GDSK còn được định nghĩa là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch vào tình cảm và lý trí của con người nhằm làm thay đổi hành vi sức khoẻ cá nhân và tập thể trong cộng đồng..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
-* -
TÀI LIỆU HỌC TẬP GIÁO DỤC & NÂNG CAO SỨC KHỎE
Đào tạo đại học Y đa khoa (Lưu hành nội bộ)
N ĂM 2018
Trang 2MỤC LỤC
Bài 1: Khái niệm về truyền thông giáo dục và nâng cao sức khoẻ 3
Bài 2 Hành vi sức khoẻ - quá trình thay đổi hành vi sức khoẻ 13
Bài 3 Các nội dung TT-GDSK 27
Bài 4 Một số mô hình truyền thông và kỹ năng TT-GDSK 35
Bài 5 Lập kế hoạch và quản lý các hoạt động TT-GDSK 46
Bài 6 Tình huống tư vấn sức khỏe 56
Bài 7 Truyền thông có phương tiện 61
Bài 8 Lập kế hoạch một buổi truyền thông giáo dục sức khỏe
Trang 3Bài 1
KHÁI NIỆM VỀ TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC VÀ
NÂNG CAO SỨC KHOẺ
MỤC TIÊU
Sau bài học này học viên có khả năng:
1 Trình bày được các vấn đề sức khoẻ bệnh tật phổ biến ở các nước đang phát triển
2 Trình bày được các khái niệm, mục đích của GDSK và NCSK
3 Phân tích được vị trí, vai trò của GDSK trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân
4 Trình bày được hệ thống tổ chức giáo dục sức khoẻ trong ngành y tế Việt nam
1.2 Các vấn đề sức khoẻ phổ biến ở các nước đang phát triển:
Các bệnh nhiễm trùng, siêu vi trùng và nhiễm ký sinh trùng
bệnh tật ở nước đang phát triển có liên quan đến sử dụng nước và vệ sinh môi trường kém Bệnh dịch đường tiêu hoá mang tính đặc trưng của nước đang phát triển Ở Việt nam, nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa các yếu tố nước không sạch, vệ sinh môi trường kém với một số bệnh lây nhiễm như tiêu chảy, tả, thương hàn, lỵ trực khuẩn, các ký sinh trùng đường ruột, sốt xuất huyết [1]
- Bệnh lao, HIV/AIDS, sốt rét, uốn ván, sốt xuất huyết, viêm não vi rút, viêm màng não do não mô cầu, lỵ amíp, bạch hầu, và tả là 10 bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ chết trung bình 10 năm cao nhất Việt nam giai đoạn 1994 – 2003 [2]
nạn giao thông có xu hướng ngày càng gia tăng
Trang 4Biểu đồ: Sự tiến triển của tử vong [3]
Bệnh tật và tử vong ở bà mẹ và trẻ em:
- Tỉ suất tử vong mẹ: vẫn còn ở tỷ lệ cao, trong cuộc điều tra năm 2001, Vụ sức khoẻ sinh sản, Bộ Y tế kết hợp với Tổ chức Y tế thế giới thực hiện cuộc điều tra trên 7 vùng sinh thái của Việt nam, tỷ suất chết mẹ là 130/100.000 trẻ đẻ sống, và thay đổi theo vùng từ 120/100.000 đến 162/100.000 trẻ đẻ sống [4]
- Nguyên nhân: các nguyên nhân chính là băng huyết sau sanh, sản giật, nhiễm trùng, biến chứng nạo phá thai, vỡ tủ cung và chữa ngoài tử cung
vỡ
- Tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi đã giảm từ 42 o năm 1999 xuống còn 27.5 %o năm 2005 Mặc dù vậy, nhìn chung tỷ suất này vẫn còn cao Nguyên nhân: do đẻ non, đẻ ngạt, dị tật bẩm sinh, nhiễm trùng hô hấp cấp, đuối nước [5]
ma tuý là yếu tố có tác động mạnh nhất tới dịch HIV/AIDS, chiếm 40% số ca,
và do có sự liên hệ chặt chẽ giữa tiêm chích ma tuý và hoạt động mai dâm, dịch đang lây vào quần chúng thông qua những người có quan hệ tình dục với gái mãi dâm, và những người có quan hệ tình dục với người tiêm chích ma tuý [6]
2 Khái niệm về GDSK và NCSK
2.1 Giáo dục sức khoẻ là gì?
Có rất nhiều yếu tố tác động đến sức khoẻ của con người, để đạt được sức khoẻ tốt hơn đòi hỏi có sự tham gia tích cực của các cá nhân, các gia đình và cộng đồng vào việc thực hành các hành vi sức khoẻ lành mạnh và tạo môi trường sức khoẻ lành mạnh
Để mọi người có thể thực hành các hành vi sức khoẻ lành mạnh cần đẩy mạnh GDSK
Có nhiều định nghĩa về GDSK:
0 10 20 30 40 50 60
1976 1981 1986 1991 1996 2001 2006
Tai nạn Bệnh truyền nhiễm Bệnh không truyền nhiễm
Trang 5Giáo dục sức khoẻ cũng giống như giáo dục chung đó là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người, phát triển những thực hành mang lại tình trạng sức khoẻ tốt nhất cho con người
Nói một cách đơn giản GDSK là hoạt động thông tin giáo dục nhằm giúp cho một người, một nhóm người hay một cộng đồng nào đó có được những việc làm có lợi cho sức khoẻ
GDSK còn được định nghĩa là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch
vào tình cảm và lý trí của con người nhằm làm thay đổi hành vi sức khoẻ cá nhân và tập thể trong cộng đồng
Như vậy từ định nghĩa trên ta rút ra:
Bản chất của quá trình GDSK là:
1 Là một quá trình truyền thông:
- Gồm các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông (IEC) và tuyên truyền
- Tác động qua lại giữa người làm công tác GDSK và đối tượng được giáo dục chứ không phải thông tin một chiều
2 Là quá trình tác động tâm lý
3 Là làm thay đổi hành vi sức khoẻ:
- Nhận thức: về sức khoẻ, sự cần thiết phải bảo vệ sức khoẻ, và các biện pháp bảo vệ sức khoẻ
- Thái độ: Sức khoẻ của mỗi người là nguồn lợi của bản thân
- Lòng tin: chỉ ra cái gì được chấp nhận, cái gì không được chấp nhận
- Các hành động có lợi cho sức khoẻ
Lĩnh vực tác động của GDSK là:
- Kiến thức: thông tin truyền bá kiến thức mới hoặc làm thay đổi những kiến
thức sai lầm
- Thái độ: làm chuyển đổi thái độ cũ có hại cho sức khoẻ
- Cách thực hành: Hướng dẫn những kỹ năng thực hành mới hoặc làm thay đổi
cách thực hành cũ
Mục tiêu cơ bản của GDSK là giúp cho mọi người:
- Xác định những vấn đề và nhu cầu sức khoẻ của họ
- Hiểu rõ những điều họ có thể làm để giải quyết những vấn đề sức khoẻ và bảo
vệ tăng cường sức khoẻ bằng những khả năng của chính họ và sự giúp đỡ từ bên ngoài
- Quyết định những hành động thích hợp nhất để tăng cường cuộc sống khoẻ mạnh
Định nghĩa trên cũng cho thấy GDSK là một quá trình nên cần tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không phải là một công việc có thể làm một lần là xong Vì vậy, để thực hiện công tác GDSK
Trang 6chúng ta phải có sự đầu tư thích đáng, hết sức kiên trì thì mới đem lại hiệu quả cao
Khái niệm về thông tin, truyền thông - giáo dục:
- Thông tin: Thông tin sức khoẻ hay còn gọi là thông tin y tế chủ yếu nhằm cung
cấp các thông tin từ nguồn phát tin (có thể là người hay các phương tiện thông tin đại chúng) gửi đến người nhận để tạo ra, nâng cao nhận thức, giác ngộ và hiểu biết của họ Thông tin y tế chủ yếu mang tính chất một chiều:
Sơ đồ: Quá trình thông tin (thông tin một chiều)
- Tuyên truyền: Là cách lập đi lập lại các thông tin nhiều lần về cùng một đề tài
theo cùng một hình thức khác nhau khiến cho người ta lúc đầu chưa tin, lâu dần cũng phải tin đó là chân lý, là sự thật Nó mang tính áp đặt và sử dụng nhiều kỹ xảo gây ấn tượng mạnh mẽ
Sơ đồ: Quá trình tuyên truyền (thông tin một chiều, lập đi lập lại)
- Truyền thông - Giáo dục: Là một quá trình truyền thông tác động qua lại giữa
người giáo dục và đối tượng giáo dục Đó là quá trình thông tin hai chiều, trong đó thông tin phản hồi nhận được từ đối tượng là quan trọng vì nó cho biết các đáp ứng hay phản ứng của người nhận tin nhờ đó giúp cho người phát tin kịp thời điều chỉnh các thông tin đưa tiếp sau và giúp đối tượng điều chỉnh hành vi của họ
Sơ đồ: Quá trình tuyên truyền – giáo dục (thông tin hai chiều)
Nguồn
truyền
Thông điệp Người nhận
Hiệu quả Phản hồi
Mô hình truyền thông có thể tóm tắt bằng những từ sau đây:
+ Làm thế nào để biết hiệu quả ‘Phản hồi’
Nguồn truyền
Thông điệp
Người nhận
Trang 7Như vậy mối liên quan giữa GDSK với thông tin, giáo dục- truyền thông và tuyên truyền là mối liên quan giữa mục đích và phương pháp, phương tiện
2.2 Nâng cao sức khoẻ
Trong những năm gần đây, quan niệm về GDSK đã được mở rộng ra thành khái niệm nâng cao sức khoẻ (NCSK)
- NCSK bao gồm một loạt các hoạt động được hoạch định không chỉ nhằm thay đổi hành vi sức khoẻ của con người mà còn nhằm cải thiện các điều kiện sống và làm việc của con người thông qua những thay đổi về tổ chức luật pháp và môi trường hỗ trợ cho hành vi dẫn đến việc tăng cường cho sức khoẻ
- NCSK bao gồm cả GDSK
- GDSK là thành phần chủ chốt của NCSK Do đó định nghĩa NCSK thường dùng là GDSK cộng với can thiệp về tổ chức và chính sách có liên quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những thay đổi về hành vi và môi trường để cải thiện sức khoẻ nâng cao chất lượng cuộc sống
- Khái niệm về nâng cao sức khoẻ được tuyên ngôn Ottawa nêu ra: Nâng
cao sức khoẻ là quá trình giúp mọi người có đủ khả năng kiểm soát toàn
bộ sức khoẻ và tăng cường sức khoẻ của họ Để đạt được tình trạng hoàn toàn khoẻ mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, các cá nhân hay nhóm phải có khả năng xác định và hiểu biết các vấn đề sức khoẻ của mình và biến những hiểu biết thành hành động để đối phó được với những thay đổi của môi trường tác động đến sức khoẻ
3 Mục đích của GDSK
- Mục đích của GDSK là cung cấp cho mọi người biết những kiến thức cần thiết để bảo vệ và nâng cao sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ có ích cho xã hội
- Giới thiệu các dịch vụ sức khoẻ để mọi người biết
- Vận động, thuyết phục để mọi người từ bỏ các hành vi lạc hậu có hại cho sức khoẻ của họ và thực hiện những hành vi sức khoẻ lành mạnh để họ tự tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho bản thân, cho gia đình và cộng đồng bằng chính những nỗ lực của họ
- Chăm sóc sức khoẻ dựa vào sự tham gia của cộng đồng là một giải pháp mang lại hiệu quả cao Chính các cá nhân trong cộng đồng được trang bị các kiến thức khoa học về phòng, chữa bệnh, họ sẽ là những người “thầy thuốc” thường xuyên chăm lo sức khoẻ cho họ, cho gia đình và cộng đồng
họ một cách lâu dài, rộng rãi và có hiệu quả nhất Đây chính là chức năng của công tác GDSK
Như vậy GDSK cung cấp các kiến thức khoa học về sức khoẻ và chăm sóc, nâng cao sức khoẻ để đạt được mục đích cuối cùng là làm cho đối tượng được GDSK thực hành những hành vi có lợi cho cho chính sức khoẻ của họ cũng như của gia đình và cộng đồng trong đó có họ sinh sống
Trang 84 Vị trí, vai trò của GDSK
4.1 Vị trí của GDSK trong CSSKBĐ:
Trong những năm gần đây vai trò của GDSK ngày càng có vị trí quan trọng trong CSSK nói chung và CSSKBĐ nói riêng Từ kinh nghiệm trong thực tế đã chỉ ra rằng: các dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ sẽ có hiệu quả thấp nếu không có sự hỗ trợ của GDSK và phối hợp với GDSK Hội nghị Alma_Ata (do WHO và UNICEF tổ chức) năm 1978 đã chỉ ra: sức khoẻ bắt đầu từ trách nhiệm của mỗi cá nhân Mỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội cần có đủ sức khoẻ để sống cuộc sống lao động có ích cho xã hội Để có cuộc sống khoẻ mạnh mỗi người cần hiểu rõ và phân biệt giữa những thực hành có lợi và thực hành
có hại cho sức khoẻ, từ đó quyết định lựa chọn những phương thức thực hành có lợi nhất cho sức khoẻ [7]
Tổ chức Y tế Thế giới đã nhận rõ vai trò của GDSK và xếp GDSK là nội dung thứ
1, nội dung trung tâm trong 8 nội dung CSSKBĐ [7] Bộ Y tế Việt Nam cũng đã đưa GDSK lên vị trí hàng đầu trong 10 nội dung của CSSKBĐ ở Việt Nam
Sơ đồ: Vị trí của GDSK trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu
GDSK là một phần của chăm sóc sức khoẻ, nó liên quan đến tăng cường các hành vi lành mạnh GDSK có liên quan đến tất cả các nội dung khác của CSSKBĐ vì tất cả các nội dung của CSSKBĐ đều có nội dung về GDSK Ví dụ giáo dục phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em,
vệ sinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm…Làm tốt công tác GDSK sẽ tạo tiền đề vững chắc để thực hiện các nội dung khác của CSSKBĐ Ngược lại, nếu các nội dung khác của CSSKBĐ được thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi thực hiện các chương trình GDSK khác
Phòng chống các bệnh dịch lưu hành
Tiêm chủng
mở rộng
Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ
em
Quản lý sức khoẻ
Kiện toàn mạng lưới y tế
cơ sở
Cung cấp nước sạch và thanh khiết môi trường
Dinh dưỡng và
vệ sinh thực phấm
Điều trị các bệnh và các vết thương thông thường
GDSK
Trang 9chúng ta giúp mọi người hiểu được các hành vi của họ có ảnh hưởng đến sức khoẻ của họ như thế nào
- GDSK có vai trò to lớn trong việc phòng bệnh GDSK giúp đỡ đối tượng tự giác thay đổi hành vi sức khoẻ ở cả 3 cấp dự phòng Do đó nếu GDSK đạt hiệu quả nó
sẽ giúp làm giảm tỉ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỉ lệ tử vong
- GDSK không thể nào thay thế các dịch vụ y tế khác nhưng nó cần thiết để tăng cường sử dụng hợp lý các dịch vụ y tế này Trong thực tế nếu không làm tốt GDSK thì nhiều chương trình y tế sẽ đạt kết quả thấp và không bền vững thậm chí
có nguy cơ thất bại So với các giải pháp DVYT khác, GDSK là một công tác khó làm, khó đánh giá kết quả nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất, nhất là ở tuyến y tế cơ sở
- GDSK giữ một vai trò quan trọng trong việc vận động nhân dân tham gia vào các chương trình y tế xã hội
5 Trách nhiệm thực hiện GDSK
- GDSK là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống y tế, của tất cả các chương trình y tế, của các cơ sở y tế và là một chức năng bắt buộc của tất cả cán bộ y tế chứ không phải chỉ là nhiệm vụ của các cán bộ, các tổ chức chuyên trách về GDSK
- Cần tổ chức điều phối mọi nỗ lực của cộng đồng nhằm thực hiện tốt mục tiêu chương trình GDSK
- Lồng ghép GDSK vào các hoạt động CSSKBĐ và các chương trình y tế đang triển khai ở địa phương
- Lồng ghép các chương trình GDSK vào các chương trình kinh tế xã hội nhằm tận dụng được sự hỗ trợ của chính quyền, của các tổ chức đoàn thể trong công tác GDSK (xã hội hoá GDSK)
6.1 Tuyến Trung ương
Trung tâm truyền thông giáo dục sức khoẻ (TT-GDSK) trực thuộc Bộ Y tế:
Theo quyết định số 1914/1999/QĐ-BYT ngày 28/6/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe (TT - GDSK) trung ương có những chức nǎng và nhiệm vụ chính sau:
- Tổ chức thực hiện truyền thông giáo dục sức khoẻ
Trang 10 Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe
Tổ chức tuyên truyền đường lối của Đảng, các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của Ngành Y tế về chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, biên soạn và sản xuất các tài liệu về truyền thông giáo dục sức khỏe
- Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu các hành vi sức khỏe của cộng đồng
Nghiên cứu các tài liệu truyền thông giáo dục sức khỏe
các tổ chức trên thế giới vào Việt Nam
- Chỉ đạo tuyến về truyền thông giáo dục sức khỏe
Củng cố mạng lưới truyền thông giáo dục sức khỏe trong cả nước
Chỉ đạo các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ cho mạng lưới về truyền thông giáo dục sức khỏe
Cung ứng các tài liệu truyền thông giáo dục sức khỏe cho các đối tượng có nhu cầu
Phòng chỉ đạo ngành của các viện chuyên khoa đầu ngành ở trung ương: Chỉ đạo hướng
dẫn các cơ sở tuyến dưới các biện pháp phòng và điều trị bệnh và giải quyết các vần đề sức khoẻ thuộc ngành mình
6.2 Tuyến tỉnh, thành phố
Theo quyết định số 911/1999/QĐ-BYT ngày 31/3/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Trung tâm TT – GDSK trực thuộc các Sở Y tế tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương là
cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo mọi hoạt động TT-GDSK trong phạm vi
trên địa bàn [8] Nhiệm vụ chính của các trung tâm:
Trang 11- Căn cứ định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, kế hoạch truyền thông- giáo dục sức khoẻ của Bộ Y tế và của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để xây dựng kế hoạch Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ (TT-GDSK) và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch sau khi được phê duyệt
- Xây dựng, quản lý và chỉ đạo các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của mạng lưới Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ trên địa bàn
- Tổ chức, phối hợp đào tạo và đào tạo lại về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, cộng tác viên và các đối tượng làm công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ
- Tham gia và tổ chức công tác nghiên cứu khoa học về Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ trên địa bàn
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, sản xuất các tài liệu về Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ của đơn vị theo đúng qui định của pháp luật
- Thực hiện công tác hợp tác quốc tế về Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ theo chủ trương, đường lối của Đảng và các quy định hiện hành của Nhà nước
- Tổ chức việc tuyên truyền giáo dục pháp luật về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân và triển khai các công tác tuyên truyền khác trong lĩnh vực y tế khi được
Sở Y tế giao
Ngoài ra, các Trạm chuyên khoa, Trung tâm Y học dự phòng, các chuyên khoa đầu ngành ở các bệnh viện tỉnh, thành phố cũng tham gia chỉ đạo công tác GDSK theo các chuyên ngành dọc
6.3 Tuyến huyện, quận
Các cơ quan y tế trên địa bàn huyện bao gồm Phòng Y tế, Trung tâm y tế dự phòng,
và bệnh viện huyện cần phối hợp chỉ đạo lồng ghép các hoạt động TT-GDSK với các hoạt động, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ khác, Theo quyết định số 20/2005/QĐ-BYT ngày
9 - 9 – 2005 về việc ban hành quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm y tế dự phòng huyện trong đó có phòng truyền thông giáo dục sức khoẻ [9] Hầu hết các chương trình, dự án y tế triển khai trên địa bàn quận/huyện đều có hoạt động TT-GDSK cần được tổ chức chỉ đạo thực hiện tốt
6.4 Tuyến phường xã
Trạm y tế xã phường: Trạm y tế xã phường là tuyến y tế đầu tiên trong hệ thống y
tế nhà nước, trực tiếp tiếp xúc, phục vụ sức khoẻ người dân hang ngày, vì thế các hoạt động TT-GDSK cho dân rất cần thiết và có ý nghĩa thiết thực trong công tác nâng cao sức khoẻ cộng đồng Trưởng trạm y tế chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác giáo dục sức khoẻ và tất cả các cán bộ y tế trong xã kể cả các cán bộ hành nghề y tế tư nhân cũng cần được động viên tham gia làm công tác GDSK
Cán bộ y tế xã phường có vai trò quan trọng trong thực hiện xã hội hoá công tác y
tế nói chung và TT-GDSK nói riêng TT-GDSK ở tuyến xã, phường sẽ không thể đạt kết quả tốt nếu không thu hút được sự tham gia của các cá nhân, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và toàn thể cộng đồng Nâng cao vai trò chủ động của cộng đồng trong giải quyết các vấn đề sức khoẻ đòi hỏi cán bộ trạm y tế phải đẩy mạnh các hoạt động TT-GDSK Để giải quyết một số vấn đề bệnh tật, sức khoẻ hiện nay như lao, phong, HIV/AIDS, dân số
kế hoạch hoá gia đình….thì TT-GDSK cho cộng đồng vẫn là một trong các biện pháp
Trang 12hàng đầu mà trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này là các cán bộ trạm y tế xã, phường Cán bộ trạm y tế xã phường còn có nhiệm vụ trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo các hoạt động TT-GDSK cho cán bộ y tế thôn bản
Y tế thôn bản: Mạng lưới y tế thôn bản ở nước ta đã được hình thành theo chỉ đạo
của Bộ Y tế Mỗi thôn bản có một cán bộ y tế hoạt động, đây là những cán bộ y tế chăm sóc sức khoẻ sát nhân dân Bộ Y tế đã xác định cán bộ y tế thôn bản có nhiệm vụ chủ yếu, trọng tâm là thực hiện các hoạt động TT-GDSK cho nhân dân về vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân, phòng chống các bệnh tật, tai nạn, ngộ độc phổ biến thường gặp, phát hiện sớm các bệnh thường gặp, thực hiện sơ cứu ban đầu Để hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của mình, các cán bộ y tế thôn bản cần được đào tạo các kiến thức và kỹ năng cơ bản về TT-GDSK và lập kế hoạch cho hoạt động GDSK tại cộng đồng
TÓM LẠI
TT-GDSK giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân Vì vậy, cần phải được hoàn thiện và phát triển Các hoạt động này không thể tách rời các hoạt động chăm sóc sức khoẻ, các chương trình y tế, các cơ sở y tế
và không chỉ là nhiệm vụ của các cán bộ, các tổ chức TT-GDSK mà là nhiệm vụ của mọi cán bộ y tế
TT-GDSK cần phải được thực hiện thường xuyên tại tất cả các cơ sở y tế như các bệnh viện, phòng khám bệnh, trạm chuyên khoa, các trung tâm y tế dự phòng, trung tâm
y tế ngành, các khu điều dưỡng phục hồi sức khoẻ, các trạm y tế cơ sở xã phường, cơ quan, trườnghọc, nhà máy xí nghiệp….Hệ thống tổ chức TT-GDSK ở nước ta đã từng bước hình thành và phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong hoạt động TT-GDSK cho cộng đồng
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
Câu 1 Các vấn đề sức khoẻ bệnh tật phổ biến ở các nước đang phát triển là gì?
Câu 2 Bản chất của quá trình GDSK là gì?
Câu 3 Lĩnh vực tác động của GDSK là gì?
Câu 4 Tại sao GDSK lại có vai trò quan trọng nhất trong CSSKBĐ?
Câu 5 Mục đích của GDSK là gì?
Câu 6 Ai có trách nhiệm thực hiện công tác GDSK?
Câu 7 Tại sao tuyến xã phường lại có vai trò quan trọng trong thực hiện công tác GDSK?
Trang 13Bài 2
HÀNH VI SỨC KHOẺ - QUÁ TRÌNH THAY ĐỔI HÀNH
VI SỨC KHOẺ
MỤC TIÊU
Sau bài học này sinh viên có khả năng:
1 Trình bày được các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ
2 Trình bày được định nghiã hành vi sức khoẻ, các thành phần hành vi và các loại hành vi sức khoẻ
3 Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi
4 Trình bày được các bước của quá trình thay đổi hành vi sức khoẻ cá nhân, vai trò và kỹ năng của người làm công tác GDSK
mà các kiến thức khoa học về sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ sẽ là những người “thầy thuốc” thường xuyên chăm lo sức khoẻ cho họ, cho gia đình, và cho cộng đồng họ một cách lâu dài và có hiệu quả nhất Đây chính là chức năng của GDSK nhằm mục đích cuối cùng là làm cho đối tượng được GDSK thực hành các hành vi sức khoẻ lành mạnh
Trong nhiều hoàn cảnh khác nhau không chỉ cá nhân cần thay đổi hành vi mà có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của họ GDSK cần phân tích kỹ lưỡng các yếu tố này khi muốn thay đổi hành vi sức khoẻ của con người
1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ
Sức khoẻ là một lĩnh vực hết sức nhạy bén của cuộc sống Có thể nói rằng tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống đều tác động đến sức khoẻ hoặc chịu tác động của sức khoẻ Các nguy cơ của sức khoẻ xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau Một số nguy cơ có nguồn gốc sinh học trong đó những cái mang tính chất di truyền Có những nguy cơ là hậu quả của hành vi cá nhân của con người Lại có những nguy cơ nãy sinh từ môi trường sống của từng cá nhân, bao gồm những tác động tự nhiên và những điều kiện kinh tế xã hội Những nguy cơ này thường cùng tác động dẫn đến một bệnh nào đó.Việc kiểm soát những nguy cơ sức khoẻ không đơn giản, không thể đo được một cách chính xác tác động của từng yếu tố nguy cơ đối với sức khoẻ do tính chất phức tạp của chúng Tuy nhiên, việc phân loại các yếu tố tác động đến sức khoẻ thành các nhóm lớn đã được một số người thực hiện Để thuận tiện cho việc phân tích mối quan hệ giữa sức khoẻ và các yếu tố tác động có thể sử dụng phân loại theo tác giả Last và Wallet (1991) đưa ra Theo sự phân loại này các yếu tố được xếp thành 4 nhóm chính:
Trang 141.1 Các yếu tố di truyền:
Một số bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm (sickle-cell anemia), đái đường có thể được truyền từ cha mẹ sang con cái Đối với các bệnh mà yếu tố di truyền có thể là một nguyên nhân nhưng không phải là nguyên nhân duy nhất như đái đường, béo phì, cao huyết
áp, thì mỗi cá nhân cần tìm kiếm những lời khuyên về những việc cần làm để giảm nhẹ nguy
cơ như thay đổi thói quen ăn uống hoặc cần được kiểm tra sức khoẻ thường xuyên
Trong những trường hợp này vai trò của người làm công tác GDSK rất quan trọng Mặc khác, vai trò con người ở đây là phải tiếp tục nâng cao sự hiểu biết về những yếu tố đột biến gen do một số nguyên nhân gây ra (Ví dụ các hoá chất có trong môi trường) và cũng nên khuyến khích những người có nguy cơ do tiền sử bản thân hoặc nằm trong nhóm có nguy cơ cao, quan tâm và tìm kiếm tư vấn liên quan đến di truyền giúp họ
có quyết định phù hợp với hoàn cảnh riêng của họ
1.2 Các yếu tố môi trường:
Môi trường tự nhiên: nhiệt độ, độ ẩm, mức độ ồn ào, các chất ô nhiễm, phóng xạ,
thiên tai, lụt lội, gió bảo,… Khi con người bắt đầu có những khái niệm về sức khoẻ thì cũng nhận ra rằng sức khoẻ liên quan mật thiết với một số yếu tố nhất định của môi trường xung quanh Việc bảo vệ môi trường (cũng là bảo vệ chính bản thân mình) trở thành mối quan tâm lớn và hàng đầu của các cơ quan pháp luật và thông tin đại chúng Vấn đề môi trường lớn nhất ảnh hưởng đến sức khoẻ là sự ô nhiễm môi trường nước và thực phẩm là nguồn truyền các bệnh như tả, thương hàn Có rất nhiều vụ ngộ độc thức ăn
đồ uống kể cả đồ hộp Các bệnh nhiễm khuẩn và bệnh do ký sinh trùng gây ra vẫn còn phổ biến ở các nước đang phát triển là hậu quả của việc dùng nước không an toàn và việc quản lý rác chưa tốt
Môi trường xã hội: Các nhà dịch tể học đã kiểm tra để xác định những ảnh hưởng
của các yếu tố xã hội như thu nhập, học vấn, nghề nghiệp, giới, chủng tộc, tập quán, luật pháp, đạo đức,… đến sức khoẻ Tình trạng kinh tế xã hội (được đánh giá dễ nhất qua thu nhập) liên quan chặt chẽ đến tình trạng sức khoẻ Người ta đã phát hiện qua các cuộc nghiên cứu rằng điều kiện kinh tế xã hội càng tốt thì tỉ lệ tử vong càng thấp Những người theo cùng một tôn giáo thường có một số thói quen sức khoẻ giống nhau ví dụ như việc ăn chay, kiêng rượu bia,… Những nhóm người này thường có tỉ lệ bệnh tim mạch và ung thư thấp hơn Môi trường nhân tạo như bếp lửa bất cẩn, nhà ở chật chọi, cống rảnh lộ thiên, chai lọ vỡ, đường xá tồi tệ có thể gây ra tai nạn; Điều kiện căng thẳng ở nơi làm việc, trong gia đình và tại cộng đồng,… có thể dẫn tới bệnh tật
1.3 Các yếu tố thuộc về chăm sóc sức khoẻ
Chất lượng chăm sóc, khả năng sẵn có và việc sử dụng các dịch vụ y tế ,… đều có ảnh hưởng lớn Ví dụ, ở Mỹ tuổi thọ được nâng lên từ 47 tuổi, năm 1900, lên 75 tuổi Nguyên nhân lớn nhất để nâng tuổi thọ là sự giảm tỉ lệ tử vong do các bệnh nhiễm khuẩn Các cuộc nghiên cứu cho thấy có 3 yếu tố tác động mạnh nhất đến việc nâng cao sức khoẻ:
- Chăm sóc y tế tốt hơn, thuốc tốt hơn
- Dinh dưỡng được cải thiện
- Điều kiện lao động tốt hơn an toàn hơn
Trang 151.4 Hành vi cá nhân
Như sự lựa chọn của cá nhân về dinh dưỡng, nghĩ ngơi, thể dục rèn luyện thân thể, nghiện hút, hành vi tình dục,… tác động mạnh đến sức khoẻ Ở các nước đang phát triển, ngoài những những vấn đề sức khoẻ lớn là suy dinh dưỡng và nhiễm khuẩn, những vấn đề sức khoẻ của ngày nay còn có bệnh tim mạch, ung thư, nghiện hút… Hút thuốc lá là hành
vi có hại nhiều đối với sức khoẻ Hút thuốc lá là một nguyên nhân của ung thư phổi, có liên quan đến bệnh tim mạch, viêm phế quản Thói quen ăn uống quá nhiều mỡ làm tăng lượng cholesterol, một nguyên nhân gây bệnh tim béo phì cao huyết áp Có những thức ăn chứa chất hoá học gây ung thư ví dụ như các loại thịt hun khói Nghiện rượu tiêm chích, ma tuý
là một vấn đề được y tế công cộng rất quan tâm vì có nhiều người có thói quen này Nghiện rượu là một nguyên nhân trầm trọng gây tai nạn giao thông và có thể dẫn tới tử vong Tai nạn, đặc biệt là tai nạn giao thông, đang xảy ra với chiều hướng gia tăng lý do chủ yếu là không tuân theo các luật lệ giao thông và các quy tắc an toàn lao động Một vấn
đề sức khoẻ khác liên quan nhiều đến hành vi cá nhân là AIDS Nạn chích ma tuý gây một
nỗi lo ngại cho toàn xã hội nhất là khi đại dịch HIV/AIDS đang hoành hành trên toàn cầu
vi thực hiện các điều lệ về vệ sinh an toàn lao động; hành vi tôn trọng luật pháp)
- Nói cách khác, Hành vi là những cách ứng xử hàng ngày đối với một sự việc một hiện tượng một ý kiến hay một quan điểm
Hành vi sức khoẻ là gì?
- Hành vi sức khoẻ là những thuộc tính cá nhân như nhận thức, niềm tin, các hành động và thói quen của con người có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến sức khoẻ của người đó và những người xung quanh
- Định nghĩa khác: Theo Gochman D.S, 1988, Hành vi sức khoẻ là những thuộc tính cá nhân như nhận thức, niềm tin, sự mong muốn, động cơ, giá trị, các đặc
Trang 16điểm nhân cách kể cả trạng thái tình cảm và xúc cảm, các hành động và thói quen
có liên quan tới duy trì phục hồi và nâng cao sức khoẻ
2.2 Các thành phần của hành vi
Mỗi hành vi của một người là sự biểu hiện cụ thể của các yếu tố cấu thành nên nó,
đó là các kiến thức, niềm tin, thái độ và cách thực hành của người đó trong một tình
huống hay trong một sự việc cụ thể nào đó
2.3 Các loại hành vi sức khoẻ
Theo ảnh hưởng của hành vi, hành vi sức khoẻ có thể được phân thành 3 loại:
- Hành vi có lợi cho sức khoẻ:
o Những hành vi lành mạnh được người dân thực hành để phòng chống bệnh tật, tai nạn, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ, hay các hành động mà một người thực hiện để làm cho họ hoặc những người khác khoẻ mạnh và phòng các bệnh tật
Ví dụ: tập thể dục, dinh dưỡng hợp lý, thực hành vệ sinh môi trường, nuôi con bằng sữa mẹ, cho trẻ ăn dặm đúng cách, giảm các hành vi tổn hại sức khoẻ như hút thuốc lá, nuôi con bằng sữa chai, uống quá nhiều rượu
o Hành vi sử dụng các dịch vụ y tế đúng như khám thai định kì, chăm sóc sức khoẻ trẻ theo hướng dẫn của thầy thuốc, tiêm chủng cho trẻ, kế hoạch hoá gia đình, thực hiện các chương trình khám sàng lọc bệnh…
các biện pháp chẩn đoán, điều trị đầy đủ, hợp lý, ví dụ như bù nước bằng đường uống khi bị tiêu chảy, uống thuốc đúng, đủ theo chỉ định của thầy thuốc…
- Hành vi ảnh hưởng xấu cho sức khoẻ:
Là các hành vi nguy cơ hoặc có tác động xấu đến sức khoẻ do một cá nhân, một nhóm người hay có thể cả một cộng đồng thực hành Một số hành vi có hại cho sức khoẻ do cá nhân và cộng đồng thực hành đã lâu và có thể trở thành những thói quen, phong tục tập quán gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của nhiều người Ví dụ hút thuốc lá, nghiện rượu, quan hệ tình dục bừa bãi; bói toán khi ốm đau; ăn uống không điều độ; dùng sữa đặc có đường thay thế sữa
mẹ để nuôi trẻ sơ sinh
- Hành vi trung gian:
Bên cạnh những hành vi có lợi và có hại cho sức khoẻ, chúng ta còn thấy một
số cá nhân hay cộng đồng thực hành các hành vi không có lợi cũng không có hại cho sức khoẻ hoặc chưa xác định rõ Ví dụ như đeo vòng bạc ở cổ tay trẻ
em để kỵ gió, gia đình có bàn thờ tổ tiên trong nhà Với các loại hành vi này tốt nhất là không nên tác động đến, trái lại có thể lợi dụng việc đeo vòng đó để hướng dẫn các bà mẹ theo dõi sự tăng trưởng của con mình
Trong GDSK, điều quan trọng nhất là tạo ra các hành vi lành mạnh ở trẻ em và làm thay đổi các hành vi có hại cho sức khoẻ ở người lớn Mục đích của TT-GDSK là giúp cho cá nhân và cộng đồng hiểu rõ hành và loại bỏ các hành vi có hại cho sức khoẻ
và thực hành các hành vi có lợi cho sức khoẻ Khuyến khích thực hành các hành vi lành mạnh có thể ngăn ngừa được nhiều bệnh như Bác sỹ Hiroshi Nakajima, tổng giám đốc
Tổ chức Y tế thế giới đã phát biểu: “Chúng ta phải nhận thấy hầu hết các vấn đề sức khoẻ
Trang 17chủ yếu của thế giới và những trường hợp chết non có thể phòng ngừa được qua những thay đổi về hành vi của con người với giá thấp Chúng ta cần phải biết các kỹ thuật giải quyết như thế nào, nhưng các kỹ thuật đó phải biến thành hành động có hiệu quả tại cộng đồng” [10]
3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi
Con người vẫn khoẻ mạnh hay ốm đau thường là kết quả của chính hành động hoặc hành vi của họ Có nhiều lí do vì sao con người lại ứng xử như cách họ vẫn thường làm Nếu chúng ta muốn dùng GDSK để thúc đẩy cách sống lành mạnh thì chúng ta phải biết những nguyên nhân đằng sau hành vi
Có 4 yếu tố giúp đỡ hành vi cá nhân thay đổi:
Trong GDSK, kiến thức là cần nhưng chưa đủ để thay đổi hành vi Điều này
không có nghĩa rằng kiến thức là không quan trọng trong việc thay đổi hành vi, nhưng chỉ kiến thức không thôi thì chưa đảm bảo là con người có thể thay đổi được những hành
vi có hại cho sức khoẻ Lẽ dĩ nhiên khi con người chưa đủ kiến thức họ sẽ không thể nhận biết về tầm quan trọng của những vấn đề sức khoẻ và không thể điều khiển được hành vi sức khoẻ của họ
Các nhà quan sát đã phân loại niềm tin và cho rằng có những niềm tin có lợi cho sức khoẻ, có những niềm tin có hại sức khoẻ, và có niềm tin không ảnh hưởng gì đến sức khoẻ (đeo vòng bạc ở cổ tay để kỵ gió; nói “cơm cá” khi trẻ ách xì; hoặc nơi liệng răng sửa khi trẻ thay răng)
Trang 18Niềm tin thường do cha mẹ hoặc những người có uy tín trong xã hội truyền cho và con người chấp nhận niềm tin với lòng tự giác, tự nguyện không bao giờ có ý định thử xem nó có đúng hay không Niềm tin được bảo tồn rất mạnh nên khó thay đổi Vì vậy quyết định thay đổi niềm tin không luôn luôn là giải pháp tối ưu, mà cần phải tìm hiểu các biện pháp khác Không phải niềm tin truyền thống nào cũng không tốt và cần thay đổi mà chỉ cố gắng thay đổi những niềm tin có hại
Thái độ thường bắt nguồn từ niềm tin, kinh nghiệm tích luỹ qua cuộc sống Thái độ rất quan trọng vì thái độ quyết định phản ứng của con người với những kiến thức mới hoặc những phương pháp thực hành mới.Ví dụ một thanh niên có niềm tin rằng hút thuốc lá là một hành động để làm người lớn Niềm tin này dẫn đến một thái độ chấp nhận hút thuốc lá
để được làm người lớn Một người không thích mang con đến trạm y tế khám bệnh vì không thích thái độ phục vụ của nhân viên y tế do chị ta đã từng bị gắt mắng Vì vậy cần phân tích rõ tại sao mọi người lại có thái độ nhất định đối với các hành vi sức khoẻ để có tác động phù hợp nhằm làm chuyển đổi
3.1.6 Giá trị
Là những ý tưởng, những lý tưởng, thói quen xuất phát từ một đáp ứng thuộc về tình cảm Giá trị có quan hệ với thái độ và vì vậy liên quan tới hành vi Ví dụ một người đàn ông biểu hiện giá trị của ông ta đối với gia đình trong những thái độ tích cực hướng
về gia đình và quan tâm tới các thành viên trong gia đình Phát hiện và phân tích các giá trị trong cộng đồng góp phần thúc đẩy thành công GDSK
Giá trị bao gồm giá trị phi vật chất và giá trị vật chất Một số phong tục tập quán, nền văn hoá có giá trị cao trong xã hội Một số hành vi làm giảm giá trị cuộc sống ví dụ như: tính lười nhác, ích kỷ, thiếu trung thực v.v làm giảm giá trị đạo đức Những giá trị có lợi cho cá nhân và xã hội được hiểu như là các giá trị tích cực và những giá trị có hại là những giá trị tiêu cực Giáo dục sức khỏe nhằm vào phát hiện
và phân tích các giá trị trong xã hội, đưa những tư tưởng mới để duy trì và phát triển các giá trị chung, đồng thời phải tính đến những giá trị về văn hoá tín ngưỡng riêng của từng cộng đồng, tránh sự đối kháng với các giá trị của cộng đồng
3.2 Những người có ảnh hưởng quan trọng đối với chúng ta
Ảnh hưởng của những người quan trọng là nguyên nhân thứ hai tác động đến hành
vi Khi một người nào đó đối với chúng ta là quan trọng, chúng ta thường lắng nghe người ấy nói và cố gắng làm những điều người ấy làm Những người có ảnh hưởng lớn
Trang 19với chúng ta thường là: ông bà, cha mẹ, chồng vợ, những người lãnh đạo, thầy giáo, bạn
bè thân thuộc, đồng nghiệp, nhưng cũng có thể của cộng đồng nói chung
Giáo viên có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đối với học sinh, nhất là ở lứa tuổi càng nhỏ thì học sinh càng ảnh hưởng bởi các hành vi của thầy cô giáo Nếu học sinh nhìn thấy thầy giáo rửa tay trước khi ăn chúng có thể bắt chước hành vi này của thầy giáo không có gì khó khăn
Mọi người đều thích có bạn bè và trong nhóm bạn bè chúng ta có thể dễ thấy những hành vi ứng xử của họ tương tự như nhau Trong nhóm trẻ em vị thành niên thân thiết với nhau, nếu có một em hút thuốc lá, các em khác có thể sẽ hút thuốc lá theo Như vậy hành vi của cá nhân chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi những người sống xung quanh ta
3.3 Các nguồn lực
Nguồn lực là nguyên nhân thứ ba ảnh hưởng hành vi con người Nguồn lực bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực, thời gian để thực hiện những hành vi đề ra
Nhân lực: Nhân lực đôi khi ảnh hưởng lớn đến hành vi của chúng ta Nếu một
cộng đồng nào đó có thể huy động nguồn nhân lực dễ dàng thì việc tổ chức các lao động phúc lợi cho cộng đồng sẽ được thực hiện dễ dàng thường xuyên Ví dụ như: huy động nhân lực tham gia xây dựng trường học, trạm y tế, làm các công trình vệ sinh,
thực hiện vệ sinh đường làng ngõ xóm v.v
Tài lực: Tiền rất cần thiết cho một số hành vi Có những bà mẹ rất muốn
chăm sóc con cái bằng cách mua các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như: thịt, cá, trứng v.v cho con của họ, nhưng vì không có đủ tiền nên bà mẹ buộc phải mua các loại thực phẩm phù hợp với số tiền hiện có của mình Có một số người buộc phải thực hiện những công việc nguy hiểm, thiếu những phương tiện bảo hộ vì muốn có tiền
Thời gian: Thời gian là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hành vi của con
người, có những hành vi phải cần có thời gian để thực hành hoặc để thay đổi được Ví
dụ một thợ may có rất nhiều việc phải làm trong khoảng thời gian ngắn Chẳng may anh ta bị đau đầu, anh ta muốn đến bệnh viện để khám bệnh, nhưng anh ta lại sợ đi khám bệnh phải chờ đợi lâu mất thời gian vì bệnh viện rất đông người và như thế anh ta
sẽ không kịp trả hàng cho khách đúng hẹn Điều này sẽ làm mất uy tín đối với khách hàng nên anh quyết định đến hiệu thuốc gần nhà mua thuốc tự điều trị Nguồn dịch vụ y
tế rất quan trọng nhưng nếu không thuận tiện (quá đông) cũng ảnh hưởng đến hành vi
sử dụng các dịch vụ đó
3.4 Nền văn hoá
Văn hoá tổng hợp của rất nhiều các yếu tố bao gồm kiến thức, mềm tin, phong tục tập quán, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, thói quen và tất cả những năng lực mà con người thu được trong xã hội
Văn hoá được thể hiện trong cách sống hàng ngày của các thành viên xã hội, văn hoá là "cách sống” (theo định nghĩa của tác giả Otto Klin Berg) Nền văn hoá đã được phát triển qua hàng ngàn năm của những người cùng chung sống trong một cộng đồng,
xã hội và chia sẻ kinh nghiệm trong môi trường nhất định Nền văn hoá tiếp tục thay đổi, có khi chậm chạp, có khi nhanh như là kết quả của quá trình tự nhiên và
xã hội hoặc do giao lưu văn hoá giữa những người từ những nền văn hoá khác nhau
Trang 20Điều quan trọng cần chú ý ở đây là văn hoá hay lối sống là sự kết hợp của hầu hết các yếu tố đã thảo luận ở trên Trong khi các hành vi bình thường là một trong các mặt của văn hoá, ngược lại văn hoá có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi của con người
Trong thực tế chúng ta có thể nhìn thấy, nghe thấy, hiểu được nền văn hoá khi ta
ở trong một cộng đồng, bằng quan sát các kiểu ăn mặc, sử dụng thực phẩm, tổ chức làm việc hoặc nghe từ những bài hát, các câu ca dao tục ngữ hay cách nói thông thường của người dân Cách chúc mừng cũng rất khác nhau trong các nền văn minh: bắt tay,
ôm nhau, hôn nhau, dùng các từ đặc biệt Cách mọi người ăn là thể hiện một phần của văn hoá: dùng đũa ăn, ăn bằng tay, ăn bằng thìa, rìa
Mỗi nền văn hoá có cách riêng của mình để làm công việc cụ thể nào đó và tin tưởng tại sao họ lại làm như vậy Phạm vi của hành vi, niềm tin và giá trị giúp cho con người hiểu và cảm thấy cuộc sống thoải mái Mỗi nền văn hoá đại diện cho một phương thức mà cộng đồng tìm ra để chung sống cùng nhau trong môi trường của họ Khi một người đến một cộng đồng mới có nền văn hoá của họ, lúc đầu người này có thể gặp khó khăn và khó được cộng đồng chấp nhận vì người này không hiểu hành vi ứng xử và suy nghĩ của cộng đồng Các giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ làm công tác giáo dục sức khỏe khi mới đến một cộng đồng công tác đôi khi cũng gặp khó khăn tương tự do đặc điểm nghề nghiệp cách nghĩ và cách làm việc khác nhau Vì thế trước khi tiến hành công việc họ phải nghiên cứu càng kỹ càng tốt về nguyên nhân của các hành vi của nhân dân trong cộng đồng, những đặc trưng của văn hoá cộng đồng, điều này sẽ giúp
họ được cộng đồng chấp nhận và tiến hành công việc thuận lợi
Như vậy ta có thể có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến các hành vi của con người Cùng một cách ứng xử nhưng cũng có thể có nhiều lý do khác nhau: Ví dụ: ba bà
mẹ cùng cho con ăn trái cây nhưng khi hỏi, họ trả lời với những lý do khác nhau:
- Bà mẹ thứ nhất cho là cho con ăn trái cây sẽ khỏe mạnh
- Bà mẹ thứ hai cho là vì bà mẹ chồng trước đây thường cho chồng bà ăn t r á i
c â y nên bà cũng cho con bà ăn như vậy
- Còn bà mẹ thứ ba thì cho con ăn trái cây vì có giá rẻ hơn các loại bánh kẹo
Tóm lại, có nhiều lí do vì sao con người lại ứng xử như họ vẫn thường làm Vì vậy, cần phải tìm hiểu kỹ những nguyên nhân của các hành vi chúng ta có thể có khả năng đề xuất những giải pháp thích hợp nhằm góp phần giải quyết những vấn đề có liên quan đến sức khỏe của cá nhân hay cộng đồng
4 Mô hình phân tích hành vi - BASNEF
Một số những mô hình và lí thuyết về hành vi và thay đổi hành vi đã được phát triển theo thời gian bởi một số những nhà tâm lí học, khoa học xã hội, v.v Dưới đây là một trong số những mô hình “BASNEF”, một mô hình tổng hợp được trình bày Mặc dù đây là sự đơn giản hóa của một thực tiễn phức tạp, mô hình này được trình bày bởi vì nó giúp chúng ta xem xét hành vi và những bước trong việc ra quyết định về giáo dục y tế
BASNEF là chữ viết tắt của niềm tin (Beliefs), thái độ (Attitudes), chuẩn mực của chủ thể (Subjective Norms) và yếu tố cho phép (Enabling Factors), là những yếu tố được cho là ảnh hưởng đến hành vi cá nhân Mô hình Basnef được tóm tắt theo sơ đồ sau:
Trang 21Hình 2.1 Mô hình BASNEF và sự thay đổi hành vi
Các mô hình hành vi sức khoẻ sẽ được giới thiệu thêm trong các bài tiếp theo
5 Quá trình thay đổi hành vi
Như đã đề cập ở trên, mục tiêu của giáo dục sức khỏe là giúp mọi người nhận
ra và loại bỏ các hành vi có hại cho sức khỏe và tạo ra những hành vi nhằm tăng cường sức khỏe cho mọi người
Có 3 cách có thể sử dụng nhằm làm cho mọi người thay đổi hành vi sức khỏe như sau:
- Dùng sức ép buộc mọi người phải thay đổi hành vi sức khỏe
- Cung cấp những thông tin và ý tưởng với hy vọng là mọi người sẽ sử dụng để thay đổi hành vi nhằm tăng cường sức khỏe
- Gặp gỡ mọi người thảo luận vấn đề và tạo ra sự quan tâm hứng thú của họ tham gia vào sự lựa chọn cách tốt nhất để giải quyết vấn đề sức khỏe của họ
Niềm tin về những người
khác có muốn mgười đó thay
đổi hành vi và sự ảnh hưởng
của những người khác
Ý ĐỊNH VỀ HÀNH VI
THAY ĐỔI HÀNH VI
Trang 22Trong 3 cách trên, cách thứ nhất sử dụng trong giáo dục sức khỏe thường không đem lại kết quả hoặc nếu có chỉ là nhất thời không bền vững Cách thứ hai có thể đem lại kết quả nhưng thấp Người làm giáo dục sức khỏe khôn khéo nhất là sử dụng cách thứ ba sẽ đem lại hiệu quả cao, kết quả lâu bền
Hành vi có thể diễn ra một cách tự nhiên hay diễn ra theo kế hoạch
Thay đổi tự nhiên: quá trình thay đổi hành vi sức khỏe có thể xảy ra một cách tự
nhiên, quá trình đó diễn ra trong suốt thời gian cuộc sống Thay đổi này là do các sự việc tự nhiên, khách quan Khi có những thay đổi xảy ra trong cộng đồng xung quanh chúng ta thì chúng ta cũng tự thay đổi mà không cần suy nghĩ nhiều về những thay đổi
Đó là sự thay đổi tự nhiên
Thay đổi theo kế hoạch: Được diễn ra sau khi đã được con người suy tính và lên
kế hoạch để làm nhằm mục đích cải thiện cuộc sống Ví dụ: Một người nghiện thuốc lá nặng, nhưng gần đây anh ta bị ho nhiều, anh đã quyết định sẽ bỏ thuốc lá và anh đã lập kế hoạch bỏ thuốc lá trong một số tuần và bắt đầu chuẩn bị kế hoạch để thực hiện
5.2 Các bước của quá trình thay đổi hành vi:
Nghiên cứu quá trình thay đổi hành vi người ta thấy rằng khi đưa một tư tưởng mới vào không phải ngay lập tức được người dân chấp nhận mà nó đòi hỏi một thời gian
và quá trình thay đổi trải qua một trình tự các bước nhất định Trong giáo dục sức khoẻ
chủ yếu là giúp người dân thay đổi hành vi sức khoẻ theo kế hoạch
Bước 1: Nhận ra vấn đề
Trong GDSK bước đầu tiên cần thực hiện là phải cung cấp kiến thức để mọi người trong cộng đồng nhận ra và hiểu vấn đề của họ Bước này có thể thực hiện bằng cách cung cấp các thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng, nêu ra các ví dụ minh hoạ, gặp gỡ người dân trong cộng đồng để nghe họ nói về vấn đề của họ, thảo luận trực tiếp với họ để giúp họ hiểu rõ và quan tâm đến vấn đề của chính họ, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các bước sau của quá trình thay đổi hành vi Sẽ không có chuyển biến nếu như cá nhân, cộng đồng chưa có kiến thức để nhận vấn đề của họ
Trang 23Bước 2: Quan tâm đến hành vi mới
GDSK cần giúp cho cộng đồng tin vào giá trị thiết thực của hành vi mới đó đối với sức khoẻ để họ có thái độ tích cực với hành vi mới đó Ví dụ người dân vẫn tin mắc bệnh tiêu chảy là do số phận thì dù có được GDSK về phòng bệnh tiêu chảy họ vẫn không thực hành Vì vậy cần làm cho cộng đồng nhận ra bệnh tiêu chảy là bệnh nguy hiểm đặc biệt với trẻ em dưới 5 tuổi, làm cho họ tin là các con em họ có thể bị mắc tiêu chảy nếu họ duy trì các hành vi cũ
Bước 3: Áp dụng thử nghiệm các hành vi mới
Nhờ có kiến thức và có quan tâm đến hành vi mới, người dân có thể áp dụng thử các hành vi mới Giai đoạn này cần sự hỗ trợ của những người khác
Bước 4: Đánh giá kết quả thử nghiệm hành vi mới
Thường sau khi áp dụng hành vi mới mọi người sẽ đánh giá kết quả thu được đến bước cuối cùng là duy trì hay từ chối hành vi mới
Trang 24Bước 5: Khẳng định
Khi phân tích kết quả đạt được của việc thử nghiệm hành vi mới người dân sẽ đi đến quyết định thực hiện hay từ chối Nếu họ thu được kết quả tốt, không có khó khăn gì đặc biệt thì họ tiếp tục duy trì hành vi mới Nếu họ chưa hiểu, gặp khó khăn, thiếu sự hỗ trợ thì họ đi đến phủ nhận hành vi mới Và nếu như họ phủ nhận thì cán bộ giáo dục sức khỏe lại phải giúp họ quay trở lại các bước trên
Ở những giai đoạn khác nhau của quá trình thay đổi hành vi có những tác động hỗ trợ khác nhau Người làm công tác GDSK cần phải hiểu trình tự các bước thay đổi hành
vi sức khoẻ nêu trên để có những biện pháp hỗ trợ thích hợp với quá trình đó Các biện pháp hỗ trợ phù hợp cho các lý do ảnh hưởng hành vi được tóm tắt trong bảng dưới đây:
Các biện pháp hỗ trợ phù hợp trong quá trình thay đổi hành vi:
Vấn đề Hoạt động cần thiết Phương pháp
áp phích,…
Thiếu nguồn lực Phát triển nguồn lực Khảo sát cộng đồng, liên kết ban ngành
Mâu thuẫn với các
chuẩn mực Giải thích rõ các chuẩn mực Đóng vai, kể chuyện, trò chơi, tư vấn
Khi các đối tượng được giáo dục từ chối việc thực hiện các hành vi mới có lợi cho sức khỏe thì người giáo dục sức khỏe phải tìm ra nguyên nhân tại sao, đó là vấn
đề kiến thức thái độ hay thiếu kỹ năng thực hành, thiếu sự hỗ trợ để tiến hành
điều chỉnh các hình thức giáo dục thích hợp Thường trong một cộng đồng bao giờ cũng
có các loại người khác nhau đối với việc tiếp nhận các kiến thức mới, ta có thể phân nhóm như sau [10]:
Nhóm l: nhóm người khởi xưởng đối mới Nhóm này khoảng 2,5% theo tác giả Roger 1983 (Đổi mới - quá trình quyết định)
Nhóm 2: Nhóm những người chấp nhận những tư tưởng hành vi lành mạnh sớm Nhóm này khoảng 13,5% Họ là những người tiên phong gương mẫu Họ được
gọi là những người “lãnh đạo dư luận”, họ có thể có thẩm quyền không chính thức
(vì họ không phải thường xuyên là những người lãnh đạo cộng đồng, nhưng họ có uy tín và được những người khác đến xin ý kiến giúp đỡ Nhóm này thường có trình độ văn hoá hiểu biết cao, quan hệ rộng Vì vậy họ có vai trò quan trọng trong cộng đồng
Nhóm 3: Nhóm đa số chấp nhận thay đổi sớm Nhóm này thường chấp nhận những tư tưởng hành vi mới tiếp theo nhóm 2, thường chịu ảnh hưởng sớm của nhóm 1
và nhóm 2 Nhóm này chiếm khoảng 34%
Nhóm 4: Nhóm đa số chấp nhận sự thay đổi muộn Nhóm này cũng khoảng 34%,
Trang 25sự chấp nhận hành vi thay đổi, muộn hơn nhưng số người trong nhóm này cũng khá đông, tương đương với nhóm 3, nhóm này chịu ảnh hưởng nhiều của nhóm 3
Nhóm 5: N hóm chậm chạp bảo thủ lạc hậu Nhóm này chiếm 16% Tác động vào nhóm này thường rất khó khăn, ít hiệu quả nên phải hết sức kiên trì và dùng các giải pháp thích hợp để cho nhóm này khỏi gây ảnh hưởng xấu đến các nhóm khác vì nhóm này thường có xu hướng chống đối với các tư tưởng đổi mới, tiến bộ và cố gắng để lôi kéo những người khác làm theo họ
Khi tiến hành truyền bá một tư tưởng, một hành vi sức khỏe mới cần chú ý phát hiện và phân loại đối tượng trong cộng đồng để tác động Tìm ra nhóm những
người “lãnh đạo dư luận” có ý nghĩa to lớn trong giáo dục sức khỏe vì họ là hạt
nhân sự đổi mới Chúng ta thường thấy họ là những người có vai trò chủ chốt trong cộng đồng và góp phần quan trọng cho sự thành công của chiến dịch giáo dục một tư tưởng mới, một hành vi lành mạnh Họ là những người cần tác động trước tiên và thông qua họ sẽ tác động đến các đối tượng khác trong cộng đồng
Như vậy có thể nhận thấy rằng:
Thay đổi hành vi sức khoẻ là một quá trình rất phức tạp, đòi hỏi nhiều nỗ lực của chính bản thân đối tượng và sự giúp đỡ tận tình của nhân viên truyền thông giáo dục sức khỏe cũng như của những người khác trong cộng đồng Trong các chương trình giáo dục sức khỏe thông thường chúng ta mới chỉ giúp đỡ đối tượng chuyển biến đến bước 2 (thuộc về quá trình nhận thức cảm tính), chứ chưa giúp đỡ họ vượt qua bước 3 thước chuyển tiếp) và hoàn thành các bước 4 và 5 (thuộc nhận thức lý tính) nên kết quả truyền thông giáo dục còn
bị hạn chế và hiệu quả chưa cao
Muốn thay đổi được triệt để một hành vi cá nhân phải thể nghiệm đầy đủ 5 bước đó nhiều lần chứ không chỉ một lần là có thể đạt kết quả mong muốn ngay được, do đó phải coi giáo dục bản thân mỗi cá nhân bằng những kinh nghiệm của chính họ là điều quyết định mọi kết quả bền vững
Sức khỏe là một quá trình tự giáo dục bản thân mỗi cá nhân bằng những kinh nghiệm của chính họ là điều quyết định mọi kết quả bền vững
6 Vai trò của người làm công tác GDSK
Mục đích của giáo dục sức khoẻ là giúp mọi người giải quyết vấn đề của họ bằng sự
cố gắng của chính họ Vai trò của người làm công tác GDSK là giúp đỡ các thành viên của cộng đồng nhận ra được những gì họ có thể làm để tự mình giúp mình và dạy cho họ những
kỹ năng cần thiết để thực hiện điều đó
Để đạt được điều đó nhân viên GDSK cần phải:
1 Nói chuyện với mọi người và lắng nghe những vấn đề của họ
2 Suy nghĩ về những hành vi hay hành động có thể gây ra chữa khỏi và ngăn ngừa được những vấn đề này
3 Tìm hiểu nguyên nhân của hành vi mọi người (niềm tin, kiến thức, ảnh hưởng của những người xung quanh, thiếu tiền, )
4 Giúp mọi người tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề
5 Đề nghị mọi người phát biểu ý kiến về cách giải quyết vấn đề của họ
6 Động viên và giúp họ nhận ra cách giải quyết thích hợp nhất với hoàn cảnh của họ
Trang 26TÓM LẠI
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ Con người cần có những thực hành, hành vi đúng đắn trước những ảnh hưởng của môi trường sống Người làm công tác giáo dục sức khỏe cần phải có kỹ năng nhận ra và hướng dẫn cộng đồng thực hành những hành vi có lợi cho sức khoẻ theo qui trình cụ thể
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
Câu 1: Tại sao cần tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khoẻ?
Câu 2: Có mấy loại hành vi sức khoẻ? Cho ví dụ cho mỗi loại
Câu 3: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khoẻ
Câu 4: Người giáo dục viên cần phải làm gì khi đối tượng giáo dục không thực
hành hành vi sức khoẻ mới
Câu 5: Người giáo dục viên cần có kỹ năng gì?
Câu 6: Quá trình thay đổi hành vi gồm có mấy bước? ở mỗi bước người giáo dục
viên cần phải làm gì để giúp đỡ đối tượng giáo dục thay đổi hành vi?
Câu 7: Trình bày vai trò của người làm công tác TT-GDSK?
Trang 27Bài 3
CÁC NỘI DUNG TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC
SỨC KHOẺ
MỤC TIÊU
Sau bài học này học viên có khả năng:
1 Liệt kê được các nguyên tắc chính để chọn các nội dung TT-GDSK
2 Liệt kê được 6 vấn đề cần tiến hành GDSK hiện nay
3 Trình bày được những nội dung cơ bản của từng vấn đề cần GDSK
NỘI DUNG
1 Khái niệm nội dung giáo dục sức khoẻ
Có rất nhiều yếu tố tác động đến sức khoẻ GDSK nhằm giúp mọi người biết loại trừ hoặc hạn chế các yếu tố tác hại đến sức khoẻ và tạo nên các yếu tố nhằm bảo vệ và tăng cường sức khoẻ Như vậy nội dung của GDSK rất rộng, nó bao gồm tất cả các vấn
đề liên quan đến sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tinh thần và sức khoẻ xã hội GDSK không chỉ bao gồm giáo dục về phòng bệnh, phát hiện bệnh, điều trị bệnh, phục hồi sức khoẻ
mà còn nhằm nâng cao sức khoẻ GDSK không phải chỉ cho các cá nhân mà cho cả tập thể, cộng đồng, cho cả người ốm và người khoẻ
Tuy vậy mỗi nơi mỗi lúc chúng ta cần phải chọn những nội dung GDSK cho phù hợp Dưới đây là sáu nội dung ưu tiên cần tập trung giáo dục:
- Giáo dục bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em
- Giáo dục dinh dưỡng
- Giáo dục sức khoẻ ở trường học
- Giáo dục vệ sinh và bảo vệ môi trường
- Giáo dục vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp
- Giáo dục phòng bệnh tật nói chung
Mặc dù tập trung ưu tiên cho các nội dung trên, nhưng có thể nhận thấy các nội dung cần TT-GDSK cho cộng đồng nói chung rất rộng lớn Tuy nhiên ở mỗi nơi, mỗi lúc chúng ta cần phải chọn những nội dung, giáo dục sức khoẻ cho phù hợp với cá nhân, nhóm hay cả cộng đồng Lựa chọn nội dung TT-GDSK còn phụ thuộc cụ thể vào lĩnh vực chuyên môn của người thực hiện TT-GDSK Dưới đây là một số nguyên tắc trong lựa chọn nội dung TT-GDSK [10]:
- Lựa chọn nội dung TT-GDSK phải đáp ứng các vấn đề sức khoẻ ưu tiên
- Các nội dung cụ thể cần TT-GDSK cho đối tượng phải phù hợp với nhu cầu
và khả năng tiếp thu của đối tượng
- Nội dung phải đảm bảo tính khoa học, thực tiễn
- Nội dung cần được trình bày rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu
Trang 28- Nội dung được trình bày theo trình tự hợp lý
- Nội dung được chuyển tải đến đối tượng bằng các hình thức hấp dẫn
Các nội dung chính cần truyền thông giáo dục sức khoẻ
2 Giáo dục bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em
2.1 Tầm quan trọng
Bà mẹ và trẻ em là hai đối tượng khá đông trong xã hội (chiếm khoảng 60 - 70% dân số), nếu như sức khoẻ bà mẹ trẻ em được bảo vệ và tăng cường thì cũng có nghĩa là sức khoẻ của toàn xã hội đã được tăng cường
2.2 Nội dung chủ yếu
Theo dõi thường xuyên sự phát triển của trẻ em:
Dùng biểu đồ theo dõi tình hình sức khoẻ trẻ em mà quan trọng nhất là theo dõi cân nặng trẻ em Cân nặng phản ánh khá tốt tình trạng dinh dưỡng trẻ em nhất là khi được theo dõi liên tục hàng tháng, hàng quý, hàng năm Cán bộ y tế và cán bộ GDSK cần hướng dẫn cho các bà mẹ thường xuyên theo dõi cân nặng của trẻ và đánh dấu vào biểu
đồ tăng trưởng và biết được thế nào là trẻ phát triển bình thường, khi nào trẻ bị tụt cân, phát triển không bình thường để có biện pháp xử lý kịp thời
Giáo dục bù nước kịp thời bằng đường uống cho trẻ khi bị tiêu chảy:
Tiêu chảy là bệnh phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, và tỉ lệ tử vong vẫn còn cao Nhờ có biện pháp dùng Oresol và nước cháo muối… tỉ lệ tử vong do tiêu chảy đã giảm rõ rệt Hướng dẫn bà mẹ pha và sử dụng Oresol và các dung dịch thay thế khi trẻ bị tiêu chảy là một nội dung giáo dục quan trọng Đồng thời giáo dục các bà mẹ biết phát hiện và xử lý đúng trẻ bị tiêu chảy, tránh lạm dụng thuốc là một trong những nội dung giáo dục quan trọng
Giáo dục nuôi con bằng sữa mẹ và đảm bảo cho trẻ ăn đủ số lượng và chất lượng:
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ nhỏ Cần giáo dục các bà mẹ bảo vệ nguồn sữa
mẹ, cách nuôi trẻ bằng sữa mẹ, cụ thể là:
+ Cho trẻ bú ngay sau khi đẻ, càng sớm càng tốt
+ Không nhất thiết phải cho trẻ bú theo giờ mà cho trẻ bú theo nhu cầu
+ Trong bốn tháng đầu chỉ cần cho trẻ bú sữa mẹ là đủ
+ Từ tháng thứ 5 trở đi phải cho trẻ ăn sam đúng
+ Trẻ ốm vẫn tiếp tục cho trẻ bú sữa mẹ (ví dụ khi trẻ bị tiêu chảy)
+ Không nên cho trẻ bú chai, nếu vì lý do gì trẻ không bú được thì nên vắt sữa đổ thìa cho trẻ
+ Nên cai sữa muộn khi trẻ được 18 tháng trở đi
+ Chế độ ăn của mẹ trong thời gian cho trẻ bú phải đủ chất và cân đối, không nên kiêng khem chỉ cần ăn uống đảm bảo an toàn, hợp vệ sinh
+ Ngoài việc giáo dục các bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ cán bộ y tế cần hướng dẫn các
bà mẹ cho trẻ ăn sam đúng, biết cách chế biến và cho các thức ăn bổ sung, thực hiện
Trang 29“Tô màu bát bột” Tránh tình trạng kiêng khem không cần thiết Thực hiện tốt vệ sinh
ăn uống, phòng chống tiêu chảy và suy dinh dưỡng trẻ em tại cộng đồng
Giáo dục về tiêm chủng mở rộng:
Tiêm chủng phòng 6 bệnh lây truyền nặng ở trẻ em (lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi) là một nội dung dự phòng tích cực, quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu Chương trình tiêm chủng mở rộng đã đạt được những thành tích đáng kể, phần lớn nhân dân đã nhận thức được vai trò của tiêm chủng mở rộng Tuy nhiên ở một số các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi tỷ lệ tiêm chủng còn chưa đạt yêu cầu, vì thế chúng ta vẫn phải tiếp tục giáo dục về công tác tiêm chủng để giảm tỷ lệ mắc bệnh và tiến tới thanh toán một số bệnh nhiễm trùng phổ biến và nặng nề ở trẻ em Tập trung giáo dục vào các địa phương có tỷ lệ tiêm chủng còn đạt thấp để các bà mẹ đưa con đi tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch
Giáo dục cho các bà mẹ các kiến thức về phòng chống một số bệnh khác mà trẻ hay mắc như:
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp
- Phòng chống khô mắt và mù loà do thiếu vitamin A
- Chương trình phòng thấp tim
- Phòng chống sốt rét (ở vùng có sốt rét lưu hành), sốt xuất huyết, phòng viêm não, viêm gan,v.v…
Giáo dục các kiến thức bảo vệ sức khoẻ bà mẹ: Gồm các nội dung chính sau đây:
Giáo dục các kiến thức chăm sóc bà mẹ trước đẻ:
- Đăng ký thai sớm (phấn đấu đạt 100% các bà mẹ có thai)
- Khám thai định kỳ tối thiểu 3 lần trong thời kỳ mang thai và tiêm phòng uốn ván
đủ
- Phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ, bảo vệ thai nhi
- Giáo dục vệ sinh dinh dưỡng trong thời kỳ thai nghén
Giáo dục các kiến thức chăm sóc bà mẹ sau khi đẻ:
- Cho con bú sớm, rửa đầu vú trước và sau khi cho con bú
- Mẹ ăn đủ chất, ngủ 8 giờ/ngày, vận động sớm
- Theo dõi sản dịch
- Hướng dẫn chăm sóc tầng sinh môn
- Hướng dẫn theo dõi sức khoẻ và ghi chép phiếu theo dõi sức khoẻ bà mẹ tại nhà
Trang 30 Giáo dục về dân số kế hoạch hoá gia đình:
- Tầm quan trọng của sinh đẻ có kế hoạch
- Hiểu biết về các biện pháp và các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình hiện có
- Lựa chọn và thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình thích hợp
- Thực hiện mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con
Giáo dục bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em là một nội dung giáo dục rất quan trọng
và phong phú
Các nội dung giáo dục đó có thể tóm tắt vào chương trình: GOBIFFF
G (Growth Chart): Theo dõi sự phát triển của trẻ bằng ghi biểu đồ tăng trưởng
O (Oresol): Bù nước và điện giải bằng đường uống
B (Breath Feeding): Cho trẻ bú mẹ
I (Immunization): Thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng
F (Food Supplement): Cung cấp thực phẩm bổ sung cho trẻ em và bà mẹ khi
có thai và nuôi con nhỏ
F (Family Planning): Thực hiện kế hoạch hoá gia đình
F (Female Education): Giáo dục nhằm tăng khả năng hiểu biết chung của phụ
nữ
3 Giáo dục dinh dưỡng
3.1 Tầm quan trọng
Dinh dưỡng là nhu cầu thiết yếu, vấn đề của đời sống hàng ngày, liên quan đến tất
cả mọi người Mặc dù loài người đã đạt được những thành tựu vĩ đại trong mọi lĩnh vực nhưng cho đến nay nạn đói và hậu quả của nó vẫn còn là một thử thách đối với nhiều nước trên thế giới
Ở nước ta tình hình bữa ăn thiếu về số lượng và mất cân đối về chất lượng đã ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ và sức lao động của nhân dân Suy dinh dưỡng ở nước ta vẫn còn ở mức cao từ 16,7 đến 28,5 % tuỳ theo từng vùng sinh thái (số liệu điều tra năm
2009 của Viện dinh dưỡng quốc gia) Phụ nữ có thai thiếu máu dẫn đến tình trạng suy sinh dưỡng trẻ em, trẻ sinh ra có cân nặng thấp dưới 2500g cũng còn khá phổ biến nhất là
ở vùng sâu, vùng miền núi và một số vùng nông thôn Thiếu Vitamin A hiện nay được coi là một chỉ tiêu tổng hợp về tình trạng đói nghèo và là vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng ở tất cả các vùng trong cả nước Theo số liệu điều tra của Viện dinh dưỡng quốc gia trong những năm gần đây, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị khô, nhũn, loét giác mạc đe doạ đến mù loà do thiếu vitamin A là 0,07% cao hơn 7 lần so với ngưỡng báo động của
Tổ chức y tế thế giới Theo ước tính hàng năm ở nước ta có khoảng 5000 đến 7000 trẻ
em bị mù loà do thiếu vitamin A Ở miền núi và một số vùng đồng bằng số dân bị bướu
cổ do thiếu Iod rất cao, ở vùng nặng có tới 66% dân số bị mắc Ở các vùng tỷ lệ bướu cổ cao thì có tới 2% trẻ em bị đần độn
Những số liệu trên cho thấy một bức tranh đáng lo ngại về tình trạng sức khoẻ và dinh dưỡng của nhân dân đặc biệt với hai đối tượng là bà mẹ và trẻ em Để giải quyết vấn
đề dinh dưỡng phải có chính sách và các biện pháp phối hợp đồng bộ trong đó không thể nào thiếu được hoạt động giáo dục về dinh dưỡng
Trang 31Hoạt động giáo dục dinh dưỡng phải là công việc tiên phong trong chương trình phòng chống suy dinh dưỡng cũng như trong các nội dung GDSK vì dinh dưỡng là cái nền của sức khoẻ
3.2 Nội dung chủ yếu
Nội dung giáo dục dinh dưỡng tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau:
- Giáo dục kiến thức nuôi con cho các bà mẹ
- Giáo dục ăn uống của bà mẹ có thai, cho con bú
- Giáo dục bảo vệ nguồn sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ
- Giáo dục về thức ăn bổ sung cho trẻ
- Giáo dục cách cho ăn khi trẻ đau ốm
- Cách phòng các bệnh thông thường ở trẻ em dẫn đến suy dinh dưỡng
- Tạo nguồn thực phẩm bổ sung cho bữa ăn thông qua việc xây dựng hệ sinh thái VAC
- Tăng cường vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh ăn uống, phòng chống ngộ độc thức ăn
Giáo dục phòng chống các bệnh có liên quan đến ăn uống, các bệnh do thừa dinh dưỡng hoặc ăn uống không hợp lý gây ra
Những nội dung giáo dục dinh dưỡng và nội dung giáo dục bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em gắn liền với nhau vì vậy cần lồng ghép với nhau và với các nội dung chăm sóc sức khoẻ ban đầu khác
4 Giáo dục sức khoẻ ở trường học
4.1 Tầm quan trọng
GDSK ở trường học là một phần trong toàn bộ chương trình giáo dục chung ở trường Thời gian mỗi học sinh học ở trường rất dài Đây là thời kỳ rất quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của mỗi người Giai đoạn học sinh là giai đoạn mà con người phát triển toàn diện cả về thể chất và nhân cách, đây là thời gian rất nhạy cảm với việc tiếp thu những kiến thức mới Ở trường học thường mang lại hiệu qủa cao Nó không những chỉ tác động đến các em học sinh mà thông qua các em học sinh nó có ảnh hưởng lớn đến gia đình học sinh, đến cộng đồng xã hội Mỗi học sinh có thể trở thành một nhà “giáo dục sức khoẻ tự nguyện”
4.2 Nội dung chủ yếu
GDSK trường học không chỉ nhằm tạo khả năng bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho mỗi học sinh mà còn tạo cho các em nhận thức rõ trách nhiệm bảo vệ sức khoẻ của những người khác Các nội dung GDSK ở trường học liên quan đến sự phát triển kiến thức, hiểu biết, thái độ và thực hành của học sinh về các vấn đề sức khoẻ:
Kiến thức:
Các kiến thức cần trang bị cho học sinh như sau:
- Cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản và đại cương về: giải phẫu, sinh lý, phát triển thể lực, tinh thần bình thường, các yếu tố liên quan đến sức khoẻ, thể lực và bệnh tật
Trang 32- Các bệnh lây nhiễm từ môi trường, các bệnh thường mắc ở học sinh
- Các biện pháp vệ sinh phòng các bệnh thông thường và tăng cường sức khoẻ
- Một số luật lệ vệ sinh liên quan đến bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng…
Thái độ:
Tạo cho học sinh những thái độ:
- Mong muốn đạt được mức sức khoẻ tốt nhất
- Sẵn sàng thực hành các biện pháp có lợi cho sức khoẻ của mình cũng như của gia đình và cộng đồng
- Chấp nhận trách nhiệm bảo vệ sức khoẻ cho cá nhân mình và cho những người khác
- Sẵn sàng cống hiến quyền lợi cá nhân vì sức khoẻ của những người khác
- Sẵn sàng thực hiện các luật lệ về bảo vệ sức khoẻ và góp phần tăng cường thực hiện các luật lệ đó
Thực hành:
- Thực hành các biện pháp vệ sinh, các thói quen lành mạnh cho sức khoẻ ở trường học, ở nhà cũng như ở cộng đồng
- Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, phòng chống các loại bệnh tật
- Sử dụng các dịch vụ y tế cần thiết để bảo vệ và tăng cường sức khoẻ
Để làm tốt công tác GDSK ở trường học cần chú ý một số điểm sau:
- Đưa chương trình GDSK vào chương trình chính khoá của các cấp học Biên soạn chương trình GDSK phù hợp với các đối tượng học sinh
- Tạo môi trường sống lành mạnh vì chính môi trường ở trường học hàng ngày tác động đến học sinh, ví dụ như ở trường phải có đầy đủ bàn, ghế kích thước phù hợp với học sinh, lớp học đủ ánh sáng, thông thoáng Thầy cô giáo có vai trò hết sức quan trọng trong GDSK, họ phải là những tấm gương mẫu mực về thực hiện vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ cho học sinh noi theo
- Các thầy, cô giáo cần được tập huấn về các kiến thức và kỹ năng GDSK
- Có sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan y tế và nhà trường để thực hiện tốt các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ cho học sinh
- Phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, các tổ chức xã hội và ban ngành có liên quan trong công tác GDSK cho học sinh
5 Giáo dục vệ sinh và bảo vệ môi trường
5.1 Tầm quan trọng
Bảo vệ môi trường sống là một vấn đề lớn có tính toàn cầu chứ không chỉ ở mức quốc gia Bảo vệ môi trường sống là trách nhiệm của mọi thành viên trong cộng đồng Bởi vì nếu chúng ta giải quyết được những vấn đề vệ sinh cơ bản thì sẽ giảm bệnh tật phát sinh từ môi trường, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm dẫn đến thay đổi mô hình bệnh tật ở nước ta và giảm được tỷ lệ mắc bệnh cũng như tử vong
Trang 335.2 Nội dung chủ yếu
Ở nước ta hiện nay những vấn đề hết sức cơ bản liên quan đến vệ sinh và bảo vệ môi trường là:
- Giải quyết chất thải bỏ của người và súc vật
- Giải quyết các chất thải bỏ trong sản xuất công nghiệp và nông nghiệp
- Cung cấp nước sạch cho nhân dân
- Khống chế và tiêu diệt các vật trung gian truyền bệnh
- Vệ sinh thực phẩm
- Vệ sinh nhà ở
GDSK về môi trường được coi như một trong những hoạt động can thiệp quan trọng trong chương trình bảo vệ môi trường đã được quan tâm nhiều trong những năm qua Một số những thực hành về vệ sinh hiện nay của nhân dân ta có nguồn gốc từ xa xưa theo các phong tục tập quán và thói quen cũ Các thực hành cũng rất khác nhau giữa các vùng và các cộng đồng Các thực hành đó thường khó thay đổi nếu như không có những giải pháp thích hợp và sự nỗ lực của nhiều cơ quan, tổ chức và sự tham gia của cộng đồng
Đi đôi với GDSK cần phải tạo những điều kiện thuận lợi để mọi người có thể thay đổi cách thực hành giữ gìn và bảo vệ môi trường phù hợp với phong tục tập quán, văn hoá và điều kiện của địa phương
6 Giáo dục vệ sinh lao động phòng chống tai nạn và bệnh tật nghề nghiệp
6.1 Tầm quan trọng
Đảm bảo môi trường lao động tốt, không ảnh hưởng đến sức khoẻ của người lao động là một trong những nội dung quan trọng của bảo vệ môi trường nói chung Ngày nay do sự phát triển của sản xuất dẫn đến một số vấn đề mới nảy sinh như ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí, nước, các tai nạn lao động, các bệnh nghề nghiệp v.v…Để phòng chống tai nạn lao động, tác hại của điều kiện lao động xấu tới sức khoẻ người công nhân cần phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật hiện đại, tuy nhiên việc giáo dục các kiến thức vệ sinh lao động, phòng bệnh nghề nghiệp cho người lao động cũng rất quan trọng
6.2 Nội dung giáo dục chủ yếu
- Giáo dục công nhân ý thức bảo vệ môi trường lao động
- Giáo dục công nhân ý thức sử dụng các phương tiện phòng hộ lao động
- Giáo dục ý thức phòng chống các bệnh nghề nghiệp
- Giáo dục ý thức sử dụng an toàn các công cụ lao động, phòng chống các tai nạn lao động
- Giáo dục cách sơ cứu ban đầu các tai nạn và ngộ độc trong lao động sản xuất
- Giáo dục cho người lao động ý thức chủ động tự bảo vệ và tăng cường sức khoẻ cho bản thân và cho những người xung quanh
Trang 34Trong công tác GDSK cho người lao động cần có giáo dục định hướng về các bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động mà người lao động dễ mắc Tức là dựa vào từng loại ngành nghề mà chọn nội dung GDSK cho phù hợp
7 Giáo dục phòng chống bệnh tật nói chung
7.1 Tầm quan trọng
Cung cấp những kiến thức phòng chống những bệnh tật thông thường, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ mà mọi người cần có
7.2 Nội dung giáo dục
- Giáo dục phòng chống các bệnh lây và không lây:
+ Các bệnh tật phổ biến theo mùa, thành dịch, ví dụ như: tả, lỵ, thương hàn, cúm, + Các bệnh do ký sinh trùng gây ra: giun, sán, amibe, nấm…
+ Các bệnh xã hội: sốt rét, lao, phong, HIV/AIDS, hoa liễu…
- Giáo dục phòng chống các bệnh của các nước phát triển
+ Các bệnh tim mạch
+ Các bệnh ung thư
+ Các bệnh tâm thần
+ Các loại tai nạn
- Giáo dục phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp…
- Giáo dục sử dụng đúng các loại thuốc phòng bệnh và điều trị bệnh, tránh lạm dụng thuốc
TÓM LẠI
Sức khoẻ con người do nhiều yếu tố ảnh hưởng, mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng
có những đặn thù riêng Vì vậy cần chọn nội dung giáo dục sức khỏe cho phù hợp nhằm phát huy thế mạnh của giáo dục sức khỏe trong việc nâng cao sức khoẻ người dân
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1 Trình bày các nguyên tắc lựa chọn nội dung TT-GDSK?
2 Liệt kê các nội dung chính cần TT-GDSK ở nước ta hiện nay?
3 Trình bày tầm quan trọng, nội dung cơ bản trong TT-GDSK bảo vệ sức khoẻ bà
mẹ và trẻ em?
4 Trình bày tầm quan trọng, nội dung cơ bản trong TT-GDSK về dinh dưỡng?
5 Trình bày tầm quan trọng, nội dung cơ bản trong TT-GDSK bảo vệ môi trường?
6 Trình bày tầm quan trọng, nội dung cơ bản trong TT-GDSK ở trường học?
7 Trình bày tầm quan trọng, nội dung cơ bản trong TT-GDSK phòng chống tai nạn
và bệnh nghề nghiệp?
Trang 35Bài 4
MỘT SỐ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG VÀ KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG GIAO TIẾP TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
MỤC TIÊU
Sau bài học này học viên có khả năng:
1 Phân tích được một số mô hình TT-GDSK
2 Phân tích được các yêu cầu làm cho TT - GDSK có hiệu quả
3 Trình bày được các kỹ năng TT - GDSK cơ bản
4 Ứng dụng được các kỹ năng TT - GDSK trong công việc hàng ngày để GDSK cho cá nhân, cho nhóm, cho cộng đồng
NỘI DUNG
1 Mô hình TT-GDSK
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nói chung và hành vi sức khỏe nói riêng Loại yếu tố và cách thức ảnh hưởng đến hành vi thay đổi tùy thuộc vào nhóm đối tượng và hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của đối tượng Ngành tâm lý học đã đóng góp để giải thích về hành vi sức khỏe bằng nhiều lý thuyết và mô hình Mô hình giải thích về hành vi là sự đúc kết các loại yếu tố và cách thức các yếu tố ảnh hưởng đến hành
vi sức khỏe ứng với một hoàn cảnh nhất định nào đó
Có rất nhiều mô hình giải thích về hành vi và hành vi sức khỏe Tuy nhiên những
mô hình sau đây được coi là kinh điển và làm nền tảng cho các phân tích về hành vi cũng như các biện pháp can thiệp đến hành vi
1.1 Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model)
Ðây là một mô hình thuộc trường phái Tâm lý học nhận thức (Cognitive Psychology) với quan niệm các quá trình nhận thức của con người đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hành vi Mô hình NTSK là mô hình được xây dựng sớm nhất
từ những thập niên 50 sau các nghiên cứu về hành vi phòng tránh bệnh cụ thể là các hành
vi sử dụng các dịch vụ y tế công cộng như Chụp X-quang phổi để định bệnh và điều trị lao miễn phí
Theo mô hình này con người quyết định thực hiện một hành vi sức khỏe hay không tùy thuộc vào nhận thức về hai nhóm yếu tố:
- Thứ nhất là nhận thức về mối đe dọa của bệnh: trong đó có nhận thức về mức độ trầm trọng của bệnh, về mức độ cảm nhiễm bệnh và cuối cùng là các nhắc nhở (cues) dưới nhiều dạng (thấy người khác bệnh, nhắc nhở của y tế )
- Thứ hai là nhận thức về những lợi ích và những trở ngại trong việc thực hiện hành
vi
Mô hình này dẫn đến một cách tiếp cận giáo dục sức khỏe dựa trên việc thông tin
về mối đe dọa của bệnh và phân tích những lợi ích và những trở ngại trong việc thực hiện hành vi kết hợp việc thường xuyên nhắc nhở
Trang 36Hoàn cảnh áp dụng: Dành cho đối tượng có trình độ học vấn khá, có khả năng
suy nghĩ, lý luận
1.2 Lý thuyết về Hành động có lý do
Theo Lý thuyết về Hành động có lý do (Reasoned Action Theory) thì đại đa số hành
vi của con người là có dự định trước Cũng theo lý thuyết này thì dự định bản thân nó lại
do nhiều yếu tố ảnh hưởng mà đơn giản nhất là Thái độ đối với hành vi và Chuẩn mực
chủ quan Ðối tượng càng có thái độ tích cực đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan phù
hợp thì càng có nhiều khả năng thực hiện hành vi trong tương lai
Thái độ đối với hành vi cụ thể được cấu thành bởi 2 yếu tố: Niềm tin rằng hành vi
dẫn đến một kết quả nào đó (có thể có lợi hoặc có hại) và sự Ðánh giá kết quả đối với bản thân
Chuẩn mực chủ quan hay cảm nhận chủ quan của một người rằng họ nên hay
không nên thực hiện một hành vi bắt nguồn từ các chuẩn mực xã hội khách quan Chuẩn mực chủ quan được cấu thành bởi 2 yếu tố: Niềm tin rằng một người nào đó trong xã hội muốn đối tượng thực hiện hành vi và Ðộng cơ thúc đẩy đối tượng làm theo ý muốn của người đó (uy tín, ảnh hưởng của người đó đối với đối tượng)
Dựa vào lý thuyết này, ta có thể lượng giá khả năng xảy ra của một hành vi trong tương lai bằng cách hỏi về 4 yếu tố cấu thành này Ví dụ: để lượng giá về hành vi chích huyết thanh kháng uốn ván khi đạp đinh, ta có thể hỏi các câu hỏi:
- Khi bị tai nan gây nên vết thương và sau khi săn sóc vết thương tại chỗ ta cần phải làm gì ? (Hỏi về hành vi)
- Bạn nghĩ làm việc đó có lợi ích hay không và nếu có thì ở mức độ nào đối với bạn? Không lợi gì/Lợi ít/Lợi vừa/Lợi nhiều (Hỏi về niềm tin về lợi ích của hành vi kết hợp với đánh giá kết quả đối với bản thân)
- Bạn biết về thông tin này từ ai? (Hỏi về nguồn thông tin)
- Bạn tin tưởng người này đến mức độ nào? Không tin/Tin ít/Tin vừa/Tin nhiều
Hoàn cảnh áp dụng: Mô hình này đặc biệt hữu ích trong việc dự báo chiều hướng
phát triển của hành vi cũng như để lượng giá những hành vi xảy ra có điều kiện Ngoài
ra nó cũng hữu ích đối với những đối tượng đã có những định kiến, thói quen hoặc tập quán lâu đời về những hành vi có hại cho sức khỏe vì mô hình này đặc biệt quan tâm đến áp lực xã hội trong việc tác động đến hành vi
1.3 Mô hình Triandis
Ðây là mô hình mở rộng của mô hình Niềm tin Sức khỏe Theo mô hình này, hành
vi đại đa số trường hợp xuất phát từ ý định (intention) còn ý định là kết quả của 2 nhóm yếu tố:
- Cảm xúc tình cảm (affective factors) gọi đơn giản là Tình
- Nhận thức (cognitive factors) gọi đơn giản là Lý
Tình ở đây là những cảm xúc, tình cảm thúc đẩy hoặc cản trở ý định thực hiện hành vi Ví dụ một bệnh nhân lao dù yếu mệt, chịu đựng tác dụng phụ của thuốc nhưng
vì cái tình đối với sự ân cần, quan tâm của nhân viên y tế đã cố gắng đến trạm y tế để đưọc tiêm chích và uống thuốc
Lý ở đây được chia thành 2 nhóm tạm gọi là Lý bên trong và Lý bên ngoài:
Trang 37- Lý bên trong hay là sự suy xét, cân nhắc lợi hại (perceived consequences) cũng
là nhóm yếu tố quan trọng Nhận thức về kết quả của hành vi bao gồm cả lợi và bất lợi có thể có được do kinh nghiệm bản thân, kinh nghiệm tiếp xúc hoặc kiến thức Ví dụ, nhận thức về kết quả của việc tập thể dục có thể có sau một số lần tập cảm thấy sảng khoái, cũng có thể do hiểu biết rằng tập thể dục sẽ giúp tim, phổi làm việc tốt hơn dẫn đến tăng cường sức khỏe Cũng nên nhấn mạnh rằng đây là kết quả mà mỗi cá nhân nhận thức được AIDS với kết quả là cái chết có thể được nhận thức rất khác nhau Ðối với người
có gia đình hạnh phúc trọng lượng của cái chết sẽ rất khác với một người nghiện ma túy
bị gia đình ruồng bỏ, sống tứ cố vô thân không có ngày mai Nhận thức về kết quả này lại
có thể thay đổi theo thời gian khi kinh nghiệm sống nhiều hơn, nhận thức đầy đủ hơn
- Lý bên ngoài hay Yếu tố Xã hội chủ quan (Subjective social factors) là cảm nhận chủ quan của một người rằng họ nên hay không nên thực hiện hành vi, bắt nguồn từ yếu
tố xã hội khách quan Ðó có thể là những chuẩn mực (norms) của xã hội (ví dụ người lớn tuổi thì không được ăn mặc lố lăng) hoặc của nhóm (ví dụ trong nhóm phụ nữ tiến bộ có chuẩn mực chỉ sinh từ 1-2 con) Cũng có thể đó là những niềm tin (beliefs) phổ biến trong cộng đồng, trong nhóm đã được nhập tâm (internalized) ví dụ trẻ bị sởi phải cử ăn Ngoài ra có thể là những giá trị (values) ví dụ "Sức khỏe là vàng", Công, Dung, Ngôn, Hạnh ở phụ nữ; vai trò (roles) ví dụ cha mẹ phải chăm lo cho con cái, con cái phải vâng lời cha mẹ Cũng nên nhắc đến một câu nói của Durkheim: “Các chuẩn mực xã hội điều tiết hành vi của các cá nhân thông qua những giá trị mà cá nhân đã nội tâm hóa, chứ không tác động lên cá nhân như những hình thức cưỡng chế bên ngoài.”
Phân tích về các yếu tố tác động đến Muốn có lợi trong việc tiếp cận giáo dục sức khỏe:
- Tác động vào Tình đòi hỏi một thái độ đúng, một quan hệ có tình hơn là một quan hệ kẻ cao người thấp hoặc đổi chác
- Tác động vào cái Lý bên ngoài đòi hỏi ta phải khơi dậy và liên hệ những yếu tố
xã hội chủ quan sẳn có với những hành vi sức khỏe ta muốn nhắm đến (ví dụ như vận động người cha không hút thuốc trong gia đình để tranh cho cón cái khỏi sự hút thuốc thụ động, làm tròn vai trò người cha) Thêm vào đó ta lưu ý không chỉ tác động đến một cá nhân mà cả một nhóm, một cộng đồng nhằm tạo ra những chuẩn mực, những giá trị phổ biến của cộng đồng có liên quan
- Tác động vào cái Lý bên trong đòi hỏi một kỹ năng truyền thông tốt, cách tiếp cận chia sẻ, thảo luận, giúp nhận thức đầy đủ hơn về lợi, hại dựa trên cách suy nghĩ của chính từng cá nhân Nên chú ý rằng không ai giống ai, mỗi người có những tính cách, nhận thức, văn hóa khác nhau đòi hỏi ở người giáo dục viên một sự thấu cảm và hiểu để
có thể đạt được cách tiếp cận, nội dung truyền thông thích hợp nhất
Bước chuyển tiếp từ Ý định đến Hành vi cũng rất quan trọng đòi hỏi nhiều điều kiện hỗ trợ cần thiết như:
+ Ðiều kiện bên trong:
- Tình trạng thể chất
- Trạng thái cảm xúc: căng thẳng, vui, buồn
- Xu hướng, động cơ, ý chí, nhận thức về khả năng của bản thân (self-efficacy)… + Ðiều kiện bên ngoài:
- Nguồn lực: tài lực (tiền), vật lực (phương tiện), nhân lực, thời gian
Trang 38- Ðiều kiện tự nhiên: môi trường sinh thái
- Ðiều kiện xã hội: môi trường pháp lý, văn hóa
Việc tạo những điều kiện bên ngoài thuận lợi để biến Ý định thành Hành động chính là một phần trong hoạt động Nâng cao Sức khỏe (Health Promotion)
Sơ đồ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi (Mô hình Triandis đã đơn giản hóa)
Hoàn cảnh áp dụng: Đây là một mô hình mang tính tổng hợp nên phạm vi ứng
dụng của nó rất rộng Tùy từng loại hành vi và nhóm đối tượng mà ta có thể đi sâu tác động vào từng nhóm yếu tố chuyên biệt, khi đó có thể phối hợp thêm với các mô hình khác
2 Các yêu cầu giúp TT-GDSK đạt hiệu quả
Để thực hiện việc TT-GDSK có hiệu qủa cần thiết phải có một số yêu cầu sau:
- Người thực hiện TT-GDSK: Trước tiên, dể có được kỹ năng truyền thông, người làm công tác giáo dục sức khỏe cần phải nắm dược các kiến thức cơ bản sau:
- Kiến thức về y học
- Kiến thức về khoa học hành vi
- Kiến thức về tâm lý học
- Kiến thức về giáo dục học nói chung và kiến thức về giáo dục y học nói riêng
- Các hiểu biết về nền văn hoá địa phương, dân tộc
- Những hiểu biết thông thường về thời sự, chính trị, xã hội
Ngoài ra muốn đạt hiệu quả cao trong TT-GDSK như đã đề cập ở các phần trên cán bộ giáo dục phải biết chọn:
Hành vi
Ý định
Yếu tố xã hội chủ quan Suy xét lợi hại
Kiến thức Kinh nghiệm
Cảm xúc tình cảm
Trạng thái cơ thể, ý chí
Nguồn lực, môi trường (tự nhiên, xã hội)
Bản năngThói quen
YẾU TỐ BÊN TRONG
YẾU TỐ BÊN NGOÀI
Môi trường xã hội
Trang 39- Đúng thời gian: ví dụ khi làm việc với nông dân cần thiết khi nào họ làm việc, khi nào họ nghỉ Phụ nữ thường có những thời gian làm việc nhất định ở nhà và ra khỏi nhà Tổ chức thảo luận hay họp phải tổ chức vào thời gian đối tượng không bận việc
- Chọn địa điểm thuận tiện: chọn những nơi mà đối tượng thường tụ họp để giáo dục sức khỏe như ở các câu lạc bộ, trường học, chợ, đình, chùa
- Biết lôi kéo cộng đồng tham gia vào các hoạt động
- Biết sử dụng các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng có sẵn tại địa phương
Thử nghiệm cẩn thận các phương pháp và phương tiện giáo dục sức khỏe trước khi sử dụng rộng rãi
+ Thông điệp hai mặt
+ Những thu hút qua thông điệp tích cực
+ Thu hút qua thông điệp dương tính và âm tính
+ Câu trúc của thông điệp
+ Nội dung thực sự của thông điệp
Trong thực tế chúng ta có thể nhận thấy là khả năng TT-GDSK có hiệu quả rất khác nhau ở người này và người khác Đó là do mỗi người có những kỹ năng TT-GDSK khác nhau Để công tác TT-GDSK được thực hiện có hiệu quả, người cán bộ y tế có thể học tập rèn luyện các kỹ năng sau:
3 Các kỹ năng thường sử dụng trong TT-GDSK
3.1 Kỹ năng nói: Trong TT-GDSK sử dụng lời nói trực tiếp thường đem lại hiệu
quả cao nhất Rõ ràng, “nói” là việc mà chúng ta thường làm nhưng nói như thế nào để người ta dễ nhớ, dễ làm thì lại cần phải rèn luyện Trong lời nói, cần quan tâm đến nói cái gì, âm lượng, tốc độ giọng nói phải phù hợp Ngôn ngữ sử dụng khi giao tiếp phải thống nhất Trong khi nói không nên dùng từ một cách cầu kỳ, hoa mỹ mà nên dùng
từ dễ hiểu Nói cần đúng lúc, đúng chỗ Chúng ta có câu châm ngôn rất có ích cho việc
Trang 40rèn luyện kỹ năng nói: "Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau " Nhưng chúng ta cũng có thể thấy là chỉ nói thì không đủ mà cần phải có thông tin phản hồi Tốt nhất là nên kết hợp nói với làm hoặc chỉ cho người ta thấy được nếu có thể
Mỗi người có thể làm cho cách nói có hiệu quả hơn bằng cách áp dụng các nguyên tắc cơ bản khi nói:
- Đảm bảo tính chính xác
- Nói rõ ràng
- Nói đầy đủ
- Nói theo hệ thống và logic
- Thuyết phục được đối tượng
- Cần phải đảm bảo: tốc độ, âm lượng, và âm sắc của lời nói
3.2 Kỹ năng hỏi: hỏi cũng là kỹ năng mà chúng ta cần thực hành Hỏi nhằm có
được thông tin phản hồi, hướng dẫn theo các ý tưởng, lời khuyên, hành động Cần tỏ thái độ đúng khi hỏi Câu hỏi phải rõ ràng, cụ thể, cần thể hiện được những điều cơ bản là: Cái gì, ở đâu, khi nào, ai và như thế nào? Các yêu cầu khi đặt câu hỏi:
- Câu hỏi phải rõ ràng, súc tích;
- Câu hỏi phải ngắn, không cần phải giải thích trả lời;
- Phù hợp với trình độ hiểu biết và kinh nghiệm của đối tượng;
- Tập trung vào vấn đề trọng tâm;
- Kích thích tư duy, suy nghĩ của đối tượng;
- Sau khi đặt câu hỏi nên giữ im lặng;
- Chỉ nên hỏi từng câu hỏi một;
- Nên hỏi xen kẽ giữa câu hỏi đóng và câu hỏi mở;
- Kết hợp các câu hỏi dễ và câu hỏi khó, câu hỏi chung và câu hỏi cụ thể liên quan đến nội dung TT-GDSK;
- Cần tránh các câu hỏi có thể làm cho đối tượng cảm thấy bị xúc phạm
3.3 Kỹ năng nghe: Nghe là một trong các kỹ năng cơ bản của TT-GDSK Chúng
ta cần nghe chăm chú để:
- Có được thông tin đúng, đủ để thực hiện hành động đúng
- Có được thông tin phản hồi để biết liệu thông tin truyền đi có được hiểu đúng hay không?
- Có thêm nhiều thông tin và ý tưởng
- Giảm nguy cơ bị mất thông tin
- Khuyến khích người được truyền thông nói với ta nhiều hơn
3.4 Kỹ năng quan sát: Quan sát cũng tương tự như nghe, nhưng ở đây chúng ta
sử dụng mắt để thu thập thông tin Bằng quan sát người truyền thông có thể thấy được người nhận thông tin có đúng không Liệu người nhận có yêu cầu thêm thông tin nữa không và liệu họ có sẵn sàng hành động hay không Quan sát những người truyền thông