1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sông của nguyễn ngọc tư nhìn từ kĩ thuật dòng ý thức

110 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sông của Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ kỹ thuật dòng ý thức
Tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hường
Trường học Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 8,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó tác giả trình bày hiện thực cuộc sống và con người trong tiểu thuyết Sông nhìn từ kĩ thuật dòng ý thức.Trên cơ sở nguồn chung và những biểu hiện nội dung, tác giả nghiên cứu nghệ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn hoàn thành không chỉ là kết quả từ sự nỗ lực của chính bản thân mà còn xuất phát từ sự động viên, giúp đỡ của cơ quan, thầy cô, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo Trường THPT Hiệp Đức đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và thực hiện luận văn; Các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã giảng dạy và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo - TS Lê Thị Hường - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp- những người đã luôn đồng hành, động viên và khích lệ tôi!

Trong quá trình nghiên cứu, chắc hẳn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được các ý kiến đóng góp chân thành từ quý thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè

Trân trọng cảm ơn!

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1 ẢNH HƯỞNG CỦA KĨ THUẬT DÒNG Ý THỨC TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN NGỌC TƯ- NHÌN TỪ NGUỒN CHUNG 7

1.1 Khái lược về kĩ thuật dòng ý thức và tiểu thuyết dòng ý thức trong văn học Việt Nam đương đại 7

1.1.1 Một số thuật ngữ liên quan 7

1.1.2 Kĩ thuật dòng ý thức- dấu hiệu của sự đổi mới nghệ thuật tự sự 8

1.1.3 Sơ lược về tiểu thuyết dòng ý thức trong văn học Việt Nam đương đại 1.2 Kĩ thuật dòng ý thức- hướng chuyển đổi trong tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tư 13

1.2.1 Chuyển đổi trong tư duy tiểu thuyết 13

1.2.2 Chuyển đổi cái nhìn về con người 15

1.2.3 Chuyển đổi trong lối viết 17

Chương 2 HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT SÔNG CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ KĨ THUẬT DÒNG Ý THỨC 21

2.1 Dòng ý thức- tấm gương phản ánh hiện thực đa chiều 21

2.1.1 Đời sống đô thị và nguy cơ sinh thái 21

2.1.2 Đời sống tính dục lệch pha 27

2.2 Dòng ý thức- tấm gương phản ánh con người đa phức 34

2.2.1 Con người cô đơn, xa lạ với chính mình 34

2.2.2 Con người “bị biến mất” trên hành trình truy tìm bản thể 43

Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TRONG TIỂU THUYẾT SÔNG CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ KĨ THUẬT DÒNG Ý THỨC 52

3.1 Nghệ thuật tổ chức kết cấu 52

3.1.1 Kết cấu theo dòng tâm tư 52

3.1.2 Kết cấu lắp ghép- phân mảnh 56

3.2 Nghệ thuật đồng hiện không- thời gian 60

3.2.1 Không – thời gian hồi ức và hiện tại 61

3.2.2 Không - thời gian thực - ảo 64

Trang 8

3.3 Ngôn ngữ như dòng chảy tâm trạng 66

3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại 66

3.3.2 Độc thoại nội tâm 70

KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

SÔNG CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ KĨ THUẬT DÒNG Ý THỨC

Ngành: Văn học Việt Nam

Họ và tên học viên: Trần Thị Hòa

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Hường

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Những kết quả chính của luận văn: Đề tài luận văn đã làm rõ được ảnh hưởng của kĩ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ nguồn chung Từ đó tác giả trình bày hiện thực cuộc sống và con người trong tiểu thuyết Sông nhìn từ kĩ thuật dòng ý thức.Trên cơ sở

nguồn chung và những biểu hiện nội dung, tác giả nghiên cứu nghệ thuật biểu hiện trong tiểu

thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ kĩ thuật dòng ý thức

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn: Luận văn góp phần khẳng định phong cách, sự sáng tạo cũng như những đóng góp của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trong tiến trình đổi mới tư duy

và lối viết tiểu thuyết của nền văn học nước nhà Khảo sát Sông của Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ kĩ

thuật dòng ý thức, luận văn gợi mở một hướng tiếp nhận thiên về thế giới bên trong con người, qua đó khẳng định một hướng đi mới, khác của tiểu thuyết đương đại Việt Nam

Ngoài ra đề tài còn làm tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình dạy học ở các trường cao đẳng, đại học trong cả nước

Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài: kết quả nghiên cứu của đề tài có thể phát triển ở cấp cao hơn như luận án tiến sĩ

Từ khóa: Sông, Nguyễn Ngọc Tư, kĩ thuật dòng ý thức

Trang 10

SONG OF NGUYEN NGOC TU VIEWED FROM THE TECHNOLOGY OF

CONSIDERATION

Major: Vietnamese Literature

Researcher full name: Tran Thi Hoa

Scientific research instructor: Dr Le Thi Huong

Training facilities: Da Nang University of Education, The University of Da Nang

Thesis outcomes: The thesis topic has clarified the influence of stream of consciousness techniques in Nguyen Ngoc Tu's novels from a common source Since then, the author presents the reality of life and people in the novel Song viewed from the stream of consciousness technique On the basis of common sources and content manifestations, the author studies expressionist art in Song's novel Nguyen Ngoc Tu viewed from the stream of consciousness technique

Scientific and practical significance of the thesis: The thesis contributes to affirming the style, creativity as well as the contributions of writer Nguyen Ngoc Tu in the process of renewing thinking and writing novels of the country's literature Surveying Song by Nguyen Ngoc Tu from the stream of consciousness technique, the thesis suggests a way of receiving in favor of the world inside the person, thereby affirming a new and different direction of contemporary Vietnamese novels

Besides, this thesis can also be used as a reference for teaching at universities in the whole country

The following research plan: Research outcomes can be developed continuously at a higher level as Doctoral thesis

Key words: Sông, Nguyễn Ngọc Tư, kĩ thuật dòng ý thức

Thesis instructor’s confirmation Researcher

Dr Le Thi Huong Tran Thi Hoa

Trang 11

Tiểu thuyết vốn được xem là “cổ máy cái của văn học”, “con sư tử của văn chương”, là thể loại luôn chuyển động mạnh mẽ, luôn thích nghi trong mọi giai đoạn văn học Tiểu thuyết cũng là mảnh đất màu mỡ để các nhà văn có thể tự do thể nghiệm các yếu tố nghệ thuật mới Trong xu thế chung của thời đại toàn cầu hóa, tiểu thuyết Việt Nam đương đại không chỉ mang những đặc điểm dân tộc tính mà còn tiếp biến các khuynh hướng mới trong văn học toàn cầu Sự giao lưu và hội nhập với văn học thế giới đã giúp cho các nhà văn đổi mới lối viết, “lạ hóa” cách viết, nhanh chóng tiếp nhận các kỹ thuật viết hiện đại và hậu hiện đại, trong đó có kỹ thuật dòng ý thức 1.2 Một trong những nhà văn thể hiện rõ ý thức “lạ hóa” nghệ thuật tiểu thuyết

là Nguyễn Ngọc Tư Sở trường của Nguyễn Ngọc Tư là truyện ngắn và tản văn Song

có thể nói, với Sông, cuốn tiểu thuyết đầu tay, Nguyễn Ngọc Tư đã thật sự hòa vào lối

viết hậu hiện đại, góp phần không nhỏ trong việc đổi mới tư duy tiểu thuyết cũng như

nghệ thuật tự sự Với tiểu thuyết Sông , Nguyễn Ngọc Tư đã thay đổi trường nhìn, lối

viết để khơi vào, chạm tới bề trong, bề sâu của con người, nhằm khám phá “con người bên trong con người” Một trong những đổi mới trong lối viết của nhà văn chính là kỹ thuật dòng ý thức – một nghệ thuật tự sự được xem là khởi nguồn từ phương Tây Dòng ý thức ban đầu là một thuật ngữ tâm lí học, sau đó được dùng để chỉ một

kỹ thuật sáng tạo nghệ thuật, rồi nhanh chóng phát triển thành khái niệm chỉ một khuynh hướng văn học có tầm ảnh hưởng toàn thế giới Ở Việt Nam, trong xu thế đổi mới và hội nhập văn hóa toàn cầu, trên văn đàn vào những thập niên đầu thế kỉ XXI,

đã xuất hiện khuynh hướng dòng ý thức trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại Ngược lại với các sáng tác cổ điển coi trọng phản ánh hiện thực trong sự toàn thể và điển hình, cùng với thói quen miêu tả con người trong sự gắn bó sâu sắc với cội rễ lịch sử; các tiểu thuyết viết theo dòng ý thức lại tìm kiếm một hiện thực khác- đó là chiều sâu tâm tư đầy phong phú và phức tạp của con người, nhằm tái hiện cái không thể nắm bắt,

nỗ lực kể cái không thể kể, soi rọi vùng mờ vô thức của con người, từ đó lý giải tinh tế những hoạt động và hành vi của cá nhân, giúp người đọc nhận ra thế giới người quả thật phong phú và giàu ý nghĩa

Trong những tiểu thuyết thuộc khuynh hướng dòng ý thức ở Việt Nam từ sau thời kỳ đổi mới, bên cạnh những tác giả như Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Châu Diên, Phan Việt, Lê Minh Hà, Nguyễn Khắc Ngân Vy phải kể đến sự

Trang 12

đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư với tiểu thuyết Sông Bằng những nỗ lực tìm tòi, sáng

tạo không ngừng nghỉ cùng với một cảm quan hiện đại về cuộc sống và con người, hơn nữa là bắt gặp đúng dòng mạch đổi mới của văn học thế giới, Nguyễn Ngọc Tư bước đầu gặt hái được những thành công trong hành trình làm mới tiểu thuyết ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật

1.3 Cho đến nay, dù có một số công trình tiếp cận, nghiên cứu tiểu thuyết Sông

nhưng các tác giả mới chỉ dừng lại ở một số vấn đề giới thiệu tác phẩm, hay nghiên cứu thi pháp, đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm chứ chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề kỹ thuật dòng ý thức với tư cách là một đề tài nghiên cứu độc lập Nghiên cứu kỹ thuật dòng ý thức sẽ gợi mở cho chúng ta một hướng tiếp cận tác phẩm thiên về thế giới bên trong, khơi mở được những vùng hiện thực mới

Với những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Sông của Nguyễn

Ngọc Tư nhìn từ kỹ thuật dòng ý thức để tiếp tục nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những công trình, bài báo nghiên cứu về tiểu thuyết Sông

Sông là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư Việc nhà văn từ lĩnh vực

truyện ngắn chuyển sang viết tiểu thuyết khiến tác phẩm gây sự chú ý ngay từ đầu Một số bài báo nhận định về sự rẽ ngoặc về thể loại của nhà văn

Trong bài Sông và hành trình “bản ngã” của Nguyễn Ngọc Tư (Văn nghệ Quân

đội, ra ngày 12/03/2013), Hoài Thương chú ý đến thế giới nội cảm của nhân vật đi tìm

bản ngã trong tiểu thuyết Theo tác giả bài báo: “Sự vặn xoắn trong tâm thức con người đi ngược với bản chất tự nhiên, chối bỏ nó, hoặc che đậy nó, để có thể sống yên

ổn trong cái gọi là xã hội con người đều là cội nguồn bi kịch Đó là điều Sông muốn

nói”; “Điều ấy cũng có thể là một phương thức diễn tả nhân vật đang đi tìm chính mình, hay chính giọng văn ấy cũng đang định hình chính mình, trong một hành trình văn chương vốn dĩ luôn đòi hỏi sự thay đổi trong nhất quán và không bao giờ có điểm kết” [67]

Mai Anh Tuấn trong bài Đọc tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư – khảo sát về

sự biến mất nhận định về sự chuyển đổi trên hành trình sáng tạo của Nguyễn Ngọc Tư:

“Với Sông, con đường thể loại văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư đã có thêm một khúc rẽ mới

nằm trong ước tính của nhiều người là tiểu thuyết, sau khi những cột mốc danh tiếng là truyện ngắn đã trở nên bị gián cách bởi hàng loạt tản/tạp văn ít nhiều thời vụ xen vào chật chội” [71]

Nguyễn Thị Việt Nga, tác giả bài Khát vọng tìm kiếm muôn thuở (Về tiểu thuyết

Sông của Nguyễn Ngọc Tư) đăng trên http://www.phongdiep.net nhấn mạnh motip

kiếm tìm – một motip quen thuộc trong văn học hiện đại thế giới được nhà văn vận

dụng vào tiểu thuyết Từ đó, tác giả bài báo cho rằng tiểu thuyết Sông có hơi hướng hiện sinh: “Trong Sông cũng là sự kiếm tìm như thế Sông Di, con sông có tên, có

những vùng đất cụ thể mà nó chảy qua, có những số phận cụ thể mà nó gắn với, thực

Trang 13

chất cũng chỉ là một dòng sông khát vọng” [45]

Theo Tiểu Quyên trong bài Đi dọc Sông với Nguyễn Ngọc Tư (Báo Người Lao

Động, ngày 19/09/2012): “Sông Di – một dòng sông hư cấu đi từ đồng bằng đến rẻo núi đã chứng kiến biết bao thân phận con người Và tác phẩm cũng là hành trình đi tìm lại con người thật của Ân, khao khát hạnh phúc của Xu, sự nổi loạn của San, vẻ buông xuôi của Tú và nỗi niềm riêng của biết bao nhiêu con người trong tác phẩm cũng có thể là của chung cho những thân phận trong thế giới phẳng này” [54]

Trên báo VOV Online, ngày 19/09/2012, Kim Dung với bài viết Nhà văn Nguyễn

Ngọc Tư đưa “đồng tính” vào tiểu thuyết đầu tay Trả lời phỏng vấn, Nguyễn Ngọc

Tư cho rằng: “Tôi tiếp cận mảng đó về mặt tinh thần, về nội tâm con người, về những suy nghĩ và dằn vặt của nhân vật chứ tôi không hoàn toàn khai thác những gì thuộc về thân xác và nhục cảm Tôi nghĩ rằng những vấn đề đó các tác giả khác đã làm rất tốt rồi.” [20]

Ngoài ra, có một số bài giới thiệu sách, bài phỏng vấn tác giả, được đăng trên báo giấy và các trang mạng internet Cụ thể như:

Trên báo VnExpress, ngày 13/09/2012, trong bài báo Nguyễn Ngọc Tư ra tiểu

thuyết đầu tay, Thành Sa chú ý tính chất hư ảo của tác phẩm và vai trò của người đọc

Theo tác giả bài báo: “Trong tiểu thuyết đầu tay, Nguyễn Ngọc Tư đã gửi nhân vật vào sông Di - con sông như một huyền thoại do tác giả dựng nên “Sông có khúc người có lúc”, ở mỗi “khúc” sông, tác giả lại để nhân vật lại bộc lộ một “lúc” của mình nhưng rồi đến cuối câu chuyện mọi thứ hiện lên hư thực, thật giả lẫn lộn khiến độc giả ngẩn ngơ khó mà nắm bắt Có thể nói, khi tiếp cận “Sông”, độc giả sẽ phải “dự phần” khá nhiều mới mong giải mã được tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư” [55]

Trong bài Sông và hành trình đi tìm bản ngã của Nguyễn Ngọc Tư, Hoài Thương

chú ý đến tính biểu tượng của dòng sông Theo tác giả bài báo: “Ý nghĩa biểu tượng

mà sông Di gợi lên cũng không khó để nhận ra Những thủ pháp như tạo dựng bầu không khí hư ảo, sử dụng chi tiết gây ám ảnh, thậm chí hư cấu văn bản theo lối “giả sử” nhằm tạo những cuộc đối thoại giữa những “tự sự” (sách sưu khảo “Ba tháng Miền Hạ” của nhà truyền giáo Bồ Đào Nha) cũng không quá mới lạ với người đọc Điểm

hấp dẫn của Sông có lẽ là cái duyên riêng của Nguyễn Ngọc Tư, dù cố thay đổi vẫn

không mất đi Văn chị có cái nồng hậu của con người miền Nam, cái nồng hậu không đơn giản chỉ là tỏa ra từ hệ thống từ địa phương được dùng dày đặc, mà sâu hơn, nó tỏa ra từ một cái nhìn không bao giờ vơi nỗi thương cảm với thân phận con người Dù

ở đây chị có gồng lên, có làm khác đi so với cái giọng của thời kỳ truyện ngắn, nhưng cái thương cảm ấy vẫn lúc chìm sâu lúc phập phồng trên mạch đập của dòng văn” [67]

Trên báo Thể thao và Văn hóa, ngày 30/09/2012, Cao Việt Dũng với “Nguyễn

NgọcTư: Sông và những cuộc bỏ đi” đề cập yếu tố huyền ảo trong tác phẩm Theo tác giả bài báo: “Cái hiện thực trong Sông không hoàn toàn là hiện thực nhưng chưa bước

Trang 14

hẳn sang bên kia lằn ranh ngăn cách với cái kỳ ảo, cái kỳ ảo vẫn neo đậu đậm đà vào hiện thực, nên độ chênh thì có, nhưng bầu không khí mà cuốn tiểu thuyết tạo ra dường như là một cái gì đó “từa tựa sự thật”, một cái bóng của sự thật; mạch truyện đi trên vệt mờ mỏng mảnh giữa thực và hư” Bài báo cũng chỉ ra hạn chế của Nguyễn Ngọc

Tư ở tiểu thuyết này: “Ở lần rời khỏi truyện ngắn và tản văn này, Nguyễn Ngọc Tư xây dựng được một tiểu thuyết đúng nghĩa, tuy ngắn, trừ việc quán tính viết tản văn khiến tác giả hình như lo sợ độc giả giảm bớt chú ý nên cố kể quá nhiều chuyện, chuyện này gối đầu chuyện kia, nhiều lúc ta thấy như thể bị mắc kẹt giữa một chuyện chưa kết thúc và một chuyện khác đã bắt đầu Hoặc giả đây cũng là một điều gì đó liên quan đến không khí “ở giữa” như đã thấy ở tính chất “hư” và “thực” [21]

Ngoài ra, có một số luận văn nghiên cứu về tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc

Tư từ nhiều góc nhìn Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân với Luận văn “Tự sự hậu hiện

đại trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư”( 2014) Tác giả Nguyễn Thị Lan Thoa với luận văn “Đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư”

(2014)

2.2 Những công trình, bài viết đề cập kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Đức Toàn trong bài Nhận diện khuynh hướng dòng ý thức trong tiểu

thuyết Việt Nam đương đại khẳng định có một khuynh hướng dòng ý thức trong tiểu

thuyết Việt Nam đương đại Theo tác giả: “Quan sát sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại người đọc nhận thấy có một khuynh hướng tiểu thuyết dòng ý thức gắn liền với những tác giả như Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Châu Diên, …, Nguyễn Ngọc Tư”; “Khuynh hướng tiểu thuyết dòng ý thức có mối liên hệ sâu sắc với những đặc điểm chủ yếu của quá trình đổi mới văn học sau 1986”[68, tr.144]. Về tiểu thuyết Sông, tác giả bài báo nhận định: “Với tiểu thuyết Sông, Nguyễn

Ngọc Tư đã gửi gắm vào nhân vật khát vọng kiếm tìm, khát khao được sống là chính mình… Khoác tấm áo của một tiểu thuyết du khảo, nhà văn gửi thông điệp mong muốn mỗi cá nhân phải khẳng định sự tồn tại của mình… [68, tr 99]

Trong bài Khuôn diện tiểu thuyết của các nhà văn nữ Việt Nam thập niên đầu thế

kỉ XXI nhìn từ một số lí thuyết hiện đại, Lê Thị Hường phân tích tiểu thuyết Sông từ

cảm thức hiện sinh và lối viết vô thức Theo tác giả bài báo: “Có thể nhìn rõ vệt ánh hiện sinh qua kiểu nhân vật “nhận thấy rằng sự hiện diện của mình là dư thừa” trong một thế giới “quá đầy” Nhân vật tự bôi xóa mình Có khi là tự diệt hữu thức, có khi là

vô thức dẫn đến hành vi sai lệch” [36, tr 201]

Trên báo Tuổi trẻ Online, ngày 14/09/2012, Phạm Xuân Nguyên nhận định:

“Sông là tiểu thuyết ở chỗ không thể kể lại nó dù là có thể kể, mà phải cảm nó, phải

ngấm nó và ngẫm nó ở văn chứ không phải ở truyện Trong tác phẩm dài hơi đầu tiên này của mình, Nguyễn Ngọc Tư nói được rất nhiều chuyện của cuộc sống ngoài đời, nếu dùng lại một từ đã cũ là “phản ánh hiện thực” thì cuốn sách không thiếu sự “phản

Trang 15

ánh” Nhưng nhà văn phản ánh cái bên ngoài, cái bề mặt là để khơi vào, chạm tới cái

bề trong, cái bề sâu của con người Và thế thì từng chương của Sông như là một khúc

rẽ, khúc ngoặt mở ra cho người đọc thấy bao tâm trạng ngổn ngang, rối bời ” [65]

Tuy nhiên, với đề tài Sông của Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ kỹ thuật dòng ý thức

cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống

3 Mục đích nghiên cứu

Khái quát được những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Sông

nhìn từ kỹ thuật dòng ý thức, từ đó khẳng định sự sáng tạo và những đóng góp của nhà văn trong quá trình đổi mới thi pháp tiểu thuyết ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Sông trên

hai bình diện nội dung và nghệ thuật biểu hiện

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp cấu trúc – hệ thống

Phương pháp này nhằm xây dựng một cấu trúc hợp lí và khái quát những phương diện triển khai của đề tài Người viết sử dụng phương pháp hệ thống để đảm bảo tính chính xác Mặt khác, cần đặt các dữ liệu vào một hệ thống cùng tiêu chí để chứng minh làm rõ các luận điểm

5.2 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu đánh giá chính xác nhất những nét nổi bật trong đề tài nghiên cứu Chúng tôi khảo sát các hiện tượng lặp lại ở một số các yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của tác phẩm Sau đó, chúng tôi dựa vào tần số xuất hiện của các yếu tố đó để hệ thống hoá và khái quát hóa lên thành những đặc

điểm riêng và ổn định trong việc vận dụng kỹ thuật dòng ý thức ở tiểu thuyết Sông của

Nguyễn Ngọc Tư

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Để thấy được dấu ấn riêng của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng như sự đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư cho nền văn học Việt Nam đương đại, trong quá trình nghiên cứu người viết có tiến hành so sánh đối chiếu Nguyễn Ngọc Tư với một số cây bút tiểu thuyết khác ở từng vấn đề có liên quan để thấy được những nét tương đồng và khác biệt Từ đó, chúng ta thấy rõ hơn sự sáng tạo của Nguyễn Ngọc Tư trong việc tiếp nhận kĩ thuật tự sự hiện đại, khẳng định được bản lĩnh, vị trí của nhà văn

5.4 Phương pháp liên ngành

Vấn đề dòng ý thức vốn là một vấn đề phức tạp của tâm lý học Vì thế, để nắm bắt cặn kẽ bản chất của nó, nhất thiết phải tìm hiểu hoạt động tâm lý, được xem là cơ

Trang 16

sở cắt nghĩa dòng ý thức Chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành giữa văn học và tâm lý học

Ngoài ra, luận văn sử dụng các thao tác cần thiết của nghiên cứu văn học như phân tích, tổng hợp; đồng thời vận dụng lí thuyết kĩ thuật tự sự hiện đại, lí thuyết văn học dòng ý thức phương Tây trong quá trình triển khai đề tài

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Luận văn góp phần khẳng định phong cách, sự sáng tạo cũng như những đóng góp của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trong tiến trình đổi mới tư duy và lối viết tiểu thuyết của nền văn học nước nhà

6.2 Khảo sát Sông của Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ kĩ thuật dòng ý thức, luận văn

gợi mở một hướng tiếp nhận thiên về thế giới bên trong con người, qua đó khẳng định một hướng đi mới, khác của tiểu thuyết đương đại Việt Nam

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Ảnh hưởng của kĩ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Nguyễn Ngọc

Tư - nhìn từ nguồn chung

Chương 2: Hiện thực cuộc sống và con người trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn

Ngọc Tư nhìn từ kĩ thuật dòng ý thức

Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư

nhìn từ kĩ thuật dòng ý thức

Trang 17

Chương 1

ẢNH HƯỞNG CỦA KĨ THUẬT DÒNG Ý THỨC TRONG TIỂU THUYẾT

NGUYỄN NGỌC TƯ- NHÌN TỪ NGUỒN CHUNG

1.1 Khái lược về kĩ thuật dòng ý thức và tiểu thuyết dòng ý thức trong văn học Việt Nam đương đại

1.1.1 Một số thuật ngữ liên quan

Dòng ý thức và kĩ thuật dòng ý thức

Theo nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào, thuật ngữ “dòng ý thức” được nhà tâm lí

học William James sử dụng lần đầu tiên trong Những yếu tố cơ bản của tâm lí học

(1890) James cho rằng hoạt động tâm lí con người không phải được cấu thành bởi những yếu tố cô lập, tách rời, mà là một dòng liên tục không dứt Ý thức của con người là do hàng trăm phương thức luân lưu chiếm lĩnh Bất cứ lúc nào cảm giác của con người cũng là một thể phức hợp Ý thức của con người luôn luôn chất chứa những mối liên hệ muôn màu muôn vẻ Bản thân tư duy là liên tục không hề gián đoạn Cho nên, hoạt động tư duy, có thể nói một cách chính xác là “dòng tư tưởng”, “dòng ý thức”, “dòng đời sống chủ quan” Ông cho ý thức là một dòng chảy, dòng sông trong

đó các ý nghĩ, cảm giác, các liên tưởng bất chợt, thường xuyên chen nhau, thay nhau đan bện vào nhau một các lạ lùng, phi logic

Từ quan niệm của William James, Đặng Anh Đào cho rằng dòng ý thức là phương pháp kể chuyện trong tiểu thuyết không gây cảm xúc (nondramatic) nhằm diễn

tả dòng chảy của vô số những cảm giác - thị giác, thính giác, xúc giác, liên tưởng, và tiềm thức - cùng với tư duy lí trí tác động tới ý thức của một cá nhân

Kĩ thuật dòng ý thức

Thế kỉ XX, ở phương Tây, kĩ thuật dòng ý thức đã được định hình dựa trên giả thuyết của James, phân tâm học Freud, thuyết trực giác Bergson “Với sự phối hợp của giả thuyết James, phân tâm học Freud, thuyết trực giác Bergson, một số nhà văn phương Tây bắt đầu sáng tác để biểu hiện dòng ý thức, xem đây mới là cái chân thực

của đời sống con người, mạnh dạn phơi bày các hoạt động và bí mật của nội tâm”

[31, tr.75]

Độc thoại nội tâm

Tiểu thuyết dòng ý thức thường sử dụng phương pháp kể chuyện của độc thoại

nội tâm Theo Từ điển thuật ngữ văn học, độc thoại nội tâm là “lời phát ngôn của

nhân vật nói với chính mình, thể hiện tiếp quá trình tâm lí nội tâm, mô phỏng hoạt động cảm xúc, suy nghĩ của con người trong dòng chảy trực tiếp của nó”; còn dòng ý thức là “biểu hiện đặc biệt, cực đoan của độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết thế kỉ XX” [30, tr.87]

Theo Đặng Anh Đào, thuật ngữ độc thoại nội tâm thường được dùng hoán đổi

với “dòng ý thức” Độc thoại nội tâm là một sự miêu tả mở rộng trong độc thoại

Trang 18

thường thấy của sự phối hợp giữa tư duy và cảm xúc trong một nhân vật hư cấu Một độc thoại nội tâm có thể là một sự diễn đạt ý nghĩ trực tiếp của ngôi nhân xưng thứ nhất, hình như không có sự lựa chọn và kiểm tra của tác giả, hoặc có sự luận bàn của ngôi thứ ba mà bắt đầu bằng một nhóm từ kiểu như “anh ấy nghĩ” hay “những suy

nghĩ của anh ấy đã bắt đầu”

Phân biệt độc thoại nội tâm và dòng ý thức, Nguyễn Thái Hòa cho rằng: “Nếu độc thoại nội tâm chỉ xuất hiện trong một số tình huống nhất định thì truyện kể tâm tư

là dòng chảy triền miên của ý thức làm nên cốt truyện và vì vậy nó là giọng chủ đạo của lời kể” [33, tr 81]

1.1.2 Kĩ thuật dòng ý thức- dấu hiệu của sự đổi mới nghệ thuật tự sự

Sự phát triển và đổi mới là yêu cầu tất yếu của bất kì thể loại văn học nào để phù hợp với nhu cầu độc giả và điều kiện xã hội Và mọi sự cách tân văn học bao giờ cũng bắt đầu từ hình thức, do đó, việc áp dụng những kĩ thuật tự sự mới mẻ, những phương thức cấu trúc văn bản hiện đại là điều hết sức quan trọng Nhà văn cần có năng lực xử

lí và áp dụng những “vũ khí nghệ thuật” mới trong quá trình sáng tạo

Ở phương Tây, “sự khủng hoảng của ý thức nhân văn thời kì cuối thế kỉ XIX – đầu XX là một trong số những nguyên nhân xã hội của sự phát triển văn học dòng ý thức” [4, tr.151] Dòng ý thức xuất hiện đã đem đến cho các nhà văn một kĩ thuật mới,

“vũ khí nghệ thuật” độc đáo trong sáng tác văn chương, tạo thành một trào lưu, một khuynh hướng sáng tạo cho nền văn học ở thế kỉ XX

Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cho rằng dòng ý thức là “một xu

hướng sáng tạo văn học (chủ yếu là văn xuôi nghệ thuật) ở thế kỉ XX, tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, những xúc cảm, những liên tưởng ở con người” [4, tr.150]

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thái Hòa “Dòng ý thức được Freud và Jung nghiên cứu ở góc độ phân tâm học và được các nhà tiểu thuyết miêu tả như là bối cảnh hư cấu được diễn đạt một phần thành lời, làm thành một xu hướng tiểu thuyết hiện đại” [34, tr.62]

Nghiên cứu về văn học dòng ý thức, các nhà lí luận đều thống nhất cho rằng dòng ý thức là một kĩ thuật, một sự cách tân bút pháp văn xuôi tự sự và tạo nên những hiệu ứng thẩm mĩ đặc thù Văn học dòng ý thức phá vỡ kết cấu trần thuật truyền thống, chủ ý xây dựng kết cấu trên cơ sở không gian, thời gian tâm lí Quan tâm đến chốn ẩn mật của tâm hồn con người, chú ý đến dòng chảy ý thức, tính nhất quán và hoàn chỉnh của cốt truyện không được chú trọng, không chú ý bối cảnh, ngoại cảnh Nhân vật của tiểu thuyết viết theo dòng ý thức thường ít hành động mà chìm sâu vào những suy cảm

cá nhân, miên man trong những ý nghĩ của riêng mình

Khuynh hướng dòng ý thức lấy hoạt động tâm lí của nhân vật làm sợi dây liên kết xuyên suốt tác phẩm, không gian, thời gian tự nhiên bị đảo lộn; quá khứ, hiện tại, tương lai đồng hiện, giao nhau, hoặc đảo đối…Những điều này làm cho tính hoàn chỉnh của câu chuyện bị phá vỡ, chuỗi liên tục của tình tiết bị thủ tiêu, tâm lí nhân vật

Trang 19

không có tính logic, chỉnh thể trần thuật bị xáo trộn, nhảy cóc

Kĩ thuật dòng ý thức giúp nhà văn nắm bắt được sự chuyển động liên tục của ý nghĩ, diễn tả những biến động của dòng tâm tư đang diễn ra, miêu tả những trạng thái

mơ hồ “Do vậy, việc tái tạo dòng ý thức là điều bất khả, bởi lẽ, nó luôn thiếu sự thống nhất, không có liên kết rõ ràng, nhiều tính chất đứt đoạn, gá lắp, và được chọn lọc từ suy nghĩ trực tiếp đang tuôn chảy trong tâm tư con người Dõi theo những ý nghĩ đó, chúng ta như đang đi theo một con đường này đột ngột thấy hiện ra trước mắt lối rẽ sang con đường khác, trong khi bản thân ta đã mất quyền lựa chọn Những lối rẽ như thế cứ liên tục xuất hiện bởi dòng ý thức là sự chảy trôi không ngừng trong một dòng miên man bất tận, không định trước” [68, tr.89]

Khai mở kỹ thuật viết này là các nhà văn phương Tây với những tên tuổi nổi

tiếng như: James Joyce, William Faulkner, Marcel Proust Với cuốn Ulysses (1922)

của James Joyce, kỹ thuật dòng ý thức thực sự đạt hiệu quả và gây ấn tượng Tác phẩm được xem là “trung tâm và đỉnh cao của văn học dòng ý thức” [4, tr 121] Sau đó, tiểu thuyết thế kỷ XX đã chuyển hướng, bứt phá hẳn lối viết truyền thống theo bút pháp hiện thực kiểu thế kỷ 19 Tiểu thuyết của Proust, Richardson, Joyce về sau được mệnh

danh là các tiểu thuyết độc thoại, tiểu thuyết nội tâm, hay là tiểu thuyết dòng ý thức

James Joyce là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của thế kỉ XX Tên tuổi của ông gắn liền với công cuộc đổi mới của văn xuôi hiện đại phương Tây Milan Kundera, nhà lí luận, nhà văn nổi tiếng gốc Tiệp cho rằng, đỉnh cao của sự phát triển tiểu thuyết trong việc khai phá cuộc sống bên trong con người, là Proust và Joice

“Joyce phân tích một cái gì đó còn không thể nắm bắt được…” [40, tr.29] Với tư cách

là một trong những ngọn cờ đầu của chủ nghĩa hiện đại, James Joyce đã làm mới bộ mặt văn chương thời đại ông bằng kĩ thuật dòng ý thức Ảnh hưởng của ông không chỉ giới hạn trong thời gian và không gian mà ông sống Những tác phẩm của ông khiến người đọc buộc phải nhìn nhận thế giới xung quanh bằng một cặp mắt khác Với

Ulysses, “ông đã cố gắng tìm ra cho mình một phong cách và kỹ thuật viết để khiến

cho những chuyện vặt vãnh thường ngày mang tầm ý nghĩa sâu rộng hơn” [15, tr.18] Đánh giá sức lan tỏa của J Joyce, theo Lại Nguyên Ân, “Sáng tác của Joyce có ảnh hưởng rõ rệt đến văn học châu Âu và Hoa Kì, phần đông các nhà văn lớn đều trải qua thời kì say mê “dòng ý thức” Ảnh hưởng của Joyce in đậm trong sáng tác của Hemingway, Faulkner, G Green, M Duras, v.v và được tiếp tục ở những mức độ khác nhau trong sáng tác của trường phái Tiểu thuyết mới ở Pháp” [5, tr 122]

Nhắc đến những nhà văn góp phần vào việc cách tân, đổi mới quan niệm tiểu thuyết ở thế kỷ XX, không thể không nhắc đến Marcel Proust (1871-1922) - văn hào

Pháp, tác giả bộ tiểu thuyết nổi tiếng Đi tìm thời gian đã mất Bộ tiểu thuyết này đã

làm thay đổi hoàn toàn cách viết tiểu thuyết ở Pháp, chinh phục được lượng lớn độc giả khắp toàn cầu và mở ra một hướng đi mới cho tiểu thuyết hiện đại Tác phẩm đóng vai trò quan trọng đối với mỹ học tiểu thuyết Khi nhận xét về Marcel Proust, nhà văn

Trang 20

Pháp Anatole France cho rằng: “Đời quá ngắn mà Proust lại quá dài” Việc đọc tác phẩm của Proust đòi hỏi người đọc phải không ngừng nâng cao tầm đón nhận trước một lối viết cách tân, mới mẻ; một nghệ thuật tiểu thuyết biết vượt lên và tạo lập những hệ hình mới trên những phương diện như: nghệ thuật xử lý thời gian, kết cấu

tác phẩm, lối viết dòng ý thức

Cùng khuynh hướng, William Faulkner được xem thiên tài văn chương Hoa Kỳ

và nhân loại, người góp phần khai sinh chủ nghĩa hiện đại trong văn học và là người hoàn thiện kĩ thuật dòng ý thức Với di sản đồ sộ và có giá trị lớn, ông được trao giải

Nobel Văn học năm 1949 Trong số đó, không thể không kể đến Âm thanh và cuồng

nộ, một tác phẩm tiêu biểu cho văn phong cũng như thể nghiệm kĩ thuật dòng ý thức

của ông

Những tên tuổi của văn học thế kỷ XX như M.Poust, J.Joyce,William Faulkner

đã thực sự được làm nên từ tác phẩm với lối viết dòng ý thức, điều đó là minh chứng hiển nhiên cho sự có mặt của một dòng văn học lớn lan tỏa trong các nền văn học thế giới “Kĩ thuật dòng chảy ý thức đâu còn là của riêng Proust nữa mà nó đã trở thành tài sản chung của nhiều nhà văn trên thế giới và chúng ta không loại trừ có thể có nhiều con đường gián tiếp đưa nó đến Việt Nam” [18, tr.38] Vai trò của văn học dòng ý thức trong việc đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây đã được khẳng định Theo Phương Lựu, tiểu thuyết viết theo hướng dòng ý thức “đã dùng phương pháp nội quan

để đi sâu vào chỗ sâu kín của tâm linh, dùng thế giới chủ quan và trực giác hoặc những biểu hiện tượng trưng thay thế cho việc phản ánh thế giới khách quan, phá vỡ trình tự thời gian của tiểu thuyết truyền thống để đạt được những hiệu quả nghệ thuật đầy kịch tính” [43, tr.196]

1.1.3 Sơ lược về tiểu thuyết dòng ý thức trong văn học Việt Nam đương đại

Ở Việt Nam, từ thực tế nền văn học dân tộc, có thể nói, dòng ý thức (ở dạng độc thoại nội tâm) đã tồn tại và phát triển dưới dạng những yếu tố/ dấu hiệu hình thức đầu

tiên trong các truyện thơ trung đại có yếu tố tự sự như Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều), Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn), Truyện Kiều (Nguyễn Du), …Đến

giai đoạn 1930-1945, kĩ thuật dòng ý thức đã xuất hiện trong các sáng tác hiện thực của Nam Cao, các truyện ngắn lãng mạn giàu chất thơ của Thạch Lam, Thanh Tịnh,

Hồ Dzếnh, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn …Từ 1945 – 1975, văn học Việt Nam chuyển sang một giai đoạn khác với lối viết sử thi phù hợp với một nền văn học ra đời trong những năm tháng chiến tranh Với quan niệm con người công dân, đời sống cá nhân với cảm xúc riêng tư ít được quan tâm, kĩ thuật dòng ý thức không phổ biến Tuy vậy, dòng ý thức cũng để lại dấu ấn trong một số tác phẩm của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thi …; đặc biệt trong văn học miền Nam với các tác giả như Duyên Anh, Nhã Ca, Dương Nghiễm Mẫu, Nguyễn Thị Hoàng, Võ Hồng v.v

Từ sau 1975, đặc biệt sau 1986, trong sự đổi mới tư duy tiểu thuyết, với cái nhìn

đa dạng hơn về con người, thế giới nội cảm được quan tâm Nhiều tác phẩm của Ma

Trang 21

Văn Kháng, đặc biệt là truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đã thành công với kĩ thuật dòng ý thức để khám phá đời sống bên trong rối rắm, phức tạp của con người Tuy vậy, phải đến những thập niên cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, lối viết dòng ý thức mới phát triển mạnh mẽ, hình thành một khuynh hướng tiểu thuyết với những tác giả tiêu biểu như Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Châu Diên, Phan Việt, Lê

Minh Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Khắc Ngân Vi v.v Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Gió tự thời khuất mặt của Lê Minh Hà, Sông của Nguyễn Ngọc Tư, Phúc âm

cho một người, Đàn bà hư ảo của Nguyễn Khắc Ngân Vi là những tác phẩm tiêu biểu

cho kĩ thuật viết này

Hiển nhiên, “dòng ý thức” không phải là kĩ thuật sáng tác duy nhất của văn xuôi Việt Nam sau năm 1986 Sự ra đời khuynh hướng văn học này là sự tương tác hai chiều giữa những thành tựu của giao lưu văn hóa và sức sống của các yếu tố nội sinh Hoàn cảnh lịch sử xã hội đổi thay và những đòi hỏi tự thân của nền văn học khiến sự xuất hiện của khuynh hướng dòng ý thức trong văn xuôi đương đại có thể xem là một tất yếu Nhìn nhận sự phát triển của lối viết dòng ý thức, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Điệp nhận xét: “Ở Việt Nam, cũng từng có một số nhà văn miêu tả dòng

ý thức của nhân vật một cách tinh tế như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng Nhưng với những cây bút này, kĩ thuật dòng ý thức chỉ tồn tại như một thủ

pháp nghệ thuật có tính cục bộ Phải đến Nỗi buồn chiến tranh thì kĩ thuật dòng ý thức

mới được vận dụng một cách triệt để, trở thành nguyên tắc nghệ thuật chi phối cách tổ

chức kết cấu của tác phẩm” [59, tr.401] Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh được xem

là trường hợp tiêu biểu của tiểu thuyết “dòng ý thức”, là đóng góp nổi bật trong ý thức đổi mới cách viết, đưa tiểu thuyết hướng đến dòng chảy tâm tư nhằm thể hiện chiều

sâu tâm lí nhân vật “Khi tiếp xúc với Nỗi buồn chiến tranh ta như chạm vào, nhập

vào dòng ý thức của nhân vật “xem trộm những bí mật của anh ta” [68, tr.148] Bảo Ninh ý thức rất rõ về kĩ thuật dòng ý thức và thể hiện điều đó một cách khá minh bạch ngay trong “dòng ý thức”, dòng chảy tâm trạng, hữu thức và vô thức, hiện tại, quá khứ

và cả dự định tương lai đan xen, lẫn lộn của nhân vật chính tên Kiên Thậm chí, có những khi bị vô thức xâm chiếm, hay nói rõ hơn, những sự thật bị chôn vùi, che lấp bởi ý thức do nhiều áp lực, chúng đã bật dậy, đòi hỏi phải được lên tiếng, để trình bày cho mọi người thấy “nửa kia của sự thật” Bằng kĩ thuật dòng ý thức, Bảo Ninh tái hiện được toàn vẹn “hai nửa sự thật” của hiện thực chiến tranh, và đồng thời, qua “hội chứng sau chiến tranh” của nhân vật nhà văn Kiên, Bảo Ninh muốn truyền đi một thông điệp nhân văn khi đi sâu vào tâm trạng, số phận con người trong và sau chiến tranh

Với kĩ thuật “dòng ý thức”, các nhà văn tin rằng có thể làm cho những “khối quặng”, những “gờ chìm” trong tâm thức con người được khai quật, khôi phục Tiếp

tục dư ba đó, trong tiểu thuyết Gió tự thời khuất mặt, Lê Minh Hà đã truy vấn chính

con người trước thời cuộc qua nhân vật Ngân Với một cốt truyện nhẹ nhàng, giọng

Trang 22

văn điềm đạm, nhưng đủ để chúng ta nếm trải một cách thấm thía về thân phận con người, về muôn mặt của cuộc sống đời thường Từ thời điểm hiện tại, nhà văn đưa người đọc trở về với tuổi thơ của Ngân, tựa như ta đang đọc một cuốn hồi ký được ghi theo mạch hồi tưởng, không theo một trật tự nào Người đọc tự lắp ghép các mảnh

sự kiện qua những trang trải nghiệm của cô.Tất cả được thể hiện qua dòng ý thức chập chờn, đứt nối của nhân vật Ngân Dường như Lê Minh Hà đã đập vỡ những hình ảnh,

ý niệm, hệ thống và giá trị của trật tự cũ thành những mảnh và sau đó xếp chúng theo một trật tự mới - một trật tự chủ quan đầy tính sáng tạo và bất khả đoán Chính điều đó

đã giúp cho chị làm mới hiện thực về nhân vật

Nguyễn Khắc Ngân Vi với hai cuốn tiểu thuyết Đàn bà hư ảo và Phúc âm cho

một người cũng đã kế thừa xuất sắc kĩ thuật dòng ý thức Cả hai cuốn tiểu thuyết đều

khám phá thế giới tầng trong của những người phụ nữ trong xã hội đương đại, thuộc thế hệ khác nhau, sống trong môi trường khác nhau, đối mặt với những vấn đề khác

nhau của bản thân Đàn bà hư ảo được viết từ góc nhìn của một phụ nữ nhiều trải

nghiệm Câu chuyện được tái hiện qua dòng ý thức của An về cuộc sống và những người xung quanh cô An lớn lên trong một gia đình không hạnh phúc, ký ức tuổi thơ của cô là những trận đòn roi bạo lực, những cơn say triền miên của cha và giọt nước

mắt cam chịu của mẹ Trong Đàn bà hư ảo, ngòi bút dịu dàng, điềm tĩnh nhưng không

kém phần quyết liệt của Nguyễn Khắc Ngân Vi cuốn bạn đọc vào dòng chảy nội tâm cuộn trào từ sâu bên trong Ở đó, tác giả không ngại bóc trần, phơi bày bản ngã những đứa con tinh thần của mình Cái tôi của họ bị trói buộc trong nỗi cô đơn tột độ, trong những điệp khúc đơn điệu, lặp đi lặp lại của cuộc sống Tác phẩm đặt ra nhiều trăn trở:

“Sống làm gì?”, “Sống thế nào cho ra sống?”, “Có phải con người sinh ra vốn cô đơn rồi chết đi vẫn một mình?”, “Rốt cuộc thế nào mới là hạnh phúc chân chính?” Có thể

nói một yếu tố hấp dẫn của Đàn bà hư ảo là lối kể chuyện theo dòng ý thức của

Nguyễn Khắc Ngân Vi Tác giả hạn chế tối đa hội thoại mà để nhân vật tự bộc bạch, khiến người đọc dễ dàng hòa vào mạch truyện, đồng cảm với các nhân vật

Đặc biệt, từ truyện ngắn chuyển sang viết tiểu thuyết, Nguyễn Ngọc Tư đã thể nghiệm thành công kĩ thuật dòng ý thức, góp phần đa dạng hóa diện mạo tiểu thuyết Việt Nam đương đại Nguyễn Ngọc Tư tâm sự về việc thử sức với thể loại tiểu thuyết:

“Tôi đã định viết ngắn đến khi nào không còn viết được nữa Song lại nghĩ người viết văn xuôi không thử sức với tiểu thuyết sẽ rất uổng phí Cuốn sách này là quá trình đi tìm những khả năng còn ẩn dấu trong con người mình mà truyện ngắn chưa khai thác

hết” Sông còn là một khúc rẽ, khúc ngoặt mở ra cho người đọc thấy bao tâm trạng

ngổn ngang, rối bời Nhà văn gợi mở: “Sông chỉ là bối cảnh, một dòng chảy nửa thực, nửa mang tính tượng trưng Đây là cái cớ để những nhân vật của tôi bước vào cuộc phiêu lưu của họ, kể chuyện đời họ và những người sống ở hai bên bờ Vì vậy, nếu bạn đọc nghĩ sẽ đọc được một cuốn sách đi sâu vào đời sống sông nước thì có thể họ sẽ thất vọng” [65]

Trang 23

1.2 Kĩ thuật dòng ý thức- hướng chuyển đổi trong tiểu thuyết Nguyễn Ngọc

Theo Bakhtin, tiểu thuyết là thể loại luôn luôn thay đổi, biến hóa, “không hoàn kết”, bởi vì nó ”tiếp xúc tối đa với cái đương đại chưa hoàn thành” Nghĩa là bản thể của tiểu thuyết luôn đa dạng và không ngừng cách tân, có sức chứa và sức chở lớn, phát triển và biến đổi Để đáp ứng nhu cầu trong thời đại mới, tiểu thuyết cũng đã có những đổi mới từ bên trong, góp phần thể hiện diện mạo tiểu thuyết đương đại

Theo Kundera: “Tất cả tiểu thuyết, ở mỗi thời đại, đều liên quan đến cái ẩn mật của bản ngã Bản ngã là gì? Làm sao thấu triệt được cái bản ngã đó? Đây là một trong những câu hỏi cơ bản của tiểu thuyết Qua nhiều cách trả lời, nếu bạn muốn, bạn có thể phân định thành nhiều khuynh hướng khác nhau, và có lẽ nhiều thời kì khác nhau trong lịch sử tiểu thuyết” Tiểu thuyết tâm lí ra đời khi văn học bắt đầu quan tâm đến bản ngã Tiểu thuyết dòng ý thức đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp của con người Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 mở rộng đào sâu khả năng tiếp cận hiện thực đa chiều; vừa “hướng ngoại” vừa “hướng nội” và chú ý hướng nội hơn- hướng vào thế giới nội tâm của con người, chăm chú vào cái tôi đa trị, “chăm chú vào cái tôi bí ẩn của con người” Trên chiều hướng đó, tiểu thuyết Việt Nam đã có những chuyển đổi

về tư duy nghệ thuật, cái nhìn về con người, chuyển đổi trong lối viết để hình thành một “hiện thực mới”- hiện thực tâm hồn đầy phong phú và phức tạp Tiểu thuyết dòng

ý thức xuất hiện phổ biến hơn trước với sự góp mặt của nhiều tác giả, trong đó có

Nguyễn Ngọc Tư Tiểu thuyết Sông là một bước chuyển mới của nhà văn

1.2.1 Chuyển đổi trong tư duy tiểu thuyết

Trong công cuộc đổi mới, đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết là sự đổi mới có

ý nghĩa quyết định, là sự đổi mới từ gốc rễ Bởi vì “tư tưởng, quan niệm của tác giả được xây dựng dựa trên cơ sở tư duy nghệ thuật, việc lựa chọn các phương tiện biểu hiện cũng dựa trên cơ sở tư duy nghệ thuật” [32, tr.1889]

Trên cơ sở tiếp thu các lí thuyết văn học hiện đại trên thế giới, tiểu thuyết Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể, trước hết là ở tư duy tiểu thuyết

Ta có thể nhận thấy, tiểu thuyết đương đại Việt Nam đã mở rộng cách cửa đón nhận và ứng dụng rộng rãi thuyết Phân tâm học của Freud về vô thức sáng tạo Theo Freud, “sáng tạo nghệ thuật như là sự thăng hoa của cái vô thức bị dồn nén” Ông cho rằng “cái viết được hình thành từ những ẩn ức và ham muốn sâu xa trong các xung năng vô thức của nhà văn”; “sáng tạo nghệ thuật chính là sự thoả mãn những ham muốn vô thức, những ẩn ức không được giải toả” (Freud) Ông quan niệm, tác phẩm văn học là sự thực hiện tưởng tượng những khát vọng vô thức giống hệt như giấc mơ

Và khi đồng nhất sáng tạo văn học với giấc mơ tỉnh thức, Freud cho rằng ở mỗi sự kiện thời sự và nóng hổi của tác phẩm văn học, người sáng tạo đều gửi gắm vào đấy những kỉ niệm về một sự kiện xa xưa, thường là sự kiện ấu thời Từ đó người đọc tác phẩm văn học cũng có cơ hội gợi nhớ đến những kỉ niệm khuất lấp của mình Từ quan

Trang 24

niệm đó, yếu tố vô thức trở thành một phương diện nội dung quan trọng trong sự khám phá những gì thầm kín nhất của bản thể người Nó cũng thực sự trở thành nguồn cảm hứng với những nỗ lực đổi mới của nhà văn

Tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Đoàn Minh Phượng v.v đều sử dụng yếu tố vô thức để phản ánh “cái tôi bề sâu” của con người Có thể nói Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiên phong mạnh dạn khai thác yếu tố vô thức để tạo nên những trang viết đặc sắc, thú vị Tiểu thuyết Hồ Anh Thái cũng đề cập đến những dục vọng vô thức trong đời sống con người Việc viết từ vô thức sáng tạo và lựa chọn đưa vô thức vào sáng tác cũng đã tạo động lực thúc đẩy nhà văn đương đại tìm đến sự đổi mới bút pháp Việc thâm nhập vào cõi vô thức đã mở ra con đường để nhà văn len lỏi ngòi bút của mình vào hang ổ đời sống bên trong của nhân vật, tìm thấy ở đó những trạng thái, những diễn biến tâm

lí tinh vi, phức tạp Vì thế hình tượng con người hiện lên đa chiều, có cả phần “trong suốt” lẫn phần “đục mờ”

Nhìn nhận vai trò của vô thức trong quá trình sáng tạo, trong một lần trả lời phỏng vấn trên báo Tuổi trẻ, Nguyễn Ngọc Tư tâm sự : “…Còn sáng tác thì cứ lúc nào thấy xúc động, đủ cảm xúc, có suy nghĩ về cái mình đã trải qua, có nhu cầu phải

viết, nếu không viết chắc… tự tử thì Tư viết thôi” Nghĩa là với Nguyễn Ngọc Tư, nhà

văn phải là những kẻ mang ẩn ức sáng tạo mãnh liệt, dự phóng nghệ thuật đầy tâm huyết Họ là một số ít người biết vượt lên và sử dụng chính đời sống đầy nội tâm, ẩn

ức và ám thị đó nhằm sáng tạo nên những tác phẩm Viết đối với họ là một sự giải tỏa những ẩn ức, là sự giải phóng khát vọng được cất tiếng nói riêng, bộc lộ quan điểm về cuộc đời và con người

Trong một tâm sự khác về nghề viết, Nguyễn Ngọc Tư bày tỏ “vài lần tôi thấy mình ngồi viết gì đó, trong mơ” Freud cũng từng quan niệm: “Tác phẩm văn học trước hết là một giấc mơ Nó phản ánh những ham muốn vô thức, những mặc cảm” [66, tr.10] Ông còn cho rằng: “Nghệ sĩ giống như người bị bệnh nhiễu tâm, rút lui khỏi thực tế không thỏa mãn để đi vào thế giới tưởng tượng, song trái lại vẫn phải đặt chân vào thực tế Những sáng tạo, những tác phẩm nghệ thuật của ông là những thỏa mãn tưởng tượng cái ham muốn vô thức, giống như mộng; cũng giống như mộng, chúng có chung tính cách là một thỏa hiệp, bởi chúng cũng phải tránh xung đột không che đậy với sức mạnh dồn nén Song trái ngược với những sản phẩm của thói tự si mê, phi xã hội của mộng, chúng ta có thể tin cậy vào thiện cảm của những người khác, bởi chúng có thể làm thức dậy và thỏa mãn những ao ước ham muốn vô thức giống như thể ở họ” [66, tr.25]

Viết để giải tỏa những ẩn ức, Nguyễn Ngọc Tư chia sẻ, sau những trang viết,

“tôi giải tỏa được sự cô đơn, giải tỏa được những nỗi buồn mà đôi khi không biết chia sẻ cùng ai Những gì tôi nghĩ, những gì tôi mong muốn đều được giãi bày qua từng trang viết” Vậy nếu không có những ẩn ức sáng tạo mãnh liệt thì Nguyễn Ngọc

Trang 25

Tư không thể tạo nên những trang văn đầy ám gợi như thế Nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên nhận xét về Nguyễn Ngọc Tư “Với tư cách người viết, Nguyễn Ngọc Tư là

số ít cây bút đem lại cho tôi ý nghĩ rằng viết văn là một lao động kiên trì, một sự hành trì đầy kiên định Khi đã tạo ra thành tựu trong văn nghiệp, người ta rất dễ ở lại trong vùng an toàn Nơi đó, một phần tha lực từ sự ái mộ, định kiến và những nhu cầu “hương đồng gió nội” bất tận của người đọc dễ nhấn chìm nhà văn trong những trang viết cũ kỹ, triệt tiêu mọi năng lượng sáng tạo Nhưng bằng một cách nào đó, đơn độc và lầm lì, Nguyễn Ngọc Tư đã thoát ra khỏi những xưng tụng lẫn phê phán Chị chọn một “thế viết” trọn vẹn, độc lập; viết từ những thôi thúc nội tại đầy âm thầm, mạnh mẽ và bền bỉ” [49] Và thiết nghĩ “thế viết” từ những thôi thúc nội tại đầy âm thầm ấy có lẽ là viết từ vô thức sáng tạo

Viết tiểu thuyết Sông, nhà văn tâm sự: “Với Sông, đơn giản tôi chỉ tìm kiếm một

khả năng làm việc ẩn giấu ở trong bản thân mình, và muốn xài cho hết khả năng đó" Hay “Khi viết cuốn sách, tôi hình dung ra một thằng bé mất trái bóng Nó đi tìm rất cực khổ Sau đó, phát hiện ra cái mà nó đi tìm không phải trái bóng mà là điều gì đó

rất mông lung Đây là cuộc đi tìm của nhân vật” Sông là hành trình tìm kiếm bản ngã

của cái tôi cô đơn, hoài nghi, dị biệt (lệch pha); là dòng chảy của ý thức trong quá trình khám phá chốn “bí ẩn của cái tôi”

1.2.2 Chuyển đổi cái nhìn về con người

Ở thời đại văn học nào thì “quan niệm về con người cũng chính là cơ sở chi phối nguyên tắc chiếm lĩnh, cắt nghĩa đời sống của nhà văn, là nơi đánh dấu trình độ tư duy nghệ thuật của một thời đại, một trào lưu, một tác giả” [1, tr 95]

Trong văn học thời kì trước năm 1975, sự kiện lịch sử có phần lấn át con người Tác giả Bùi Việt Thắng cho rằng: “Nếu trước năm 1975 hình thức vĩ mô của cấu trúc tiểu thuyết nói tầm rộng của lịch sử- sự kiện đã tạo nên tính chất hoành tráng-sử thi của tác phẩm, ngược lại sau 1975 hình thức vi mô lại chú ý hướng tới cái thế giới bên trong phong phú và phức tạp trong tâm hồn con người.” [63, tr.137] Như vậy, điểm nhìn nghệ thuật của nhà văn đã chuyển từ tầm “vĩ mô” sang tầm “vi mô”, từ điểm nhìn

lí tưởng hóa đến điểm nhìn thế sự đời tư, từ điểm nhìn bên ngoài di chuyển vào điểm nhìn bên trong

Từ sự thay đổi điểm nhìn, tiểu thuyết đương đại có cái nhìn đa dạng về con người- từ con người trong suốt đến những cái tôi đục mờ Hiện thực tâm hồn trong quan niệm về con người đa dạng; nó không chỉ là thế giới nội tâm mà còn là hiện thực tâm linh, vô thức và ảo giác “Nhân vật đang tự làm một cuộc tìm kiếm chính mình, tự soi tỏ và tự khám phá cái bản ngã, tâm linh của mình Con người đang dần hiện lên trên hành trình đi tìm thời gian đã mất” [63 ,tr.14]

Nếu tiểu thuyết trước năm 1986 chủ yếu hướng về thế giới bên ngoài, thế giới

sự kiện, hành động, nó chiếm lĩnh hiện thực ở chiều rộng và phô diễn hiện thực đó theo yêu cầu, nhiệm vụ của thời đại thì tiểu thuyết từ 1986 trở về sau là một thế giới

Trang 26

sáng tạo mới mẻ Tiểu thuyết sáng tạo ra thế giới hiện thực thứ hai- hiện thực tâm hồn, quan tâm đến số phận cá nhân và khám phá chiều sâu thế giới nội cảm phức tạp của con người Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: “Văn học chăm chú quan tâm hơn đến con người với tư cách là một thế giới cá nhân phong phú, phức tạp, đa dạng, đa chiều,

đa tầng trong nhiều mối quan hệ cũng hết sức phức tạp và đa dạng với toàn xã hội và với chính mình”[52] Hay Nguyễn Minh Châu luôn ủng hộ hướng tìm tòi như thế của tiểu thuyết; ông nói “Chúng ta tiếp thu các hình thức tiểu thuyết chính là để trở về xem xét con người Việt Nam một cách sáng tỏ và để đào xới vào nó sâu hơn” [16] Quan tâm đến bản ngã, tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư chú ý đến “hiện thực

tâm hồn” Khởi đầu với tiểu thuyết Sông (sau đó là tiểu thuyết Biên sử nước -2020)

Nguyễn Ngọc Tư đã chứng tỏ bản lĩnh, khả năng thâm nhập, tái hiện lại lớp trầm tích trong tâm hồn nhân vật Hiện thực tâm hồn trong quan niệm của tiểu thuyết hết sức đa dạng Nó không chỉ là thế giới nội tâm mà còn là hiện thực tâm linh, vô thức và ảo giác Một trong những yếu tố mới mẻ của tiểu thuyết đương đại là đưa vô thức trở thành đối tượng khám phá cái hiện thực tâm hồn bí ẩn ấy và là phương tiện kiến tạo tác phẩm một cách tự giác trong nhiều tác phẩm Những nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tư như dòng sông: “Nước trong mọi con sông như nhau và ở đâu cũng thế cả nhưng mỗi con sông khi hẹp, khi chảy xiết, khi thì rộng, khi thì êm, khi thì trong veo, khi thì đục, khi thì ấm Con người cũng vậy Mỗi con người mang trong mình những mầm mống của mọi tính chất con người và khi thì thể hiện tính chất này, khi thể hiện tính chất khác thường là hoàn toàn không giống bản thân mình tuy vẫn cứ là mình” [14, tr.74]

Sự chuyển đổi cách nhìn về con người còn thể hiện ở việc chú ý khắc họa con người đa phức- hữu thức lẫn vô thức, đặc biệt khắc họa con người như một bản thể tự nhiên Con người được khám phá trên nhiều bình diện: hạnh phúc- bất hạnh, hi vọng- thất vọng, yêu thương - hận thù… Họ có đầy đủ những đặc tính hỉ, nộ, ái, ố Vì thế, mỗi người có thể tìm thấy bóng dáng cuộc đời mình trong đó với đủ đầy nỗi khổ nhọc lẫn ấm áp niềm vui

Trước đây, tiểu thuyết đề cao phần ý thức xã hội mà quên đi phần tự nhiên Tiểu thuyết hôm nay “vì con người, vì tất cả những gì con người trải nghiệm và mong muốn” [63, tr.8] Nhân cách con người không chỉ là kết quả của lí trí mà còn có vô thức dự phần Theo như Nguyễn Đức Toàn, đôi khi “con người vô thức bị bản năng

chi phối hoàn toàn, lý trí bị đẩy vào điểm mù” [68, tr.39] Bảo Ninh với Nỗi buồn

chiến tranh, Chu Lai với Ăn mày dĩ vãng, Nguyễn Bình Phương với Người đi vắng

luôn kiếm tìm con người vô thức, bản năng Nguyễn Xuân Khánh với Mẫu thượng

ngàn, Tạ Duy Anh với Thiên thần sám hối, Hồ Anh Thái với Cõi người rung chuông tận thế, Châu Diên với Người sông Mê, lại kiếm tìm con người trong thế giới tâm linh,

huyền ảo, cõi mộng, cõi mê Còn Nguyễn Ngọc Tư với tiểu thuyết lại kiếm tìm kiểu

“con người bên trong con người”

Trang 27

Như vậy, ngoài tính chất phức tạp còn là sự bí ẩn Tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tư đem lại cảm giác con người là một tiểu vũ trụ đầy bí ẩn, không thể biết trước, không thể dò xét đến cùng Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là “tổng hòa của các mối quan hệ xã hội” Ngoài ý thức, lí trí điều kiển hành động, con người nhiều khi

bị chi phối bởi tiếng nói tâm linh, vô thức, bản năng Vì thế khó có thể “định tính” hay

“định lượng” bản chất người

Milan Kundera quan niệm nhà tiểu thuyết không phải là người tổng kết những gì

đã trải qua cũng không phải là người biết tất mọi thứ “Nhà tiểu thuyết không phải là nhà sử học cũng chẳng phải là nhà tiên tri: anh ta là người thám hiểm cuộc sống.”[40, tr.51] Tiểu thuyết phải đem đến cho người đọc những bí ẩn về cuộc sống của con người, nhất là cái “giải tầng mờ” bên trong Con người luôn cần đến văn chương vì nó

là một thế giới vô cùng vô tận, khó có thể hiểu hết; nó có khả năng phát hiện và khám phá những cái khuất lấp, ẩn chìm; nó có sức mạnh kì lạ chi phối và dẫn dắt số phận riêng của mỗi cá nhân, không ai giống ai

Với quan niệm về tính phức tạp, bí ẩn của con người, ở Sông, Nguyễn Ngọc Tư

đã khám phá những con người khác nhau bên trong một con người, xích gần “con người tiểu thuyết” với “con người đời thực”

1.2.3 Chuyển đổi trong lối viết

Theo M Bakhtin, “tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển

và còn chưa định hình Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó” [6, tr.21] Như vậy,

có thể nói, tiểu thuyết là thể loại luôn biến chuyển trong mọi giai đoạn văn học Tiểu thuyết sau năm 1975 có nhiều thay đổi so với giai đoạn trước đó Sự thay đổi này tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về nội dung và lối viết, phá vỡ những đường biên truyền thống của thể loại, thể hiện sự nỗ lực cách tân của tiểu thuyết đương đại

Sự thay đổi có tính đột phá và bước ngoặt của tiểu thuyết đương đại là sự thay đổi triệt để ở lối viết Với tinh thần hội nhập mạnh mẽ và một khi văn học hậu hiện đại thế giới đạt được những thành tựu phong phú thì việc tiếp nhận khuynh hướng hậu hiện đại trong văn chương Việt Nam là điều tất yếu Sự tiếp nhận này vừa mang tính quy luật trong giao lưu văn hóa, vừa mở ra một cánh cửa mới cho sự phát triển của văn học nước ta Việc tiếp nhận ảnh hưởng chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam đương đại diễn ra theo nhiều khuynh hướng Theo nhà nghiên cứu Phùng Gia Thế, dấu hiệu nổi bật của các khuynh hướng đó là “sự in đậm của “cảm quan hậu hiện đại” trong sáng tác của nhiều nghệ sĩ, và sự xuất hiện ở tần số cao hàng loạt các thủ pháp kĩ thuật, các nguyên tắc cấu trúc văn bản, tổ chức trần thuật, cách cấu trúc hình tượng tiêu biểu của văn chương hậu hiện đại” [38]

Sự mở rộng biên độ khám phá hiện thực đã góp phần làm biến đổi kĩ thuật tự sự, trong đó lối viết phi tâm, huyền ảo đã trở thành một con đường nghệ thuật đầy hiệu

quả Các nhà nghiên cứu hậu hiện đại quan niệm thế giới là một khối hỗn độn Các sự

Trang 28

vật, hiện tượng đan bện, gắn kết vào nhau, chúng tồn tại không theo một trật tự nào mà mang tính ngẫu nhiên Do vậy, không có gì là trung tâm hoặc có xu hướng trở thành trung tâm trong thế giới ấy Và đặc tính phi trung tâm ngay lập tức có mặt, thế chân cho tính trung tâm vốn tồn tại trong quan niệm trước kia Đi vào địa hạt văn học, lối viết phi trung tâm có thể hiểu là, “tạo ra nhiều trung tâm cùng tồn tại song hành trong tác phẩm, không chỉ phi trung tâm về nhân vật mà còn về nhiều các phương diện khác như cốt truyện, giọng điệu, điểm nhìn, tác giả, bạn đọc…” [9, tr.154] Sông là cuốn

tiểu thuyết thể hiện rõ lối viết này

Bên cạnh lối viết phi tâm, Nguyễn Ngọc Tư còn làm mới mình bằng lối viết huyền ảo Theo nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc: “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là khuynh hướng văn học sử dụng các yếu tố siêu nhiên, huyền ảo, hoang đường… làm cho hiện thực khác lạ, hấp dẫn người đọc, song đằng sau vẻ li kì đó, tác phẩm vẫn đảm bảo một thực trạng cơ bản của thời đại; trong thế giới thẩm mỹ của văn học hiện thực huyền ảo thì những điều không thực được đối xử như điều có thực và bình thường, ngược lại những điều bình thường thì được phản ánh theo kiểu không thực” [8, tr.32-33] Đây là một lối viết thiên về gợi mở hơn là áp đặt một lối tiếp nhận Do vậy người đọc có thể

có nhiều cách cắt nghĩa tác phẩm, hình tượng khác nhau Thậm chí, đôi lúc cách cắt nghĩa có thể trái ngược nhau Nền tảng triết học của “huyền ảo” được đặt trên quan niệm thế giới được tri nhận của con người không đơn thuần là những tri thức lý tính

mà còn là tri thức của linh cảm, tiên cảm, trực cảm… Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (magical realism) là một trào lưu văn học lấy cái huyền ảo làm trung tâm thẩm mỹ, nhấn mạnh vào sự tồn tại của cái ảo, của hiện thực không nhìn thấy được Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đã thấy có sự ảnh hưởng khá rõ nét lối viết phi tâm, huyền ảo ở một số nhà văn Đó là các nhà văn Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Đặng Thân, trong đó có Nguyễn Ngọc

Trong tiểu thuyết Sông, Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng yếu tố huyền ảo trong phản

ánh hiện thực một mặt để gia tăng sức hấp dẫn của câu chuyện Mặt khác sự tham gia của yếu tố huyền ảo đã góp phần mở ra khả năng khám phá thế giới đầy bí ẩn, giúp người đọc nhận thức “Không phải mọi cảm xúc nhân tính đều gồm phương diện nhận thức duy lí hay lí tính nói chung” [79] Trong truyện, chị đã đề cập đến khả năng bí ẩn của con người, sự thông linh giữa người sống với người chết, giữa cõi âm với cõi dương Con người có thể nghe được âm thanh của tiếng ốc Bụt Đồng Nàng “Cô gái vừa báo tin cho cả xóm biết có ốc Bụt lân la ở đáy sông Cô nghe được tiếng hát chúng bằng một khả năng kì bí nào đó được trời ban tặng lại sau khi lấy đi ánh sáng, năm cô chín tuổi Cả Đồng Nàng chỉ mình cô thăm được ốc Bụt bằng dây câu buộc cây mần gai” [75, tr.103-104] Một tượng Son với bờ môi đầy quyến rũ, ma mị “bức tượng vẫn sống động với gương mặt sống động, bờ môi ma mị… đi quanh bức tượng thấy chờn vờn, không biết vì sương hay tóc của đá xõa bay” [75, tr.147] Hay khung cảnh chợ

Trang 29

Chằm huyền bí, có sự lẫn lộn giữa cõi dương và cõi âm “Hồi xưa mua bán ở đó người

ta còn thả tiền vào chậu nước, tiền chìm là tiền thật, ấy, là xưa dân mình dùng tiền xu Nếu không thì mang về nhà thấy chỉ là nắm lá, nắm cỏ Chẳng nhận biết được ai là người âm người dương” [75, tr.119] Thậm chí người cõi dương gian còn khả năng nghe và nói chuyện cùng với người cõi âm Đó là cuộc trò chuyện giữa Ân và ông Nội, giữa Bí Đỏ và người anh trai … Sử dụng yếu tố huyền ảo trong sáng tác, Nguyễn Ngọc Tư thể hiện một quan niệm rất mở về hiện thực- hiện thực không chỉ là những thứ tồn tại xung quanh ta, trong ta mà cả những cái chúng ta có thể tri nhận và linh cảm thấy

Tiểu thuyết đương đại đã phá vỡ cấu trúc tự sự bằng cách ghép mảnh phi logic như dòng chảy của tâm tư, suy nghĩ, cảm xúc Bảo Ninh thật sự đã gây ấn tượng mạnh

mẽ về kĩ thuật dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh Đến với những trang văn của

Bảo Ninh, chính là đến với những thác nguồn tâm tư bấn loạn, rối bời của nhân vật Kiên Không thể nắm bắt cốt truyện nếu người đọc không tự mình thống kê các sự

kiện và tự liên kết chúng lại trên cái nền đứt gãy tâm trạng của nhân vật Trong Trí nhớ

suy tàn, nhân vật của Nguyễn Bình Phương cũng miên man trong hồi ức bất tận Cô

gái, nhân vật chính của tiểu thuyết, đang sống trong một mớ bòng bong, ngổn ngang giữa quá khứ với hiện tại Trong thẻ nhớ của cô, những mảnh kí ức luôn không có mở đầu và dường như chưa kết thúc Dường như cô linh cảm trí nhớ của mình đang suy tàn ghê gớm, “đang kéo đi, đang gục xuống, tan ra”

Vậy việc các nhà văn chọn cách phá vỡ cấu trúc tự sự bằng cách ghép mảnh phi logic với chất liệu kí ức xáo trộn theo kiểu dòng ý thức như thế là để tìm ra con người ẩn náu bên trong; phơi trần được cảm xúc, tâm trạng một cách tự nhiên, xé toang trật tự niên biểu Có thể nói việc tổ chức những mảnh tâm trạng của nhân vật trong sự đan xen miệt mài của hồi ức đưa độc giả hòa cùng đời sống những dòng tâm

tư bề bộn, trúc trắc, cách quãng là một thành công không nhỏ của Nguyễn Ngọc Tư Tính chất toàn tri của nhà văn đã mất hẳn, thay vào đó đời sống cá thể của tâm hồn nhân vật đã được khúc xạ một cách tự nhiên vào thế giới bên trong nó ở những góc hẹp, góc khuất lấp và mờ tối của nhân vật đã tạo nên tính cá nhân hóa, tâm linh hóa tưởng chừng khó nắm bắt nhất của con người

Sáng tạo văn học bao giờ cũng được quy định bởi sự thúc bách của nhu cầu tinh thần thời đại Với sự nhạy cảm của người nghệ sĩ, các nhà tiểu thuyết đương đại, trong đó có Nguyễn Ngọc Tư đã lên tiếng thể hiện thể hiện nguyện vọng chính đáng của con người trong hoàn cảnh mới bằng việc thay đổi tư duy nghệ thuật, tư duy lối

viết Nhận xét về Sông, Trần Ngọc Sinh của NXB Trẻ, người biên tập bản thảo cho

biết: “Sông là một sự đổi mới toàn diện của Nguyễn Ngọc Tư” Sông là sự “đổi vị”,

“đổi món” của Nguyễn Ngọc Tư Chính chị từng nói: “Cây tới mùa nó thay lá, quả tới mùa nó chín Mọi người dường như muốn một thứ quả cứ xanh mãi Điều đó hơi trái với tự nhiên, như thể một dòng sông không chảy được vậy đó Nhà văn đã đi rất

Trang 30

là xa, mà bạn đọc cứ ngồi mãi một chỗ cũ, cứ mong chờ như mình vẫn còn ở đó, trong khi một nhà văn thì luôn phải đi tới, bỏ những hào quang lại sau lưng” Hướng

chuyển đổi của Nguyễn Ngọc Tư trong tiểu thuyết Sông là sự đóng góp lớn vào sự

chuyển động mạnh mẽ của thể loại tiểu thuyết nói riêng và của văn học đương đại nói chung

Tiểu kết chương 1

Có thể nói, xuất phát từ tính chất “không đông cứng” của thể loại, tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI có sự chuyển đổi trong tư duy, linh hoạt trong lối viết Sự xâm nhập của yếu tố hiện đại và hậu hiện đại phương Tây vào văn học Việt Nam đã

mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam vận động theo hướng toàn cầu hóa, thể hiện sự cách tân triệt để trong xu thế hội nhập với văn học toàn cầu Sự vận động này thể hiện rõ ở việc xuất hiện khuynh hướng dòng ý thức trong bức tranh đa khuynh hướng của tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI

Sự hình thành khuynh hướng tiểu thuyết dòng ý thức những năm đầu thế kỉ XXI là điều tất yếu bởi trước đó đã có hàng loạt các tác giả ít nhiều chạm đến kĩ thuật tự sự này Tuy vậy đến những năm đầu thế kỉ XXI, tiểu thuyết dòng ý thức đã mang những sắc màu mới, vừa mang cảm quan hậu hiện đại vừa là biểu hiện của cảm quan hậu hiện đại Tiểu thuyết theo khuynh hướng dòng ý thức ngoài việc tái hiện đời sống đang thay đổi với các mối quan hệ chằng chịt đã bắt đầu chạm tới vấn đề con người như một bản thế riêng biệt Trọng tâm của tiểu thuyết đã dịch chuyển dần

từ thời quá khứ sang thời hiện tại, từ thế giới đời sống bên ngoài đến thế giới bên trong của mỗi người như một hữu thể hiện tồn Có thể nói tiểu thuyết dòng ý thức đã phát triển một bước mới trong việc “chăm chú vào cái tôi bí ẩn”

Và với tư cách là một thủ pháp kĩ thuật đã được phát triển thành một khuynh hướng sáng tác, tiểu thuyết dòng ý thức ở nước ta sau thời kì Đổi mới đã tạo nên những hiệu ứng nghệ thuật nhất định Nó góp phần mở ra một chân trời rộng mở với nhiều hứa hẹn phía trước cho cả giới sáng tác và người tiếp nhận trong hành trình khám phá giá trị của tiểu thuyết và khẳng định tài năng ở mỗi nhà văn

Hòa vào xu hướng “lạ hóa” và để không bị lặp lại chính mình, Nguyễn Ngọc Tư

đã nỗ lực vượt qua lối viết cũ, khẳng định mình bằng những cách tân trong kĩ thuật

dòng ý thức Có thể nói Sông làlà sự vượt thoát khỏi những thể loại, lối viết quen thuộc để làm mới mình của Nguyễn Ngọc Tư

Trang 31

Chương 2 HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI

TRONG TIỂU THUYẾT SÔNG CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ

NHÌN TỪ KĨ THUẬT DÒNG Ý THỨC

2.1 Dòng ý thức- tấm gương phản ánh hiện thực đa chiều

Trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi: “Phải phá vỡ những gì vốn có của riêng chị để truy vấn chính mình, để tìm kiếm một hiện thực sâu hơn, chân thực hơn trong đời sống con người?”, Nguyễn Ngọc Tư đã trả lời thật chân thành: “Quả đến ngày đến tháng thì đổi vị, chứ sao có thể xanh mãi, chua mãi trên cành…”[56] Tiểu

thuyết Sông viết về cuộc hành trình khám phá sông Di, nhưng thực tế là một cuộc hành

trình khám phá từng mảng cuộc sống con người trong xã hội hiện đại Tác phẩm thể hiện quan niệm hiện thực mới Đó là hiện thực không toàn vẹn, một hiện thực rời rạc,

đổ vỡ hiện ra qua dòng tâm trạng ngổn ngang, rối bời của nhân vật Cuộc sống đa chiều với những vấn đề nhức nhối được nhà văn phản ánh sinh động Tuy vậy, nổi bật trong tác phẩm là hai vấn đề nhức nhối trong đời sống con người đương đại; đó là nguy cơ hủy diệt sinh thái trong quá trình đô thị hóa và hiện thực tâm trạng của đời sống tính dục lệch pha

2.1.1 Đời sống đô thị và nguy cơ sinh thái

Hiện nay, loài người đang phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề cấp bách như chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh,… trong đó còn có nguy cơ sinh thái Đây là một thực trạng nhức nhối và được thể hiện đậm nhạt qua từng giai đoạn văn học Những năm gần đây, trên văn đàn Việt Nam đã xuất hiện nhiều tác phẩm phát đi thông điệp về nguy cơ tồn vong của sinh loài và môi trường sống đang dần bị hủy hoại dưới bàn tay vô tình của chính con người Đỗ Phấn tập trung viết về đời sống của tầng lớp thị dân Hà Nội với

những suy tư trăn trở về đạo đức sinh thái (Rừng người, Ruồi là ruồi, Con mắt rỗng)

Hồ Anh Thái cảnh báo về tình trạng phi nhân dẫn đến tận diệt (Cõi người rung chuông

tận thế, Dấu về gió xóa)

“Văn học sinh thái truy tìm nguồn gốc của nguy cơ sinh thái Vì vậy, phê phán mặt trái văn minh là một đặc điểm nổi bật của khuynh hướng văn học này với hầu hết tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư (…) đặt ra vấn đề trực diện của khủng hoảng môi trường” [70, tr.103] Trong số các nhà văn nữ, Nguyễn Ngọc Tư đề cập nhiều đến nguy cơ sinh thái, qua tản văn, truyện ngắn và đặc biệt là tiểu thuyết Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư là những thông điệp cảnh báo con người trong ứng xử với tự nhiên: “Con người trừng trị thiên nhiên bằng cách hạ nhục, hủy hoại nó, còn thiên nhiên trả thù bằng cách: Nó biến mất” [74, tr.153]; “Sông Di nguyền rủa những kẻ chắn dòng của nó, không khánh kiệt thì cũng chết oan uổng đâu đó” [75, tr.75]

Là nhà văn trẻ, ở vùng cực Nam của Tổ Quốc, sinh ra và lớn lên nơi mênh

Trang 32

mông sông nước, gắn liền với hương vị mặn mòi của ruộng đồng, Nguyễn Ngọc Tư mang trong mình lối viết đậm đà hơi thở sông nước Nam Bộ Lẽ đó mà chị được mệnh danh là nhà văn của “vùng sông nước Nam Bộ” Tác giả Trần Phỏng Diều trong bài

Thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư có nhận xét:“Nguyễn Ngọc

Tư là nhà văn của vùng đất Nam Bộ, tuổi thơ của chị gắn liền với những dòng sông uốn khúc, rừng đước bạt ngàn, đồng lúa mênh mông… Do đó có thể nói, thị hiếu thẩm

mĩ trong Nguyễn Ngọc Tư chính là hình tượng người nghệ sĩ, hình tượng người nông

dân, và hình tượng con sông đưa mình uốn khúc, chở nặng tình người” [19] Từng

trang văn của chị đều thấm đẫm cái tình mê đắm tự nhiên Chị thổi hồn mình vào từng dòng sông, ngọn gió, cánh đồng để hiểu linh hồn của tạo vật từ đó rung lên hồi chuông cảnh tỉnh về nguy cơ sinh thái Trong hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, vấn

đề về nguy cơ sinh thái ngày càng đậm nét Trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận,

nhà văn lí giải về sự tàn phá tự nhiên: “Những cánh đồng trở thành đô thị, những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát, những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành Những cánh đồng đó, đã hất hủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đàn vịt) Đất dưới chân chúng tôi bị thu hẹp dần” [76, tr.213-214]

Ở truyện ngắn Khói trời lộng lẫy, người đọc nhận ra một tiếng nói khẩn thiết,

mãnh liệt, đau đớn trước sự mất dần của thiên nhiên tươi đẹp, chua chát trước sự tàn hại của con người Lắng nghe tiếng kêu cứu từ tự nhiên, những người mê đắm thiên

nhiên có “cảm giác mất mát thật rõ” [74, tr.140] Chính con người đã biến thiên nhiên thành đại công trường, khu công nghiệp, nhà ở, thành phố “xua đuổi thiên nhiên đi

xa” [74, tr.132], “hạ nhục tự nhiên” [74, tr.153] Chính con người đã can thiệp thô bạo

vào thiên nhiên“không con nào tàn phá gây hại như con người, đi tới đâu thiên nhiên

lụn bại tới đó” [74, tr.143] Con người đã khai thác thiên nhiên quá mức khiến cho

môi trường đứng trước nguy cơ thảm họa

Đặc biệt, với tiểu thuyết, kĩ thuật dòng ý thức khiến nguy cơ sinh thái trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư hiện ra đa diện, vừa thực vừa ảo, vừa có chiều rộng vừa có bề

sâu Đến tiểu thuyết Sông, sự xuống cấp về đạo đức sinh thái, nguy cơ hủy diệt từ cuộc

sống đô thị hóa không được thể hiện bằng một cốt truyện chặt chẽ mà khúc xạ qua dòng ý thức đứt nối của nhân vật Ân chán chường với cuộc sống đô thị, thất vọng về mối tình đồng tính, thực hiện dự án kí sự về sông Di và coi đó là cuộc viễn du mãi mãi của mình như những con sông lở Đồng hành với Ân là đất đai, nhà cửa, địa danh bị triệt tiêu, con người bị cắt khúc đứt rời, mất tích vào khoảng không mênh mông của dòng nước Truyện là dòng nội tâm miên man, dòng hoài niệm bất tận của Ân Chập chờn, đan xen, lồng cài giữa hai chiều quá khứ, hiện tại trên chuyến du khảo sông Di

“để che giấu bao nhiêu vết thương” của Ân là những suy tư về vấn đề thiên nhiên bị tàn phá, vấn đề đất lở, núi lở, sông cạn, hạn hán, xâm nhập mặn

Trang 33

Các nhà văn khác khi viết về thiên nhiên sông nước qua cảm nhận của nhân vật thường là bằng con mắt chiêm ngưỡng, thích thú khám phá trước vẻ đẹp trù phú của sông nước mênh mông Nguyễn Ngọc Tư, qua cái nhìn của nhân vật Ân, là sự xót xa, đắng đót trước sự đổi thay, phai nhạt dần của thiên nhiên; là nỗi đau đớn, ai hoài trước

sự biến mất của tự nhiên tươi đẹp, là nỗi phập phồng lo sợ trước những thảm họa thiên nhiên đe dọa cuộc sống con người “Mười bảy bài báo cậu đọc được trên mạng nói về sạt lở đất trên một trăm cây số từ Yên Hoa đến dốc Sương Mù” [75, tr.34] Vì thế, cuộc du khảo sông Di của Ân không phải để khám phá sự kì thú của thiên nhiên hoang

dã mà đi để nhận ra những mất mát, hư hao, chênh chao của cuộc đời Hơn hai trăm trang viết, hầu như không có một trang viết nào để nói về sự trù phú, diễm lệ, thơ mộng của cảnh sông Di Hành trình du khảo sông Di là hành trình đến với những kiếp

người bé nhỏ, vất vả mưu sinh trước sự đe dọa của thiên nhiên: “Báo chí đếm được có

đến chục cái không ở những cái làng giăng giăng gần bờ này Không đất Không tiền Không chữ Không biết đi đâu về đâu Không biết chôn ở đâu Không thịt Không

điện Không pháp luật… [75, tr.224 ] Sông đã tạo nên những phận người lúc nào cũng

“Thấp thỏm Nơm nớp Côi cút.” [75, tr.15]

Cảm hứng chủ đạo của phê bình sinh thái là cảm hứng phê phán Phê phán để phản tỉnh “Cảm hứng phê phán đó gắn liền với ý thức về con người “tội đồ”, vừa cho mình thái độ làm chủ trái đất, lại là một ông chủ thiếu trách nhiệm, khiến cho trái đất ngày càng kiệt quệ” [70, tr.103] Nguyễn Ngọc Tư không miêu tả cụ thể, cũng không thiên về phê phán mà hiện thực tàn phá môi sinh phần lớn hiện ra trong dòng suy ngẫm, tâm trạng u buồn của nhân vật, chủ yếu là Ân.Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, vùng đất Nam Bộ bị ảnh hưởng môi trường nghiêm trọng Xâm nhập mặn, lũ lụt và lở đất là hậu quả tất yếu mà con người phải gánh chịu khi cố tình xâm phạm vào tự nhiên

“Ba cây số trước khi sông Di ra biển, sông chỉ là con rạch quanh quanh giữa những cồn cát, đôi bờ là những bãi bần Nó không có vẻ ra đi, mà nhận biển vào lòng Nước sông mặn quắt, nắng càng lâu thì nước biển sẽ thè cái lưỡi dài nhằng của nó liếm vào sông hàng mấy chục cây số” [75, tr.15] Lần đầu nhìn sông Di trên bản đồ giấy, Ân đã nghĩ chỉ bảy con sông họp nhau sao gọi Ngã Chín, sau đó tình cờ cậu biết được con người đã cố tình biến dòng chảy của sông theo ý mình, “có hai dòng sông đã bị san lấp thành chợ, thành làng Người ta ước tính làm một dòng sông cạn còn dễ hơn làm một con đường Sông Di cũng đang bị những dãy nhà hai bên bờ chồm ra bóp nghẹt Chỗ này được xem là chỗ hẹp nhất sông Di, có thể ước chừng lòng sông bằng mắt thường Không quá bốn thước tây” [75, tr.28] Thì ra, con người đã “nắn sông” theo sở thích cho nên đến lượt mình, sông lại cuốn trôi tất cả những gì mà nó thích: “Nó dạt dào theo cách riêng của mình, bằng cách luồn sâu vào lòng đất Không ai hay sông Di trả

đũa cho đến khi những ngôi nhà lần lượt đổ vào sông, sau những trận mưa dầm” [75,

tr.28], “mặt sông bình thản như chưa từng bị chặn Người ta đã dìm nhiều mĩ nữ vào sông để cung tiến thủy thần, đã yểm nhiều tượng xuống đáy nước mà không ăn thua

Trang 34

Sông phải chảy đời của nó chứ” [75, tr.127] Sông Di ngày càng “dữ tợn, đầy thù hận

và hung hiểm”, “có khi kéo đi cả một căn nhà” [75, tr 33], “Cuộc hẹn không thành vì nửa đêm sông Di đã mang Hường đi Quán Tầm Sương chìm vào lòng sông sau một tiếng gầm thảng thốt Dân Ngã Chín không lạ gì với việc mất một ai đó, một căn phòng nào đó căn nhà nào đó biến mất Họ quen với việc một người ngồi cạnh mình bỗng dưng lọt tõm vào một hố sâu nào Mọi sự biến mất đã trở nên bình thường, họ thò đôi đũa ra để gắp thức ăn thì không thấy mâm cơm đâu nữa, họ với tay lấy áo mặc sau khi tắm xong thì nó không còn ở đó, họ đứng dậy rót rượu và cái ghế vẫn còn ấm hơi người lẳng lặng rơi xuống sông và người kia thì ngồi phịch vào khoảng không, cũng biến mất” [75, tr 32] Dường như trong tâm thức của người dân nơi đây, họ đã quá quen thuộc với những cuộc đi không hẹn trước, ở nơi hạ nguồn Mù Sa,“cả xóm như đang dợm bỏ đi”, “xóm cồn nhà nào cũng thấp, phần lớn cất bằng vật liệu tạm bợ

Đồ đạc gói gém trong mấy cái thùng mì tôm, thùng bột ngọt… chừng nào muốn đi chỉ cần xách đít là đi thôi” [75, tr.16] Con người không tài nào đoán định được thảm họa thiên nhiên sẽ trút xuống họ khi nào “việc sạt lở ngẫu hứng từ đâu đó bên trong mà không phải là rìa sông Cái hàm ếch mà dòng chảy tạo ra không thể luồn lách vào đất liền xa vậy” [75, tr.34] nên “nửa đêm có vạt rừng rùng rùng trôi ra biển, trên đó có khi

có cả một cái xóm, người ta và chó và gà Cũng không biết chạy đi đâu vì hay được thì

nó trôi xa khỏi mé bờ rồi Càng trôi xa nó càng chìm từ từ” [75, tr.39] Những mảnh đất, những ngôi nhà, thậm chí cả những vạt rừng, ngôi miếu đột nhiên sạt xuống sông, hấp hối trôi rồi chìm dần; người trên bờ chỉ biết bất lực đứng trông hay leo tận đọt dừa vẫy vẫy cho đến khi cái đọt dừa ấy cũng mất hút vào lòng sông thăm thẳm

Đi và chứng kiến những mảnh đời thăng trầm như sông, mong manh như sông, nghe và tận mắt chứng kiến những đêm bất ngờ sạt lở cuốn cả làng đi mất, Ân ngậm ngùi một nỗi niềm đau đớn, xót xa Thao thức, nhức nhối về sự hủy diệt xói mòn, về những thảm họa môi trường phũ phàng trút xuống con người, “một cảm giác tròng trành” đã xuất hiện trong Ân Cậu hình dung “mình đang ăn trên một cái cầu treo, nuốt trộng một họng cơm, suýt nghẹn” [75, tr.34] Sông Di, nay trong suy nghĩ của Ân hoàn toàn khác xa với những gì miêu tả của sếp, nó là “một cái ống đựng những tan hoang” [75, tr.35], là “dòng sông ngờ nghệch, không thể nhận ra là nước đang chảy nếu không

có những váng rêu nhớt phập phều”, “sông giờ là bãi rác nửa chìm nửa nổi” [75, tr.69],

và để rồi khi cậu đã đi khỏi nó “như thể đã chạy thoát một nỗi ám ảnh nào đó, mà nó không còn khả năng đuổi kịp” [75, tr.36]

Ở Sông, ta còn bắt gặp một cái nhìn âu lo, khắc khoải trước nguy cơ đô thị hóa

và suy thoái đạo đức sinh thái trong bối cảnh nền kinh tế thị trường Những giá trị tự nhiên, văn hóa tinh thần tốt đẹp dần dần bị bức tử bởi lòng tham, sự ích kỉ và nỗi thờ ơ

vô cảm của con người Men theo dòng kí ức của Ân trong chuyến du khảo sông Di, ta như được chứng kiến tâm trạng thảng thốt, đầy nuối tiếc của những người già còm cõi tìm về hội “Tắm Lu” ở chợ Thương Di Ổ nhằm đong lại những kỉ niệm xưa cũ Thế

Trang 35

nhưng lặn lội đến nơi thì quặn lòng chưng hửng, bãi đất trống mở hội giờ đây trở thành nơi người ta xây những khách sạn cao tầng, những trung tâm thương mại sầm uất, còn cái hội đó thì người ta đem cho “diễn” ở sân bóng “Trời đất, phượng trắng đâu? Dãy nhà sàn chỗ vàm sông mất rồi Còn lễ hội, cái lễ hội mà tôi phải ky cóp tiền mười năm mới về với nó được, đâu? Đâu? Sao mọc cái trung tâm thương mại chình ình chỗ này?” [75, tr.125]

Quá trình đô thị hóa là một quá trình tất yếu Nó mang lại lợi ích lớn lao, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, đời sống nhân dân Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hóa chóng mặt, gây áp lực lên môi trường sinh thái thì sẽ dẫn đến nguy cơ mai một, tổn hại những giá trị văn hóa tinh thần tốt đẹp của con người Những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư phần nào cho ta thấy góc khuất của văn minh và sự lâm nguy của thế giới hiện tồn, bộc lộ khát khao được quay về với thế giới tự nhiên nguyên sơ, về với những giá trị truyền thống, những điểm tựa tinh thần của con người hiện đại

Hãy cùng nếm trải những chông chênh, bải hoải của anh khi lên đến thượng nguồn sông Di, gặp người dân tộc Đào vì ham lợi mà bán dần bán mòn từ những thứ kì cục đến những cái có giá trị thiêng liêng, để rồi từ một tộc người hùng mạnh nay thành một cộng đồng nghèo xác xơ, nghèo đến mức đẻ con ra để bán mà sống qua ngày Ân

đã từng lúng túng khi anh cùng Xu dừng chân ở vùng cao nguyên Thượng Sơn này

“cậu không biết diễn tả sao cho người đọc hình dung ra những vụn nắng vàng cốm

nằm lịm trên thảm lá trong rừng tinh linh Dằng dặc cả khu rừng hàng chục cây số vuông là thân và cành tinh linh xơ rơ ” [75, tr.180], “Mũi cậu nồng như vừa ăn phải

mù tạt, chẫng hẫng đi dù không vấp phải cái gì” [75, tr.184] Ở vùng này, vì tiền, người Đào có thể bán đi tất cả từ đất đá, vật dụng, cây cỏ, thậm chí cả những đứa con hay một phần thân thể của mình, để rồi chính họ phải nhận lại thảm họa diệt vong “Ở đây, mọi sự diệt vong đều rất dễ giải thích Đã bán Đã bán Đã bán” [75, tr.184] “Thương lái Hoa Bắc qua lại đất người Đào mua bất cứ cái gì nơi đây có Từ bụi cỏ sa

lệ cao chỉ bằng ngón tay cho đến những thân gỗ nghiến giữa đại ngàn…Đất đá Vật dụng Cây cỏ…Giờ thì người Đào bán đến cả nội tạng và trẻ con.” [75, tr.181], “Sự tàn

rã lặng lẽ phủ lên cái mặt đất lởm khởm những hang hốc, trơ trụi không có bóng cây, thưa vắng người” [75, tr.182], “giữa vùng thượng sơn mà không nghe thấy tiếng thú rừng tao tác trong đêm Có lẽ chúng đã bị săn bán” [75, tr.183].“Một tộc người lẫy lừng trước đây chỉ còn vài ba cụm làng còm nhom” [75, tr.181-182] Một dân tộc Đào hùng mạnh nay chỉ còn quá vãng Họ đã chỉ biết sống ích kỉ lười biếng, sống kí sinh trên tự nhiên, coi tự nhiên chỉ là “kho của” để khai thác hưởng thụ nên họ phải gánh chịu thảm họa diệt vong Khi con người coi tự nhiên là đối tượng để bóc lột thì tất nhiên tự nhiên sẽ có lúc trả đũa con người Tư tưởng tận thế gắn với môi trường được Nguyễn Ngọc Tư nhiều lần cảnh báo thông qua việc con người can thiệp thô bạo vào

tự nhiên, xua đuổi thiên nhiên Thiên nhiên- cái tưởng như vĩnh hằng, nhưng thực ra

Trang 36

rất mong manh và dễ tổn thương“Sông, thấy mênh mông mà dễ giết” [75, tr.28] Vì

vậy, chỉ khi con người biết làm bạn với tự nhiên, lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên, thì lúc ấy thiên nhiên mới thôi trả đũa con người Thiên nhiên mới trở thành là không gian đáng sống, là kỉ niệm, là tâm hồn, là màng rây thanh lọc cảm xúc, là người bạn lớn, là bến bờ tĩnh lặng để con người tìm về sau những bão giông

Mục đích của nhân vật Ân trong chuyến du khảo sông Di để “tìm quên” nhưng càng đi mục đích ấy càng xa dần và cuối cùng Ân đã chọn cách “kết thúc những phân vân” tại Túi Tại đây, kí ức của Ân lại xuôi về lần đầu tiên hội ngộ với sông Di bằng một trận lũ lớn: “Cậu gặp sông Di lần đầu Hung hãn một cách ráo riết, cay nghiệt Mặt sông là cái xoáy nước đỏ ngầu cuộn xiết Không có bờ Hệ thống các con sông lớn

ở miền Hạ chìm trong một trận lũ được cho là lớn nhất trong một trăm năm trở lại…Ở vài mái nhà sắp chìm lút, những cánh tay đen đúa thò khỏi mái ngói vẫy vẫy Trên cái đệm cao su rách rã trôi qua có một em bé chừng hai tuổi nằm như ngủ, nước săm sắp đến vành tai Nửa dưới để truồng, da xanh ngắt Cậu không khóc được khi ôm xác em nhỏ trên tay”, đến khi về còn ám ảnh cậu “Đêm đầu tiên từ vùng rốn lũ về, cậu đã mơ, thấy mình nằm trong quan tài với những vật dụng bằng sứ chỉ còn một nửa…Cái cảm giác những mảnh sắc nhọn của ấm chén cứ cứa tê mê trên sườn cậu…Nhận ra da thịt đang rã đi từng thớ một” [75, tr.211)

Ân đã chọn kết thúc hành trình du khảo sông Di ở Túi Ở nơi ấy người đọc hồ nghi không biết nhân vật có vượt thoát được nỗi cô độc, chán chường để bơi trở lại hay họ sẽ chìm vào hư không, vô tăm tích Với Ân đi để trốn chạy, để tìm quên, để nguôi ngoai nỗi đau Nhưng càng đi, càng trải nghiệm, Ân càng hoài nghi, chán nản, mất niềm tin Do vậy, ta thấy thật khác với văn chương truyền thống, về với tự nhiên

là “lánh đục tìm trong”, “rủ bỏ ưu phiền”, ngược lại với Ân, là để cảm thấy nỗi cô độc không nơi nương nấu của tâm thức hiện đại Đi hết một hành trình sông Di, nếm trải cả

ở chiều không gian thực tại và chiều thời gian quá khứ, nỗi chán chường không thể nào dịu vơi mà chỉ thấy cảm giác mát mát xuất phát từ sự tuyệt vọng về những vẻ đẹp của tự nhiên dần mai một, biến mất

Trong sự vận động của văn học, so với tác phẩm viết về sinh thái của các nhà văn Nam Bộ, cái nhìn của Nguyễn Ngọc Tư về về nguy cơ sinh thái gắn với số phận con

người càng trở nên rõ hơn Trong truyện ngắn Mùa len trâu (tập Hương rừng Cà Mau)

Sơn Nam dù miêu tả con người chống chọi với thảm họa thiên nhiên nhưng cảm hứng chính vẫn là cảm hứng hồi sinh và khẳng định sự trưởng thành của con người qua gian

nan mà tự nhiên thử thách Mùa len trâu là “tác phẩm liên quan đến vấn đề địa lý văn

hóa và cả sinh thái”; là “một câu chuyện của thiên nhiên, nơi người dân Nam Bộ chọn làm nơi cộng cư của mình Toàn bộ đó là một không gian sinh thái, cộng cư của người

Việt khi mở đất về phương Nam và chọn địa bàn sinh sống ở đó” [26] Là thế hệ sau,

trong thời đại mới, chứng kiến văn minh đô thị xâm lấn, lối sống con người thay đổi, đạo đức sinh thái bị xói mòn, Nguyễn Ngọc Tư nhìn thẳng vào hiện thực đa chiều Tác

Trang 37

phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đặt ra nhiều vấn đề môi trường và số phận của cá nhân trong chỉnh thể sinh thái, cảnh báo về tình trạng biến đổi khí hậu hiện diện lên từng số

phận nhân vật, từng ngôi nhà, ngõ phố, con sông Ở Sông, Nguyễn Ngọc Tư đã từ chối

lối viết lý tưởng hóa tự nhiên, đi tìm cái hùng vĩ hoang dã của tự nhiên, hoài cảm về vẻ đẹp của thiên nhiên, mà chuyển sang xu hướng phản lãng mạn với tính năng dự báo, cảnh tỉnh Bằng thiên tính nữ, với một tình yêu gần như là máu thịt, chị đã tái hiện chân thực những đổi thay của môi trường từ đó thức nhận với con người rằng: Con người chỉ đẹp khi làm đẹp thiên nhiên

Mải mê với những đề tài thời sự, với hiện thực cõi nhân sinh, tiểu thuyết đương đại Việt Nam tập trung giải thiêng lịch sử, phô phương những mặt trái của hiện thực,

đề cập đến vấn đề tính dục, coi trọng bản thể con người mà lãng quên tinh thần sinh thái văn học Mà một khi “con người rời xa thiên nhiên, trái tim họ sẽ trở nên khô cằn” (Ngạn ngữ Mĩ) nên có thể nói sự thiếu vắng tự nhiên khiến cho môi trường văn học trở nên cằn cỗi Vì thế, tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư đã góp phần làm “mới xanh” một khoảng không gian văn học, góp phần trách nhiệm về tỉnh thức, đặt ra những vấn đề mới mẻ mang hơi thở thời hiện đại trước nguy cơ sinh thái

Nếu nhìn từ bề ngoài, những nguy cơ sinh thái mà Nguyễn Ngọc Tư đặt ra không có gì mới, xoay quanh vấn đề núi lỡ, sông cạn, lũ lụt, suy thoái đạo đức sinh thái nhưng điểm khác biệt ở đây là cách đặt vấn đề khéo léo, sắc nhọn qua kĩ thuật dòng ý thức Khi qua lăng kính cảm xúc của Ân, men theo dòng hồi tưởng bất tận của cậu, người đọc như cảm nhận được thiên nhiên cũng có sinh mệnh độc lập, có số phận,

có đời sống nội tâm phong phú, biết yêu, biết căm, biết thù hằn, nũng nịu Do đó, con người cần thay đổi cách nhìn và cách hành xử với tự nhiên để bà mẹ thiên nhiên luôn

“nín nhịn và dịu dàng, khéo léo và vô hại” [75, tr.33]

2.1.2 Đời sống tính dục lệch pha

Tính dục lệch pha không chỉ là mối quan tâm của y học, điện ảnh mà còn thu hút sự chú ý của văn học bởi nó có sức lột tả lớn nhất khía cạnh bản thể người Nó đã trở thành một đề tài quen thuộc trong văn học từ Đông sang Tây Ở phương Tây, tác

phẩm được coi là đầu tiên viết về đồng tính là Lịch sử có thật (True History) của nhà

văn Hi Lạp Lucian (120 – 185) Ở phương Đông, người ta biết nhiều đến các tác phẩm

đồng tính nổi tiếng của Trung Quốc xưa như Liêu trai chí dị, Kim Bình Mai, Hồng lâu

mộng, Đông cung, Tây cung

Ở Việt Nam, vấn đề tính dục đồng tính được các nhà văn đề cập muộn hơn so với các nước khác trên thế giới Do quan niệm của thời đại ngày xưa cho rằng nói đến đồng tính là dung tục, tầm thường, là điều cấm kị trong văn chương Ngày nay, với quan niệm không có “vùng cấm” trong văn học và văn chương cũng không còn là “địa hạt” chỉ dành cho những đề tài thanh cao, tao nhã mà dung nạp trong nó cả những mảng tối, góc khuất trong cuộc sống cũng như trong tâm hồn con người, vì thế từ chỗ

bị xem là “ngoại biên” nay tính dục đồng tính đã dần được xem là “trung tâm” Văn

Trang 38

xuôi sau đổi mới có sự bứt phá trong việc thể hiện con người bản năng, con người tính dục, đặc biệt là khám phá tính dục đồng tính Cây bút trẻ Nguyễn Quỳnh Trang có sự trao đổi rất thân tình về văn học đồng tính: “Người viết văn có khả năng viết lên không chỉ những cái hiện hữu tồn tại mắt thấy tai nghe tay sờ trong cuộc sống, mà còn cần biết tìm ra nhiều góc khuất ẩn giấu phía sau những hiện tượng, hành động, sự lựa chọn cách sống của từng cá nhân Khi chúng ta còn thiếu thốn từ bữa ăn, manh áo, thì nhu cầu viết/ nói ra những ẩn ức tâm lý cá nhân là điều xa xỉ Khi vật chất đủ đầy, con người được sống giữa tự do ngôn luận hơn hẳn so với ngày trước, thì vấn đề đồng tính được phơi bày” [46]

Trong hai thập niên đầu thế kỉ XXI, xuất hiện hàng loạt những tác phẩm viết về

đề tài đồng tính như Chuyện tình của Lesbian và Gay; Xin lỗi em, anh đã yêu anh ấy (Nguyễn Thơ Sinh), Song song (Vũ Đình Giang), Tôi là Les (Dị bản, Keng), Bóng (Tự truyện của Nguyễn Văn Dũng- Hoàng Nguyên – Đoan Trang chấp bút), Không lạc

loài (Tự truyện Thành Trung- Lê Anh Hoài ghi), Lạc giới (Thủy Anna), Sông (Nguyễn

Ngọc Tư), Nháp (Nguyễn Đình Tú), Vân Vy (Thuận), 1981 (Nguyễn Quỳnh Trang)…

Những tác phẩm này đã nhận được sự phản hồi đa chiều từ phía độc giả

Với tiểu thuyết Sông, không phải lần đầu tiên Nguyễn Ngọc Tư đưa vấn đề

đồng tính vào tác phẩm của mình Trong một truyện ngắn, nhà văn đã bày tỏ quan

niệm về tính dục, “Tôi không chắc lắm, nhưng dục tình và xác thịt không xấu xa, không đáng bị khinh bỉ, không phải là nguyên nhân đẩy chị em tôi đến cuộc sống này

với những đổ vỡ này” [76, tr.199] Trước đây, một vài truyện ngắn của chị cũng đã kín đáo đề cập đồng tính nữ Tuy vậy, viết về đồng tính, khác với những nhà văn như Bùi Anh Tấn, Vũ Đình Giang, Nguyễn Đình Tú,… Nguyễn Ngọc Tư đã tiếp cận mảng này chủ yếu về mặt tinh thần, về nội tâm con người, về những suy nghĩ và dằn vặt của nhân vật chứ không hoàn toàn khai thác những gì thuộc về thân xác và nhục cảm Hành vi tính dục không được miêu tả từ bên ngoài mà từ chiều sâu tâm hồn đầy

phức cảm Nguyễn Ngọc Tư đã từng chia sẻ “Khi viết Sông, nhiều bạn cũng đã hỏi

tôi tại sao không đi sâu vào sex, nhục dục, nhưng tôi nghĩ đồng tính không chỉ có sex Họ cũng có ẩn ức khác, những mối quan tâm xã hội, có đời sống rất bình thường Viết về đồng tính đâu cứ phải sex Khi nhà văn đào sâu tâm tư, ẩn ức của họ cũng rất hấp dẫn”

Nhận xét về lối viết của Nguyễn Ngọc Tư, Lê Thị Hường cho rằng: “Nhiều nhà văn nam đã viết về đồng tính, nhưng khi phụ nữ viết về đồng tính thì cái “lệch pha” này mới được đi đến tận cùng cảm giác; cảm giác đắm say gần gũi nhưng thảng thốt vì

“đã từng ấm nóng da thịt mình” mà vẫn “chưa thuộc hết nhau” [35, tr.98-105] Nêu một hiện tượng xã hội, nhà văn đã thấu cảm nỗi đau của những con người “lệch pha”

mà biểu hiện rõ nhất là sự mặc cảm Con người sống cần có quyền có giới tính riêng, được sống đúng với giới tính Thế nhưng trong thực tế, cái nhìn về “giới thứ ba” của

xã hội vẫn chưa đủ thấu hiểu để cộng đồng song tính lưỡng giới được là mình Những

Trang 39

che giấu về thân phận, những mặc cảm về giới tính cũng từ đời sống đi thẳng vào trang văn

Nhân vật Ân xuất hiện trong tác phẩm Sông bề ngoài là người bình thường như

bao người khác Anh được định vị trong xã hội, có gia đình, có cha mẹ, có một công việc để làm và đặc biệt là người luôn được mẹ đặt nặng vấn đề trách nhiệm lên vai “vì

Ân là đàn ông trong nhà” [75, tr.144] Trách nhiệm đó mẹ cậu cứ hay nhắc đi nhắc lại

Bà đâu có biết mấy chữ “Ân là đàn ông trong nhà” như “gọng kìm siết lấy họng cậu” [75, tr.144] Bà cũng như bao người khác không hề biết được rằng đằng sau “cái bình thường” mà mọi người tưởng là “nỗi đau trong bóng tối” Vốn Ân sinh ra là nỗi thất vọng của bà ngoại “cậu bỗng hiểu cái điều mà cả thời thơ ấu không bao giờ hiểu được, rằng bà ngoại cậu đã thất vọng đến chừng nào, về sự có mặt của cậu ở giữa đời này” [75, tr.152] Nhưng có lẽ nỗi thất vọng ấy chưa thể dằn vặt, ám ảnh cậu bằng nỗi đau khi nhận biết mình là một người “lạc giới” Anh đã có những dấu hiệu bất bình thường ngay từ nhỏ “thích chơi búp bê”, “thích nấu ăn, trồng hoa và ngủ rúc trong nách mẹ”[75, tr.113] “ từ nhỏ đã chơi với đàn bà” [75, tr.66],“da anh trắng như con gái” nên rất nhiều người nhầm lẫn giới tính của anh Người ta từng “chào chị khi bắt tay cậu” [75, tr.101] và bản thân Ân cũng từng thừa nhận “ruồng rẫy giọng điệu nữ tính là chối

bỏ một thứ thuộc về bản chất của mình” [75, tr.180] Với Ân, bi kịch thể xác ấy là cơn

cớ của những bi kịch tinh thần, của những chấn thương mãi mãi không liền sẹo Một khi nhận thức hết những dấu- hiệu trong cơ thể mình nên Ân đã rất đau khổ khi không thể cưới vợ theo mong muốn của mẹ Trong khi đám cưới là điều bình thường của bao cặp tình nhân nhưng với Ân xem ra không hề là mơ ước đơn giản.Thẳm sâu trong anh, khao khát được bình thường như mọi người có lẽ là khao khát giản dị nhất mà lớn lao nhất Ân từng khát khao “gỡ bỏ mặt nạ” để được sống thật với giới tính mình nhưng rồi bao nhiêu mối quan hệ chằng chịt, vướng vít, níu kéo khiến anh phải chịu những giằng xé nội tâm đau đớn, dữ dội Hồi quen với Tú, cậu từng nung nấu ý định biến mất cùng với Tú để được tồn tại là chính mình Cậu luôn hi vọng có một cuộc bùng nổ bản năng “cứ mỗi chuyến đi cậu lại có ý nghĩ sẽ không quay về nữa Bọn cậu sẽ biến mất khỏi trời này, biệt tích Người ta sẽ kể với cảnh sát rằng có thấy hai người kia đi vô hang mà không thấy ra, đi qua cầu kia rồi tối mịt cũng không trở lại, hoặc ly kỳ hơn,

họ nói rằng hai gã thanh niên ấy biến mất sau một trận mưa trắng trời, hoặc thơ mộng hơn, đám mây mù sẽ đưa bọn cậu đi” [75, tr.163] Nhưng rồi ý định ấy bị bức tử bởi lí trí Quay trở về nhưng có một con người khác trong bản thân anh quẫy đạp Con người

ấy, tiếng nói ấy ước muốn được thành thật với bản thân song lại tiếp tục bị đè nén bởi những ánh nhìn, định kiến “Từ khi biết mình thuộc dạng người nào, cậu rất nhạy cảm với dấu hiệu Cậu biết đám đông nào dè bỉu mình, đám đông nào thông cảm để điều chỉnh cho đúng hành vi ánh mắt, nhất là khi đi cùng với Tú Khi nào tình cảm được quyền hiện lên mặt, khi nào giả bộ lạnh lùng, phớt tỉnh Cậu đọc dấu hiệu giỏi đến mức trực giác được khá nhiều trường hợp người tốt, người xấu” [75, tr.209] Những

Trang 40

người như Ân luôn mang trong mình mặc cảm về sự dị biệt của bản thân và áp lực từ những định kiến của cộng đồng Cho nên, tâm hồn họ luôn thường trực những cảm giác mặc cảm, cô đơn, trống trải, thiếu vắng, lạc loài Tú cưới vợ Mối tình “lệch chuẩn” ấy bị cắt ngang bởi đám cưới “làm vừa lòng người lớn” của Tú Như giọt nước tràn ly Ngạc nhiên “Có lẽ cảm giác ngạc nhiên nhất cậu đã trải qua là khi Tú nói cuối tháng sau sẽ cưới” [75, tr.71] Hụt hẫng Mất mát “Thứ đã từng là sinh mạng của cậu giờ chắc đang cho quần áo vào máy giặt trong lúc người bạn đời đang lụi hụi nấu cơm” [75, tr.71] “Cái vui nhất liên quan đến Tú, không thể kể, những thứ còn lại thì không đáng kể Vụn và nát nhừ Khi ấy cậu đã nghĩ, vui cũng khó vậy sao” [75, tr.67] Cho nên, Ân quyết định bỏ lại tất cả sau lưng để bước vào hành trình khám phá sông

Di như là sự chạy trốn trong nỗi tuyệt vọng của một trái tim bị tổn thương ghê gớm, của một niềm tin bị đánh cắp “Kiểm đếm lại những thứ cậu tin không đầy đầu ngón tay Thứ khiến cậu tuyệt đối tin vừa đánh mất” [75, tr.116]

Trong suốt hành trình, Ân liên tục bị chìm đắm vào dòng suy nghĩ miên man về

Tú - “người tình đồng tính” của mình, mặc dù không hành động ra bề ngoài như cách trả lời lại tin nhắn của Tú nhưng thông qua những suy nghĩ, nhớ nhung, liên tưởng triền miên về Tú thì ta cũng cảm nhận được một tình yêu mãnh liệt nơi anh Từng địa điểm, từng cảnh vật, từng con người trên đường đi đều nhắc nhớ về Tú Mỗi một đoạn đường đi qua là một đoạn đời của Ân và Tú hiện về, lúc là kỉ niệm, lúc là ước mong, lúc là khát khao, lúc là hạnh phúc, lúc là niềm đau Nó triền miên, bất tận, đa cung bậc trong dòng hồi tưởng của Ân Nguyễn Ngọc Tư đã rất “tinh” và “nhạy” khi nắm bắt được những vi mạch cảm xúc đang dùng dằng dịch chuyển đầy mâu thuẫn trong Ân mặc dù được anh giấu kín bằng một vỏ bọc “rất bình thường” Hiện tại, kí ức đan bện thành thảm lưới tâm trạng trong cậu Nó nhùng nhằng, rối bời Vùng kí ức tươi nguyên, đẹp đẽ Hiện tại vỡ tan, thất vọng Từng kỉ niệm trong những ngày quen Tú như những thước phim hiện về vừa dịu ngọt vừa đắng đót! Đó là kỉ niệm về thời mới quen biết Tú giữa một cánh đồng hoa cải vàng: “Mùa đông chưa đi được nửa đường rét của nó Nắng trên những triền núi chảy ròng xuống, khỏa lìm lịm trong thung lũng Thè lưỡi ra có thể nếm được cái vị thanh thao của nắng Cậu cũng muốn được những vạt hoa cải vàng nuốt chửng lấy mình, dìm sâu tận đáy Cho đến bây giờ cậu đã không gặp lại cái màu nắng hơi ngả xanh ấy nữa Nhưng nỗi khát khao được chìm sâu vò một cái gì đó, mềm và dịu ngọt, thỉnh thoảng lóe lên” [75, tr 23] Hay kỉ niệm về những khoảnh khắc hạnh phúc ái ân “Chắc lúc tha thẩn miết mực, cậu nghĩ đến Tú, nghẹn thở

vì ở đâu đó có một tháng trăng đầy mật Vóc dạc Tú cũng khá mảnh dẻ, chỉ bụng hơi lớn vì nhậu nhẹt nhiều, mà cậu hay cằn nhằn là coi thô tục” Tất cả kỉ niệm ấy bây giờ chỉ còn tồn tại trong những suy nghĩ khôn nguôi và sẽ không bao giờ tắt trong Ân, theo

Ân đến hết hành trình trở về chính mình

Khát vọng được yêu đã khiến Ân bị lưu đày trong nỗi khát thèm, sự ghen tuông Tìm quên nhưng rốt cuộc lại bị nỗi nhớ dày vò thêm “Những khi săm soi bộ sưu tập

Ngày đăng: 28/06/2023, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Thị Kim Anh (2018), “Đôi nét về đổi mới tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí khoa học, Đại học Đồng Nai (số 7), tr 94-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về đổi mới tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Trương Thị Kim Anh
Nhà XB: Tạp chí khoa học, Đại học Đồng Nai
Năm: 2018
2. Thái Phan Vàng Anh (2017), Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI- Lạ hóa một cuộc chơi, Nxb Đại học Huế, TP Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI- Lạ hóa một cuộc chơi
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2017
3. M. Arnaudo (1978), Tâm lý học sáng tạo văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sáng tạo văn học
Tác giả: M. Arnaudo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1978
4. Lại Nguyên Ân (2017), 150 thuật ngữ văn học , Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2017
5. Lại Nguyên Ân (chủ biên) (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
6. M.Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Trường viết văn Nguyễn Du
Năm: 1992
7. Antonio Blach (1991), “Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại”, Tạp chí Văn học, (số 5), tr.64 – 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại
Tác giả: Antonio Blach
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1991
8. Lê Huy Bắc (2009), Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel Garcia Marquez, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel Garcia Marquez
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
9. Lê Huy Bắc (2013), Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2013
10. Lê Huy Bắc (chủ biên) (2011), Văn học Âu –Mỹ thế kỉ XX, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Âu –Mỹ thế kỉ XX
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2011
11. Lê Huy Bắc (2013), Văn học hậu hiện đại Lý thuyết và tiếp nhận , NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại Lý thuyết và tiếp nhận
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2013
12. Phạm Quý Bích (2006), “Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư”, Báo Văn nghệ trẻ, (số 64) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Phạm Quý Bích
Nhà XB: Báo Văn nghệ trẻ
Năm: 2006
13. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2012
14. Nguyễn Thị Bình (2010), Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 những đổi mới cơ bản, Nxb ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2010
15. Lê Nguyên Cẩn (2006), Tác giả tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường, James Joyce, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
16. Nguyễn Minh Châu (1983), “Vài suy nghĩ về tiểu thuyết”, Báo Văn nghệ, (số 39), tr.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về tiểu thuyết
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Báo Văn nghệ
Năm: 1983
17. Võ Đắc Danh (2008), “Nguyễn Ngọc Tư- Tôi như đẽo cày giữa đường”, Báo Người đô thị, (số 35) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư- Tôi như đẽo cày giữa đường
Tác giả: Võ Đắc Danh
Nhà XB: Báo Người đô thị
Năm: 2008
18. Nguyễn Văn Dân (1997), “Dấu ấn phương Tây trong văn học Việt Nam hiện đại”, Tạp chí Văn học, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn phương Tây trong văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1997
19. Trần Phỏng Diều (2006), “Thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, Tạp chí Văn học,(số 2), tr.77 – 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Trần Phỏng Diều
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 2006
20. Kim Dung (2012),“Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đưa “đồng tính” vào tiểu thuyết đầu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đưa “đồng tính” vào tiểu thuyết đầu
Tác giả: Kim Dung
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w