Tác giả Văn Tân trong công trình Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ 1957 đã thông qua việc tìm hiểu các bài thơ đề vịnh có hai nét nghĩa để khẳng định nữ sĩ họ Hồ là một nhà thơ dâm tục
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-
VŨ THỊ NGỌC TRÂM
THƠ ĐỀ VỊNH TRONG THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG
HỒ XUÂN HƯƠNG TỪ GÓC NHÌN SO SÁNH VỚI THƠ
ĐỀ VỊNH TRONG HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan với Hội đồng khoa học đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Trần Nho Thìn Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2022
Tác giả luận văn
Vũ Thị Ngọc Trâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới GS.TS Trần Nho Thìn, người đã luôn đồng hành, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình và tạo điều kiện để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Ngôn ngữ và văn hóa, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn các tác giả, những nhà nghiên cứu đã giúp tôi có nguồn tư liệu quý giá để tham khảo và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ về tinh thần để tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2022
Tác giả luận văn
Vũ Thị Ngọc Trâm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Các khái niệm 10
1.2 Lí luận về phương pháp so sánh 12
1.2.1 Khái niệm 12
1.2.2 So sánh trong nghiên cứu văn học 12
1.3 Nữ sĩ Hồ Xuân Hương và các tác giả “ Hồng Đức Quốc âm thi tập” 15
1.3.1 Nữ sĩ Hồ Xuân Hương 15
1.3.2 Tác giả “ Hồng Đức Quốc âm thi tập” 17
1.4 Vấn đề văn bản thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương và “Hồng Đức quốc âm thi tập” 18
1.4.1 Vấn đề văn bản thơ Hồ Xuân Hương 18
1.4.2 Vấn đề văn bản Hồng Đức quốc âm thi tập 19
1.5 Tiểu kết chương 1 21
CHƯƠNG 2 THƠ VỊNH VẬT TRONG THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG HỒ XUÂN HƯƠNG QUA CÁI NHÌN SO SÁNH VỚI HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP 22
2.1 Thơ vịnh vật trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương 22
2.2 Thơ vịnh vật trong Hồng Đức quốc âm thi tập 29
2.3 Tiểu kết chương 2 34
CHƯƠNG 3 THƠ VỊNH CẢNH THIÊN NHIÊN TRONG THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG HỒ XUÂN HƯƠNG QUA CÁI NHÌN SO SÁNH VỚI HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP 36
Trang 53.1 Thơ vịnh cảnh thiên nhiên trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương 36
3.2 Thơ vịnh cảnh thiên nhiên trong Hồng Đức quốc âm thi tập 52
3.3 Tiểu kết chương 3 71
CHƯƠNG 4: THƠ VỊNH CẢNH SINH HOẠT, LAO ĐỘNG TRONG THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG HỒ XUÂN HƯƠNG TRONG SỰ SO SÁNH VỚI HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP 73
4.1 Thơ vịnh cảnh sinh hoạt, lao động trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương 73
4.2 Thơ vịnh cảnh sinh hoạt, lao động trong Hồng Đức quốc âm thi tập 80
4.3 Tiểu kết chương 4 83
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương từ lâu đã trở thành nguồn đề tài hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu, khám phá Trong đó, đề vịnh là mảng thơ độc đáo nhất, vì chúng có hai nghĩa, có gây ra tranh luận dâm- tục Đằng sau cái nghĩa “ lấp lửng” giữa “dâm” và “tục” kia nhiều nhà nghiên cứu phê bình lại phát
hiện ra “ một nhà thơ viết Nôm thuần tuý thoát hẳn ảnh hưởng dân tộc của thơ văn chữ Hán” với tính chất phản phong, chống phong kiến Điều đó khiến cho việc
nghiên cứu mảng sáng tác này trong thơ Hồ Xuân Hương trở thành đề tài chưa hề
có lời kết
1.2 Một trong những phương pháp hữu hiệu nhất để nhận diện đặc điểm thơ đề vịnh Hồ Xuân Hương là so sánh Vì thế, chúng tôi lựa chọn phương pháp so sánh thơ đề vịnh có tính chất thế tục trong mảng thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương với thơ đề vịnh chính thống của nhà nho trong “ Hồng Đức quốc âm thi tập” Đây là hai đối tượng đại diện cho hai kiểu điển phạm của thơ thế tục và thơ nhà Nho Hơn nữa, trong lịch sử
nghiên cứu văn học Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu lớn nhỏ về Hồng Đức quốc âm thi tập và thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương nhưng phần lớn các công trình đều nghiên
cứu độc lập hai đối tượng này và chủ yếu nghiêng về phương diện thi pháp học, tiểu sử học, ngôn ngữ học hay các khía cạnh nội dung khác Nghiên cứu so sánh mảng thơ đề vịnh trong hai đối tượng này thì hầu như chưa có
1.3 Tiếp cận đối tượng từ góc nhìn so sánh và nội dung của đề tài rất cần cho bản thân tôi – một giáo viên dạy văn ở cấp Trung học phổ thông
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Thơ đề vịnh trong Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương từ góc nhìn so sánh với thơ đề vịnh trong “Hồng Đức quốc âm thi tập làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương – vấn đề thơ đề vịnh
Hồ Xuân Hương là một hiện tượng thơ độc đáo trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam Một trong những yếu tố làm nên vẻ độc đáo này chính là nhờ mảng
Trang 7thơ đề vịnh Các đối tượng được đề vịnh phần lớn mang hai lớp nghĩa: nghĩa hiển hiện và nghĩa ngầm ẩn Đối tượng đề vịnh được miêu tả chính xác, cụ thể, giàu sức gợi nên các nhà nghiên cứu đã sớm nhận ra tính chất dục tính (theo cách gọi của nhà nho là chất dâm tục) trong mảng thơ này Nghiên cứu hai nghĩa bao hàm chất dâm tục của thơ đề vịnh Hồ Xuân Hương cho đến nay có ba hướng chính:
Hướng thứ nhất cho rằng do Hồ Xuân Hương khủng hoảng tình dục (vận dụng phân tâm học Freud) nên ái tình bị dồn ép, thoát ra bằng thơ ( Nguyễn Văn Hanh….)
Hướng thứ hai thì lại cho rằng Hồ Xuân Hương dùng yếu tố dâm tục để đả kích giai cấp thống trị phong kiến (Hoa Bằng, Xuân Diệu…)
Hướng thứ ba cho rằng Hồ Xuân Hương khát khao dục tính lành mạnh (Nguyễn Lộc), Hồ Xuân Hương không hề tục (Đỗ Đức Hiểu), Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (Đỗ Lai Thúy)
Nhưng tựu chung có ba luồng ý kiến chính đại diện tiêu biểu:
Trước hết là Nguyễn Văn Hanh trong cuốn “ Hồ Xuân Hương – tác phẩm, thân thế và văn tài”(1937) đã áp dụng học thuyết phân tâm học của Freud để đi đến
khẳng định một cách dập khuôn, máy móc rằng: Bà chúa thơ Nôm thuộc dạng thèm
khát ái ân “ bất mãn về tình dục”,“ khủng hoảng về tình dục” nên kết bệnh, ảnh hưởng tới tâm lí sáng tác đến mức “ chuyển qua mĩ thuật thơ”[11]
Tác giả Văn Tân trong công trình Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ
(1957) đã thông qua việc tìm hiểu các bài thơ đề vịnh có hai nét nghĩa để khẳng định nữ sĩ họ Hồ là một nhà thơ dâm tục : “Dâm và tục đã ăn sâu vào ý thức, tư tưởng Xuân Hương, chi phối hầu hết thi phẩm Xuân Hương, giúp Xuân Hương viết nên vần thơ kiệt tác, độc đáo, làm cho Xuân Hương nhìn ra đời thấy cái gì cũng là dâm và tục Gặp bất cứ cái gì cũng có thể gán cho những ý dâm và tục”[34]
Xuân Diệu trong cuốn Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm (1961) chỉ rõ,
trong nhiều bài thơ đề vịnh cảnh, vịnh vật mang hai nghĩa: nghĩa phô ra( nghĩa chính thức của bài) và nghĩa ngầm( nghĩa ẩn dụ) Điều này xuất phát từ hai lí do
Một là lí do xã hội: “ Thơ Xuân Hương cũng cùng một truyền thống, một nếp với rất
Trang 8nhiều câu đố tục giảng thanh rất phổ biến trong nhân dân”, hai là do cá tính của Hồ Xuân Hương, “một cá tính có thể mang dấu tích của cuộc đời tình duyên ngang trái, dở dang, đau khổ của nàng” để bênh vực cho bà chúa thơ Nôm: “ Thơ Xuân Hương là tục hay là thanh? Đố ai bắt được: Bảo rằng nó hoàn toàn là thanh, thì cái nghĩa thứ hai của nó có giấu được ai, mà Xuân Hương có muốn giấu đâu Mà bảo
nó là nhảm nhí, là tục, thì có cái gì là tục nào?”[7] Và hình như ông muốn tranh
luận với Trần Thanh Mại là người quả quyết có cái tục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương và đề nghị nên loại bỏ những bài gọi là tục đó, thách đố chỉ ra được chỗ tục
dâm trong thơ tác giả họ Hồ
Trần Thanh Mại trong bài viết Thử bàn lại vấn đề dâm tục trong thơ Hồ Xuân Hương (1963) lại tiếp tục khai thác giá trị của các bài thơ đề vịnh như Bánh trôi nước, Lấy chồng chung, Chùa Quán Sứ, Quan thị … để đưa ra chủ trương
ứng xử với thơ “tục dâm” theo tiêu chuẩn đạo đức Nho gia [24]
Nguyễn Lộc trong cuốn Thơ Hồ Xuân Hương (1976) đã chỉ ra tính hai
nghĩa của các bài thơ đề vịnh và bảo vệ sự chính đáng của yếu tố tình dục: ngoài nghĩa ban đầu khi miêu tả quả mít, chiếc quạt, dệt cửi…, Hồ Xuân Hương như muốn nói chuyện của đàn bà và chuyện gối chăn trong buồng kín của vợ chồng Đồng thời ông lên tiếng bảo vệ quyền lợi người phụ nữ nói chung và Hồ Xuân
Hương nói riêng: “Nhà thơ nói đến hạnh phúc ái ân đâu phải là dâm đãng? Xã hội phong kiến chủ trương tiêu diệt cá tính, cái gì “là mình”, “của mình” đều bị coi là xấu xa, đê tiện và “thanh cao” là huỷ diệt mọi nhu cầu cá nhân để tôn thờ giai cấp thống trị, thì sao một kẻ dám “là mình”, dám nói lên khát vọng chân thành của mình lại không được ngợi khen mà bị coi là dâm đãng? Tiếng thơ của Xuân Hương
có quá quắt, nhu cầu ân ái của Xuân Hương có da diết và táo tợn, nhưng xét cho công bằng, đâu phải lỗi của nhà thơ?”[20]
Đỗ Đức Hiểu đọc Hồ Xuân Hương theo lý luận thi pháp hiện đại trong Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương (1990) ông đã dựa vào phân tích các môtíp như: mô
típ hang động, mô típ văng vẳng, mô típ trắng son, mô típ trăng khuya trong các bài
thơ đề vịnh như Kẽm Trống, Động Hương tích, Quán Khánh, Đèo Ba Dội…để khẳng định: “Hồ Xuân Hương “hoà đồng” cái “thiêng liêng” với cơ thể người phụ
Trang 9nữ, tức là tiếng nói của tự nhiên, của bản năng muôn thủa của loài người, của hạnh phúc con người” Đỗ Đức Hiểu phản đối việc tranh luận về “cái thanh, cái tục”
hoặc “đố tục giảng thanh”, hay “đố thanh giảng tục”, hay nữa “chuyện buồng
kín”…, mà “Hồ Xuân Hương góp tiếng thơ đầy nhạc, biểu đạt sức sống và cái đẹp của cơ thể, của tấm thân và trái tim rất trẻ của người phụ nữ, trong định mệnh đầy cay đắng”.[14]
Đỗ Lai Thuý trong cuốn Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (1995) cũng
đã khai thác triệt để và sâu sắc giá trị biểu đạt của các bài thơ đề vịnh trong phần
thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương đề đi khẳng định: “Những biểu tượng phồn thực nói chung và biểu tượng phồn thực của Hồ Xuân Hương nói riêng là có hai mặt, lấp lửng, thiêng và tục, thanh và tục”[42] Ông còn công nhận thơ nữ sĩ họ Hồ
vừa thanh vừa tục nhưng ý nghĩa cơ bản của những biểu tượng “dâm tục” là ý nghĩa phồn thực
Trần Nho Thìn trong cuốn “ Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ
XIX” thì cho rằng: chỉ đáng tin thơ tự tình là thực sự của Hồ Xuân Hương, còn thơ đề
vịnh có rất nhiều bài tục dâm là của nam giới sáng tác theo thi pháp dân gian gán cho
Hồ Xuân Hương Những người làm thơ giả danh Hồ Xuân Hương tuy là trí thức nho sĩ song theo thi pháp dân gian đố tục giảng thanh, đố thanh giảng tục để nói về những nội dung cấm kỵ của xã hội phong kiến Nho giáo , chủ yếu là tính dục Thi pháp đố tục giảng thanh, đố thanh giảng tục là cách đối phó cấm kỵ phong kiến [36]
Ngô Gia Võ góp thêm tiếng nói đánh giá thơ Hồ Xuân Hương qua bài viết
Nghệ thuật với ý nghĩa khẳng định khát vọng nhân văn trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương (2000) từ các bài thơ đề vịnh Ông cho rằng thơ Hồ Xuân Hương có cái tục
và gần như 100% cái tục này đều hướng tới tình dục nhưng không phải dâm tục để
ngợi ca thân thể, quan hệ giao hoan thì nghệ thuật cái tục góp phần thể hiện “tư tưởng nhân văn”, “ tư tưởng nhân đạo” của Hồ Xuân Hương[44]
Trong luận án Phó tiến sĩ “ Hồ Xuân Hương và nền văn hoá dân gian Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thị Ngọc đã phát hiện khả năng thể hiện tiếng cười độc đáo
và tiếng nói cá nhân – thẳm sâu sự kêu đòi cho quyền sống cá nhân trọn vẹn cho con người của những bài thơ đề vịnh trong mảng thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân
Trang 10Hương xuất phát từ cội rễ của nền văn hoá dân gian nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX[26]
Luận án Phó tiến sĩ “ Thơ Nôm đường Luật – Từ Hồ Xuân Hương đến Trần
Tế Xương” của tác giả Nguyễn Thanh Phúc cũng đã chỉ ra vẻ đẹp của các bài thơ
thuộc đề tài vịnh sử, vịnh truyện trong việc thể hiện triết lí nhân sinh và khẳng định đạo lí, khí tiết nhà Nho đồng thời cũng thấy được vai trò của các bài thơ thuộc đề tài
tự vịnh, tự thuật, tự trào trong việc thể hiện tâm sự và khát vọng cá nhân[31]
Như vậy, trong lịch sử nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đều nhận thấy tính chất hai nghĩa của thơ đề vịnh Hồ Xuân Hương (thực ra bất cứ hình tượng nghệ thuật nào cũng mang nghĩa ẩn dụ) Nhưng khi lý giải ý nghĩa của sự tồn tại hai nghĩa thì khác nhau, có người cho rằng: do Hồ Xuân Hương ẩn ức tình dục, có người lại cho rằng: Hồ Xuân Hương viết vậy để đánh bọn hiền nhân quân tử giả đạo đức hoặc Hồ Xuân Hương là sự vang vọng văn hóa phồn thực của dân gian từ ngàn xưa hoặc đây là biểu hiện của chủ nghĩa nhân văn… nên chỉ có so sánh mới hiểu đúng mục đích, ý nghĩa, chức năng của nghĩa hiển hiện, nghĩa ngầm ẩn của thơ đề vịnh Hồ Xuân Hương, hiểu được bản chất của thơ đề vịnh này mang tính dân gian đậm nét Vì thế, so sánh với Hồng Đức quốc âm thi tập, một tập thơ mang tư tưởng phong cách chính thống với nghĩa ngầm ẩn để phục vụ cho nói chí sẽ là đối tượng phù hợp nhất để ta nhận ra điều này
2.2 Lịch sử nghiên cứu thơ đề vịnh trong Hồng Đức Quốc âm thi tập
Hồng Đức quốc âm thi tập là tập thơ lớn của Lê Thánh Tông và các thi sĩ hội
Tao Đàn ở thế kỷ XV Đã có một số công trình nghiên cứu về kiểu thơ đề vịnh trong tác phẩm như đề tài vịnh sử, vịnh thiên nhiên hoặc từ một số bài thơ đề vịnh riêng lẻ để khám phá giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm từ góc nhìn văn học
sử, sinh thái học hoặc so sánh với các tác phẩm thơ Nôm đường luật như:
Lời giới thiệu cuốn Hồng Đức quốc âm thi tập của Bùi Văn Nguyên và Phạm
Trọng Điềm (phiên âm- chú giải- giới thiệu), các tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề
thiên nhiên đất nước được thể hiện trong tập thơ: “Điểm nổi bật đầu tiên trong tập thơ quốc âm, thời Hồng Đức là tình thơ của các tác giả qua sự biến chuyển của thời khắc và qua vẻ mỹ lệ của thiên nhiên mông lung vô cùng tận òng người và cảnh
Trang 11vật, nhà thơ với thiên nhiên một đề tài có thể nói là “muôn thuở” từ “cổ chí kim”
từ “đông sang tây”.[9,tr17] Giáo trình Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (tập 2) của Phạm Thế Ngũ, tác giả nói về mối quan hệ giữa đề tài thiên nhiên trong tập thơ với tư tưởng triết lí Nho giáo: “nhiều phần ở môn thiên đạo và phẩm vật nói về thời tiết hay cây cỏ thường mang tư tưởng triết lí của đạo Nho về vũ trụ, xã hội, nhân sinh”[27,tr129]
Trong công trình nghiên cứu Thơ Nôm Đường luật, Lã Nhâm Thìn đã dựa
vào các tác phẩm thơ đề vịnh để đánh giá khá đầy đủ về nội dung của tập thơ, chỉ ra
sự khác biệt trong việc sử dụng yếu tố thiên nhiên đậm chất Đường thi và đậm sắc
thái dân tộc: “Chủ đề thiên nhiên là một chủ đề lớn trong HĐ TT ua những vần thơ gợi tả sự mĩ lệ của thiên nhiên, các tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp của non sông cẩm tú”; “HĐ TT ngoài phong vị Đường thi, nhiều bức tranh thiên nhiên trong tập thơ mang đậm sắc thái dân tộc bởi các tác giả cảm nhận được cái hồn quê hương Việt”[35,tr159]
Bùi Duy Tân trong cuốn “ Khảo và luận một số tác gia – tác phẩm văn học Trung đại Việt Nam” đã viết: Quan sát tập HĐ ATT và thơ Nôm của Lê Thánh Tông, ta thấy phổ biến là lối thơ vịnh: vịnh thiên nhiên, vịnh phong vật, vịnh chùa chiền, vịnh nhân vật…ngâm vịnh thành phương tiện qua đó kí thác, rao giảng về triết lý đạo đức, để thực hiện mục đích giáo huấn của văn chương nhà nho Những bài thơ vịnh có tính chất khẩu khí của vua Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn lấy việc nhỏ nói điều to, lấy sự vật tầm thường, con người tầm thường nói về những vấn đề đạo đức, hoặc những sự vật cao sang, những nhân vật cao quý[ 32,tr 122,123]
Trong “Thơ đề vịnh Thiên nhiên trong HĐ TT, Trần Quang Dũng đã thống
kê, phân loại thơ thiên nhiên trong HĐQÂTT và chỉ ra đặc điểm nội dung thơ đề
vịnh thiên nhiên trong HĐQÂTT Tác giả khẳng định: “Thơ đề vịnh thiên nhiên trong HĐ TT mang đặc điểm phổ quát này Vừa hướng tới “đồng tâm” với thơ Đường luật, với văn chương nhà Nho, mang nặng tính khuôn sáo, ước lệ, vừa hướng tới “li tâm”, phá vỡ tính ước lệ, điển phạm theo tinh thần dân tộc hóa thể loại, hé mở những nỗi niềm riêng của người làm thơ” [8,tr22]
Trang 12Nhận định trên của Trần Quang Dũng đã gặp gỡ quan điểm của tác giả Kiều
Văn trong bài nghiên cứu “Thơ Nôm của ê Thánh Tông và hội Tao Đàn” iều Văn cũng đề cập đến các đối tượng đề vịnh : “Thơ Nôm thời Hồng Đức dành một mảng đáng kể chuyên miêu tả sinh hoạt dân dã với những sinh vật hết sức thông thường, nhỏ mọn nhưng rất đỗi thân thương, gắn bó mật thiết với người Việt như hình với bóng khoai lang, quả dưa, cây chuối, cây cau, cái nón, cái quạt, ông đầu rau, cối xay, thằng bù nhìn, nhà dột, con chó đá, con gà, con muỗi, con cóc, trứng vịt Những đề tài, đối tượng “rất tầm thường”mà văn chương chữ Hán thường coi khinh và chối bỏ thì thơ Nôm Hồng Đức lại tiếp nhận và miêu tả một cách say sưa khác thường”[46, tr8]
Trong luận văn “Tìm hiểu giá trị của phần “phong cảnh môn” trong Hồng Đức quốc âm thi tập”, tác giả Phạm Mai Hương cũng chỉ mới đi vào tìm hiểu một phần trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập đó là phần “Phong cảnh môn” vì vậy
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua cái nhìn so sánh giữa thơ đề vịnh trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương với thơ đề vịnh của các nhà nho trong HĐQATT, chúng tôi mong muốn tìm ra những nét đẹp trong tâm hồn, nhân cách, lí tưởng và quan niệm sống, khát vọng sống mang tính thời đại của con người cá nhân Hồ Xuân Hương so với các bậc nhà nho chuẩn mực như vua Lê Thánh Tông và các nho sĩ Hội Tao Đàn Đồng thời thấy được nét độc đáo, nét riêng của Hồ Xuân Hương trong việc khẳng định tiếng nói của con người cá nhân như thế nào
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các biểu tượng xuất hiện trong các bài thơ đề vịnh của Hồ Xuân Hương và Hồng Đức Quốc âm thi tập
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi nội dung: các bài thơ đề vịnh trong thơ Nôm truyền tụng Hồ
Xuân Hương và trong Hồng Đức Quốc âm thi tập
4.2.2 Phạm vi tư liệu: Chúng tôi dựa vào các văn bản sau:
- Thơ Nôm Hồ Xuân Hương (Nxb Văn học, 2008) của Kiều Thu Hoạch
- Hồng Đức Quốc âm thi tập, Phạm Trọng Điềm - Bùi Văn Nguyên - NXb
Văn học, Hà Nội (1982)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:
5.3 Phương pháp tiếp cận văn hóa
Phương pháp này giúp cho việc phục nguyên không gian văn hóa tại thời điểm HĐQÂTT và thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm đạo đức, chính trị, quan niệm về con người từng tồn tại trong
Trang 14một không gian văn hóa xác định đến tác phẩm Từ đó giải mã các hình tượng nghệ thuật để thấy rõ hơn vẻ đẹp của các đối tượng được đề vịnh
5.4 Phương pháp liên ngành
Phương pháp liên ngành tức là tiếp cận một đối tượng bằng nhiều cách thức, dựa trên dữ liệu của nhiều chuyên ngành Trong luận văn này, chúng tôi đã tiếp cận đối tượng từ kiến thức văn học bác học, văn học dân gian, triết học
6 Đóng góp của luận văn
- Về khoa học: Nghiên cứu so sánh hệ thống thơ đề vịnh Hồ Xuân Hương
- Về thực tiễn: Luận văn được hoàn thành sẽ góp thêm một tài liệu tham
khảo hữu ích cho cho việc giảng dạy, nghiên cứu HĐQÂTT và thơ Nôm truyền
tụng Hồ Xuân Hương
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai thành 4 chương:
Chương 1: Các vấn đề lí luận và thực tiễn
Chương 2: Thơ vịnh vật của Hồ Xuân Hương trong cái nhìn so sánh với Hồng Đức quốc âm thi tập
Chương 3: Thơ vịnh cảnh của Hồ Xuân Hương trong cái nhìn so sánh với Hồng Đức quốc âm thi tập
Chương 4: Thơ vịnh cảnh sinh hoạt, lao động của Hồ Xuân Hương trong sự
so sánh với Hồng Đức quốc âm thi tập
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Các khái niệm
Theo Từ điển Thuật ngữ văn học “Vịnh” ( văn học) là làm thơ với cảm
hứng hưng phấn, nhằm luận bàn hoặc miêu tả cảnh vật, con người, vịnh là để cho lời thơ sâu rộng, ý thơ dâng trào cảm xúc, lời hay, ý đẹp, kính cẩn và thường có ngụ
ý, tư tưởng sâu xa,…” “Đề là làm thơ về một cảnh, một vật nào đó” (chùa chiền,
hang động, sự vật - cây đánh đu…)[12] Đề vịnh là lối thơ không đơn thuần miêu tả đối tượng mà là sự biểu tượng hóa đối tượng, tức là trao cho đối tượng đề vịnh một
ý nghĩa nào đó Việc biểu tượng hóa này phụ thuộc vào quan điểm đạo đức - thẩm
mỹ của tác giả; tượng trưng khác nhau thì ý nghĩa biểu tượng cũng sẽ khác nhau Các nhà nghiên cứu đã ý thức về vấn đề này từ lâu:
Lê Trí Viễn trong “ Đặc trưng của văn học Trung đại Việt Nam”đã dẫn lý luận của B Suskov về ý nghĩa ngụ ý , ý nghĩa tượng trưng của thế giới hiện thực
được miêu tả trong thơ văn: “Sinh hoạt hàng ngày được mô tả một cách kỹ lưỡng và chi tiết, đối với người cầm bút viết hoặc cầm bút vẽ thời trung đại đó là tồn tại thứ cấp Xu hướng nhìn thấu sau cái vỏ ngoài của thế giới thực tại sờ sờ trước mắt nghệ sĩ một thực tại khác, thực tại tinh thần, những điều này không những đã sản sinh ra chủ nghĩa tượng trưng mà còn dẫn tới lối diễn đạt ngụ ý của nghệ thuật trung đại” [43,Tr.70]
Trần Đình Hượu phân tích cơ sở triết học của hình tượng sự vật trong thơ
văn nhà nho : “Vật hay thế giới khách quan vốn đa dạng, khác biệt nhau có tác động kích thích tình và dục, có tác động phân tán tâm và chí cho nên thánh nhân làm thơ làm nhạc không chỉ là tránh dục mà còn giữ gìn cẩn thận với vật, không chạy theo cái đa dạng khác biệt của nó mà tìm trong đó cái chung, cái có ý nghĩa Đọc Luận ngữ ta thấy Khổng Tử nói về mấy trường hợp về hiện tượng tự nhiên:Trị dân bằng đức giống như sao Bắc thần đứng ở chỗ của nó mà các sao khác đều hướng về (Luận ngữ 2-1); Khổng Tử đứng trên sông nói : Đi mãi là thế này ư ? Ngày đêm chảy mãi không ngừng (Luận ngữ 9-17); (Khổng Tử đi trên núi, gặp mấy con gà gô) Sắc mặt (Khổng Tử ) thay đổi, gà gô bay ngay, liệng vòng rồi mới
Trang 16đậu lại Khổng Tử nói : Đám gà gô trên núi này biết thời cơ làm sao ! Biết thời cơ làm sao ! (Luận ngữ, 10-27) Như vậy, ta không thấy Khổng Tử chú ý nhiều đến hiện tượng trong giới tự nhiên và trong mỗi hiện tượng rất bình thường, thánh nhân cũng đều tìm kiếm những ý nghĩa đạo lý Với cách tìm ý nghĩa đạo lý như vậy phong cảnh là núi, sông, núi là sự yên lặng, vững chãi, sông là sự lưu chuyển không ngừng; mặt trăng là sự tròn khuyết, sự thịnh suy; bốn mùa là sự đổi thay…Giới tự nhiên không còn là thế giới khách quan sinh động mà chỉ là sự khác biệt chứng minh cho sự phong phú về hình thức của Đạo” (17, tr 28-29)
Thơ đề vịnh thời trung đại của Nho gia gắn liền với quan niệm thi ngôn chí, văn
dĩ tải đạo Để biểu lộ lý tưởng, ý chí của người quân tử, thi nhân làm thơ vịnh tùng, cúc, trúc, mai, có khi những đối tượng độc đáo như cái chổi, con cóc, thậm chí đôi cặp que
của người hót phân (tận thu lòng dạ thế gian) cũng thành đối tượng gửi gắm lý tưởng
thánh nhân, quân tử của người đề vịnh với khát vọng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ Phản đề của nhân cách lý tưởng quân tử là tiểu nhân Vậy thì có thể có cả đối tượng
đề vịnh ám chỉ kẻ tiểu nhân ví dụ trường hợp Nguyễn Công Trứ đề vịnh cây vông Tuổi tác càng già càng xốp xáp/Ruột gan không có có gai chông
Ngư tiều canh mục (người kiếm cá, người đốn củi, người cày ruộng, người chăn trâu) những nhân vật quen thuộc với công việc lao động của họ từ lâu đã trở
thành ẩn dụ của lý tưởng ẩn sĩ thanh cao, không màng danh lợi Không gian sông nước, rừng núi, đồng ruộng gắn với các mẫu người này do đó cũng đem lại hứng thú thẩm mĩ cho các thi nhân cổ trung đại phương Đông
Thơ đề vịnh Trung đại có nhiều tiểu loại như: Vịnh sử ( bàn luận về các nhân vật, sự kiện lịch sử), Vịnh cảnh ( miêu tả cảnh thiên nhiên) và Vịnh vật ( miêu tả đồ vật)… Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi nghiên cứu chung vai trò của các tiểu loại này trong góc nhìn so sánh để thấy được nét độc đáo cũng như vai trò của thơ Nôm đề vịnh truyền tụng Hồ Xuân Hương so với các thi sĩ của Hội Tao Đàn
Nói tóm lại, kiểu thơ đề vịnh có 2 nội dung – miêu tả đối tượng và khai thác
ý nghĩa tượng trưng, ý nghĩa biểu tượng của đối tượng đó Thông qua đối tượng đề vịnh, tác giả muốn nhằm đến một ý nghĩa nằm đằng sau, bên ngoài đối tượng Vậy
là sự khác nhau của các kiểu loại thơ đề vịnh sẽ được người đọc nhận xét dựa vào 2
Trang 17yếu tố: sự khác nhau của đối tượng (cảnh quan, sự vật) được đề vịnh ; và sự khác nhau của ý nghĩa được tác giả thơ đề vịnh khai thác
1.2 Lí luận về phương pháp so sánh
1.2.1 Khái niệm
“So sánh ( hoặc so sánh đối chiếu) là một thao tác nghiên cứu được dùng trong nhiều ngành khoa học khác nhau Vai trò quan trọng ít hay nhiều của thao tác nghiên cứu này là tuỳ thuộc vào đặc điểm bản chất của đối tượng nghiên cứu, và do đó vào nhiệm vụ của ngành khoa học nghiên cứu đối tượng ấy Có những ngành khoa học nếu không vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh thì không thể giải quyết nổi những vấn đề cơ bản phát sinh trong quá trình nghiên cứu đối tượng.” [6, 72]
Ngày nay, so sánh đã trở thành một khuynh hướng, thành bộ môn văn học
so sánh của khoa nghiên cứu văn học đáp ứng yêu cầu thực tiễn đó là sự giao lưu văn hoá diễn ra trên toàn thế giới trong đó có cả văn học Vì thế, văn học so sánh
là một bộ môn khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu tiến trình văn học trên toàn thế giới và sự giao thoa, ảnh hưởng qua lại giữa các nền văn học của các dân tộc
1.2.2 So sánh trong nghiên cứu văn học
Phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn học “là phương tiện, con đường, thao tác đi vào tác phẩm để xác định đánh giá các hiện tượng văn học trong mối quan hệ giữa chúng với nhau” [23,152]
Đối tượng của phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn học là các hiện tượng văn học của cùng một nền văn học dân tộc Mục đích của việc so sánh nhằm
xác định các mối liên hệ, các điểm tương đồng, khác biệt để phát hiện vẻ độc đáo của từng hiện tượng, cái riêng làm phong phú cái chung
Khảo sát các công trình phê bình, nghiên cứu văn học có giá trị của một
số nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình nổi tiếng, ta dễ nhận thấy phương pháp so sánh đã dược sử dụng rộng rãi và có hiệu quả nhất định Nhà phê bình văn học nổi tiếng Hoài Thanh và những nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Chế Lan Viên trong những bài phê bình, phân tích văn học cũng thường sử
Trang 18dụng phương pháp so sánh để phát hiện vẻ đẹp độc đáo của từng bài văn, bài thơ, phong cách riêng của từng tác giả; như khi Xuân Diệu so sánh thiên tài Nguyễn Du
với Hồ Xuân Hương, ông viết “Nguyễn Du là những ý tình phổ biến, những cảm nghĩ sâu sắc đến tuyệt độ, diễn tả hay đẹp đến tuyệt diệu, đến nỗi thành ra đột xuất, duy nhất Nhưng Xuân Hương thì khác Trong Xuân Hương, phần lớn là những ý tình phổ biến của mọi người (chống bọn áp bức, căm ghét cái xấu xa, bênh vực phụ
nữ, khao khát yêu đương, yêu thiên nhiên, đất nước…) nhưng cũng có một phần như là riêng biệt của cá tính Xuân Hương Cái phần kỳ dị đó, ta không thể chối cãi rằng nó cũng là thiên tài của Xuân Hương như là cái phần phổ biến” [7,308].
Khi tìm hiểu thơ Nôm Hồ Xuân Hương, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu cũng có những trang viết rất hay làm nổi bật nét độc đáo của thơ Nôm Hồ Xuân Hương, phong cách đặc biệt của nữ sĩ khi so sánh với phong cách của nhà thơ nữ cùng
thời Bà Huyện Thanh Quan, chúng tôi chỉ xin lược trích: thơ Hồ Xuân Hương là thơ hành động, thơ Bà Huyện Thanh uan là thơ tâm tình, trạng thái.…Thơ Hồ Xuân hương là thơ nổi loạn, thể hiện trước hết ở những vi phạm quy tắc từ, vần, nhịp, những đổ vỡ của âm điệu…Thơ Bà Huyện Thanh Quan là thơ tĩnh, với những hồi âm, những vang vọng buồn bã kéo dài…những câu thơ ít động từ, một giọng và một nhịp đều đều… Thơ Bà Huyện Thanh Quan là hồi ức, thơ Hồ Xuân Hương là hiện tại Thơ Bà Huyện Thanh Quan thể hiện cái không tính cách, không xác định, cái trung tính, thơ Hồ Xuân Hương biểu hiện cái cụ thể, cái hằng ngày, cái xác định….Cuối cùng tác giả kết luận “thơ Bà Huyện Thanh Quan, một phong cách tuyệt vời của cái vắng mặt, sự chối từ, sự phủ nhận (hiện tại), cũng như thơ Hồ Xuân Hương là phong cách tuyệt vời của sự có mặt, sự khẳng định, niềm vui sống” [14,573]
Trong so sánh văn học, chúng ta cần tuân thủ những nguyên tắc : không lấy
nội dung so sánh thay thế cho việc khám phá, phân tích bản thân tác phẩm bởi so sánh không phải là mục đích, so sánh chỉ là phương tiện, là con đường đi vào tác phẩm; những liên hệ so sánh ngoài tác phẩm, không được làm đứt mối với đường dây chủ đề của tác phẩm, với vấn đề, đề tài cần so sánh và phải tôn trọng tính chỉnh thể của đề tài, của hiện tượng văn học hay văn bản Việc so sánh có chiều sâu
và chiều rộng với những tác phẩm, hiện tương văn học khác có nét tương đồng
Trang 19hay dị biệt là điều cần thiết nhưng ngòi bút người viết luôn làm chủ kiến thức, việc nối kết những tác phẩm, hiện tượng, vấn đề văn học lại với nhau cần sự khéo léo và trên hết phải hướng về một sợi dây xuyên suốt là chủ đề, đề tài, nội dung vấn đề cần so sánh
Ngoài ra, giới hạn so sánh trong phân tích văn học có thể chia nhiều hình thức: So sánh đối tượng phân tích với những tác phẩm cùng đề tài, chủ đề, môtip nhưng khác nhau về loại hình; so sánh đối tượng phân tích với cuộc sống lớn và nhỏ của tác phẩm; so sánh trực tiếp với sự kiện thực làm cơ sở cho tác phẩm; so sánh nhân vật trong tác phẩm với nguyên mẫu; so sánh đối tượng với những tác phẩm cùng chủ đề, cùng đề tài của bản thân tác giả hay của những tác giả khác và
so sánh những yếu tố trong bản thân tác phẩm
So sánh là phương pháp quen thuộc và hữu hiệu trong nghiên cứu văn học
đã được chứng minh trong thực tiễn, giúp cho việc nghiên cứu văn học vừa có tính khoa học nghiêm ngặt vừa có tính nghệ thuật đậm đà Trên chặng đường phát triển, văn học các dân tộc có sự cọ sát, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Sự chuyển giao các giá trị văn chương từ dân tộc này sang dân tộc khác không thể
không thông qua quá trình giao lưu ảnh hưởng “ Chính vì khó có thể tìm thấy một nền văn học nào thuần tuý dân tộc cho nên văn học so sánh mới càng có lý do tồn tại để nghiên cứu vấn đề liên dân tộc, đa dân tộc, đa ngôn ngữ của văn học”[29]
Như vậy văn học so sánh là một bộ môn khoa học xã hội nghiên cứu văn học vượt ra ngoài giới hạn của một nước riêng biệt và nghiên cứu các mối quan hệ giữa văn học với các lĩnh vực khác của tri thức nhân loại ( nghệ thuật, triết học, tôn
giáo, kinh tế…) Không nên nhằm văn học so sánh với khái niệm so sánh văn học
vì so sánh văn học là một thao tác ngang với chứng minh, phân tích còn văn học so sánh nghiên cứu tính chất thế giới của văn học
Theo Nguyễn Văn Dân trong “ Những vấn đề lý luận của văn học so sánh”
có lưu ý cần phân biệt hai cấp độ: Ở cấp độ phương pháp ta có phương pháp so sánh văn học, ở cấp bộ môn ta có bộ môn văn học so sánh[5] Như vậy văn học
so sánh ban đầu chỉ là phương pháp so sánh văn học Về sau người ta phân biệt
Trang 20hai thuật ngữ này qua đối tượng và mục đích nghên cứu Ở đây, chúng tôi giới
hạn vấn đề tìm hiểu trong phạm vi so sánh như là một phương pháp văn học
Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi vận dụng phương pháp so sánh theo hình thức nối tiếp để tìm ra những nét chung và nét độc đáo riêng của mảng
thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương và Hồng Đức quốc âm thi tập
1.3 Nữ sĩ Hồ Xuân Hương và các tác giả “ Hồng Đức Quốc âm thi tập”
là những hoài nghi không có căn cứ văn bản mà chỉ dựa vào suy luận Trước những từ ngữ đầy do dự, thiếu xác quyết về tiểu sử Hồ Xuân Hương mà các nhà phê bình dùng ở đầu thế kỷ XX như “không có sách nào chép rõ”, “có lẽ, “hình như”, “không chắc rõ quê quán ở đâu”, “có thể truyền tụng rằng”, Lữ Hồ (ở thời điểm năm 1958) đã tỏ ý hoài nghi về sự tồn tại của một nữ sĩ tên gọi Hồ Xuân Hương : “Xem đó, về tiểu sử tác giả, những tài liệu lờ mờ trên không đủ để minh xác sự hiện diện của một người đàn bà tên thật là Hồ Xuân Hương”
Lịch sử nghiên cứu Hồ Xuân Hương được đẩy mạnh kể từ năm 1964, khi ở miền Bắc, Trần Thanh Mại công bố những tư liệu mới phát hiện về tiểu sử và văn
bản thơ ca Hồ Xuân Hương (tập thơ ưu hương ký 琉香記, bài tựa do ông Tốn
Phong nào đó chưa rõ viết cho ưu hương ký), cùng một tư liệu xuất hiện trong năm 1974 (bài văn Xuân đường đàm thoại) [25] Cùng trong khoảng thời gian này, tại Sài Gòn, Lê Xuân Giáo dịch uốc sử di biên của Phan Thúc Trực trong đó có
nói đến Xuân Hương có thời gian lấy lẽ Trần Phúc Hiển, Tham hiệp trấn Yên Quảng (Quảng Ninh), ông này bị tử hình năm 1818-1819 vì tội tham nhũng Tại hải ngoại, Hoàng Xuân Hãn đã kể về quá trình một người Pháp tên Antony Landes bắt
Trang 21đầu khoảng từ 1892 thuê người Việt chép các tài liệu Hán Nôm trong đó có thơ Hồ Xuân Hương, dẫn đến tình trạng “vơ quàng” thơ của người khác trộn lẫn vào số thơ thực của Hồ Xuân Hương
Nhờ các tài liệu được phát hiện, điều có thể khẳng định là đã từng có một nữ
sĩ tên gọi Hồ Xuân Hương từng sống, sáng tác trong thời gian khoảng cuối thế kỷ XVIII-đầu thế kỷ XIX Hồ Xuân Hương – một người phụ nữ sinh ra trong gia đình nhà nho, tài sắc, tính tình phóng khoáng, cá tính mạnh mẽ, đi nhiều, biết rộng, kết thân với nhiều bạn thơ trong đó có Nguyễn Du, Chiêu Hổ… nhưng cuộc đời riêng lại gặp nhiều trắc trở, éo le về tình duyên Là người trong cuộc, Xuân Hương dũng cảm bênh vực cho quyền lợi của những người phụ nữ, đã mạnh dạn cất tiếng nói đòi hỏi con người phải được hưởng những quyền sống, quyền hạnh phúc, được thỏa những nhu cầu vật chất và cả những thú vui về xác thịt, chuyện ái ân chốn phòng the… để sống sao cho xứng đáng với một con người một cách mạnh mẽ, táo bạo nhưng cũng hết sức độc đáo mang đầy giá trị mĩ học, hướng đến một cái đích nhân
văn cao đẹp - triết lí: “tất cả vì con người” (M Gorki)
Thời Hồ Xuân Hương sống ở nước ta đã xuất hiện kinh tế thương nghiệp, hình thành một tầng lớp thị dân có lối sống, lối nghĩ và hành động khác hẳn với người nông dân làng xã: tư tưởng thị dân, yếu tố duy lí và nhân văn phát triển khiến văn học thời kì này nổi lên với tiếng nói nhân đạo chủ nghĩa, thể hiện con người cá nhân với đầy đủ những khát khao hạnh phúc, tự do đời thường Đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ, đời sống tình cảm của người phụ nữ, không loại trừ cả những khát khao thuộc về bản năng của họ với tư cách là con người cá nhân với số phận riêng, với những nhu cầu, đòi hỏi chính đáng cả về vật chất và tinh thần Đây cũng là thời đại của những tác phẩm tràn đầy sự sống, mang hơi thở cuộc đời nhưng đậm chất
nhân văn, nhân đạo
Độc giả Việt Nam và cả độc giả phương Tây đến với Xuân Hương, chọn Xuân Hương, say mê, yêu quý Xuân Hương trước cả những nhà nghiên cứu… vì người ta cảm thấy Xuân Hương gần gũi và thân thiết với họ, Xuân Hương nói những lên tiếng lòng của họ bằng thứ ngôn ngữ nôm na, giản dị đời thường Còn
giai cấp phong kiến thống trị thì thấy “thi trung hữu quỷ” và coi bà như một người
nổi loạn Những ý tưởng mới lạ, táo bạo bất ngờ của bà như một cơn gió mát lành,
Trang 22thấm đẫm tinh thần nhân văn dân chủ, song cũng chẳng khác gì nước gáo lạnh tạt vào chế độ phong kiến Việt Nam đương thời
1.3.2 Tác giả “ Hồng Đức Quốc âm thi tập”
Lê Thánh Tông – người chủ suý của Hội Tao Đàn và cũng là tác giả sáng tác
chủ yếu của “Hồng Đức quốc âm thi tập” không chỉ là vị vua có tài trị quốc mà còn
là vị vua có tâm hồn thi sĩ Phần lời giới thiệu của Hồng Đức quốc âm thi tập, nhóm tác giả Phạm Trọng Điểm – Bùi Văn Nguyên đã viết rõ về Lê Thánh Tông:
“Nguyên súy quả có một tâm hồn nghệ sĩ…” Trong bài Tựa tác phẩm Quỳnh uyển cửu ca, học sĩ Đào Cử đã nói về vua Lê Thánh Tông một cách tôn kính như sau:
“Từ khi đức vua lên ngôi, trong ngoài đều phục, mưa nắng thuận hòa, dân yên vật thịnh Trong khi nhàn rỗi, nhà vua thường bỏ hết thú vui như đàn hát, săn bắn, khiến cho sạch lòng, dục ít Như cây ngay từ gốc, nước trong từ nguồn, lại có tài học cao minh, lòng đạo sáng suốt, cho nên anh hoa phát tiết ra ngoài, biểu hiện ở lời ngâm vịnh Ngài chỉ phóng bút một lúc chín bài ngay Trước thì vịnh thời tiết thuận năm được mùa… Nghĩa lí thật cao xa, lời lẽ thật mạnh mẽ, thiện ý khuyên răn, chan chứa ở lời, thực là văn dạy người ở bậc đế vương” [9, tr.13.14] Người
đã cổ suý việc bình thơ và sáng tác thơ, tạo điều kiện cho thơ ca phát triển
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Thánh Tông với “ tư trời rạng rỡ, thần sắc anh dị, tuấn tú sáng suốt, chững chạc” đã đảm đương trọng trách “ đại thiên hành
hoá” suốt 38 năm trị vì thật anh minh, sán lạn[22] Lê Thánh Tông sau khi lên ngôi vua đã dựa vào tư tưởng Tống Nho, đẩy mạnh xây dựng chế độ phong kiến theo mô hình Nhà nước quan liêu tập quyền Nắm bắt xu hướng phát triển của thời đại, chủ động sử dụng chính sách, Lê Thánh Tông đã nhanh chóng làm cho xã hội ổn định, đất nước thái bình, quốc thái anh ninh, chính quyền vững mạnh, hình luật nghiêm minh, quốc phòng hùng hậu, kinh tế phát triển, văn hoá thịnh đạt Ông cũng là người đưa văn chương nhà nho thành chính thống, quan phương và làm văn, làm thơ theo quan niệm văn chương nhà nho với một lối thơ đầy khẩu khí cao quý mà dân dã Đây cũng chính là cơ sở để Lê Thánh Tông thành lập Hội Tao Đàn
Hội Tao đàn do hoàng đế Lê Thánh Tông sáng lập và làm chủ súy cùng với
28 văn thần xướng họa, phụng bình trên tinh thần ca ngợi quốc thái dân an, vua sáng tôi hiền, ca ngợi thiên nhiên đất nước theo quan điểm Nho gia, với hàng loạt tác phẩm
ra đời như một minh chứng cho một thời đại thịnh trị, thái bình hiếm có trong lịch sử
Trang 23các thời đại phong kiến Việt Nam Hội thơ Tao đàn quả là một hiện tượng văn hóa đặc biệt, đánh dấu một bước phát triển của văn học trung đại Việt Nam
Mặc dù thời gian hoạt động của Hội thơ Tao đàn khá ngắn ngủi - chỉ với 2 năm, bởi sau đó thì Lê Thánh Tông băng hà (1497), nhưng trước khi thành lập Hội Tao đàn, thì từ lâu Lê Thánh Tông đã xướng họa thơ văn với các đại thần Tất cả
những tác phẩm đó sau này được chép lại trong bộ Thiên Nam dư hạ tập 100 quyển,
mà nay hiện còn lại khoảng một phần mười
Như vậy, xét về tiểu sử và hoàn cảnh xã hội, ta đã nhận ra sự khác biệt của
Hồ Xuân Hương với các thi sĩ của Hội Tao Đàn Hồ Xuân Hương là một con người bình thường lại sống giữa thời đại nhiều biến động: xã hội phong kiến khủng hoảng, xuất hiện nhiều tư tưởng tiến bộ đề cao quyền sống và hạnh phúc của con người cá nhân, muốn vùng thoát khỏi sự kìm kẹp, kiềm toả của tư tưởng phong kiến Trong khi đó, Lê Thánh Tông và các thi sĩ của Hội Tao Đàn chủ yếu là những người thuộc tầng lớp vua, quan của triều đại nhà hậu Lê Nhìn từ vị thế này cộng hưởng thêm yếu tố hưng thịnh, ổn định của thời đại dẫn đến tâm lí sáng tác hứng khởi, hào hùng
và cảm hứng chủ đạo của các bài thơ trong “ Hồng Đức quốc âm thi tập” là ngợi ca cuộc sống đất nước với “quốc thái, dân an” Ngay cả những vật tầm thường cũng trở nên cao cả, phi thường Như vậy, hoàn cảnh xã hội khác nhau, vị thế khác nhau, mục đích sáng tác khác nhau chính là cơ sở tiền đề khiến Hồ Xuân Hương và các thi
sĩ Hội Tao Đàn cùng sáng tác về những đề tài giống nhau như: vịnh đồ vật, vịnh cảnh vật, vịnh cảnh sinh hoạt -lao động nhưng ý nghĩa biểu đạt lại khác nhau
1.4 Vấn đề văn bản thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương và “Hồng Đức quốc
âm thi tập”
1.4.1 Vấn đề văn bản thơ Hồ Xuân Hương
Vấn đề văn bản học của thơ Hồ Xuân Hương hết sức phức tạp Hiện nay, giới nghiên cứu đã tìm thấy khoảng 20 bản Nôm, cả chép tay và in Cũng có khá nhiều văn bản thơ Hồ Xuân Hương bằng chữ quốc ngữ Nhưng giữa các văn bản đó không có sự thống nhất, do nhiều nguyên nhân Vấn đề là văn bản chữ Nôm gốc thơ
Hồ Xuân Hương không còn, các bản Nôm xuất hiện khá muộn, gần như cùng thời với các bản quốc ngữ, giữa các bản Nôm này không có sự thống nhất về số lượng bài thơ, về nội dung, tên gọi; phong cách sáng tác, trình độ nghệ thuật của nhiều bài
Trang 24thơ cũng khác nhau Đây là điều hiếm gặp trong thực tế văn bản học các tác giả trung đại
Chỉ nói riêng về thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, Trần Thanh Mại
đề nghị phân biệt ba nhóm thơ, đó là những bài thơ nội dung tư tưởng cao, nghệ thuật thanh nhã; những bài có yếu tố tục nhưng nội dung tiến bộ và những bài tục dâm, khêu gợi không lành mạnh Song không phải khi nào cũng có thể dễ dàng phân biệt, vạch ra danh giới giữa cái tục “tiến bộ” và cái tục “khiêu dâm” không lành mạnh Lê Trí Viễn cũng có quan niệm tương đồng với Trần Thanh Mại: “Tính
tư tưởng của tác phẩm mới là lời cuối cùng…” Còn Nguyễn Lộc lại chủ trương lấy
lý luận phong cách để lọc những bài thơ không phải của Hồ Xuân Hương và trên cơ
sở đó, có thể tách ra khoảng trên ba mươi bài phong cách khá thống nhất, nhiều
khả năng là của Hồ Xuân Hương Đỗ Lai Thúy cũng tự cho phép mình phát huy cái
chủ quan của người nghiên cứu hơn khi ông viết: “Khi gặp chữ có nhiều dị bản, tôi
tự cho phép mình chọn chữ theo tinh thần, phong cách thơ Hồ Xuân Hương và phù hợp với sự phân tích văn bản bài thơ”[ 40] Điều đáng nói là trong đề tài nghiên
cứu khoa học của Đào Thái Tôn, ông đã đối chiếu, so sánh bản thơ Hồ Xuân Hương chữ quốc ngữ do Xuân Lan xuất bản năm 1913-1914 thì thấy 64 bài được đưa vào các bản khắc in Nôm sau đó Ông hình dung rằng đến đầu thế kỷ XX, việc in bán thơ Hồ Xuân Hương có lãi nên người ta dựa vào bản quốc ngữ như bản Xuân Lan
mà khắc in thơ Hồ Xuân Hương ra chữ Nôm tạo vẻ cổ kính để dễ bán
Vấn đề văn bản thơ Hồ Xuân Hương trở nên phức tạp hơn khi tập thơ ưu hương ký (gồm 15 bài thơ- từ chữ Hán và 29 bài thơ chữ Nôm) được phát hiện và
công bố bởi Trần Thanh Mại năm 1964 cùng một số nguồn tài liệu khác cho hay Hồ Xuân Hương còn làm thơ chữ Hán Cho đến nay, đã khoảng nửa thế kỷ từ khi phát
hiện ra ưu hương ký được coi là của Hồ Xuân Hương, nhiều nhà nghiên cứu vẫn tỏ
ra dè dặt đối với việc công nhận đây là thi văn đích thực của nữ sĩ
Trước thực tế phức tạp trên, do sự mờ nhòe của tiểu sử và văn bản tác phẩm,
chúng tôi chủ trương nhìn thơ Hồ Xuân Hương như là một hiện tượng văn học của
giai đoạn thế kỷ XVIII- đầu thế kỷ XIX
1.4.2 Vấn đề văn bản Hồng Đức quốc âm thi tập
Hồng Đức quốc âm thi tập là tập thơ khá quy mô, đồ sộ được sưu tập chép
Trang 25lại khoảng thế kỷ XVII, toàn tập thơ hiện có 328 bài, được chia thành các nội dung chính như sau:
Thiên địa môn, gồm 59 bài thơ như vịnh tết Nguyên đán, vịnh trăng, vịnh Hằng Nga, vịnh bốn mùa, vịnh năm canh và vịnh mười hai tháng,…
Nhân đạo môn, gồm 46 bài: bài Tự thuật của vua Lê Thánh Tông; những bài vịnh nhân vật lịch sử Trung Quốc như Hán Cao Tổ, Hạng Vũ, Trương ương, Tiêu
Hà, Hàn Tín; một số bài thơ vịnh theo truyền thuyết Trung Quốc như Tô Vũ chăn
dê, ưu Nguyễn nhập Thiên thai, Chiêu Quân xuất tái Bên cạnh những bài thơ vịnh
các nhân vật lịch sử Trung Quốc, nổi bật là những bài thơ vịnh nhân vật lịch sử Việt
Nam như Xung Thiên thần vương, Chử Đồng Tử, Lý Ông Trọng, Trưng Vương, Triệu Ẩu, Lê Khôi, ương Thế Vinh, Nguyễn Trực, Vũ Thị Thiết Ngoài ra, còn có
một số bài thơ về đạo trung hiếu, lẽ tứ khoái, vịnh những sự vật, cây cỏ rất đỗi gần
gũi thân thiết với cuộc sống như con cóc, con gà, cây tre, cây đánh du, hoa sen,…
Phong cảnh môn, gồm 66 bài: đó là những bài vịnh cảnh trí thiên nhiên Trung Quốc và Việt Nam như Tiêu Tương bát cảnh, Đào nguyên bát cảnh, Tứ thú
(Ngư, Tiều, Canh, Mục); vịnh các địa danh như sông, núi, đền, chùa, các cảnh thơ
mộng; các bài vịnh về di tích lịch sử như Chùa Phật Tích, Chùa Trấn Quốc, Chùa Non Nước, Sông Bạch Đằng, Chuông Phả Lại, nguyệt Bình Than,…
Phẩm vật môn, gồm 69 bài: đó là các bài thơ vịnh cảnh vật nói chung như Tuyết nguyệt phong hoa, Cầm kỳ thi tửu; vịnh các loại cây cảnh như tùng, trúc, cúc, mai, mẫu đơn, sen,… các loại cây thực phẩm như dưa, khoai, cải,… Ngoài ra, còn có những bài thơ vịnh về giống vật như cóc, muỗi, voi,… hay các đồ vật linh tinh khác như cây kim, con diều giấy, cây đánh đu,…
Cuối cùng là Nhàn ngâm chư phẩm thi tập, gồm 88 bài thơ Phần này có thể là
những bài còn sót lại do nhiều người nối tiếp chép thêm vào nên đề tài đa dạng, phức tạp Có những bài vịnh cảnh trí thiên nhiên, có những bài tự thuật (không phải tự thuật
của vua); có những bài vịnh nhân vật Bắc sử và Nam sử: Khổng Thánh, Quan Thánh, Gia Cát ượng, Triệu Tử Long, Tào Tháo, Trưng Nữ Vương, Triệu Ẩu, Chử Đồng Tử,
Lý Ông Trọng; có cả một truyện thơ Vương Tường trọn vẹn, có ý kiến cho rằng có thể
truyện thơ này mới được chép gộp vào đây[9,13]
Hồng Đức quốc âm thi tập là một tập thơ nhiều tác giả, nên ý thơ và lời thơ
cũng muôn màu muôn vẻ, nhiều khía cạnh khác nhau, chi tiết khác nhau, phong cách
Trang 26khác nhau, tuy nhiên hướng sáng tác vẫn tập trung dưới sự chỉ đạo của vua Lê Thánh Tông, từ trật tự về trọng tâm đề tài đến các chủ đề chung như tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu chính nghĩa, yêu những trí óc thông minh, yêu những tâm hồn trong sáng, và từ đó toát lên lòng tự hào dân tộc trong cảnh Đất Nước độc lập và thanh bình Qua đó thể hiện ý thức của nhà vua về sứ mệnh, vai trò lịch sử trong thời đại thịnh trị
của mình, như trong bài Tự thuật có viết: “Lòng vì thiên hạ những sơ âu, / Thay việc trời dám trễ đâu” Bên cạnh đó, Hồng Đức quốc âm thi tập cũng nêu lên được nhiều
nét về truyền thống tốt đẹp trong tinh thần dựng nước và giữ nước của Tổ tiên ta cũng như sự bền vững và sức vươn lên của nền văn hiến Đại Việt
1.5 Tiểu kết chương 1
Như vậy, nhìn từ góc nhìn so sánh, thơ đề vịnh trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương và thơ đề vịnh trong Hồng Đức quốc âm thi tập vừa có nét tương đồng lại
vừa có nét khác biệt Với mục đích của đề tài là tìm ra những nét đẹp trong tâm hồn,
nhân cách, lí tưởng và quan niệm sống, khát vọng sống mang tính thời đại của con người cá nhân Hồ Xuân Hương và thấy được nét độc đáo, nét riêng của Hồ Xuân Hương trong việc khẳng định tiếng nói của con người cá nhân thì Hồng Đức Quốc
âm thi tập là đối tượng so sánh phù hợp
Trang 27CHƯƠNG 2
THƠ VỊNH VẬT TRONG THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG HỒ XUÂN HƯƠNG QUA CÁI NHÌN SO SÁNH VỚI HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP
2.1 Thơ vịnh vật trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương
Đề vịnh không phải là hình thức sáng tác mới lạ đối với văn chương nhà Nho Tìm nghĩa ẩn dụ của các sự vật quanh ta từ lâu là phương thức tư duy nghệ thuật quen thuộc Khổng Tử đã từng để ý đến cây tùng ngạo nghễ trong mùa lạnh giá để mở đường cho cây tùng đi vào thơ văn với chức năng là ẩn dụ về phẩm chất người quân tử Nhưng nhà Nho thường chú ý đến các sự vật, hiện tượng gợi nghĩa
ẩn dụ về phẩm chất đạo đức, về quân tử và tiểu nhân Theo nguyên lý đề vịnh này, thơ Nôm đề vịnh của Hồ Xuân Hương chỉ giống với thơ ca nhà nho ở xuất phát điểm Cái đích đi đến của Hồ Xuân Hương hoàn toàn khác
Thơ vịnh các đồ vật, sự vật gọi gọn là vịnh vật được nói đến trong mảng thơ này vừa là chính bản thân nó đồng thời lại là ẩn dụ, ám chỉ bộ phận sinh dục (sinh thực khí) nam nữ
Trống thủng, Bánh trôi, Mời trầu, Cái giếng, Cái quạt (I), Cái quạt (II), Quả mít, Ốc nhồi, Đồng tiền hoẻn là những bài thơ vịnh vật Tác giả đã quan sát và
chọn những sự vật có ngoại hình, cấu tạo, đặc tính có thể gợi liên tưởng đến sinh
thực khí nam nữ Bài thơ Quả mít là một ví dụ Đây không phải là kiểu hình tượng
ẩn dụ của văn học Trung Quốc mà là một ẩn dụ thuần túy của văn học dân gian hoặc có thể là thuần túy do tác giả sáng tạo Thành ngữ có câu “ Nhà ngói cây mít” bởi cây mít vốn là sản vật Việt Nam quen thuộc với người dân Việt Nam Song với
Hồ Xuân Hương đây là lần đầu tiên quả mít đã được đề vịnh Nhưng hướng khai thác ý nghĩa ẩn dụ của quả mít không theo nguyên tắc đề vịnh của nho gia để tìm biểu tượng để nói chí của người quân tử (chẳng hạn, cây tùng là biểu tượng cho khí
phách bất khuất kiên cường, không chịu đổi dời theo hoàn cảnh) mà tác giả bài Quả mít đã tìm kiếm ý nghĩa biểu tượng của quả mít theo hướng nhắm đến nghĩa bản
năng, mà cụ thể là chỉ bộ phận sinh dục nữ
Trang 28Thân em như quả mít trên cây,
Vỏ nó sù sì múi nó dày
Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng mân mó nhựa ra tay
“Thân em” là cụm từ, một mô típ quen thuộc chỉ thân thể phụ nữ Nghĩa này được bổ sung bằng từ “quân tử” như là “đối tác” của em “Quả mít” được tả rất thực về cấu tạo bề ngoài và đặc điểm sinh học: da sù sì (mít có gai), múi dày Nhựa mít rất dính - đây không hề là điều xa lạ với người đọc Việt Nam Việc đóng cọc (nõ) để dấm quả mít cho mau chín cũng là chuyện quen thuộc Vậy thì đóng cọc mít
là một việc bình thường, đâu có liên hệ gì đến dâm tục? Nhưng nhờ tài năng của Hồ Xuân Hương đã dùng các từ, cụm từ “thân em, quân tử, thương, đóng cọc, nhựa ra tay” để tạo ra áp lực trong một ngữ cảnh cụ thể mà gợi liên tưởng đến bộ phận sinh dục nữ và quan hệ tính giao nam nữ Nếu như có ai đó giải thích đơn nghĩa rằng đây chính là bài thơ tả sinh dục nữ và chuyện tính giao thì tác giả sẽ trả lời rằng đây đích thực là bài thơ tả quả mít và tục dấm mít Xuân Hương đã vận dụng nguyên lý A là
A nhưng lại là B một cách tài tình để đem đến hai lớp nghĩa vô cùng thú vị Đó là căn cứ để ta hiểu được vì sao Xuân Diệu lại từng lên tiếng thách đố chỉ ra đâu là tục, dâm ở thơ Xuân Hương Quả thực, sẽ là một cuộc tranh cãi không phân thắng bại giữa hai phía đối lập, khi cả hai chỉ tiếp nhận hình tượng một cách đơn nghĩa, một phía khăng khăng chỉ tả quả mít, một phía khăng khăng chỉ có chuyện tính dục Hai nghĩa của hình tượng sự vật thẩm thấu vào nhau, chuyển hóa qua lại Đây chính
là chỗ độc đáo để Xuân Hương thể hiện những yếu tố bản năng mà xã hội phong kiến cấm kỵ
Của em bưng bít vẫn bùi ngùi,
Trang 29Bài thơ có hai nghĩa rõ rệt Nghĩa phô ra chính là đối tượng đề vịnh Tác giả giải thích việc cái trống bị thủng là do dùi trống quá nặng, thời gian hoạt động của cái trống vào cả ban ngày lẫn ban đêm, khi vắng vẻ, lúc thanh nhàn Nó có thể đập tung “năm bảy chiếc”, vào đêm khuya vẫn “tỏm cắc” một đôi hồi Tư thế đánh trống rất phong phú lúc thì “giang thẳng cánh”, lúc thì “cúi”, khi “chiến đứng”, khi lại
“chiến ngồi” Điều độc đáo thể hiện ở chỗ nhà thơ càng miêu tả cái trống thủng chính xác bao nhiêu thì càng hiện lên nghĩa ngầm về hoạt động giao hoan bấy nhiêu Vì sao chúng ta có thể thấy được điều đó trong ngữ cảnh trên? Các từ ngữ trong văn bản ngầm mách cho chúng ta điều đó Chữ “của” trong “của em” trong tiếng Việt thường tạo trường nghĩa chỉ “cái ấy” của phụ nữ Nguyễn Khuyến cũng
đã viết “Ngũ phẩm sắc phong hàm cụ lớn/Trăm năm danh giá của bà to” Hơn nữa,
cái trống không lành mà “thủng” (lỗ thủng) cũng cho phép liên tưởng đến cái ấy, trống bị thủng bởi dùi Dùi trống với dáng tròn, dài cũng là hình ảnh gợi liên tưởng đến linga Cộng thêm vào đó là tư thế đánh trống lúc mạnh lúc nhẹ, thời gian đánh trống khi đêm khi ngày… Rồi từ ngữ “thịt da” là chỉ thân xác con người, góp phần
bổ trợ để hiểu rõ thêm về chuyện gối chăn Toàn bài thơ mỗi từ, mỗi câu, mỗi hình ảnh, chi tiết đều lấp lánh hai nghĩa thanh và tục
Đối với cái quạt thì giả lại khai thác nghĩa ẩn dụ dựa vào đặc điểm riêng của
nó Một trường nghĩa được tạo ra nhờ có các ngôn từ và các miêu tả đối tượng Hai chữ “em” và “quân tử” tạo liên tưởng quan hệ nam nữ Các chữ “lỗ”, “da”, “thịt”,
“chành ra ba góc”, “khép lại đôi bên” hướng sự liên tưởng đến thân thể, cơ quan sinh dục nữ “Sướng” cũng tăng thêm áp lực để hiểu ngầm ý nghĩa quan hệ tính giao Tuy nhiên, ngữ cảnh vẫn bảo lưu nghĩa miêu tả về cái quạt nhờ có các ngôn từ
tả thực Hai nghĩa tả thực và ẩn dụ cùng song song tồn tại đã khiến tác giả tìm được hình thức diễn đạt cái bản năng độc đáo, đem lại hứng thú cho người đọc
Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa, Duyên em dính dáng tự ngàn xưa
Chành da ba góc da còn thiếu, Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Trang 30Mát mặt anh hùng khi tắt gió, Che đầu quan tử lúc sa mưa
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng, Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
(Cái quạt I)
Trong thơ vịnh vật của Hồ Xuân Hương mọi từ ngữ, chi tiết, hình ảnh… đều nhằm hình thành hình tượng sự vật nhưng thực chất thông qua đó người viết gợi đến
các vấn đề liên quan đến con người Bài thơ Bánh trôi cũng tuân thủ nghiêm túc
quy tắc ấy Đọc tác phẩm, mọi người đều có thể hình dung về chiếc bánh trôi và cách thức làm loại bánh này Bánh trôi làm từ bột nếp màu trắng, nặn lại thành hình tròn, bên trong có nhân bằng đường thanh, màu vàng đỏ Bánh tròn hay méo do bàn tay khéo léo, vụng về của kẻ nặn Khi nặn xong bỏ bánh vào nước đun sôi, bánh đang chìm dưới nước là chưa chín, bánh nổi lên tức đã chín rồi Nếu thi phẩm chỉ dừng ở nghĩa ban đầu thì không có gì đáng bàn Nhưng thông qua chiếc bánh trôi, hình ảnh người phụ nữ hiện lên thật khéo léo, tinh tế, hấp dẫn, hội đủ vẻ đẹp hình thức (trắng, tròn) và phẩm chất (tấm lòng son) Đặc biệt là dù sống trong môi trường đầy khó khăn “ba chìm bảy nổi”, cạm bẫy ở đời “rắn nát”… người con gái luôn vươn lên làm chủ tình cảm, làm chủ nhân cách để giữ được “tấm lòng son” Ngoài
ra, ngôn từ của bài thơ còn tạo nên một trường nghĩa khác, cho phép nói đến một đối tượng bị văn chương nhà Nho chính thống né tránh, đó là sự ám dụ bộ ngực của
người thiếu nữ Lại một lần nữa người viết lại dùng từ “thân em”, thân vừa chỉ thân
xác, vừa là thân phận người phụ nữ, và khiến chúng ta nhớ đến chàng “quân tử” tạo
nên cặp nam thanh nữ tú xứng đôi vừa lứa Màu “trắng” biểu hiện của thân xác trắng trong “Tròn” là hình khối của thân thể, vẻ đẹp căng tròn của người thiếu nữ
Khi nhắc đến sự “trắng, tròn” rất dễ liên tưởng đến bộ ngực của cô gái xuân thì Chữ “nặn” có nghĩa nặn bánh trôi, một thao tác làm bánh trôi quen thuộc, song
“nặn” có thể còn là “nặn bóp”, trêu ghẹo thiếu nữ khá sỗ sàng, táo tợn của các chàng trai xưa mà văn học dân gian từng nói nhiều Cái cụ thể kết hợp với cái trừu
tượng làm cho hình tượng Bánh trôi xuất hiện với nhiều ý nghĩa
Trong bài Mời trầu sắc thái ý nghĩa cũng đem đến điều thú vị như vậy:
Trang 31Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi, Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại, Đừng xanh như lá bạc như vôi
( Mời trầu) Bình về bài thơ Mời trầu, tác giả Ngô Gia Võ đã viết: “là một thi phẩm trữ
tình tuyệt đẹp biểu hiện sáng rõ và xúc động khát vọng tình yêu lớn lao, chung thuỷ của Xuân Hương hát vọng ấy, cái nghịch ngợm ấy càng làm nổi bật hơn tư thế tự tin, chủ động của một người con gái đầy bản linh”[44] Theo quan niệm của người Việt Nam: “ Miếng trầu là đầu câu chuyên”, “ miếng trầu nên dâu nhà người” nên
trong những ngày lễ nạp tài, vu quy thì trầu cau là thứ không thể thiếu Trầu cau bao giờ cũng đồng thời hiện diện, quả cau tượng trưng cho dương vật tương đương với miếng trầu tượng trưng âm vật Trong bài thơ này, quả cau lại chuyển nghĩa mang một tượng trưng khác, chỉ ngực người con gái Không phải chỉ mình Hồ Xuân
Hương dùng biểu tượng quả cau cho đôi vú Ca dao từng viết: “Vú em chum chúm chụm cau/Cho anh sờ cái có đau anh đền”; hình tượng quả cau - vú còn cho thấy ở
nhiều tác phẩm điêu khắc Chàm, trên núm chuông Việt, núm cồng chiêng Mường;
Trong nhạc phẩm À í a của nhạc sĩ Lê Minh Sơn cũng có câu “Ngực cau nhu nhú
đã vội đi xa” Đặc biệt là sự xuất hiện từ “của” đem đến hai cách hiểu: “của” vừa là
giới từ chỉ sở hữu tất cả đều là của Xuân Hương, tức thuộc về Xuân Hương, vừa là danh từ chỉ bộ phận sinh dục nữ Cách chơi chữ “của em”, hình tượng quả cau - vú, biểu tượng miếng trầu - âm vật, kết hợp với chữ “hôi”, “quệt” để tạo nghĩa biểu tượng hai mặt thanh tục
Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi, Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi
Quân tử có thương thì bóc yếm
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi
(Ốc nhồi)
Con ốc trong cách miêu tả và cảm nhận của Hồ Xuân Hương rất lạ Nó không sống ở sông, ao, hồ, mà “đêm ngày” lăn lóc ở “đám cỏ hôi” “Đám cỏ” nằm
Trang 32trong trường nghĩa liên tưởng đến biểu tượng bộ phận sinh dục, “lỗ trôn” là hình ảnh chỉ chỗ kín trên thân thể người nữ Đặc biệt khi chàng “quân tử” xuất hiện thì
ốc nhồi không còn là ốc nhồi nữa mà trở thành một cô gái sóng đôi cùng chàng quân tử Hơn nữa, chàng quân tử với động tác “bóc yếm”, “ngó ngoáy” làm cho bài thơ chuyển nghĩa từ “cái mình thấy” sang “cái mình cảm” Cái mình cảm có thể hiểu là hoạt động tính giao Vì thế, hình ảnh “con ốc nhồi” là một trong những sáng tạo nghệ thuật độc đáo mới mẻ của Hồ Xuân Hương, gần gũi với biểu tượng văn hoá dân gian Việt Nam
Cũng lò cũng bể cũng cùng than,
Mở mặt vuông tròn với thế gian
Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn,
Đủ đồng đáng cũng ắt nên quan
(Đồng tiền hoẻn)
Đồng tiền hoẻn là sự vật bình thường trong muôn vàn sự vật của thế giới vật chất nhưng đã được Xuân Hương mượn làm đối tượng đề vịnh để đề cập đến một khía cạnh tính dục Ngày xưa, đồng tiền được đúc bằng kim loại đồng hoặc kẽm, hình dáng tròn có lỗ vuông ở giữa Đó là biểu tượng âm dương, trời đất, trọn vẹn,
đủ đầy Nhưng đồng tiền này ở giữa bị mất một cạnh cho nên trở thành “hoẻn” Số phận đồng tiền hoẻn thật cay đắng Cũng cùng một lò, một bể, một mẻ than ấy, nhưng các đồng tiền khác lành lặn, vẹn nguyên, còn mình thì khuyết, thiếu cho nên
“kém cạnh” và không thể “nên quan” Theo Đỗ Lai Thuý: “Ở đây các từ lò, bể, mặt, kém cạnh, đủ đồng, quan đều được dùng với hai nghĩa, khiến bài thơ vừa nghịch ngợm vừa chua xót” [41, 225] Trong ngữ cảnh trên, chúng ta có thể kết luận bài
thơ đề cập đến vấn đề bản năng, đến sự phối hợp âm dương, đến sự khuyết thiếu của bộ phận sinh dục
Trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương hình ảnh cái “lỗ” - gợi sự liên tưởng đến bộ phận sinh dục của người phụ nữ đã nhiều lần xuất hiện Đó là cái “lỗ”
của chiếc quạt nan giấy “Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa” (Cái quạt I), hoặc là cái giếng cũng có thể liên tưởng đến lỗ “Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông” (Cái giếng), hoặc nữa là một bộ phận trên cơ thể động vật “Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi” (Ốc
Trang 33nhồi), hay có thể là cái lỗ của đồng tiền hoẻn “Cũng lò cũng bể cũng cùng than/Kém mặt vuông tròn với thế gian” (Đồng tiền hoẻn), lỗ thủng của chiếc trống
“Nó thủng vì chưng nó nặng dùi” (Trống thủng) Đây chính là biểu tượng “âm hộ”
được gợi ra một cách rất táo bạo
Đề tài về tính dục như “mảnh đất hoang” lâu nay không có ai dám khai vỡ, Xuân Hương “dấn thân” vào, và bị nhiều người người chê trách “dâm tục”, “bất mãn về tình dục”, “khủng hoảng về tình dục”… Tác giả Trần Thanh Mại trong bài
Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương đã phân biệt ranh giới
giữa tục và dâm, ông phát biểu: “Tục bao giờ cũng chỉ là phương tiện, không bao giờ là cứu cánh Trái lại, dâm lại là cứu cánh, dâm là để khiêu dâm, không còn nhằm mục đích nào khác” Do đó, Trần Thanh Mại đã xếp loại thơ tục thì “ít hoặc
nhiều hạn chế tác dụng của thơ”, loại dâm không những không tốt mà có thể “gieo rắc độc hại”… Tuy vậy, cũng có nhiều người lên tiếng bảo vệ nữ sĩ, như Ngô Gia
Võ nhận định thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương không có cái dâm, chỉ có
cái tục Vì: “Khi nói đến dâm, bản chất của nó đã là cái xấu, nghĩa gốc của từ dâm
là quá mức, quá giới hạn Dâm luôn gắn liền với chuyện tình dục qua mức, bừa bãi, nặng về bản năng” [44,142] Ngô Gia Võ khẳng định Xuân Hương dùng cái tục như
một phương tiện nghệ thuật để gửi gắm tư tưởng nhân đạo của mình: lên tiếng nói phủ định, lên án cường quyền và thần quyền phong kiến; hạ bệ các thần tượng xã hội quen thuộc, vạch trần bản chất xấu xa của chúng; tiếng kêu đòi giải phóng, tiếng kêu đấu tranh cho hạnh phúc con người; khẳng định quyền sống chân chính của người phụ nữ… Đỗ Lai Thuý thì cho rằng thơ Hồ Xuân Hương không phải là thứ văn chương ám chỉ Vì văn chương ám chỉ không lấy cái đẹp làm mục đích Mọi
thủ thuật của nó nhằm đưa người đọc đến cái đích nó muốn ám chỉ Hơn nữa, “văn học ám chỉ không thể hình thành hệ thống biểu tượng lấp lửng hai mặt như trong thơ Hồ Xuân Hương, nhất là đằng sau các biểu tượng ấy không thể có một triết học
và mỹ học làm nền” [41,220] Ngoài ra, nhà văn hoá học còn phân định rạch ròi thơ người con gái họ Hồ với văn chương hoa tình, nhất là với văn chương khiêu dâm
“Thơ Hồ Xuân Hương không lấy sự miêu tả tình dục làm mục đích, hoặc thủ pháp, nhất là không miêu tả trực tiếp Nhà thơ dựng lên một biểu tượng kép để đối tượng miêu tả vừa là nó lại vừa không phải nó, nói đúng hơn, càng là nó bao nhiêu thì
Trang 34càng không phải là nó bấy nhiêu Văn chương hoa tình miêu tả tình dục và các cảm xúc về nó một cách trực diện” [41,220] Công bằng mà nói, viết hay về sex là rất
khó Vì ranh giới mong manh giữa khiêu dâm, phi đạo đức nhân bản với khát khao nhận thức, khát khao tự do rất dễ bị vi phạm Việc “lập ngôn” bằng những chuyện cao đạo về “trung, lễ, nghĩa, trí, tín”, về “giang sơn, xã tắc” thu hút được đại đa số các nhà văn Hồ Xuân Hương không sợ “hiểm địa” của đề tài tính dục bởi bà đã suy nghĩ rất “cẩn thận” và đưa ra những lí lẽ xác đáng làm “cơ sở lí luận” cho ngòi bút của mình để từ đó cho ra đời hàng loạt bài thơ nổi tiếng về vấn đề tính dục Người viết không có một dụng ý nào khác ngoài việc ngợi ca, khẳng định quyền sống bản năng ở mỗi con người thế nhưng thi ca nhà Nho lại xem bản năng tính dục là dâm tục, cần phải né tránh Vì thế, các nhà đạo đức đương thời đã tìm mọi biện pháp giáo huấn con người từ trong ý nghĩ đến hành động hãy tránh xa lối sống bản năng
vì nó có hại cho con nguời
Trong thơ Hồ Xuân Hương, các đối tượng đề vịnh vật được lựa chọn vừa kĩ càng vừa tinh tế sao cho các đối tượng đó vừa gợi mở liên tưởng của người nghe về
bộ phận sinh dục nữ, sinh hoạt tình dục đồng thời vẫn là chính nó một cách rất nghiêm túc (bánh trôi, quả mít, ốc nhồi, cái quạt, cái giếng, cái trống thủng, đồng tiền hoẻn…) Với những bài thơ vịnh vật này, bà chúa thơ Nôm đã thành công trong việc kết hợp miêu tả cái thực với cái ảo, cái cụ thể với cái trừu tượng, cái công khai với cái ẩn kín, cái mình thấy với cái mình cảm theo bút pháp nghệ thuật “đồng hiện”, làm cho hình tượng thơ xuất hiện với hai nghĩa thanh tục khó có thể bóc tách Cái thực, cái cụ thể, cái công khai, cái mình thấy Còn cái ảo, cái trừu tượng, cái ẩn kín, cái mình cảm trong thơ Nôm vịnh vật là hình tượng nghệ thuật mà Xuân Hương nhằm đối phó với cấm kỵ bản năng truyền thống Đó chính là những hình ảnh về vẻ đẹp ở bộ phận kín đáo trên thân thể người phụ nữ, là quyền được tồn tại của hành động tính giao
2.2 Thơ vịnh vật trong Hồng Đức quốc âm thi tập
Quan sát tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập, ta thấy phổ biến là lối thơ vịnh:
vịnh thiên nhiên, vịnh phong cảnh, vịnh chùa chiền, đền miếu, vịnh nhân vật Có không
ít bài thơ vịnh là bài thơ hay, như những bài thơ vịnh sử Nhưng thơ vịnh vật thường
Trang 35biến đối tượng miêu tả, ngâm vịnh thành phương tiện để ký thác, răn dạy đạo đức, để thực hiện mục đích giáo huấn của văn chương nhà nho
Thơ vịnh vật của HĐQA là biến thể của thơ nói chí của nhà nho, bị đẩy lên thành thơ khẩu khí, có xu hướng hài hước, vừa nghiêm túc vừa đùa bỡn thú vị Giai thoại văn học kể vua Lê Thánh Tông làm đôi câu đối tặng gia đình người dân làm nghề
hót phân : Ý nhất nhung y, năng đảm thế gian nan sự/ Đề tam xích kiếm tận thu thiên
hạ nhân tâm (Mặc một bộ nhung y, có thể đảm nhiệm việc khó của thế gian/ Cầm kiếm
ba thước, tận thu lòng dạ thiên hạ) Giai thoại này khá tương đồng với thơ khẩu khí đề vịnh trong HĐQA
Nguyễn Khuyến cũng khai thác trò chơi ngôn ngữ theo hướng này trong nhiều câu đối làm giúp vợ người thợ nhuộm, thợ rèn khóc chồng, tuy không nói chí hay khẩu
khí Thiếp kể từ lá thắm xe duyên, khi phận tía lúc cơn đen, điều dại điều khôn nhờ bố đỏ/ Chàng ở dưới suối vàng có biết, vợ má hồng con răng trắng, tím gan tím ruột với trời xanh Trong khi đó, nhiều bài thơ vịnh vịnh vật HĐQATT vẫn được coi là thơ khẩu khí Đó là những bài vịnh về quả dưa “ Lòng son thờ chúa niềm chăng trễ; Áo lục nhà truyền lộc có thừa” củ khoai “Nẻo ra thì phá lấy ngôi trước; Một đám nhà ta ai dám tranh”, rau cải “ Ba đông xuân sắc nhân chưng tuyết; Một tiết âm nhu chẳng quản sương”, cái rế “ Bao nhiêu mắm muối đà thu hết; Một bữa nào quên nghĩa chúa tôi”, cái nón “Vành vạnh dường bằng vầng nhật nguyệt; Vần vần mấy tựa tán công hầu”, cái kim “Luyện tiết cứng vuỗn chẳng tà; Khôn uốn làm câu chưa dễ nga”, cái đó “Ơn chúa biết tài hay cắt đặt; Duyên ưa cá nước khắp hòa nhà”, cái quạt “Thác ở trong tay tạo hóa quyền; Một mình thờ chúa thuở hè thiên”, cái cối xay, con cóc, con rận, con
kiến, con muỗi, con gà, người ăn mày, người bù nhìn…Tác giả của những bài thơ vịnh muốn lấy việc nhỏ nói điều to, lấy sự vật tầm thường nói về những vấn đề đạo lý, hoặc những sự vật cao sang, những nhân vật cao quý Lời thơ trong những bài thơ vịnh ấy mang tính khẩu khí rõ rệt:
Con kiến mà cũng “Đạo biết quân thần tôn nhượng”
Con rận thì “Hết lòng uống máu vì nhà chúa”
Còn con cóc, rõ ra khí tượng khanh tướng đế vương:
Trang 36Miếu đường có thuở vang lừng tiếng Giúp được dân lành khỏi nắng nôi
(Thiềm thừ, bài 48, Phẩm vật môn)
Ông Đầu rau mà có cái thế ra ân:
Chín vạc đặt yên bằng núi
Ai rằng ơn chẳng đến muôn dân
(Xích đầu Ông, bài 43, Phẩm vật môn)
Như vậy, “đứng trước một vật thường thấy hàng ngày, tác giả nhờ một cái nhìn tinh tế sâu sắc, gần giống như một linh cảm nhận thấy giữa sự vật ấy và chí hướng của mình có gì phảng phất giống nhau nên nảy ra ý định “tổng quát”, đem vật ấy ra ngâm vịnh để bày tỏ những hoài bão của mình” [33,123]
Chẳng hạn người bù nhìn đem so sánh với một vị tướng uy nghi chính trực:
Nhà chúa truyền cho giữ ruộng dưa Tay áo phất phơ thuở gió
Mồ hôi lã chã khi mưa hua loài điểu thử đi cho quạnh (Cảo nhân, bài 53, Phẩm vật môn)
Hoặc con chó đá như là một ông quan dốc lòng thờ chúa:
Lần kể xuân thu biết mấy mươi Cửa nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
(Thạch khuyển, bài 60, Phẩm vật môn)
Hay trong bài thơ Dệt vải, người dệt vải chăm lo công việc để mọi người
khỏi bị giá rét, cũng như một vị quân vương biết nghĩ đến tình cảnh khốn khó của dân chúng mà chăm lo đến họ:
Thấy dân rét mướt nghĩ mà thương Vậy phải lên ngôi gỡ mối giường
Trang 37Tay ngọc lần đưa thoi nhật nguyệt Gót vàng giẫm đạp máy âm dương
Hay Bài Vịnh người ăn mày
Chẳng phải ăn đong chẳng phải vay Khắp hòa thiên hạ đến ăn mày Hạt châu chúa cất trao ngang mặt
Bệ ngọc tôi từng đứng liễm tay
Ta thấy bài thơ này có hai nghĩa, nghĩa đen là tả đúng hình dạng, địa vị thấp kém của người ăn mày, nghĩa bóng là nói lên cái chí khí, cái chân tướng của bậc thiên tử Xem bài thơ có thể biết cái khí phách của tác giả hiện ra ở lời nói cửa
miệng, cho nên người ta gọi là thơ “khẩu khí” Ở nhiều bài thơ khác như: bài Thằng
mõ, Người bù nhìn, Cái nón, Con chó đá…đều có nghĩa như vậy
Trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập có cấu trúc nghệ thuật theo nhóm
đề tài và được cấu trúc theo trực tiếp là chính, vì khi miêu tả đến phong cảnh thiên nhiên, tác giả cũng nhằm mục đích nói lên vẻ đẹp của chúng rất chân thật, hoặc khi miêu tả đến hình tượng con người cũng nhằm nói lên tài năng đức độ của họ Tuy nhiên, trong tập thơ còn có một kiểu cấu trúc khác cũng khá quan trọng, đó là kiểu cấu trúc gián tiếp (dùng cái này để nói cái kia, lấy một sự vật tầm thường để mô tả cái cao quý) Kiểu cấu trúc này có trong tập thơ ở hầu hết các phần nhưng chủ yếu nằm ở phần
Phẩm vật môn ( mảng thơ vịnh vật): Cái rế, cái nón, cái kim, ông đầu rau, người bù nhìn, quả dưa, củ khoai, con cóc, con rận, con kiến, con muỗi, con gà, con voi, người
ăn mày…Đây là những vật hết sức tầm thường, chỉ tồn tại nhiều ở ca dao tục ngữ, lời
ăn tiếng nói của người bình dân Nhưng với Lê Thánh Tông, với bản chất nhà vua cố hữu của mình, với con mắt “lệch lạc nghề nghiệp” của mình, ông thấy trong những vật tầm thường bé mọn ấy những phẩm chất to lớn phi thường
Đây là một cái nhìn “thăng hoa” về ông đầu rau:
Hòa canh ngày giúp việc thừa tướng Thêm bếp đêm liều chước tướng quân
Trang 38mà được yên bình Đó là cái ơn mà muôn dân được hưởng, ai cũng phải thừa nhận Đọc bài thơ này ta thấy hình tượng mà tác giả muốn gửi gắm đó là hình ảnh một trung thần của triều đình
Hoặc trong bài Thiềm thừ, tác giả lại cho ta thấy cả một khí tượng đế vương
kiểu “Anh hùng đoán giữa trần ai mới già”:
Miếu đường có thuở vang lừng tiếng Giúp được dân lành kẻo nắng nôi
Cái tài của nhà thơ ở đây là bất kỳ một vật nào, dù bé mọn đến đâu, dưới cái nhìn của ông cũng thấy bóng dáng của một vật khác to lớn hơn Ví dụ: Trong bài
thơ trên: Thiềm thừ là con cóc Con cóc khi cạo miệng thường báo trời mưa, tác giả
nhân sự tương hợp ngẫu nhiên đó mà khai thác nghĩa khí tượng đế vương từ con vật tầm thường
Có thể nói mỗi bài thơ là một hình ảnh hay một biểu tượng “lấp lửng hai
mặt” Chẳng hạn con cóc- ông vua, ông đầu rau - trung thần, người bù nhìn - vị tướng lĩnh…Thế giới của đồ vật cũng là thế giới xã hội con người, kiểu hình tượng
lấp lửng hai mặt này ta còn bắt gặp trong các câu đố dân gian và đặc biệt sắc sảo
trong “Đố tục giảng thanh, đố thanh giảng tục”
Như vậy, thông qua các bài thơ vịnh vật trong HĐQATT ta thấy rất rõ đặc điểm của thơ khẩu khí - loại thơ thông qua cái tầm thường để nói cái cao quý Đó là một nhánh nhỏ của thơ vịnh, một loại thể tài lớn của văn học thời Lê Thánh Tông, xuất hiện từ quan niệm cao quý của văn chương nhà nho Quan niệm này cho rằng làm văn là phải bác học, phải cao quý, làm văn chỉ được nói đến thiên kinh địa nghĩa, thế đạo nhân tâm, hiền nhân quân tử, đế vương khanh tướng, công hầu, làm
Trang 39văn không được nói đến cái nhỏ mọn, tầm thường, không trang nhã Dẫu sao thì việc sáng tác các đề tài dân dã, tầm thường trong văn học Nôm thời này dù để biểu trưng cho cái cao quý, thiêng liêng nhưng vẫn là dấu hiệu của sự gia tăng yếu tố dân
dã, bình dị trong cảm hứng sáng tác văn học Đó chính là lí do để Nguyễn Huệ Chi
trong Tạp chí Văn học, số 1-1993 cho rằng: thơ khẩu khí cũng thuộc trường thơ loại hình hoá, trong đó “ mỗi một loài vật, loài cây …đi vào thơ đều mang theo một biểu tượng về loại của xã hội loài người, từ vua quan, người trung, kẻ nịnh, người giàu, người nghèo”[4] Điều này khác hẳn với thơ đề vịnh của Hồ Xuân Hương
2.3 Tiểu kết chương 2
Cùng sử dụng các đồ vật, sự vật để đề vịnh bắt nguồn từ đời sống, từ yếu tố dân gian và mang hai nghĩa “ lấp lửng” nhưng ý nghĩa biểu đạt trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương lại mang sắc thái ý nghĩa khác biệt so với HĐQATT Thơ đề vịnh đồ vật, sự vật của các nhà nho trong HĐQATT bị khuôn ép trong
“vòng kiềm toả” của tư tưởng, quan niệm phong kiến và thi pháp sáng tác cung đình khiến ngay cả những đồ vật tầm thường như con cóc, ông đầu rau, cái vạc, củ khoai, con gà…cũng phải “khiên cưỡng” mang những phẩm chất to lớn, phi thường của người quân tử như đã phân tích ở trên Còn đồ vật, sự vật trong thơ Hồ Xuân Hương thì nó không chỉ là chính nó mà còn rất tự nhiên biểu đạt yếu tố tính dục, nhu cầu bản năng và khát vọng tính dục tự nhiên của con người Đó là lí do giải thích vì sao
cùng là bài thơ miêu tả “cây đánh đu”, cùng có nhiều điểm giống nhau về mặt câu
chữ, nhưng thơ trong HĐQATT lại khác nhau về ý nghĩa của thơ Hồ Xuân Hương đến vậy
Sự vật, đồ vật trong HĐQATT đôi khi nó không còn là chính nó mà được khoác lên một chiếc áo tàng hình bỗng trở lên lớn lao, cao cả về vai trò, tầm vóc Trong khi đó, sự vật, đồ vật trong thơ Hồ Xuân Hương lại được soi qua một chiếu thấu kính có cả hai đầu hội tụ và phân kỳ Khi hội tụ, nó là chính nó một cách trần trụi, chân thực nhưng khi phân kỳ, nó lại phát lộ ra cái yếu tố dục tính độc đáo bên trong Phải chăng sự dũng cảm “ nổi loạn” ở cả hai phương diện hình thức và nội dung thể hiện cùng với khát vọng tự khẳng định con người cá nhân của Hồ Xuân
Hương chính là yếu tố làm nên sự khác biệt này? Nói như Nguyễn Hữu Sơn „ Bản
Trang 40lĩnh sáng tạo trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, trước hết bộc lộ ở sự khẳng định con người cá nhân, nhấn mạnh vai trò chủ thể, thực hiện đời sống theo lối riêng và sự
tự biểu hiện, khám phá chính bản thân mình” còn Lưu Trọng Lưu thì viết: “ Hồ Xuân Hương đã diễn tả được một cái gì rất sâu sắc, rất tráng kiện, rất táo bạo, rất Việt Nam, một cái chất Việt Nam không kim cổ, không phân biệt đàn ông hay đàn bà” [29]