Đặc biệt, từ thế kỉ XVII trở đi, biến cố chính trị “cải triều hoán đại” tại Trung Quốc, yêu cầu giao thương buôn bán cùng với sự cởi mở trong chính sách đối với ngoại kiều của chính quy
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TEH JIA ROU
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở HỘI AN (VIỆT NAM)
VÀ MELAKA (MALAYSIA): NHỮNG ĐIỂM
TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Đà Nẵng - Năm 2022
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TEH JIA ROU
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở HỘI AN (VIỆT NAM)
VÀ MELAKA (MALAYSIA): NHỮNG ĐIỂM
TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG VĂN HÓA
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 8310630
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG ANH THUẬN
Đà Nẵng - Năm 2022
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN iii
INFORMATION OF RESEARCH RESULTS OF THE THESIS iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN ix
DANH MỤC HÌNH ẢNH TRONG LUẬN VĂN ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Bố cục của luận văn 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở HỘI AN (VIỆT NAM) VÀ MELAKA (MALAYSIA) 11
1.1 Thuật ngữ “Hoa kiều” và “người Hoa”, “người Minh Hương” và “người Baba Nyonya” 11
1.2 Các nhân tố tác động đến sự hình thành của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) 13
1.2.1 Nhân tố thương mại 13
1.2.2 Nhân tố chính trị 15
1.2.3 Chính sách của chính quyền bản xứ ở Đàng Trong và Melaka 16
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) 19
1.3.1 Cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) 19
Trang 81.3.2 Cộng đồng người Hoa ở Melaka (Malaysia) 24
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2 THÀNH TỐ VĂN HÓA TIÊU BIỂU CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở HỘI AN (VIỆT NAM) VÀ MELAKA (MALAYSIA) 31
2.1 Thành tố văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) 31
2.1.1 Văn hóa vật chất 32
2.1.1.1 Công trình kiến trúc 32
2.1.1.2 Ẩm thực 35
2.1.1.3 Trang phục 37
2.1.2 Văn hóa tinh thần 38
2.1.2.1 Tín ngưỡng, tôn giáo 38
2.1.2.2 Ngôn ngữ 41
2.1.2.3 Phong tục, tập quán 43
2.2 Thành tố văn hoá của cộng đồng người Hoa ở Melaka (Malaysia) 46
2.2.1 Văn hóa vật chất 48
2.2.1.1 Công trình kiến trúc 48
2.2.1.2 Trang phục 52
2.2.1.3 Ẩm thực 54
2.2.2 Văn hóa tinh thần 56
2.2.2.1 Tín ngưỡng, tôn giáo 56
2.2.2.2 Ngôn ngữ 59
2.2.2.3 Phong tục, tập quán 61
Tiểu kết chương 2 63
CHƯƠNG 3 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở HỘI AN (VIỆT NAM) VÀ MELAKA (MALAYSIA) 64
3.1 Những điểm tương đồng trong văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) 66
3.2 Những điểm khác biệt trong văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) 76
Trang 93.3 Các nhân tố tạo nên sự khác biệt trong văn hóa của cộng đồng người Hoa ở
Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) 81
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 93 PHỤ LỤC PL1 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
NXB Nhà xuất bản
tr Trang
UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Số hiệu
1.1 Dân số của người Hoa ở Melaka 28
DANH MỤC HÌNH ẢNH TRONG LUẬN VĂN
Số hiệu
2.1 Cửa chính của Hội quán Phúc Kiến 49 2.2 Phòng khách nhà cổ của Baba Nyonya ở Melaka 51 2.3 Phòng hậu trong nhà cổ của Baba Nyonya ở Melaka 52 2.4 Trang phục của Nyonya lớn tuổi 53 2.5 Các mẫu hài thêu hoạ tiết của Nyonya 53 2.6 Trang phục cưới của Baba và Nyonya ở Melaka 54 2.7 Đĩa màu xanh và trắng chỉ được sử dụng trong tang lễ 56 2.8 Đĩa sử dụng trong ngày thường 56 2.9 Đĩa sử dụng trong ngày tết hoặc ngày lễ đặc biệt 56 2.10 Tượng thờ Na Tuk Kong 58 2.11 Lễ hội ném quýt ở Melaka 62 3.1 Mái đuôi én của Hội quán Trung Hoa tại Hội An 69 3.2 Mái đuôi én của đình Cheng Hoon tại Melaka 69 3.3 Nghệ thuật khảm sành sứ tại đình Cheng Hoon, Melaka 70 3.4 Nghệ thuật khảm sành sứ tại Hội quán Quảng Đông, Hội An 70 3.5 Nghệ thuật khảm sành sứ tại đình Cheng Hoon, Melaka 70 3.6 Nghệ thuật khảm sành sứ tại Hội quán Triều Châu, Hội An 70 3.7 Tranh vẽ Kapiten Cina - Lý Vi Kinh đặt trong đình Cheng Hoon,
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tác giả lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam)
và Melaka 1 (Malaysia): Những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa” xuất phát
đề đầu tiên để xây dựng nên cộng đồng người Hoa ở Hội An và Melaka sau này Đặc
biệt, từ thế kỉ XVII trở đi, biến cố chính trị “cải triều hoán đại” tại Trung Quốc, yêu cầu
giao thương buôn bán cùng với sự cởi mở trong chính sách đối với ngoại kiều của chính quyền ở Việt Nam và Malaysia đã khiến cho ngày càng có nhiều người Trung Quốc đến Hội An và Melaka, hình thành tại mỗi cảng thị một cộng đồng người Hoa đông đúc tồn tại mãi cho đến ngày nay Trong quá trình làm ăn, sinh sống tại Hội An và Melaka, người Hoa đã có đóng góp không nhỏ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đặc biệt là lĩnh vực văn hoá Vậy cộng đồng người Hoa tại Hội An và Melaka đã được hình thành ra sao và quá trình đó chịu tác động của các nhân tố nào? Người Hoa tại hai cảng thị này đã xây dựng và sáng tạo ra các giá trị văn hoá gì? Những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hoá giữa cộng đồng người Hoa ở Hội An và Melaka được biểu hiện như thế nào? Tất cả những vấn đề trên thực sự có sức hấp dẫn kì lạ và mang lại cho tác
giả một nguồn cảm hứng nghiên cứu sâu sắc
Thứ hai, xuất phát từ tình hình nghiên cứu vấn đề người Hoa ở Đông Nam Á nói chung cũng như ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) nói riêng Cho đến hiện tại,
mặc dù các thành quả học thuật về người Hoa ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) tương đối phong phú, tuy nhiên, nếu nhìn một cách tổng
thể, có thể thấy rằng, quá trình nghiên cứu này còn mang tính chất “cục bộ” Trên thực
1 Ngày 3 tháng 5 năm 2017, Hội đồng hành chính Melaka quyết nghị sử dụng từ “Melaka” trong tiếng Anh và tiếng Malay để thay thế cho từ “Malacca”
Trang 13tế, giới học giả Việt Nam và Malaysia về cơ bản mới chỉ mới tập trung vào việc nghiên cứu các phương diện khác nhau của cộng đồng người Hoa ở quốc gia mình mà ít có sự
mở rộng phạm vi và đi sâu nghiên cứu vấn đề này ở các nước khác Về nội dung nghiên cứu, giới học giả hai nước phần lớn tập trung tái hiện quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa theo tiến trình lịch sử mà chưa có sự nghiên cứu chuyên sâu trên từng lĩnh vực cụ thể Đến thời điểm hiện tại, một công trình nghiên cứu so sánh, để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hoá của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) vẫn hoàn toàn vắng bóng trên các diễn đàn
học thuật tại mỗi nước cũng như trên thế giới Đây chính là một “khoảng trống” trong
việc nghiên cứu về lịch sử người Hoa ở Đông Nam Á nói chung cũng như ở Việt Nam
và Malaysia nói riêng
Thứ ba, xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu, tiếp xúc, giao lưu văn hoá giữa các quốc gia Trong thời đại ngày nay, khi mà sự kết nối, hợp tác, giao lưu giữa các quốc gia và
khu vực trên thế giới diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết, thì việc nghiên cứu, tìm hiểu bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc trở thành một trong những tiền đề quan trọng, để
“chấp cánh” và mở ra triển vọng mới cho mối quan hệ hợp tác sâu rộng, toàn diện giữa
các quốc gia, khu vực trên thế giới ở cả hiện tại và tương lai Trong bối cảnh như vậy,
việc nghiên cứu đề tài “Cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka
(Malaysia): Những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa” càng trở nên cần thiết
Vì chính từ góc độ nghiên cứu so sánh này, giới nghiên cứu Việt Nam và Malaysia sẽ
có cơ hội tham chiếu, soi xét, để nhận thức rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hoá của hai cộng đồng người Hoa này Trên cơ sở đó, các học giả sẽ có sự đánh giá khách quan và chân xác hơn về vị trí, vai trò và những đóng góp trên nhiều phương diện, trong đó có lĩnh vực văn hoá của cộng đồng người Hoa tại Hội An và Melaka trong lịch
sử mỗi quốc gia, giúp các nhà quản lí nhìn từ góc độ lịch sử - văn hoá để hoạch định chính sách đúng đắn trong việc bảo tồn phát huy giá trị văn hoá đặc sắc của cộng đồng người Hoa tại Việt Nam và Malaysia nói chung cũng như Hội An và Melaka nói riêng
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã quyết định lựa chọn vấn đề “Cộng đồng
người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia): Những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa” để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Trang 142 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trong quá trình sưu tầm, tập hợp, phân loại và nghiên cứu tổng quan nguồn tư
liệu liên quan đến đề tài “Cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka
(Malaysia): Những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa”, có thể nhận thấy, các
thành tựu học thuật mà tác giả hiện đang nắm giữ có thể phân thành các nhóm sau:
*Nhóm công trình nghiên cứu về người Hoa ở Đông Nam Á
Nghiên cứu về người Hoa ở Đông Nam Á là một vấn đề hấp dẫn, thu hút được sự
quan tâm của giới học giả trên thế giới và trong khu vực Trong các công trình nghiên
cứu về người Hoa ở Đông Nam Á, giới nghiên cứu không thể không nhắc đến chuyên
khảo Hoa kiều Đông Nam Á [東南亞之華僑] của Giáo sư người Anh Victor Purcell [巴
素] Trong đó, ngoài việc khảo cứu về lịch sử hình thành và phát triển của các cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam và Malaysia, tác giả còn dành một dung lượng nội dung đáng kể nghiên cứu về hoạt động thương mại của người Hoa tại
khu vực này nói chung và ở hai quốc gia nói riêng Bên cạnh đó, với tác phẩm Đông
Nam Á và người Hoa – Vương Canh Vũ giáo thụ luận văn tuyển tập [東南亞與華人—
—王賡武教授論文選集], Giáo sư người Hoa Vương Canh Vũ [王賡武] cũng đã có những đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu về người Hoa ở Đông Nam Á Đây mà một công trình học thuật được xuất bản dựa trên cơ sở tập hợp các bài nghiên cứu của
giáo sư liên quan đến người Hoa Trong đó, bài viết Quan hệ khởi đầu của Trung Quốc
với Melaka, và Nguồn gốc của từ ngữ Hoa Kiều được in trong văn tập này đã cung cấp
cho tác giả luận văn một nền tảng lý thuyết với giá trị khoa học cao, để phục vục cho việc nghiên cứu đề tài
Ngoài ra, công trình Người Hoa Việt Nam và Đông Nam Á của học giả người Việt Châu Thị Hải và Sự hình thành và phát triển của “vấn đề người Hoa” Đông Nam Á [東
南亞“華人問題”的形成與發展] của nhà nghiên cứu người Hoa Phương Kim Anh [方
金英] đã tập trung nghiên cứu về vấn đề “bản địa hóa” của cộng đồng người Hoa ở các
nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam và Malaysia Trong công trình nghiên cứu
của Châu Thị Hải tiếp tục bàn luận để là rõ nội hàm khái niệm “nhận đồng thân phận” của người Hoa, vốn trước đây đã được một số học giả trên thế giới đề cập đến, nhưng
lại chưa được biết nhiều trong giới nghiên cứu người Hoa ở Việt Nam Vấn đề này có
Trang 15quan hệ mật thiết với thành tố văn hóa của cộng đồng người Hoa ở các nước Đông Nam
Á ngày nay
*Nhóm công trình nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở Hội An
Từ trước đến nay, việc nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở Hội An trên nhiều phương diện đã thu hút được sự quan tâm của giới học giả Việt Nam Chính vì vậy, số lượng các công trình học thuật liên quan đến vấn đề này cũng tương đối phong phú Các công trình nghiên cứu này về cơ bản có thể chi làm 2 nhóm nhỏ:
Thứ nhất là các công trình đề cập gián tiếp đến cộng đồng người Hoa ở Hội
An Tiêu biểu là chuyên khảo Chính sách của các vương triều Việt Nam đối với người Hoa của tác giả Huỳnh Ngọc Đáng Trong quyển sách này, mặc dù tập trung nghiên
cứu chính sách của các vương triều Việt Nam đối với người Hoa, nhưng tác giả cũng dành thời gian nghiên cứu khái lược lịch sử hình thành và phát triển của các cộng đồng người Hoa tại Việt Nam, trong đó có Hội An Bên cạnh đó, giới nghiên cứu
cũng có thể tìm thấy một số nội dung có liên quan đến người Hoa Hội An khi đọc Cư
dân Faifo Hội An của Nguyễn Chí Trung và Hội An – Di sản thế giới của Nguyễn
Phước Tương Mặc dù nội dung của hai quyển sách này chủ yếu nói về lịch sử Hội
An, tuy nhiên, trong đó cũng có số nội dung về lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa trên vùng đất này
Bên cạnh các công trình nghiên cứu của học giả người Việt, vấn đề người Hoa ở Hội An cũng được đề cập gián tiếp trong một vài tác phẩm của học giả nước ngoài Tiêu
biểu như trong công trình Lịch sử Hoa kiều Việt Nam [越南華僑史], hai học giả Trung
Quốc Từ Thiện Phúc [徐善福] và Lâm Minh Hòa [林明華] cũng đã ít nhiều đề cập đến người Hoa ở Hội An trong quá trình nghiên cứu tổng quan về lịch sử hình thành cũng
như hoạt động kinh tế, giáo dục, hình thức tổ chức xã hội và vấn đề “bản địa hóa” của
các cộng đồng người Hoa trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam
Thứ hai là các công trình đề cập trực tiếp đến cộng đồng người Hoa ở Hội An trên nhiều phương diện Đối với nhóm công trình này, không thể không nhắc đến một
“cây đại thụ” trong nghiên cứu về người Hoa ở Hội An, đó là Giáo sư Trần Kinh Hoà với công trình Mấy vấn đề liên quan với Minh Hương công bố vào năm 1965 Trần
Kinh Hòa là một nhà nghiên cứu rất có uy tín về vấn đề Hoa kiều, đặc biệt là Hoa kiều
Trang 16Việt Nam Bài viết này là một nghiên cứu mang tính chất đột phá, đã nêu ra và làm rõ
mấy vấn đề liên quan đến ý nghĩa của từ “Minh Hương”, thời gian xuất hiện “Minh
Hương”, nhân tố hình thành người “Minh Hương” Đây có thể được xem là công trình
đặt nền móng cho việc nghiên cứu về người Minh Hương Hội An nói riêng và Việt Nam nói chung
Kế tục công việc nghiên cứu về người Hoa ở Hội An của Giáo sư Trần Kinh Hoà, lớp học giả người Việt sau này cũng có không ít công trình học thuật đi sâu khảo cứu
vấn đề này Tiêu biểu như chuyên khảo Người Hoa, Người Minh Hương với văn hóa
Hội An của Nguyễn Ngọc Thơ và Sinh hoạt văn hóa người Hoa ở Hội An của hai tác giả
Trần Văn An và Tống Quốc Hưng Hai quyển sách này đề cập ở các mức độ khác nhau các giá trị văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Hội An, từ tôn giáo-tín ngưỡng, phong tục-tập quán, ngôn ngữ cho đến ăn mặc, kiến trúc , giúp độc giả có thể tìm hiểu thành
tố văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Hội An một cách nhanh chóng Bên cạnh đó, còn có một số sách và bài viết nghiên cứu trực tiếp thành tố văn hóa của cộng đồng
người Hoa ở Hội An như Văn hóa ẩm thực ở phố cổ Hội An của Trần Văn An, Miếu và
hội quán của người Hoa trong thành tố văn hóa, tín ngưỡng của cư dân Hội An (Quảng Nam) xưa và nay của tác giả Võ Thị Ánh Tuyết và Đào Vĩnh Hợp, Phố Đường nhân và Miếu Quan Công ở Hội An Việt Nam [越南會安 “唐人街” 與關公廟] của học giả Trung
Hoa Đàm Chí Từ [譚志詞]… Các tư liệu trên đã bước đầu cung cấp cho tác giả luận văn một cơ sở vững chắc để hoàn thành các nội dung liên quan đến cộng đồng người Hoa ở Hội An
*Nhóm công trình nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở Melaka
Giống như cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam), cộng đồng người Hoa
ở Melaka (Malaysia) cũng đã trở thành một đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về người Hoa ở Melaka về cơ bản có thể chia làm 2 nhóm nhỏ:
Thứ nhất là các công trình đề cập gián tiếp đến cộng đồng người Hoa ở ở Melaka
Điều đó có nghĩa là vấn đề người Hoa ở Melaka sẽ được trình bày có giới hạn với tư cách là một phần nội dung của các cuốn sách về lịch sử cộng đồng người Hoa ở Malaysia hoặc lịch sử Melaka Các thành quả học thuật tiêu biểu cho nhóm công trình này gồm
Trang 17có Lịch sử Hoa kiều Malaya [馬來亞華僑史] của Giáo sư Victor Purcell [巴素], Lịch
sử người Hoa Malaysia [馬來西亞華人史] của hai tác giả Lâm Thủy Cào [林水檺] và
Lạc Tịnh Sơn [駱靜山], Lịch sử người Hoa Malaysia: Quyền uy, cộng đồng và tín
ngưỡng [馬來西亞華人史:權威、社群與信仰] của học giả Tống Yên Bằng [宋燕鵬]
và Lịch sử Melaka [馬六甲史] của tác giả Trương Lễ Thiên [張禮千] Trong đó, chương
1 của chuyên khảo Lịch sử Hoa Kiều Malaya [馬來亞華僑史] đã giới thiệu tóm lược
lịch sử hình thành của cộng đồng người Hoa ở Melaka trong giai đoạn 1398-1795 Trên
cơ sở khai thác các báo cáo và thư tín của giới cầm quyền thực dân ở Malaysia và Melaka lúc bấy giờ, Giáo sư Victor Purell đã cung cấp một số nội dung về hoạt động và nhân
số của cộng đồng người Hoa ở Melaka Trong khi đó, sách Lịch sử Melaka mặc dù trình
bày một cách toàn diện lịch sử vùng đất này từ thời vương triều Melaka cho đến khi nơi này trở thành thuộc địa của Anh, nhưng trong đó cũng có đề cập đến vai trò của cộng đồng người Hoa đối với hoạt động thương mại tại Melaka
Thứ hai là các công trình đề cập trực tiếp đến cộng đồng người Hoa ở Melaka trên nhiều phương diện Tiêu biểu như Sự sùng bái tổ tiên và ẩm thực thờ cúng của Baba Nyonya [峇峇-娘惹的祖先崇拜與祭祀飲食] của Hanafi Husin [哈納菲˙忽辛], Từ trang phục Nyonya nhìn sự nhận đồng văn hóa của cộng đồng Baba Nyonya [從娘惹服
飾看峇峇娘惹族群的文化認同], Quá trình hình thành và hàm hóa của cộng đồng
người Hoa ở Melaka trong giai đoạn đầu của Tan Chee Beng Đặc biệt, bài viết của
Giáo sư Tan Chee Beng đã giới thiệu một cách rõ ràng về sự hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa ở Melaka từ thế kỉ XV cũng như phân tích bối cảnh diễn ra
quá trình “bản địa hóa” để hình thành cộng đồng Baba Nyonya ở Melaka Trong khi đó,
“Kapiten Cina”, danh xưng để chỉ cho người đứng đầu cộng đồng người Hoa ở Melaka
được sự công nhận của các thế lực thực dân cũng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của Giáo sư Nguyễn Dũng Hòa [阮湧俰] – một nhà nghiên cứu người Malaysia gốc Hoa Ông đã dành nhiều thời gian và công sức cho việc khảo cứu về chế độ Kapiten Cina ở
Melaka và công bố một số công trình học thuật về vấn đề này, như Bổ di về sự tích cuộc
đời của Kapiten Cina Melaka tên Lý Vi Kinh [馬六甲華人甲必丹李為經生平事迹補
遺], Bổ di về sự tích cuộc đời của Kapiten Cina Melaka tên Notchin và Trịnh Phương
Dương [馬六甲華人甲必丹 Notchin 與鄭芳揚生平事蹟補遺]…
Trang 18Như vậy, từ việc khảo sát một số tư liệu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài, có thể nhận ra rằng, cho đến hiện nay, mặc dù việc nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở Malaysia và Việt Nam nói chung cũng như ở Hội An và Melake nói riêng đã nhận được sự quan tâm của giới học giả hai nước và thành tựu nghiên cứu cũng tương đối phong phú, tuy nhiên, trên thực tế giới học giả mỗi nước cũng chỉ quan tâm đến lịch sử người Hoa trên đất nước mình mà chưa có sự mở rộng nghiên cứu cộng đồng người Hoa của các nước khác Đặc biệt, việc nghiên cứu thành tố văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) đặt trong mối quan hệ đối sánh là một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, chưa có bất kì một nhà nghiên cứu hay một công trình học thuật nào đề cập đến Chính điều đó đã trở thành cơ sở để tác giả lựa chọn và theo
đuổi việc nghiên cứu đề tài “Cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka
(Malaysia): Những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu thành tố văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia), trên cơ sở đó tiến hành so sánh để làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong thành tố văn hóa giữa hai cộng đồng người Hoa này Với những kết quả nghiên cứu được thể hiện trong luận văn, tác giả hy vọng sẽ từ góc nhìn lịch sử - văn hoá để đánh giá khách quan, chính xác vị trí, vai trò và đóng góp của cộng đồng người Hoa ở Hội An và Melaka đối với nền văn hoá của mỗi nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành việc nghiên cứu đề tài này, tác giả phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, tác giả đi sâu nghiên cứu để làm rõ các nhân tố tác động cũng như quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia)
Thứ hai, thông qua việc khai thác các nguồn tư liệu khác nhau, tác giả tái hiện lại thành tố văn hóa của cộng đồng người hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) trên các phương diện khác nhau
Thứ ba, tác giả phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa của
Trang 19cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) đồng thời chỉ ra các nhân tố tạo nên sự khác biệt đó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là thành tố văn hóa của cộng đồng người
Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) đặt trong mối quan hệ so sánh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu thành tố văn hóa của cộng đồng người Hoa sinh sống trên phạm
vi không gian địa lí Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) trong phạm vi thời gian
từ khi hai cộng đồng này được hình thành cho đến ngày nay
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Nghiên cứu đề tài “Cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka
(Malaysia): Những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa”, tác giả chủ yếu sử
dụng các nguồn tư liệu sau:
Thứ nhất là nguồn tư liệu gốc Để tiến hành nghiên cứu thành tố văn hóa của cộng
đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia), tác giả sử dụng nguồn thư tịch do tư nhân hoặc cơ quan viết sử của các nhà nước quân chủ Việt Nam biên soạn, đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến cộng đồng người Hoa ở Hội An Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng nguồn tư liệu cổ của Trung Quốc được ghi chép dưới thời kì Minh – Thanh
có liên quan đến Malaysia, Singapore và hoạt cộng đồng người Hoa ở các quốc gia này Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các tư liệu gốc của người phương Tây ghi chép về người
Hoa ở Hội An và Melaka
Thứ hai là thành quả học thuật của giới nghiên cứu Trong quá trình nghiên
cứu đề tài, tác giả sử dụng các công trình nghiên cứu của giới học giả Việt Nam, Malaysia, Trung Quốc và các nước phương Tây về cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á nói chung cũng như ở Việt Nam và Malaysia nói riêng trong lịch sử, đặc biệt
là những thành quả nghiên cứu có liên quan đến thành tố văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Hội An và Melaka
Thứ ba là nguồn tư liệu internet Trong luận văn này, ngoài nguồn từ liệu gốc
Trang 20và các ấn phẩm học thuật của các nhà nghiên cứu, tác giả còn sử dụng hệ thống tư
liệu trên mạng internet như bài viết Tìm hiểu hoạt động ngoại thương của cộng đồng
người Hoa ở Hội An (XVI-XVIII) của tác giả Trương Tuấn Nghĩa, bài viết週末不加
trình này ở một mức độ nhất định đã có tác dụng gợi mở và đặt cơ sở để tác giả tiến hành nghiên cứu đối sánh thành tố văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia)
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu đề tài này, tác giả đã áp dụng các phương pháp như sau:
Phương pháp xử lí tư liệu: Tác giả tiến hành thu thập, tập hợp, chọn lọc các thành
quả học thuật, công trình nghiên cứu đã được công bố và các tư liệu gốc về chủ trương, chính sách của các cấp có thẩm quyền ban hành, để phục vụ cho việc triển khai nghiên cứu các nội dung trong luận văn
Phương pháp quan sát: Mục đích của phương pháp này là quan sát trực tiếp, quay
phim, chụp ảnh tư liệu, để có được cái nhìn chân thực về các giá trị văn hoá của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia)
Ngoài ra, để hoàn thành việc nghiên cứu luận văn này, tác giả còn kết hợp sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic với các phương pháp nghiên cứu khác như phân tích, tổng hợp, thống kê…, nhằm khai thác triệt để tư liệu và rút ra những thông tin cần thiết nhất phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Đặc biệt, để làm rõ được sự tương đồng và khác biệt trong thành tố văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam)
và Melaka (Malaysia), thì phương pháp nghiên cứu so sánh giữ một vai trò cực kì quan trọng
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn được nghiên cứu hoàn thành sẽ có ý nghĩa sâu sắc trên phương diện khoa
học và thực tiễn với các đóng góp cụ thể và thiết thực sau đây:
Thứ nhất, tập hợp sử liệu có giá trị về thành tố văn hóa của cộng đồng người Hoa
ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia) để nghiên cứu một cách hệ thống
Thứ hai, trên cơ sở khai thác nguồn tài liệu gốc cũng như kế thừa thành quả của
giới nghiên cứu trong và ngoài nước, luận văn tiến hành đối sánh để làm rõ sự tương
Trang 21đồng và khác biệt trong văn hoá của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và
Melaka (Malaysia)
Thứ ba, việc hoàn thành nghiên cứu đề tài sẽ cung cấp một tài liệu chuyên khảo có
giá trị về mặt khoa học, phục vụ cho công việc nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử người Hoa ở Việt Nam và Malaysia cũng như quan hệ giao lưu văn hoá của cộng đồng này tại hai nước thông qua việc nghiên cứu trường hợp Hội An và Melaka
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa ở Hội
An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia)
Chương 2: Thành tố văn hóa tiêu biểu của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia)
Chương 3: Những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia)
Trang 22NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở HỘI AN (VIỆT NAM) VÀ MELAKA (MALAYSIA)
1.1 Thuật ngữ “Hoa kiều” và “người Hoa”, “người Minh Hương” và “người
Baba Nyonya”
Thuật ngữ “Hoa kiều” xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX Đến đầu thế kỷ XX,
người ta mới sử dụng thuật ngữ này một cách phổ biến để chỉ cho người Trung Quốc hải ngoại [50, tr 14] Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có không ít người sử dụng thuật ngữ
“Hoa kiều” và “người Hoa” một cách lẫn lộn và cũng không phân biệt được sự khác biệt
căn bản giữa chúng Mãi đến năm 1955, chính phủ Trung Quốc bãi bỏ chính sách cho
phép nhân dân mang hai quốc tịch Lúc bấy giờ, thuật ngữ “Hoa kiều” và “người Hoa” mới được định nghĩa một cách khoa học và rõ ràng “Hoa kiều” là thuật ngữ dùng để chỉ
cho những kiều dân cư trú ở nước ngoài, nhưng vẫn bảo lưu quốc tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (nếu đã nhập quốc tịch nước ngoài thì không thể gọi là Hoa kiều) Còn
“người Hoa” là thuật ngữ dùng chỉ cho những người có huyết thống Trung Hoa, tuy
nhiên họ đã nhập tịch quốc gia đang cư trú
Đối với thuật ngữ “người Hoa”, Giáo sư Trần Khánh cho rằng, những người được gọi là “người Hoa” phải đáp ứng được 5 tiêu chuẩn sau:
Một là phải có gốc rễ ở Trung Quốc hoặc đã bị Hán hóa
Hai là họ phải sinh hoạt ổn định ở nước ngoài
Ba là họ đã nhập tịch nhà nước đang cư trú
Bốn là họ ít nhiều đã bị đồng hóa
Năm là họ cho rằng bản thân là người Hoa [13, tr 29]
Đến năm 1995, nhà nước Việt Nam cũng đã cụ thể hóa khái niệm “người Hoa”
bằng pháp luật Chỉ thị số 62-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) ngày
8 tháng 11 năm 1995 về tăng cường công tác người Hoa trong tình hình mới đã xác định
khái niệm người Hoa như sau: “Người Hoa bao gồm những người có gốc Hán và những
Trang 23người thuộc dân tộc ít người ở Trung Quốc đã Hán hóa di cư sang Việt Nam và con cháu của họ sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, đã nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn còn giữ những đặc trưng văn hóa, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của người dân tộc Hán và tự nhận mình là người Hoa” [19, tr 26-27] Từ đó, thuật ngữ “Hoa kiều”
không còn được sử dụng để gọi cộng đồng người Hoa đã nhập quốc tịch Việt Nam Như vậy, từ đầu thế kỷ XX trở về trước, giới nghiên cứu Việt Nam và Malaysia vẫn có thể
sử dụng thuật ngữ “Hoa kiều” để chỉ cho cộng đồng người Trung Quốc đến làm ăn sinh
sống tại hai quốc gia này Tuy nhiên, sau khi họ nhập quốc tịch Việt Nam hoặc Malaysia,
thì không thể sử dụng thuật ngữ “Hoa kiều” mà phải gọi họ là “người Hoa”
Ngoài “Hoa kiều” và “người Hoa”, thuật ngữ “người Minh Hương” và “người
Baba Nyonya” cũng cần phải được làm rõ nội hàm Nhìn từ lịch sử, có thể thấy rằng,
trong giai đoạn đầu, người Trung Quốc đến Hội An và Melaka gồm hai loại chính: Một
là thương nhân đến làm ăn, buôn bán và hai là di dân của nhà Minh Để thuận lợi trong hoạt động thương mại và sinh sống trên vùng đất mới, những người Trung Quốc này, đại đa số là đàn ông tị nạn chính trị do tình trạng cải triều hoán đại ở Trung Hoa gây ra
đã kết hôn với người bản xứ và định cư tại đây Những người Trung Quốc này và thế hệ
con lai được sinh ra trong ở Hội An đều được gọi chung là “người Minh Hương” (xuất phát từ quan niệm “người trung thành với nhà Minh”, “Hương hoả của nhà Minh, những
người thờ cúng nhà Minh” [43, tr 209]) Còn ở Melaka, người ta dùng thuật ngữ “người Baba Nyonya” để chỉ cho những hậu duệ của người Trung Hoa với người bản xứ Cộng
đồng này được sinh ra tại địa phương, họ thường nhận được sự tin tưởng của giai cấp thống trị nước cư trú, nên giữ vị trí quan trọng trong lĩnh vực kinh tế và xã hội Trần
Kinh Hòa nhận xét: “Vì các Hoa thương và Hoa kiều ở Hội An phần đông là những
người có học thức, thông thạo tình hình buôn bán trong ngoài nên phủ chúa Nguyễn thường phó thác cho họ những công việc đặc biệt Ví dụ các chức vụ Cai tào, Tri tào, Cai bộ tào, Ký lục, Thông ngôn và các quan khác có liên quan Tào Vụ, trên nguyên tắc đều lấy kiều dân xã Minh Hương ” [12, tr 105] Người Minh Hương ở Hội An và Baba
Nyonya ở Melaka đều hòa nhập vào xã hội bản xứ một cách tự nhiên, nói ngôn ngữ Việt (Minh Hương) và tiếng Malay (Baba Nyonya) Tuy nhiên, tôn giáo-tín ngưỡng và phong tục-tập quán của họ lại văn theo văn hóa Trung Hoa Trong luận văn này, cộng đồng
Trang 24người Hoa được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả người Minh Hương ở Hội An và người Baba Nyonya ở Melaka
1.2 Các nhân tố tác động đến sự hình thành của cộng đồng người Hoa ở Hội
An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia)
1.2.1 Nhân tố thương mại
Khi nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia), các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, một trong những nhân tố quan trọng dẫn tới sự hình thành của cộng đồng người Hoa hai cảng thị này đó chính là thương mại
Theo những nghiên cứu về người Hoa Hội An của Giáo sư Trần Kinh Hòa, thương nhân Trung Quốc ở Hội An chia làm hai loại khác nhau Loại thứ nhất là những thương khách vì gió mùa không thuận hoặc do dịch vụ buôn bán kéo dài, không kịp về nước theo gió mùa tháng 7, tháng 8 nên đành phải ở lại cho hết năm để chờ kỳ gió sang năm
mới về phương Bắc Đó là những người vì “áp đông” [押冬/壓冬] mà phải ở lại Hội
An Còn loại thương nhân thứ hai là những người tự nguyện xin cư trú lâu dài hay vĩnh viễn tại cảng thị này Loại này phần đông là thủ quỹ hay mại biện của chủ thuyền, hoặc đại diện cho công ty buôn bán Một mặt ở lại Hội An để bán cho hết các thứ hàng hóa
do thuyền mình để lại, mặt khác mua sẵn các thổ sản của Quảng Nam và Đàng Trong như tơ lụa, hương kỳ nam, đường, tiêu, yến, vây cá, tô mộc để thuyền buôn của thương hội mình đến mùa xuân sau khi trở về đây sẽ có đủ hàng hóa để chở về phương Bắc Đối với những người Hoa di cư trong giai đoạn đầu này, chúa Nguyễn chẳng những không phản đối, mà còn khuyến khích và định rõ nơi cư trú cho họ [56, tr 2690]
Minh sử của Trung Quốc cho biết, từ năm Hồng Vũ thứ 4 (1371), Minh Thái Tổ
đã ra chiếu chỉ nghiêm cấm dân chúng miền duyên hải Trung Quốc không được xuất ngoại Nhà Minh cũng nghiêm cấm mậu dịch hải ngoại dưới bất kì hình thức nào, ngoại
trừ mậu dịch triều cống “Mậu dịch triều cống” là loại hình mậu dịch duy nhất được
triều đình nhà Minh cho phép và do cơ quan Thị Bách ty [市舶司] quản lí Thuyền vào
để triều cống sẽ mang hàng hóa với số lượng nhất định Số lượng người trên thuyền, thời gian lưu lại, đường thủy di chuyển của thuyền đều phải tuân theo quy định của triều đình nhà Minh [47, tr 66] Trên thực tế, việc nghiêm cấm dân chúng xuất ngoại và kiểm
Trang 25soát chặt chẽ mậu dịch hàng hải là hệ quả của chính sách hải cấm “một tấc gỗ cũng
không cho ra hải ngoại” [片板不許入海], được Minh Thái Tổ đề ra ngay ở giai đoạn
đầu kiến lập vương triều Chính sách này ra đời chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân chính trị Lúc bấy giờ, chính nỗi lo về việc gian dân cấu kết với thế lực thù địch, gây ra sự uy hiếp cho chiến quyền nhà Minh, đặc biệt là yêu cầu đặt ra từ việc phòng bị trước lực lượng tàn dư của Trương Sĩ Thành [張士誠] và Phương Quốc Trân [方國珍] [47, tr 66], chính điều đó đã khiến cho Minh Thái Tổ kiên quyết ban hành và thực thi chính sách hải cấm Mãi đến năm 1567, Minh Mục Tông mới hạ lệnh bãi bỏ hải cấm và cho phép thường dân xuất dương buôn bán Tuy nhiên, lệnh này chỉ áp dụng đối với hoạt động thương mại giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Còn việc giao thương giữa Trung Quốc và Nhật Bản vốn mang lại nhiều lời lộc thì vẫn hoàn toàn bị nhà Minh nghiêm cấm, do những hậu quả mà hải tặc Nhật Bản đã gây ra trước đó Trong bối cảnh
đó, nhiều thương nhân Nhật Bản và Trung Hoa đã hướng đến các cảng thị ở Đông Nam
Á, trong đó có Hội An Bởi ở đó họ có thể tự do trao đổi buôn bán những thứ hàng hoá
mà hai bên cần mà không vấp phải bất kì sự cấm đoán nào Như vậy, chính thương mại
đã trở thành động lực thúc đẩy sự ra đời của cộng đồng người Hoa ở Hội An
Giống như cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam), quá trình ra đời của cộng đoàn người Hoa ở Melaka (Malaysia) cũng chịu tác động bởi nhân tố thương mại Dựa vào những ghi chép sớm nhất của người Trung Quốc, từ đầu thế kỷ XV đã có người Hoa xuất hiện ở Melaka Vị trí chiến lược đặc biệt của Melaka đã làm cho nơi đây trở thành một địa điểm mà trong các cuộc hải hành của mình, Trịnh Hòa đều muốn dừng chân Bằng việc đối chiếu so sánh các nguồn tư liệu khác nhau, học giả Vạn Minh [萬明] cho rằng, trong bảy cuộc hải hành của mình, Trịnh Hòa đều dừng chân ở Melaka [59, tr 94-95] Như vậy, Trịnh Hòa đã trở thành một mắc xích quan trọng trong mối quan hệ giữa nhà Minh Trung Quốc và Melaka ở đầu thế kỉ XV Sau đó, nhờ sự ủng hộ của nhà Minh, Melaka đã thoát khỏi sự kiểm soát của Xiêm La Cũng từ đó, mối quan hệ thương mại hòa bình, hữu hảo giữa nhà Minh và Melaka được thiết lập Theo các tư liệu của Trung Quốc, trong cac cuộc hải hành, Trịnh Hòa và đoàn tuỳ tùng đã mang nhiều hàng hóa của Trung Hoa và các nước đến Melaka, làm cho nơi đây trở thành điểm giao thương quan trọng, thu hút sự quan tâm của thương nhân các nước Nhận thấy địa thế thuận lợi của
Trang 26Melaka, từ sau cuộc hải hành lần thứ nhất (1405) và thứ hai (1407) của Trịnh Hoà, thương nhân Trung Quốc cũng tìm đến đây buôn bán ngày một đông Đó chính là tiền
đề cho sự ra đời của cộng đồng người Hoa tại Melaka sau đó
1.2.2 Nhân tố chính trị
Nguyên nhân để người Hoa dần dần tập hợp và hình thành cộng động ở Hội An, ngoài việc xuất phát từ hoạt động thương mại như đã đề cập ở trên thì còn bắt nguồn từ
những biến động chính trị ở Trung Quốc Trên thực thế, giữa thế kỷ XVII chính là
khoảng thời gian đánh dấu cho sự bùng nổ của một làn sóng di cư lớn của người Hoa
đến Hội An Tuy nhiên, không giống như ở giai đoạn trước, “khi mà sự di cư xuất phát
từ mục đích giao thương buôn bán, tìm kiếm thị trường, tìm các nguồn lợi kinh tế thì trong giai đoạn này, nguyên nhân chính yếu xuất phát từ những sự bất ổn trong nền chính trị ở Trung Quốc, đó là khi người Mãn lật đổ nhà Minh lập nên triều đại nhà Thanh đã thi hành một số chính sách khắt khe, độc tài như bắt buộc dân chúng phải cạo tóc, thắt bím, ăn mặc như người Mãn Tiếp đó là những chính sách cấm biển, di huyện, dời dân làm cho dân chúng vô cùng khốn khổ, mâu thuẫn giữa dân chúng và triều đình
đã đến mức không thể giải quyết được Một số dân chúng ở vùng Phúc kiến, Quảng Đông, Sơn Đông, Hà Bắc, Giang Tô, Triết Giang… và các vùng hải đảo đã phải rời bỏ quê hương của mình cùng với các “di thần”, “cựu thần” nhà Minh và các thương nhân, thợ thủ công, dân nghèo và kể cả tù binh… tìm đến các quốc gia Đông Nam Á khác để làm ăn sinh sống trong đó có Hội An thuộc xứ Quảng - Đàng Trong của Việt Nam Cũng
từ đây, các tổ chức làng xã, các bang hội theo nguồn gốc quê quán của cộng đồng cư dân người Hoa đã được hình thành tại nơi này”[63]
Theo Giáo sư Trần Kinh Hòa, những người Trung Quốc di cư đến Hội An do nhân
tố chính trị được chia ra thành hai nhóm tương ứng với hai giai đoạn khác nhau Thứ nhất là nhóm đến trong giai đoạn 1645-1661, chủ yếu là những người tị nạn chính trị
đến từ khu vực Hoa Nam Họ đến Hội An với tâm lí “bị động” và lo lắng sau biến cố
triều Minh sụp đổ Họ cũng hoàn toàn mất hết hy vọng một ngày nào đó sẽ được trở về quê hương Vì vậy, họ tìm cách định cư lâu dài trên một vùng đất mới Cư dân Minh Hương xã ở Hội An đều là những di dân thuộc này Thứ hai là nhóm đến trong giai đoạn 1661-1683, đại bộ phận là người Phúc Kiến Họ là những thương khách, chỉ đến Hội An
Trang 27với nhiệm vụ thu mua, tích trữ lương thực, đạn dược để ủng hộ phòng trào “phản Thanh
phục Minh”, chứ ít định cư lâu dài [56, tr 2691]
Cũng giống như tình hình bên Hội An, số lượng người Hoa ở Melaka bắt đầu gia tăng một cách rõ rệt cũng là trong giai đoạn cuối triều Minh Lúc bấy giờ, tình trạng xã hội rối loạn bất an, cục diện chính trị biến động bất ổn, sưu cao thuế nặng đã làm dân chúng vô cùng thống khổ, nạn đói hoành hành Chính điều đó đã khiến cho một bộ phận người Hoa phải chấp nhận rời bỏ quê hương để đi đến các quốc gia ở Đông Nam Á để tìm kế sinh sống, trong đó có Melaka Khi triều Thanh thay thế triều Minh cai trị Trung Quốc, xuất phát từ nguyên nhân chính trị, nhiều người Hoa ủng hộ triều Minh và không
chịu phục tùng thế lực nhà Thanh đã chạy đến Nam Dương tị nạn Văn bia Kapiten Lí
Công tụng đức [甲必丹李公頌德碑] (1685) từng ghi chép trường hợp Lí Vi Kinh [李
為經] là “Bởi vì sự suy nhược của nhà Minh cho nên phải hàng hải Nam di” [因明季祚 滄桑遂航海而南行] Bài vị của Lí Vi Kinh cũng ghi chép ông ấy là một người “nghĩa
sĩ tị nạn” [避難義士] chính là bởi vì ông ấy không chịu thừa nhận chính quyền nhà
Thanh cho nên đã theo đường biển di cư đến Melaka [58, tr 76]
1.2.3 Chính sách của chính quyền bản xứ ở Đàng Trong và Melaka
Ngoài thương mại và chính trị thì chính sách của chính quyền bản xứ cũng là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến sự ra đời của cộng đồng người Hoa Ở Đàng Trong (Việt Nam), chính sách của chúa Nguyễn đối với người Hoa trong các thế kỉ XVI, XVII đã có tác động tích cực đến quá trình hình thành cộng đồng người Hoa tại Hội An
Trên thực tế, “khi vào khai phá vùng đất Đàng Trong, với mong muốn xây dựng một thế
lực kinh tế, chính trị, quân sự mạnh, để thoát dẫn sự ảnh hưởng, đi đến chống lại đối thủ chính trị Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đặc biệt trên cơ sở nghiên cứu kĩ điều kiện địa
lí, thuỷ văn của xứ Nam Hà” [20, tr 3], nên ngày từ đầu, các chúa Nguyễn đã táo bạo
“đặt cược thể chế của mình với sự hưng vong của kinh tế ngoại thương” [14, tr 22] Để hiện thực hoá khát vọng đưa Đàng Trong trở thành một “thể chế biển”, “vương quốc
biển”, các chúa Nguyễn nhận thấy rằng, người Hoa sẽ là một trong những yếu tố góp
phần thúc đẩy nhanh quá trình này Vì vậy, trước sự xuất hiện ngày càng đông của người Hoa tại nhiều điểm khác nhau ở Đàng Trong, trong đó có Hội An ở đầu thế kỉ XVII, chúa Nguyễn không những không trục xuất họ, mà ngược lại còn còn tỏ thái độ thân
Trang 28thiện chào đón, khi cho phép họ được tập hợp, lập làng và cư trú ổn định như các thần dân của chúa Nguyễn ở Đàng Trong Chính điều này đã thúc đẩy nhanh sự hình thành
tổ chức “Minh Hương xã” ở Hội An vào khoảng giữa thế kỷ XVII Sự kiện này được khẳng định trong ghi chép của Cristophoro Borri năm 1618: “ Vì cho tiện việc hội chợ,
chúa Nguyễn đã cho phép người Trung Quốc và Nhật Bản làm nhà cửa theo tỷ lệ với số người của họ để dựng lên một đô thị Đô thị này gọi là Faifo và nó khá lớn Chúng ta
có thể nói có hai thành phố, một của Trung Quốc, một của Nhật Bản Họ sống riêng biệt đặt quan cai trị riêng và theo phong thục tập quán của mỗi nước” [6, tr 74]
Đối với Melaka, cùng với sự thiết lập quan hệ với Trung Quốc ở đầu thế kỉ XV [37, tr 48-49], vương triều Srivijaya của quốc vương Parameswara đã cho phép người Trung Quốc được đến làm ăn, sinh sống tại Melaka Chính vì vậy, ngày từ năm 1405, các tư liệu của người Trung Quốc đã ghi nhận sự có mặt của người Hoa tại khu vực này [37, tr 48-49] Giáo sư Victor Purcell cho rằng, mặc dù ở đầu thế kỉ XV đã bắt đầu có
sự xuất hiện của người Hoa tại Melaka, nhưng lúc bấy giờ, người Hoa chỉ đến đây cư trú tạm thời để tiến hành công việc giao thương, buôn bán, chứ chưa định cư lâu dài
Trong khi đó, truyền thuyết được ghi chép trong “Sejarah Melayu”2 lại cho phép giới nghiên cứu suy đoán về sự tồn tại của một cộng đồng người Hoa nhỏ tại Melaka trong thế kỉ XV
Từ năm 1511 đến năm 1641, vùng đất này nằm dưới sự thống trị của thực dân
Bồ Đào Nha Theo ghi chép của một người Bồ Đào Nha tên là D Albuquerque, “trước
khi người Malay đến đây, Melaka chỉ có hai, ba mươi người chiếm cứ ở đây, họ thông thường là sống bằng nghề đánh cá và đại bộ phận đều là ăn cướp Sau khi vương quốc Melaka được thành lập, kinh tế ở đây chủ yếu là nhờ vào mậu dịch của Hoa thương”
[32, tr 13] Nhà thám hiểm Bồ Đào Nha De Eredia đã ghi chép một cách rõ ràng rằng,
lúc bấy giờ Melaka đã có một làng người Hoa “Campon China”, cư dân chủ yếu là
người Chương Châu và người Phúc Kiến Mặc dù De Eredia không ghi lại nhân số của cộng đồng người Hoa ở Melaka tại thời điểm đó, tuy nhiên từ miêu tả của ông, các học giả đã có được cơ sở tư liệu vững chắc để khẳng định, ít nhất từ đầu thời kỳ XVII, đã
2 “Sejarah Melayu” là tài liệu được tể tướng Tun Sri Lanang sửa chữa, chỉnh lý và hoàn thiện vào năm 1612 Đây
là ghi chép duy nhất hiện còn về lịch sử Vương quốc Xu-đan Mã Lai trong thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI
Trang 29có một cộng đồng người Hoa quy mô không nhỏ đang cư trú tại Melaka [29, tr 39] Tuy nhiên, trong thời gian thực dân Bồ Đào Nha thống trị Melaka, thương nghiệp của cộng đồng người Hoa ở đây không phát triển thịnh vượng Chính sách sưu cao thuế nặng của thực dân Bồ Đào Nha đối với người Hoa (thuế hàng hóa đối với người Hoa
là 10%) cùng với sự phân biệt đối xử giữa người Hoa với tín đồ Cơ đốc giáo và các tôn giáo đã khiến cho cộng đồng người Hoa ở Melaka không có điều phát triển Bên cạnh đó, thời gian Bồ Đào Nha cai trị Melaka, chiến tranh xung đột diễn ra liên miên Điều này chắc chắn đã tác động tiêu cực đến việc mở rộng quy mô của công đồng người Hoa tại đây Lúc bấy giờ, dân số người Hoa tại Melaka chỉ khoảng 300-400 người [52, tr 221] Khi thực dân Hà Lan thay thế Bồ Đào Nha thống trị Melaka (1641-1824), trong kế hoạch phục hưng cảng thị Melaka của thực dân Hà Lan, cộng đồng người Hoa rất được xem trọng, chế độ Kapiten Cina mà thực dân Bồ Đào Nha áp dụng trước đó đối với cộng đồng người Hoa tại Melaka cũng được họ kế tục Trong báo cáo
của Justus Schouten cũng nhắc đến “đất giữa Tâm Bảo sơn và ngoại thành phía Nam,
nên cho người Hà Lan, người Bồ Đào Nha và người Hoa khai khẩn… để cung cấp các nhu cầu cần thiết của thành thị Muốn đạt được mục đích này, 800 đến 1000 người Hoa cư trú ở đây là có vai trò lớn nhất” [52, tr 221] Bên cạnh đó, “để phát triển mậu dịch ở Melaka, chúng ta nên cố gắng khảo cứu các phương pháp, có một chính sách thích hợp nhất là thu thuế từ thương truyền của Hoa thương mỗi năm đến Melaka”
[32, tr 20] Từ năm 1824, người Anh chính thức cai trị Melaka Chính quyền thuộc địa Anh tại đây khuyến khích người Trung Quốc di chuyển đến bán đảo Mã Lai nói chung và Melaka nói riêng, bởi vì đây là nguồn cung ứng sức lao động giá rẻ, có lợi cho sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế trên bán đảo Mã Lai và mục đích cuối cùng
là hướng tới thỏa mãn lợi ích của thực dân Anh Chính điều đó đã khiến cho quy mô dân số của cộng đòng người Hoa ở Melaka tăng lên khá nhiều
Như vậy, từ thế kỉ XV với sự thiết lập quan hệ với Trung Quốc, chính quyền của người bản xứ ở Melaka đã tiếp nhận và tạo điều kiện để người Hoa đến đây sinh sống
và hình thành cộng đồng Sau đó, Melaka rơi vào số phận đầy thăng trầm khi liên tục chịu sự cai trị của thực dân Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh Tương ứng với từng giai đoạn, chính quyền thuộc địa cũng đã có những chính sách cụ thể đối với người Hoa sinh sống
Trang 30tại Melaka, nhìn chung đã có tác động tích cực đến việc tăng cường vai trò vị trí và quy
mô của cộng đồng người Hoa trên vùng đất này
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam) và Melaka (Malaysia)
1.3.1 Cộng đồng người Hoa ở Hội An (Việt Nam)
Ngày này, nói đến Hội An [會安], người ta thường hình dung đây là một địa điểm
du lịch nổi tiếng, nơi đã từng khắc ghi những dấu ấn quan trọng trong quá trình tồn tại
và phát triển của xứ Đàng Trong xưa và cũng là một minh chứng sống động cho quá trình giao lưu văn hoá Tuy nhiên, ngoài những điểm đặc sắc trên, Hội An còn định hình giá trị của mình với tư cách là một vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, mà ngay từ tên gọi của vùng đất này cũng đã đem lại cho người ta không ít sự tò mò, hiếu kì Vậy địa
danh này đã xuất hiện trong lịch sử Việt Nam từ bao giờ? Trong Ô châu cận lục, Dương
Văn An cho biết, vào nửa đầu thế kỉ XVI, huyện Điện Bàn có 66 xã, trong đó có các xã Hoài Phô, Cẩm Phô, Lai Nghi [1, tr 65], nhưng không thấy đề cập đến địa danh Hội An Trên thực tế, địa danh Hội An (Hội An phố, Hội An đàm, Hội An kiều) xuất hiện lần
đầu tiên trên tấm bản đồ in trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá sưu tầm và biên
soạn trong khoảng thời gian từ 1630 đến 1653 Địa danh này còn xuất hiện trên tấm bia
Phổ Đà Linh Sơn Trung Phật tại động Hoa Nghiêm, Ngũ Hành Sơn Dưới triều Nguyễn,
địa giới của Hội An được xác định rõ ràng hơn với 6 làng, gồm Hội An, Minh Hương,
Cổ Trai, Đông An, Diêm Hộ và Hoa Phô Nhà nghiên cứu người Pháp Albert Sallet - người đã khảo cứu khá sâu về Quảng Nam trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX thì cho rằng địa bàn quần cư của Hội An cổ gồm năm làng Hội An, Cẩm Phô, Phong Niên, Minh Hương và An Thọ, trong đó Hội An là làng quan trọng nhất [23, tr 207] Như vậy, sớm nhất là đến nửa đầu thế kỉ XVII, địa danh Hội An đã xuất hiện trong các thư tịch về địa lí, lịch sử Việt Nam
Điều đáng nói là trong các tài liệu của người phương Tây, Hội An lại được gọi là Faifo, Faifoo, Fayfoo, Faiso, Facfo Các tên gọi này được xem là biến âm của Hoài Phô, Hoài phố, Hội An phố hoặc Hải phố Trong cuốn Từ điển Việt-Bồ-La
do Alexandre de Rhodes biên soạn và được xuất bản tại Roma vào năm 1651, Hoài Phô được giải thích là một làng trong xứ Cochinchina mà người Nhật ở và gọi là Faifo
Trang 31[23, tr 206] Từ một cách tiếp cận khác, có nhà nghiên cứu có rằng, nhánh sông Thu Bồn chảy qua phố cổ Hội An hiện nay có tên là sông Hoài, nên Hội An còn được gọi
là Hoài phố, sau Hoài phố đọc lệch thành Phai phố, từ đó xuất hiện cái tên Faifo [22,
tr 190] Cũng có giả thuyết cho rằng, Faifo xuất phát từ Hội An phố - một địa danh
từng xuất hiện trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá Còn theo học giả Lê Văn
Hảo, Faifo có nguồn gốc từ Hải phố Địa danh này xuất hiện lần đầu tiên trên bản đồ
Đại Việt do Alexandre de Rhodes công bố năm 1653 trong cuốn Những cuộc hành
trình và truyền giáo tại Trung Quốc và những Vương quốc khác ở phương Đông và từ
địa danh Hải phố, người phương Tây đã đọc trại ra là Fay Fo hay Faifo, Faifoo Hội
An có lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi và vị trí cảng an toàn Pierre Poivre cũng từng
đánh giá về Hội An như sau: “Cảng thì sâu, tàu bè được an toàn Nó rất thuận lợi đối
với các thương nhân” [5, tr 50]
Trong lịch sử hình thành phố cảng Hội An, người Hoa luôn giữ một vai trò quan trọng Họ không chỉ góp phần to lớn đối với sự hình thành, phát triển đô thị - thương cảng này, mà còn cả đối với quá trình định hình sắc thái văn hóa của cộng đồng cư dân Hội An trong lịch sử Việt Nam
Từ nửa sau thế kỷ XVI, thương nhân Trung Quốc đã đến Đàng Trong và họ tập trung chủ yếu ở Hội An để trao đổi buôn bán Do chế độ gió mùa, các Hoa thương phải
“lưu đông” Một số Hoa thương kết hôn với người bản xứ, tạo tiền đề cho việc lưu trú
và buôn bán lâu dài Chúa Nguyễn cho phép họ được lập phố Với chính sách ngoại thương cởi mở như vậy, đến đầu thế kỷ XVII, một tổ chức xã hội của cộng đồng người Hoa đầu tiên ở Hội An đã được hình thành xuất phát từ hoạt động kinh tế
Giai đoạn cuối thế kỷ XVII đánh dấu một bước ngoặt mới trong lịch sử di dân người Hoa ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng Ngoài nhóm thương khách nói trên, giai đoạn này chứng kiến những nhóm dân lưu vong của nhà Minh xuống tránh
họa Mãn Thanh “Người nhà Minh” bất phục nhà Thanh đã kéo theo cả bộ thuộc ra đi, tạo nên một làn sóng di cư mạnh mẽ xuống phương Nam, bao gồm các “thần dân” (di
thần) và quan lại triều đình nhà Minh (cựu thần) Trong bối cảnh đó, Hội An là một trong những điểm dừng chân quan trọng của đoàn người tị nạn này Đây là làn sóng di
cư lớn thứ hai của cư dân Trung Hoa đến Hội An xuất phát từ nguyên nhân biến động
Trang 32chính trị Lúc bấy giờ, số người Hoa nhập cư tăng lên nhanh chóng Chúa Nguyễn đã cho họ cư trú trong từng khu riêng biệt gọi là Minh Hương xã Thế kỷ XVII, dân số Minh Hương khoảng 6 nghìn người [10, tr 460] Cảng thị Hội An lúc bấy giờ là nơi tập trung nhiều nhất hàng hóa sản vật của cả khu vực Đàng Trong, Đàng Ngoài cũng như của các nước trong khu vực Khu phố dọc bờ sông, gắn liền với hoạt động buôn bán của người Hoa, nên được gọi khu Đại Đường, kéo dài 3, 4 dặm Tại đây, các hiệu buôn của người Hoa nằm san sát, tấp nập, sầm uất Người Hoa sống tại khu Đại Đường đến từ nhiều địa phương khác nhau ở Trung Quốc, tuy nhiên đông nhất vẫn là người Phúc Kiến Mặc dù đã sinh cơ lập nghiệp trên đất Việt nhưng họ vẫn mặc trang phục của người Hoa thời Minh Nhiều người Trung Quốc đến buôn bán, sau đó định cư lâu dài tại Hội An và
đã kết hôn với những phụ nữ bản địa [25, tr 27]
Năm 1695, Thomas Bowyear - Đại diện của Công ty Đông Ấn Anh khi đến Đàng
Trong đặt quan hệ thương mại đã ghi chép lại như sau: “Khu phố Faifo này có một con
đường nằm sát với sông Hai bên đường có khoảng 100 ngôi nhà xây dựng san sát nhau Ngoại trừ khoảng bốn năm ngôi nhà là của người Nhật còn lại toàn bộ là của người Hoa Trước kia, người Nhật đã từng là cư dân chủ yếu của khu phố này và là chủ nhân phần lớn của các hoạt động thông thương ở bến cảng Hội An Bây giờ, vai trò thương nghiệp chính đã chuyển sang cho người Hoa So với thời kỳ trước thì không được sầm uất, nhưng hàng năm ít nhất cũng có từ 10 đến 12 tàu của các nước Nhật Bản, Quảng Đông, Xiêm, Campuchia, Manila, và có cả tàu của Indonesia cũng đến cảng thị này”
[25, tr 27]
Trong thời kỳ các chúa Nguyễn, cộng đồng người Hoa ở Hội An được các chúa Nguyễn xem trọng và ưu đãi Học giả Trần Khánh đã từng chỉ ra một số nguyên nhân khiến các chúa Nguyễn thực hiện chính sách ưu đãi đối với Hoa thương Thứ nhất, thu nhập từ việc đánh thuế tàu buôn của Hoa thương có thể đảm bảo cho sự phát triển kinh
tế của Đàng Trong Thứ hai, chúa Nguyễn muốn thông qua người Hoa để du nhập các ngành nghề và kĩ thuật sản xuất hữu dụng vào Đàng Trong Thứ ba, lúc bấy giờ các nước châu Á bắt đầu cảm nhận được nguy cơ bị uy hiếp và xâm lược đến từ các nước phương Tây Đối với Việt Nam, một nước láng giềng cường thịnh như Trung Quốc có thể sẽ là một lực lượng tin cậy để dựa vào đó chống lại sự can dự của lực lượng phương
Trang 33Tây Trong nghiên cứu của Trần Kinh Hòa cũng đề cập đến ân huệ lớn của của các chúa Nguyễn đối với người Hoa, khi cho phép họ lập làng Minh Hương ở Hội An [56, tr 2691-2692] Mục đích của việc này là nhằm sử dụng và phát huy nhân lực và tài lực của người Hoa, vừa có thể chống lại chính quyền chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, vừa có thể thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xây dựng của đô thị Hội An Vì vậy, các chúa Nguyễn đã tạo điều kiện thuận lợi cho Hoa thương định cư và buôn bán Việc này được Cristophoro
Borri khẳng định: “Chúa Đàng Trong xưa kia cho người Nhật, người Tàu chọn một địa
điểm và nơi thuận tiện để lập một thành phổ cho tiện việc buôn bán Thành phố này gọi
là Faifo (Hội An), một thành phố lớn đến độ người ta có thể nói được là hai thành phố, một phố người Tàu và một phố người Nhật Mỗi thành phố có khu vực riêng, có quan cai trị riêng, và sống theo tập tục riêng Người Tàu có luật lệ và phong tục của người Tàu và người Nhật cũng vậy” [6, tr 92]
Các yếu tố này đã thúc đẩy nhanh sự hình thành của tổ chức “Minh Hương xã” ở
Hội An vào khoảng nửa sau thế kỷ XVII Theo nhận xét của Trần Kinh Hòa, thời gian xuất hiện của Minh Hương xã không thể sớm hơn năm 1644 [56, 2690] Bởi vì thuật
ngữ “Minh Hương” không thể xuất hiện trước sự kiện nhà Minh bị diệt vong Trên vùng
đất Đàng Trong nói chung và Hội An nói riêng, người Minh Hương nhận được sự tín nhiệm và ưu ái từ chính quyền chúa Nguyễn Trong chiếu chỉ của Nguyễn Phúc Lan
chính thức thừa nhận Minh Hương xã: “Thừa nhận xã Minh Hương hay thôn xã do các
người di cư của nhà Minh tổ chức thành nơi cư địa tập trung của họ và hoàn nghênh họ nhập tịch làm biện dân coi họ là những đồng bào quý hóa”, đồng thời ban đặc ân cho
người Minh Hương: “ Dân xã được miễn các phục dịch, sưu sai, tuần đồ, quét chợ
sinh không kế, chết không trù cho tới khi có đại điển mới tu bổ đem nộp ” [21, tr 155]
Thấy được vai trò quan trọng trong thương mại của người Hoa ở Hội An, chúa Nguyễn đã thừa nhận Minh Hương xã, dành cho người Minh Hương một số đãi ngộ đặc biệt và đặc quyền, nhưng đồng thời cũng kiểm soát chặt chẽ cộng đồng người Hoa tại nơi đây Thực vậy, dân xã Minh Hương thường đảm nhận những nhiệm vụ đáng được coi là những đặc quyền như nghiệm xét cân lượng, định giá hàng hóa, thông ngôn cho các tàu buôn Trung Quốc hay ngoại quốc đến buôn bán ở Hội An Các chúa Nguyễn thiết lập bộ máy quản lý ngoại thương và cho nhiều người Minh Hương giữ nhiều chức
Trang 34vụ quan trọng Theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục, “vào đời Vĩnh
Lạc nhà Đại Minh có đặt tu Thị bạc đề cử Thuận Hóa lại có trường Trừu Phân Khi họ Nguyễn cát cứ, thu được thuế thuyền rất nhiều Đặt cai tàu, tri tàu mỗi chức một viên, cai bạ tàu, tri bạ tàu, cai phủ tàu, ký lục tàu, thủ tàu nội mỗi chức hai viên, cai phòng 6 người, lệnh sử 30 người toàn thuế binh 50 người, lính tàu 4 đội 70 người, thông sự 7 người” [8, tr 231] Không ít người Hoa tham gia vào đội ngũ thuộc quan thu thuế thuyền
buôn này Đặc biệt, từ năm 1635 trở đi, Nhật Bản thực hiện chính sách “tỏa quốc”
Nhiều thương nhân Nhật Bản rời Hội An trở về nước theo lệnh của Mạc phủ Điều đó
đã ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế ngoại thương Đàng Trong thời kỳ này Nhưng
nó cũng làm cho hoạt động thương mại của Hoa thương ở Đàng Trong gia tăng nhanh chóng Lúc ấy giờ, Hoa thương dần dần thay thế người Nhật nắm giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động thương mại tại Hội An Đến thế kỷ XVIII, người Hoa gần như làm chủ thương trường Hội An Nhiều chùa, hội quán và các cửa hàng lớn được thiết lập ở ngay
tại trung tâm của cảng thị Giữa thế kỷ XVIII, Pierre Poivre đến Hội An đã mô tả “thành
phố như một cái kho chung của tất cả các hàng hóa và là nơi trú ngụ của thương nhân người Hoa với những bến đậu dọc theo một con sông đầy ghe thuyền” [5, tr 70]
Dưới thời các chúa Nguyễn, ở Đàng Trong chưa có tổ chức bang [7, tr 125] Người
Hoa ở Hội An lúc này cư trú tập trung trong những đơn vị hành chánh tên Minh Hương
xã, bên cạnh tổ chức Minh Hương xã, còn có tổ chức các kiều cư người Hoa do cư trú không ổn định hoặc nhiều lý do khác về thế lực kinh tế, chính trị họ đã không nhập quốc tịch Việt Nam, nghĩa là không nhập vào Minh Hương xã mà họ tổ chức riêng trong
“Dương Thương Hội Quán” (hay Trung Hoa Hội Quán) Sau này do sự phát triển ngày càng đông người từ các tỉnh ở Trung Quốc sang cư trú mà đã hình thành nên các Bang riêng gồm 5 Bang: Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam, Gia Ứng
Đến cuối thế kỷ XVIII, giao tranh giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn đã ảnh hưởng không nhỏ đến Hội An Chiến tranh liên miên, giao lưu hàng hóa bị gián đoạn nên thương nhân không dám đầu tư kinh doanh Theo Hiệp ước Versaille ngày 28 tháng 11 năm 1787, chúa Nguyễn phải nhượng Hội An và Côn Lôn cho Pháp để nhận được sự trợ giúp, lúc bấy giờ thương nghiệp mới dần dần phục hồi Hoa kiều trở lại Hội An nhiều hơn Trong những năm 1792-1793, khi đặt chân đến Đàng Trong, trong cuốn hành trình
Trang 35nhật kí của mình, John Barrow cũng đã đề cập đến điều này: “Hàng năm vài thuyền
buồm từ Trung Quốc đến Faifo, một con tàu treo cờ nước trung lập như nước Anh chẳng hạn từ châu Âu đến Vài chiếc tàu từ Ấn Độ đến Cũng bấy nhiêu tàu Bồ Đào Nha từ Macao tới chở theo những hàng hóa của họ bị từ chối ở Trung Quốc” [5, tr 85] Tuy
nhiên, tình hình buôn bán không được thịnh vượng như trước [19, tr 38]
Nếu như thế kỉ XVII, XVIII, XIX là thời kỳ định cư, lập nghiệp và hòa nhập thì thời Pháp thuộc lại mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của cộng đồng người Hoa tại Hội An Người Pháp áp dụng chính sách nước đôi, vừa đối phó vừa tận dụng người Hoa Họ mong muốn người Hoa phát triển tiềm lực kinh tế để đóng góp cho chính quyền thuộc địa, đồng thời họ cũng rất dè chừng tiềm lực ấy có thể trở thành sức mạnh chống lại họ Ban đầu họ tìm cách đồng hóa người Hoa vào cộng đồng người Việt bản xứ Nhưng sau đó họ phát hiện ra rằng, điều đó không có tác dụng bởi chế độ bang hội của người Hoa từ trước đến nay vẫn tồn tại một cách mạnh mẽ Chính vì thế, họ chấp nhận ký hai hiệp ước bảo hộ công dân Hoa theo yêu cầu của nhà Thanh vào năm
1895 và 1935 Kể từ đó, họ áp dụng một chính sách khác, chính sách “ngoại diên hóa”,
tức là vẫn duy trì và tận dụng thế mạnh của người Hoa trong lĩnh vực kinh tế, tuy nhiên
họ hạn chế quyền sở hữu tài sản, quyền đứng tên hợp đồng kinh tế trong đại đa số các trường hợp Bên cạnh đó, người Hoa không được di dân một cách tuỳ tiện vào Đông Dương mà phải phụ thuộc vào nhu cầu nhân lực tại chỗ, khi lưu trú ở Đông Dương cũng phải đăng ký và luôn mang giấy tùy thân trong người [19, tr 41-42]
1.3.2 Cộng đồng người Hoa ở Melaka (Malaysia)
Melaka, từng là một làng chài thuần phác, một khởi điểm của các vương triều trên bán đảo Mã Lai và cũng là một thương cảng quan trọng mà các cường quốc châu Âu
đều muốn chiếm lấy Trong lịch sử xây dựng vương triều Melaka, không thể không nhắc
đến Parameswara, một hoàng tử của vương triều Srivijaya, cai trị vùng đất này từ năm
1403 đến năm 1424 Cho đến ngày nay, đối với quá trình hình thành và phát triển của vương triều Melaka, giữa các nhà nghiên cứu vẫn còn tồn tại nhiều tranh luận Tuy nhiên, cách giải thích được nhiều người chấp nhận vẫn là Parameswara kết hôn với một công chúa của vương triều Madjapahit, nhưng Parameswara không chịu cống nạp cho Madjapahit, điều đó làm nảy sinh xung đột Hai bên bắt đầu phát động chiến tranh, cuối
Trang 36cùng Parameswara bị đánh bại và buộc phải chạy nạn đến Temasik (Singapore hiện nay)
và cuối cùng là Melaka Trong sách Lịch sử Hoa kiều Melaya của Giáo sư Victor Purcell cũng có nhắc đến vấn đề này Ông cho rằng “Parameswara” không phải là tên của hoàng
tử mà là một hàm trước đặc biệt sử dụng trong tình hình lấy một người công chúa có địa
vị cao hơn mình làm vợ, cũng có nghĩa là “con rể của vua” [32, tr 12]
Theo sử sách Trung Quốc, Melaka vốn là một nước nhỏ phụ thuộc vào Xiêm La Tên Melaka được “Hán ngữ hoá” thành “Mãn Lạt Gia [滿剌加]” Tên Melaka lần đầu tiên được
xuất hiện trong sử sách Trung Quốc vào năm Vĩnh Lạc nguyên niên tháng 10 mà được ghi
chép trong Minh sử và Minh thực lục [37, tr 48, 58-59] Lúc bấy giờ, Melaka chưa phải là
một vương quốc và Parameswara cũng chưa tự xưng là vua Việc này được ghi chép rõ
trong Minh sử: “Đất này không có vua, cũng không gọi là quốc, phụ thuộc vào Xiêm La,
mỗi năm nạp 40 lạng vàng làm thuế [其地無王,亦不稱國,服屬暹羅,歲輸金四十
兩為賦]” [37, tr 48] Năm Vĩnh Lạc nguyên niên tháng 10, Minh Thành Tổ phái Doãn Khánh đến Melaka Vậy ở đây có một vấn đề đáng để suy xét, đó là trong lịch sử Trung Quốc trước năm 1403 chưa bao giờ xuất hiện một ghi chép nào về Melaka, vậy vì sao Minh Thành Tổ lại bỗng nhiên phái Doãn Khánh đến một nơi chưa từng nghe nói đến? Vấn đề này đã được Giáo sư Vương Canh Vũ [王賡武] kiến giải trong một nghiên cứu rất có giá trị Ông khẳng định rằng, trước khi tháng 10 năm 1403, triều đình Trung Quốc hoàn toàn không biết gì về Melaka Tuy nhiên, rất có thể những thương nhân Hồi giáo từ Nam Ấn Độ đến Trung Quốc đã làm cho triều đình Trung Quốc tin rằng Melaka là một trung tâm mậu
dịch lớn Bởi vì trong sách Sejarah Melayu hay những tài liệu của người Bồ Đào Nha, giới
nghiên cứu đều không tìm thấy một chứng cứ nào nói về việc Melaka có xu hướng muốn xây dựng quan hệ với Trung Quốc, mà chỉ có sử sách của Trung Quốc ghi chép việc chính quyền Minh triều chủ động tổ chức hoạt động ngoại giao và phái sứ giả đến Melaka [35, tr 85] Cũng bởi quyết định đặt quan hệ với Melaka của Minh Thành Tổ vào năm 1403, quan
hệ giữa Trung Quốc và Melaka bắt đầu được thiết lập Trong Minh sử có nhiều tư liệu ghi
chép và chứng minh được quan hệ triều cống giữa Trung Quốc và Melaka Theo ghi chép
trong Minh Sử, Melaka lần đầu tiên phái sứ giả đến Trung Quốc để triều cống là vào năm Vĩnh Lạc thứ 3 (1405) [37, tr 45] “Năm Vĩnh Lạc nguyên niên tháng 10 (1403), phải Doãn
Khánh đến Melaka Sự gặp mặt lần này, Parameswara rất vui vẻ, còn phái người đi theo
Trang 37Doãn Khánh cùng đến Trung Quốc để tiến cống Nam Vĩnh Lạc thứ 3 tháng 9 đến Kinh sư (Nam Kinh hiện nay) Minh Thành Tổ sắc phong Parameswara thành quốc vương Melaka, còn ban tặng nhiều báu vật cho Parameswara [永樂元年十月遣中官尹慶使其地 其酋
拜里迷蘇剌大喜,遣使隨慶入朝貢方物,三年九月至京師。帝嘉之,封為滿剌加國王,賜誥印、彩幣、襲衣、黃蓋,復命慶往]” [37, tr 48-49]
Minh Thành Tổ lên ngôi và ngay lập tức đẩy mạnh việc thực thi chính sách hải cấm của vua cha, nghiêm cấm tất cả hoạt động thương mại tư nhân ở hải ngoại Mục đích của ông là nhằm khống chế thương mại tư nhân và khuyến khích thương mại nhà nước Điều đó giúp lí giải vì sao sau khi Doãn Khánh về Trung Quốc, Minh Thành Tổ lại phái Trịnh Hòa thực hiện hải trình sang Tây dương vào năm 1405 Hai người cùng
đi với Trịnh Hoà là Phí Tín [費信] và Mã Hoan [馬歡] đã ghi chép về tình hình người
Hoa ở Melaka trong sách Tinh tra thắng lãm [星槎勝覽] như sau:
“氣候朝熱暮寒,男女椎髻,身膚黑漆,間有白者,唐人種也 永樂七年,皇上命正使太監鄭和等齏捧詔敕,賜以雙台銀印,冠帶,袍服,建碑封域,為滿剌加國,其暹羅始不敢擾。永樂十三年,酉長感慕聖恩,挈妻攜子貢獻方物,涉海朝謝,聖上賞勞歸國” [37, tr 94-95]
Tạm dịch:
“Thời tiết buổi sáng nóng bức, buổi chiều se lạnh, nam nữ búi tóc, da đen, trong
đó có người da trắng, cũng có Đường nhân năm Vĩnh Lạc thứ 7, Hoàng thượng mệnh thái giám Trịnh Hòa làm sứ giả cùng tùy tùng nhận chỉ, sắc phong cho tộc trưởng hai cái dấu bạc, mũ miện, đai lưng, bào phục, sắc phong lãnh thổ và xây dựng văn bia là nước Melaka Từ đó, Xiêm La bắt đầu không dám quấy rối Năm Vĩnh Lạc thứ 13, tộc trưởng cảm mộ Thánh ân, đã đem theo vợ con hiến cống đặc sản, vượt biển triều cống
và cảm tạ Thánh thượng mở tiệc ban thưởng Sau đó, tộc trưởng về nước”
Trong sách Hải ngữ cũng ghi chép về người Hoa ở Melaka lúc bấy giờ như sau:
“俗禁食豕肉,華人流寓或有食者輒惡之,謂其厭穢也 舶商假館,主者必遣女奴以服役 ” [37, tr 107-108]
Tạm dịch:
“Phong tục là cấm ăn thịt heo, người Hoa lưu ngụ nếu ăn thì sẽ bị ghét, cho rằng
đó là đồ không sạch sẽ thuyền thương ở lại khách điếm, người chủ thường sẽ gọi nữ
Trang 38nô để phục vụ ”
Từ ghi chép trong Hải ngữ [海語] của Hoàng Trung [黃衷], Giáo sư Victor Purcell
khẳng định, đầu thế kỉ XV đã bắt đầu có sự xuất hiện của người Hoa tại Melaka Nhưng
từ “lưu ngụ [流寓]” thực ra có hai ý nghĩa: một là đi xa quê hương và định cư ở một nơi
mới và hai là đi xa quê hương nhưng chưa có một nơi cố định để ở Cho nên từ ghi chép trên, giới nghiên cứu chưa có một chứng cứ chắc chắn để khẳng định đã có người Hoa
định cư lâu dài ở Melaka Tuy nhiên, từ cụm từ “Bách thương giả quán [舶商假館]”
(舶: bách=thuyền 商: thương, 假館= khách sạn) có thể biết được rằng, có lẽ người Hoa
đã đến cư trú tạm thời ở đây để phục vụ cho hoạt động giao thương, buôn bán
Ngoài ra, trong lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa ở Melaka
còn có một truyền thuyết thú vị Truyền thuyết này được ghi chép trong “Sejarah
Melayu”, nhưng giới nghiên cứu chưa tìm thấy một tư liệu nào có liên quan trong sử
sách Trung Quốc Tương truyền, triều đình Trung Quốc vì cho rằng có thể củng cố quan
hệ với Melaka, nên đã quyết định để công chúa Hang Li-Po [漢麗寶] kết hôn với vua Melaka, thực hiện chính sách hòa hiếu kết giao Hoàng đế Trung Quốc vô cùng coi trọng cuộc hôn nhân này, nên đã chuẩn bị một đoàn thuyền với 100 chiếc để hộ tống công chúa đến Melaka, đồng thời cử đại thần Di-Po làm quan thống lĩnh và chọn lựa 500 người cung nữ mỹ lệ cùng đến Melaka [57, tr 174] Công chúa và những người cùng đi được bố trí ở tại một núi nhỏ thuộc Melaka Họ đào một cái giếng ở chân núi Cái giếng
này được gọi là Tâm Bảo giếng [三寶井] hay giếng Công chúa Hang Li-Po Còn ngọn núi mà công chúa trú ngụ được gọi là “Bukit Cina” có nghĩa là “núi Trung Quốc” hoặc
là “núi người Hoa”, hiện nay được gọi là Tâm Bảo Sơn [三寶山] Như vậy, cho dù chưa
được kiểm chứng bằng sử sách Trung Quốc, nhưng những tư liệu nêu trên cũng đã góp phần gợi mở cho sự suy đoán về sự tồn tại của một nhóm người Hoa, bao gồm công chúa Hang Li-Po và những người đi cùng tại Melaka từ thế kỉ XV
Đến thế kỉ XVI, cũng giống như nhiều quốc gia khác tại Đông Nam Á, Melaka cũng không thể thoát khỏi nguy cơ bị xâm lược trước sự bành trướng của thực dân phương Tây Năm 1511, Bồ Đào Nha tấn công xâm chiếm Melaka [28, tr 23] và tình trạng này kéo dài mãi cho đến năm 1641 Việc sử dụng vũ lực đối với Melaka của Bồ Đào Nha xuất phát từ hai mục đích Một là lũng đoạn thị trường mậu dịch ở Đông phương và hai là bài xích Hội giáo và truyền bá Kitô giáo trên vùng đất này [52, tr 130] Đến thế kỉ XVII, tư liệu của
Trang 39người Bồ Đào Nha càng khẳng định sự thật về việc người Hoa đã định cư ở Melaka Nhà thám hiểm Bồ Đào Nha De Eredia đã ghi chép một cách rõ ràng rằng, lúc bấy giờ Melaka
đã có một làng người Hoa “Campon China”, cư dân chủ yếu là người Chương Châu và
người Phúc Kiến Cho dù De Eredia không ghi lại nhân số của cộng đồng người Hoa ở Melaka tại thời điểm đó, tuy nhiên từ miêu tả của ông, các học giả đã có được cơ sở tư liệu vững chắc để khẳng định, ít nhất từ đầu thời kỳ XVII, đã có một cộng đồng người Hoa quy
mô không nhỏ đang cư trú tại Melaka [29, tr 39]
Căn cứ vào Melaka Sử của Zhang Liqian [張禮千], Melaka rơi vào tay của người
Hà Lan vào năm 1641 Thời kỳ thực dân Hà Lan là thời kỳ dài nhất mà Melaka bị thế lực bên ngoài thống trị (183 năm) Sau khi Melaka bị thực dân Hà Lan xâm chiếm, người
Hà Lan bắt đầu điều tra nhân khẩu Trong giai đoạn đầu tiên, nhân số của người Hoa ở Melaka là khoảng 300 đến 400 người Vào năm 1678, căn cứ vào báo cáo của Balthasar Bort, số lượng người Hoa là 426 (127 người đàn ông, 140 người phụ nữ, 159 người trẻ con) người trên tổng số 4884 cư dân Melaka , chiếm 8.7%, đồng thời có 81 nhà gạch và
51 nhà “Atap” là thuộc về người Hoa Tuy nhiên, đại bộ phận phụ nữ Hoa được thống
kê lúc bấy giờ đều là người Malay bản xứ, họ lập gia đình với đàn ông người Hoa và cũng được tính vào nhân số của người Hoa [29, tr 39]
Biểu đồ 1.1: Dân số của người Hoa ở Melaka Nguồn: [26, tr 164, tr 166, tr 168, tr 172]
Trang 40Số lượng người Hoa tại Melaka từ năm 1688 đến năm 1750 tăng lên khoảng 10 lần Nếu chỉ từ góc độ gia tăng tự nhiên thì sẽ không thể nào đạt được nhân số nhiều như vậy Đặc biệt, giai đoạn này, ít có phụ nữ người Hoa đi theo chồng đến Nam Dương Đại bộ phận đều là đàn ông hoặc con trai trong gia đình ra đi để kiếm sống Họ đến đây định cư, lập nghiệp và kết hôn với người Malay bản xứ Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào tỷ
lệ sinh đẻ cũng khó đạt được nhân số nhiều như vậy trong thời gian khoảng 60 năm Các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm kiếm nguyên nhân của hiện tượng này từ trong dòng chảy của lịch sử giao lưu Trung Hoa-Melaka Càn Long năm thứ mười hai (1727), triều đình nhà Thanh bắt đầu mở cửa và cổ vũ Hoa thương ra hải ngoại buôn bán, thu mua và vận chuyển hàng hóa về nước Chính sách của nhà Thanh đã làm cho số lượng người Hoa ở Melaka tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, từ năm 1750 đến năm 1766, nhân
số người Hoa tại Melaka lại giảm Sở dĩ như vậy là vì cuộc chiến tranh giữa người Hà Lan và người Bugis diễn ra trong giai đoạn này đã làm cho xã hội và thị trường không
ổn định, dẫn đến tình trạng nhiều người chạy nạn ĐIều đó đã làm cho không chỉ nhân
số người Hoa mà người Malay, người Ấn Độ và người Châu Âu ở Melaka cũng đều bị giảm bớt Từ năm 1766 đến năm 1817, số lượng người Hoa tại Melaka vẫn tiếp tục giảm
do sự bất ổn định trong giai đoạn giằng co tranh giành ảnh hưởng và quyền thống trị Melaka giữa người Hà Lan và người Anh Hơn nữa, năm 1786, người Anh bắt đầu khai khẩn Penang họ đưa ra chính sách cổ vũ người Hoa đến Penang để khai khẩn và phát triển Điều đó đã khiến cho chức năng giao thương của thương cảng Melaka dần bị thay thế bởi Penang thay thế Vào năm 1824, người Anh chính thức tiếp quản Melaka, chính quyền ổn định, bấy giờ Singapore và Melaka đều là thuộc địa của thực dân Anh, sự qua lại giữa hai thương cảng càng tiện lợi, cho nên nhân số người Hoa tại Melaka tăng lên
sau đó [41, tr 40] Người Anh khuyến khích người Trung Quốc di chuyển đến Bán đảo
Mã Lai, bởi vì đây là nguồn cung ứng sức lao động giá rẻ, có lợi cho sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế của bán đảo Mã Lai và mục đích cuối cùng là hướng tới thỏa mãn lợi ích của thực dân Anh Cho nên, đến thế kỷ XIX, nhân khẩu của người Hoa ở bán đảo Mã Lai tăng lên rất nhiều Nếu như năm 1826 là 4478 người thì đến năm 1860,
số lượng người Hoa đã tăng lên 10.039 người [27, tr 96] Đãi vàng và thiếc là hoạt động kinh tế chủ yếu của người Hoa ở Melaka Bên cạnh đó, người Hoa ở Melaka bắt đầu