TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT RỄ NGƯỜI CỦA ĐOÀN HỮU NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM Thái Nguyên- 2021.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT RỄ NGƯỜI CỦA ĐOÀN HỮU NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên- 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT RỄ NGƯỜI CỦA ĐOÀN HỮU NAM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh
Thái Nguyên- 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Liên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết
Rễ người của Đoàn Hữu Nam, đến nay chúng tôi đã hoàn thành và được phép
bảo vệ luận văn
Với tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngôn ngữ, văn hóa và văn học, trường Đại học Khoa học- Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Với sự biết ơn chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Đức Hạnh- người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin cảm ơn nhà văn Đoàn Hữu Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ về tư liệu
để tôi hoàn thành phần nghiên cứu của mình
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và những người thân đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học này
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Liên
Trang 5MỤC LỤC TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN ……… i
LỜI CẢM ƠN ……….……… ii
MỤC LỤC ………iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Cấu trúc của luận văn 6
7 Đóng góp mới của luận văn 6
CHƯƠNG 1 7
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ TIỂU THUYẾT ĐOÀN HỮU NAM 7
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 7
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết 7
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết 7
1.1.3 Khái niệm thế giới nghệ thuật……… ……… …10
1.1.4 Nhân vật, không gian, thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật của tiểu thuyết … 101
1.2 Tiểu thuyết Đoàn Hữu Nam 133
1.2.1 Vài nét về tiểu sử nhà văn Đoàn Hữu Nam 133
1.2.2 Quan niệm sáng tác của nhà văn Đoàn Hữu Nam 20
1.2.3 Tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam trong văn xuôi đương đại về đề tài dân tộc và miền núi… 211
CHƯƠNG 2 NHÂN VẬT VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT RỄ NGƯỜI 30
2.1 Khái lược thế giớí nhân vật trong tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam 30 2.2 Nhân vật đa diện- một loại nhân vật của tiểu thuyết hiện đại 333
Trang 62.2.1 Đặc điểm của kiểu nhân vật tích cực trong nhân vật Phù 374
2.2.2 Đặc điểm của kiểu nhân vật tha hóa trong nhân vật Phù 42
2.2.3 Đặc điểm của kiểu nhân vật sám hối- tự ý thức trong nhân vật Phù 342
2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam 544
2.3.1 Qua ngoại hình 555
2.3.2 Qua ngôn ngữ và hành động của nhân vật 60
2.3.3 Qua miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật 65
CHƯƠNG 3 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT, NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT RỄ NGƯỜI CỦA ĐOÀN HỮU NAM 78 3.1 Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam 78
3.1.1 Không gian thiên nhiên với hai sắc thái thẩm mĩ tương phản 78
3.1.2 Không gian bản làng miền núi hiện về trong dòng hồi ức gắn với hoài niệm của nhân vật 85
3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam 90
3.2.1 Ngôn ngữ giàu chất thơ 90
3.2.2 Ngôn ngữ mang phong cách giao tiếp của đồng bào miền núi 96
3.3 Giọng điệu nghệ thuật 108
3.3.1 Giọng trữ tình hoài niệm, sâu lắng 108
3.3.2 Giọng điệu triết luận sâu sắc 111
3.3.3 Giọng mỉa mai, phê phán 114
PHẦN KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đề tài viết về dân tộc và miền núi là đề tài lớn trong văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung, văn xuôi Việt Nam đương đại nói riêng Có nhiều nhà văn người Kinh, người dân tộc thiểu số sáng tác thành công về đề tài này: Ma
Văn Kháng với Đồng bạc trắng hoa xòe, Rừng biên ải; Vi Hồng với Tháng năm
biết nói, Người trong ống; Ma Trường Nguyên với Mũi tên ám khói; Phượng Vũ
với Hoa hậu xứ Mường; Cao Duy Sơn với Đàn trời… Gần đây xuất hiện một gương mặt mới là Đoàn Hữu Nam với Thổ phỉ và Rễ người Nhà văn này đã
đóng góp hai tiểu thuyết đặc sắc vào thành tựu chung của văn xuôi Việt Nam về
đề tài dân tộc và miền núi Tiểu thuyết Rễ người được xuất bản và được giải
thưởng trong cuộc thi viết về đề tài Vì an ninh Tổ Quốc và bình yên cuộc sống
do Bộ Công an phát động Việc nghiên cứu tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu
Nam không chỉ góp phần khẳng định giá trị của tác phẩm, đóng góp của nhà văn
mà còn làm đầy đặn hơn cho mảng nghiên cứu- phê bình văn học về đề tài dân tộc và thiểu số vốn chưa được quan tâm xứng đáng với giá trị và tầm vóc của nó
1.2 Với những tác phẩm viết về đề tài dân tộc và miền núi của Đoàn Hữu Nam, chúng tôi nhận thấy có sự vận động và phát triển trong nghệ thuật tự sự
của nhà văn với nhiều đóng góp mới mẻ Đặc biệt, tiểu thuyết Rễ người đem đến
cho người đọc những bất ngờ, thú vị trong tình huống truyện, trong nghệ thuật xây dựng không gian nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật xây dựng kiểu nhân vật đa diện, kiểu nhân vật mang đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về thế giới
nghệ thuật trong tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam Vì vậy, việc nghiên cứu tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam là việc làm cần thiết có ý nghĩa
thực tiễn và khoa học, góp phần nhận diện và khẳng định sự vận động trong thi pháp thể loại của tiểu thuyết hiện đại nói chung, của Đoàn Hữu Nam nói riêng
về đề tài dân tộc và miền núi Qua đó, giúp người đọc thấy được hành trình vận
Trang 8động trong nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Việt Nam đương đại về đề tài dân tộc thiểu số
1.3 Là một giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn trong trường THPT ở miền núi, việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng tôi có thêm tư liệu để vừa giảng dạy tốt hơn phần văn học Việt Nam hiện đại trong nhà trường, vừa thêm yêu quý, tự hào về
bộ phận văn học địa phương giàu thành tựu của các tỉnh miền núi phía Bắc
2 Lịch sử vấn đề
Cùng với các nhà văn đương đại viết về đề tài dân tộc và miền núi như Cao Duy Sơn, Tống Ngọc Hân, Đỗ Bích Thúy… Đoàn Hữu Nam là một cái tên
khá nổi bật Ông nổi bật trên văn đàn khi tiểu thuyết Thổ phỉ ( 2010) đạt được
giải thưởng cao- Giải A Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Bằng hiểu biết, bằng tư duy nghệ thuật, bằng hình tượng văn học nhà văn đã xây dựng được một hiện thực lịch sử sống động, mang ý nghĩa khái quát cao, gây ấn tượng mạnh mẽ về hiện thực đời sống và văn hóa tộc người ở Tây Bắc Tác phẩm cho người đọc một sự cảm nhận đầy đủ và sinh động về bản chất, hoạt động, hành trạng của đối tượng này Đồng thời, nhà văn đã lột tả được cuộc sống tối tăm, cực nhục của người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc dưới sự tàn độc của bọn thổ phỉ
Đã có rất nhiều bài báo, lời giới thiệu và ý kiến nhận xét về Thổ phỉ: Tiểu
thuyết Thổ phỉ - Vài cảm nhận - Đoàn Minh Tâm ( Tạp chí văn nghệ quân đội)
đã đánh giá cao về tác phẩm: “ Và tôi nghĩ rằng sự nhọc mình của Đoàn Hữu
Nam trong suốt thời thai nghén tác phẩm ấy đã được đền đáp xứng đáng Thổ phỉ là cuốn tiểu thuyết đủ hấp dẫn để bạn đọc theo dõi từ trang đầu tiên cho đến dòng cuối cùng”[ 44] Trong bài viết Thổ phỉ - Từ một góc nhìn nhỏ, giáo sư
Lâm Tiến đánh giá cao những đóng góp của nhà văn về đề tài thổ phỉ: “ Đoàn
Hữu Nam đã xâu chuỗi những sự kiện những nhân vật tạo nên một bức tranh khá đầy đủ, khá sâu sắc, khá sinh động về thổ phỉ Chưa có cuốn tiểu thuyết nào viết về thổ phỉ lại tập trung đến như vậy” [ 49] Nhà văn quân đội Sương Nguyệt
Trang 9Minh đã cảm nhận sâu sắc về thế giới nghệ thuật của Đoàn Hữu Nam qua bài
viết Thế giới nghệ thuật Đoàn Hữu Nam trong tiểu thuyết Thổ phỉ ( trong cuốn:
Một thế kỷ thơ văn Lào Cai, Nxb Hội Nhà văn 2010)- Sương Nguyệt Minh
[20,2003] Bài viết đánh giá cao nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật khắc họa không gian nghệ thuật dưới ngòi bút tài năng Đoàn Hữu Nam Ngoài ra còn
phải kể đến các bài viết như: Thổ phỉ và hiện thực văn chương - Văn Công Hùng Thổ phỉ - Tiểu thuyết đậm nét đặc trưng thể loại - Lộc Bích Kiệm Thổ
phỉ - Làm mới một đề tài ( Đọc tiểu thuyết Thổ phỉ của nhà văn Đoàn Hữu Nam,
NXB Hội Nhà văn, 2010- Giải A Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số
Việt Nam 2010) - Phạm Duy Nghĩa Thử vào khu rừng “ Thổ phỉ”- Công Thế-
Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lào Cai- 2018 … Các bài viết đều đánh giá cao giá
trị của tiểu thuyết Thổ phỉ trên nhiều phương diện khác nhau Từ đó khẳng định
tài năng của nhà văn Đoàn Hữu Nam trong đề tài viết về dân tộc và miền núi
Bên cạnh thành công của tiểu thuyết Thổ phỉ, Đoàn Hữu Nam đã thuyết phục bạn đọc bằng những tiểu thuyết nổi tiếng khác như: Trên đỉnh đèo giông
bão, Tình rừng… với những bài báo, lời nhận xét của các tác giả khác: Trên đỉnh đèo giông bão- một tiểu thuyết có văn ( trong cuốn: Một thế kỷ thơ văn Lào Cai, Nxb Hội Nhà văn 2010- Phạm Duy Nghĩa) Các công trình trên đều ghi
nhận sự đóng góp của Đoàn Hữu Nam về đề tài dân tộc và miền núi Đã có luận
văn nghiên cứu về nhà văn Đoàn Hữu Nam như: Ngô Quốc Tuấn ( 2013), Tiểu
thuyết Đoàn Hữu Nam, Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên Luận văn trên
đã nghiên cứu những đặc điểm cơ bản nhất về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam Tuy nhiên, chưa có một công trình nào khai thác về
thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Rễ người
Trên tinh thần kế thừa và tiếp thu những công trình nghiên cứu có giá trị
nêu trên, luận văn đi sâu vào nghiên cứu đề tài: Thế giới nghệ thuật trong tiểu
thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam với mong muốn khám phá nét đặc sắc
trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Rễ người Từ đó, thấy được nét đặc sắc
trong nghệ thuật tự sự của ngòi bút Đoàn Hữu Nam, đồng thời khẳng định sự
Trang 10đóng góp của nhà văn đối với thể loại tiểu thuyết đương đại, đặc biệt là mảng đề tài dân tộc và miền núi
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Một số phương diện trong thế giới
nghệ thuật trong tiểu thuyết Rễ người như: loại nhân vật đa diện, không gian
nghệ thuật, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật
3.2 Mục đích nghiên cứu
Triển khai đề tài Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Rễ người của
Đoàn Hữu Nam nhằm hướng tới những mục đích sau:
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá những nét đặc sắc, nổi bật trong thế
giới nghệ thuật của tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam
- Từ đó khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm; chỉ ra quan niệm nghệ thuật, vùng thẩm mĩ độc đáo và đóng góp quan trọng của nhà văn với quá trình đổi mới thi pháp thể loại tiểu thuyết trong tiến trình của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích và lí giải những nét đặc sắc của thế giới nghệ thuật trong tiểu
thuyết Rễ người
Chỉ ra được những điểm độc đáo, nổi bật của thế giới nghệ thuật trong
tiểu thuyết Rễ người nói riêng, trong tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam nói chung
Phân tích nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật đa diện- một loại nhân vật của tiểu thuyết hiện đại
Trang 11Khẳng định những đóng góp quý báu của Đoàn Hữu Nam vào văn xuôi viết về đề tài miền núi, dân tộc nói riêng, vào nền văn xuôi đương đại Việt Nam nói chung
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Đây là phương pháp quan trọng nhất
mà chúng tôi sử dụng để nghiên cứu đề tài này Với phương pháp nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát, đánh giá những phương diện hình thức mang tính nội dung trong thi pháp tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam như: Không gian nghệ thuật, nhân vật tiểu thuyết, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật Từ đó khẳng định giá trị của tác phẩm và phong cách nghệ thuật của nhà văn
Phương pháp phân tích tổng hợp: Chúng tôi sử dụng phân tích và tổng hợp trên cơ sở tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản, để đưa ra những luận điểm chính cho luận văn
Phương pháp lịch sử, văn hóa: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đặt hiện tượng văn học trong mối liên hệ với bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu
số, từ đó làm rõ sự tác động của văn hóa đến đời sống văn học
Phương pháp so sánh: Nhằm khẳng định được nét mới mẻ, riêng biệt và
đặc sắc của tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam so với các nhà văn khác
viết về đề tài dân tộc và miền núi
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Rễ
người của Đoàn Hữu Nam Thế giới nghệ thuật gồm rất nhiều phương diện như:
nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, không gian, thời gian… Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ và qua thực tiễn khảo sát tác phẩm, chúng tôi chỉ tập trung
nghiên cứu một số phương diện đặc sắc nhất trong tiểu thuyết Rễ người của
Trang 12Đoàn Hữu Nam như: Loại nhân vật đa diện và nghệ thuật xây dựng nhân vật, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng quan tâm đến một số tác phẩm cùng thể loại của Đoàn Hữu Nam và một số nhà văn khác cùng đề tài để làm đối tượng so sánh
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, phần nội dung của luận văn được triển khai trên 3 chương:
Chương I Cơ sở lí luận của đề tài và tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam
Chương II Nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Rễ
người của Đoàn Hữu Nam
Chương III Không gian nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu
thuyết Rễ người
7 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về thế giới nghệ
thuật trong tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam, là công trình tiếp theo
nghiên cứu về tiểu thuyết Đoàn Hữu Nam nói chung Từ đó, góp phần khẳng định vị trí của nhà văn trong dòng chảy của văn xuôi đương đại Việt Nam
Qua việc nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Rễ người của
Đoàn Hữu Nam, chúng tôi hi vọng sẽ giúp người đọc được tiếp cận và hiểu hơn
về thiên nhiên, con người, đặc biệt là bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của người Mông Tất cả những nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán đó đã được chuyển hóa thành hình tượng nghệ thuật đặc sắc nên có sức lay động hơn so với các tác phẩm dân tộc học Luận văn cũng khẳng định sự đóng góp của nhà văn Đoàn Hữu Nam trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam Từ đó, giúp mỗi người
có thêm hiểu biết và yêu mến vùng đất biên cương của Tổ quốc
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ TIỂU THUYẾT ĐOÀN HỮU NAM 1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết
Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn, có khả năng phản ánh hiện thực ở tất cả mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có khả năng phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng [10, 184]
Belinski đưa ra cách hiểu khác: "tiểu thuyết là sử thi của đời tư", đây là thể loại đã chỉ ra một cách khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự trần thuật được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật, đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách
Như vậy, tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có yếu tố hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh và sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn, những vấn đề của cuộc sống con người Trong đó biểu hiện tính chất tường thuật
và tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết
1.1.2.1 Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn
Tiểu thuyết có khả năng bao quát một phạm vi hiện thực rộng lớn nhất với thời gian nghệ thuật dài, không gian nghệ thuật gần như không có giới hạn, số
lượng nhân vật đông đảo Tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia
Văn Phái với hơn 30 nhân vật, bao quát khoảng thời gian dài từ năm 1767-
1802 Tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần với khối lượng nhân vật khổng lồ: 448 nhân vật, đủ mọi tầng lớp trong xã hội Những Tấn trò đời của Bandắc, Những người khốn khổ của Vichsto Huygô, Chiến tranh và hòa bình của L.Tônxtôi, Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp là những minh chứng hùng
Trang 14hồn cho sức chứa của thể loại Đây là một ưu thế đặc biệt của tiểu thuyết, tạo điều kiện để các nhà văn mở rộng đến mức tối đa tầm vóc hiện thực trong tác phẩm của mình
Nhân vật trong tiểu thuyết là con người “ nếm trải” Những con người sống một quãng đời dài với sự miêu tả cụ thể, tỉ mỉ đến mức chi tiết những bước
đi của số phận (Những người khốn khổ - Vichsto Huygô, Chiến tranh và hòa
bình- L.Tônxtôi, Tiếng chim hót trong bui mận gai- Mắccalâu, Thời xa vắng- Lê
Lựu) là những trường hợp tiêu biểu Tiểu thuyết miêu tả con người trong hoàn cảnh, không tách khỏi hoàn cảnh, nhân vật được miêu tả như một con người đang trưởng thành, biến đổi và do đời dạy bảo Trong khi hành động, nhân vật
tiểu thuyết “ lãnh đủ” mọi tác động của đời Những Lucien Sorel ( Đỏ và đen), Gorio ( Đám tang lão Gô ri ô), Anna Karenina (Anna Karenina), Thứ ( Sống
mòn)… đều là những con người nếm trải và tư duy
Tính đa dạng về màu sắc thẩm mĩ là đặc trưng tiêu biểu của thể loại tiểu
thuyết Ở tiểu thuyết, không diễn ra quá trình chọn lựa màu sắc thẩm mĩ khi tiếp nhận hiện thực Nhà văn có thể kết hợp những sắc thái thẩm mĩ hết sức trái ngược nhau: chất thơ sóng đôi với chất văn xuôi, cái xù xì thô nhám kết hợp với cái thanh cao, cái thiện lẫn cái ác, cái bi lẫn cái hài, cái đẹp lẫn cái xấu Khác với tính chất thi vị, lãng mạn của các thể loại trữ tình, tiểu thuyết tái hiện hiện thực khách quan với đầy đủ tính chất phức tạp và đa dạng của nó Tính văn xuôi, vì vậy, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của thể loại Tính chất này tạo nên một trường lực mạnh mẽ để tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân mình mọi yếu tố bề
bộn của cuộc đời Nhà thờ đức bà Pa-ri của văn hào Pháp Victor Hugo là sự kết
hợp hoàn hảo giữa cái đẹp và cái xấu, cái thiện và các ác… Chất “văn xuôi” cũng rất đậm đà trong tiểu thuyết của Bandắc, Dostoevski, Tônxtôi, Sholokhop, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao… Chính chất văn xuôi
đã mở ra một vùng “ tiếp xúc tối đa” với thời hiện tại đang sinh thành, làm cho tiểu thuyết không bị bất cứ một giới hạn nào trong nội dung phản ánh
Trang 151.1.2.2 Tiểu thuyết là thể loại văn học non trẻ nhất, năng động nhất
Trước hết, tiểu thuyết là thể loại văn học non trẻ nhất So với các thể loại khác của văn học, thể loại tiểu thuyết ra đời khá muộn Tiểu thuyết ở phương Tây
ra đời vào thế kỷ XVII Đến những năm 1930- 1945 của thế kỷ XX, tiểu thuyết ở Việt Nam mới được định hình và phát triển Tiểu thuyết trở thành thể loại đặc sắc của văn học hiện đại Nhưng tiểu thuyết cũng là thể loại văn học duy nhất “ chưa hoàn kết”, là “ thể loại duy nhất đang hình thành và chưa xong xuôi” [4, 145] Đối tượng phản ánh của tiểu thuyết là bức tranh hiện thực đời sống đang ở thời hiện tại, đang vận động và diễn tiến không ngừng Dù có tái hiện lịch sử trong quá khứ cũng là để trả lời câu hỏi hôm nay Mà hôm nay là cái đang diễn ra, chưa hoàn thành và chưa kết thúc Tiểu thuyết là thể loại năng động, có khản năng hấp thu mọi loại lời nói khác nhau của đời sống, san bằng sự ngăn cách lời bên trong và bên ngoài văn học, tạo nên sự đối thoại giữa các giọng khác nhau Ngôn ngữ tiểu thuyết là một hiện tượng đa ngữ, một bách khoa thư về ngôn ngữ [ 6, 82] Cuộc sống trong tiểu thuyết, lời trần thuật, dòng ý thức của nhân vật tiểu thuyết cũng là một quá trình chưa xong xuôi Kết cấu của tiểu thuyết cũng thường
để ngỏ Chẳng hạn trong Sống mòn của Nam Cao, lời văn được xây dựng theo
nguyên tắc chồng chất, lặp lại, có biến đổi những chi tiết cùng loại hay nhóm từ đồng nghĩa, từ đó tái hiện dòng ý nghĩ đang là quá trình, đang mở ra, Bởi vậy, tiểu thuyết là thể loại văn học vừa luôn nóng hổi tính thời sự, vừa có khả năng khái quát những chân lí mang tính vĩnh hằng
1.1.2.3 Tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng thu hút, tiếp nhận mọi tinh hoa của các thể loại văn học khác để làm giàu cho nó
Trong tiểu thuyết, chúng ta thường gặp sự giao thoa thể loại diễn ra vô cùng mạnh mẽ: có chất thơ của tác phẩm trữ tình; có xung đột giàu kịch tính của tác phẩm kịch; có các nguyên mẫu và các thông tin mang tính xác thực của tác phẩm kí văn học; có những luận giải sắc bén, chặt chẽ của tác phẩm chính luận Nhiều thiên tài nghệ thuật đã định hình phong cách từ khả năng tổng hợp này
của thể loại: Tônxtôi với tiểu thuyết sử thi- tâm lí ( Chiến tranh và hòa bình);
Trang 16Gorki với tiểu thuyết thế sự- trữ tình ( Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường
đại học của tôi); Hemingway với tiểu thuyết sử thi- trữ tình ( Chuông nguyện hồn ai); Máckét với tiểu thuyết huyền thoại ( Trăm năm cô đơn)…
Như vậy, với những đặc trưng độc đáo của mình, tiểu thuyết đã chiếm một chỗ đứng vững chắc trong nền văn học Việt Nam nói riêng, nền văn học nhân loại nói chung
1.1.3 Khái niệm thế giới nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thế giới nghệ thuật là “ khái niệm chỉ
tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật ( một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật (…) Khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ.[11.251]
Thế giới nghệ thuật có tính độc lập tương đối so với thế giới tự nhiên hay thực tại xã hội Qua yếu tố nghệ thuật để khẳng định sự sáng tạo của của người nghệ sĩ Người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm văn học không phải là sự sao chép,
lệ thuộc máy móc vào thực tại bên ngoài, mà “ là một thế giới riêng được tạo ra
theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm
lí của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng… chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tạo nghệ thuật” [11.251]
Như vậy, thế giới nghệ thuật phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, vũ trụ quan và cách cắt nghĩa đời sống rất riêng của chủ thế sáng tạo Mỗi tác phẩm lớn, tác giả lớn đều có thế giới nghệ thuật riêng của mình, thể hiện tính độc đáo trong tư duy và phong cách nghệ thuật của nhà văn
Cách hiểu trên là cơ sở để chúng tôi đi vào tìm hiểu và nghiên cứu thế giới nghệ
thuật trong tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam
Trang 171.1.4 Nhân vật, không gian, thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật
1.1.4.1 Nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết
Nhân vật văn học là khái niệm chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học Đó là cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo và thể hiện bằng phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ Những con người này có thể được miêu tả kĩ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện thường xuyên hay từng lúc, một hay nhiều lần, giữ vai trò quan trọng nhiều hay ít, hoặc không ảnh hưởng nhiều đến tác phẩm
Nghệ thuật xây dựng nhân vật là những thủ pháp để miêu tả, khắc họa những con người với đầy đủ chân dung, tính cách và số phận Nhà văn sử dụng tất cả những hiểu biết từ giải phẫu sinh lí đến tâm lý, tình cảm của con người, kể
cả những hiểu biết về các mối quan hệ xã hội để tạo nên những nhân vật sống động và chân thực Từ đó, mỗi nhân vật không chỉ còn dừng lại ở mức độ là một hình tượng văn học, mà nó tạo cảm giác như một con người đời thực
Khi xây dựng nhân vật, nhà văn chú ý đến việc miêu tả ngoại hình Việc miêu tả ngoại hình đòi hỏi rất cao ở nhà văn, thông qua đó, nhân vật bộc lộ rõ tính cách Mà tính cách của con người đôi khi không phải là bất biến, nên khi tính cách thay đổi thì ngoại hình có thể linh động biến chuyển theo Nhà văn không miêu tả toàn bộ, tỉ mỉ các đặc điểm ngoại hình của nhân vật, mà chọn lọc những nét sắc sảo, mang đặc trưng riêng để nhân vật hiện lên vừa cụ thể lại vừa linh hoạt, có điều kiện bộc lộ nội tâm và tính cách của mình
Ngoài việc miêu tả ngoại hình, khắc họa tính cách nhân vật bằng biểu hiện nội tâm là một biện pháp đặc biệt quan trọng Nội tâm nhân vật thường được thể hiện thông qua ngôn ngữ của chính mình Xây dựng hình tượng nhân vật thông qua hành động là thủ pháp nghệ thuật quan trọng Hành động của nhân vật không chỉ là yếu tố cần thiết để bộc lộ quá trình phát triển của tính cách mà còn là yếu tố không thể thiếu góp phần thúc đẩy diễn biến của hệ thống cốt truyện Hành động của nhân vật thường được miêu tả thông qua ngôn ngữ người
kể chuyện hoặc ngôn ngữ của nhân vật khác, cũng có thể được tái hiện một cách
Trang 18cụ thể qua một đoạn văn miêu tả Như vậy, dù sử dụng hình thức nào đi chăng nữa, điều quan trọng nhất đối với mỗi nhà văn là khắc họa và lý giải sâu sắc tính cách của nhân vật Văn học là nghệ thuật khám phá con người Nhân vật văn học được xây dựng dưới bất kỳ góc độ hay hình thức nào, thì nó vẫn luôn là đối tượng để nhà văn không ngừng tìm tòi và khám phá
1.1.4.2 Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải về không
gian như sau: “Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật hiện
tượng xung quanh đời sống con người” [51, 92]
Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó Trong tác phẩm văn học, Không gian nghệ thuật
có tác dụng mô hình hóa cái thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy số phận của mình trong đó Không gian nghệ thuật gắn với quan niệm về con người
và tập trung biểu hiện cho quan niệm ấy
Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất Nghệ thuật là một dạng tồn tại
đặc thù, có thời gian riêng “Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình
tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó.” [Từ điển thuật học văn học,
NXB Đại học Quốc gia] Trong tác phẩm văn học, thời gian nghệ thuật là một trong những phương tiện hữu hiệu để tổ chức nội dung và nghệ thuật, thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời và con người
Không gian, thời gian là hai phạm trù tương ứng, thống nhất chặt chẽ trong một chỉnh thể nghệ thuật
1.1.4.3 Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết
* Ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ được dùng trong các tác phẩm văn chương Đó là ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm, nó không chỉ mang chức năng thông tin mà còn nhằm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Nó là ngôn ngữ
Trang 19được sắp xếp, tổ chức, lựa chọn và tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường, đạt được giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ
Nhà văn Nga Lep Tônxtôi đã gọi nhà văn là “nghệ sĩ ngôn từ”, còn M.Gorki thì cho rằng: “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Trong sáng
tác văn học, yếu tố ngôn ngữ quan trọng hàng đầu, “là một trong những yếu tố
quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn” [15,
125] Mỗi nhà văn luôn là tấm gương sáng về sự hiểu biết sâu sắc và cần cù lao động để trau dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật
* Giọng điệu nghệ thuật
Giọng điệu là một phương diện biểu hiện quan trọng của chủ thể tác giả Giọng điệu của nhà văn là điểm cốt lõi để phân biệt địa hạt văn chương của nhà văn này với nhà văn khác Nó không chỉ là cách sử dụng ngôn từ, ngôn ngữ vùng miền địa phương mà qua giọng điệu, nhà văn thể hiện thái độ, tư tưởng, tình cảm của mình đối với các nhân vật
Sự phong phú trong giọng điệu xuất phát từ mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, từ sự lựa chọn thể loại, lời văn nghệ thuật và các mô típ, hình tượng… Trong thể loại tiểu thuyết thường có các giọng điệu: giọng điệu trữ tình, giọng điệu hài hước, châm biếm và giọng điệu suy tư chiêm nghiệm Sự đa dạng trong giọng điệu thể hiện cách nhìn, cách cảm, cách đánh giá đời sống… trong nhiều thời điểm, nhiều hoàn cảnh khác nhau của nhà văn
1.2 Tiểu thuyết Đoàn Hữu Nam
1.2.1 Vài nét về tiểu sử nhà văn Đoàn Hữu Nam
1.2.1.1 Tiểu sử
Nhà văn Đoàn Hữu Nam sinh ngày 16 tháng 5 năm 1957 tại làng Nội, xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Quê hương của ông là cái rốn chiêm trũng của đồng bằng Bắc Bộ Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ ông thường xuyên đau yếu, bệnh tật nên từ nhỏ nên Đoàn Hữu Nam đã phải gồng mình lên lo cái ăn cái mặc cho gia đình Khi mới mười lăm tuổi, ông đã tham gia
Trang 20vào đội thủy lợi 202 Năm 1975, khi mới bước sang tuổi 18, đang học dở dang
cấp ba trường huyện, ông vào làm công nhân ở đội quân giao thông lên phá đá
mở đường tận vùng Bảo Hà thuộc huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai Cuộc sống ở mảnh đất miền núi Tây Bắc đã tạo nên một Đoàn Hữu Nam chân chất, mộc mạc,
mạnh mẽ mà thâm trầm, sâu sắc
Năm 1984, Đoàn Hữu Nam bắt đầu sự nghiệp sáng tác với vai trò là biên tập viên của Đội thông tin lưu động Phòng Văn hóa huyện Bắc Hà Ông đã có dịp tới khắp 33 xã, được tiếp xúc, tìm hiểu 14 tộc người sinh sống trên vùng đất này Đó là cơ hội và bước ngoặt lớn trước khi bước vào sự nghiệp viết văn đầy gian nan vất vả của ông Tác giả soi về ký ức của mình “Ta thương ta/Chữ một nhúm/Vốn một đồng/May mắn thập thò ngoài cửa/Chọn lựa cuối cùng là sấp ngửa bàn tay”[ 60], dứt lòng ra đi làm bạn với xà beng, cuốc, xẻng, cùng đất
đá trên những cung đường miền sơn cước Gian lao vất vả đã tôi luyện con người, ông lấy công việc gần nuôi ước mơ xa Đó là quãng đời tự nguyện chọn lấy sự bầm dập mưa rừng, gió núi của nhà văn Có lẽ cuộc đời đã sắp định cho ông một con đường, không phải là con đường có lúc tủi phận rơi nước mắt, mà
là con đường mới, con đường văn chương được Đoàn Hữu Nam gọi là dấu nối thênh thang để dấn thân và dâng hiến
Năm 1988, ông trở thành Hội viên Hội Văn nghệ tỉnh Hoàng Liên Sơn, dấu mốc ấy như một chất men đặc biệt đưa Đoàn Hữu Nam thực sự khởi nghiệp nghề viết văn Những đứa con tinh thần lần lượt chào đời, được bạn bè
và người đọc yêu quý Sau đó, ông chuyển ra làm ở Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lào Cai Ông vẫn nung nấu chuyện viết văn, làm thơ chuyên nghiệp, cơ hội được tiếp xúc với các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu như Ma Văn Kháng, Mã
A Lềnh, Pờ Sảo Mìn, Sần Cháng, Trần Hữu Sơn, Vàng Thung Chúng… đã mang lại cho ông nhiều điều thuận lợi, góp phần làm nên thành công của các tác
phẩm sau này, đặc biệt là hai tiểu thuyết: Thổ phỉ viết về người Dao và Rễ người
viết về người Mông, đã có được sự nhuần nhuyễn, tránh được nhược điểm hời hợt, phản cảm, “cưỡi ngựa xem hoa” khi viết về người dân tộc thiểu số ở một số tác giả, tác phẩm khác
Trang 21Nhà văn Đoàn Hữu Nam khá nổi tiếng ở Lào Cai Nghiệp văn chương đã thôi thúc ông cống hiến cho đời hơn ba mươi đầu sách, ở nhiều thể loại: Tiểu thuyết, truyện ký, trường ca, thơ, truyện thiếu nhi, gần một chục kịch bản phim ngắn tập, dài tập Các tác phẩm văn học, kịch bản điện ảnh lần lượt xuất hiện gây tiếng vang tầm quốc gia Giải thưởng nối tiếp giải thưởng, tính đến nay Đoàn Hữu Nam đã được trao hơn 20 giải thưởng các loại Ông cống hiến trọn cuộc đời để xây dựng sự nghiệp văn chương Nhà văn vẫn đang vững vàng xây đắp ngôi nhà của mình trong thành phố văn chương, ngôi nhà nối tiếp nhau nâng lên những tầng cao mới: “Bốn bức tường ngôi nhà tôi đang xây/Loay hoay mãi cũng chỉ cao ngang ngực/Đứng trong tường nhìn dòng đời tuôn chảy/Tôi run run nhìn lại sức mình làm”[ 60] Ông từng tham gia các Hội chuyên ngành Trung ương như Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Điện ảnh Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Lào
Cai, Tổng biên tập Tạp chí Phan Xi Păng
Trong tương lai, ông dự định vẫn sáng tác về đề tài dân tộc và miền núi Cốt truyện vẫn chủ đạo viết về người Mông, người Tày, người Phù Lá ở Bắc Hà, người Nùng ở Mường Khương, người Dao ở Văn Bàn, người Tày ở Bảo Yên, người Giáy ở Bát Xát, người Mông, người Giáy ở Sa Pa… Không gian nghệ thuật trong tác phẩm là không gian thiên nhiên nguyên sơ, với nền văn hóa giàu bản sắc của các tộc người Thế giới nhân vật trong tác phẩm xuất phát từ hiện thực cuộc sống vừa xù xì thô nhám, vừa nên thơ ở miền núi, nơi ông từng thâm nhập với vai trò người trong cuộc Đoàn Hữu Nam đã, đang và sẽ tiếp tục khai thác con người, mảnh đất vùng Tây Bắc của Tổ quốc với khát vọng làm sao có được những tác phẩm hay, đúng nghĩa về dân tộc và miền núi
1.2.1.2 Sự nghiệp sáng tác và giải thưởng
Nhà văn Đoàn Hữu Nam bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình bằng thơ Thơ ông phóng khoáng, mộc mạc, chân chất, hòa quyện khá nhuyễn giữa bản chất của con người đồng bằng Bắc Bộ với tính cách con người miền núi
Trang 22Trong lời kết của tập thơ Đêm không em, ông bộc bạch: “Từ khi sinh ra,
cái khó nhọc cuộc đời theo sát tôi từng bước Tôi chẻ nhỏ cái thường ngày đó ra cột vào từng con chữ rồi dắt đi lang thang khắp nẻo đường đời Có may mắn phù du Có ngã ba ngã bẩy Có những cộng trừ nhân chia khiến đời người như chỉ rối Trong hành trình ấy, bao câu thơ lặng lẽ bỏ đi, cái còn lại xù xì, gân guốc, cười có, khóc có, khẳng định có, dự cảm có, rồi lại hoang mang trước gặt hái mùa màng”[ 29, 48]
Đoàn Hữu Nam sáng tác không nhiều, nhưng các tác phẩm của ông khá thành công và được đánh giá cao trong các cuộc Hội thảo về Văn học dân tộc và miền núi, trong các cuộc thi sáng tác văn học Niềm đam mê sáng tác văn học
canh cánh trong ông từng ngày, từng giờ Nhà văn bộc bạch: “Cuộc đời của tôi
vốn không được suôn sẻ, bài bản Sự không suôn sẻ, bài bản không hợp với máy móc, định kiến, mà máy móc, định kiến thường chung đường với hẹp hòi, coi thường, nhìn nhận phiến diện, việc này đánh mạnh vào lòng tự ái của lòng tự trọng, bắt tôi phải vượt lên” [33, 14] Ông còn chia sẻ: “Không đi, không thâm
nhập, am hiểu cuộc sống, am hiểu nhân tình thế thái không có chất liệu để sáng tác Không đọc sẽ không tạo nên niềm say mê, không biết được thế giới muôn loài qua lăng kính của các nhà văn Không học không nắm bắt được những kiến thức cơ bản, những cách làm hay, làm dở của những người đi trước để tự tin bước vào trang viết Không nuôi chí, không phiêu lưu, mạo hiểm thì chất sáng tạo bị bó khuôn, đông cứng, nhà văn chỉ là người sao chép lại ý tưởng của người khác Như vậy, nhà văn muốn khẳng định mình bằng tác phẩm là cả một chặng đường đổ mồ hôi, sôi máu mắt, ngoài đòi hỏi tài năng, cầu thị, lòng kiên trì và buộc phải đeo bám ý nghĩ vượt lên chính mình, lấy tác phẩm làm mục tiêu, làm thước đo sự cống hiến cho xã hội” Với niềm đam mê khám phá nghệ thuật văn chương, cây bút ấy đã thử sức mình sang một lĩnh vực mới, đó là văn xuôi Đây
là một trong những lĩnh vực còn khá mới mẻ đối với ông Vậy là ông lại bắt tay vào từng con chữ, mày mò đầy nhiệt huyết Lúc bấy giờ, văn xuôi Lào Cai còn rất mỏng cả về số lượng tác giả lẫn chất lượng tác phẩm Trong Đại hội Văn học
Trang 23nghệ thuật Lào Cai lần thứ ba (tháng 9/1992) nhà văn Mã A Lềnh đã nhận xét:
“Văn xuôi Lào Cai tái lập chưa có nhiều để mà nói”, Tạp chí Văn nghệ Lào Cai lúc đó ra ba tháng 1 kỳ mà có tới 2/3 trang văn xuôi là của bè bạn trong cả nước Sau đó ông đành gác thơ sang một bên quyết tâm cùng với một số cây bút mới, cây bút có bề dày sáng tác của Lào Cai, làm một cuộc bộ hành không mệt mỏi trên lĩnh vực văn xuôi
Trong tham luận của một cuộc Hội thảo về đề tài dân tộc và miền núi, ông
đã phát biểu: “Đã qua lâu rồi cái thời động nói, động viết đến dân tộc và miền núi là động đến ngô nghê, cái tao, cái mày, cái lạc hậu (đây là tôi nói cái chung, thành thật xin lỗi nhà văn suốt đời tâm huyết và thành công trong đề tài này), đã đến lúc nhà văn phải nhìn nhận khách quan, tổng thể về lịch sử, văn hóa, nhân cách, tính cách của người miền núi Lấy tác phong, lối sống hiện đại mà ta gọi là văn minh, là tiến bộ gò ép vào cách nghĩ, cách sống, văn hóa người miền núi là sai lầm không thể dung thứ, là “ngươi viết ngươi đọc, ta có thế nào ta sống thế” Với sự nỗ lực và quyết tâm đúng hướng, Đoàn Hữu Nam đã thành công ở mảng
văn xuôi Song song với các tập thơ Đêm không em- NXB Văn hóa dân tộc (1994), Trường ca luân hồi- Hội Văn học nghệ thuật Lào Cai ( 1997), Dấu nối
thênh thang - NXB Hội Nhà văn ( 2006) Ông lần lượt xuất bản các tập truyện,
tiểu thuyết: Ý nguyện- Tập truyện ngắn- NXB Văn hóa dân tộc( 1994), Đi tìm
bố- Truyện thiếu nhi- NXB Kim Đồng ( 1998), Tình rừng- Tiểu thuyết- NXB
Quân đội Nhân dân ( 2000), Hằng Nga đưa Cuội về giời- NXB Kim Đồng, Dốc
người- Tiểu thuyết- NXB Công an Nhân dân ( 2001), Trên đỉnh đèo giông bão-
Tiểu thuyết- NXB Quân đội Nhân dân ( 2004), NXB Lao động tái bản năm
2010), Thổ phỉ- Tiểu thuyết- NXB NXB Hội Nhà văn ( 2010) Đoàn Hữu Nam
không chỉ viết văn, làm thơ, ông còn tham gia viết kịch bản điện ảnh và khá thành công trong lĩnh vực này Những kịch bản viết về đề tài dân tộc và miền
núi của ông lần lượt được các hãng phim lớn sản xuất, công bố, đó là: Tình
rừng- phim truyền hình ( 2 tập) - Điện ảnh chiều thứ bày- Đài Truyền hình Việt
Nam, Kỷ vật đồng đội- Phim VIDEO- Hãng phim Quân đội Nhân dân, Mùa
Trang 24xuân đã về - Kịch bản phim VIDEO- Hãng phim truyện Việt Nam I, Đất thiêng-
Phim truyền hình ( 6 tập)- Phim Văn nghệ chủ nhật- Đài Truyền hình Việt Nam,
Rừng thiêng- Phim Truyền hình (15 tập) - Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC
cùng nhiều kịch bản phim tài liệu nghệ thuật khác
Sự nghiệp sáng tác văn chương của Đoàn Hữu Nam xuất hiện chính thức
và đều đặn bằng thơ vào những năm 90 của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhưng thành công hơn cả là tiểu thuyết Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam đến với bạn đọc rất mộc mạc, chân chất nhưng chứa đựng ở trong đó là cả cuộc đời, sự tâm huyết và niềm đam mê văn học Ông đã dày công tìm hiểu văn hóa dân gian
ở Lào Cai, những lễ hội và phong tục tập quán truyền thống của đồng bào dân tộc Dao, Mông, Phù Lá để rồi đưa vào tác phẩm của mình những giá trị độc đáo
và sinh động, điển hình như Lễ cấp sắc của người Dao đỏ trong tiểu thuyết Dốc
người và Thổ phỉ, Lễ cúng ma của người Giáy ở Tình rừng và Trên đỉnh đèo giông bão Bạn đọc không khỏi ngỡ ngàng khi được chứng kiến những phong
tục độc đáo và không kém phần kì lạ, bí ẩn… Nhưng ẩn chứa ở trong đó là cả một giá trị sâu sắc về đời sống tinh thần, về con người, về phong tục tập quán và nếp sống về văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số nơi biên cương của Tổ quốc, nơi đầu sóng ngọn gió, nơi có “con sông Hồng chảy vào đất Việt” Ở nơi
đó có một sức sống mãnh liệt đang mơn mởn, xanh tươi, có núi rừng bí ẩn với đỉnh Phan Xi Păng hùng vĩ gợi nên sức sống tiềm tàng mãnh liệt của mảnh đất tươi đẹp này
Văn chương chữ nghĩa đã trả nghĩa cho ông Có thể nói, Đoàn Hữu Nam
là nhà văn có duyên với giải thưởng Ông gặt hái được rất nhiều thành công trong văn nghiệp của mình Ông nhận giải Nhất trong cuộc thi Bút kí- Truyện
ngắn- Tạp chí Văn hóa dân tộc năm 2003- 2004 ( Bút kí Si Ma Cai lặng lẽ
chuyển mình); Giải thưởng năm của Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu
số Việt Nam năm 2006 ( Tập truyện Rừng thích đổ vàng) Trong cuộc thi viết
kịch bản văn học phim truyện về đề tài dân tộc thiểu số và miền núi, ông đạt giải
A ( Kịch bản Giữa vòng vây núi) và giải C ( Kịch bản Dưới chân núi Chúa);
Trang 25Cuộc thi viết kịch bản phim tài liệu nghệ thuật về đề tài bảo vệ môi trường do
Tổng cục Lam nghiệp tổ chức, đạt giải B ( tác phẩm Người giữ rừng trên đỉnh
Mường Khương); Năm 2012, ông đạt giải B với tiểu thuyết Tình rừng, giải Ba
cuộc thi viết tiểu thuyết, trường ca về đề tài hai cuộc kháng chiến- Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 2015 ( Trường ca
Bão trở); Giải Ba cuộc thi viết về đề tài Nông nghiệp, nông thôn do Bộ Nông
nghiệp & phát triển nông thôn và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2016 (Tập
thơ Hai miền quê trong tôi); Giải C cuộc thi truyện ngắn do Hội VHNT ba tỉnh: Lào Cai - Phú Thọ - Yên Bái tổ chức năm 2019 ( tác phẩm Thuận dòng); Năm
2020, ông đã khẳng định tên tuổi của mình với các giải thưởng nối tiếp giải thưởng: giải A trong cuộc thi viết Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống do
Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Công an phối hợp tổ chức ( tiểu thuyết Rễ người);
giải C cuộc thi Rừng là cuộc sống của tôi - Do Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức
năm 2020 ( tác phẩm Dối mình, dối người, dối Giời); giải thưởng VHNT Phan
Xi Păng trao 5 năm một lần của UBND tỉnh Lào Cai: giải A ( tiểu thuyết Thổ
phỉ - năm 2012), giải B (Trường ca Bi khúc thiên di - năm 2017); cùng rất nhiều
giải thưởng hàng năm của UBND tỉnh Lào Cai trao tặng
Dù ở cương vị nào, Đoàn Hữu Nam luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình Ông đã được bầu làm Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Lào Cai Đặc biệt, năm 2008, ông được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; Năm
2013, ông được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng Ba, năm 2017 được trao tặng Huân chương lao động hạng Nhì và rất nhiều Bằng khen của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cùng nhiều Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai
Đoàn Hữu Nam đã khẳng định tên tuổi trong mảng văn xuôi viết về đề tài dân tộc và miền núi Ở ông đã toát lên một niềm tin và tình yêu cháy bỏng của một người cầm bút, sáng tạo không mệt mỏi dành cho đất và người vùng cao Ông đem đến cho văn chương Lào Cai nói riêng, văn xuôi dân tộc và miền núi Việt Nam nói chung một giọng điệu nghệ thuật mới
Trang 261.2.2 Quan niệm sáng tác của nhà văn Đoàn Hữu Nam
Với Đoàn Hữu Nam, điều cốt lõi nhất để có tác phẩm hay là sự sáng tạo không xa rời hiện thực, bởi hiện thực luôn là chất liệu và nguyên cớ để nhà văn tung tẩy ngòi bút Những trang văn, trang thơ của ông lấm láp bụi đường, đầy trăn trở với xã hội và giàu giá trị hiện thực Đoàn Hữu Nam sáng tác nghệ thuật như là sự tri ân đối với vùng đất biên ải, nơi đã dung dưỡng tâm hồn ông, nơi có những con người khoáng đạt, hiền hậu mà cũng hết sức mạnh mẽ Trong các sáng tác của ông, mảnh đất và con người Lào Cai vừa là nguồn cảm hứng, vừa là chất liệu, đối tượng miêu tả Ông viết về những số phận éo le, những cuộc đời bị dòng chảy mãnh liệt của lịch sử xô đẩy, như Trên đỉnh đèo giông bão, Dốc người, Rễ người Ông trân trọng những tín hiệu thay đổi tích cực của cuộc sống… Có thể nói, sự nghiệp văn chương của Đoàn Hữu Nam là dành cho đất
và người Lào Cai- mảnh đất đã gắn bó máu thịt trong quá trình sáng tác của ông:
“ Con người và cảnh quan miền núi luôn là cơ hội vàng cho những người yêu thích nghệ thuật chúng ta, những người làm văn học nghệ thuật đã, đang và sẽ sống giữa vùng đất đầy huyền thoại, thậm chí là hiểm nguy, nhưng cũng tràn trề
sự hào hứng Thiên nhiên miền núi với không gian bao la, khoáng đạt, kỳ vĩ và
bí hiểm Tính cách mạnh mẽ, hào sảng, tính tự chủ cao, ít nói, hồn nhiên, nhân hậu mà đầy nội tâm của người vùng cao ”[33]
Nhà văn luôn tâm niệm rằng, điều cốt tử của văn học nghệ thuật là tính
nhân văn, đó là căn cốt của tác phẩm văn học: “ thơ, ký truyện , tất cả cốt lõi,
cốt tử là tình người mà thôi Nói mỹ miều một chút, tức là tính nhân văn Thế nên xã hội mới cần đến nhà văn, và nhà văn mới tồn tại được” (33, 5) Tính
nhân văn trong các tác phẩm của Đoàn Hữu Nam được thể hiện dưới nhiều giác độ: Vẻ đẹp của thiên nhiên, tình yêu, phẩm chất nhân bản của con người trong các tác phẩm của ông
Trong sự nghiệp sáng tác văn học, Đoàn Hữu Nam luôn tìm tòi và phản ánh chân thực nhất một thế giới nhân vật lạ, có suy nghĩ lạ, có đời sống lạ và có hành động không giống với những cái thông thường; đó là các nhân vật hư cấu
Trang 27đựa trên một số nguyên mẫu nào đó mà ông được tiếp xúc trong cuộc sống Tác
phẩm của ông có thể bắt nguồn từ một sự kiện có thật: như tiểu thuyết Thổ phỉ,
dưới sự tiếp tay của người Pháp, người Mỹ, bọn thổ phỉ ở Phong Thổ - Lai Châu
đã nổi dậy đồng loạt Chúng thành lập mặt trận tự trị, cướp chính quyền, hiếp dân lành,; sau đó bị trấn áp, đánh tan, bị bắt hết đến tên cuối cùng Bằng tư duy
và hư cấu nghệ thuật của văn chương, tác giả đã dựng nên một thế giới tội ác tăm tối, một thế giới nhân vật sinh động và độc đáo Nhà văn tập trung khắc họa thế giới nhân vật đặc sắc và đa dạng Cây bút miền núi ấy đã sống và viết về vùng đất mà ông có sự thấu hiểu tường tận bằng tâm thế của người trong cuộc Tuy nhiên, ông cũng phát huy sở trưởng của mình và sáng tạo những tác phẩm
mới bằng một tư duy khác, tâm thế khác Điển hình trong tác phẩm Thổ phỉ là
nhân vật Triệu Tá Sắn, cô gái Đàu, cụ giáo Choong, người đàn bà tên Pham, mỗi nhân vật có số phận riêng, có tính cách và có đời sống riêng Ông luôn có cái nhìn sâu sắc và khắc họa nhân vật chân thực, dễ hiểu, nhưng không vì thế mà nhàm chán vô vị Với khả năng sáng tạo độc đáo, ông đã xây dựng mô típ nhân vật chính diện hay phản diện khác nhau, nhưng để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc
Sáng tác tiểu thuyết là công việc nặng nhọc, đòi hỏi sự dày công tìm tòi
và khám phá đối với nhà văn Một nhà văn đích thực phải vững tay nghề, làm chủ được ngòi bút, viết biến hóa, và phải là một người giàu trí tưởng tượng Đoàn Hữu Nam là một nhà văn giàu tưởng tượng và có khả năng hư cấu nghệ thuật cao, nhưng vẫn giữ được cảm xúc chân thực dào dạt tuôn chảy cùng ngòi bút Tuy tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam cũng không tránh khỏi những thiếu sót, vụng về ở một số mặt, nhưng tiểu thuyết của ông đã có những điểm mạnh nhất định và đã đóng góp đáng kể trong sự phát triển của văn xuôi Việt Nam đương đại về đề tài dân tộc và miền núi
1.2.3 Tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam trong văn xuôi đương đại về
đề tài dân tộc và miền núi
Trang 28Miền núi là miền đất xa xôi, là nơi chứa đựng nhiều bí ẩn, nhiều góc khuất số phận, là nơi có đời sống văn hóa, phong tục tập quán vô cùng phong phú và sinh động, là “mảnh đất màu mỡ” luôn cần những cây bút khám phá Vào khoảng đầu những năm 30 của thế kỷ XX, cùng với sự xuất hiện của văn học hiện đại, trên văn đàn cũng xuất hiện một số tác phẩm viết về đề tài dân tộc
và miền núi Đây là một đề tài văn học lớn, với nhiều tác phẩm đứng ở vị trí hàng đầu trong nền văn học cách mạng Đây cũng là một khu vực văn học đặc biệt, bởi đội ngũ sáng tác có cả người Kinh và người dân tộc thiểu số Từ 1986, sau Đại hội Đảng lần thứ VI đời sống văn nghệ cởi mở hơn Công cuộc đổi mới từng bước đem lại những chuyển biến ở miền núi, từ đó đã tạo cơ sở cho bộ phận văn học viết về khu vực này phát triển hơn so với các giai đoạn trước Đáng chú ý là nhiều tác phẩm văn xuôi giành được giải thưởng văn học cao trong nước và quốc tế những năm gần đây lại là các tác phẩm viết về miền núi, trong khi văn học miền xuôi và đô thị đang phát triển khá phong phú cùng xu hướng đô thị hoá của không ít cây bút trẻ Từ đó cho thấy, mảng đề tài có mối liên hệ bền chặt với truyền thống vẫn thể hiện sức sống, bản lĩnh riêng của nó
Văn xuôi miền núi đương đại có sự mở rộng đề tài, chủ đề ở tất cả các thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết Đây là mảnh đất màu mỡ, tạo đà cho các nhà văn thoả sức phóng túng trí tưởng tượng của mình Sức hấp dẫn của đề tài này là sự
kì lạ, bí ẩn về những phong tục tập quán, lối sống của những người dân miền núi với một thiên nhiên thật dữ dội, bí hiểm, nhưng cũng rất thơ mộng, trữ tình Từ
tập truyện Tây Bắc đến Đà Bắc, Mai Châu ngày ấy, Tô Hoài đã trở lại khai thác
hiện thực miền núi những năm đầu Cách mạng với cuộc đấu tranh gian khổ của
nhân dân các dân tộc Chuyện trên bờ sông Hinh (1994) của Y Điêng, Gió Mù
Căng (1995) của Hà Lâm Kỳ, Ba ông đầu rau (1999) của Hà Đức Toàn, Trên đỉnh đèo giông bão (2004), Thổ phỉ ( 2010) của Đoàn Hữu Nam… tìm cảm
hứng ở quá khứ Các nhà văn vẫn xoay quanh những vấn đề phổ quát của chiến tranh, cách mạng như: sức sống và bản lĩnh của dân tộc, con đường thu phục lòng dân và cảm hoá tầng lớp lang đạo ở miền núi, tình đoàn kết và tinh thần cộng đồng … Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm hướng về công cuộc xây dựng đời
Trang 29sống, công cuộc phát triển kinh tế ở miền núi như Mũi tên ám khói (1991), Gió
hoang (1992) của Ma Trường Nguyên
Nhờ sự dân chủ hoá của văn học đổi mới, phạm vi hiện thực được mở ra rộng rãi hơn, đề tài văn học phong phú hơn Những mặt trái, những mảng tối mà văn học trước đây từng né tránh nay đã được phơi bày Trong nửa đầu thập kỉ
90, các tiểu thuyết của Vi Hồng được dư luận quan tâm bởi nó đề cập đến những
vấn đề có tính thời sự, như Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Vào
hang (1990), Chồng thật vợ giả (1994)… Tiểu thuyết Xứ mưa (2000) của
Hoàng Thế Sinh đã tái hiện chân thực một thời bao cấp của đất nước, phơi bày thảm trạng đói nghèo, nhem nhuốc, túng quẫn của giới công chức, thân phận chịu nhiều thiệt thòi của giáo viên… cùng sự hoang mang, đổ vỡ niềm tin của giới trí thức trước sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu Bi kịch nảy sinh từ cái nghèo, cái ác đã làm bùng lên khát vọng làm giàu, khao khát đổi đời trong cuộc kiếm tìm đá đỏ và vàng ở miền núi cũng là đề tài trong nhiều sáng tác của nhà văn này Nhà văn dân tộc thiểu số Cao Duy Sơn
đã công khai hé mở thực trạng về sự nghèo đói truyền kiếp của người dân vùng
cao trong tiểu thuyết Đàn trời (2006) với sự phản ánh mạnh mẽ, táo bạo và bi
phẫn Ông đã vạch trần thói mị dân, sự sa đọa cùng hành vi đen tối của một số quan tham cao cấp thời đại mới Bên cạnh sự hiện hữu của cái nghèo, cái ác, tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với vùng cao cũng là vấn đề được nhiều tác phẩm quan tâm Ngoài những vấn đề mang tính xã hội, một số tác phẩm đã
đi vào các khía cạnh của đời tư con người, tiêu biểu là tiểu thuyết của Cao Duy Sơn, Hà Lý, Hoàng Thế Sinh Với việc khai thác vấn đề số phận cá nhân đã làm giàu thêm chất văn xuôi, chất tiểu thuyết cho các tác phẩm, đồng thời nêu cao tinh thần nhân văn, nhân bản đang là xu thế chung của văn học đổi mới
Nét mới của văn xuôi miền núi từ 1986 đến nay là sự ra đời của những tác
phẩm có dấu hiệu mới trong cách nhìn và tư duy nghệ thuật Gặp gỡ ở La Pan
Tẩn (1999) là một trong bộ ba tiểu thuyết kết tinh thành tựu của Ma Văn Kháng
về đề tài dân tộc và miền núi, đã thể hiện "một bước tiến dài về tư duy tiểu
Trang 30thuyết" của nhà văn Tiểu thuyết Người lang thang (1992) của Cao Duy Sơn khi
ra đời đã được đánh giá là “có những dấu hiệu mới” (Nguyên Ngọc), "thể hiện
rõ dấu hiệu của một tiểu thuyết hiện đại" (Lâm Tiến) Qua việc xây dựng những nhân vật luôn có sự chuyển hoá giữa các cực đối lập, đôi chỗ còn khiên cưỡng,
tiểu thuyết Dặm ngàn rong ruổi (2000) của Triều Ân đã thể hiện nét tích cực ở
cái nhìn con người trong quan điểm phát triển, như một sự phủ nhận cái nhìn
tĩnh tại, một chiều thường thấy trong văn xuôi miền núi Tiểu thuyết Dòng
đời (2007) của Hữu Tiến có hướng đi khác mọi tác phẩm văn xuôi miền núi xưa
nay viết về số phận con người trước và sau Cách mạng Kết thúc truyện, Cách mạng thành công nhưng các nhân vật không có sự đổi đời mà đi vào bế tắc, ngõ cụt và cái chết bởi sự xô đẩy của định kiến và cái xấu cái ác muôn đời Tiểu
thuyết Dòng đời mang đậm cái nhìn đời tư - thế sự, hoàn toàn xa lạ với cách
nhìn hiện thực và con người theo quan niệm sử thi trước đây Trong tiểu thuyết của Hữu Tiến, tính cách nhân vật khá rõ nét và bước đầu có xu hướng đa diện, phức tạp Có thể nói, thực tiễn đang đòi hỏi những tác phẩm trung thực hơn với
sự thật, do đó ở phương diện nội dung văn xuôi miền núi đã có sự mở rộng, đào sâu hơn về đề tài - chủ đề gắn với hiện thực miền núi Tất cả những điểm này làm nên nét đặc trưng của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại
Nhắc đến Đoàn Hữu Nam là nhắc đến một gương mặt tiêu biểu của mảng văn học viết về đề tài dân tộc và miền núi Ông có thời gian khá dài gắn bó với bản làng, với người dân tộc thiểu số nên ông hiểu sâu sắc về cuộc sống của con người nơi đây Cây bút miền núi ấy luôn có tư tưởng bám sát cuộc sống các dân tộc thiểu số, khai thác các mảng đề tài khác nhau Tác phẩm của Đoàn Hữu Nam phong phú về nội dung, độc đáo về hình thức, dồi dào về cảm xúc, mới mẻ trong văn phong Hiện thực cuộc sống ở miền núi Tây Bắc được nhà văn phản ánh qua
những tiểu thuyết như Trên đỉnh đèo dông bão, Tình rừng, Dốc người, và gần đây nhất là Rễ người Trong các tiểu thuyết, nhà văn tập trung khắc họa không
gian miền núi, cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số Ở đó có cuộc sống sinh hoạt, có thế giới tinh thần, có niềm vui và nỗi khổ, có hạnh phúc và bất hạnh, có
Trang 31khát khao và tuyệt vọng của cuộc đời con người Đặc biệt có cả những uẩn khúc, trăn trở, vượt lên như một sự tự lột xác để thay đổi mình, thay đổi cuộc sống, thay đổi số phận của con người miền núi Bên cạnh tình yêu và sự trân trọng văn hoá các dân tộc thiểu số, Đoàn Hữu Nam đã dùng cái nhìn của một nhà văn có tài và có tâm để soi rọi để thấy cái gì cần giữ gìn, cái gì cần đổi thay
Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam được độc giả rất yêu mến Trước tiên
phải kể đến tiểu thuyết Thổ phỉ, cuốn sách gây ấn tượng và thu hút sự chú ý của nhiều bạn đọc Thổ phỉ tái hiện một hiện thực rộng lớn về một thời điểm lịch sử
cách mạng Việt Nam Bằng việc xây dựng một thế giới nghệ thuật mới mẻ, nhà văn cho người đọc thấy rõ bản chất và hành tung của một đối tượng phá rối cách mạng trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc Tác phẩm cũng khắc họa một không gian nghệ thuật đặc biệt, từ đó một hiện thực bi tráng được mở ra, ở đó có
sự tàn khốc đau thương, có sự anh dũng kiên cường Chính từ những điểm nổi
bật trên mà tiểu thuyết Thổ phỉ đã đóng góp tích cực vào mảng đề tài văn học
viết về dân tộc thiểu số và văn học đương đại Việt Nam
Tiểu thuyết Rễ người là sự tiếp nối thành công sau tiểu thuyết Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam Rễ người đã khẳng định vị trí của nhà văn trong mảng đề tài
dân tộc và miền núi Với vốn sống giàu có, Đoàn Hữu Nam đã đưa vào tác phẩm giọng điệu, lời nói, cách nghĩ, cách cảm, ngôn ngữ ít, kiệm lời, hành động quyết liệt, qua hành động bộc lộ tính cách của người dân tộc thiểu số
Cùng viết về đề tài dân tộc và miền núi như nhiều nhà văn khác, nhưng Đoàn Hữu Nam đã sáng tạo cốt truyện và tình huống truyện vô cùng độc đáo
Cách mở đầu Rễ người tạo nên sự lôi cuốn, người đọc như bị xoáy vào một câu
chuyện mang tính hình sự: Giàng Seo Phù, một trưởng bản người Mông, do phòng vệ nên anh vô tình đánh chết người Vì sợ hãi những điều trả thù nên anh
đã quyết định trốn chui lủi vào rừng sâu Cách mở đầu khiến người đọc như bị hút theo một cốt truyện hình sự, một hành trình đi tìm kẻ giết người đang trốn tránh pháp luật Thông thường, với kiểu nhân vật này, các nhà văn khác sẽ phê phán, mỉa mai, châm biếm, miêu tả một con người hèn nhát, sợ hãi, chui lủi
Trang 32Nhưng trong Rễ người, tác giả đã tạo ra sự bất ngờ khi xây dựng một cốt truyện
có tính đảo ngược, nghịch chiều so với truyền thống kể trên Ông không phê phán, mỉa mai mà lại khám phá, phát hiện và ngợi ca, trân trọng, cảm thông với
những phẩm chất tốt đẹp tiềm ẩn trong nhân vật chạy trốn này
Trong Rễ người, cuộc sống của con người hiện lên cực kì chân thực dưới ngòi bút của Đoàn Hữu Nam Rễ người là hành trình tự cô lập chính mình, trở về
cuộc sống bản năng, kiếm đồ ăn từ thiên nhiên, ăn rừng, ngủ rừng một mình Tiểu thuyết thành công bởi sự khám phá, miêu tả và phân tích tâm lý sâu sắc, một sự đấu tranh giữa ở lại và trở về với cuộc sống cộng đồng Tác phẩm đã chạm tới bản ngã sâu thẳm của con người Khi đối diện với chính mình, tận cùng nỗi đau của con người, lúc con người rơi vào tận cùng của cô đơn, là lúc con người nghĩ đến con người nhiều nhất Một mình trốn trong rừng sâu, không còn ai để trò chuyện lại là khoảng thời gian nhân vật chính có điều kiện đào sâu vào thế giới nội tâm của chính mình: Phù nghĩ về quá khứ, những cảm xúc, suy nghĩ tốt đẹp về bản làng, về người thân, về công việc, cuộc sống lao động hằng ngày của đồng bào dân tộc miền núi Phù suy nghĩ về những điều đã trải qua và những điều sắp tới Để khắc họa được tậm trạng của Phù lúc này, tác giả đã sáng tạo những chi tiết đắt giá Trong cô đơn, anh lấy viên sỏi bỏ vào ông tre để đếm thời gian, mỗi ngày là một viên sỏi Anh còn đẽo tượng người thân trong gia đình, bạn bè để trò chuyện hằng ngày Anh luôn duy trì tập tục thờ cúng tổ tiên của người Mông… Những chuỗi ngày sống trong rừng sâu, Phù không thối chí vì anh có quá khứ Quá khứ là cứu cánh cho anh, đồng thời giúp anh chịu đựng được những khó khăn, gian khổ và sự cô đơn khi một mình ở trong rừng Tác giả rất tinh tế khi phát hiện và khai thác tình cảm, diễn biến tâm trạng của các nhân vật dân tộc thiểu số theo hướng hết sức nhân văn: con người tự cảm hóa, tự cải tạo chính mình Với ánh sáng của chủ trương, chính sách của pháp luật họ tự cải tạo mình để trở thành một người tốt hơn Đây cũng là khám phá mới mẻ và độc đáo trong cây bút Đoàn Hữu Nam về đời sống của người dân tộc thiểu số Ông phát hiện chiều sâu tâm hồn họ, cũng như câu ca của người Mông
Trang 33“ Rễ cây thì ngắn, rễ người thì dài”: con người ai cũng có gốc rễ, ai cũng mong
muốn được trở về, chứ không ai có dũng khí để cả đời sống biệt lập, đó cũng là
lí do ông lựa chọn cho tiểu thuyết một nhan đề độc đáo và mang ý nghĩa sâu sắc Một số nhà văn viết về đề tài này, khi khắc họa con người miền núi thường mắc một nhược điểm là ít chú ý đến thế giới tâm hồn và diễn biến trong con người
miền núi, nếu có thì cũng rất mờ nhạt Trong các tác phẩm như Cao nguyên trắng,
Dấu chân trên đường, Thằng bé củ Mài, Làng mình,Tình ca trên núi…của Mã A
Lềnh, nhân vật đều hết sức quen thuộc và bình dị, đó là con người miền núi mộc mạc, đáng yêu nhưng đời sống nội tâm của nhân vật chưa được miêu tả thật sâu sắc Các nhân vật và hình ảnh trong truyện của Hà Lâm Kỳ rất gần gũi với tuổi thơ quê núi, hay phải kể đến nhân vật như chiến sĩ cộng sản, những chiến sĩ cách mạng âm thầm, kiên trì và dũng cảm với một niềm tin tất thắng ngay trong những ngày đầu đi tuyên truyền, vận động, tổ chức lực lượng cách mạng và kháng chiến
ở vùng dân tộc, miền núi xa xôi Yên Bái; những người nông dân miền núi- người Kinh, người Tày, người Mông, người Dao, người Thái… được giác ngộ cách mạng, đi theo cách mạng, theo Đảng và Bác Hồ Cách xây dựng nhân vật chưa thật sự chú ý đến diễn biến tâm trạng của nhân vật Nhưng tựu chung lại thì chính việc miêu tả sâu sắc thế giới nội tâm nhân vật đã làm nên “ chiều sâu” cho nhân vật và tính hiện đại cho tác phẩm Vì thế, những trang văn của Đoàn Hữu Nam có
“ sức nặng” hơn, ám ảnh và day dứt hơn
Từng có quan niệm, nhà văn phải là người dân tộc thiểu số mới viết về người dân tộc sâu sắc Con người Kinh có ở vài chục năm thì vẫn là người ngoài nhìn vào đời sống của người miền núi Nhưng trong hoàn cảnh xã hội đang có sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ như lúc này, thì sự hòa quyện nhuần nhuyễn văn hóa Việt với văn hóa vùng cao đã mang lại cho Đoàn Hữu Nam cái nhìn nghệ thuật vừa gần gũi, vừa khách quan để miêu tả sống động, chân thật và điển hình về bức tranh thiên nhiên, bức tranh xã hội ở vùng biên ải này Hà Lâm Kỳ là nhà văn có
tâm thế nghệ thuật khi viết về đề tài dân tộc và miền núi Trong Cái Làng nhỏ,
nhà văn đã đi vào những vấn đề về cuộc sống và con người miền núi, với biết bao
Trang 34nhiêu chuyện về cội nguồn tổ tiên, ông bà, cha mẹ, có biết bao nhiêu chuyện về phong tục tập quán đẹp và riêng biệt của người Tày, chuyện làm ăn, sinh sống, vui buồn, chuyện xưa đánh giặc Pháp giải phóng quê hương… nào mèo con, gà rừng, nghé vàng, thỏ trắng, dê bé, chim ri, cánh cam, cả con dán nâu bé xíu luôn
ẩn nấp trong xó tối, rồi cây núc nắc, cây giang, cây nứa, cây vầu, cây sấu, cây kẹn, dây bìm bìm, rồi hoa phong lan, hoa chuối, hoa dẻ, hoa chít, hoa lau, hoa trạng nguyên, hoa gió, hoa dổi Ở tác phẩm nào của ông, người đọc cũng thấy được nội dung rất ngắn gọn, giản dị, trong sáng, nêu ra một bài học nho nhỏ và đẹp đẽ về đạo đức nhằm răn dạy các em sống có tình có nghĩa với gia đình, bạn
bè và quê hương Nhưng đó vẫn là cách viết truyền thống, chưa có sự bứt phá để đạt tới tính hiện đại cho tiểu thuyết
Viết về kiểu nhân vật đa diện lần đầu tiên xuất hiện trong văn xuôi Việt Nam đương đại về đề tài dân tộc và miền núi, chúng ta phải nhắc tới Đoàn Hữu
Nam với tiểu thuyết Rễ người Nhà văn đã phân tích được nhiều suy nghĩ sâu
thẳm trong mỗi con người Tác phẩm này đã tìm về bản năng sinh tồn của con người, nhưng không xóa nhòa sự can thiệp của ý thức, phân tích sâu thẳm những suy nghĩ của con người khi cần cộng đồng nhất và nghĩ tới cộng đồng nhiều nhất Dù thế nào con người vẫn cần quay trở lại cộng đồng, cho dù về đó có điều
gì xảy ra, có sự hắt hủi như thế nào thì ai cũng muốn được là người trong cộng đồng của mình Tác phẩm kết thúc hoàn hảo, giá trị nhân văn được tôn vinh Cuốn sách nói lên nhiều suy ngẫm trong cuộc sống hôm nay, đó là những sự chạy trốn, là những áp lực, là sự biến mất Nhưng cái chết hay sự trốn tránh không phải cách để giải quyết mọi vấn đề Mỗi con người chúng ta phải biết đối mặt với những gì mình đã gây ra
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
1 Chương 1 của luận văn đã tìm hểu được cơ sở lý luận về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết gồm nhiều phương diện nghệ thuật Từ nghiên cứu các đặc điểm của không gian và thời gian nghệ thuật sẽ làm cơ sở cho việc phân tích yếu
tố này gắn với bối cảnh và thời gian trong từng tiểu thuyết cụ thể của mỗi nhà
Trang 35văn Tìm hiểu về cách xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết sẽ làm căn cứ để phân tích những nét độc đáo riêng của mỗi tác phẩm Mỗi nhà văn sẽ có cách khắc họa nhân vật trong sáng tác của mình Và nghiên cứu về giọng điệu cũng như ngôn ngữ nghệ thuật sẽ là căn cứ để tác giả tìm hiểu phương diện nghệ thuật này trong tiểu thuyết Từ đó có nhận xét về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết
2 Là một trong những người miền xuôi nhưng lại thành công với các sáng tác về đề tài dân tộc và miền núi, Đoàn Hữu Nam là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại Nhà văn quan tâm đến đời sống con người, văn hóa truyền thống miền núi Tây Bắc Quan điểm sáng tác của ông là
đi sâu khám phá bản chất của con người Chính cái nhìn linh họat, sâu sắc của Đoàn Hữu Nam trước hiện thực cuộc sống và con người miền núi là nhân tố quan trọng chi phối và làm nên thế giới nghệ thuật mới lạ trong các tiểu thuyết
của ông nói chung, trong tiểu thuyết Rễ người nói riêng Vấn đề này sẽ được tác
giả nghiên cứu kĩ ở những chương sau thông qua phân tích thế giới nghệ thuật
trong tiểu thuyết Rễ người
Trang 36CHƯƠNG 2 NHÂN VẬT VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT RỄ NGƯỜI 2.1 Khái lược thế giớí nhân vật trong tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu
là những người công nhân, những người nông dân, những anh công an xã,… và nhà văn đã khắc họa được những phẩm chất tiêu biểu của họ như chất phác, thật thà, ngoan cường, bất khuất và cả những nhân vật phản diện Nhân vật tích cực trong những sáng tác của Đoàn Hữu Nam rất quen thuộc, họ là những con người gắn bó với bản làng, gắn bó với rừng thiêng nước độc, có ý thức xây dựng bản làng ngày một giàu đẹp hơn
Nhà văn Đoàn Hữu Nam đã xây dựng một thế giới nhân vật đa màu sắc Đối với nhân vật tha hóa, nhà văn thông qua kiểu nhân vật này để phản ánh sự tha hoá của một bộ phận người trong xã hội Đối với nhân vật tự ý thức, nhà văn
đã phát hiện và khẳng định những phẩm chất cao đẹp trong sâu thẳm tâm hồn của họ dù có lúc nhân vật va vào lỗi lầm Đối với nhân vật sám hối, Đoàn Hữu Nam đề cao tính nhân văn trong ngòi bút của mình khi luôn mở đường cho nhân vật trở về với cuộc sống lương thiện
Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam đã nêu lên rất nhiều vấn đề phức tạp của đời sống xã hội trong thời kì đổi mới, trong đó có các vấn đề cải cách kinh tế với nhiều biến động ở miền núi Để giải quyết những vấn đề lớn đặt ra trong tác
Trang 37phẩm của mình, ông đã chú trọng xây dựng một thế giới nhân vật phong phú và
sinh động Theo Bakhtin, nhân vật tiểu thuyết phải “ thống nhất trong bản thân
mình các đặc điểm chính diện lẫn các đặc điểm phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc”[6, 22] Thực tế bao giờ
cũng phong phú hơn các mệnh đề lý luận rất nhiều Chương này tập trung thể hiện cái nhìn bao quát về thế giới nhân vật và các phương thức xây dựng thế
giới nhân vật trong tiểu thuyết Rễ người của Đoàn Hữu Nam Qua đó, giúp bạn
đọc thấy được khả năng sáng tạo và bút lực dồi dào của nhà văn tài năng này
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Rễ người có sức khái quát và giá trị
nghệ thuật sâu sắc, một thế giới nhân vật đa dạng, phong phú, và được khám phá
ở bình diện đối lập Nhà văn đã phát hiện ra bản chất của con người, dù ở trong hoàn cảnh nào vẫn luôn hướng đến sự thiện lương, nhân ái, mong muốn được sống, được yêu thương cho dù họ có sai lầm nhưng vẫn muốn được làm lại cuộc đời Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam vô cùng đa dạng và đặc sắc, mang đặc điểm của kiểu nhân vật hiện đại Đó là kiểu nhân vật có những phẩm chất tốt đẹp, nhân vật tha hóa, nhân vật sám hối- tự ý thức Nhà văn
đề cập đến sự phức tạp trong tâm lý nhân vật, khai thác nhân vật ở các mặt đối lập nhau, đặt nhân vật trong những hoàn cảnh trái ngược nhau và khám phá sự
đa diện trong cùng một con người Phải có tình yêu thương con người miền núi sâu sắc, phải có sự am hiểu về tâm hồn, tính cách của họ thì mới có thể mô tả thành công những con người riêng biệt trong tác phẩm của mình Đó là những con người miền núi có tính cách chất phác, rắn rỏi, phẩm chất tiêu biểu nhất của con người nơi miền biên cương Nhân vật của Đoàn Hữu Nam luôn gắn với những kỷ niệm, những mảng cuộc sống từng trải, những phương diện văn hóa đậm đà bản sắc của người dân tộc miền núi Mỗi nhân vật có một tính cách riêng, hoàn cảnh riêng, nhưng họ đều là những người con của núi rừng, của bản làng Đó là những con người rất đời thường, tốt có, xấu có, hay có dở có, có nỗi khổ và niềm vui Khi viết về người phụ nữ, Đoàn Hữu Nam đã tập trung làm nổi bật vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Mông Đó là mẹ của Phù, một người
Trang 38phụ nữ tần tảo, chịu thương chịu khó, yêu chồng thương con Một người mẹ khiến lòng Phù luôn cảm thấy tin yêu và cảm phục Đó là May, một người phụ
nữ có dáng hình mỏng manh, yếu đuối nhưng có sức chịu đựng phi thường Đó
là Tuyết, một người con gái hồn nhiên, trong trắng, luôn gìn giữ những rung
cảm của tình yêu trong sáng đầu đời Nhân vật giữ vai trò quan trọng trong Rễ
người là chủ tịch Phùng, công an Bảo, những người mang trọng trách rất lớn của
bản làng, được nhân dân tin tưởng và yêu mến Đó là bố của Phù, người đã dạy Phù triết lí làm người và bản lĩnh của một người đàn ông Đa số các nhân vật của Đoàn Hữu Nam không có sự biến đổi tính cách theo chiều hướng xấu Vẻ đẹp tâm hồn, những phẩm chất tốt đẹp vốn có của nhân vật không hề thay đổi theo thời gian mà ngày càng tỏa sáng Hình tượng nhân vật tha hóa trong tác phẩm của Đoàn Hữu Nam xuất hiện không nhiều Ông chủ yếu phản ánh sự suy thoái phẩm chất đạo đức của nhân vật Sự tha hóa được khai thác ở khía cạnh con người cá nhân hơn là con người làm nhiệm vụ chính trị với vai trò xã hội nhất định Trong tác phẩm, Đoàn Hữu Nam xây dựng những nhân vật tha hóa như lão Vương, lão Củng, thằng Páo, thằng Pùa Đó là những con người lười lao động, sa vào tệ nạn xã hội như trộm cắp, nghiện rượu, nghiện thuốc phiện, trồng cây thuốc phiện, buôn bán thuốc phiện Những kẻ sa ngã đó đã làm mất đi sự bình yên của bản làng, khiến dân làng xa lánh
Không cảm nhận và phản ánh đời sống một cách đơn giản, nhà văn thường quan sát, miêu tả nhân vật gắn với hoàn cảnh cụ thể và sự vận động tính cách của nó trong những tình huống giàu thử thách Nếu đa số các nhân vật
trong tiểu thuyết Rễ người được xây dựng giản đơn, một chiều, thì ở nhân vật
trung tâm, nhân vật Phù, tác giả đã tập trung xây dựng loại nhân vật đa tính cách Nhân vật Phù mang tất cả những phẩm chất của các nhân vật kể trên: dũng cảm, tình nghĩa yêu lao động; anh cũng rơi vào tha hóa, nhưng chính sự sám hối- tự ý thức trong anh đã kéo anh trở lại với bản chất tốt đẹp vốn có của mình
Như vậy, với việc xây dựng thế giới nhân vật đa dạng, nhà văn đã đem
đến cho tác phẩm Rễ người chiều sâu và sức sống bền vững, đề cập được những
Trang 39vấn đề cốt lõi trong đời sống xã hội Trong khuôn khổ của một luận văn Thạc sĩ, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu nét đặc sắc trong nhân vật Phù- loại nhân vật
đa diện, một loại nhân vật mang đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại Qua đó, giúp bạn đọc thấy được khả năng sáng tạo và bút lực dồi dào của nhà văn tài năng này
2.2 Nhân vật đa diện- một kiểu nhân vật của tiểu thuyết hiện đại
Trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, ta bắt gặp một thế giới nhân vật vô cùng phong phú, một thế giới nhân vật được quan niệm là những ảnh tượng đa chiều về thực tại Các nhà văn quan niệm, con người là một phức hợp ngẫu nhiên không thể lập trình, không thể tính toán thông qua những cái thuộc về tất yếu, đã được quy chuẩn hay hợp thức hóa, không thay đổi Vì vậy, nhân vật trong tiểu thuyết hiện đại đã thực sự thoát ra khỏi hình thức “sơ đồ hóa” để hiện lên đầy đặn hơn, sống động hơn, qua đó thấy được “hình bóng của cuộc đời”- loại nhân vật đa diện
Nhân vật đa diện là những nhân vật có tính cách phức tạp, được miêu tả
từ nhiều chiều và được nhìn qua nhiều lăng kính khác nhau Nó là những con người mang tính nhân loại phổ quát, không chỉ là con người cộng đồng mà còn
là con người cá nhân Nếu tính cách nhân vật "đơn diện" hoàn toàn tốt hoặc hoàn toàn xấu thì tính cách nhân vật đa diện vừa có ưu điểm, vừa có khuyết điểm Nghĩa là, nó có tính cách góc cạnh, phức tạp, có sự biến chuyển và tạo nên nhiều cách đánh giá khác nhau
Hiểu được ưu thế của loại nhân vật này, nhà văn Đoàn Hữu Nam đã tập
trung xây dựng kiểu nhân vật đa diện trong tiểu thuyết Rễ người để gửi gắm
chiều sâu tư tưởng của mình Có nhiều kiểu nhân vật trong nhân vật Phù, nhân vật chính diện, người đọc vừa thấy hình bóng của con người tha hóa, con người sám hối- tự ý thức, và con người với những phẩm chất rất quen thuộc: chất phác, yêu lao động, dũng cảm và nghĩa tình Chính nét độc đáo trong nghệ thuật xây
Trang 40dựng nhân vật tạo nên nét hiện đại của tác phẩm và thành công của Đoàn Hữu Nam về đề tài dân tộc và miền núi
2.2.1 Đặc điểm của kiểu nhân vật tích cực trong nhân vật Phù
Rễ người khắc họa những xung đột của hiện thực xã hội miền núi, như xung
đột thế sự đời tư với các dạng thức biểu hiện vô cùng phong phú Đó là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa con người với thiên nhiên, giữa khát vọng tình yêu, hạnh phúc với những trái ngang trắc trở… Nhà văn Đoàn Hữu Nam khắc họa Phù với loại hình nhân vật chất phác của con người miền núi Đó là hình ảnh của con người dũng cảm đối diện với những thử thách nghiệt ngã, yêu lao động và sống tình nghĩa
Trước hết, Phù là một người dũng cảm, gan dạ, nhanh trí khi gặp nguy hiểm hữu hình, đó là đối mặt với một con ác thú trong rừng như gấu, sói, trăn…Và sâu xa hơn cả, chính là thử thách vô hình đòi hỏi con người phải vượt qua, chiến thắng nỗi sợ hãi của chính bản thân mình Trong hoàn cảnh đó, tính cách và những phẩm chất tốt đẹp như lòng dũng cảm, nghĩa tình được bộc lộ rõ ràng và chân thực
Trong Rễ người, mối quan hệ giữa con người với môi trường sống không
phải lúc nào cũng là sự gắn bó, hòa hợp mà còn có những xung đột gay gắt Đó là mâu thuẫn khó giải quyết giữa nhu cầu sinh tồn của con người với nhu cầu sinh tồn của tự nhiên Hiểm họa của đại ngàn cùng những hận thù khủng khiếp giữa người và ác thú đã được đề cập đến trong tác phẩm Cảnh bản làng đối mặt với
nạn chuột gặm nhấm: “Sự háo hức của những kẻ diệt chuột không lại được với sự
sinh đẻ của loài gậm nhấm đông đúc này.…” [ 35, 118] Tất cả mọi người trong
đó có Phù là người xông xáo trong hoạt động bài trừ loài vật có hại này: “Phù vót
tên, làm nỏ rồi tối tối xách thùng nước, cầm cây nỏ tìm đến chỗ lối lũ chuột hay đi rồi thận trọng ngồi rình … nâng cây nỏ lên rồi phựt” [ 35, 118-119]
Ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc là sự cảm phục đối với những
con người có sức khỏe và lòng dũng cảm phi thường như Phù: “Dưới ánh trăng