Tên tuổi của ông gắn liền với những tác phẩm như Bão rừng tiểu thuyết, 1957, Kỳ nữ họ Tống tiểu thuyết, 2002; Khi những lưu dân trở lại khảo luận, 1967, Phong trào Duy Tân khảo luận, 196
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THANH LŨY
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN VĂN XUÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
ĐÀ NẴNG, NĂM - 2023
Trang 2NGUYỄN THANH LŨY
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN VĂN XUÂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 822 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHONG NAM
ĐÀ NẴNG, NĂM - 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Phong Nam Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này chưa được công bố ở công trình nào khác
Người cam đoan
Nguyễn Thanh Lũy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được
sự giúp đỡ tận tình quý báu của quý thầy cô giáo, bạn bè và gia đình Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:
- PGS.TS Nguyễn Phong Nam, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ,định hướng cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
- Lãnh đạo Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, quý Thầy Cô giáo
đã tận tình giảng dạy, trao truyền kiến thức trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè thân hữu, các bạn lớp thạc sĩVăn học Việt Nam khóa 37 đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Đà Nẵng, tháng năm 2022 Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Lũy
Trang 5ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN VĂN XUÂN
Ngành: Văn học Việt Nam
Họ và tên học viên: Nguyễn Thanh Lũy
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Phong Nam
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Những kết quả chính của luận văn: Luận văn tập trung làm sáng tỏ những đóng góp của truyện
ngắn Nguyễn Văn Xuân về mặt nghệ thuật Có 3 vấn đề chủ yếu được triển khai:
1 Nguyễn Văn Xuân trong vai trò người sáng tác văn học, nhà nghiên cứu văn hoá, lịch sử;
2 Những nét đặc sắc của hình tượng nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân;
3 Một số yếu tố nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn: Luận văn góp phần khẳng định vị thế của Nguyễn
Văn Xuân trong đời sống văn hoá, văn học dân tộc nói chung, vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng nói riêng
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể làm tài phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập về văn hóa, lịch sử, con người ở địa phương
Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài: Đề tài có thể tiếp tục nghiên cứu để mở rộng quy mô và
hoàn thiện hơn
Từ khóa: “nhà Quảng học”, truyện ngắn, Dịch cát, Hương máu, Nguyễn Văn Xuân
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người thực hiện đề tài
PGS TS Nguyễn Phong Nam Nguyễn Thanh Lũy
Trang 6ART FEATURES OF NGUYEN VAN XUAN STORY
Major: Vietnamese Literature
Student's full name: Nguyen Thanh Luy
Supervisors: Assoc.Prof.Dr Nguyen Phong Nam
Training institution: Da Nang National University of Education
The main results of the thesis: The thesis focuses on clarifying the contributions of Nguyen Van Xuan's short stories in terms of art There are 3 main issues implemented:
1 Nguyen Van Xuan as a literary composer, cultural and historical researcher;
2 Features of artistic images in Nguyen Van Xuan's short stories;
3 Some artistic elements in Nguyen Van Xuan's short story.
Scientific and practical significance of the thesis: The thesis contributes to affirming Nguyen Van Xuan's position in the cultural life, national literature in general, and the land of Quang Nam - Da Nang in particular
In addition, the research results of the thesis can also serve as a resource for the study and study
of local culture, history and people
Further research direction of the topic: The topic can continue to be researched to expand its scope and improve it
Keywords: "The Quang Hoc", short story, Sand translation, Blood flavor, Nguyen Van Xuan
Supervior's confirmation Student
Nguyen Phong Nam Nguyen Thanh Luy
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
5 Phương pháp nghiên cứu 17
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 17
7 Bố cục luận văn 18
Chương 1 NGUYỄN VĂN XUÂN – NHÀ VĂN, NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA XỨ QUẢNG 19
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác, nghiên cứu của Nguyễn Văn Xuân 19
1.2 Nguyễn Văn Xuân với văn hóa Quảng Nam 25
1.2.1 “Chất Quảng” trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân 25
1.2.2 Đóng góp của Nguyễn Văn Xuân trên phương diện văn hoá 30
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN VĂN XUÂN 39
2.1 Đặc điểm hình tượng nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân 39
2.1.1 Người sĩ phu xứ Quảng – hình tượng nhân vật tiêu biểu trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân 39
2.1.2 Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân 47
2.2 Đặc điểm hình tượng không gian và thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân 56
2.2.1 Hình tượng không gian trong truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân 56
2.2.2 Hình tượng thời gian trong truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân 60
Tiểu kết chương 2 63
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYỄN VĂN XUÂN QUA MỘT SỐ YẾU TỐ NGHỆ THUẬT 65
3.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và kết cấu truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân 65
3.1.1 Đặc điểm cốt truyện truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân 65
3.1.2 Cách thức tổ chức hệ thống nhân vật và sự kiện trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân 69
3.2 Ngôn từ và giọng điệu nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân 71
3.2.1 Sự đa dạng của ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân 71 3.2.2 Giọng điệu nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân 76
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyễn Văn Xuân là nhà văn gắn bó đặc biệt với mảnh đất Quảng Nam Suốt
cả cuộc đời cầm bút, ông dồn hết tâm huyết để viết về đối tượng chủ yếu, quen thuộc của quê hương xứ Quảng
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Văn Xuân rất phong phú, đa dạng, bao gồm nhiều phương diện, nhiều thể loại khác nhau Tên tuổi của ông gắn liền với những
tác phẩm như Bão rừng (tiểu thuyết, 1957), Kỳ nữ họ Tống (tiểu thuyết, 2002); Khi những lưu dân trở lại (khảo luận, 1967), Phong trào Duy Tân (khảo luận, 1969), Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc (khảo luận, 1971)…
Tuy vậy, Nguyễn Văn Xuân được người đọc biết đến trước tiên là một cây bút viết truyện ngắn Những thiên truyện ngắn lần đầu được đăng báo của ông đã tạo ra sự chú ý của người đọc và cả giới cầm bút Càng về sau, sức hấp dẫn, cuốn hút từ truyện ngắn của ông càng lớn hơn Có thể coi ông là một “tác giả truyện ngắn” mang phong cách riêng
Độc giả yêu thích truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân trước hết là bởi lối văn giàu sức biểu đạt, lối kể chuyện đặc sắc Tác phẩm của ông thể hiện một cách sinh động cuộc sống của người dân xứ Quảng, những khó khăn thách thức như dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt… mà họ phải đối mặt Trong đó, hình ảnh con người xứ Quảng nói riêng và người dân Việt Nam nói chung được khắc hoạ một cách chân thật, sinh động Họ là những con người bình dị mà giàu lòng yêu nước, có khí phách anh hùng, bất khuất, kiên cường
Có thể nói truyện ngắn là bộ phận quan trọng trong di sản trứ tác của Nguyễn Văn Xuân Nó cũng góp phần làm nên sự toàn diện, đa dạng của nhà văn xét trên phương diện tư tưởng và nghệ thuật Tuy nhiên vì nhiều lý do, việc nghiên cứu, tìm hiểu về Nguyễn Văn Xuân nói chung, truyện ngắn của ông nói riêng vẫn còn hạn chế Riêng về nghệ thuật truyện ngắn, một vấn đề rất đáng chú ý đối với văn chương Nguyễn Văn Xuân thì từ trước đến nay dù đã được đề cập nhiều, thế nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trọn vẹn, đầy đủ
Trang 9Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân để nghiên cứu Việc đi sâu tìm hiểu nghệ thuật truyện ngắn ông
là để góp phần làm rõ tài năng của tác giả, đồng thời qua đó khẳng định những đóng góp quý báu của ông đối với văn học Quảng Nam nói riêng và văn học dân tộc nói chung
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nguyễn Văn Xuân là cây bút có vị trí quan trọng trong đời sống văn học nước nhà Tác phẩm của ông liên quan đến nhiều lĩnh vực như văn học, nghệ thuật, lịch sử, xã hội… Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp mang nhiều ý nghĩa Chính vì thế, cuộc đời và tác phẩm Nguyễn Văn Xuân được dư luận chú ý, trở thành đối tượng để các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu trong suốt nhiều năm qua
Tác phẩm Nguyễn Văn Xuân đã có mặt trong nhiều công trình tuyển chọn
thành tựu tiêu biểu của văn học dân tộc Chẳng hạn trong Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 33B, hai truyện ngắn Ngày giỗ cha và Ngày cuối năm trên đảo của ông được các tác giả tuyển chọn và giới thiệu Một tác phẩm khác, truyện ngắn Tiếng đồng cũng được coi là một trong 43 truyện ngắn hay, đại diện cho văn học khu vực miền trung Việt Nam (tuyển tập Văn học miền Trung thế kỷ XX, xuất bản năm
1988) Điều này cho thấy các nhà tuyển trạch, nghiên cứu qua các thời kỳ đã đánh giá cao thành tựu truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân
Đi sâu vào các sáng tác của nhà văn, trong công trình Nhìn lại một chặng đường văn học (NXB Thành Phố Hồ Chí Minh xuất bản, 2000) do Trần Hữu Tá
nghiên cứu, sưu tầm, tuyển chọn, Nguyễn Văn Xuân được giới thiệu là một nhà văn “gắn bó chặt chẽ với vùng quê Quảng Nam thân thương của ông Với sự hiểu biết sâu sắc về sử học, dân tộc học, xã hội học, ông đã làm sống lại những sự kiện vang dội mà đau xót cũng như đã khắc họa sự thành công hình ảnh những con người ưu tú của đất Quảng”[21, tr.102] Nhà nghiên cứu đánh giá Nguyễn Văn Xuân là một nhà văn có phong cách với “giọng kể đa dạng” và “chi tiết nghệ thuật khác cũng rất đáng chú ý”[21, tr.102 - 104]
Trong một bài viết khác của cùng tác giả, bài Nguyễn Văn Xuân – người khơi dậy hồn xứ Quảng, Trần Hữu Tá tiếp tục khẳng định “Nguyễn Văn Xuân là con
Trang 10dân đất Quảng Nam cả đời say mê viết về nơi chôn nhau cắt rốn, điều đó ai cũng thấy Nhưng ông đã viết với một nội lực, học thuật sung mãn, thành công trong nhiều phương diện lĩnh vực, thể loại khác nhau, khiến bất cứ ai đọc ông đều phải tâm phục khả năng “bác văn cương ký” (hiểu biết rộng, sức nhớ khỏe) của vị học
giả này Vì thế gọi là nhà Quảng học là đúng, vì bao gồm cả hai đặc điểm, hai giá
trị đó” Ông viết tiếp: “Chưa biết bao nhiêu về tác giả, nhưng mới đọc đã quý văn tài của ông: nội dung truyện đậm tính nhân văn, bút pháp già dặn, văn phong chững chạc, từ đó tôi luôn tìm đọc những sáng tạo nghệ thuật của ông thuộc giai đoạn sau năm 1954: các tập truyện ngắn, tiểu thuyết, các tập biên khảo và cả các truyện xuất hiện đều đặn trên tờ “Tin văn”, “Nguyễn Văn Xuân đã làm sống lại những sự kiện vang dội mà đau xót, cũng như đã khắc họa thành công hình ảnh người con ưu tú của đất Quảng: Tổng đốc Hoàng Diệu (truyện viên đội hầu), Thái
Phiên, Trần Cao Vân (truyện Rồi máu lên hương), các lãnh tụ Cần Vương Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến (truyện Hương máu)”
Nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá viết tiếp: “Nhìn lại sự nghiệp của Nguyễn Văn Xuân, ta không khỏi ngạc nhiên, khâm phục vì sức sáng tạo dồi dào của một học giả uyên bác đồng thời của một nhà văn tài hoa Ông đã góp phần tích cực vào việc khơi dậy cái hồn của xứ Quảng – một bộ phận hữu cơ của Việt Nam hồn”[39, tr.1 - 5]
Nhà văn Đà Linh trong Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân (nhà xuất bản Đà Nẵng
in năm 2001) đã giới thiệu về những đóng góp của ông: “Những đóng góp đầy tâm
huyết và giá trị của ông, nếu kể, còn rất nhiều cho nền học vấn nói chung, Quảng Nam học nói riêng trên các lĩnh vực: sân khấu (việc tìm ra, xác định những quyển tuồng đầu tiên của vở Sơn Hậu…); lịch sử (Đà Nẵng, Hội An, Điện Bàn, Bảo
An…), văn học (thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Phan Châu Trinh, Phan Khôi…) Trên lĩnh vực nào, từ bài báo, câu chuyện nhỏ, đến công trình lớn chúng ta đều thấy rõ dấu ấn tài năng, tâm huyết thuở nào, bởi vẫn còn đó những phát hiện, nét sáng tạo độc đáo, vẫn còn đó sự thông tuệ Trên hết là tấm lòng và nhân cách người cầm bút, người ấy ra đi từ một ngôi làng trên quê hương đất Quảng có tên
thầy Nguyễn Văn Xuân”[29, tr.315]
Trong Từ điển văn học (xuất bản năm 2004), Bùi Thị Thiên Thai đã giới
Trang 11thiệu về Nguyễn Văn Xuân: “Hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân đều thể hiện một vốn kiến văn sâu rộng, một giọng văn giản dị hồn hậu, đậm đặc chất Quảng Nam, và đặc biệt, một tấm lòng yêu thương tha thiết đối với quê hương Quảng Nam”[22, tr.1226]
Nhà thơ Thanh Thảo trong bài Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Văn Xuân thì nhận định về truyện ngắn Tiếng đồng như sau: “Nếu con người có hai lỗ tai để nghe, thì
Nguyễn Văn Xuân có một lỗ tai của nhà văn và một lỗ tai của nhà sử học Cả hai đều tinh tường, tinh tế, đều rất “biết nghe” Biết nghe và biết lọc Biết lọc và biết chế tác Như người thợ đúc đồng quê ông biết chế tác những chiếc chiêng mà tiếng ngân u trầm của chúng như còn đọng mãi trong những vòm cây ngọn suối” [Dẫn theo, 33]
Bài viết của Nguyễn Quí Đại đã trích dẫn hồi ký của nhà văn Nguyễn Hiến
Lê nhận xét về Nguyễn Văn Xuân: “ông Nguyễn Văn Xuân quê ở Quảng Nam, lần đầu tiên gặp ông, thấy ông phảng phất có vài nét của cụ Phan Sào Nam Ông viết nhiều truyện dài, truyện ngắn ông có tinh thần quốc gia, khảo về phong trào Duy Tân ở Trung có một số tập truyện về nhà Nho, kháng Pháp”
Tác giả An Huỳnh trong bài Tìm hiểu về tập truyện Hương máu đã viết: “Về nghệ thuật ngôn ngữ trong tập truyện Hương máu đậm chất đời thường, mộc mạc,
sử dụng nhiều từ địa phương mang tính giản dị, bình dân, phương ngữ Nam và Trung bộ”[34] Tác giả khẳng định, “những đề tài mà tác giả đề cập đến trong từng truyện cũng không nằm ngoài dòng chảy của văn học yêu nước lúc bấy giờ Tập truyện viết về những cái chết anh hùng, sự hi sinh cao quý, hiên ngang bất khuất, của con người Quảng Nam Nguyễn Văn Xuân đã tái hiện lại những nhân vật làm rạng danh vùng đất Quảng Nam như: Hoàng Diệu, Thái Phiên, Trần Cao Vân, các lãnh tụ Cần vương như Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến…Những cái chết bất tử, gieo vào lòng độc giả bao nỗi xót thương và đầy kính trọng Đi sâu vào tìm hiểu tập truyện để thấy được những giá trị nội dung và nghệ thuật quý báu mà nhà văn
đã đóng góp cho nền văn học nước nhà Đó là sự tiếp nối truyền thống, khẳng định
tư tưởng yêu nước, tinh thần tự cường dân tộc luôn là nguồn mạch chính của văn học Việt Nam”[34]
Về giá trị nghệ thuật, tác giả bài báo cũng khẳng định tập truyện ngắn Hương
Trang 12Máu “là một tập truyện có giá trị nghệ thuật vừa chứa đựng một số tình tiết lịch sử
trong giai đoạn người Pháp mở đầu cuộc xung đột với các vua nhà Nguyễn, trước khi áp đặt chế độ cai trị trên toàn cõi Việt Nam Đây không phải là những mẩu chuyện thuộc loại dã sử mà cốt truyện dựa vào lịch sử Về nghệ thuật ngôn ngữ
trong tập truyện Hương Máu đậm chất đời thường, mộc mạc, sử dụng nhiều từ địa phương mang tính giản dị, bình dân, phương ngữ Nam và Trung Bộ: chớ, ngó bộ, bịnh, thiệt, việc chi rứa?, chi mô, làm răng… Tình huống truyện bất ngờ và độc
đáo, thường được thể hiện ở cuối truyện Nghệ thuật hư cấu cũng được tác giả sử dụng trong tập truyện: “với chú Thu này thì dù có sắt cây, chú bẻ cũng cứ là gãy
hết nghiến” (Thằng Thu), hay trong cảnh xử chém nhân vật Thu thì chém ba nhát
đầu vẫn không lìa khỏi cổ Nghệ thuật trần thuật được Nguyễn Văn Xuân xây dựng qua hình tượng người kể chuyện xưng “tôi”[34]
Tác giả Luân Hoán trong bài Nguyễn Văn Xuân từ Bão rừng đến bão con voi
đã viết: “Mục đích của nhà văn Nguyễn Văn Xuân khi viết Dịch Cát có lẽ để làm
sáng lên những mẫu đời thường của con dân đất Quảng Nam Trong đó sự nghèo đói, bệnh tật cùng những khốn khổ, nhục nhằn đến từ thiên tai, từ giới chức chính quyền, được ông vẽ ra một cách trung thực, không cường điệu Đến với tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân là thở hít với từng nhân vật linh hoạt của ông, dù trong bất
cứ vai nào Đọc văn ông để gần gũi, thương xót những con người chưa hề xa lạ với chúng ta Nguyễn Văn Xuân có nét vẽ nhân dạng rất sắc nét Vẽ tâm trạng, Nguyễn
Văn Xuân cũng rất giàu hoa tay; Hương máu là tập truyện vừa có giá trị nghệ thuật
vừa chứa đựng một số tình tiết lịch sử trong giai đoạn người Pháp mở đầu cuộc xung đột với các nhà vua Nguyễn, trước khi áp đặt chế độ cai trị trên toàn cõi Việt Nam” [35]
Cũng trong bài viết trên, tác giả nhận xét về tập truyện Dịch cát khá cụ thể:
“Tác phẩm gồm 9 truyện: Cây Đa Đồn Cũ (27 trang), Buổi Tắm Tất Niên (8 trang), Dịch Cát (8 trang), Một Cuộc Tấn Công (8 trang), Xóm Mới (27 trang), Con “Hiện Sinh” (16 trang), Tiếng Đồng (27 trang), Chạy Đua Với Tử Thần (37 trang) Mỗi
một truyện có sức hấp dẫn riêng, thu hút người đọc bằng những tình tiết bất ngờ,
có cả những nét bạo lực lẫn nhân bản”[35]
Người viết cho rằng: Mục đích chính của nhà văn Nguyễn Văn Xuân khi viết
Trang 13Dịch Cát, có lẽ để làm sáng lên những mẩu đời thường của con dân đất Quảng
Nam Trong đó sự nghèo đói, bệnh tật cùng những khốn khổ, nhọc nhằn đến từ thiên tai, từ giới chức chính quyền, được ông vẽ ra một cách trung trực, không cường điệu Những nhân vật như Lão Cửu, bà Cửu, ông Tham Ích (trong truyện
Buổi Tắm Tất Niên), Trùm Lựu, thầy phù thủy, chị Sinh, đám dân chài (trong truyện Dịch Cát), anh Tú, bà Quì, bà Duật, bà Phiến, bà Lựu, Thân, con Liễu, Ông Phiến, ông Hương Là…(trong Xóm Mới) cùng nhiều nhân vật khác hiện diện trong các truyện Một Cuộc Tấn Công, Con “Hiện Sinh”, Tiếng Đồng, đều là những
nhân vật hư cấu nhưng đại diện một cách trung trực cho những mẫu người sống thực ngoài xã hội đương thời Cái mê thuốc phiện, thuốc bách-tô của lão Cửu, cái
mê tiền của ông Hương Là, cùng cái mê gái của một ông lão trong Xóm Mới là
những chuyện bình thường Những cảnh đời được dựng lên với đầy đủ những dáng
vẻ hiện thực của một cuộc sống nông thôn còn vô cùng lạc hậu Đến với tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân là thở hít với từng nhân vật linh hoạt của ông, dù trong bất
cứ vai nào Đọc văn ông để gần gũi, thương xót những con người chưa hề xa lạ với chúng ta Nguyễn Văn Xuân có nét vẽ nhân dạng rất sắc nét
Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài Nguyễn Văn Xuân – Nhà văn, nhà văn hóa, học giả lớn và độc đáo của xứ Quảng viết: "Những người đọc kỹ Nguyễn Văn
Xuân thường có băn khoăn: Vậy ông thật sự là ai? Nhà văn, học giả, nhà nghiên cứu, nhà văn hóa, nhà báo, nhà “Quảng Nam học”? Riêng tôi muốn nói điều này: Ông là tất cả những “Nhà” vừa nói trên, cộng lại, nhân lên, nhuần nhuyễn hầu như không thể tách rời Hoặc cũng có thể tự ông cũng không phân biệt những “Nhà” đều đầy ấn tượng ấy trong chính mình Đọc các tiểu thuyết, truyện ngắn của ông, thấy rõ sự uyên thâm của một học giả toàn diện, cực kỳ giàu vốn sống, vừa xông xáo mạnh mẽ trong suy tưởng, vừa tinh vi, tinh tế và đầy mẫn cảm Đọc các công trình nghiên cứu của ông lại hấp dẫn như tiểu thuyết say mê và rất nhiều khi cả lãng mạn nữa Chẳng hạn như cuốn "Phong trào Duy Tân" và "Khi những lưu dân trở lại" Nếu chỉ tính riêng hai tác phẩm nghiên cứu này thôi, Nguyễn Văn Xuân cũng đã xứng đáng có một vị trí thật đáng trân trọng trong những nhà văn hóa đặc sắc nhất của chúng ta ở thế kỷ qua”[29 tr.317, 318]
Trong bài Nhà văn hóa Nguyễn Văn Xuân, tác giả Lê Văn Nghệ viết: “Ông
Trang 14đã viết về các nhân vật này bằng tất cả sự ngưỡng mộ và cũng là một cách bộc lộ quan điểm chính trị Tuy viết theo kiểu “xanh vỏ đỏ lòng” nhưng nó đã có tác dụng
cổ vũ tinh thần yêu nước Ở đó, cái chết của những nhân vật anh hùng đã gây cảm xúc mạnh mẽ ở người đọc bởi câu văn sắc lạnh, ẩn đằng sau là nỗi đau, là những giọt nước mắt mà tác giả nén lại”[36]
Hồ Sỹ Bình trong bài Nguyễn Văn Xuân – con người và tác phẩm, thì cho rằng “Tập truyện ngắn Dịch cát xuất bản năm 1966 tập hợp những truyện ngắn đặc
sắc trong khoảng 10 năm (1956-1966), phản ánh cuộc sống của những người dân bình thường vật vã mưu sinh, chống chọi với tai ương, dịch bệnh Tập truyện ký
Hương máu (1969) viết về những cái chết bi hùng của những nhân vật lịch sử của
Quảng Nam như Hoàng Diệu, Thái Phiên, Hường Hiệu, Trần Cao Vân… gây được
ấn tượng lớn trong lòng bạn đọc của nhiều thế hệ bởi những chi tiết, hình ảnh được miêu tả đầy xúc động Những giây phút cuối cùng của Hoàng Diệu trước khi ra Võ Miếu để tuẫn tiết; hình ảnh người vợ của Thái Phiên quấn máu hồng trong tóc trước khi chết Những tử tù thời Pháp thuộc về làm lễ ở đình chùa và đi qua đám dân làng bái vọng… Người đọc tìm thấy ở những trang viết những giọt nước mắt thương đau, nhân ái nhưng vẫn đầy hào khí tự hào về những nhân vật lịch sử mà trước cái chết thể hiện khí phách của một vị anh hùng”[5 tr.489]
Tác giả Trần Trung Sáng trong bài Nhà văn Nguyễn Văn Xuân – Trang sách
và trang đời đưa ra nhận định: “Có thể nói về số lượng tác phẩm của Nguyễn Văn
Xuân không nhiều lắm, nhưng hầu như mỗi tựa sách của ông đều là một công trình đặc sắc, ấn tượng Những sáng tác văn học của ông luôn làm gợi nhớ đến con người, tập quán, thiên nhiên của vùng đất Quảng Nam mà ông vô cùng tâm huyết
Các công trình biên khảo như Khi những lưu dân trở lại, Phong trào Duy Tân
được thực hiện hết sức công phu, sáng tạo, làm sống lại những giai đoạn lịch sử đất nước của Quảng Nam và cả nước, cũng như sự dịch chuyển tiếp biến, tác động qua các vùng miền trong mọi lĩnh vực xã hội”[17 tr 493,494]
Nguyễn Hữu Hồng Minh trong bài Paris, một thoáng Nguyễn Văn Xuân viết:
“Nguyễn Văn Xuân có nhiều tác phẩm gắn chặt với dư địa chí, đất và người Quảng Nam Điều này lớn lao đến nỗi khi nghiên cứu về Quảng Nam không thể không nhắc đến ông Cũng thế, có bao nhiêu người Quảng Nam “lưu dân” trên quả địa
Trang 15cầu này đều mơ “trở lại” quê nhà và nhớ đến trang viết ông Cái chất Quảng ấy lạ lùng lắm Không chỉ vương trên giọng nói, sôi sục trong máu mà còn hừng hực
trên trang viết Vì thế những cuốn Hương máu, Khi những lưu dân trở lại, Phong trào Duy Tân, Kỳ nữ họ Tống … của ông bây giờ vẫn còn được in đi in lại nhiều
lần ở hải ngoại nhằm đáp ứng nhu cầu của người viễn xứ.”[29 tr 373]
Nhà nghiên cứu Dương Trung Quốc trong bài Nguyễn Văn Xuân – Một người Quảng Nam viết: “Cũng bằng giọng điệu đặc chất Quảng (gay gắt nhưng tha thiết
hơn người) ông cho việc mình làm là góp phần đừng lãng quên những gì xứ Quảng
đã đóng góp cho dân tộc suốt những thế kỷ qua vì sự lãng quên ấy là có tội với tiền nhân và dân tộc Ông tự ví mình làm giống như một người con hiếu thảo chăm lo cho hương khói cho tổ tiên xứ sở của mình vậy Là người từng gắn bó tham gia nhiều công việc với các đồng nghiệp xứ Quảng của ông, tôi cũng cảm nhận được một điều: Một cuộc hội hảo, một tập kỷ yếu viết về lịch sử và văn hóa xứ Quảng
mà vắng ông, mọi người đều cảm thấy một cái gì không trọn vẹn, một khoảng trống… Nguyễn Văn Xuân là người học rộng lại chuyên viết về xứ Quảng nên gọi
ông là nhà Quảng học hiểu theo nghĩa nào của chữ cũng đều đúng cả”.[29 tr 339] Nhà nghiên cứu Phong Lê trong bài viết Bất ngờ - Một sự nghiệp viết xứng danh nhà văn - học giả Nguyễn Văn Xuân đánh giá rất cao sự đóng góp rất lớn của
Nguyễn Văn Xuân cho đất Quảng nói riêng và dân tộc nói chung Ông viết: “Ngót
70 năm gắn bó với quê hương xứ Quảng và miệt mài trên những trang văn về xứ Quảng, tôi nghĩ Nguyễn Văn Xuân là một tấm gương yêu nước lớn, trong những đóng góp thầm lặng của nghề nghiệp ở một trí thức chân chính thế kỷ XX Trước năm 1975 ông đã là thế Và sau năm 1975 ông cũng như thế Trong bối cảnh toàn cầu hóa hôm nay cần biết bao, nếu có thể được, mỗi vùng miền có được một Nguyễn Văn Xuân của mình để cho tình yêu nước có được gốc rễ bám sâu vào đất, khiến cho hội nhập mà không hòa tan Nếu chưa có, cần tạo điều kiện cho có Nếu
đã có cần trân trọng phát huy để trở thành của cải chung của dân tộc”[11, tr 13]
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong bài Về tác gia Nguyễn Văn Xuân viết:
“Tôi tin rằng những sáng tác, trước tác của nhà văn, học giả Nguyễn Văn Xuân, cả những tác phẩm được ông viết kỹ lưỡng, cả những tác phẩm biên khảo chín chắn lẫn những tác phẩm mà ông còn chưa đủ thời gian để hoàn thiện, cả những ghi
Trang 16chép mang tính chất phác thảo dưới tay bút ông, đều là những di sản quý có ích cho chúng ta, cho hậu thế Trong di sản đó chứa đựng nhiều tình yêu đối với con người và xứ sở mình, chứa đựng rất nhiều tài liệu, dữ liệu về lịch sử, văn hóa, con người xứ Quảng, của Đàng Trong, của đất Việt và người Việt chúng ta”[4, tr 56] Lại Nguyên Ân còn có một nhận xét khác rất đáng chú ý về nhà văn Nguyễn Văn Xuân Tác giả cho rằng Nguyễn Văn Xuân là nhà văn “phong tục – lịch sử”
Trong các truyện của tập Dịch cát và Hương máu, ngòi bút Nguyễn Văn Xuân chủ
yếu tập trung vào đề tài quá khứ “Có thể nói ngòi bút Nguyễn Văn Xuân rất thuần thục trong phác vẽ những mảng đời sống người Việt, nhất là con người miền Nam, người xứ Quảng tại những lát cắt thời gian khác nhau, dù là đương thời tác giả hay thuộc một thời đã xa, thời các Chúa Nguyễn 1558 – 1802, thời phong trào Cần Vương 1858 – 1916, v.v Trong văn xuôi hư cấu, ông vẫn tự thể hiện như một tác gia phong tục – lịch sử thuần thục”[4, tr 34]
Thái Bá Lợi trong bài Vĩnh biệt học giả Nguyễn Văn Xuân: Chỉ còn gặp lại trong di sản viết “Trong cuộc đời lao động sáng tạo theo kiểu khổ sai của ông, tôi
nghĩ những mong muốn lớn nhất của mình ông đã làm xong Với khối lượng trước tác hàng ngàn trang, những điều cần gửi gắm ông đã gửi gắm được Còn xã hội đã đối xử công bằng với ông chưa thì đó là câu hỏi đặt ra cho chúng ta, những người từng đọc ông, từng yêu quí ông, từng chia sẻ với ông” Ông viết tiếp “Một bậc hiền triết từng nói con người từ hư không đến rồi trở về hư không Thì ông cũng đã trở
về hư không rồi đó sao? Nhưng sẽ có lúc nào đó trên con đường đời gập ghềnh này, trong một cảnh huống trắc trở, ta sẽ gặp lại ông trong những di sản mà ông để lại; rồi từ đó, ta sẽ tìm ra cách riêng cho mình để chống chọi với hoàn cảnh mà ông từng chống chọi” [49, tr 2]
Tác giả Phạm Phú Phong trong bài báo “Nhà văn Nguyễn Văn Xuân” đăng
trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 4 năm 2012, có nhiều nhận định đáng lưu ý
Về con người trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, Phạm Phú Phong đánh giá:
“con người trong ông, ngoại trừ tầng lớp lao động nghèo, dường như chỉ có hai đối tượng thu hút bút lực của ông là anh hùng và thuyền quyên Những con người đời thường là những thân phận nhỏ bé, bèo bọt trong đời sống Anh hùng trong ông không phải vì những hành động hảo hán mà vì họ là những nhân vật được lịch sử
Trang 17trân trọng như Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thành, v.v Còn thuyền quyên cũng không hẳn là người chỉ có nhan sắc, những mĩ nhân mà kèm theo đó là cả tài và tình” [15, tr 98 - 99]
Đề cập đến nghệ thuật truyện ngắn, tác giả Phạm Phú Phong cho rằng Nguyễn Văn Xuân tập trung vào khai thác khoảnh khắc của con người lúc cận kề cái chết: “dường như ông chỉ nhìn thấy vẻ đẹp của con người lúc sắp từ giã cuộc đời, mà chủ yếu là những người anh hùng như Hoàng Diệu, Nguyễn Duy Hiệu,
Phan Bá Phiến, Thái Phiên, Trần Cao Vân, v.v ”; “Nếu với Hương máu là tập đại thành về những cái chết lẫm liệt, thì với Dịch cát, ông chỉ ra sự vật lộn của con
người trước cái chết để dành lại sự sống nhưng cuối cùng vẫn là sự tuyệt vọng Ngòi bút của ông ở tập truyện này dường như lia rất chậm, với những thước phim quay rất cận cảnh Vì thế, đời sống nội tâm của nhân vật hiện lên hết sức phức tạp trong cái ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết”[15, tr 99] Tác giả bài báo cũng đánh giá tính chất năng động và chọn lọc trong cách Nguyễn Văn Xuân lựa chọn chi tiết và miêu tả không gian, thời gian, v.v
Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy cũng đánh giá rất cao sáng tác của Nguyễn Văn Xuân Về thế giới sáng tạo của Nguyễn Văn Xuân, tác giả nhận định: “Ước mơ của Nguyễn Văn Xuân là trở thành một văn hào Thuở ấy tác phẩm của các nhà văn chủ yếu là đăng báo, theo phương châm lấy ngắn nuôi dài, thậm chí không chỉ truyện ngắn mà cả tiểu thuyết cũng đăng nhiều kỳ Như vậy, Nguyễn Văn
Xuân là nhà báo văn học Viết báo, viết văn với ông vừa thể hiện được cá tính,
bản lĩnh của mình, được trở thành chính mình, tức sự phát triển đầy đủ ý thức cá nhân, nhất là tự ý thức; vừa bày tỏ được lòng yêu nước của một người dân mất nước, đồng thời đi tìm nguyên nhân vong quốc không chỉ ở các điều kiện bên ngoài, mà quan trọng hơn, ở nguyên nhân bên trong, ở căn cước tộc người hình thành qua lịch sử Do đó, Nguyễn Văn Xuân, bằng trực giác nghệ sĩ của mình, sáng tác để làm rõ lịch sử, đồng thời cũng nghiên cứu, diễn giải lịch sử để lấy cảm hứng, tư liệu cho sáng tác Đối tượng của sáng tác và nghiên cứu của ông là một Đó là con người Việt Nam, nhất là con người đất Quảng Bởi vậy, nhà nghiên cứu và nhà sáng tác, nhà khoa học và nhà nghệ thuật, trí tuệ và tình cảm ở/của Nguyễn Văn Xuân hòa quyện vào nhau, thành một khối toàn bích”[46]
Trang 18Năm 2020, bộ sách Nguyễn Văn Xuân toàn tập ra đời, đánh dấu cột mốc quan
trọng trong quá trình nghiên cứu về tác gia Nguyễn Văn Xuân Sách được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành Đây là công trình tập hợp đầy đủ nhất sáng tác của nhà văn, tính đến thời điểm này Một bộ sách đồ sộ, gồm 7 tập, hơn 3.700 trang khổ lớn Chính nhờ ấn phẩm này mà độc giả có điều kiện tiếp xúc một cách toàn diện về di sản của nhà văn Qua đó, nói như nhà văn Nguyên Ngọc, có thể nhận ra
vị trí “một trong những tượng đài văn hóa của xứ Quảng, trân trọng góp cùng văn học và văn hóa dân tộc”[11, tr 6] Và đặc biệt, di sản mà Nguyễn Văn Xuân để lại không chỉ là “di sản chữ” mà còn là “di sản người” (chữ dùng của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều)
Trong phần viết về Nguyễn Văn Xuân (in trong sách này), Phong Lê đặc biệt
đề cao nhân cách của nhà văn: “Ở khía cạnh này, tôi đặc biệt tâm đắc về nhân cách văn hóa, sự lựa chọn của ông khi ở lại quê hương, sự lựa chọn của một trí thức tự
do và đã cống hiến một cách xuất sắc cho xứ Quảng, cũng là cho đất nước (…) Tôi nghĩ Nguyễn Văn Xuân là một tấm gương yêu nước lớn, trong những đóng
góp thầm lặng của nghề nghiệp ở một trí thức chân chính thế kỷ XX [11, tr 13] Tác giả cho rằng Nguyễn Văn Xuân vừa thừa hưởng được từ quê hương mình
không khí văn hóa của tân thư, duy tân thời cận đại, đồng thời và quan trọng hơn, ông là tấm gương tự học, tự rèn luyện và bồi dưỡng không ngừng nghỉ Cá tính Nguyễn Văn Xuân thuộc những nét nghiêng về tự do tự chủ, làm việc độc lập, không chịu bó buộc trong khuôn khổ
Gần đây nhất, tác giả Vũ Đình Anh đã công bố cuốn Nguyễn Văn Xuân, những tìm tòi và diễn giải lịch sử (2021) Trong tập sách này, tác giả đã tập hợp
một số bài viết liên quan đến truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân như: Cảm thức lịch
sử trong truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân; Đọc lại tập truyện Dịch cát của
Nguyễn Văn Xuân trong những ngày cả nước chung sức chống đại dịch; Đọc
truyện ngắn Dịch cát của Nguyễn Văn Xuân trong những ngày Đà Nẵng chống đại dịch covid-19; Ba truyện ngắn viết về tết trước năm 1945 của Nguyễn Văn Xuân; Lão thầy bói - một truyện ngắn đặc sắc trước năm 1945 của Nguyễn Văn Xuân; Bão lũ
khắc nghiệt tôi luyện bản lĩnh con người xứ Quảng trong truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân…
Trang 19Trong tập sách vừa nêu, Vũ Đình Anh đánh giá rất cao nghệ thuật truyện ngắn, nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Văn Xuân Về mảng truyện khai thác giá trị lịch sử, văn hóa, tác giả cho rằng: “nhóm truyện lấy đề tài lịch sử của Nguyễn Văn Xuân là truyện ngắn hiện đại Dù rằng ông có đề cập tới các nhân vật với
nhiều tình tiết có thật trong lịch sử quê hương, đất nước, song tập truyện Hương máu mang rõ các đặc trưng thuộc thể loại truyện ngắn hiện đại Đó là những truyện
có dung lượng ngắn, là một lát cắt trong cuộc đời nhân vật với cốt truyện hoàn chỉnh Các tác phẩm tái hiện hiện thực trong một thời gian và không gian cô đọng, chú trọng thể hiện nhân vật trong một tình huống đặc biệt Qua những tình tiết hấp dẫn với nhiều yếu tố hư cấu để làm nổi bật tính cách, số phận, suy tư, cảm xúc của các nhân vật và có nhiều đoạn bộc lộ những cảm xúc trữ tình của tác giả ”[1, tr 191,192]
Nghiên cứu các truyện ngắn trước năm 1945, Vũ Đình Anh chú ý đến các
truyện viết về tết của Nguyễn Văn Xuân Tác giả cho rằng “truyện ngắn viết về Tết
từ trước năm 1945 của Nguyễn Văn Xuân, nay đọc lại chúng ta vẫn thấy có nhiều điều mới mẻ, độc đáo, đáng suy ngẫm Những tâm trạng, những cảnh đời, những
số phận chưa có được niềm vui trọn vẹn trong ngày Tết như nhân vật Tôi, như Dư, như Nguyện… chắc hẳn không chỉ có ở giai đoạn trước khi Cách mạng tháng Tám
Ba truyện ngắn đã đi sâu phân tích tâm lý của nhân vật trong thời khắc quan trọng của năm là Tết, thế nhưng nhà văn thể hiện cái nhìn rất độc đáo và ấn tượng Vượt lên tất cả, đó là một tâm hồn giàu cảm xúc, thể hiện sự thấu hiểu, cảm thông với những cảnh đời, số phận không may mắn… của nhà văn Nguyễn Văn Xuân”[1, tr 267,268]
Theo tác giả, có một nét độc đáo trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân là việc
tác giả rất hay nói đến cái chết; lấy đó để làm nổi bật, bộc lộ ý nghĩa cũng như ý đồ
nghệ thuật của mình Vũ Đình Anh nhận định: “Ở đây, Nguyễn Văn Xuân đã chọn một lát cắt rất đặc biệt trong cuộc đời của các nhân vật đó là tình huống trước cái chết Mỗi nhân vật có một bối cảnh riêng, một hoàn cảnh riêng rất đặc biệt dẫn đến cái chết, song qua đó mà thể hiện bản lĩnh, phẩm chất, khí phách, tâm hồn của mình Mục đích của nhà văn là thông qua những con người có thật trong lịch sử để tác động đến tư tưởng, tình cảm người đọc, hướng tới sự lựa chọn một lẽ sống phù
Trang 20hợp với hiện tại hôm nay Điều này được thể hiện rõ trong lời bạt của tập truyện:
“Chết cho biết chết sẽ chỉ dành cho những ai sống một cuộc đời đáng sống Mà tất
cả chúng ta có thật ai ai và bao giờ cũng sống cuộc đời đáng sống hay không”[1, tr 192] Đây cũng là những nhận xét, gợi ý quan trọng cho chúng tôi, tạo điều kiện có thêm nhiều cái nhìn trong việc khảo sát, phân tích đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân
Phan Thị Thu Hồng, trong luận văn “Đặc điểm tiểu thuyết, truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân giai đoạn 1954-1975”, đi vào khai thác, phân tích nhiều khía cạnh, từ đó khẳng định sức sáng tạo nghệ thuật truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Văn Xuân
Tác giả luận văn đã đặt Nguyễn Văn Xuân trong bối cảnh giai đoạn văn học
1954 – 1975, trong không gian văn hóa xứ Quảng, đặc biệt là với bối cảnh văn học
đô thị miền Nam để từ đó nhấn mạnh những đóng góp quan trọng của nhà văn Tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân tiêu biểu cho văn học yêu nước đoạn này Phan Thị Thu Hồng đã chỉ ra những cảm hứng chủ yếu trong thế giới tiểu thuyết và truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân như “cảm hứng khám phá vùng đất; thiên nhiên khắc nghiệt dữ dội; vùng đất của tiếp biến văn hóa”; “cảm hứng ngợi ca tính cách, phẩm chất con người xứ Quảng: những con người cần cù, dũng cảm kiếm sống, sinh tồn trên vùng quê nghèo khó; những con người yêu nước nồng nàn, những con người cứng cỏi ngang tàng; cởi mở, thẳng thắn; nhân hậu, đa cảm đa tình”; “cảm hứng tố cáo phê phán về tội ác chính trị, về ách áp bức bóc lột, thủ đoạn xâm lăng văn hóa, v.v.”
Cũng trong luận văn này, khi nói về nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân, Phan Thị Thu Hồng chỉ ra và lí giải các khía cạnh như chất hiện thực trong nội dung và miêu tả nhân vật, xây dựng chi tiết Truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân giàu chất kí; nhân vật và sự kiện thường ít nhiều liên quan đến những sự thật trong lịch sử Nguyễn Văn Xuân tạo được những cốt truyện giàu kịch tính, tình huống truyện đặc biệt và kết thúc bất ngờ Về ngôn ngữ, đáng chú ý là việc “sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày”, “vận dụng phương ngôn”, “vận dụng thành ngữ” một cách linh hoạt và đa dạng “Về phương diện nghệ thuật chúng ta có thể thấy Nguyễn Văn Xuân đã cho người đọc tiếp cận với lối văn giản
Trang 21dị mà mực thước, thâm trầm Từ nhân vật đến sự kiện, từ không gian đến thời gian,
từ ngôn ngữ đến tình tiết…tất cả đều toát lên tính hiện thực của tác phẩm Hiện thực, cụ thể mà không vụn vặt, nhàm chán, đơn điệu; tầm khái quát làm cho những chi tiết về hiện thực trở nên sinh động và mang trong nó tính hàm súc cần thiết của văn chương Chất hiện thực đã khiến cho sáng tác của Nguyễn Văn Xuân khi viết
về những cái chết của người đất Quảng mang đậm tính chất của ký - lịch sử Nhà văn như một thư ký ghi chép trung thành những biến động lịch sử xã hội ở một vùng đất, nơi mà ông đã may mắn sớm được thụ hưởng những mạch nguồn giá trị lịch sử - văn hóa truyền thống của một vùng địa linh nhân kiệt [10, tr 161]
Đánh giá chung về Nguyễn Văn Xuân, Phan Thị Thu Hồng cho rằng Nguyễn Văn Xuân là nhà văn sáng tác không nhiều nhưng mỗi trang viết của ông đều để lại
ấn tượng sâu sắc cho người đọc về vùng đất và con người xứ Quảng Nguyễn Văn Xuân là “nhà văn của một ngôi làng”, là “một con người từ một ngôi làng”, chính
vì thế, hơn ai hết, nhà văn hiểu rõ những con người từ những ngôi làng ấy và đã dựng lên bức chân dung về họ”[10, tr 160 -161]
Tác giả Trương Thị Thủy, trong luận văn “Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Văn Xuân” (năm 2012), đã tiến hành khảo sát các tiểu thuyết và các truyện ngắn của nhà văn Ngoài phần nói về cuộc đời, quan niệm nghệ thuật và sự nghiệp sáng tác, tác giả luận văn tập trung chứng minh “con người đa tài”, “nhà văn xứ Quảng” của nhà văn Trương Thị Thủy cho rằng Nguyễn Văn Xuân “rất thành công ở những
sáng tác văn xuôi mà đặc biệt là tiểu thuyết Bão rừng, Kì nữ họ Tống và hai tập truyện ngắn Dịch cát, Hương máu” Với tập truyện Dịch cát, tác giả cho rằng “Có thể thấy, tập truyện Dịch cát là những câu chuyện rất chân thực, sống động về cuộc
sống và con người của vùng đất xứ Quảng một thời Tác phẩm làm sáng lên những mẩu đời thường của con dân đất Quảng Nam Sự nghèo đói, bệnh tật cùng những khốn khổ, nhục nhằn đến từ thiên tai, từ giới chức chính quyền được ông vẽ ra một cách trung trực, không cường điệu Những cảnh đời được dựng lên với đầy đủ những dáng vẻ hiện thực của một cuộc sống nông thôn còn vô cùng lạc hậu”[24, tr 31]
Đi sâu vào thể loại truyện ngắn, tác giả cho rằng tập Hương máu “là tập
truyện viết về những cái chết “khiêm tốn của những con người ở miền xương xẩu
Trang 22của đất nước Việt Nam” Sự từ giã cõi đời của họ dưới mắt nhà văn đều có những nét cần ghi lại Tác phẩm vừa có giá trị nghệ thuật vừa chứa đựng một số tình tiết lịch sử trong giai đoạn người Pháp mở đầu cuộc xung đột với các vua nhà Nguyễn, trước khi áp đặt chế độ cai trị trên toàn cõi Việt Nam”[37, tr 34] Các hình tượng làm nên chân dung cuộc sống trong văn xuôi Nguyễn Văn Xuân được tác giả luận văn phân tích làm rõ, như “hình tượng nhân vật nữ”, “hình tượng người dân quê”,
“người sĩ phu xứ Quảng”, “làng cảnh xứ Quảng”, “phong vị văn hóa xứ Quảng”
Luận văn đã đề cập đến các yếu tố nghệ thuật cụ thể trong Hương máu: “cốt
truyện giàu kịch tính, hiện thực và gần gũi với cuộc sống”, “kết cấu trần thuật linh hoạt đa dạng”, có nét riêng về “giọng điệu trần thuật”, ngôn từ đậm chất xứ Quảng, v.v Tác giả viết: “Về phương diện nghệ thuật, chúng ta có thể thấy Nguyễn Văn Xuân đã cho người đọc tiếp cận với lối văn giản dị mà mực thước, thâm trầm Từ nhân vật đến sự kiện, từ không gian đến thời gian, từ ngôn ngữ đến tình tiết, tất cả đều toát lên tính hiện thực của tác phẩm Hiện thực, cụ thể mà không vụn vặt, nhàm chán, đơn điệu; tầm khái quát làm cho những chi tiết về hiện thực trở nên sinh động và mang trong nó tính hàm súc cần thiết của văn chương Chất hiện thực
đã khiến cho sáng tác văn xuôi của Nguyễn Văn Xuân khi viết về những cái chết của người đất Quảng mang đậm tính chất của ký Nhà văn như một thư ký ghi chép trung thành những biến động lịch sử xã hội ở một vùng đất, nơi mà ông đã may mắn sớm được thụ hưởng những mạch nguồn giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống của một vùng địa linh nhân kiệt[24, tr 105-106]
Nhìn chung lại, những công trình nghiên cứu, những bài viết, những luận văn
mà chúng tôi vừa đề cập trên đều khẳng định Nguyễn Văn Xuân là một nhà văn lớn Sự nghiệp sáng tác của ông, những đóng góp của ông đối với nền văn học Việt Nam là rất đáng quý Ông xứng đáng có một vị thế quan trọng trong đời sống văn học dân tộc
Tuy vậy, về những giá trị nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân, những khía cạnh về nhân vật, biến cố, những đặc điểm về hình tượng nghệ thuật trong truyện ngắn, v.v vẫn còn nhiều điểm cần tiếp tục được phát hiện, tìm hiểu thêm Khoảng trống trong việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá về văn xuôi Nguyễn Văn Xuân nói chung, nghệ thuật truyện ngắn nói riêng vẫn rất lớn
Trang 23Việc nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về thế giới hình tượng nghệ thuật (như hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, biểu tượng, cốt truyện, kết cấu, ngôn từ và giọng điệu…) trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân vẫn rất cần thiết, hữu ích Vì qua đó, càng làm rõ hơn những giá trị đích thực, độc đáo mà ông
đã đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại
3 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân, mục đích
nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này là nhằm khảo sát, đánh giá để tìm ra nét đặc sắc cả về nội dung và hình thức nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân Từ đấy khẳng định những đóng góp quan trọng của Nguyễn Văn Xuân cho đời sống văn học dân tộc nói riêng; văn hóa Việt Nam nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân trong
các tập truyện ngắn “Dịch cát” (1966), “Hương máu” (1969) và một số truyện ngắn khác Các tác phẩm này được lấy từ Nguyễn Văn Xuân toàn tập – Tập 1 Truyện ngắn (NXB Đà Nẵng, 2020) Cụ thể:
Tập truyện ngắn Dịch cát được sáng tác trong vòng 10 năm, tính từ 1956 đến
1966 Tác phẩm gồm 8 truyện: Cây đa đồn cũ, Buổi tắm tất niên, Dịch cát, Một cuộc tấn công, Xóm Mới, Con “hiện sinh”, Tiếng đồng, Chạy đua với tử thần Mỗi
một truyện có sức hấp dẫn riêng, thu hút người đọc
Tập Hương máu (1969) gồm 7 truyện ngắn: Hương máu, Viên đội hầu, Thằng Thu, Về làng, Cái giỏ, Chiếc cáng điều, Rồi máu lên hương
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn khảo sát, tìm hiểu thêm những truyện ngắn khác được công bố riêng lẻ, không đưa vào các tuyển tập
Chúng tôi cũng sẽ đề cập đến các tiểu thuyết như “Bão rừng” (1957); “Kỳ
nữ họ Tống” (2002) để có cơ sở làm rõ hơn đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của
Nguyễn Văn Xuân
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến tư tưởng nghệ thuật cũng như các yếu tố thuộc về hình thức nghệ thuật trong tác phẩm
Trang 24Chẳng hạn cách xây dựng hình tượng (nhân vật, không gian, thời gian); cách tổ chức cốt truyện; ngôn ngữ, giọng điệu…trong truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân,
trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Trong quá trình thực hiện luận văn này, phương pháp phân tích được chúng tôi sử dụng rất thường xuyên nhằm để phân tích, trình bày một cách cặn kẽ các luận cứ, luận chứng; phục vụ cho việc đánh giá, khái quát các vấn đề cụ thể trong luận văn
5.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp này chủ yếu được sử dụng để so sánh truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân và truyện ngắn của các nhà văn khác viết về con người, văn hóa Quảng Nam để chỉ ra những khác biệt về mặt nội dung cũng như nghệ thuật, từ đó mà khẳng định nét đặc trưng trong truyện ngắn của ông
5.3 Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 2, chương 3 nhằm chỉ ra một số từ ngữ được nhà văn Nguyễn Văn Xuân, cũng như chỉ ra sự tài tình trong việc sử dụng từ ngữ địa phương Nam Trung bộ mà chủ yếu là Quảng Nam thể hiện trong tác phẩm, làm cho người đọc bất ngờ, tò mò và thấy gần gũi hơn
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phối hợp các phương pháp khác như: vận
dụng lý thuyết tự sự học và văn hóa học trên tinh thần kết hợp các yếu tố tương
đồng về nội dung, nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ để rút ra nhận định, đánh giá về những đóng góp của tác giả
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn tập trung tìm hiểu những giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân để có một cái nhìn đúng đắn trên phương diện nội dung và nghệ thuật
Qua đây chúng tôi cũng hy vọng sẽ góp thêm ít nhiều tiếng nói khẳng định giá trị ngòi bút Nguyễn Văn Xuân, sự đóng góp của ông đối với nền văn học Việt Nam, đặc biệt đối với văn hóa, lịch sử, con người vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng
Trang 25Chương 3: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Văn Xuân qua một số yếu tố nghệ thuật
Trang 26Chương 1 NGUYỄN VĂN XUÂN – NHÀ VĂN, NHÀ NGHIÊN CỨU
VĂN HÓA XỨ QUẢNG
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác, nghiên cứu của Nguyễn Văn Xuân
1.1.1 Tiểu sử nhà văn
Nhà văn Nguyễn Văn Xuân sinh năm 1921, tại làng Thanh Chiêm, phường Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Ông xuất thân trong một gia đình khá giả Lúc còn nhỏ, ông học ở làng quê, sau đó được gia đình cho ra Huế tiếp tục trau dồi chữ nghĩa Vì nhiều lý do, con đường học tập của ông bị dừng lại vào năm ông 16 tuổi Nguyễn Văn Xuân là một người ham học hỏi, cho nên ông vẫn tiếp tục tự học ngay sau khi đã rời ghế nhà trường
Năm 1938, mới 17 tuổi, Nguyễn Văn Xuân đã bắt đầu đến với nghiệp cầm
bút viết văn Những truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Văn Xuân được báo Bạn Dân
ở Hà Nội đăng tải và đến với người đọc cả Bắc lẫn Trung, Nam đều đặn Bên cạnh
đó Nguyễn Văn Xuân còn được tạp chí Thế Giới tại Hà Nội trao giải nhất về
truyện ngắn “Bóng Tối và Ánh Sáng” Đó là niềm cổ vũ, khích lệ rất lớn đối với nhà văn trong sự nghiệp cầm bút
Kể từ đó, con đường viết văn của Nguyễn Văn Xuân từng bước khởi sắc
Ông cộng tác với tạp chí Thế Giới một thời gian rồi chuyển qua cộng tác với tạp chí Mới tại Sài Gòn
Năm 1940, 19 tuổi, Nguyễn Văn Xuân được giao phụ trách nhiều mục khác
nhau trên tạp chí Văn Lang tại Sài Gòn
Trong giai đoạn từ 1941 đến 1945, Nguyễn Văn Xuân cộng tác với tạp chí
Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở Hà Nội Ông viết nhiều thể loại khác nhau nhưng chủ yếu
vẫn là truyện ngắn Tác phẩm của ông lúc này thường tập trung vào những vấn đề mang tính hiện thực, đời thường Nhân vật chủ yếu trong truyện ngắn của ông là những con người nghĩa khí, giàu đức hy sinh; những người dân quê chất phác, giản
dị mà ông tiếp xúc hàng ngày
Trong khoảng thời gian từ 1945 đến 1954, công việc trứ tác của Nguyễn Văn
Trang 27Xuân có nhiều thay đổi Ông chú trọng vào việc sáng tác các vở diễn sân khấu và tập trung nghiên cứu về kịch nghệ, nhất là thoại kịch và hát bội Điều này cũng không có gì khó hiểu, bởi vì đây là lúc cả dân tộc đều bị cuốn vào cuộc đấu tranh giành độc lập cho đất nước, thời kỳ nhân dân cả nước sôi sục chống thực dân Pháp Cũng như nhiều văn sĩ trí thức khác, Nguyễn Văn Xuân hăng hái tham gia hoạt động cách mạng Ông từng giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Cách mạng Cứu quốc xã Thanh Chiêm (quê hương ông) Trên lĩnh vực văn nghệ, ông là Ủy viên Kịch nghệ thuộc Hội Văn nghệ Quảng Nam và Ủy viên Kịch nghệ của Liên Khu V Với cương vị mới đó, ông có dịp đi nhiều, tìm hiểu sâu về cuộc sống và con người ở những vùng đất khác trong khu vực như các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên…
Từ năm 1954 về sau, Nguyễn Văn Xuân chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực
giáo dục, báo chí, viết văn Đây cũng là giai đoạn ông điều hành tạp chí Văn nghệ Mới, dưới bút hiệu Việt Hiến, đồng thời cộng tác với nhiều tờ báo văn nghệ quan
trọng ở miền Nam
Trong năm 1955, Nguyễn Văn Xuân từng có thời gian bị nhà cầm quyền bắt
và giam giữ tại nhà lao Thừa Phủ, Huế Ông bị đàn áp vì tham gia phong trào đấu tranh đòi độc lập, thống nhất đất nước Ra tù, Nguyễn Văn Xuân trở về Đà Nẵng, tiếp tục công việc dạy học và viết văn, nghiên cứu
Từ năm 1965, Nguyễn Văn Xuân được mời tham gia giảng dạy tại Đại học Văn khoa Huế Ông được giao phụ trách dạy chữ Nôm cùng các môn Hát bộ, Tuồng cổ cho sinh viên Đây được coi là khoảng thời gian đắc ý nhất trong cuộc đời của ông Ở môi trường này, Nguyễn Văn Xuân đã trình bày những tư tưởng học thuật, những ý tưởng nghiên cứu mà ông theo đuổi từ lâu Nhiều suy ngẫm, phát hiện có ý nghĩa đã được ông đưa vào bài giảng để truyền thụ, gợi mở cho sinh viên ở Đại học
Năm 1970 ông được cử làm Chủ tịch Hội khuyến học Đà Nẵng, tham gia các hoạt động giáo dục Tuy vậy, công việc sáng tác văn học, nghiên cứu, trứ tác vẫn
là hoạt động chủ yếu
Sau năm 1975, Nguyễn Văn Xuân sống tại Đà Nẵng Ông tiếp tục công việc yêu thích của mình là sáng tác Ông viết nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, các bài
Trang 28khảo cứu về vùng đất Quảng Nam, Đà Nẵng
Nguyễn Văn Xuân từ giã cõi đời vào năm 2007, tại Đà Nẵng; trong nỗi thương tiếc và khâm phục của độc giả gần xa
Nhìn vào tiểu sử Nguyễn Văn Xuân, có thể rút ra rất nhiều bài học Bài học quan trọng nhất từ cuộc đời ông dành cho hậu thế đó là lối sống, cách sống, cách làm việc Ông là một con người tài năng, uyên bác nhưng sống bình dị; một cây bút sắc sảo, lao động miệt mài; một con người thấu hiểu sâu sắc và yêu mến thiết tha văn hóa vùng đất, văn hóa dân tộc Ông đã có những đóng góp quan trọng cho văn hóa, văn học xứ Quảng nói riêng và Việt Nam nói chung
Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy đã có nhận xét rất tinh tế về Nguyễn Văn Xuân; coi ông “là một trong những đặc sản của vùng đất Quảng” Tác giả viết: “Nước ta
có nhiều những vùng đất học, được biểu tượng lên bằng những thầy đồ, như
đồ Bắc (Kinh Bắc), đồ Nam (Nam Định), đồ Nghệ (Nghệ An - Hà Tĩnh) và
đồ Quảng… Quảng Nam là nơi đất nước ưỡn ra biển, có nhiều lâm thổ sản, đặc biệt vải lụa tơ tằm, nên sớm giao thương với nước ngoài Vào thời cận đại, thầy
đồ Quảng cũng là những người sớm tiếp xúc với Tân thư do các thuyền buôn Hoa thương đưa đến Không phải ngẫu nhiên mà các cụ đồ - tân, như Phạm Phú
Thứ, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh… đều xuất hiện ở đất này Nguyễn Văn Xuân lớn lên nhờ thụ hưởng được phù sa của miền đất ấy và ánh sáng của tư tưởng duy tân từ phương trời lạ”[46]
Nguyễn Văn Xuân là tấm gương của sự tự học, tự rèn luyện, là con người của nhân cách tự chủ, độc lập, con người luôn tin tưởng, vui tươi, lạc quan nhưng nghiêm khắc, tỉ mỉ, cần mẫn trong công việc
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác, nghiên cứu
Sự nghiệp sáng tác văn học của Nguyễn Văn Xuân được đánh dấu mốc khởi
đầu vào năm 1939, bằng truyện ngắn Bóng tối và Ánh sáng Đây là tác phẩm đầu tay của ông Điều quan trọng là nó được chọn đăng trên tạp chí Thế giới (Hà Nội)
và được trao giải nhất trong một cuộc thi văn chương
Tiếp theo sự ra mắt ấn tượng này là truyện ngắn Ngày giỗ cha và Ngày cuối năm trên đảo Các tác phẩm này được tác giả viết và công bố trong giai đoạn
1941-1945 Tuy nhiên ở chặng tiếp sau đó Nguyễn Văn Xuân hầu như không tiếp
Trang 29tục viết truyện ngắn nữa mà chuyển sang soạn kịch Một số vở như: Kẻ xu thời, Một chuyện không tiện nói ra…ra đời trong khoảng thời gian này Có điều những
sản phẩm thuộc lĩnh vực sân khấu của ông không tạo được ấn tượng đặc biệt, thu hút độc giả Nhìn chung, kịch của Nguyễn Văn Xuân không thành công như truyện ngắn
Có thể nói giai đoạn những năm bốn mươi là giai đoạn khởi đầu trong sự
nghiệp cầm bút của Nguyễn Văn Xuân Phải đến năm 1957, với tiểu thuyết Bão rừng, tên tuổi nhà văn mới được định vị một cách chắc chắn trong đời sống văn
học nước nhà Tác phẩm này do nhà xuất bản Trùng Dương ấn hành, được dư luận đánh giá cao
Sau mười năm, đến lượt Dịch cát (1966) ra đời Đây là tuyển tập truyện ngắn
được tác giả chọn lọc trong số những tác phẩm ông đã viết trong khoảng 10 năm
(từ 1966 trở về trước) Dịch cát đã khiến tên tuổi Nguyễn Văn Xuân trở nên nổi
bật
Trong Dịch cát, Nguyễn Văn Xuân chỉ chọn những truyện mà ông cho là
thành công để đưa vào Các truyện của ông trong tập sách này dung lượng không
lớn Các truyện như Buổi tắm tất niên, Dịch cát, Một cuộc tấn công chỉ dài 8, 9 trang in Truyện dài nhất là Chạy đua với tử thần (33 trang) Những truyện còn lại như Cây đa đồn cũ, Xóm mới, Con “Hiện Sinh”, Tiếng đồng…cũng chỉ vài chục
trang Tuy dung lượng hạn chế nhưng truyện của ông vẫn bao chứa được những vấn đề quan trọng, lớn lao của cuộc sống xã hội Mỗi một truyện đều có sức hấp dẫn riêng, thu hút người đọc bằng những tình tiết bất ngờ, kết thúc câu chuyện độc đáo
Năm 1969, nhà văn Nguyễn Văn Xuân cho in tiếp tập truyện ngắn thứ hai lấy
tiêu đề Hương máu Tập truyện gồm có bảy truyện: Hương máu, Viên đội hầu, Thằng Thu, Về làng, Cái giỏ, Chiếc cáng điều, Rồi máu lên hương
Tập Hương máu có chủ đề rất tập trung Đây là một tập truyện viết về những
cái chết oanh liệt, bi tráng của một số anh hùng đất Quảng Nam hồi cuối thế kỷ
XIX Hương Máu là một tập truyện có giá trị nghệ thuật cao vừa chứa đựng những
tư tưởng nghệ thuật sâu sắc Bối cảnh của các truyện đều nằm trong một giai lịch
sử cụ thể, khi người Pháp mở đầu cuộc xâm lược nước ta Những người trí thức ưu
Trang 30tú của dân tộc đã xướng nghĩa “cần vương” để chống lại kẻ thù, bảo vệ vương triều
và đất nước Cuộc đấu tranh đã thất bại, phong trào “văn thân” bị dìm trong máu nhưng khí phách hào hùng của họ thì sống mãi Máu của những bậc hào kiệt đổ xuống nhưng không hề uổng phí
Nhà văn Nguyễn Văn Xuân không chỉ thành công trong lĩnh vực sáng tác với các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, mà còn là một nhà nghiên cứu, biên khảo xuất sắc
Năm 1967, Nguyễn Văn Xuân cho ấn hành cuốn Khi những lưu dân trở lại Đây là một công trình khảo cứu rất đặc biệt, cả về nội dung lẫn hình thức Mục
đích của Nguyễn Văn Xuân khi soạn công trình này là nhằm để nhận diện và lý giải về nền văn học nghệ thuật miền Nam và xa hơn, văn nghệ hiện đại Việt Nam Tất nhiên muốn phác thảo một cách đầy đủ diện mạo của nó, tác giả phải đi từ quá khứ đến hiện tại, tức là phải dựng lại quá trình Tác giả đã nhận ra điều mấu chốt trong quy luật vận động và phát triển của văn nghệ (vùng miền cũng như quốc gia)
là cội nguồn văn hóa
Tác phẩm Khi những lưu dân trở lại được chia thành 5 chương; các tiêu đề là
những luận điểm cơ bản được sắp xếp theo một trình tự:
1- Văn nghệ miền Bắc di chuyển vào Nam và tại sao văn học miền Nam căn bản là nói và trình diễn;
2- Đi về miền Nam;
3- Hiện tượng Lục Vân Tiên;
4- Các làn sóng mới;
5- Một thời mới
Điều độc đáo ở sách Khi những lưu dân trở lại không chỉ là sự mới mẻ của tư
tưởng, sự rành mạch, khúc chiết trong lập luận mà còn là lối diễn ngôn, là giọng văn rất riêng của tác giả Nó là sự pha trộn rất lý thú giữa tính chất khảo cứu, khảo
tả với bút ký, phê bình Đây có thể coi là “tác phẩm để đời” của Nguyễn Văn Xuân
Một tác phẩm quan trọng khác của Nguyễn Văn Xuân là tập biên khảo Phong trào Duy Tân; sách được ấn hành năm 1969 Tác phẩm này đã được giới chuyên môn đánh giá là một “công trình sử học” có giá trị Phong trào Duy Tân tìm hiểu,
Trang 31giới thiệu về các nhân vật và sự kiện lịch sử đầu thế kỷ XX một cách đầy đủ, cụ thể Tác phẩm gồm những phần như sau:
Phần I: Nguyễn Lộ Trạch và Thiên hạ đại thế luận; Phan Châu Trinh
(1872-1926): Cuộc đời, tư tưởng và hoạt động; Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu (1867-1940)
Phần II: Căn cứ địa của phong trào Duy Tân; Phát động phong trào: Nam du; Khi Phan Châu Trinh xuất ngoại trở về
Phần III: Từ lý thuyết tới thực hành; Hợp thương và “quốc thương”; Nông hội đầu tiên; Học không thi? Học để biết?; Một anh hùng thảo dã: Lê Cơ; Các hiện tượng khác của phong trào; Nghệ Tĩnh, lãnh tụ phong trào Duy Tân bị bắt trước nhất; Đông Kinh Nghĩa Thục hay phong trào Duy Tân miền Bắc
Phần IV: Những cuộc biểu tình vĩ đại-1908; Diễn tiến: dân làm chủ tình hình; Khủng bố trắng; Cái quan luận định
Tiêu đề các chương, các phần đã thể hiện rõ những nội dung, tinh thần cơ bản của công trình nghiên cứu Có thể thấy Nguyễn Văn Xuân đã dựng lại diện mạo lịch sử đặc biệt của dân tộc thông qua một phong trào, một khuynh hướng xã hội rất quan trọng ở nước ta trong giai đoạn giao thời giữa hai thế kỷ Tuy nhiên ông không đơn thuần đi vào mô tả nhân vật, sự kiện lịch sử mà tiến hành việc nhận thức, tư duy về lịch sử Đó cũng chính là giá trị nổi bật, là đóng góp quan trọng nhất của tác phẩm
Năm 2002, Nguyễn Văn Xuân lại khiến dư luận phải chú ý bởi sự xuất hiện
của cuốn tiểu thuyết Kỳ nữ họ Tống Đây là cuốn tiểu thuyết đề tài lịch sử, được
xây dựng dựa trên cơ sở một nhân vật có thật trong thời chúa Nguyễn Đó là Tống Thị, một người đàn bà nhan sắc tuyệt đẹp, thông minh tài trí, có đầy đủ ý chí kiên cường lẫn tham vọng, thủ đoạn Tống Thị đã khuynh đảo vương triều xứ Đàng Trong một thời Nhà văn đã dựa trên những tư liệu lịch sử để tưởng tượng, hư cấu nên một câu chuyện hết sức sống động, hấp dẫn
Ngoài tiểu thuyết Kỳ nữ họ Tống, Nguyễn Văn Xuân còn nhiều tác phẩm khác Đó là các truyện ngắn (Khóc đầu tri kỷ, Khách, Đêm tân liêu trai, Mười năm sau, Nhà có trẻ ốm, Tết của loài chim trốn tuyết ), các bài viết về địa lý, văn hóa,
lịch sử Đàng trong nói chung và Xứ Quảng nói riêng
Trang 32Đúng như nhà phê bình Đỗ Lai Thúy đánh giá: “Nguyễn Văn Xuân là nhà báo văn học Viết báo, viết văn với ông vừa thể hiện được cá tính, bản lĩnh của mình, được trở thành chính mình, tức sự phát triển đầy đủ ý thức cá nhân, nhất là tự
ý thức; vừa bày tỏ được lòng yêu nước của một người dân mất nước, đồng thời đi tìm nguyên nhân vong quốc không chỉ ở các điều kiện bên ngoài, mà quan trọng hơn, ở nguyên nhân bên trong, ở căn cước tộc người hình thành qua lịch sử Do đó, Nguyễn Văn Xuân, bằng trực giác nghệ sĩ của mình, sáng tác để làm rõ lịch sử, đồng thời cũng nghiên cứu, diễn giải lịch sử để lấy cảm hứng, tư liệu cho sáng tác Đối tượng của sáng tác và nghiên cứu của ông là một Đó là con người Việt Nam, nhất là con người đất Quảng Bởi vậy, nhà nghiên cứu và nhà sáng tác, nhà khoa học và nhà nghệ thuật, trí tuệ và tình cảm ở/của Nguyễn Văn Xuân hòa quyện vào nhau, thành
một khối toàn bích”[1, tr 11]
1.2 Nguyễn Văn Xuân với văn hóa Quảng Nam
1.2.1 “Chất Quảng” trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân
Nguyễn Văn Xuân “là nhà văn xứ Quảng đa tài, đặc biệt đậm tình quê hương
và am hiểu sâu sắc văn hoá xứ Quảng Cả cuộc đời ông sống hết mình cho nghiệp văn Ông luôn có ước mơ và hoài bão lớn về nghiệp văn chương Với những sáng tác văn học của mình, ông đã góp phần gìn giữ được nét văn hoá quê hương xứ sở
và bản sắc dân tộc, đặc biệt là sáng tác của ông đã làm nổi bật lên chân dung con người xứ Quảng mà tiêu biểu hơn cả là hình tượng nhân vật nữ, người dân quê và người sĩ phu” [24]
Đa số các sáng tác, biên khảo, nghiên cứu của Nguyễn Văn Xuân đều đề cập đến con người, văn hóa, lịch sử, lối sống, v.v ở Quảng Nam Nhiều nhà nghiên cứu đã rất chú ý đến đặc điểm này và họ đúng khi gọi Nguyễn Văn Xuân là “nhà Quảng học”
Nguyễn Văn Xuân rất am hiểu về mảnh đất Quảng Nam nói riêng và vùng Trung bộ nói chung Ông đã sống và trải nghiệm sâu sắc về sự khắc nghiệt, khó khăn của cuộc sống nơi đây Điều đó được nhà văn phản ánh qua những trang viết giàu chất hiện thực Trong tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân, sông, biển, núi rừng không hoàn toàn thơ mộng, nên thơ mà dữ dội, hùng vĩ, cam go, luôn đặt ra những thách thức đối với con người
Trang 33Sinh ra và lớn lên ở Quảng Nam, trong suốt hành trình của cuộc đời, Nguyễn Văn Xuân cũng chủ yếu sống ở nơi đây Ông luôn trăn trở, thao thức cùng quê hương Chính vì thế ta thấy trong tác phẩm của ông “dấu ấn văn hóa vùng” rất rõ Những vấn đề mà ông đề cập, từ văn hóa, lịch sử, giáo dục, cho đến những phong tục, tập quán, đức tính tốt, những thói hư, tật xấu, bảo thủ… đều có nét riêng “xứ Quảng”
Tất cả những vấn đề trên được Nguyễn Văn Xuân thể hiện bằng nhiều cách khác nhau: bằng nghệ thuật, hư cấu, tưởng tượng, hình tượng (trong thế giới truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch); bằng nghiên cứu, khảo cứu, bình luận; bằng giáo dục và bằng cả lối sống của chính nhà văn nữa
Có thể nói rằng những vấn đề về lịch sử, văn hóa, con người vùng đất Quảng Nam đã ám ảnh, đeo đẳng theo Nguyễn Văn Xuân trọn cuộc đời Ông đã cố gắng phác họa, nhận diện, nhận thức điều đó trong suốt một quãng thời gian rất dài, từ cuối những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỉ XX cho đến khi từ giã cõi đời Cũng vì thế mà có người đã cho rằng, không thể nhắc đến văn hóa, văn học Quảng Nam mà không nhắc đến những đóng góp của Nguyễn Văn Xuân
Thực ra, đối với nhà văn Nguyễn Văn Xuân, sáng tác, nghiên cứu về Quảng Nam không phải chỉ nhắm đến một địa phương, gói gọn trong một vùng đất Điều ông quan tâm là văn hóa dân tộc, văn hóa Việt Nam Danh xưng “Quảng Nam” chỉ
là một “điểm”, một trường hợp điển hình để từ đó nhìn rộng hơn, xa hơn
Trước khi vào truyện của tập truyện ngắn Hương máu, Nguyễn Văn Xuân đã
bộc bạch xúc cảm của mình khi sáng tác những truyện này, viết về những con người Quảng Nam trung dũng kiên cường: “Tôi chọn nhân vật của tỉnh Quảng Nam này không phải do óc tự hào địa phương, cái địa phương vốn là một trong những nguồn cung cấp những người con ưu tú để hiến dâng đất nước và là niềm hứng khởi lớn lao cho bản hùng ca của tranh đấu sử Tôi chọn nó chỉ vì những tình cảm tự nhiên qua những ngày lang thang trong xóm làng hay trôi theo dòng tản cư
vĩ đại Tôi đã nghe biết bao lần và biết bao người kể về cái chết của các anh hùng, liệt nữ, [ ] tất cả những cái chết ấy đã kích thích óc tò mò, bắt tôi suy nghĩ và tôi cho đều đáng ghi lại một nét ý chí, một sắc thái địa phương và hiển nhiên cũng là của dân tộc” [27, tr 208]
Trang 34Nói đến tính cách con người Quảng Nam, điều dễ nhận thấy trước hết ở họ đó
là sự bộc trực thẳng thắn, phóng khoáng, cởi mở
Trong tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân, cả sáng tác lẫn nghiên cứu, “chất Quảng” luôn là một yếu tố được ông đặc biệt chú ý Ở các truyện ngắn, tiểu thuyết của ông, mẫu nhân vật ưa thích, thường xuyên xuất hiện chính là “người Quảng Nam” Những con người cứng cỏi đến mức ngang tàng, bộc trực đến thành nóng nảy Nhân vật của ông luôn rạch ròi, phân minh cả trong nhận thức lẫn tình cảm Đối với kẻ thù xâm lược, sự căm ghét, giận dữ có thể khiến họ bất chấp, dám
hy sinh tất cả Để chống giặc, những người dân quê không ngần ngại “tiêu thổ kháng chiến”, từ bỏ những tài sản quý giá phải tích cóp cả đời mới có được Thậm chí họ còn tự mình nổi lửa lên đốt nhà cửa “Những nhà ngói lớn cột mít, phên lựa bằng gỗ, kèo chạm láng bóng vì ngày nào cũng lau chùi, thế mà chủ nhân đành lòng cứu vãn được những gì thì cứu, xong rồi chất rơm vào, cho ngọn lửa lên” Khi đối đầu với kẻ thù, dân Quảng khí tiết, bản lĩnh bao nhiêu thì trong cuộc mưu sinh hàng ngày, nét “cứng cỏi” càng được phát huy mạnh mẽ bấy nhiêu Sự gan lỳ, “cứng cỏi” đã giúp ngưới dân xứ Quảng vượt lên những hoàn cảnh sống
khắc nghiệt Chẳng hạn nhân vật Năm trong truyện “Cây đa đồn cũ”, để mưu sinh,
anh “phải đem chơi với sông nước, với sóng gió, với bão lụt một mạng người”
Các nhân vật khác như Liễn trong “Chạy đua với tử thần”; rất nhiều nhân vật nam trong tập truyện Hương máu, v.v đều thể hiện tính cách chung như vậy Bản chất
“cứng cỏi” đó đã hình thành trong mỗi người Quảng Nam ý thức phản kháng mạnh
mẽ để chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, chống ách áp bức bóc lột, đồng thời phản
Thích bông đùa, ưa trào phúng cũng là một biểu hiện tinh thần lạc quan của
Trang 35người xứ Quảng Chính nét tính cách này cũng góp phần giúp họ dễ dàng vượt qua khó khăn, vượt lên nghịch cảnh Sự hài hước, hóm hỉnh là một thái độ sống tích cực mà phải là người có bản lĩnh, tự chủ thì mới có thể đạt đến được
Truyện của Nguyễn Văn Xuân có rất nhiều nhân vật biết lấy cái “hài hước” như một phép xử thế, một cách để thích nghi với cuộc sống Trong những tình huống cụ thể, dù phải đối mặt với thực tế khó khăn, óc hài hước ở họ vẫn không bị
tê liệt Họ không để cho những khổ đau, bất hạnh chi phối, xâm chiếm toàn bộ suy nghĩ, tình cảm, tâm trạng của mình mà dùng sự hài hước, hóm hỉnh để cân bằng lại Chính điều đó giúp họ tự trấn tĩnh, vững vàng, mạnh mẽ vươn lên để vượt qua
số phận
Chẳng hạn trong truyện Chạy đua với tử thần, giở bất cứ trang nào ta cũng
thấy thấp thoáng chất hóm hỉnh, hài hước rất thú vị Nhân vật Liễn, dù đối mặt với thần chết nhưng suy nghĩ vẫn theo lối hài hước Mặc dù ý thức rất rõ là khi đã bị giặc bắt thì mạng sống rất mong manh; người bị giam giữ nhiều khi chết oan Cái chết đến rất đơn giản: chẳng cần xét hỏi, chẳng biết nguyên cớ gì đã bị bắn “Chỉ cần một chú cai Tây đến trỏ một ngón tay của ác thần vào ai thì người đó bị kéo xệch đi giữa hai họng súng kèm hai bên Rồi trong đêm tối, về phía cầu nghe rẹt vài tiếng là trong bữa ăn ngày mai bớt đi một khẩu phần”
Cái chết được nhân vật nhìn dưới nhãn quan rất lạ: hài hước, châm biếm Trong đêm khuya, Liễn nghĩ về cái chết oan ức sắp đến với mình và những tù nhân khác chẳng qua là “để quan lớn thử tài bắn súng” Tất nhiên đây là hài hước một cách xót xa Nhân vật độc thoại: “Còn sớm lắm Mình còn sống nhiều giờ Không biết hắn bắn có đúng tim mình không! Thằng Tây rút súng lục có vẻ nghề lạ y như Clark Gable không y như Gary Cooper Lạ! Sao người ta không thuê nó đóng phim Thà nó giết bao nhiêu người trong phim cũng mặc nó Chứ nó dùng cái tài
ấy mà hạ sát nhân loại thì “hao” quá” Trong truyện Xóm mới khi nghĩ về cái chết
của ông Hương Là dù đau thương khi mất tất cả nhà cửa, tài sản, người hàng xóm, nhưng anh Phương thốt lên: Lạ! Thật đúng người xưa bảo: Thương hải tang điền! như thế này mà ông Hương Là quyết ở lại để đào cho ra cái gói bạc của ông sao cho được
Nhưng “chất Quảng” không chỉ thể hiện ở sự phóng khoáng, bộc trực, thẳng
Trang 36thắn mà nó còn được bộc lộ ở lòng nhân hậu, đa cảm, đa tình Tất nhiên những phẩm chất ấy không phải chỉ riêng người dân Quảng Nam mới có Đó là truyền thống quý báu, là nét văn hóa chung của người Việt Với người Việt, bản tính nhân hậu, tình cảm thương yêu, đùm bọc giữa người với người luôn được đề cao Điều chúng tôi muốn nói ở đây là, trong dòng văn hóa chung ấy, ở người Quảng Nam vẫn có những sắc thái riêng, từ đó, hình thành trong họ bản lĩnh, chiều sâu, bề dày văn hoá.
Một điểm đáng lưu ý khác của “chất Quảng” mà Nguyễn Văn Xuân nhấn mạnh trong tác phẩm của mình đó là tính cộng đồng Tinh thần cộng đồng của cư dân Quảng Nam trước hết thể hiện ở suy nghĩ và tình cảm của họ đối với xóm làng, nơi họ sinh ra và lớn lên, nơi gắn bó máu thịt với đời sống của họ Họ luôn chung lưng đấu cật, gắn bó với nhau, thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong tình làng nghĩa xóm
Trong sáng tác của mình, Nguyễn Văn Xuân thường nhắc đến tình làng,
nghĩa xóm đùm bọc, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn Truyện Dịch cát,
tác giả kể về một cộng đồng cư dân bị lâm nạn đại dịch Tất cả mọi người dân ở cái xóm nhỏ này đều mắc cơn bệnh quái ác “cơn nhức não, tê tái đến liệt cả tri giác” Một nhân vật nữ (tên là Sinh) có chồng mắc bệnh bị chết Chị hoảng hốt gào
to, kêu cứu, trong tuyệt vọng Trước tình cảnh ấy “cụ Xử - không cầm lòng nổi khi nghe tiếng kêu cứu của chị cứ chan chát đập vào tai Cụ rán ôm đầu đứng dậy Cụ
đi ba bước Nhưng đến đây, hai chân cụ run bắn lên dưới cơn đau dằn vặt, rồi nó vật ngã cụ xuống một chiếc ghế dài” Hình ảnh một cụ già, yếu ớt, bệnh tật cố gắng đến tận cùng để mong giúp người thân cô thế cô ở đây thật cảm động Nó cho thấy tinh thần “thương người như thể thương thân”, luôn sẵn sàng chia sẽ, động viên, cứu giúp người hoạn nạn được thấm sâu vào suy nghĩ, hành động của những
người bình dân như thế nào Trong Dịch cát giữa cơn đại dịch, nhà nhà, người
người của xóm nhỏ đều mắc cơn bệnh quái ác “cơn nhức não, tê tái đến liệt cả tri giác”, trước cảnh chồng chết chị Sinh hoảng hốt gào to, kêu cứu, trong tình cảnh
ấy, trong khó khăn, hoạn nạn luôn có sự chia sẽ của những người láng giềng
Truyện Xóm mới kể về cơn đại hồng thủy làm trôi tất cả nhà cửa, của cải, tính
Trang 37mạng của nhiều người ở xóm mới Trong cảnh bất hạnh đó, dù không quen biết nhưng với tinh thần tương thân, tương ái, đùm bọc, giúp đỡ nhau trong khó khăn, hoạn nạn, những người dân quê đã chèo ghe đến cứu vớt kịp thời người bị nạn Trong đêm tối, họ đã cứu được người, lại còn “đốt một đống củi do dân địa phương mới tiếp tế Ngọn lửa sáng lòa lên hơ ấm cho những cái xác còn lạnh lẽo”
Đó là một hình ảnh mang nhiều ý nghĩa; là biểu tượng cho lòng nhân ái, bao dung của người dân xứ Quảng
1.2.2 Đóng góp của Nguyễn Văn Xuân trên phương diện văn hoá
Xét trên phương diện văn hóa, đóng góp của Nguyễn Văn Xuân được thể hiện chủ yếu qua các công trình biên khảo, nghiên cứu Suốt cả cuộc đời cầm bút, ông đã tiến hành công việc một cách say sưa, kiên trì và hiệu quả Ông đi sâu vào nhiều lĩnh vực khác nhau, không chỉ văn học mà cả sử học, văn hóa học, văn bản học, ngôn ngữ học… Ông viết về danh nhân lịch sử, danh nhân văn hóa, về sân khấu và kịch nghệ, về phong tục tập quán, về kiến trúc, đô thị, về ngành nghề v.v Viết về “văn hóa xứ Quảng”, Nguyễn Văn Xuân chú ý trước hết đến con người Trong quan niệm của ông, con người chính là điểm hội tụ đầy đủ nhất các giá trị văn hóa Theo diễn giải của ông, khi luận bàn về văn hóa, dù ở phạm vi địa phương hay cả nước, thì câu chuyện trước tiên cũng phải bắt đầu từ con người cụ thể Và đây là lợi thế của Nguyễn Văn Xuân, ông được sinh trưởng ở một vùng đất được coi là lắm “nhân kiệt”, nhiều hiền tài, được thừa hưởng, kế thừa “của hương hỏa” từ các bậc tiền nhân
Nguyễn Văn Xuân đặc biệt say mê viết về các danh nhân, nhất là những người đồng hương đồng quận với ông Ngoài những nhân vật văn học được lấy cảm hứng, tư liệu từ các nhân vật lịch sử, nhà văn còn có rất nhiều những công trình biên khảo quan trọng mà đối tượng là các danh nhân xứ Quảng Trong lĩnh vực sáng tác, Nguyễn Văn Xuân chủ yếu sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết Hai
tập truyện ngắn Dịch cát (1966), Hương máu (1969) và hai tiểu thuyết Bão rừng (1957) và Kỳ nữ họ Tống (2002) Riêng truyện ngắn, vẫn còn nhiều truyện rời,
đăng tải trên các báo từ trước năm 1945 cho đến cuối thế kỉ XX vẫn chưa được tập
hợp hết Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy nhận xét trong cuốn Nguyễn Văn Xuân –
Trang 38Những tìm tòi và diễn giải lịch sử: “Nếu Dịch cát và Bão rừng chỉ là những truyện
có ý nghĩa lịch sử, nhất là sử đương đại, lịch sử đang trở thành lịch sử, thì Hương máu và Kỳ nữ họ Tống là truyện hư cấu lịch sử, tức sự kiện, nhân vật có thực là bối cảnh bề ngoài, còn giá trị đạo đức, lối sống, nhân cách, sự lựa chọn của các nhân vật ấy mới là tâm huyết của Nguyễn Văn Xuân Nhà văn viết về cái chết của
họ để nói lên cái sống của họ Chết như cái sống cuối cùng Đó là những người tham gia khởi nghĩa Cần Vương như Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến (Hương máu), người tham gia Việt Nam Quang Phục Hội như Trần Cao Vân, Thái Phiên (Rồi máu lên hương), những người dân chợ Củi “ghét Tây” (Cái giỏ), hay như Nguyễn Văn Siêu khóc thương Cao Bá Quát sau cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (Khóc đầu tri kỷ)…” [1, tr 13] Điều đáng lưu ý ở đây là những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân đa phần nói lên những đặc điểm của văn hóa, vùng đất, con người xứ Quảng Nó vừa thể hiện tài năng trên nhiều phương diện của Nguyễn Văn Xuân nhưng cũng nói lên tâm huyết, trách nhiệm của người trí thức với quê hương của mình
Trước khi vào truyện của tập truyện ngắn Hương máu, Nguyễn Văn Xuân đã
bộc bạch xúc cảm của mình khi sáng tác những truyện này, viết về những con người Quảng Nam trung dũng kiên cường: “Tôi chọn nhân vật của tỉnh Quảng Nam này không phải do óc tự hào địa phương, cái địa phương vốn là một trong những nguồn cung cấp những người con ưu tú để hiến dâng đất nước và là niềm hứng khởi lớn lao cho bản hùng ca của tranh đấu sử Tôi chọn nó chỉ vì những tình cảm tự nhiên qua những ngày lang thang trong xóm làng hay trôi theo dòng tản cư
vĩ đại Tôi đã nghe biết bao lần và biết bao người kể về cái chết của các anh hùng, liệt nữ, [ ] tất cả những cái chết ấy đã kích thích óc tò mò, bắt tôi suy nghĩ và tôi cho đều đáng ghi lại một nét ý chí, một sắc thái địa phương và hiển nhiên cũng là của dân tộc” [27, tr 208]
Tác giả Trương Thị Thủy, trong công trình Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Văn Xuân đã đề cập đến các khía cạnh như làng cảnh xứ Quảng với cảnh sắc riêng từ
các địa danh khác nhau: Hội An, Non Nước, Mỹ Sơn, Phước Kiều, Tiên Phước, Quế Sơn, v.v Ở đây có sự hội tụ của những sắc thái cực đoan của thiên nhiên thời tiết, của núi non hùng vĩ Phong vị xứ Quảng với những nét riêng về làng nghề
Trang 39truyền thống, ẩm thực, tập tục sinh hoạt, nếp sinh hoạt, quan hệ giao tiếp, những công trình kiến trúc cổ, các phong tục, tập quán, lễ hội, nghề nghiệp, v.v của cuộc sống con người xứ Quảng [24] Những đóng góp của Nguyễn Văn Xuân cho văn hóa, được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau, với nhiều nghiên cứu tâm huyết:
Về nhân vật văn hóa, về doanh nhân, về phong tục tập quán, về kiến trúc, đô thị, về ngôn ngữ, về ngành nghề, về kịch nghệ, v.v
Các công trình về “người thật việc thật” này đã giúp cho người đọc hiểu biết sâu sắc hơn về con người và văn hóa Quảng Nam Hãy điểm qua một phần những bài viết của ông ở lĩnh vực này:
- Ông Ích Khiêm (bài Sự kiện Ông Ích Khiêm tự sát ở Bình Thuận);
- Phan Châu Trinh (các bài: Bốn quan điểm nổi bật của Phan Châu Trinh đầu thế kỉ XX; Phan Châu Trinh với cờ thực nghiệp trống duy tân);
- Tú Quỳ (bài Tú Quỳ);
- Ông Hiền Lân (bài Ông Hiền Lân với trận Trà Kiệu);
- Huỳnh Thúc Kháng (bài Huỳnh Thúc Kháng và Tiếng dân);
- Nguyễn Hiển Dĩnh (các bài: Nguyễn Hiển Dĩnh; Nhà đạo diễn lớn Nguyễn Hiển Dĩnh);
- Phạm Như Xương (Hoàng giáp Phạm Như Xương với Nghĩa hội Quảng Nam và phong trào Đông Du);
- Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ (Ảnh hưởng của Hoàng Diệu – Phạm Phú Thứ đối với các thế lực yêu nước Quảng Nam – Đà Nẵng và Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX);
- Ngũ phụng tề phi (Từ ngũ Phụng tề phi đến ngũ phụng bất tề phi);
…v.v…
Trong số những bậc tiền nhân mà Nguyễn Văn Xuân đã dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu, có những tên tuổi đã trở nên quen thuộc, nhưng cũng có những trường hợp hậu sinh còn ít biết đến Điều đặc biệt là dù cũ hay mới, Nguyễn Văn Xuân đều đưa ra được những khám phá, những kiến giải có giá trị Đối với các bậc lương đống quốc gia, văn thần võ tướng vốn được sử sách xiển dương, nhiều học giả đề cập, tức là những gương mặt quen thuộc, nhà “Quảng học” vẫn phát hiện thú vị; làm tăng thêm lòng tôn kính của cộng đồng Đối với những
Trang 40trường hợp còn xa lạ, chưa mấy người biết đến, ông có công phát hiện, giới thiệu một cách hệ thống, đầy đủ để mọi người biết mà kính trọng
Các danh nhân văn hóa, nhân vật lịch sử này là những gương mặt tiêu biểu trên nhiều lĩnh vực (quân sự, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật…), không chỉ một thời đoạn cụ thể mà là muôn đời; không chỉ là tinh túy của một vùng “địa linh” mà là niềm tự hào của cả dân tộc Điều đó cho thấy tấm lòng, thái độ trân quý của ông đối với văn hóa - lịch sử địa phương nói riêng, Việt Nam nói chung
Bên cạnh những đóng góp trong việc nhận thức về các hiện tượng văn hóa - lịch sử, Nguyễn Văn Xuân có nhiều công trình, bài viết rất hay về quê hương làng cảnh Quảng Nam Qua những nghiên cứu về những nơi chốn cụ thể như Hội An, Non Nước, Mỹ Sơn, Phước Kiều, Tiên Phước, Quế Sơn, v.v… tác giả nhận thấy đây là miền đất có sự hội tụ của thiên nhiên thời tiết cực đoan hằng năm có những trận bão, lũ quyét, lỡ đất kinh hoàng, gây kiếp sợ cho người dân, núi non hùng vĩ, hiểm trở sông ngòi dày đặt Xứ Quảng với những nét riêng về làng nghề truyền thống làm nghề đúc đồng, ghe bầu, làm tơ lụa, mía đường , ẩm thực, tập tục sinh hoạt, nếp sinh hoạt, quan hệ giao tiếp, những công trình kiến trúc cổ, các phong tục, tập quán, lễ hội, nghề nghiệp, v.v của cuộc sống con người xứ Quảng
Từ xưa tới nay, viết về lịch sử, tiếng nói, tập tục, tín ngưỡng, vùng đất… nói chung là văn hóa Quảng Nam, thì không thể nào thống kê hết được Không thiếu những công trình, những ý kiến sâu sắc, độc đáo Tuy vậy, ngay ở phương diện này, Nguyễn Văn Xuân vẫn để lại dấu ấn của riêng mình Ông có góc nhìn riêng, có sự trải nghiệm riêng, óc phân tích, giọng điệu riêng khiến cho người đọc thấy lôi cuốn, bất ngờ, thú vị
Hãy điểm qua một số chủ đề, vấn đề liên quan đến phương diện này:
- Đất Quảng Nam quê tôi;
- Quảng Nam xưa;
- Nhà Việt đất Quảng;
- Vài điểm cần nhớ về Đà Nẵng;
- Người Quảng Nam với sự phát triển các ngành nghề ở miền Nam;
- Những người Quảng Nam đóng góp cho Thăng Long Bắc thành – Hà Nội trước năm 1945;