tinh thần 38
2.3 Cái chết - quan niệm trì níu hư thực 40
2.3.1 Cái cớ trình diễn về cuộc đời phù phiếm 40
2.3.2 Trưng bày về cõi nhân quần bề bộn 43
2.3.3 Đan xen quyền lực và vẻ đẹp siêu phàm của con người 46
Chương 3 LIÊN VĂN BẢN TRONG KỂ XONG RỒI ĐI NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 50
Trang 83.1 Trò chơi kết cấu - đả phá tinh thần “đại tự sự” 50
3.1.1 Phân mảnh, lai ghép thực ảo 50
3.1.2 Kĩ thuật dòng ý thức 53
3.1.3 Truyện lồng truyện 55
3.2 Điểm nhìn trần thuật - phá vỡ cái nhìn toàn tri 57
3.2.1 Điểm nhìn nhân vật “dị biệt hoá” 58
3.2.2 Điểm nhìn không gian và thời gian phân rã, đồng hiện 62
3.2.3 Điểm nhìn người kể chuyện đa chủ thể 65
3.3 Ngôn ngữ trần thuật 67
3.3.1 Đa thanh, pha tạp phong cách 68
3.3.2 Đan xen ngôn ngữ độc thoại và đối thoại 69
3.3.3 Khẩu ngữ trần trụi, dung tục 70
3.4 Giọng điệu trần thuật 73
3.4.1 Giọng triết lí 74
3.4.2 Giọng trào lộng, giễu nhại 75
3.4.3 Giọng vô âm sắc 77
KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Từ sau 1986, văn học Việt Nam định hình nhiều khuynh hướng sáng tác đổi mới Trong đó, tiểu thuyết Việt Nam thời đoạn này đã có những cách tân theo xu hướng hiện đại và hậu hiện đại trong môi trường tiếp xúc mạnh mẽ với lí luận sáng tác mới của thế giới Tiểu thuyết là thể loại có khả năng bóc tách những bề bộn, phồn tạp của cuộc sống, cũng là nơi mà nhà văn có thể tung tẩy nhiều trò chơi ngôn ngữ, nhiều lối viết Tiểu thuyết đương đại phong phú và đa dạng xét từ bình diện nội dung lẫn hình thức, do chưa bao giờ các nhà văn có môi trường sáng tạo và khát vọng thể hiện
cá tính sáng tạo một cách trọn vẹn như bấy giờ
1.2 Tác phẩm văn học chính là đứa con tinh thần của nhà văn Mỗi tác phẩm hay
và có giá trị phải là tác phẩm mang giá trị nhân bản sâu sắc và mang hơi thở cuộc sống
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bạn đọc về khả năng nắm bắt và tái hiện cuộc sống hiện thực, tiểu thuyết Việt Nam đã có những bước chuyển mình rất đáng ghi nhận Các nhà văn đã vận dụng khéo léo các quan điểm trong sáng tạo nghệ thuật để đem đến cho nền văn học Việt Nam đương đại một diện mạo mới, một sắc màu mới
mẻ hơn Đời sống văn học đang có những chuyển biến mới mang nhiều hứa hẹn và đồng thời cũng đang nảy lên những vẫn đề mới Nằm trong quy luật vận động đó ,tiểu thuyết Việt Nam đương đại ngày càng chịu tác động bởi chủ nghĩa hậu hiện đại, theo
đó liên văn bản được sử dụng như một “chiến lược trần thuật” Bởi “trong tiểu thuyết hậu hiện đại, “văn bản trần thuật tổ chức như một tập hợp siêu văn bản (supertext), liên văn bản (intertext), nhân vật trở thành cái bóng, cái mặt nạ, chỉ còn là một chữ cái Chuỗi sự kiện bị cắt rời, nhiều khi trùng lặp, mâu thuẫn, trần thuật từ nhiều góc độ” [29] Hay “đối với văn học hậu hiện đại, liên văn bản, tức sự tương quan của văn bản chính với các văn bản văn học, nghệ thuật khác, trở thành nguyên tắc trung tâm trong việc mô hình hóa thế giới” [7] Khái niệm liên văn bản ra đời đã dẫn đến những đổi mới trong tư duy sáng tạo của người nghệ sĩ, đồng thời là phương thức có sức “thu hút” mạnh mẽ người đọc, để mở ra những vỉa tầng ý nghĩa, có khi nằm ngoài chủ ý sáng tác của người viết Và lý thuyết liên văn bản có nhiều tác động đến sáng tạo và thưởng thức tác phẩm văn học hậu hiện đại nói chung và tiểu thuyết nói riêng
1.3 Nguyễn Bình Phương, một trong những nhà văn miệt mài với xu hướng cách tân thể loại tiểu thuyết, đã có những thể nghiệm độc đáo và đạt được nhiều thành công trên cả hai phương diện tư tưởng và hình thức nghệ thuật; từ đó góp mặt vào tiến trình cách tân thể loại tiểu thuyết trong văn học Việt Nam đương đại Qua những trang viết của mình, Nguyễn Bình Phương đã tích cực chuyển hóa lí thuyết hiện đại vào thực tiễn sáng tạo của mình, tạo dấu ấn cá nhân rõ nét và vô cùng đọc đáo; đáp ứng được xu
Trang 10hướng thẩm mĩ trong tiếp nhận của độc giả, đồng thời tạo nhiều kênh đối thoại cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại Như nhận định “Nếu cần lựa chọn một hiện tượng tiêu biểu nhất của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, ưu tiên số một chắc chắn là những sáng tác của Nguyễn Bình Phương Là sản phẩm thành công nhất của trường viết văn Nguyễn Du, kiên định trong những ý tưởng nghệ thuật, các sáng tác của anh kết tụ nhiều vấn đề có ý nghĩa tiêu biểu cho tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ hậu chiến cả trên
bình diện mỹ học lẫn kỹ thuật sáng tác và mô hình tiểu thuyết…” [31, tr 1]
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 đã có những bước tiến đáng kể Bước tiến ấy trước hết xét từ phương diện ý thức chủ thể của người sáng tạo Trên hành trình làm mới văn chương của các nhà tiểu thuyết đương đại, những nỗ lực thể nghiệm, cách tân vốn bao giờ cũng gian nan nhưng lại rất cần thiết vì đó là một trong những điều kiện cốt yếu dẫn đến những khuynh hướng sáng tác mới của thời đại Trong dòng chảy tiểu thuyết đương đại, Nguyễn Bình Phương được coi là một trong những nhà văn ghi được dấu ấn sáng tạo khi vận dụng thủ pháp liên văn bản trong sáng tác của mình Tác giả đã biểu đạt chạm được đến bản chất con người và bức tranh hiện thực hỗn độn thời hậu hiện đại qua các “trò chơi” liên văn bản
Tiểu thuyết Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình Phương, theo tìm hiểu của chúng
tôi, đến nay chưa nhận được những công trình nghiên cứu riêng biệt nào tiếp cận một cách chuyên sâu, bàn bạc thấu đáo dưới góc nhìn liên văn bản Để khẳng định thêm về những nỗ lực bền bỉ của Nguyễn Bình Phương trong những cách tân, sáng tạo độc đáo, bứt phá tìm hướng đi mới cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại, chúng tôi đã chọn thực
hiện đề tài: Liên văn bản trong Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình Phương
2 Lịch sử vấn đề
Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình Phương từ khi được độc giả đón đọc đến nay, đã
xuất hiện khá nhiều bàn luận, đánh giá khái quát về một số vấn đề liên quan đến văn
bản nghệ thuật này, như: Nhiên Xuân với bài viết Kể xong rồi đi (Nguyễn Bình
Phương) - tản mác về đời phù phiếm, Nguyễn Hoàng Diệu Thủy với Kể xong rồi đi - tiểu thuyết mong đợi của Nguyễn Bình Phương, hay Chiêm nghiệm về cái chết trong tiểu thuyết kể xong rồi đi của Duy Anh… Tại buổi tọa đàm Chiêm nghiệm về cái chết
thông qua tác phẩm Kể xong rồi đi, xuất hiện nhiều bàn luận về những giá trị trong tác
phẩm, nhất là về sự chết trong đời sống – tuyên ngôn nghệ thuật tác động đến chiều sâu tâm lí của người tiếp nhận Họ cho rằng khi con người trưởng thành, ý niệm về cái chết sẽ đổi thay Nghĩ về "cửa tử" là một trong những điều giúp người ta ý thức hơn về cuộc sống, nhận ra ý nghĩa đời sống bởi với họ, chết là một sự đón nhận, và cũng là một thể nghiệm Từ đó, con người có trách nhiệm với bản thân, xã hội hơn Đây là quan niệm về cái chết mang nhiều khuynh hướng hiện sinh, thể hiện cá tính sáng tạo của Nguyễn Bình Phương trong tác phẩm này nói riêng cũng như phong cách tiểu
Trang 11thuyết của nhà văn này nói chung Theo Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, Kể xong rồi đi
“Nhìn cuộc sống từ góc độ cái chết, cuốn tiểu thuyết trưng bày một bức tranh đầy đủ
hơn về cõi nhân quần bề bộn, cho thấy cái chết ở gần ta hơn ta tưởng, tham dự vào bàn tiệc cuộc sống nhiều hơn ta nghĩ Có thể tìm thấy trong đó nhiều chuyến đi của những con người và số phận khác nhau, thấp hèn hay vinh quang, nhẹ nhàng hay khốc liệt, ngẫu nhiên hay tất nhiên, nhưng tất cả đều cùng một điểm đến, và tất cả đều làm sáng
rõ hơn dáng hình của cái chết: Vừa giản dị, vừa quyền lực, vừa kinh dị và lại vừa mang
vẻ đẹp siêu phàm…” Hay cũng theo Nguyễn Hoàng Diệu Thủy trong bài Kể xong rồi
đi, tiểu thuyết mong đợi của Nguyễn Bình Phương: “Vẫn như mọi lần, tiểu thuyết của
Nguyễn Bình Phương có một cấu trúc chắc chắn Và anh kiểm soát đến từng con chữ Những câu thoại sắc gọn đắt giá Những miêu tả kiệm lời nhưng vào đúng trọng
tâm.Cuốn tiểu thuyết không để lại cảm giác nặng nề Nó như một tiếng thở dài man
mác, “vừa uể oải, vừa như rất hài lòng, lại vừa như cho xong đi.” “Triệu thời về”, vậy
thôi”[61] Và Nguyễn Thị Thu Giang khi khai thác yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Kể
xong rồi đi của Nguyễn Bình Phương cũng đặt ra những yếu tố tương tác giữa các mã
huyền thoại trong tác phẩm này Gần đây, với luận văn thạc sĩ “Tâm thức hiện sinh
trong Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình Phương” của Trang Huyền Trinh, Đại học Đà
Nẵng, 2019, tác giả đã lí giải một số biểu hiện tương tác giữa các mã văn bản hiện sinh trong cảm thức sáng tạo, quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới hình tượng trong tiểu thuyết đậm dấu ấn hiện sinh này
Cho đến nay, chúng tôi nhận thấy rằng vẫn còn thiếu những công trình nghiên
cứu chuyên sâu về tiểu thuyết Kể xong rồi đi từ lý thuyết liên văn bản Do đó, chúng tôi chọn khai thác đề tài Liên văn bản trong Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình Phương
trên cơ sở tiếp thu một số kết quả của các nhà phê bình, các nhà nghiên cứa đi trước,
đồng thời tiếp tục tìm tòi, khám phá những khía cạnh còn khuất lấp của Kể xong rồi đi;
để thấy được Nguyễn Bình Phương đã có nhiều dụng công trong việc vận dụng thủ pháp liên văn bản trong sáng tác của mình để tạo ra một lối viết rất riêng biệt, mới mẻ, góp phần khẳng định: Nguyễn Bình Phương- một phong cách vừa thống nhất vừa vận động trên tinh thần đối thoại với những tiền văn bản hay trong chính mạng lưới văn bản đa bội của tiểu thuyết Đây có thể xem là hướng đi hứa hẹn một số đóng góp cho nghiên cứu về “cái khác” trong phong cách tiểu thuyết của một nhà văn luôn làm mới mình như Nguyễn Bình Phương
3 Mục đích nghiên cứu
Qua phân tích những biểu hiện tương tác các mã văn bản của Kể xong rồi đi -
“cuốn tiểu thuyết thách thức các nhà phê bình” của Nguyễn Bình Phương từ hướng tiếp cận liên văn bản, luận văn góp phần khẳng định kĩ thuật viết của Nguyễn Bình
Trang 12Phương, nhà văn sớm đổi mới tư duy và kĩ thuật viết tiểu thuyết, trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tiểu thuyết Kể xong rồi đi, (2017), Nxb Hội Nhà văn,
Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: Biểu hiện liên văn bản trong Kể xong rồi đi của Nguyễn
Bình Phương ở phương diện tư duy nghệ thuật và phương thức thể hiện
5 Giới thuyết thuật ngữ
Liên văn bản là thuật ngữ cơ bản, phổ biến của chủ nghĩa hậu hiện đại Liên văn bản là một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi trong phê bình văn học thế giới nửa cuối thể kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI Được khơi nguồn từ M Bakhtin qua những công trình quan trọng của ông và chính thức được Julia Kristeva
“khai sinh”, liên văn bản nhanh chóng được các nhà cấu trúc luận, giải cấu luận phát triển và tiến tới hoàn thành một phương pháp phê bình văn học
Liên văn bản (intertextuality) là một khái niệm lí luận xuất hiện tại phương Tây
từ những năm 60 Lịch sử khái niệm liên văn bản cho thấy bản thân khái niệm này đã
có sức hút rất lớn với nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ và lí luận văn học, từ F.de Saussure, M.Bakhtin, đến J Kristeva, R Barthes, Genette Nhìn chung mỗi người có những trường nhìn khác nhau, cách giải thích khác nhau nhưng tựu trung lại có hai trường phái chính: một bên coi liên văn bản như thủ pháp tổ chức văn bản, một bên liên văn bản được hiểu như là thuộc tính bản thể của mọi văn bản
Về cơ bản, liên văn bản chính là sự kêu gọi ý nghĩa giữa các văn bản, giữa tác giả
và người đọc Nó tạo ra một mạng lưới không có ranh giới rõ ràng và xác định Liên văn bản là biểu hiện của sự trưng bày “hiện thực phì đại” của xã hội hậu hiện đại Việc
sử dụng nhiều thể loại, nhiều kiểu tự sự, phong cách khác nhau tạo nên một cấu trúc lai ghép, chắp vá khơi gợi nỗi hoài nghi đối với những phương thức hiện có trong việc nhận biết và biểu hiện thực tại bởi thế giới là văn bản, vì thế chỉ có thể nhận biết thế giới thông qua các văn bản mà trên thực tế, chỉ là những mảnh rời, những dấu vết của văn bản Việc đọc liên văn bản khuyến khích độc giả chống lại việc đọc một cách thụ động để có thể tự do liên tưởng và mở rộng ý nghĩa tác phẩm ra vô hạn
Liên văn bản được coi như là thủ pháp tổ chức văn bản là hướng tiếp cận mang tính thực tiễn, giới hạn tiếp cận liên văn bản qua nghiên cứu mối quan hệ giữa văn bản này và các văn bản khác Các mối quan hệ liên văn bản như thế thường được quy về các hình thức như sự mô phỏng, ám chỉ, trích dẫn, giễu nhại, pha trộn thể loại…
“Tính liên văn bản như mối quan hệ giữa các văn bản, như một tiến trình tạo tác những kết nối giữa các văn bản hiện tại và quá khứ bằng những đường nối liên văn bản
Trang 13(intertextual links); như quá trình đồng vị hóa các văn bản khác nhau trong không gian một văn bản mà trải nghiệm của người đọc có vai trò quan trọng” [34, tr.17]
Liên văn bản còn được hiểu là sự đan xen các lớp diễn ngôn trong một văn bản chính Theo R.Barthes, bất kỳ văn bản nào cũng được hiểu như một không gian đa chiều, nơi có rất nhiều văn bản va đập và xáo trộn vào nhau mà không một cái nào là gốc cả Nói cách khác, liên văn bản là “chỗ giao cắt của các mặt phẳng văn bản khác nhau”, là “sự đối thoại của các kiểu viết khác nhau” (Kristeva) Vào nửa sau thập niên
80, chịu ảnh hưởng các tư tưởng của M.Foucault và các nhà giải cấu trúc luận cánh tả
Mỹ, khái niệm liên văn bản đã bị chính trị hóa và giờ đây bao trùm “các kiểu thực hành diễn ngôn” trong tất cả các lĩnh vực tri thức: tôn giáo, sử học, xã hội học, v.v Genette cho rằng tiểu thuyết dung chứa vào bản thân “những thể loại phi nghệ thuật (các thể văn đời sống hằng ngày, văn hùng biện, khoa học, tôn giáo )” Còn đối với I.P.Ilin thì rốt cuộc, hầu như mọi thứ đều được coi như văn bản, bao hàm cả văn học, văn hóa, xã hội, lịch sử và chính bản thân con người; từ đây xuất hiện lí thuyết về tính liên văn bản
Từ đó có thể hiểu: Liên văn bản là sự tương tác giữa các văn bản với nhau; một văn bản được dẫn dụ từ nhiều ý tưởng của các tiền văn bản, là sự đan dệt bởi rất nhiều những mối tương hệ khác nhau; tạo thành sự chồng chất các mã văn bản, hay còn gọi là “văn bản đa bội” Trong một cảnh huống văn bản luôn trầm tích thông tin
từ những tiền văn bản, ở đó chúng tự “đối thoại”, soi chiếu và “đáp ứng” lẫn nhau trong mạch ngầm văn bản; hoặc biểu hiện như những thủ pháp văn học: motif, hình tượng; sự mô phỏng, giễu nhại, nhại, vay mượn, đạo văn, trích dẫn, dẫn dụ, ám chỉ, chuyển dịch, biến đổi, pha trộn thể loại, đọc sai,… Tất cả tạo nên một mạng lưới văn bản đa cấp, vừa thống nhất vừa riêng biệt, vừa thuộc về nhau vừa nảy sinh những tầng nghĩa khu biệt
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống: Đặt Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình Phương trong bối
cảnh văn hóa - văn học Việt Nam, trong tiến trình tiểu thuyết Việt Nam đương đại và trong cấu trúc các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương để nhận diện một cách khái quát, sâu sắc sự đối thoại liên văn bản trong các tác phẩm đó
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Vận dụng sự tham chiếu đồng đại, lịch đại để
thấy sự tương đồng và khác biệt giữa Kể xong rồi đi với các tiểu thuyết khác của
Nguyễn Bình Phương có tính liên văn bản; qua đó làm rõ nét độc đáo, dấu ấn riêng
trong kĩ thuật viết Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình Phương
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Từ các biểu hiện liên văn bản trong Kể xong
rồi đi Nguyễn Bình Phương, người viết phân tích hiệu quả thẩm mĩ của sự tương tác
các mã văn bản cùng tồn tại để khái quát thành những dạng thức liên văn bản và ý
Trang 14nghĩa của chúng trong việc góp tạo nên đặc trưng, phong cách tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương
- Phương pháp loại hình: Trên cơ sở đặc trưng thể loại, phân định đặc trưng liên
văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, trong đó có Kể xong rồi đi
Ngoài ra, hướng tiếp cận chính của đề tài này là lí thuyết liên văn bản và một số lí thuyết liên ngành khác
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:Nghiên cứu tiểu thuyết Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình
Phương trên cơ sở ứng dụng lí thuyết liên văn bản trong việc tìm hiểu, khảo sát những
“khoảng trống”, luận văn khẳng định phong cách tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương với
kĩ thuật viết tiểu thuyết đan bện, xuyên dệt những kĩ thuật của “trò chơi” kết cấu thông qua việc vận dụng đa dạng, hiệu quả các thủ pháp liên văn bản
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài có thể được vận dụng vào nghiên cứu, giảng dạy
những vấn đề về kĩ thuật viết, phong cách sáng tác, đặc trưng thể loại thuộc thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương và rộng ra là về tiểu thuyết Việt Nam đương đại
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Tài liệu tham khảo, Luận văn được cấu trúc thành 3
chương:
Chương 1: Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trong tiến trình tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chương 2: Liên văn bản trong Kể xong rồi đi nhìn từ tư duy nghệ thuật
Chương 3: Liên văn bản trong Kể xong rồi đi nhìn từ phương thức thể hiện
Trang 15Chương 1 TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG TRONG TIẾN TRÌNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 – hành trình cách tân với xu hướng “trò chơi văn học”
Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội (Stendhal) và nhà văn chính là thư ký của thời đại (Balzac) Hiện thực cuộc sống vốn vô cùng phong phú, sinh động, muôn màu muôn vẻ Luôn đan xen niềm vui/ nỗi buồn, có hạnh phúc/ khổ đau, cao cả/ thấp hèn, có người tốt/ kẻ xấu… Vì vậy nhà văn, người được xem là thư ký trung thành của thời đại, phải có nhãn quan và ứng xử như thế nào đối với hiện thực ấy qua quá trình lao động sáng tạo của mình? Trước hết, nhà văn phải thể hiện rõ tinh thần nhập cuộc, ý thức về trách nhiệm của người cầm bút Họ không thể đứng bên lề những vấn
đề lớn lao của đất nước, của dân tộc, không thể đứng ngoài những vận hội, những biến
cố có thể xảy đến của thời cuộc và càng không thể đứng ngoài những ngóc ngách của đời sống xã hội, của thân phận con người
Tiểu thuyết ở Việt Nam phát triển muộn Phải đến cuối thế kỉ XVII, ở Việt Nam, văn xuôi tự sự mới bắt đầu hình thành với cuốn gia phả lịch sử viết dưới dạng tiểu
thuyết chương hồi Hoan châu kí Và phải đến đầu thế kỉ XX, với sự ra đời của tiểu
thuyết lãng mạn và hiện thực, thì chúng ta mới có tiểu thuyết hiện đại Mặc dù ra đời muộn, nhưng tiểu thuyết đã nhanh chóng trở thành một thể loại bao trùm và có vị trí quan trọng nhất của văn học, và theo Bakhtin, “trong số các thể loại đã hoàn bị từ lâu
và một phần đã tiêu vong, tiểu thuyết là thể loại duy nhất đang phát triển” [44]
Bàn về nội dung đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát
triển lên một bước mới, Đảng ta từng nhấn mạnh việc khuyến khích các nhà văn tìm
tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách trong quá trình sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính Với quan điểm này, tinh thần dân chủ trong sáng tạo văn học, nghệ thuật được coi trọng; các thử nghiệm, sáng tạo được khuyến khích, giao lưu văn hóa được mở rộng… Tất cả nhân tố đó đã mở ra thời kỳ đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật, phát triển mạnh khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán, phản kháng trên tinh thần nhân bản
Từ 1986, văn học mới thực sự đổi mới và đổi mới mạnh mẽ, trong đó tiểu thuyết đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, với những dấu ấn nổi bật thể hiện sự đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức qua một đội ngũ sáng tác hùng hậu và có phong cách Tính chất
Trang 16trò chơi với những biểu hiện đặc thù trong lối viết đã được các nhà văn chú ý rất nhiều trong các tác phẩm văn học hậu hiện đại, chẳng hạn như chú ý đến việc trần thuật từ nhiều điểm nhìn, nhiều người kể chuyện hay phân rã cấu trúc tác phẩm; gia tăng tính đối thoại khi “bất kì văn bản nào cũng là liên văn bản”, hiện thực được miêu tả bằng những bức tranh đầy tính ước lệ, những nhân vật dị biệt, kì ảo xuất hiện với tần suất dày đặc, sử dụng phổ biến bút pháp nhại, huyền thoại, trào lộng
Đứng trước nhu cầu đổi mới “tư duy tiểu thuyết”, mỗi nhà văn theo đuổi một lối viết riêng biệt và chứng tỏ được nội lực mạnh mẽ của mình như: Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Chu Lai, Nguyễn Xuân Khánh, Bùi Anh Tấn, Dương Hướng, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương… Trong tác phẩm của nhiều cây bút tiểu thuyết từ
1986 đến nay, dấu ấn đổi mới biểu hiện thực sự rõ rệt được thể hiện qua các khuynh hướng sáng tác Cho đến hiện nay, họ vẫn đang miệt mài với hành trình cách tân với
“tiếng gọi của trò chơi” Và góp mặt vào “trò chơi” đó, lối viết của các tác giả đương đại đã làm cho tiểu thuyết lạ rất nhiều so với truyền thống
1.1.1 Khuynh hướng đối thoại với thực tại bất toàn
Nói như I Wallerstein: “Ngày nay, không còn lí do để lạc quan hay bi quan Tất
cả đều có thể, nhưng tất cả đều không hề chắc chắn” Văn học đương đại chịu tác động
“đa chiều” của bối cảnh chính trị, xã hội, sự pha trộn giữa thời bình và thời chiến; giữa
cơ chế kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp và cơ chế thị trường; giữa cái cũ, cái quen thuộc và cái mới, khiến những người sáng tạo văn học, nghệ thuật khó tránh khỏi những ngỡ ngàng và cả sự háo hức trước những điều mới lạ, phong phú, phức tạp của đời sống xã hội [48] Trong điều kiện đó , cùng với khát vọng thể hiện cá tính sáng tạo của chính mình, việc các nhà văn đương đại có nhiều cơ hội tiếp nhận những tinh hoa của văn học thế giới chính là cơ hội để họ mạnh dạn, tự tin hơn trong việc đổi mới lối viết, cách viết, tiến gần với tư duy nghệ thuật của thế giới, từ đó góp phần làm cho tiểu thuyết đương đại Việt Nam khá phong phú và đa dạng cả về tư tưởng và hình thức
M Bakhtin cho rằng: “tiểu thuyết khước từ cái nhìn nguyên phiến, đơn diện, một chiều Ở một góc độ nào đó, tiểu thuyết là thể loại mang tính dân chủ nhất trong các thể loại văn học” Nhà văn Vũ Tú Nam thì quan niệm: Sau năm 1986, tự thân văn học phải đổi khác, không thể đem văn học của một thời kì đã có sẵn để áp đặt lên cái nhìn của con người hôm nay Đối với thể loại tiểu thuyết, sự đổi mới của nó thể hiện trước hết ở việc mở rộng khả năng chiếm lĩnh, khám phá và mô tả hiện thực Tiểu thuyết là thể loại luôn luôn thay đổi, biến hóa, “không hoàn kết”, bởi vì nó “tiếp xúc tối đa với cái đương đại chưa hoàn thành” (M Bakhtin)
Trong bài viết Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam thế
kỷ XX, Trần Đình Sử nhận định con người trong văn học mất dần tính nguyên phiến sử
thi mà hiện ra chiều sâu mâu thuẫn, nhất là trong tình cảm, đạo đức Ở bài Con người
Trang 17trong văn học Việt Nam sau 1945, tác giả đã nhận định năm 1986 các vấn đề của văn
học tiền đổi mới, trong đó vấn đề về con người thế sự đời tư, triết lý văn hóa mới thực
sự trở thành bước ngoặt
Vị trí trung tâm của văn học là con người - là mối quan tâm hàng đầu để khám phá những biểu hiện mới của văn học Việt Nam qua từng thời kỳ Do đó sự vận động của văn học thể hiện đầu tiên ở những biến chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người Từ sau năm 1986, các nhà văn cũng đã có một cái nhìn mới trong việc mô tả con người Từ thực tế của cuộc sống, dường như các nhà tiểu thuyết Việt Nam đều cảm nhận sự vênh lệch giữa thực tại và các giá trị truyền thống, giữa cái cũ/ cái cổ xưa
và cái tân thời, từ đó cái thuộc về truyền thống trở nên lỗi thời và dường như bị xem nhẹ Vì vậy, những đổ vỡ, bất tín nhận thức, đức tin hay xu thế đối thoại với lịch sử, huyền thoại trong các sáng tác của Thuận, Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Anh Thái… được đem ra minh định lại [45]
Trong hành trình đổi mới thể loại tiểu thuyết của các nhà văn đương đại, cùng với những thay đổi trong quan niệm về nhà văn thì quan niệm về hiện thực như là đối tượng phản ánh, khám phá của văn học cũng được mở rộng và mang tính toàn diện Hiện thực không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng
mà đó cũng là hiện thực của đời sống hàng ngày với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan
đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi, mạch ngầm của đời sống Hiện thực đó cũng là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư,
số phận, nhân cách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch Đó là một thực tại bất toàn Hiện thực đời sống trong tính toàn vẹn của nó đã mở ra những không gian vô tận cho văn học thỏa sức chiếm lĩnh, khám phá, khai vì [48] Văn học là nơi tái hiện lại cuộc sống con người, và khởi nguồn của sáng tạo nghệ thuật chính là cuộc sống, người viết là người tái hiện lại hiện thực ấy trong tác phẩm của mình qua một quá trình dài chọn lọc, tích lũy những kiến thức về cuộc sống đời thực, con người Cuộc sống muôn hình vạn trạng Khởi nguồn cho sáng tạo nghệ thuật chính là vạn vật của sự sống xung quanh, và vai trò của của nhà văn chính là cảm nhận rồi đưa nó đến với người đọc Vì
lẽ, văn học chính là hiện thực cuộc sống, văn học gắn liền với sự sống của con người Nhà văn nhìn cuộc sống dưới lăng kính của một nhà văn, nhà thơ, khai thác sâu vào từng khía cạnh mà người đọc chưa thể nhìn hay tìm thấy trong cuộc sống đời thường Đem đến những cảm xúc chân thực, đưa người đọc từ cảm xúc này đến cảm xúc khác, những bước ngoặt đầy bất ngờ Tạo cho người đọc một cái nhìn hoàn mĩ về cuộc sống
Đó cũng là một phần của sáng tạo nghệ thuật văn học Mỗi một tác phẩm mà các nhà
văn, nhà thơ viết lên đều bắt nguồn từ những cảm hứng nghệ thuật vô tận, những cảm hứng ấy được tác giả lấy ra từ chính hiện thực cuộc sống của con người Chính bởi thế,
mà mỗi tác phẩm ta đọc, thường sẽ luôn gắn liền với cuộc sống xung quanh, gắn với
Trang 18cuộc đời, số phận của từng số phận, với cảm xúc cá nhân của người viết Cho dù, viết
về mặt trái của xã hội, tác phẩm văn học không thể chỉ là nơi gợi ra sự căm ghét, không chỉ là nơi nhà văn trút bỏ ẩn ức của mình mà văn học cần đấu tranh không khoan nhượng với những thói hư, tật xấu của con người, khơi gợi, thức tỉnh con người tránh xa cái ác, cái xấu để nuôi dưỡng, nâng đỡ, bồi đắp cái thiện vốn có trong cuộc sống Bởi cuộc sống dẫu có suy thoái đạo đức, nhưng cái thiện vẫn là cơ bản, là cái thuộc về sự sống
Sự chuyển động mạnh mẽ của văn học trong “bối cảnh 1986” được ghi nhận trước hết ở văn xuôi Nó thể hiện ở việc đề cao sự dũng cảm, trung thực, thẳng thắn trong ngòi bút Văn học đã thực sự chứng minh được nó đang tham gia tích cực vào đời sống, vào công cuộc đổi mới bằng sự gắn bó với đời sống nhiều mặt, không tô hồng, né tránh cái sai, cái đúng… Nhà văn có ý thức cao hơn về trách nhiệm xã hội, họ trở thành “lực lượng thông tin hàng ngày cho sự đổi mới tư duy, đổi mới phong cách”,
họ đấu tranh cho một xã hội công bằng, dân chủ, cho quyền được nói sự thật, được
trung thực với chính mình, “Nói thật, nói thẳng, nói đúng là một trong những yêu cầu
thông tin của giới văn nghệ đối với công chúng” (Nông Quốc Chấn) Điều đó không chỉ được bộc lộ trong việc phản ánh những vấn đề có tính thời sự nóng hổi mà còn thể hiện ra thành nhiệt tình khám phá và cắt nghĩa có chiều sâu về hiện thực Qua tác phẩm của mình, nhà văn đã bày tỏ quan điểm của mình về một vấn đề nào đó trong cuộc sống, đóng góp một giải pháp, hoặc chí ít, phải gợi ra được những vấn đề cấp thiết của
xã hội và khiến chúng ám ảnh người đọc, lôi kéo người đọc vào quá trình suy nghĩ trăn trở của nhà văn, đối thoại cùng nhà văn để xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn
Khuynh hướng đối mặt với thực tại bất toàn xuất phát từ tư tưởng nói thật, nhìn thẳng vào sự thật, đổi mới cách nhìn, cách nghĩ trở thành tư tưởng chủ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho tư duy nhận thức lại hiện thực, nhu cầu phản ánh hiện thực nhiều chiều phát triển mạnh mẽ
Nói thật, nói thẳng, nói đúng để thức tỉnh lương tri, báo động xã hội làm sâu sắc quá trình dân chủ hoá mọi mặt của đời sống đất nước Hiện tượng ấy cũng phần nào cho thấy tư duy phản ánh hiện thực là nét ưu trội của tư duy đổi mới văn học đương đại; cho dù hiện thực đó có xù xì, gai góc, thô ráp và trần trụi đi chăng nữa Điều đó cũng khẳng định vai trò, nhiệm vụ văn học nghệ thuật trong bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm con người; trong việc lên tiếng cảnh tỉnh, đẩy lùi cái xấu, cái ác, cái thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng đến xây dựng nền văn
hóa, làm tha hóa con người “Viết chính là chết”, là sự khổ công trong quá trình sáng
tạo nghệ thuật Mỗi lần sáng tạo tác phẩm là một lần nhà văn sống hết mình, dốc hết bầu tâm tư, nguyện vọng của mình trong đó; là một lần đau khổ tột cùng, yêu thương tột cùng, căm hận đến tột đỉnh Nhưng từ ấy mà tác phẩm sinh thành, mang trong mình
Trang 19những âm vang đa thanh của cuộc đời, chưa đựng biết bao nhiêu cảm xúc ngân nga của tâm hồn nghệ sĩ Dám đối thoại với thực tại bất toàn cũng chính là sứ mệnh của văn nghệ sĩ với chân chính tư cách là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng – văn hóa
1.1.2 Quan niệm thực tại như “trò chơi” và ý thức kiến tạo thực tại
Nhà văn đương đại thường tạo ra “trò chơi hiện thực” Một mặt, nhà văn làm cho hiện thực được hư cấu trở nên “như thật” để thuyết phục người đọc; nhưng mặt khác, cũng có khi họ cố ý, “giả vờ” hoặc công khai trò chơi hư cấu ấy - chỉ cho người đọc thấy những điều người trần thuật đang kể chỉ là sự hư cấu, bịa đặt, là tin đồn, là
“chuyện khó tin”, không thể tin; để người đọc vừa ngờ vực, phản tỉnh vừa bị bất ngờ, hấp dẫn, tò mò Quả thật, người đọc đã bị lôi cuốn, mê hoặc, phải nghi ngờ, ngẫm nghĩ, hòa mình vào chính hiện thực “không đáng tin cậy” được tạo nên trong tác phẩm Không có một mẫu số chung về hiện thực mà chỉ có những góc chiếu đa chiều, đa cực về hiện thực “Hiện thực” không chỉ bao gồm hiện thực lịch sử - xã hội hay số phận cá nhân mà còn là hiện thực ngôn ngữ - sáng tạo Cùng với những thay đổi trong quan niệm về nhà văn thì quan niệm về hiện thực như là đối tượng phản ánh, khám phá của văn học cũng được mở rộng và mang tính toàn diện Hiện thực không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà đó cũng là hiện thực của đời sống hàng ngày với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi, mạch ngầm của đời sống Hiện thực đó cũng là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch Hiện thực đời sống trong tính toàn vẹn của nó đã mở ra những không gian vô tận cho văn học thỏa sức chiếm lĩnh, khám phá, khai vì [53]
Trong văn học sau 1986, “Hiện thực không chỉ là cái bên ngoài, hữu hình, có thể quan sát, nắm bắt mà còn là thế giới bên trong, đầy hư vô, tăm tối và bí ẩn Hiện thực không chỉ là cái nhất phiến, mang tính quy luật, hoàn tất mà còn là sự bất định, hỗn độn, dang dở như một quá trình”[52] Với các nhà văn đương thời, hiện thực không còn được coi là mục đích phản ánh mà nó đã trở thành phương tiện/ chất liệu kí hiệu học Họ quan niệm thực tại như là trò chơi và quá trình tạo lập văn bản đã trở thành một cuộc chơi phong phú, sinh động ở nhiều phương diện khác nhau như: chơi hiện thực, chơi cấu trúc, chơi nhân vật, chơi ngôn từ, cú pháp Quan niệm đó đã tác động mạnh mẽ đến tư duy sáng tạo của các nhà văn
Dưới sự ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng “ tam giáo đồng nguyên” mà cốt lõi là tư tưởng Nho giáo, văn học trung đại Việt Nam luôn phải gánh vác sứ mệnh cao cả là
“văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí” Đến đầu thế kỉ XX, đặc biệt là giai đoạn 1930 -
1945, tư tưởng làm thay đổi diện mạo của văn học thời kỳ này chính là tư tưởng hiện đại phương Tây Dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây (đặc biệt là văn hóa Pháp),
Trang 20con người cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ, sự giải phóng cái tôi cá nhân là tư tưởng nổi bật, nhà văn, nhà thơ trở thành những “con ngựa bất kham” trên hành trình sáng tạo nghệ thuật Họ tự ý thức rõ về sứ mệnh của văn chương trước cuộc đời, dần thoát khỏi sự ràng buộc của các nguyên tắc, giáo lí vốn khắc khe, cổ hủ
Văn học từ 1945 đến 1975 gắn với bối cảnh lịch sử khá đặc biệt, ba mươi năm của giai đoạn văn học này là ba mươi năm chiến tranh trường kì, đất nước ta tiến hành hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống Pháp và chống Mỹ Văn xuôi và đặc biệt là tiểu thuyết thời kì này nhận trọng trách phản ánh bức tranh hiện thực rộng lớn, chân thực, sinh động của đời sống kháng chiến và lao động sản xuất Nhà văn phải đề cao việc miêu tả hiện thực một cách chân thực và lấy chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương pháp sáng tác chủ đạo Đó chính là sứ mệnh “tải đạo” của văn chương trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của dân tộc
Từ sau năm 1986, văn xuôi nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng đã thay đổi cảm quan về hiện thực, những hình thức thể hiện trong tác phẩm cũng được đa dạng hóa Vai trò của chủ thể phản ánh , những đặc trưng của thể loại tiểu thuyết cũng
đã được nhà văn xác định và ý thức sâu sắc Chúng ta bắt đầu nhận thấy biểu hiện của tính chất “trò chơi” trong tiểu thuyết “Trò chơi chiếm một vị trí rất lớn trong đời sống, không chỉ của con người mà cả loài vật Không phải bàn cãi rằng trò chơi là một trong những nhu cầu nghiêm túc và có tổ chức của tâm lí con người” (I.U.Lotman) Milan Kundera cho rằng: “Ở bên ngoài tiểu thuyết, người ta sống trong thế giới của những điều khẳng định: mọi người đều tin chắc ở lời nói của mình: một nhà chính trị, một nhà triết học, một người gác cổng Trong lãnh địa của tiểu thuyết, người ta không khẳng định: đây là lãnh địa của trò chơi và của những giả thuyết”
Với quan niệm thực tại như là một “trò chơi”, các nhà văn đương đại thể hiện vai trò sáng tạo hiện thực và hơn hết đó chính là ý thức “lạ hoá”/ cách tân táo bạo của họ “Tính chất trò chơi trong văn chương, hiểu một cách đúng đắn, không phải là việc làm
đi ngược lại quan niệm truyền thống xem văn chương là một hành vi sáng tạo thiêng liêng, mang nhiều giá trị của con người” [52] Có thể xem tư duy trò chơi là tư duy dựa trên những quy tắc của sự phá huỷ, nó không phải là sự tùy tiện, ngẫu hứng vô nguyên tắc, đòi hỏi người viết phải phá vỡ các quy phạm, các mô hình tiểu thuyết cũ để xây dựng những mô hình tiểu thuyết mới Tinh thần phóng túng của nhà văn trong sáng tác
sẽ được thể hiện trong cách phản ánh hiện thực, lẽ tất nhiên là sự phóng túng ấy không phải là sự tùy tiện; sáng tạo phải không vượt ra ngoài khuôn khổ, vẫn đảm bảo tuân thủ các “luật chơi” Như vậy, khi đã có ý thức đề cao tính “trò chơi” cũng có nghĩa là nhà văn phải tổ chức tác phẩm của mình giống như thực hiện một trò chơi Bản chất của
nó là cuộc phiêu lưu của hình thức, của những cách tân, nỗ lực làm mới Người đọc có thể nhận thấy một số nhà văn tham dự vào “trò chơi” cấu trúc bằng cách luôn tìm cách
Trang 21lạ hóa ngôn từ, lạ hóa cách triển khai văn bản, cắt xé chỉnh thể mang tính quy luật vốn
có thành những mảnh vụn rời rạc, không tuân theo bất kì một quan hệ nhân quả nào (Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương…), ta
sẽ thấy một “sân chơi” vô cùng đa dạng về màu sắc trên phương diện “kĩ thuật viết” ở các nhà văn khác với các tác phẩm ghi dấu ấn độc đáo trong làng tiểu thuyết Việt Nam
sau 1986 như Thuận (Phố Tàu, T mất tích), Nguyễn Việt Hà (Khải huyền muộn), Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau), Phong Điệp (Blogger) Hay với Nỗi
buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã xóa nhòa ranh giới nhiều thủ pháp kể chuyện, mờ hóa
và làm mới nhiều nét nghĩa diễn ngôn trên nền tảng của một mô hình cấu trúc đặc thù Chính phương thức trần thuật độc đáo đó, nhà văn đã tạo nên sự cuốn hút đặc biệt đối
với người đọc
Cảm nhận được hiện thực là điểm khởi đầu, nhưng dùng “chữ” để đưa nỗi trăn trở ấy đến được với người đọc thì người nghệ sĩ mới hoàn thành được cả một quá trình Bởi lẽ, khi đến với một tác phẩm văn học, người đọc phải tiếp xúc với vỏ bọc ngôn từ thì mới có thể chạm được đến chiều sâu lắng bên trong Chính vì thế, ngôn từ có một vai trò vô cùng quan trọng đối với một quá trình sáng tác Văn chương luôn đòi hỏi ở người nghệ sĩ một khả năng sáng tạo từ ngữ, câu văn, hình ảnh độc đáo Đây cũng là yêu cầu đối với người nghệ sĩ trong sáng tác Như vậy, thực tại trò chơi trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 không chỉ là quá trình nỗ lực cách tân, chống lại quy phạm của mô hình phản ánh cũ vốn đã trở thành truyền thống, mà còn là con đường tìm về với cội nguồn của cơ chế sáng tạo nghệ thuật Bởi văn chương vốn là việc của tài năng
Nó luôn thúc giục, đau đáu nghĩ ngợi mà thành Đổi mới không phải một vụt hiện mà gồm cả quá trình có sự chuẩn bị, tích tụ, kế thừa và phát lộ theo những cách khác nhau
1.1.3 Kĩ thuật viết tương tác các mã văn bản
Văn bản không bao giờ tồn tại độc lập, tự trị mà là sản phẩm của vô số những mã, những diễn ngôn và văn bản trước đó được chồng xếp, kết nối, chuyển hoán, tương tác Văn bản chính là một bức tranh khảm kết các trích dẫn và ghi chú, là âm vang dội lại
từ nơi vô tận của các ý tưởng đã từng tồn tại từ bao đời
Dưới góc nhìn của Kristeva, văn bản là liên văn bản, được xác định như là “bức
khảm các trích dẫn”, kết quả của “sự hấp thu và biến đổi các văn bản khác” Kết hợp với sự giảm trừ và biến mất của chủ thể trong ngôn ngữ, văn bản trở thành hiện tượng phi cá nhân, phi nguồn gốc Văn bản không tồn tại biệt lập mà phối kết, tương tác
trong viễn cảnh mênh mông của cái gọi là ngữ cảnh được Kristeva đưa ra nhằm thay thế khái niệm hoàn cảnh xã hội ở Bakhtin Nếu khái niệm hoàn cảnh xã hội mở cánh cửa thông ra thế giới, thì khái niệm ngữ cảnh ở Kristeva đã khép chặt cánh cửa này,
đưa mỗi văn bản vào không gian mênh mông các văn bản khác nơi mà văn bản không chỉ thay thế chủ thể mà còn thay thế chính thực tại[60] Với quan điểm này, văn bản
Trang 22“ngốn nuốt” người khai sinh nó, rời khỏi tình huống xã hội cụ thể mà nó được kiến tạo, rời khỏi sự hồi đáp trực tiếp, tức thời của người nhận (vì người nhận trùng khớp với chủ thể/văn bản và/hoặc được văn bản hóa); văn bản quy chiếu các văn bản khác mà không quy chiếu thực tại, nó tất yếu gia nhập vào cuộc đối thoại giữa các văn bản, trở
thành giao tuyến năng động của vô số văn bản, “nơi mà ít nhất một từ khác (văn bản
khác) có thể đã được đọc rồi” [69]
Từ 1986 trở đi, nền văn học đã vận hành theo hướng tự do hơn, dân chủ hơn Văn
học được đổi mới toàn diện từ hệ thống quan niệm đến cảm hứng sáng tác, hệ thống thi pháp thể loại, phương thức tiếp cận và phong cách cá nhân Với cảm hứng sử thi, cảm
hứng nhân văn cũng bắt đầu xuất hiện, con người và những vấn đề của con người được đưa vào vị trí trung tâm với những phát hiện, khám phá mới mẻ Chưa bao giờ, đội ngũ tác giả văn học lại đông đảo về số lượng như đương đại Cũng chưa bao giờ các khuynh hướng tìm tòi, cách tân về kỹ thuật, về hình thức, lại nở rộ nhiều đến thế Tiểu thuyết là thể loại phát triển năng động nhất, được bạn đọc quan tâm đón đọc
và cũng là thể loại có nhiều cách tân M.Bakhtin, Milan Kudera, những nhà lý luận văn học nổi tiếng trên thế giới, đều xem tiểu thuyết là nghệ thuật mang tinh thần thời đại, vượt qua ranh giới của một thể loại văn học thuần túy Là một thể loại “duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình” bởi “tiếp xúc với môi trường cái hiện tại chưa hoàn thành”[8], tiểu thuyết luôn đặt hiện thực lên mặt bằng của cuộc sống hôm nay,
mà cuộc sống hiện tại thì bao giờ cũng dang dở, chưa xong xuôi Từ trong tiềm năng thể loại, tiểu thuyết là một thể loại tự do, có khả năng tổng hợp, dung nạp những phong cách nghệ thuật của các văn bản thể loại khác Đây chính là cơ sở của sự liên văn bản
về thể loại, giữa văn bản tiểu thuyết và văn bản các thể loại, các loại hình nghệ thuật và phi nghệ thuật, chính thống và không chính thống…[49]
Trong sự vận động đổi mới và phát triển, văn xuôi Việt Nam đương đại, đặc biệt
là tiểu thuyết đã tự mình dung nạp những yếu tố hậu hiện đại, thể hiện rõ nhất trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái, Thuận, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương… Ở đó, các yếu tố của chủ nghĩa hậu hiện đại đã được các nhà văn lựa chọn tiếp biến ở nhiều cách thức và mức độ khác nhau Để thể hiện rõ hơn tính chất phức tạp quay cuồng của trật tự đời sống: sự bế tắc không lối thoát của con người, sự băng hoại về nhân cách đạo đức, sự đánh mất bản ngã, sự đau đớn bơ vơ và bất an của số phận con người trước thời cuộc, sự đảo lộn giữa thực - hư, giữa siêu nhiên huyền bí - đời thường… hầu hết các tác giả trên đều có ý thức muốn làm mới thể loại tiểu thuyết bằng kỹ thuật lạ hoá như bút pháp nhại, nghịch dị, trò chơi ngôn ngữ…
Thông qua quá trình vận động và phát triển, tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã dung nạp vào bản thân nó những yếu tố hậu hiện đại: giải - khu biệt hóa và phi tâm hóa; tính chất hỗn loạn và bất ổn của trật tự đời sống; sự xáo trộn giữa hư và thực, giữa
Trang 23cái siêu nhiên huyền bí và đời thường; những kiểu cấu trúc mới, mảnh vỡ, liên văn bản, gián cách; trò chơi cấu trúc, trò chơi ngôn ngữ, bút pháp nhại, nghịch dị, huyền ảo… Các yếu tố cơ bản của hậu hiện đại đã được các nhà văn Việt Nam tiếp biến ở nhiều mức độ, ở từng phong cách Ở giai đoạn đầu sau đổi mới, dấu ấn của hậu hiện đại đã xuất hiện đậm nhạt trong văn xuôi Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp Ở chặng đường sau, nhiều cây bút đã thể nghiệm một lối viết mới, có ý thức làm mới thể loại bằng kĩ thuật lạ hóa như Nguyễn Bình Phương, Thuận, Hồ Anh Thái…
Khám phá thế giới nội tâm của con người, buộc các nhà văn phải có bản lĩnh vượt qua những hình thức được kiến tạo trước đó, để tạo “lối riêng’’ cho mình Kỹ thuật tiểu thuyết, vì vậy, luôn luôn là sự thôi thúc của người cầm bút cũng như yêu cầu tất yếu của văn chương nghệ thuật
Chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của “tiếng gọi của trò chơi”, tiểu thuyết sau 1986 trở thành mảnh đất màu mỡ để các nhà văn tự do sử dụng các thủ pháp nghệ thuật khác nhau, tiến hành những thử nghiệm, tạo ra những bước đột phá để đi tới mục đích tối hậu là truy tìm “một sự thật của con người” Họ có quyền công khai bày tỏ sự thức nhận của mình trước những chân lí, tín điều, những kinh nghiệm cộng đồng đã và đang tồn tại trong tâm thức và suy nghĩ của con người ở quá khứ và hôm nay
Sự đổi mới tư duy nghệ thuật cũng thúc đẩy mạnh mẽ những sự tìm kiếm, thể nghiệm về cách tiếp cận thực tại, về các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật, phát huy cá tính và phong cách cá nhân của nhà văn Khác với những thể loại khác đã đông cứng, trở nên hoàn kết, tiểu thuyết là thể loại đang vận động, chưa hoàn kết Tiểu thuyết mang tinh thần đa thanh, đối thoại, hàm chứa trong nghệ thuật khả năng lai ghép và dung hợp mọi thể loại văn học còn lại Nằm trong xu thế thời đại, tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI thực sự có nhiều thành tựu đáng chú ý
Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Tiểu thuyết là một thể hỗn hợp thu hút được hết các thể loại khác Không ai trói được nó trong bất cứ một chừng mực nào Chúng ta có thể đem vào tiểu thuyết một hình thức nào đó của văn xuôi cũng được: kịch, bút ký, truyện ngắn, truyện dài và cả thơ nữa, đem từng chương, từng đoạn hoặc từng chữ - dùng thẳng hay dùng tinh thần nó - để miêu tả một ý nghĩ, một hành động nhân vật, hình thức nào tiểu thuyết cũng dung nạp được tất” [73] Tiểu thuyết chứa trong bản thân nó
“đa thể loại”, nó trở thành một thứ liên văn bản, pha trộn, lai ghép nhiều phương thức chiếm lĩnh và phô diễn hiện thực, tiểu thuyết đổi mới có khả năng mời gọi sự sáng tạo của những ngành nghệ thuật khác, đặc biệt là điện ảnh và kịch [70]
Đối với văn học hậu hiện đại, liên văn bản, tức sự tương quan của văn bản chính với các văn bản văn học, nghệ thuật khác, trở thành nguyên tắc trung tâm trong việc
mô hình hóa thế giới Mỗi một sự kiện, mỗi một yếu tố được nhà văn hậu hiện đại mô
tả, xem ra đều mang tính khép kín và phần lớn là trích dẫn Điều này được diễn giải
Trang 24bằng logic: nếu như thực tại đã “biến mất” dưới tác động của các sản phẩm của hệ tư tưởng hay của mạng lưới truyền thông đại chúng, thì việc trích dẫn những văn bản văn hóa hay văn học có uy tín là hình thức duy nhất để có thể “tái tạo” lại nó
Như vậy, nếu trong nghệ thuật của mỹ học hiện thực cổ điển hay của chủ nghĩa hiện đại, văn bản được thể hiện như thế giới, thì, ngược lại, ở nghệ thuật hậu hiện đại, thế giới hiển hiện như văn bản, “một văn bản khổng lồ được tạo bởi sự kết hợp của vô vàn những kí hiệu văn hóa, những trích đoạn hỗn loạn” [72] “Tất cả mọi văn bản đều được cấu tạo bằng sự khác biệt với, và có nguồn gốc từ, các văn bản khác Những gì
mà chúng ta biết đến là văn bản, không có gì ngoài văn bản, văn bản là một hệ thống liên hệ giữa các ký hiệu ngôn ngữ” [85]
1.2 Nguyễn Bình Phương - “người đi về phía hậu hiện đại rõ nhất”
Trong cuốn sách“ Những con chim bay lạc”, Rabinddranat từng quan niệm
“Ngọn gió nhà thơ băng qua rừng, băng qua biển để tìm ra tiếng nói của riêng mình”
Mỗi nhà văn đều phải trải qua những thử thách đầy cam go để tìm ra lối đi riêng và khẳng định tên tuổi của mình Qua quá trình khổ luyện và lao động nghiêm túc ấy, thành quả mà họ nhận được chính là dấu ấn phong cách không thể trộn lẫn, không thể quên trong lòng độc giả Còn theo Maxim Gorki: “Nghệ sĩ là người biết khai thác nhũng ấn tượng riêng chủ quan của mình Cây bút Nguyễn Bình Phương sáng tác vào
thời điểm cao trào đổi mới văn học, do đó ông có điều kiện tìm cho mình “một lối đi
riêng”, đóng góp tiếng nói riêng cho văn học Việt Nam đương đại
1.2.1 “Người loay hoay đi tìm cách kể”
Ngôn ngữ là một tập hợp những chỉ định và những tập tục, chung cho tất cả các nhà văn trong một thời đại Ðiều đó có nghĩa là ngôn ngữ giống như một bản chất trôi tuột hết qua lời nói của nhà văn, mà không đem lại cho lời nói ấy một hình thức nào hết, thậm chí cũng không nuôi dưỡng lời nói ấy: nó như một địa hạt trừu tượng của các chân lý, mà chỉ bên ngoài đó mới bắt đầu lắng lại tỷ trọng của một lời nói đơn độc Nó bao bọc toàn bộ sự sáng tạo văn học
Văn học nghệ thuật không chấp nhận sự lặp lại Vì thế tìm tòi, khám phá cái mới
là yêu cầu quan trọng trong công việc sáng tác của nhà văn Để có được tác phẩm có
giá trị, đòi hỏi người nghệ sĩ phải có lối đi riêng (phải có hướng khai thác, tìm tòi và
phản ánh đời sống in đậm dấu ấn chủ quan của tác giả) Nhiều khi, nhà văn có thể tìm
cái mới ngay trong những cái vốn đã rất quen thuộc Bởi một cuộc thám hiểm thực sự
không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà cần một đôi mắt mới (Marcel Proust) Nói
như nhà thơ Chế Lan Viên: Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành mật ngọt/Một
giọt mật thành muôn vạn chuyến ong bay (Ong và mật) Đó thực sự là một quá trình
thử thách đòi hỏi sự cần cù, chịu đựng, sự vượt lên, tìm tòi và sáng tạo Nếu như không
có những phẩm chất ấy, nhà văn không thể viết được những tác phẩm có giá trị, thậm
Trang 25chí sẽ chỉ đãi được cát trong vô cùng cát trên bờ biển mà thôi Chính vì thế mỗi nhà
văn, trong quá trình sáng tác của mình đều có những quan niệm nghệ thuật nhất định,
có người phát biểu thành tuyên ngôn nghệ thuật định hướng sáng tác của mình, cũng
có người kể cả khi không đưa ra một nguyên tắc nhất định nào cả Song chắc chắn rằng trong quá trình sáng tác, trước khi bắt tay vào xây dựng tác phẩm họ luôn có chủ đích nào đấy, họ đều có lựa chọn lối viết, lối kể nào đó
Nguyễn Bình Phương bắt đầu viết văn từ năm 1986, tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du, anh đã trải qua những năm tháng rèn luyện trong quân đội nên có một vốn sống rất phong phú Là nhà văn quân đội, Nguyễn Bình Phương vẫn không ngừng sáng tác ở cả văn xuôi và thơ Từng tự nhận mình là khách trần gian, Nguyễn Bình Phương quan niệm sống là cố gắng yêu thương, cố gắng không làm hại ai và cố gắng có ích một chút Đối với độc giả yêu cái mới, cái lạ trong văn học, sự sáng tạo cách tân trong nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương luôn là một món quà được mọi người đón nhận
Được xem là “Người thầm lặng” của văn chương, là kẻ “lặng lẽ nép mình ở một
góc” nhưng Nguyễn Bình Phương luôn là cái tên nổi bật trong văn chương đương đại
Việt Nam Mặc dù khá kín tiếng trong đời sống nhưng trong văn chương nghệ thuật ông là người lao động nghiêm túc và nghiêm khắc, âm thầm nhưng vững vàng, lặng lẽ
mà kiên định, lầm lũi sáng tạo trong cõi riêng Ông luôn thầm lặng viết, nghiêm túc kiểm soát từng con chữ, từng trang văn mà mình viết ra Chính từ quá trình làm việc nghiêm cẩn đó đã tạo cho ông một vị thế vững chắc trên văn đàn Tên tuổi Nguyễn Bình Phương luôn ở lại trong lòng bạn đọc là từ giá trị của từng tác phẩm mà anh mang đến cho đời Trong một lần trả lời phỏng vấn, ông đã khái quát đời một nhà văn trong cụm từ "loay hoay tìm cách kể", bởi theo ông: “ nghề viết là chọn cách kể với đủ vất vả và không ít khoái cảm” Nhà văn Dương Tường từng nhận định: “Nguyễn Bình Phương là giọng văn lạ, phải đọc vài lần mới thẩm thấu, nhìn bề ngoài thì rất bình lặng nhưng tầng sâu thẳm thì chất chứa những bùng nổ lớn” Phương thức tổ chức tự sự tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương có nhiều nét độc đáo, không chỉ biểu hiện qua bình diện
kĩ thuật/ lối viết mà còn được bộc lộ từ chiều sâu tư duy nghệ thuật của nhà văn [64]
Để thực hiện được nhiệm vụ cao cả của văn chương, trước hết mỗi nhà văn phải
là một nhà tư tưởng Đỉnh cao nhất của mỗi tác phẩm chính là thông điệp tư tưởng của
nó Qua tác phẩm của mình, nhà văn phải bày tỏ quan điểm của mình về một vấn đề nào đó trong cuộc sống, đóng góp một giải pháp, hoặc chí ít, phải gợi ra được những vấn đề cấp thiết của xã hội và khiến chúng ám ảnh người đọc, lôi kéo người đọc vào quá trình suy nghĩ trăn trở của nhà văn, đối thoại cùng nhà văn để xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn Nguyễn Bình Phương cho rằng: “Khi mình viết tiểu thuyết về một vấn đề, thì vấn đề đó là cái mà nhà văn phải nung nấu thường xuyên, thậm chí còn nghĩ về nhiều vấn đề trong cùng thời điểm Nhưng khi bắt tay vào viết một tác phẩm cụ thể,
Trang 26nan giải nhất, thiết thực nhất là anh phải tìm được cái giọng trong cuốn sách đó Cái loay hoay, cái khó chính ở đó Nhà văn thì gần như có một cái tạng rồi, ít ai chạy ra khỏi được cái tạng đó Nhưng trong cái tạng chung, mỗi tác phẩm lại có một giọng, cách viết thể nào để cho hợp với nội dung” [39] Với quan niệm trên, giọng kể đó đã
dẫn đến sự khác nhau trong các tác phẩm của ông: Nếu ở Ngồi điểm nhìn của nhà văn
khác, cái nhìn của tác giả toàn tri với nhân vật, nhân vật chính được miêu tả từ bên
ngoài, nhà văn nhìn vào nó Ở Mình và họ thì giọng độc thoại, tự độc thoại Thì giọng
kể trong Kể xong rồi đi lại có tính chất tâm sự, đối thoại, nhân vật chính kể, nó kể
chuyện với một con chó
Nguyễn Bình Phương từng tâm sự, hai điều mà ông đắn đo nhất mỗi khi cầm bút
đó là “ làm sao để diễn đạt thật chính xác điều mình cần nói”, và “ chỉ ra được những
căn nguyên của vấn đề” Chẳng hạn, nhà văn phải phản ánh và chỉ ra được rằng tại sao
thời này con người lắt léo, dữ tợn như vậy ? Tại sao đạo đức xuống cấp ghê gớm đến thế? Tại sao lí tưởng biến mất và những giá trị truyền thống bị phá vỡ? Tại sao con người lại thế này chứ không phải thế kia? Thế đó, quá trình viết của ông là hành trình
đi tìm câu trả lời, để giải đáp cho hàng loạt câu hỏi, những khúc mắc do chính mình đặt
ra Tất cả những trăn trở suy tư đó sẽ được nhà văn gửi gắm qua các nhân vật, qua ngôn ngữ, hành động và tích cách của họ Người đọc sẽ nhận được câu trả thỏa đáng
qua trang viết của ông, để chiêm nghiệm, suy ngẫm
Với Nguyễn Bình Phương, điều mà ông luôn lo sợ nhất khi tham gia vào trò chơi ngôn ngữ chính là mình sẽ rơi vào sợ sự sáo mòn trong cách kể, thậm chí ông còn sợ
sự sáo mòn ấy đi vào những điều nhỏ nhặt như cách dùng từ Vì thế, để tránh rơi vào
sự lặp lại, sáo mòn quen thuộc trong lối viết, có được điểm nhấn và để lại ấn tượng mạnh mẽ cho bạn đọc, Nguyễn Bình Phương luôn có ý thức “ lạ hóa” trong cách sử dụng từ ngữ, luôn tìm cách sáng tạo ra nhiều từ mới, đặc biệt là từ tượng hình, chẳng hạn như: ụp sụp, thốc tháo, lỏa tỏa… Đọc tác phẩm của ông, độc giả và giới phê bình thấy được một Nguyễn Bình Phương luôn miệt mài sáng tạo, nỗ lực làm mới mình trong cách kể chuyện, cách xây dựng nhân vật, cách kể và cả trong bút pháp miêu tả Trong cuộc chơi với chữ nghĩa, Nguyễn Bình Phương đã trường sức với văn chương, luôn ở trong tim bạn đọc bởi anh đã làm được điều mà không phải nhà văn nào cũng làm được, đó là việc anh chủ động trong việc tiết chế và sáng tạo như thế nào cho vừa vặn với câu chuyện và nhân vật Với Nguyễn Bình Phương: cả đời nhà văn cứ loay hoay đi tìm cách kể Khi nào nhà văn dừng lại, thì mới hết cái loay hoay “Đôi khi với nhà văn, cấu trúc tác phẩm quan trọng lắm Nhà văn cứ loay hoay với cấu trúc Cấu trúc cũng là một dạng cách kể Có dạng cấu trúc đi thẳng, có dạng đi vòng Thế thì mới
ra được từng người một”
Trang 271.2.2 “Viết là tìm thấy một quy tắc trên cơ sở đánh mất một quy tắc”
Tư duy trò chơi là tư duy dựa trên những quy tắc của sự phá huỷ - hay thực ra là một thứ siêu quy tắc, đòi hỏi người viết phải phá vỡ các quy phạm, các mô hình tiểu thuyết cũ để xây dựng những mô hình tiểu thuyết mới Bản chất của nó là cuộc phiêu lưu của hình thức, của những cách tân, nỗ lực làm mới Thực tại trò chơi trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 không chỉ là quá trình nỗ lực cách tân, chống lại quy phạm của mô hình phản ánh cũ mà còn là con đường tìm về với cội nguồn của cơ chế sáng tạo nghệ thuật “Lạ hóa” được xem như một ý thức của tư duy, một định hướng cho thủ pháp nghệ thuật Với văn chương hậu hiện đại, giá trị phổ quát vẫn là “đích đến”; chỉ
có điều các nhà văn thay vì đi những con đường cũ lại chọn những con đường mới, những phương tiện mới để đến đích (dù đây là một thách thức mà không phải cây bút nào cũng thành công)
Nguyễn Bình Phương vừa làm thơ vừa viết văn xuôi, cả thơ và văn xuôi đều tạo được dấu ấn riêng Những đứa con tinh thần của anh dù ở bất cứ thể loại nào cũng được đọc giả đón nhận Người ta biết tới anh từ những vần thơ giàu hình ảnh, đầy màu sắc với triết lý nhân sinh dung dị cho đến những cuốn tiểu thuyết cho dù được đánh giá là khó đọc những đều tạo được những tiếng vang nhất định
Đọc tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, người đọc sẽ thấy anh ít khi chỉ nghiêng
hẳn về một vỉa tầng nhất định, mà cái biểu đạt thường cứ nằm ở khoảng giữa, lưng chừng giữa hai mảng sáng- tối của cuộc sống, không nghiêng hẳn về phía nào Vì thế nhân vật trong tiểu thuyết của ông như cũng chới với, không có điểm tựa.Với quan điểm “nhà văn có nghĩa vụ gìn giữ và làm giàu thêm tiếng Việt, thì hiển nhiên là anh ta hoàn toàn có quyền phá vỡ những cấu trúc ngôn ngữ đã có để hướng đến những cấu trúc ngôn ngữ mới”[77] Văn phong Nguyễn Bình Phương mang một nhịp điệu riêng, vừa như chậm rãi, trễ nải vừa như hối thúc, giục giã Trong một bài viết trên Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm (số 16, năm 2016), Nguyễn Bình Phương được đánh giá là một
“cây bút đang rất sung sức”, đồng thời có rất nhiều ý kiến nhận xét rất chính xác về Nguyễn Bình Phương: “Và quả thực ở tiểu thuyết này, phép bút mờ chồng văn bản
“như của riêng” Nguyễn Bình Phương đã phát huy tối đa hiệu lực nén thời gian, không gian và một lượng sự kiện lớn trong những dòng ý thức kiệm lời đến tối giản” Nguyễn Bình Phương cho rằng: “Kết cấu là thứ làm đau đầu các nhà văn bởi nó biểu hiện cho khát khao thiết lập thế giới theo cách độc đoán của mỗi người”. Liên tục tìm kiếm, thử nghiệm các kiểu kết cấu, “tìm thấy rồi đánh mất”, quy củ, nghiêm ngắn rồi lại sắp xếp lại từ những thứ đã bị băm nát ra; phá tung kết cấu rồi lại hướng đến trật tự, cân đối; với Nguyễn Bình Phương và có lẽ cũng là với nhiều nhà văn khác, “viết là tìm thấy một quy tắc trên cơ sở đánh mất một quy tắc”[2] Như thế, nếu xem văn học là trò chơi, tuân thủ quy tắc trò chơi, hẳn nhiều quy tắc nghiêm túc, chính thống sẽ bị xem
Trang 28nhẹ Cấu trúc văn bản trở thành cấu trúc của một trò chơi ngôn ngữ Trật tự tuyến tính của chuyện bị phá vỡ, thay vào đó là các trục trần thuật đan xen, lúc giao thoa, lúc tách rời nhau [24] Với Nguyễn Bình Phương thì: trong cuộc sống, người ta có thể làm ra rất nhiều thứ mà sau đó những thứ ấy không thuộc về họ Nhưng văn chương thì lại khác Nhà văn viết ra chữ nào thì chữ ấy là của anh ta, chỉ của anh ta Dù sau đó người ta đọc
nó kiểu gì, khuấy đảo, nhào lên trộn xuống ra sao, hay tô son trát phấn, cũng vẫn không cướp được chữ của nhà văn Có lẽ, đó cũng là lời khẳng định về một phong cách riêng của Nguyễn Bình Phương – một cây bút luôn là người có lối viết khó có thể lẫn vào với bất kỳ một nhà văn Việt Nam nào khác
Nhà văn giống như con ong hút trăm hoa làm mật ngọt (Chế Lan Viên) Muốn có
được một tác phẩm hay, người nghệ sĩ phải sống hết mình với hiện thực, phản ánh được hiện thực ấy vào sáng tác của mình Cuộc sống vốn phong phú, đa dạng, rất nhiều
sự việc, hiện tượng nhưng không phải sự việc, hiện tượng nào cũng đề tài cho sáng tác văn học Nhà văn phải biết lựa chọn trong vô vàn những cái đã nhìn thấy, nghe thấy, đã từng trải nghiệm để tìm ra điều mới mẻ, gợi nhiều hứng thú, đem lại nhiều ý nghĩa nhất, tạo cho mình một phong cách riêng biệt và ấn tượng Mặc dù, phong cách văn học được hiểu là cái thống nhất trong sự đa dạng của sáng tác Là cái độc đáo, vẻ riêng phải xuất hiện thường xuyên, lặp đi lặp lại, có tính chất bền vững, nhất quán Song mỗi nhà văn lại có một cá tính sáng tạo khác nhau Họ không bao giờ lặp lại chính mình hay lặp lại người khác Trong một lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn Bình Phương từng tâm sự rằng: “Mỗi nhà văn gần như có một cái tạng rồi Ít ai chạy ra khỏi cái tạng đó được Nhưng trong cái tạng chung, mỗi tác phẩm lại có một giọng điệu khác nhau, phải
kể như thế nào để hợp với nội dung”[78] Điều này được thể hiện khá đậm nét trong
hàng loạt tác phẩm văn xuôi của ông Nếu như với Ngồi là cái nhìn toàn tri của tác giả với nhân vật, ở Mình và họ, nhà văn ưu tiên ngôn ngữ độc thoại, thì với tiểu thuyết mới nhất là Kể xong rồi đi, đối thoại và độc thoại được dùng một cách xen kẽ, tạo nên
giọng kể phức điệu
1.2.3 Nỗ lực thể nghiệm “khác”: trò chơi cấu trúc liên văn bản
Sáng tạo là yếu tố then chốt quyết định sự sống còn của nhà văn trong quy luật phát triển chung của văn học Nam Cao đã từng khẳng định: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi
và sáng tạo những cái gì chưa có” Shê- khốp cũng cho rằng: “Nếu nhà văn không có một lối đi riêng của mình thì người đó chẳng bao giờ là nhà văn” “Khi ta gọi là một bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ ta không hề thấy ngại miệng, một nhà văn độc đáo vô song mà mỗi dòng, mỗi chữ tuôn ra đầu ngọn bút đều như có đóng một dấu triện riêng” (Anh Đức) Người nghệ sĩ trong hành trình sáng tạo phải là người trinh sát, với
Trang 29chiếc cần ăng-ten nhanh nhạy để nhận mọi tín hiệu, mọi làn sóng; phải biết tổng hợp, đánh giá, phân tích để phát đi một tiếng nói duy nhất, đúng đắn, sâu sắc Mỗi bài thơ, câu văn đều là kết quả quá trình sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ sau khi đã công phu chọn lựa và nhào nặn chất liệu hiện thực Do vậy, khi một nhà văn mới xuất hiện, câu hỏi của chúng ta về anh ta là: Anh ta là thế nào? Liệu anh ta có thể đem lại cho chúng ta điều gì mới mẻ trong cách nhìn cuộc sống?
Trước đây, hiện thực trong văn học là cái bên ngoài, hữu hình, có thể quan sát, nắm bắt, là cái nhất phiến, mang tính quy luật, hoàn tất Đọc một tác phẩm, hiển nhiên
ta có cảm giác rất gần với cuộc sống, một cuộc sống hiện tồn trong tác phẩm song cũng hiển nhiên là bên trong nó, tính chất phiêu lưu của nghệ thuật, nhất là của tiểu thuyết chưa được thể hiện rõ Sau 1986, sự vận động của tư duy tiểu thuyết Việt Nam được đánh dấu trước hết bằng những thay đổi trong quan niệm về thực tại và vai trò của chủ thể sáng tạo Hiện thực trong văn học còn là thế giới bên trong, đầy hư vô, tăm tối và
bí ẩn, là sự bất định, hỗn độn, dang dở như một quá trình.Vì thế, cách tân tiểu thuyết như một đòi hỏi tất yếu, đem đến sự vận động nội tại để lấy lại hoặc tăng thêm sức sống cho tiểu thuyết Nét nổi bật trước hết ở các tiểu thuyết thuộc khuynh hướng cách tân, đó là tính “tự tham chiếu” và tính “liên văn bản” [52]
Khi tham dự vào trò chơi cấu trúc, hòa mình vào dòng chung của văn chương đương đại, các nhà văn đương đại luôn tìm cách lạ hóa ngôn từ, lạ hóa cách triển khai văn bản, cắt xé chỉnh thể mang tính quy luật vốn có thành những mảnh vụn rời rạc, không tuân theo bất kì một quan hệ nhân quả nào Nhiều cây bút tiểu thuyết tiêu biểu
đã không ngừng nỗ lực, không ngừng tìm tòi cho mình một lối đi riêng trong sáng tác, học luôn tạo cho tác phẩm không chỉ là một văn bản riêng biệt mà tồn tại như một liên văn bản Từ việc tiếp cận văn học từ lý thuyết liên văn bản đã giúp nhà văn thay đổi tư duy sáng tác, mạnh dạn thể nghiệm những phương thức nghệ thuật mới mẻ để khơi sâu vào những vấn đề đời tư, thế sự, chạm đến những góc khuất trong đời sống của con người và xã hội, đem đến cơ hội để nhà văn đối thoại trực diện và thẳng thắn với tinh thần cởi mở Bên cạnh đó, dưới lăng kính liên văn bản những hướng nghiên cứu mới
mẻ cũng đã được mở ra, làm phong phú và sâu sắc hơn cách tiếp cận các hiện tượng văn học, những vấn đề về lịch sử, thời đại, xã hội, vùng miền nơi tác giả thuộc về; từ
đó, giúp người đọc khám phá những quan điểm nhân sinh, chiều sâu văn hóa chứa đựng trong tác phẩm
Nguyễn Bình Phương là nhà văn được xếp vào nhóm theo khuynh hướng hậu
hiện đại, những tiểu thuyết của ông bắt đầu từ Bả giời (1991), Vào cõi (1991), Những
đứa trẻ chết già (1994) …cho đến Thoạt kỳ thuỷ (2005) và Ngồi (2006), Kể xong rồi đi
(2017) đều là những thể nghiệm về một lối viết riêng biệt, khác lạ từ cách tiếp cận nhân vật, xây dựng không gian thời gian, ngôn từ cho đến cách nhìn hiện thực của tác
Trang 30giả Với cách viết riêng lạ này, tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương có thể xem là sự tích hợp phong phú nhiều trạng thái tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết hiện đại và đương đại thế giới để từ đó đúc kết tạo nên một kiểu tư duy độc và khác biệt, mang dấu
ấn Nguyễn Bình Phương
Thực sự, nếu ai đã đọc qua các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương hẳn sẽ có chung một nhận xét rằng tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương rất kén chọn độc giả, để đọc, cảm và hiểu được tác phẩm của ông là rất khó Hầu hết các tiểu thuyết của
Nguyễn Bình Phương như Thoạt kỳ thuỷ, Ngồi, Kể xong rồi đi …thường bắt người đọc
phải trăn trở, suy tư, nghiền ngẫm để rồi từ đó mới tìm được sự thoả mãn và những ẩn nghĩa sau một quá trình vật lộn với sự đọc chứ người đọc không tìm thấy một sự khoái cảm dễ dãi thường thấy như ở các tiểu thuyết khác mà Đây cũng chính là nét khác biệt của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương và các cây bút văn xuôi hiện nay
Một điều mà mọi đọc giả luôn nhận thấy trong tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Bình Phương đó là: văn hay, nhưng khó đọc Vậy lí do vì sao? Có lẽ bởi câu chuyện trong tác phẩm của ông luôn được kể theo lối “phi tuyến tính” Hơn nữa, với “một cá tính không chấp nhận là phiên bản”, Nguyễn Bình Phương lại đưa ra lý lẽ rất riêng cho lối đi của mình Ông luôn buộc mình phải viết khác đi, nhất quyết không thể lặp lại mình, không thể là “bản sao” của chính mình Chính vì thế nên hơn 30 mươi năm qua, Nguyễn Bình Phương là cái tên đáng được nhắc tới trong bức tranh muôn màu của văn học Việt Nam đương đại Nguyễn Bình Phương luôn sáng tạo hết mình, luôn nỗ lực làm mới mình trong từng sáng tác, dù là ở mảng thơ hay tiểu thuyết Với anh, để tác phẩm có được một đời sống riêng, nó phải là một bản thể riêng biệt của sáng tạo Có thể nói, đó cũng chính là một tuyên ngôn trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương
Kể từ những tác phẩm đầu tiên ra mắt năm 1991, trong hơn 30 năm qua, nhà văn Nguyễn Bình Phương “sở hữu” tới 10 cuốn tiểu thuyết Không chỉ gây ấn tượng về số
lượng, tác giả của Kể xong rồi đi đã trở thành cái tên tiêu biểu khi nhắc tới xu hướng
cách tân nghệ thuật “với lối viết biến ảo linh hoạt và sự phá vỡ cấu trúc tiểu thuyết”.Nguyễn Bình Phương cho rằng một tác phẩm văn học cần phải có “độ hiểm” Do đó, những tác phẩm của anh hầu hết đều không bằng phẳng như miền đồng bằng quang mây, mà phải hiểm hóc với núi cao vực sâu để người đọc được dẫn dụ vào những không gian đa tầng Từ một câu chuyện trên trang văn Nguyễn Bình Phương, người đọc sẽ còn khám phá thêm những tầng nghĩa khác nhau trong những ẩn ý tinh tế Chúng làm cho người đọc phải nghĩ, ngẫm rồi giật mình, rồi lặng người, có khi phải đọc lại để hiểu hết những nút thắt mở, những tầng ý nghĩa bị bỏ qua ở đâu đó giữa những trang sách
Văn học đương đại Việt Nam nói chung và tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương nói riêng đã sự ảnh hưởng mạnh mẽ của lí thuyết liên văn bản Đọc tiểu thuyết
Trang 31Nguyễn Bình Phương chúng ta sẽ nhận ra sự ảnh hưởng, trích dẫn, pha trộn thể loại và
sự dung hợp văn hóa Có thể nói, một trong những nét đặc trưng mang đậm dấu ấn hậu hiện đại của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, đó chính là tính liên văn bản; đồng thời khẳng định được những đóng góp của Nguyễn Bình Phương trong dòng chảy văn xuôi đương đại Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung Trong sự nghiệp sáng tác, có lẽ điều mà mọi nhà văn đều hướng tới chính là sự khẳng định và xác lập được một phong cách riêng Có thể nói lối viết liên văn bản cùng với những tri thức liên văn hóa và liên ngành đã góp phần vào sự xác lập phong cách rất riêng của Nguyễn Bình Phương Xét từ phương diện này, nhà văn là là cây bút có cá tính, phong cách sáng tạo Đằng sau những thành công của Nguyễn Bình Phương, là một thái độ nghiêm túc với văn chương và tinh thần muốn để cho văn chương hướng đến chân trời tự do, trước hết
là tự do trong sáng tạo nghệ thuật
Trang 32Tiểu kết chương 1
Từ góc nhìn liên văn bản, có thể thấy với Kể xong rồi đi, Nguyễn Bình Phương
đã đem đến cho đọc giả một cuốn tiểu thuyết lôi cuốn với sự đan bện, xuyên dệt những
kỹ thuật của trò chơi kết cấu thông qua việc vận dụng đa dạng, hiệu quả các thủ pháp liên văn bản Tiểu thuyết đương đại Việt Nam đã xác lập được diện mạo riêng từ việc thể nghiệm của nhiều tác giả trên hành trình hòa nhập vào chủ nghĩa hậu hiện đại Không ít nhà văn đã thành danh với tiểu thuyết, tuy nhiên để giữ được một đời văn có dấu ấn trong địa hạt này thì không phải ai cũng làm được Trong số những “nhà tiểu thuyết” được nhiều người nhắc đến phải kể đến Nguyễn Bình Phương Đặt tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trong dòng chuyển động của văn học Việt Nam đương đại, chúng ta có thể khẳng định Nguyễn Bình Phương là nhà văn có “lối riêng”, là một trong số những cây bút có cá tính sáng tạo đặc sắc Trong vòng 30 năm cầm bút, nhà văn đã có những đóng góp quan trọng cho nền văn học hiện đại Từ khi tiểu thuyết đầu
tay Bả giời (1991) ra đời, đến cuốn tiểu thuyết mới đây nhất Một ví dụ xoàng (2021),
Nguyễn Bình Phương liên tục và bền bỉ sáng tác, định hình một phong cách tiểu thuyết riêng Mỗi tác phẩm mới ra đời là một dấu mốc của Nguyễn Bình Phương đã tạo nên một mô hình tiểu thuyết mới, một lối tiếp cận hiện thực mới, một thực tại mới (trong tương quan với tiểu thuyết truyền thống) Như vậy bằng những tiểu thuyết của mình, Nguyễn Bình Phương đã thực sự nhập cuộc với dòng chảy đầy nội lực của văn học đương đại với nhiều tên tuổi quen thuộc Trong nguồn chung ấy, nhà văn đã tạo được dấu ấn của một dòng riêng bằng sự khơi dậy trong mỗi người đọc một khát vọng sống mang tính nhân văn sâu sắc.Với nỗ lực bền bỉ cùng những thể nghiệm kỹ thuật tự sự mới nhằm khai thác tiềm năng của thể loại, để cách tân tiểu thuyết, Nguyễn Bình Phương sẽ góp phần đưa tiểu thuyết Việt Nam dần dần thoát khỏi quỹ đạo truyền thống
và hòa nhập với tiểu thuyết hiện đại thế giới
Trang 33Chương 2
LIÊN VĂN BẢN TRONG KỂ XONG RỒI ĐI
NHÌN TỪ TƯ DUY NGHỆ THUẬT
2.1 Chồng xếp thế giới hư thực
2.1.1 Những mảnh ghép của hiện thực dị thường
Do đặc điểm lịch sử và bối cảnh văn hóa xã hội, hầu hết các tác giả văn xuôi trước 1975 thường hướng ngòi bút đến những sự kiện lịch sử, chính trị lớn lao bao quát toàn bộ đời sống con người, là những "đại tự sự", nhưng trong tác phẩm của Nguyễn Bình Phương ta lại thấy không còn tồn tại những bức tranh hiện thực lớn lao, những hình tượng kỳ vĩ mang tính sử thi Nguyễn Bình Phương lại nhắm vào những mảnh vỡ hiện thực, những "tiểu tự sự" của cuộc sống hiện đại Anh thường quan tâm đến hiện thực phân mảnh, hiện thực bị xé lẻ, phân tách Điều đáng nói là Nguyễn Bình Phương không vuốt ve hiện thực, không tô hồng, cũng không ảo tưởng về nó mà anh chọn cách nhìn thẳng vào hiện thực khắc nghiệt trần trụi, những mặt trái của xã hội đương thời vô đạo, con người đang dần đánh mất phần Người- họ vô cảm, vô tâm, vô nhân tính ngay
cả với người thân của mình Nhà văn đã mạnh dạn đối diện để bóc trần bức tranh hiện thực phồn tạp, trần trụi, gai góc đó
Đọc tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, đọc giả dễ dàng nhận thấy một lối viết rất riêng biệt, mới mẻ từ cách nhìn hiện thực, tiếp cận nhân vật, sáng tạo cốt truyện, xây dựng không gian thời gian cho đến sử dụng ngôn từ Tác phẩm của anh luôn tồn tại sự đan cài, lồng ghép giữa các yếu tố mơ hồ, hư ảo và cái thực/ đời thường, nội tâm
và hành động, thiện và ác…Trước Kể xong rồi đi thì Thoạt kỳ thuỷ, Những đứa trẻ chết
già là hai tiểu thuyết mang những biểu hiện rõ nhất của tư duy hậu hiện đại với đặc
điểm như hiện thực phân mảnh, yếu tố huyền ảo Nhà văn thường xây dựng kiểu nhân vật luôn mang trong mình một tâm trạng hoang mang, dằn vặt, đổ vỡ, lạc lõng với thế giới xung quanh, bất tín nhận thức, thậm chí ngay cả với chính bản thân mình Một bức tranh về một thực tại hỗn độn, phồn tạp cứ bày ra trước mắt với những giấc mơ, những cơn ác mộng chập chờn và những ảo giác siêu thực như bủa vây lấy họ
Theo Nguyễn Bình Phương, “Nghĩa vụ của nhà văn là góp phần xây dựng nhân tính, hướng con người tới một đời sống tốt đẹp, nhân ái, vậy thì đồng nghĩa với việc họ
có quyền viết về sự bất cập của một mô hình, có quyền viết về cái ác, về sự suy đồi, mất nết của mọi tầng lớp, mọi bộ phận trong cơ cấu xã hội đó, chứ không chỉ là riêng người dân đen”[76] Có lẽ vì quan niệm như vậy, cho nên con người trong văn Nguyễn Bình Phương luôn được đặt trong cuộc sống hiện thực phồn tạp, trở nên đa trị tốt xấu lẫn lộn Chính hình tượng nhân vật trong đời sống hiện thực phồn tạp văn học vốn là tấm gương phản chiếu thời đại, cuộc đời Cuộc đời trong trang viết của Nguyễn Bình
Trang 34Phương vì thế chân thực với mọi góc khuất của nó Đó là một hiện thực đa chiều Nguyễn Bình Phương truy tìm đến tận cùng bản chất phi lý nghiệt ngã của cuộc đời bằng những phận người
Kể xong rồi đi là tác phẩm viết về cái chết, nhưng cái khiến người đọc chiêm
nghiệm lại là sự sống, nhà văn mượn cái chết để chiêm nghiệm về sự sống Cái chết xuất hiện dày đặc, để người đọc chiêm nghiệm về cõi nhân sinh nhàu nát Qua những cái chết, nhà văn nói về sự bèo bọt, phù du, vô nghĩa lý của kiếp người Tác giả đã chủ
ý lặp đi lặp lại chi tiết huân huy chương treo đầy tường nhà nhân vật đại tá, đối lập với hình ảnh vị đại tá thoi thóp trên giường, để cho thấy sự phù du, hư ảo của kiếp người
Bàn về những khía cạnh đời sống trong Kể xong rồi đi, Thanh Tâm cho rằng:
“Tác phẩm sử dụng cái chết như một chiêu nghi binh, là cái cớ để chiêm nghiệm về đời sống” Khảo sát toàn bộ câu chuyện trong tác phẩm, người đọc nhận thấy cuộc đời con người được chia tách ra ba phần rất phân khúc:
- Phần thứ nhất là khi con người được sinh ra (Thỉnh thì đến)
- Phần thứ hai đó là khoảng thời gian con người sống trên cõi đời (Kể xong rồi đi)
- Phần thứ ba là lúc con người chết đi (Triệu thời về)
Như vậy toàn bộ tâm điểm của tiểu thuyết được nằm gọn trong trong phần Kể xong rồi đi, chính là nói về phần “sống” của đời người Bằng những ký ức chắp nối, tác phẩm như là những độc thoại của Phong về thân phận con người. Giọng văn bình
thản, ma mị huyền bí lại có gì đó như hững hờ Lời kể của nhân vật Phong - đại diện cho tác giả có đôi chút trẻ con, nhưng đôi khi lại ẩn chứa những triết lí sâu
xa về người, về đời và về cái chết Phong nhận ra mọi góc tối luôn được che đậy
kĩ càng xung quanh mình, nhưng kì lạ là Phong cũng không can thiệp Phong im lặng, quan sát, ghi nhớ và thờ ơ như một người ngoài cuộc Đó phải chăng cũng chính là thái độ của chính Nguyễn Bình Phương giữa chốn hỗn độn xô bồ này? Đây là một câu trả lời mà không ai có thể giải đáp ngoài chính bản thân tác giả Phong cách của Nguyễn Bình Phương vốn luôn là như thế Tác giả không lớn tiếng chỉ trích, không thẳng thắn phê bình; tác giả lặng lẽ giữ những ưu tư của mình trên trang chữ, chờ người đọc phân giải
Kể xong rồi đi là tác phẩm văn chương đáng ngẫm, khơi gợi ở người đọc
những suy tư sâu lắng về điều “vô thường” trong cuộc đời bình thường, về cuộc sống mà chúng ta đang sống, và thậm chí có thể là về cả thái độ sống của mỗi người Đọc tác phẩm, độc giả vừa thấu cảm với thế giới phồn tạp của con người vừa bắt gặp cuộc sống của chính mình đâu đó trong thế giới nhân vật của Nguyễn Bình Phương, phồn tạp mà rất chất đời
Trang 352.1.2 Thực tại phồn tạp từ cái nhìn bất tin, hoài nghi của con người
Theo M Kundera, một trong những người khởi xướng quan niệm tiểu thuyết trò chơi: “Trong lãnh địa của tiểu thuyết, người ta không khẳng định đâu là lãnh địa của trò chơi và của những giả thuyết Sự chiêm nghiệm của tiểu thuyết do vậy, trong bản chất của nó, là có tính nghi vấn, giả thuyết” [2] Với quan niệm tiểu thuyết là một trò chơi, trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại xuất hiện phổ biến kiểu người kể chuyện không đáng tin cậy và tâm thế bất tín nhận thức Cái nhận thức được là bề nổi của tiểu
thuyết, cái bất tín nhận thức mới là mảnh đất của tưởng tượng và đối thoại
Trong “Tiểu thuyết như một trò chơi hay chân lý của tiểu thuyết là sự hoài nghi”,
có gợi dẫn về quan niệm tiểu thuyết, là một thế giới đa chiều, đa thanh, các nhà văn Việt Nam nhanh chóng bước qua không gian sử thi, để đển đến với thế giới của trò chơi, với sự đổi mới mạnh mẽ về giọng điệu Độc giả cũng dần dần được làm quen với
sự giải thiêng, với giọng điệu giễu nhại trong văn xuôi
Nhà văn hậu đổi mới dần từ bỏ gương mặt nghiêm trang, đứng đắn, và vai trò thuyết giảng đạo đức khô khan, họ quay lưng lại với các nguyên tắc cổ điển, chủ động hiện diện như một chủ thể tự do, nhìn thế giới vận hành như một trò chơi, và sáng tạo
ra một thế giới trò chơi trong tiểu thuyết Có thể nói, sự gia tăng tính trò chơi là một điểm mới khác trong quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn đương đại, nhằm tạo ra một sự hấp dẫn, thách đố riêng, kích thích sự tò mò khám phá nơi người đọc Tiểu thuyết là một cuộc phiêu lưu, đòi hỏi người đọc luôn phải tỉnh táo, và hoài nghi như chính tác giả của nó
Có thể nói những ray rứt hiện sinh, trong khung cảnh một thời đại “số hóa”,
“hoảng loạn” khiến con người khủng hoảng niềm tin, bất an, bất ổn trước sự bất toàn của cuộc sống, càng trở nên rõ nét Chính trong thời đại này con người hoài nghi về sự hiện hữu của mình, hoài nghi cả những tiêu chuẩn và nấc thang giá trị vốn đã được định hình thành những điển phạm Hoài nghi để con người tìm ra chân lí, để con người khẳng định một giá trị mới Đó cũng là ý nghĩa đích thực của hiện sinh vậy
Đọc tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, người ta bàng hoàng về thân phận con người Cảm quan đời sống của nhà văn tràn ngập hơi thở hiện tại với sự hoang mang,
đổ vỡ, khủng hoảng niềm tin, những vùng đau Tiểu thuyết của anh dung chứa và thể
hiện sinh động bao câu chuyện tâm thức của con người thời đại Ở tiểu thuyết Những
đứa trẻ chết già, nhà văn không phải đang kể một câu chuyện, mà là viết một câu
chuyện Cái được viết là sự xoắn vặn chồng xếp của nhiều không gian, thời gian, con người, sự kiện Bằng lối viết hiện thực kì ảo, tác giả đã vẽ nên một vệt nhoè về làng Phan, dòng Linh Nham, núi Rùng, khe Bò Đái nào đó ở Thái Nguyên xa xôi như trong tiền kiếp, tự lưu đầy trong cõi cô đơn khủng khiếp Thế giới bưng bít ấy phủ đầy huyền
thoại tồn tại ngay trong những lời đồn, kiểu: “không ai dám chắc”, “xì xào bàn tán”,
Trang 36“có người bảo” Đến Thoạt kì thuỷ là một câu chuyện triền miên vô tận, triệt để vô
thức, miên man ảo ảnh, xót xa đau đớn thân phận con người Những vệt màu cuồng nộ
được nghệ sĩ điềm tĩnh kéo dài ra mênh mang như một tiếng thở dài Người đi vắng là
sự bê tha nhếch nhác của con người, sự suy đồi ghê gớm của đạo đức và phong hoá xã hội; một nửa khác, là những đối thoại với cô đơn, trống vắng, vong thân với những cuộc đối thoại với hiện thực khốc liệt của đời sống
Riêng Kể xong rồi đi là trăn trở về những con người mang tâm thức thời đại: sự
đổ vỡ niềm tin dẫn đến “khủng hoảng các uy tín” [53, tr.436] Mỗi người một cuộc sống, một khát vọng, một mục đích tìm kiếm khác nhau nhưng cùng mang trong mình
một trạng thức hoài nghi, bất tín trước cuộc sống Nhà văn đã để cho người đọc chứng
kiến thế giới phận người bơ vơ, ngập ngụa trong những đổ vỡ bất tín Như thảm kịch
về sự thấp hèn bất tín của con người trên mọi lĩnh vực: không ai có thể tin được ai, không ai có thể nhờ cậy được ai Từ trong ra ngoài; từ anh em đến cha mẹ, từ vợ đến chồng, cha đến con, tất cả đều sống trong lừa dối, bất mục Sự bất tín như một khối u nhức nhối vỡ bung ra khiến cái nhìn hoài nghi bao phủ cuộc sống con người Con
người mất niềm tin vào tất cả các mối quan hệ Không tin vào tình bạn: Tình bạn của
bà Lan và Đại tá nhiều lúc cũng gây tò mò cho mọi người [20, tr.10] Bởi lẽ khi thương nhau trở nên thật khó, khi bản năng thân xác lên ngôi thì con người không thể
tin rằng có một tình bạn vô tư đến mức chưa hề thay đổi ánh mắt, chưa hề chạm vào
nhau, dù chỉ qua cái bắt tay [20, tr.10] Tình đồng đội lại không thể tin: Có đúng là lính phải cứu thủ trưởng không? Con người làm sao có thể tin vào quá khứ khi họ còn
hoang mang, ngờ vực trước hiện tại Lại càng đừng nghe hàng xóm, bởi lẽ đó là khi con người đã mặc định một niềm bất tín rằng thời này chẳng tin bố con thằng nào cả
[20, tr.41] thì làm sao có thể tin nhau Đến cả tình cảm vợ chồng cũng nhức nhối một
nỗi hoài nghi khi vợ chồng còn buồn nôn nhau Thế giới người trong Kể xong rồi đi, dường mọi sự gắn kết giữa vợ chồng cũng chỉ là giả tạo, là “ vở diễn” mà thôi: Ra khỏi
nhà Hòa một lúc cơn đau ở hậu môn tớ mới giảm xuống, nó nhâm nhẩm suốt từ lúc vợ Hòa mở miệng khen chồng [20, tr.17] Ngay cả mối quan hệ thiêng liêng nhất cũng chỉ
là “ tấn trò đời” nghiệt ngã Một gia đình ư? khi con người phải chấp nhận nỗi đau vỡ
vụn ra khi phát hiện ra sự gian lận tráo trở ngay trong gia đình: Đểu rồi Tráo mẹ nó rồi Do đó con người không bao giờ có niềm tin rằng nơi trở về sẽ là gia đình: Theo cậu thì ông ta về nhà của mình ở giữa ngã ba Túc Duyên với Âm Hồn, hay là lang thang chỗ khác? Chịu hả? Tớ cũng chịu [20, tr.215]
Ngay ở lời đề từ, tác giả viết “Chắc gì mây đã bay”, một câu hỏi buông lửng
không hồi đáp như nỗi băn khoăn, toát lên sự hoài nghi bao trùm tác phẩm Lời đề từ đặt ngay đầu tác phẩm buộc người đọc hoài nghi tất cả câu chuyện được kể sau đó Trong sự cô đơn, lạc lỏng, chới với của cuộc đời đặc quánh những hồ nghi, nỗi buồn
Trang 37đó con người thường nẩy sinh niềm khát khao được kết nối Nếu con người trong Vòng
tròn đồng tâm của Tạ Duy Anh cô đơn đến độ phải “tâm sự chuyện đời với một con
bò” thì Kể xong rồi đi là những cuộc đối thoại của Phong với con chó Đó chính là
một dụng ý của tác giả, khi nói về sự giao tiếp giữa con người đang mất đi Nhân vật chính được đặt trong một sự mơ hồ bản thể giữa nhân gian vô nghĩa Nhân gian trong
Kể xong rồi đi là cõi người vô cảm và thực dụng, nó như một vệt dầu loang Trước cõi
người xù xù, phồn tạp ấy, nhân vật trung tâm luôn thể hiện niềm băn khoăn hoài nghi,
mơ hồ về cuộc sống, về con người, và về chính mình Có lúc Phong cảm thấy mình
mong manh, tan loãng gần như tan biến đi: “Tớ gần như tan biến đi, còn lại mỗi nhịp
tim của ai đó thình thịch đập giữa không trung, đập cuống cuồng, bạo liệt…” [20, tr
103] Phong cảm tự nhận: “Tớ gật đầu, hơi lặng đi, chắc là nhìn bề ngoài trông tớ
giống đám mây đung đưa bồng bềnh” Ngay cả đến một đứa trẻ con cũng luôn mang
tâm lí hoài nghi, đề phòng: “Hai tay giấu ra đằng sau, khuôn mặt quắt của con bé vênh
lên, nó bảo mẹ nó dặn tránh gặp người lạ, họ không ăn cắp thì cũng bắt trẻ con bán sang Trung Quốc” [20, tr 116-117]
Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình Phương có thể xem là cuốn sách rất ồn ào, bát
nháo như chính cuộc sống thường ngày, và lại, một miền im lặng trôi qua nhè nhẹ, khiến ta biết trân trọng những khoảng lặng của một ngày, biết rằng phải tin nhau, phải
yêu thương như nhân vật đã nhận ra “Bọn mình phải tin nhau, phải gìn giữ cho nhau
mới sống nổi ở cái chốn bát nháo này”[20] Phải chăng chính khi cuộc sống bát nháo
là khi con người cần niềm tin hơn bao giờ hết Những giọng nói nhòa vào nhau không ranh giới, những tạp âm đứt quãng, giọng của ngoại giới và nội giới vang lên đồng thời Nhưng sau khi khép lại trang sách, mỗi người đều thấy rằng hãy tin nhau, yêu thương nhau khi còn có thể thì bao nhiêu âm thanh ngồn ngộn kia mới không làm ta choáng ngợp, mới khiến ta dễ thở hơn giữa cuộc đời ngắn ngủi như câu chuyện kể - kể xong rồi đi Nhân vật Phong được ông bác Đại tá chia sẻ nhiều nhất, hiểu ông hơn cả
những người con ruột, nhưng Phong luôn trong tình trạng hoài nghi: Thú thực, lúc đó
tớ chẳng hiểu bác ấy muốn ám chỉ ai, cô Ngải hay là Lĩnh [20], thậm chí bản thân
Phong cũng phải tự chất vấn: Tới cổng, tớ hỏi cái bóng của mình, mày là ai mà chểnh
con người đến tận cùng bi kịch, đến đỉnh điểm của những nỗi đau Từ sâu thẳm con
người không biết vin vào đâu để tin, không biết víu vào đâi để thôi ngờ vực: Nhìn kìa
Phốc, những vạt nắng đỏ ối nằm soãi trên mặt sông hắt lên hàng tre bờ bên kia những dải chờn vờn như lửa cháy ngầm Lâu lắm sông Cầu chẳng dâng lũ, có lẽ thượng nguồn đang cạn kiệt Sông thiếu nước thì giống như thanh gươm cùn gỉ, lam nham, hẻo lả [20, tr.77] Cứ thế, con người bất tín giữa cuộc đời, sống như những cái bóng
ôm trong mình ám ảnh những sang chấn tâm lí
Trang 382.1.3 Thế giới vô thức và những giấc mơ
Vô thức từ lâu đã được các nhà triết học quan tâm nghiên cứu Nhiều triết gia như
E Kant, Phesne, Harman, đều có đề cập đến hiện tượng vô thức Phesne đã đưa ra một hình ảnh rất sinh động, vì tâm lí của con người như một tảng băng Theo Sigmund Freud, nhân cách của con người rất phức tạp và có nhiều hơn một thành phần Trong lý thuyết phân tâm học nổi tiếng của mình, Freud nói rằng nhân cách bao gồm ba yếu tố được gọi là cái tôi, cái tôi và cái siêu tôi Những yếu tố này kết hợp với nhau để tạo ra những hành vi phức tạp của con người Lý thuyết tảng băng trôi của Hemingway trong tâm lý học muốn nói rằng chúng ta chỉ đối phó với điều mà chúng ta nhận thức được bằng mắt thường Phần còn lại không được chú ý, có thể được so sánh với một tảng băng Có một phần thông tin có ý thức, nhưng cũng có một phần vô thức khác bên dưới
Các nhà triết học và tâm lý học đều gặp nhau ở quan điểm về đối tượng nghiên cứu khi cho rằng vô thức là thiên về động cơ tiềm ẩn, mà chính nhà văn có khi cũng cảm thấy được một phần nào, và thường ngộ nhận thành một động cơ khác thuộc về ý thức như không ít nhà thơ cho rằng mình làm thơ theo trực giác Theo Freud, nghệ sĩ là
những người tìm vào vô thức dễ dàng nhất, bởi vì ông cho rằng: “Nghệ thuật là lĩnh
vực duy nhất trong đó sức mạnh toàn năng của các ý tưởng được duy trì cho đến tận thời đại chúng ta Chỉ trong nghệ thuật mới có câu chuyện rằng một người bị các ham muốn khuấy đảo đã thực hiện một cái gì đó như là một thỏa mãn; và nhờ có ảo ảnh nghệ thuật, trò chơi này làm nảy sinh những xúc cảm như do một cái gì có thực Thật
có lý khi ta nói về sự thần diệu của nghệ thuật, và nghệ sĩ được ví như người có ma thuật” [40] Bergson, nhà văn Pháp đoạt giải Nobel năm 1927, cũng có một định nghĩa
với tầm ảnh hưởng sâu rộng: “Hồi nãy, tôi đang thức, các hoài niệm có thể đưa ra
những liên lạc họ hàng với thực tại khách quan, với những tri giác hiện có của tôi Giờ đây, trong giấc mơ (tưởng tượng), những hình thể lờ mờ hơn đang diễn xuất trước mắt tôi, những âm thanh mập mờ hơn đang nhẹ vang bên tai tôi, một sự đụng chạm không phân biệt hơn đang rải rác trên khắp cả mặt ngoài thân thể tôi, nhưng cũng có những cảm giác khác tôi tiếp nhận từ bên trong cơ thể ” [40]
Trên văn đàn Việt Nam đương đại, yếu tố vô thức đã mở ra con đường lí tưởng dẫn vào địa hạt văn chương nhằm khám phá những gì thầm kín, bí ẩn nhất của bản thể người Việc lựa chọn đưa vô thức vào sáng tác cũng đã tạo động lực thúc đẩy nhà văn đương đại tìm đến sự đổi mới bút pháp Vô thức trở thành đối tượng khám phá và phương tiện kiến tạo tác phẩm một cách tự giác trong nhiều tác phẩm của họ Tiểu thuyết Việt Nam đương đại thường xuất hiện kiểu không gian, thời gian của cõi vô
thức - nơi chập chờn kí ức, bất định suy tư, hoang hoải giấc mơ Ví dụ, trong Nỗi
buồn chiến tranh - Bảo Ninh, ta nhận thấy Kiên luôn sống với những kỉ niệm, từ quãng
Trang 39đời bình yên rực rỡ bên Phương cho đến những tháng ngày trải nghiệm chiến tranh Kiên cứ chìm sâu trong những cơn mơ, những hồi tưởng về quá khứ, một quá khứ đau thương và ngọt ngào
Trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000, sự biến ảo linh hoạt của thủ pháp
“giấc mơ” làm cho cốt truyện có độ lắng, điểm nhấn, cũng là chìa khóa để mở vào thế giới sâu kín của con người Tìm hiểu motif này là cách giúp người nghiên cứu giải mã những thông điệp mà nhân vật hay tác giả gửi gắm, kiến giải sự lạ hóa trong cách thức xây dựng cốt truyện của tiểu thuyết sau đổi mới Nhiều tiểu thuyết sau 1986 đã sử dụng motif giấc mơ, giấc chiêm bao như một ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thế giới
vô thức của con người Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, cùng với lửa và nước, giấc
mơ cũng xuất hiện với tư cách như một cổ mẫu, nó trở thành nhân vật sống động, biến hóa trên trang viết của nhiều nhà văn Trong bài viết này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu cổ mẫu giấc mơ, một biểu tượng đầy sức ám gợi, đồng thời cũng là sợi dây nối kết đời sống tâm linh từ thế hệ này qua thế hệ khác Nếu trong văn học dân gian và văn học cổ, giấc mơ thường mang chức năng điềm báo, hoặc màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng… thì đến văn học hiện đại, giấc mơ trở thành một phần đời sống tâm linh con người, nó hé lộ “trạng huống hiện sinh”, phản chiếu ảo ảnh của chính con người Thủ
pháp này thể hiện rõ trong các tiểu thuyết: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ
vãng (Chu Lai), Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Người đi vắng, Vào Cõi, Những đứa trẻ chết già (Nguyễn Bình Phương)…
Trước hết motif giấc mơ thường thể hiện sự dồn nén và những ẩn ức trong thế giới nội tâm của con người Giấc mơ thực chất cũng là một thứ ngôn ngữ nội tâm dưới dạng vô thức, bởi đó là nơi ghi lại những ám ảnh, những xúc cảm nào đó của nhân vật trong cuộc sống đời thường Freud đã chia giấc mơ làm hai phần: nội dung biểu hiện
và nội dung tiềm ẩn, trong đó nội dung tiềm ẩn bao gồm những ước muốn, những khát khao mà chính người nằm mơ cũng không thấy được, nó vốn bị nhấn chìm trong vô thức, nó là bờ bên kia của trí tưởng tượng nhưng vẫn chứa đựng bóng dáng cuộc đời thực Mỗi giấc mơ có khi gắn liền với những điềm báo, tiên tri thể hiện sự thần giao cách cảm giữa người sống với người chết, những người có quan hệ đặc biệt với nhau Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương được ghi nhận là có nhiều cách tân; khai thác địa phận của những tiềm ẩn, chôn vùi, giấu kín Vô thức đã trở thành đối tượng trung tâm của miêu tả nghệ thuật Nội tâm con người đương đại được nhà văn khai phá, thể hiện một cách sâu sắc, tinh tế Nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương luôn sống trong những giấc mơ biến ảo chập chờn, những điềm báo được thể hiện qua linh cảm và một số biểu hiện bất thường khác như cảm giác bất an khi có con vật lạ xuất hiện bất thường, thường là đom đóm, bươm bướm, hay đơn giản chỉ là một cái rùng mình.Thế giới vô thức của nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đưa
Trang 40lại những cảm nhận thấm thía về nỗi đau thân phận con người Nhà văn đã chứng tỏ bản lĩnh, khả năng thâm nhập, tái hiện lại lớp trầm tích trong tâm hồn nhân vật Nguyễn Bình Phương đã thực sự thành công trong con đường phiêu du vào cõi thâm cung bí ẩn, phức tạp của tâm hồn con người trong khi các nhà văn một giai đoạn lịch
sử sáng tác, chỉ dừng lại ở việc diễn tả những biểu hiện, những hành vi phát tác bên ngoài của nhân vật do sự chi phối của tâm lý
Ở tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, vô thức luôn chiếm giữ vai trò yếu đạo trong cấu trúc tâm lí cũng như sự điều phối tới hành vi nhân vật Và không phải ngẫu nhiên, hệ thống nhân vật bị “què quặt” về ý thức ấy thường loay hoay trong những mối quan hệ xã hội phức tạp, bị bế tỏa trong một môi trường sống hỗn loạn, đổ nát, thậm chí là các chuẩn mực xã hội bị xô lệch, méo mó [14] Từ quãng đời tuổi thơ của Hoàn,
những ngày ở thành cổ Quảng Trị của Thắng (Người đi vắng), đến mối tình với Kim
của Khẩn (Ngồi)… đều là những miền ám ảnh của nhân vật Khi nhà văn sử dụng kĩ thuật dòng ý thức, các sự kiện trong tác phẩm thường dàn trải, không có thắt nút, cao trào, mở nút; chúng chỉ là cái cớ, còn dòng ý thức, nhận thức, chiêm nghiệm của nhân vật hoặc của người kể chuyện mới là nội dung cơ bản
Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình Phương là một bức tranh hiện thực đổ vỡ với sự
xuất hiện đậm đặc những xung đột, trần trụi, nhàu nát Nguyễn Bình Phương đã nhìn thẳng và sâu vào thực tế ấy, nhưng sau những đổ nát, hoang tàn của bức tranh hiện thực, người đọc vẫn nhận ra đâu đó sự ngậm ngùi, tê tái của người cầm bút, và hơn hết thảy, là khao khát muốn vực dậy thế giới ấy, từ chính cái nơi dấy lên sự đổ vỡ: vô
thức Trong Kể xong rồi đi, vô thức gắn liền với những giấc mơ Chúng là nơi cất giấu
với những ẩn ức, những ám ảnh và cả những khát khao của nhân vật trong trạng thái
mê sảng mộng mị, hoặc chúng có hơi hướng như mô típ giấc mơ – điềm báo – tiên tri hoặc mô típ mộng hiển linh trong văn học truyền thống [43] Từ bề sâu vô thức, giấc
mơ đã hé lộ đời sống tinh thần thầm kín của nhân vật
Khi ngòi bút của nhà văn thâm nhập vào cõi vô thức, cũng có nghĩa là họ đã mở
ra con đường để có thể lách sâu hơn nữa ngòi bút của mình vào đời sống bên trong của nhân vật, tìm thấy ở đó những trạng thái, những diễn biến tâm lí chứa đựng nhiều mâu thuẫn Những giấc mơ của Phong đã phơi bày những góc khuất trong tâm hồn của nhân
vật này với sự ám ảnh khôn nguôi về việc mình đã từng bị lạm dụng trong quá khứ.“Tớ
có thêm một giấc mơ nữa Tự dung tớ thấy mình ở giữa rất nhiều những cánh tay nõn nòn, oải mềm, tay nào cũng cầm một vật to, dài cỡ chuôi dao, hơi loang đen, phần đầu mum múp và mịn bóng”[20, tr.31] Và cho dù hình ảnh những người thân trong gia
đình dù chỉ hiện ra mơ hồ và hư ảo trong giấc mơ nhưng cũng đủ để sưởi ấm cho tâm
hồn cô đơn lạnh lẽo của Phong: “Trong ánh sáng vàng hoe, tớ biết mình đang mơ…
Rồi mẹ với em gái tớ dắt díu nhau tới, hai người như hai quả hồng, họ không dừng lại