1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đổi mới đào tạo, bồi dưỡng công chức cơ quan tổng liên đoàn lao động việt nam giai đoạnhiện nay

118 445 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi Mới Đào Tạo, Bồi Dưỡng Công Chức Cơ Quan Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Lê Khắc Á
Người hướng dẫn TS. Trần Trọng Toàn
Trường học Học viện Hành chính
Chuyên ngành Quản lý hành chính công
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 691 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn một cách tổng thể của công tác ĐTBD cán bộ, công chức trong cáccơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Namnói riêng có thể cho ta thấy những vấn đề nổi cộ

Trang 1

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhậnđược sự giúp đỡ quý báu của Ban giám đốc, các giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ,các thầy, cô giáo của Học viện Hành chính, đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn

và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với TS Trần Trọng Toàn, ngườihướng dẫn khoa học đã rất nhiệt tình và trách nhiệm để tôi hoàn thành đượcluận văn

Tôi cũng xin cảm ơn Lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cácBan, đơn vị trực thuộc Tổng Liên đoàn, tổ chức và cá nhân tại Hà Nội, bạn bèđồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi tìm hiểutình hình thực tế và cung cấp tài liệu, số liệu để tôi hoàn thành luận văn

Do hạn chế về mặt thời gian nên trong quá trình nghiên cứu luận văn cóthể còn nhiều thiếu sót Tôi mong được sự góp ý và chỉ bảo của các thầy, các

cô và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Lê Khắc Á

Trang 2

Tôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công: “Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng công chức cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giai đoạnhiện nay” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 6

1.1 Những khái niệm cơ bản 6

1.1.1 Khái niệm công vụ 6

1.1.2 Khái niệm cán bộ 9

1.1.3 Khái niệm công chức 13

1.1.4 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng 16

1.2 Tầm quan trọng của đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức 18

1.2.1 Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn hiện nay 18

1.2.2 Đào tạo và bồi dưỡng nhằm đáp ứng tiêu chuẩn hoá cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay của đất nước 22

1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 25

1.4 Mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 28

1.5 Các yếu tố tác động đến quy mô và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 33

1.5.1 Xác định đúng đối tượng đào tạo và bồi dưỡng 34

1.5.2 Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giảng dạy và quản lý quá trình đào tạo, bồi dưỡng 35

1.5.3 Nội dung chương trình, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng 37

Trang 4

tạo, bồi dưỡng 38

1.6 Kinh nghiệm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và bài học cho Việt Nam 39

1.6.1 Kinh nghiệm đào tạo cán bộ công đoàn theo phương pháp tích cực qua Dự án DGB (Liên hiệp Công đoàn Cộng hoà Liên bang Đức) .39

1.6.2 Bài học cho Việt Nam 43

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ QUAN TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM 45

2.1 Giới thiệu về cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 45

2.1.1 Vị trí, vai trò 45

2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn 47

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 48

2.1.4 Cán bộ công đoàn 49

2.2 Công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 50

2.2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 50

2.2.2 Thực trạng công tác quản lý CBCC của chức cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 54

2.2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn CBCC của cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 54

2.2.2.2 Công tác xây dựng quy hoạch và tuyển chọn CBCC của cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 54

2.2.2.3 Công tác quản lý, sử dụng CBCC của cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 55

Trang 5

quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 56

2.3.1 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 56

2.3.2 Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 59

2.3.2.1 Hệ thống, nội dung, hình thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong thời gian qua 59

2.3.2.2 Hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 60

2.3.2.3 Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn 61

2.3.2.4 Đội ngũ làm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 62

2.4 Đánh giá chung 63

2.4.1 Kết quả 63

2.4.2 Tồn tại, hạn chế 64

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨCCƠ QUAN TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 67

3.1 Những định hướng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 67

3.1.1 Quan điểm về đào tạo cán bộ, công chức công đoàn 69

3.1.2 Phương hướng, mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức công đoàn đến năm 2013 71

3.1.3 Định hướng, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức công đoàn cơ quan đến năm 2013 72

Trang 6

quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 74

3.2.1.Nâng cao nhận thức trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức .74 3.2.2 Hoàn thiện quy định pháp lý cho công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 76

3.2.3 Đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp đối tượng người học 76

3.2.4 Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 81

3.2.5 Kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý và tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng 87

3.2.6 Đổi mới cơ chế tài chính, huy động các nguồn lực tài chính cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 89

3.2.7 Tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng 90

3.2.8 Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đồng bộ với việc đổi mới công tác tổ chức cán bộ 90

3.3 Kiến nghị 97

3.3.1 Đối với Trung ương Đảng, Nhà nước 97

3.3.2 Đối với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 97

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

NCKH : Nghiên cứu khoa học

NCĐT : Nghiên cứu đào tạo

Trang 8

Bảng 2.1: Biờn chế cơ quan Tổng Liờn đoàn theo cỏc khối 50Bảng 2.2: Biờn chế cỏc ban cơ quan Tổng Liờn đoàn 51Bảng 2.3: Số lượng Đảng viờn trong cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt

Nam 53Bảng 2.4: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng cỏn bộ, cụng chức 2005- 2009 60Bảng 2.5: Kết quả tập huấn, bồi dưỡng giai đoạn 2004- 2009 61

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa cỏc quỏ trỡnh quản lý ở chủ thể cụng tỏc đào tạo,

bồi dưỡng 35Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam 46

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới, giai đoạn đẩy

mạnh CNH – HĐH, giai đoạn "ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ

rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tạo nền tảng để đến năm

2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường, định hướng XHCN được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao" [14; tr159]

Phấn đấu để đạt được những mục tiêu trên là sự nghiệp của toàn dân,dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, mà nòng cốt là đội ngũ cán

bộ, công chức, đảng viên của Đảng Có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì từviệc xây dựng đường lối, chính sách đến việc lãnh đạo, tổ chức, thực hiệnđường lối chính sách sẽ trở thành hiện thực

Sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng được tiến hành đổi mớimột cách toàn diện, từ đổi mới về kinh tế, từng bước đổi mới hệ thống chínhtrị và cải cách bộ máy hành chính nhà nước Đất nước ta đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống KT-XH.Đội ngũ cán bộ, công chức chính là yếu tố quan trọng quyết định cho sự thànhcông đó

Tuy nhiên, trong lĩnh vực cải cách hành chính "việc cải cách bộ máy nhànước còn chậm và kém hiệu quả" Thủ tục hành chính còn bộc lộ nhiều nhượcđiểm như: còn rườm rà về thủ tục hành chính, trùng lắp, thậm chí còn mâuthuẫn, vướng mắc lẫn nhau, chưa đáp ứng được yêu cầu công dân và tổ chức

Từ vấn đề đó có thể cho ta thấy xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ công chức

Trang 10

là khâu quan trọng nhất, quyết định nhất đối với sự thành công của cải cách

hành chính, của sự nghiệp đổi mới đất nước

Hiện nay, công cuộc đổi mới kinh tế đã và đang đi vào chiều sâu thì việccải cách BMNN và hệ thống hành chính trở thành một nhiệm vụ cấp bách và

có tầm quan trọng đặc biệt Nó là điều kiện cần thiết để thúc đẩy và nâng caohiệu quả đổi mới kinh tế và phát triển xã hội Nghị quyết Hội nghị Trung

ương Đảng lần thứ 8 chỉ rõ "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng

hoà XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính" đã

khẳng định việc xây dựng đội ngũ CBCC có đủ phẩm chất và năng lực là yếu

tố quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động của BMNN Quan điểm đó đãđược Đảng ta khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương lần thứ

3 khoá VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước

"Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận

mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ".

Phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững Đồng thời nhân tố quyết định cho sự thắnglợi của sự nghiệp CNH - HĐH chính là đội ngũ CBCC Để nâng cao dân trí,phải chú ý quan tâm đến ĐTBD đội ngũ CBCC

Đội ngũ CBCC, viên chức nước ta hiện nay là một lực lượng khá đông đảo,đang tích cực đóng góp sức mình vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, cóvai trò quan trọng và quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp đổi mới

Tuy nhiên, chúng ta còn thiếu những cán bộ giỏi và chuyên gia đầungành, việc quy hoạch ĐTBD, bố trí, sử dụng cán bộ làm chưa tốt Vì vậy, nhìnchung đội ngũ cán bộ hiện nay xét về chất lượng, số lượng và cơ cấu có nhiềumặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.Giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải quan tâm đến ĐTBD đội ngũ CBCC,trong đó có đội ngũ CBCC của cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam,một thành viên quan trọng trong HTCT nước ta

Trang 11

Nhìn một cách tổng thể của công tác ĐTBD cán bộ, công chức trong các

cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Namnói riêng có thể cho ta thấy những vấn đề nổi cộm: Nó vừa trùng lắp, chồngchéo, vừa phân tán thiếu tập trung thống nhất, ngay cả giữa Đảng và Nhànước, giữa cấp trên và cấp dưới, chưa có sự liên kết và hợp tác chặt chẽ giữacác cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ Công tác quản lý, sử dụng, đánh giá,quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC chưa khoa học, không toàn diện, khôngthống nhất, còn chắp vá Nhiều CBCC chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm

vụ chính trị đặt ra trong giai đoạn mới, đặc biệt là về trình độ, năng lực Dovậy, chưa phát huy hết tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi cá nhân trong côngtác Đó phải chăng là một trong những nguyên nhân quan trọng của nhữnghạn chế trong công tác ĐTBD cán bộ, công chức hiện nay của cơ quan TổngLiên đoàn Lao động Việt Nam

Những bất cập về ĐTBD cán bộ, công chức ở cơ quan Tổng Liên đoànLao động Việt Nam, đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu trênphương diện lý thuyết cũng như thực tiễn Ý thức được tầm quan trọng của cảvấn đề lý luận và thực tiễn, cùng với sự hướng dẫn khoa học của TS Trần

Trọng Toàn, tôi chọn đề tài: “Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cao học Hy vọng kết quả nghiên cứu của luận

văn sẽ góp phần nhỏ bé vào tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cơquan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giai đoạn hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Trang 12

+ Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận văn tập trung vào các vấn

đề sau đây:

- Làm rõ cơ sở lý luận về ĐTBD cán bộ, công chức giai đoạn hiện nay;

- Đánh giá thực trạng và nguyên nhân tồn tại của đào tạo, bồi dưỡngCBCC cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;

- Đề ra một số khuyến nghị và giải pháp đổi mới ĐTBD CBCC cơ quanTổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

+ Đối tượng nghiên cứu: Là cơ sở lý luận, các nhân tố tác động và các

giải pháp về đổi mới đào tạo, bồi dưỡng CBCC cơ quan Tổng Liên đoàn Laođộng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

+ Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu đào tạo, bồi dưỡng

CBCC cơ quan Tổng Liên đoàn trong những năm gần đây

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhànước ta về công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC Luận văn sử dụng các phươngpháp cụ thể: Phương pháp tiếp cận hệ thống; phương pháp thống kê, nghiêncứu và phân tích tài liệu, khảo sát thực tế, phương pháp chuyên gia, phươngpháp phân tích tổng hợp so sánh, khái quát hoá để rút ra nhận xét kết luận vàkhuyến nghị cụ thể

Trang 13

cấp, các ngành, các địa phương Đồng thời góp phần vào việc sửa đổi, xâydựng, bổ sung những chính sách, chế độ đối với ĐTBD CBCC nói chung vàCBCC cơ quan Tổng Liên đoàn nói riêng trong thời gian tới.

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

công chức giai đoạn hiện nay Chương 2: Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức trong cơ

quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

công chức cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giai đoạn hiện nay

Trang 14

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO,

BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm công vụ

Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại đã cho chúng tathấy, có nhiều chế độ công vụ khác nhau được hình thành phù hợp với nhữngđặc trưng chính trị, chế độ chính trị, xã hội và bản chất nhà nước Chúng ta cóthể xem xét một số quan niệm sau đây:

Quan niệm công vụ của nhà nước tư sản:

Nhà nước tư sản quan niệm công vụ là sự phục vụ cho quyền lực công.Công chức là người đại diện cho nhà nước để thực thi quyền hành pháp Vìthế, công vụ là một chức nghiệp Với quan niệm này, công vụ được duy trì và

ổn định không phụ thuộc vào sự thay đổi của chính trị

Từ quan niệm về công vụ như vậy, người công chức được tuyển chọnmột cách cẩn thận vào công vụ thông quan thi tuyển và căn cứ vào tài năng đểsắp xếp vào các ngạch, bậc khác nhau Công chức được coi như là một loạingười chuyên làm công việc nhà nước, địa vị của họ được tôn vinh trọngvọng Hệ thống công vụ này được gọi là hệ thống chức nghiệp (careersystem), nó rất ổn định, liên tục và là chỗ dựa vững chắc của chính trị Cácnước theo chế độ chức nghiệp điển hình là Cộng hoà Liên bang Đức, Cộnghoà Pháp, Vương quốc Anh

Sự phát triển của xã hội đã xuất hiện một quan niệm mới: nền công vụcủa một nền hành chính phát triển Theo quan niệm này, công vụ là một việclàm chứ không phải là một nghề nghiệp bất biến Việc tuyển chọn công chứcvào công vụ theo nhu cầu của công việc Nhà nước có thể thay đổi vị trí công

Trang 15

chức theo nhu cầu của công việc và theo công trạng của bản thân từng người.Trong đội ngũ công chức diễn ra sự cạnh tranh nội bộ; đồng thời, có sự cạnhtranh giữa những người trong công vụ với những người ngoài công vụ Sựthăng tiến tuỳ thuộc vào tài năng của những con người cụ thể Do đó, côngchức phải tự học tập, rèn luyện để giữ vững vị trí Hệ thống công vụ này đượcgọi là hệ thống theo việc làm (Jobsystem), nó có đặc điểm không tạo ra sự ổnđịnh cần thiết cho nền hành chính Đội ngũ công chức không có tính liên tục

và kế thừa Điển hình cho hệ thống này là nền công vụ của Hoa Kỳ, Hà Lan,

Tổ chức Liên hợp quốc

Quan niệm công vụ của các nhà nước phong kiến phương Đông:

Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học thì dưới chế độ phong kiến, Vua làngười đứng đầu quốc gia, đại diện cho vương quyền và thần quyền để caiquản muôn dân Mọi quyền lực đều tập trung vào tay Vua Nền công vụ đượctạo dựng để phò Vua, thực hiện ý chí nhà Vua Công vụ được xem như một sứmạng thiêng liêng cao cả để phục vụ Vua Tuân thủ mệnh lệnh nhà Vua tức làthực thi bổn phận công vụ Dưới triều đại phong kiến, không có khái niệmcông chức Thực thi công vụ là các quan và nha lại Quan là người giữ cương

vị chỉ huy, Nha lại là người thừa hành công việc, công vụ được xem như làmột sứ mệnh cao cả và được xem như mục tiêu của kẻ sĩ Tuy lương ít nhưngđược nhiều bổng lộc, lại có sự cổ vũ tinh thần, được miễn trừ công việc laodịch, được mọi người kính nể, cho nên các nho sĩ ham muốn gia nhập côngvụ

Quan niệm công vụ ở Việt Nam:

Sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã chấm dứt nền công vụtheo kiểu thực dân - phong kiến Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 của chủtịch Hồ Chí Minh về ban hành quy chế công chức là văn bản đầu tiên mangđầy đủ tính pháp lý cho nền công vụ nước ta Do hoàn cảnh kháng chiến nên

Trang 16

những quy định trong sắc lệnh trên không được thực hiện đầy đủ Khángchiến chống Pháp thắng lợi, trong công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc vàđấu tranh thống nhất nước nhà Nhà nước ta đã thực hiện chính sách "cán bộ,công nhân viên chức" Đặc điểm của thời kỳ này là mọi hoạt động của bộ máyhành chính Nhà nước được điều chỉnh bằng các văn bản pháp quy, để hoạtđộng công vụ thường xuyên được điều chỉnh thích nghi với từng giai đoạnphát triển của đất nước.

Tuy nhiên, cho đến khi nhà nước ta ban hành Pháp lệnh CB, CC chức thìkhái niệm "công vụ" vẫn chưa được xác định chính xác Tại các điều 1, 2, 6,

7, 10, 11, 13, 14, 15, 28, 29, 37, 38, 39 của Pháp lệnh CBCC, Pháp lệnh bổsung và sửa đổi một số điều của Pháp lệnh CBCC; các Điều 1, 28, 29 củaNghị định 95/1998/NĐ - CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng,

sử dụng và quản lý công chức chúng ta bắt gặp đồng thời hai khái niệm "côngvụ" và "nhiệm vụ"

Trong điều kiện nước ta, hoạt động quản lý Đảng, Nhà nước, các tổ chứcchính trị - xã hội đóng vai trò chủ yếu Hoạt động quản lý đó được thực hiệnthông qua đội ngũ CBCC trong HTCT Thực chất đó là hoạt động phục vụ lợiích công, mang tính chuyên nghiệp, thường xuyên, được bảo đảm bằng ngânsách nhà nước

Từ cách tiếp cận đó, chúng ta có thể thấy CBCC thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn của mình để thực thi công quyền, tức là thực thi quyền lực nhànước, suy cho cùng là thực hiện quyền lực của nhân dân Nói một cách khác,

hoạt động công vụ là hoạt động của những người làm việc công, tức là hoạt

động của mọi CBCC làm việc trong mọi tổ chức cấu thành của HTCT nước ta.Mặc dù khái niệm "công vụ" ở nước ta vẫn chưa có một định nghĩa chínhthức, song dựa vào các văn bản pháp luật hiện hành đều điều chỉnh chung đốivới cán bộ và công chức và sự tồn tại của nó trên thực tế, chúng ta có thể thấy

Trang 17

công vụ là chức năng tổ chức và hoạt động QLNN nhằm ổn định, phát triển

xã hội và đời sống công dân thông qua các công sở, đơn vị phục vụ và toànthể CBCC, viên chức nhà nước Hoạt động công vụ là một dạng hoạt độngđặc thù Nét đặc trưng của nó thể hiện ở các điểm sau:

- Là hoạt động của nhà nước để trực tiếp thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ của nhà nước, vì vậy nó mang tính quyền lực nhà nước;

- Hoạt động này không trực tiếp làm ra của cải vật chất cho xã hội mà chỉ

hỗ trợ, tổ chức quản lý hay tạo điều kiện cho các hoạt sản xuất kinh doanh

Đó là hoạt động nhằm tác động lên con người hoặc phục vụ con người, đóchính là hoạt động quản lý con người;

- Phương tiện phục vụ hoạt động là toàn bộ những cơ sở vật chất, trangthiết bị được huy động trực tiếp vào hoạt động công vụ và những thông tin

"đầu vào" CBCC thực hiện các chức năng thu thập, xử lý, truyền đạt, bảoquản và tạo ra các nguồn thông tin để quyết định quản lý Bản thân các quyếtđịnh quản lý cũng là một loại nguồn thông tin và là nguồn thông tin quantrọng bậc nhất;

- Lao động công vụ là lao động phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân.Người thực hiện công vụ được trả lương theo ngạch, bậc và chức vụ ngânsách nhà nước;

Những đặc điểm này xác định hoạt động công vụ như một dạng hoạtđộng riêng biệt, khác những dạng hoạt động khác trong xã hội

1.1.2 Khái niệm cán bộ

Cán bộ là một khái niệm được du nhập từ Trung Quốc và được dùng phổbiến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Ở Trung Quốc, từ cán bộ để chỉchung những nhân viên, công chức để phân biệt với những nhân viên tạp vụ,binh lính, công nhân, lãnh đạo các đoàn thể Dần dần, từ cán bộ dùng để chỉ tất

cả những người hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với nhân dân

Trang 18

Trong từ điển Nhật - Việt, từ cán bộ cũng được dùng để chỉ lãnh đạo củacác đoàn thể Hiện nay ở Nhật, từ cán bộ phần lớn được dùng trong quân đội đểchỉ những người đóng vai trò bộ khung, còn để chỉ công chức hay viên chứcngười ta dùng từ quan liêu, theo nghĩa phổ biến là những người làm việc trongBMNN Nghĩa của từ cán bộ ở Nhật trung thành nhiều hơn với từ gốc mà nóđược dịch ra (Cadre) Trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Pháp, từ này cónghĩa là người nòng cốt, những người chỉ huy trong quân đội, trong một tổchức làm thành một nòng cốt

Ở nước ta, theo cách hiểu thông thường, trước đây: Cán bộ đựơc coi là tất

cả là những người thoát li, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể,quân đội Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi như những người cómức lương cán sự một Trong Từ điển tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa là:

- Người làm công tác nghiệp vụ, chuyên môn trong cơ quan, Nhà nước,Đảng, và đoàn thể;

- Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phânbiệt với người không có chức vụ

* Trong tổ chức Đảng và Đoàn thể, từ cán bộ được dùng với nghĩa:

- Chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đếntrung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên, đoàn viên, hội viênthường (không giữ chức vụ trong tổ chức);

- Những người làm công tác chuyên trách có hưởng lương trong các tổchức Đảng và Đoàn thể

* Trong quân đội cán bộ thường được chỉ các đối tượng:

- Là những người chỉ huy từ tiểu đội trở lên;

- Là sỹ quan từ cấp uý trở lên

* Trong hệ thống Nhà nước, từ cán bộ được hiểu cơ bản là trùng với từ công chức, được chỉ:

- Những người làm việc trong các cơ quan nhà nước thuộc ngành hànhchính, tư pháp, kinh tế, văn hoá và xã hội;

Trang 19

- Những người có chức vụ chỉ huy, phụ trách, lãnh đạo;

Như vậy, từ những vấn đề ở trên, chúng ta có thể đi đến một quan niệmđầy đủ hơn: Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò vàcương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt độngcủa tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, gópphần định hướng sự phát triển của tổ chức

Từ nghĩa gốc của từ cán bộ có yếu tố là "bộ khung", là "nòng cốt" là "chỉhuy", cho nên khi bàn về chất lượng, về đào tạo đội ngũ cán bộ phải tính đếnnhững yếu tố "cần" và "đủ" để đội ngũ cán bộ này thể hiện rõ vai trò và chứctrách là bộ khung, là nòng cốt, là chỉ huy, điều khiển, người quản lý Điều naycàng có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay - thời kỳ đẩy mạnh CNH

- HĐH đất nước Xét về loại hình có thể phân thành: Cán bộ đảng và đoànthể; Cán bộ nhà nước; Cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế; khoa học - kỹ thuật,văn hoá, giáo dục, y tế, thể thao, xã hội; Cán bộ lực lượng vũ trang

Từ trước, để cho đơn giản, người ta đã xếp nhóm cán bộ KH - KT, vănhoá giáo dục, y tế, thể thao xã hội (thường gọi là cán bộ trong các đơn vị sựnghiệp) vào cùng với cán bộ HCNN, gọi chung là cán bộ HCSN Cũng cócách phân loại cán bộ theo "chiều dọc", nghĩa là theo thành phần cốt yếu cấutrúc tạo nên đội ngũ cán bộ ở từng loại tổ chức Việc phân loại này sẽ giúpcho từng tổ chức thấy rõ hơn những yêu cầu chất lượng của cán bộ Chẳnghạn như, trong hệ thống đảng thì có đảng viên và cán bộ Cán bộ trong hệthống này là tất cả những người được bầu vào cấp uỷ từ chi uỷ đến BCHTrung ương Trong đó có: Loại không hưởng lương theo ngân sách; hưởnglương theo ngân sách (được xác định là cán bộ, công chức); một bộ phận làchuyên gia công tác Đảng và các lĩnh vực; cán bộ quản lý (các Vụ trưởng,trưởng, Phó ban, Viện trưởng, Tổng biên tập,); cán bộ lãnh đạo

Trang 20

Nước ta khi bước vào thời kỳ mới vừa đẩy mạnh CNH - HĐH vừa xâydựng và hoàn chỉnh nhà nước pháp quyền XHCN, vừa tiến hành xây dựngnền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, không thể không hoàn chỉnhchính sách để có một đội ngũ cán bộ có chất lượng đồng bộ, phù hợp vớinhững yêu cầu mới đang đặt ra.

- Khoản 1 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008, quy định rõ như sau:Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữchức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngânsách nhà nước

Theo đó, bao gồm cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện

Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam căn cứ vào điều lệcủa Đảng Cộng sản Việt Nam, của tổ chức chính trị - xã hội và quy định củaLuật cán bộ, công chức quy định cụ thể chức vụ, chức danh cán bộ làm việctrong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, của tổ chức chính trị - xã hội.Chức vụ, chức danh cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước được xácđịnh theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ,Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật

Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Kiểm toán nhà nước vàcác quy định khác của pháp luật có liên quan

- Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, quy định rõ như sau:Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dânViệt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hộiđồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu

tổ chức chính trị - xã hội

Trang 21

Như vậy, đã trả lời được câu hỏi: Ai là cán bộ? và cán bộ gắn với tiêu chíbầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ.

1.1.3 Khái niệm công chức

Tác giả Tô Tử Hạ, trong "Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ,

công chức hiện nay" khẳng định: "chế độ công chức ra đời ở các nước tư bản

phương Tây vào nửa cuối thế kỷ XIX, nó phản ánh nhu cầu khách quan củalịch sử phát triển nhà nước "Nhân vật" trung tâm của chế độ công chức là độingũ công chức với tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu hợp lý, đáp ứng hoạt động củanền hành chính thông suốt, hiệu lực và hiệu quả"[8;tr09]

Chế độ công chức của mỗi quốc gia là do đặc điểm lịch sử, kinh tế, vănhoá, chính trị, xã hội quy định Trên thực tế, ở các quốc gia khác nhau không

có sự giống hệt nhau về chế độ công chức Có nước chỉ giới hạn công chứctrong phạm vi QLNN, thi hành pháp luật; cũng có nước quan niệm công chứcbao gồm cả những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thực hiện dịch

vụ công Nhìn chung, tuỳ theo cách hiểu về công vụ rộng hay hẹp mà kháiniệm về công chức cũng có nội hàm rộng hay hẹp tương ứng Nhưng nóichung, quan niệm ở phần lớn các nước, công chức là những người làm việctrong bộ máy hành chính, thực thi quyền hành pháp

Ở nước ta trước đây không có sự phân biệt rành rọt về khái niệm côngchức Tất cả những người làm việc trong cơ quan hành chính, sự nghiệp, thậmchí trong cả các đơn vị SXKD đều được điều chỉnh trong một khái niệmchung là cán bộ, công nhân viên Với phạm vi này, khái niệm công chứckhông xác định

Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, vấn đề công chức được bàn bạc

và xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau, một số ý kiến cho rằng công chức baogồm những người làm việc trong bộ BMNN nói chung, kể cả những cán bộ,chiến sĩ trong lực lượng vũ trang như quân đội nhân dân, bộ đội biên phòng

và các cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong các tổ chức SXKD của Nhà nước

Trang 22

Cũng có lúc chúng ta giới hạn công chức trong khuôn khổ của bộ máyhành chính và xem công chức là "công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổnhiệm, giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở nhà nước ở trungương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào mộtngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp" Quan điểm này cho rằngcông chức gồm những người hoạt động trong các cơ quan hành chính sựnghiệp của nhà nước và bộ máy phục vụ của các cơ quan nhà nước khác.Xuất phát từ những đặc thù của đất nước, Đảng ta đã khẳng định: "Ởnước ta, sự hình thành đội ngũ cán bộ, viên chức có đặc điểm khác các nước.Cán bộ làm việc ở các cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể là một khối thốngnhất trong HTCT do Đảng lãnh đạo Bởi vậy, cần có một văn bản pháp luật cóphạm vi điều chỉnh chung đối với cán bộ trong toàn bộ HTCT bao gồm: cáccông chức nhà nước (trong đó có công chức làm việc ở cơ quan quân đội,cảnh sát, an ninh ) cán bộ làm việc chuyên trách trong các cơ quan Đảng,đoàn thể"[36;tr36].

Điều đó đã được thể hiện trong điều 1 của Pháp lệnh CBCC do Quốc hộinước cộng hoà XHCN Việt Nam ban hành ngày 26/02/1998: "CBCC quy

định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương

từ ngân sách nhà nước”, bao gồm:

1 Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trongcác cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

2 Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụthường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

3 Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao giữ mộtcông vụ thường xuyên được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyênmôn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhànước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chứcdanh tiêu chuẩn riêng;

Trang 23

4 Thẩm phán toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân;

5 Những người được tuyển dụng , bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụthường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân màkhông phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làmviệc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩquan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp"

Như vậy, "cán bộ, công chức" được hoà quyện trong định nghĩa nói trên

và chưa thể phân biệt đâu là công chức, đâu là cán bộ Hơn nữa, thuật ngữ

"cán bộ" có nội hàm rất rộng Phạm vi làm việc của cán bộ từ các cơ quanĐảng, Nhà nước, các đoàn thể, các tổ chức xã hội, các đơn vị SXKD, lựclượng vũ trang, công an nhân dân từ trung ương đến địa phương

Theo điều 1 Nghị định số 95/1998/NĐ - CP ngày 17/11/1998 của Chínhphủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thì "công chức" là nhữngngười được quy định tại khoản 3 và 5 điều 1 của Pháp lệnh CBCC Bằngphương pháp loại trừ, có thể hiểu tất cả những người còn lại (nói tại các khoản

1, 2 và 4 của điều 1 Pháp lệnh CBCC) đều là "cán bộ" Đồng thời, xét theodanh sách các cơ quan, tổ chức có biên chế công chức được liệt kê tại điều 1Nghị định số 95 thì các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội không cócông chức (trừ các công chức được biệt phái sang công tác tại các tổ chức đó).Căn cứ vào hai văn bản nói trên, có một vài nhận xét sau:

- CBCC có ba đặc điểm chung đó là: công dân Việt Nam, trong biên chế

và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

- Công chức nhà nước có thêm các đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất: công chức nhà nước tham gia vào các hoạt động bằng hình

thức tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên hoặc giaogiữ một công vụ thường xuyên

Trang 24

Thứ hai: được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn.

Thứ ba: được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp.

Tại điểm C khoản 1 điều 2 Nghị định 97 và khoản 2 điều 1 Pháp lệnh,vẫn có những "công chức biệt phái sang làm việc tại các tổ chức kinh tế, tổchức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp mà các tổ chức này đã được cơquan có thẩm quyền giao chỉ tiêu biên chế"

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đưa ra khái niệm công chức (Khoản 2Điều 4) như sau:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vàongạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công annhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máylãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp cônglập), trong biên chế và hưởng lương ngân sách nhà nước; đối với công chứctrong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương đượcbảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của phápluật

Như vậy, Luật đã phân biệt được cán bộ và công chức, không có côngchức dự bị, không điều chỉnh viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệpcông lập Trả lời được câu hỏi: Ai là công chức? và công chức gắn với tiêuchí tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh

1.1.4 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng

Thông thường, đối với nhiều quốc gia trên thế giới thì đào tạo là quátrình diễn ra trước khi trở thành công chức Đào tạo rồi mới sử dụng, người ta

Trang 25

gọi là giai đoạn tiền công vụ Ở các nước đó người ta sử dụng thuật ngữ "tunghiệp" thay vì "ĐTBD" Một số nhà nghiên cứu, quản lý ở nước ta cũngđồng tình với quan niệm này Ở trường Maxuel của Mỹ người ta còn gọi đàotạo công chức giữa nhiệm kỳ chức nghiệp, tức là bồi dưỡng những công chứcđang làm việc Mặc dù quá trình đào tạo thường diễn ra đối với phần lớn sốngười trước khi trở thành công chức, song cũng không có nghĩa trong quátrình tham gia công vụ không có đào tạo.

Bồi dưỡng thường diễn ra sau đào tạo, nghĩa là sau khi người lao động đã

có một nghề về một lĩnh vực chuyên môn để có thể lập nghiệp

Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc

đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghềnghiệp theo các chuyên đề Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho ngườilao động có cơ hội để củng cố và mở mang một cách có hệ thống những trithức, kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ sẵn có để lao động nghề nghiệp mộtcách có hiệu quả hơn Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, kỹ thuật, công nghệthay đổi nhanh chóng, nhiều lĩnh vực tiếp cận với nhau để hình thành nhữnglĩnh vực mới thì mặc dầu không đổi nghề, nhưng người lao động vẫn cầnđược trang bị thêm những kiến thức và kỹ năng của một lĩnh vực chuyên mônmới thì mới có thể tiếp cận hành nghề Chẳng hạn công chức được tuyển vềlàm việc trong các đơn vị của cơ quan Tổng Liên đoàn, trước khi chuyển về

cơ quan, mặc dù đã được đào tạo các chuyên ngành nhưng khi được tuyểnchọn vào làm việc ở cơ quan của hệ thống Công đoàn đều phải được bồidưỡng thêm các kiến thức, kỹ năng về công tác công đoàn

Khái niệm "đào tạo" trong ĐTBD cán bộ, công chức có những nội hàmkhác với khái niệm đào tạo thuần tuý, bởi lẽ ngoài nghĩa đào tạo thông thường,

Trang 26

nó còn có ý nghĩa trang bị những kiến thức, kỹ năng mới mà trước đó, có thểngười cán bộ, công chức chưa được biết đến hoặc chưa đựơc đào tạo.

Luật cán bộ, công chức năm 2008 nêu rõ:

Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹnăng theo quy định của từng cấp học, bậc học

Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ nănglàm việc

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn, chức vụ, chứcdanh cán bộ, yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với quy hoạch cán bộ

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ do cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộngsản Việt Nam, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định

Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạtđộng theo chương trình quy định theo ngạch công chức

Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý là trang bịkiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định chotừng chức vụ lãnh đạo, quản lý

Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng,phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao

ĐTBD thường đan xem và có khi là thành tố của nhau Bởi lẽ, nó đềunhằm mục đích là đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân trong tổ chức và sựphát triển của tổ chức trong sự phát triển chung

1.2 Tầm quan trọng của đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức

1.2.1 Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn hiện nay

Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, Đảng ta luôn khẳng định phải cảicách hành chính Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đòi hỏi phải xâydựng một Nhà nước vững mạnh, một đội ngũ CBCC có đủ bản lĩnh và nănglực, phục vụ đắc lực sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta

Trang 27

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: "Nhiệm vụ của chúng ta trong giai đoạn hiện nay là đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao

rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tạo nền tảng để đến năm

2010 nước ta cơ bản trở thành 1 nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường, định hướng XHCN được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao" [14;tr159].

Đội ngũ CBCC của chúng ta có mặt mạnh chủ yếu là được rèn luyện thửthách trong quá trình đấu tranh cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng,kiên định mục tiêu, con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn, năng động sángtạo, hăng hái thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhànước Nhưng khi đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH vớinhững nhiệm vụ chính trị mới rất nặng nề, khó khăn và phức tạp thì đội ngũCBCC đang bộc lộ không ít nhược điểm, có những mặt bất cập Điều nàyđược thể hiện trên các mặt sau đây:

Một là, những kiến thức về pháp luật Do trong một quá trình dài và đặc

biệt là do chuyển sang cơ chế mới, chúng ta chưa có điều kiện xây dựng hệthống pháp luật hoàn chỉnh và phù hợp, việc điều chỉnh các quan hệ xã hộicòn chủ yếu dựa vào những quy tắc chính trị, đạo đức và các văn bản dướiluật, nên đội ngũ CBCC chưa được trang bị hoàn chỉnh mảng kiến thức này.Điều đó đã dẫn đến hiện tượng hoặc nơi này hoặc nơi khác phát sinh tuỳ tiện,thiếu kỷ cương trật tự, ảnh hưởng đến quá trình phát triển

Hai là, những kiến thức về hành chính, nhất là những kỹ năng, quy trình

công nghệ của một nền hành chính còn hạn chế Từ việc soạn thảo văn bản,

bố trí lao động, sắp xếp công việc đến những việc quan trọng như hoạch địnhchính sách, điều hành bộ máy, sử dụng nguồn tài chính công và công sản củaNhà nước chưa được thực hiện một cách khoa học và có hiệu quả Từ đó, dẫn

Trang 28

đến sự chắp vá, chồng chéo, trùng lắp, gây ra không ít ách tắc cho các hoạtđộng khác.

Ba là, những tri thức ứng dụng KHKT hiện đại trong các cơ quan Đảng,

Nhà nước, Đoàn thể chưa đáp ứng đầy đủ Phần lớn CBCC chưa quen vàchưa thành thạo với những phương tiện hiện đại như máy vi tính, phươngpháp lập trình, xây dựng dự án, v.v đang là trở ngại không nhỏ cho việc đápứng được những đòi hỏi của nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐHđất nước

Bốn là, nền kinh tế của nước ta đang đổi mới, chuyển sang cơ chế thị

trường, hội nhập quốc tế Thực tiễn QLNN về kinh tế rất sôi động và phứctạp Nhiều vấn đề mới xuất hiện, đặc biệt là những phạm trù kinh tế vĩ mô vàvai trò của Nhà nước trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường

Năm là, sự tiếp cận với nền hành chính thế giới còn hạn chế, do đó chưa

nghiên cứu, tìm hiểu có hệ thống những kinh nghiệm của các nước

Giai đoạn hiện nay nhằm đẩy mạnh CNH - HĐH ở Việt Nam chính làquá trình làm biến đổi trạng thái kinh tế, văn hoá, xã hội, mà nội dung cơbản là:

Thứ nhất, đó là sự biến đổi chất lượng của lực lượng sản xuất làm cho

lao động thủ công được thay thế phần lớn bằng lao động cơ khí hoá, điện khíhoá và một phần quan trọng tự động hoá; công nghiệp hoá nông nghiệp; tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ cao trong cấu tạo GDP và trong laođộng xã hội

Thứ hai, khoa học, kỹ thuật và công nghệ phát triển có khả năng tiếp cận

và vận dụng những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ Khoa học

xã hội và nhân văn phát triển tạo nên diện mạo tinh thần mới của đất nước,của xã hội, mặt bằng dân trí nâng cao, chất lượng của nguồn lực con người

Trang 29

đạt được trình độ tương đương trong khu vực mà vẫn giữ được cốt cách, bảnsắc văn hoá Việt Nam, con người Việt Nam.

Thứ ba, hình thành một tổng hoà các quan hệ sản xuất, chế độ sở hữu, cơ

chế quản lý và chế độ phân phối hợp lý, tiến bộ cho phép tạo ra động lựcmạnh mẽ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội trongcác giai cấp và tầng lớp dân cư

Thứ tư, đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân được cải thiện, nâng cao:

nhà ở tương đối tốt, đi lại, học hành, chữa bệnh thuận lợi, mức hưởng thụ văn hoákhá; có lối sống văn minh, gia đình hạnh phúc, quan hệ xã hội lành mạnh

Để đạt được những mục tiêu trên thì vấn đề đặt lên hàng đầu là phải xâydựng một đội ngũ CBCC có đủ phẩm chất và năng lực hết lòng phục vụ nhândân, phục vụ Nhà nước, nắm bắt được những yêu cầu của thời đại, có tàinăng, đạo đức và ý chí để thiết kế và tổ chức thực hiện những kế hoạch củatiến trình CNH - HĐH trên mọi lĩnh vực, bảo đảm thực hiện có kết quả nhữngmục tiêu: cải biến chất lượng sản xuất; phát triển KHKT, nâng cao trình độvăn hoá và dân trí; hình thành một quan hệ sản xuất hài hoà, hợp lý, nâng caođời sống vật chất và văn hoá của nhân dân; xây dựng một thiết chế Nhà nướcvăn minh, dân chủ tiến bộ

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ: "Đào tạo và bồi dưỡng cán

bộ toàn diện cả về LLCT, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và nănglực thực tiễn Quan tâm ĐTBD cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các nhàdoanh nghiệp và các chuyên gia, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt trongHTCT, coi trọng cả đức lẫn tài, đức là gốc Việc học tập cán bộ phải được quyđịnh thành chế độ và phải được quy định thành chế độ và phải được thực hiệnnghiêm ngặt" Tiếp tục tinh thần đổi mới, Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: "Đẩy mạnh ĐTBD CBCC với chươngtrình, nội dung sát hợp Có chương trình đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡngthường xuyên CBCC Nhà nước" [17; tr217]

Trang 30

Tổng kết công tác xây dựng Đảng 20 năm (1975 - 1995), Đảng ta mạnhdạn phê bình: "Tồn tại lớn nhất hiện nay là vẫn chưa có được một chiến lược

cơ bản và lâu dài xây dựng đội ngũ cán bộ, phục vụ cho nhiệm vụ cách mạngthời kỳ mới Thiếu dự báo để chuẩn bị đội ngũ cán bộ đón đầu cho thời kỳmới, thường sa vào những công việc cụ thể mang tính đối phó, chắp vá Tìnhtrạng hẫng hụt cán bộ do thiếu sự chuẩn bị và cũng có phần do quan điểm vàphương pháp đánh giá lựa chọn chưa phù hợp" [15;tr120]

Những thành tựu thu được gần hai mươi nhăn năm đổi mới trên mọi mặtcủa đời sống KTXH đã khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của công tácĐTBD đội ngũ CBCC Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định:

"Con đường công nghiệp hoá của nước ta cần và có thể rút ngắng thời gian sovới các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảyvọt Phát huy những lợi thế của đất nước, gắn công nghiệp hoá với hiện đạihoá, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa họccông nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, tranh thủ những ứng dụng ngàycàng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu công nghệhiện đại và tri thức mới, từng bước phát triển kinh tế tri thức" [17;tr217].Nhiệm vụ đó là căn cứ để xây dựng, ĐTBD đội ngũ CBCC cả về cơ cấu,

số lượng, chất lượng, phẩm chất và năng lực để đáp ứng những yêu cầu mới,phục vụ tốt các nhu cầu xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vàdoanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước,nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh

1.2.2 Đào tạo và bồi dưỡng nhằm đáp ứng tiêu chuẩn hoá cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay của đất nước

Để thực hiện được những nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn hiện nay,ĐTBD CBCC có vai trò đặc biệt quan trọng, là một khâu trong công tác cán

Trang 31

bộ Bởi lẽ đây chính là khâu có tính chất quyết định, là công việc gốc của

Đảng Chất lượng đội ngũ cán bộ luôn gắn với cụ thể hoá tiêu chuẩn CBCC,

với bố trí sử dụng đúng Đây cũng chính là đòi hỏi đối với mỗi CBCC phảikhông ngừng thường xuyên rèn luyện, học tập, tu dưỡng theo các tiêu chuẩn

đề ra, theo nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó

Nghị quyết của Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ hai, Khoá VIII

đã chỉ rõ những yêu cầu cần thiết của con người mới Việt Nam trong giaiđoạn cách mạng hiện nay là: Xây dựng những con người và thế hệ thiết thagắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ýchí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, CNH - HĐH đất nước, giữ gìn

và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa vănhóa nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ýthức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoahọc và công nghệ hiện đại Có tư tưởng sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi,

có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khỏe, là ngườithừa kế xây dựng CNXH vừa "hồng" vừa "chuyên" như lời căn dặn của Bác

Hồ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: "Xây dựng đội ngũCBCC trong sạch, có năng lực, hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế CBCC,coi trọng cả năng lực và đạo đức Đào tạo và bồi dưỡng, sắp xếp lại đội ngũCBCC theo đúng chức danh, tiêu chuẩn" [17;tr49]

Đây cũng là những yêu cầu mà CBCC cần phải không ngừng phấn đấu,rèn luyện để đạt được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Cán bộ là cái gốc của mọicông việc" [23;tr269], gốc có vững thì cây mới tốt Muốn thực hiện được điềunày thì CBCC phải thường xuyên phấn đấu rèn luyện nhằm đạt được các tiêuchuẩn sau:

Một là, người CBCC phải có đạo đức cách mạng, luôn đặt lợi ích của

giai cấp, của Đảng, của dân tộc lên trên hết, biết giải quyết đúng đắn mối

Trang 32

quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của dân, của Đảng, của dân tộc khitrong các mối quan hệ đó nảy sinh những mâu thuẫn Người CBCC có đạođức cách mạng phải thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân, được nhândân tin yêu, nghe theo thực hiện tốt những chủ trương của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước mà người CBCC chính là người giúp Đảng, giúp Nhànước phổ biến, chuyển tải đến dân.

Hai là, người CBCC là người có phẩm chất đạo đức tốt nhưng đồng thời

phải có năng lực tương ứng với nhiệm vụ được giao, có đức nhưng phải cótài Người CBCC phải "thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc vàCNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổquốc, CNH - HĐH đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dântộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng củadân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tíchcực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại Có tưtưởng sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính

tổ chức và kỷ luật, có sức khỏe, là người thừa kế xây dựng CNXH vừa "hồng"vừa "chuyên" như lời căn dặn của Bác Hồ" [16; tr28] Đây cũng chính là yêucầu của CBCC cần phải có trong giai đoạn hiện nay Để thực hiện đượcnhững yêu cầu này, mỗi cán bộ, công chức phải không ngừng học tập, rènluyện nâng cao năng lực của mình nhằm đáp ứng được với những đòi hỏi củanhiệm vụ được giao

Đảng ta chỉ rõ: Học tập là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ,đảng viên Trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải có kế hoạchthường xuyên học tập, nâng cao trình độ LLCT, kiến thức chuyên môn và nănglực hoạt động thực tiễn Việc học tập nâng cao trình độ LLCT được thực hiệngắn với việc tiêu chuẩn hóa đối với cán bộ, đảng viên ở các cấp, các ngành trongmọi lĩnh vực hoạt động xã hội Kết quả học tập LLCT là một trong những tiêu

Trang 33

chuẩn để xem xét đánh giá, sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ, đánhgiá tư cách đảng viên.

Học lý luận chưa đủ, mỗi cán bộ, công chức phải nghiên cứu, quán triệtsâu sắc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời phải có trình độchuyên môn giỏi, luôn sáng tạo, tìm tòi trong công việc hoàn thành nhiệm vụđược giao với hiệu quả cao nhất Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng củacông tác tiêu chuẩn hóa CBCC đối với công tác phục vụ qui hoạch CBCCtrong từng giai đoạn cách mạng Nghị quyết hội nghị BCH Trung ương Đảnglần thứ ba, khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐHkhẳng định:" Lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng chương trìnhĐTBD thống nhất trong hệ thống các trường", muốn đánh giá, bố trí sử dụngcán bộ đúng thì phải nắm vững và dựa vào tiêu chuẩn cán bộ

Trong thực tế tuy còn có những biểu hiện khác nhau của chế độ, tiêuchuẩn về trình độ, năng lực, nhưng trong giai đoạn hiện nay, với những yêucầu của nhiệm mới, đòi hỏi CBCC phải được ĐTBD đúng với những cương

vị, chức vụ mà họ đảm nhận Đây không chỉ là nhu cầu, nguyện vọng của mỗiCBCC mà là nhiệm vụ cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong việc ĐTBD độingũ CBCC nói chung và đội ngũ CBCC cơ quan Tổng Liên đoàn Lao độngViệt Nam nói riêng

1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Trong sự nghiệp cách mạng, có nhiều nhiệm vụ, nhiều công việc, nhưngvấn đề cán bộ luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm Ngườikhẳng định: "Muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặckém" [23;tr269] Nếu có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây dựngđường lối sẽ đúng đắn và là điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng

đi đến thắng lợi Không có đội ngũ cán bộ tốt thì dù có đường lối, chính sách

Trang 34

đúng thì cũng khó có thể biến thành hiện thực Muốn biến đường lối thànhhiện thực, cần phải có con người sử dụng lực lượng thực tiễn - đó là đội ngũcán bộ cách mạng và cùng với quần chúng cách mạng để đưa cách mạng đếnthành công.

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Cán bộ là những người đem chính sách củaĐảng, của Chính phủ đến giải thích cho dân chúng hiểu rõ, để đặt chính sáchcho đúng" [23;tr154] Vị trí của cán bộ là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ vớiquần chúng, nhưng không phải là "vật mang", là "dây dẫn", là sự chuyển tải cơhọc mà chính là những con người có đủ tư chất, tài năng, đạo đức để làm việc

đó Bởi lẽ, để có thể đem chính sách của Đảng, chính phủ giải thích cho dânchúng hiểu rõ và thi hành, đòi hỏi người cán bộ phải có một trình độ, trí tuệ vànăng lực nhất định Nếu không, người cán bộ không quán triệt hết, thậm chícòn làm sai lệch tinh thần, nội dung của chính sách, làm ảnh hưởng đến uy tíncủa Đảng, Chính phủ, làm thiệt hại đến Nhà nước, đến nhân dân Người nói:

"Khi có chính sách đúng, thì sự thành công và thất bại của chính sách đó là docách tổ chức công việc do nơi lựa chọn cán bộ, do nơi kiểm tra Nếu ba điểm

ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích" [23; tr269]

Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác huấn luyện, ĐTBD cán bộ; Nếu như

"cán bộ là cái gốc của mọi công việc" thì "huấn luyện cán bộ là công việc gốccủa Đảng" [23;tr273] và Đảng, Chính phủ phải: "Nuôi dạy cán bộ như ngườilàm vườn vun trồng những cây cối quý báu Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ,trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta"[23; tr269].(Thân Nhân Trung đã từng khẳng định: Hiền tài là nguyên khí quốc gia)

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng chương trình, nội dung huấn luyện,người phê bình gay gắt những chương trình, nội dung huấn luyện cho cán bộ

ít thiết thực, mênh mông, học rồi không dùng được Huấn luyện cho cán bộ làkhâu có ý nghĩa quyết định đến trình độ và chất lượng cán bộ Hồ Chí Minh

Trang 35

chỉ thị học lý luận phải gắn với thực tiễn, tránh huấn luyện chung chung, họcthuộc lòng.

Thực tiễn không ngừng biến đổi, do vậy lý luận càng phải được bổ sung,phát triển, vì thế CBCC phải không ngừng học tập, nghiên cứu, đào tạo, tựĐTBD để nâng cao trình độ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Người nói:

"Huấn luyện cán bộ là cốt để cung cấp cán bộ cho các ngành đoàn thể, Mặttrận, chính quyền, quân đội Các ngành công tác như tiêu thụ hàng Ban huấnluyện như là người làm ra hàng Làm ra hàng phải đúng với nhu cầu tiêuthụ"[23;tr248] Người yêu cầu khi mở lớp huấn luyện, cần phải đặt ra câu hỏi:

"Người đến chịu huấn luyện rồi có áp dụng được hay không? Có thực hànhđược không?" và Người khẳng định: "Nếu không thiết thực như thế, thì huấnluyện mấy năm cũng vô ích" [24;tr522]

Người đề ra phương châm: Học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắnliền với thực tế và Người đề xuất việc sắp xếp chương trình học có tỷ lệmột nửa lý thuyết, một nửa thực hành, ứng dụng những tri thức khoa họcvào thực tế

Người cũng chỉ rõ bên cạnh những nội dung nhằm "cải tạo tư tưởng",nhất thiết phải có những nội dung nhằm nâng cao năng lực chuyên môn,nghiệp vụ Hồ Chí Minh cho rằng: "Riêng về cán bộ, ai lãnh đạo ngành nàothì phải biết chuyên môn về ngành đó, có thế mới lãnh đạo mới sát"[24;tr548]

Một trong những quan điểm quan trọng của Người trong công tác ĐTBDcán bộ là phải kết hợp nhiều hình thức huấn luyện cho các đối tượng cán bộkhác nhau, hoặc cho mỗi đối tượng theo các yêu cầu khác nhau Người rấtchú trọng đến việc ĐTBD cán bộ theo hệ thống trường lớp chính quy Ngaytrong hoàn cảnh khó khăn của cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1949, Chủtịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng vẫn quyết định thành lập Trường

Trang 36

Đảng Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia HồChí Minh) và sau đó là trường Huấn luyện cán bộ hành chính (1959- nay làHọc viện Hành chính) Năm 1946 trường Huấn luyện cán bộ Công đoàn đượcthành lập (nay là Đại học Công đoàn).

Trong ĐTBD đội ngũ cán bộ, Người luôn nhắc nhở mọi người phảithường xuyên học hỏi ở mọi lúc, mọi nơi, học ở trường, học ở sách vở, họclẫn nhau và học nhân dân Người cũng chỉ ra cái được, cái chưa được, nhữngphương châm, phương pháp để khắc phục những hạn chế trong huấn luyện,ĐTBD CBCC như: Huấn luyện phải gắn liền với thực tiễn; huấn luyện chínhtrị cần phải có, song tùy theo từng loại cán bộ mà định chương trình cho phùhợp; lớp học phải tổ chức theo trình độ văn hóa chứ không theo cấp bậc cán

bộ cao hay thấp; phải chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên; phương thứcĐTBD cần phải cụ thể, phải căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu nghề nghiệp, trình

1.4 Mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương II, khóa VIII của Đảng về giáodục, đào tạo đã đề ra định hướng, mục tiêu từ nay đến năm 2000 và 2020 lànâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phát huy nguồn lực conngười trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Đó chính là mục tiêu, định

Trang 37

hướng chung của toàn bộ hoạt động giáo dục cũng như ĐTBD đội ngũCBCC Một trong những động lực cơ bản nhất của chiến lược phát triểnKTXH ở nước ta hiện nay là nhân tố con người Xuất phát từ mục tiêu pháttriển vì con người, do con người cho nên đầu tư cho con người là loại đầu tư

cơ bản nhất thì đầu tư cho ĐTBD CBCC của Đảng và Nhà nước là đầu tưthen chốt nhất, cấp thiết nhất trong giai đoạn hiện nay

Khẳng định vấn đề này, Đảng ta đã chỉ rõ: "Mở rộng diện ĐTBD cán bộtrong HTCT và các tổ chức xã hội, các thành phần kinh tế Đặc biệt chú trọngphát triển, ĐTBD nhân tài, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp từTrung ương đến cơ sở Cán bộ khoa học đầu ngành, cán bộ quản lý kinhdoanh các doanh nghiệp lớn Phấn đấu chậm nhất từ năm 2005 trở đi, nóichung những cán bộ chủ chốt dưới 45 tuổi từ cấp huyện trở lên ít nhất phải cótrình độ đại học về chuyên môn, cao cấp về LLCT ĐTBD trước khi bổnhiệm, đề bạt; khắc phục tình trạng bầu cử, bổ nhiệm rồi mới đưa đi đào tạo"[20;tr 358]

Như vậy, mục tiêu lâu dài và tổng quát của việc ĐTBD CBCC nói chung

là nhằm "xây dựng một đội ngũ CBCC có đủ đức và tài, trong đó đức là gốc".Bởi vì trong thời kỳ cách mạng mới không thể thiếu những CBCC có đức độ

và tài năng, không thể không thu hút và cảm hóa, tập hợp những tri thức giỏinhất của đất nước trên các lĩnh vực KTXH Tuy nhiên, trong cơ chế thị trườnghiện nay, CBCC có tài năng chưa đủ, điều cốt yếu là tự bản thân họ luôn luônrèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống lành mạnh, kiên quyết chống thamnhũng hối lộ, lãng phí, buôn lậu, sống xa hoa hưởng lạc Từ đó, việc bồidưỡng và phát triển đức - tài cho đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng và Nhànước là mục tiêu cơ bản nhất, tập trung nhất và là vấn đề quan trọng và cấpthiết nhất trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước

Tuy nhiên, trong lý luận cũng như thực tiễn, đối với bất kỳ hoạt động nàovới tư cách là một hệ thống, cùng với việc xác định mục tiêu chung, cơ bản

Trang 38

cho toàn bộ hoạt động, cần phải xác định mục tiêu cụ thể cho từng loại hoạtđộng, để việc xác định đối tượng, nội dung, biện pháp tiến hành hoạt độngđược phù hợp Từ đó cho ta thấy rằng, công tác ĐTBD CBCC không chỉ tuânthủ các mục tiêu chung mà còn phải hướng đến các mục tiêu cụ thể, đào tạocho những đối tượng nào, đào tạo cái gì và để làm gì Một khái niệm mớiđược hình thành, đó là ĐTBD CBCC cho các mục tiêu.

Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức là trang bị kiến thức, kỹ năng,phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ, góp phần xây dựng đội ngũ côngchức chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại.Mục tiêu ở đây là phục vụ cho phát triển KTXH ĐTBD CBCC khôngchỉ nhằm khắc phục những yếu kém, hẫng hụt mà còn phục vụ các mục tiêunâng cao năng lực LLCT, mục tiêu cải cách và hiện đại hóa nền hành chính,mục tiêu mở cửa, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, mục tiêu phát triểnnguồn nhân lực các mục tiêu này đã được qui định trong các văn kiện củaĐảng và Nhà nước ta như Nghị quyết Trung ương III, khóa VIII của Đảng vàNghị quyết 874/TTg của Thủ tướng Chính phủ

Xây dựng đội ngũ CBCC có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ tiến trìnhcải cách nền hành chính nhằm góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng vàhoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đòi hỏi công tác ĐTBDCBCC nhà nước cần hướng tới mục tiêu phát triển KTXH trước mắt và lâudài sau đây:

Một là, ĐTBD CBCC về LLCT, đường lối, chủ trương, chính sách của

Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ CBCC nhà nước đầy đủ về phẩmchất và bản lĩnh chính trị

Phẩm chất chính trị của đội ngũ CBCC nhà nước thể hiện ở sự trungthành với sự nghiệp cách mạng của Đảng Ở nước ta, mọi hoạt động củaBMNN, của các cơ quan trong HTCT, của nền hành chính Nhà nước đều đặtdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Do vậy, nhiệm vụ đầu tiên

Trang 39

trong công tác ĐTBD CBCC nói chung và ở cơ quan Tổng Liên đoàn nóiriêng là bồi dưỡng phẩm chất chính trị, lập trường tư tưởng và đạo đức cáchmạng cho CBCC Đảng ta chỉ rõ: "vững vàng, kiên định đường lối đổi mới,của Đảng, không dao động trước những khó khăn, phức tạp và mâu thuẫn gaygắt của tình hình trong nước và thế giới không tham ô, buôn lậu, lãng phícủa công, sống lành mạnh, ý thức tổ chức kỷ luật tốt, tính chiến đấu cao,thẳng thắn, trung thực" [28; tr222].

Hai là, ĐTBD CBCC về HCNN và quản lý nền HCNN nhằm phục vụ

cho mục tiêu cải cách và hiện đại hoá nền HCNN Trước hết ĐTBD CBCCNhà nước đáp ứng cho mục tiêu CCHC là thực hiện theo tinh thần Nghị quyếtcủa Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ tám, khoá VII về "tiếp tục xâydựng và hoàn thiện Nhà nước CHXHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách mộtbước nền hành chính" với các nội dung chủ yếu như: cải cách thể chế; cảicách bộ máy HCNN; xây dựng đội ngũ CBCC Có thể khẳng định rằng côngcuộc CCHC có thành công hay không phụ thuộc phần lớn vào chất lượng độingũ CBCC Bởi vì, đây chính là đội ngũ vạch ra kế sách để thực hiện từngmục tiêu nêu trên của cải cách nền hành chính, đồng thời lại là người tổ chức,quản lý quá trình thực hiện và gương mẫu thực hiện một cách có hiệu quả,một cách sáng tạo những mục tiêu đó

Trong những năm gần đây, CBCC đều được bồi dưỡng, thông qua nhiềuhình thức dài hạn, hoặc ngắn hạn về kiến thức cơ bản của nền kinh tế thịtrường và vai trò của Nhà nước trong cơ chế mới

Tuy nhiên, cũng dễ nhận thấy đội ngũ CBCC của chúng ta không thể tiếpcận và thành thạo được ngay với những kiến thức, kỹ năng, cách làm, tư duymới mẻ, phức tạp của kinh tế thị trường trong khi bản thân chính họ lại đượcđào tạo, được làm theo những cách làm, cách nghĩ của cơ chế kinh tế tậptrung quan liêu bao cấp Bên cạnh đó, những hạn chế của việc lựa chọn đối

Trang 40

tượng học, biên soạn giáo trình, phương pháp ĐTBD chưa thật phù hợp dovậy, hiệu quả của công tác ĐTBD chưa đạt được những mục tiêu đặt ra.

Ba là, ĐTBD Nhà nước đã hình thành những chuyên gia giỏi có khả

năng hoạch định và thực thi chính sách, đặc biệt là bồi dưỡng những kiến thức

về quản lý kinh tế phục vụ cho những mục tiêu đổi mới và phát triển kinh tế,QLNN về kinh tế Việc ĐTBD lực lượng này tuy chiếm tỷ lệ không cao trongđội ngũ CBCC Nhưng lại có vai trò quyết định trong hoạt động tiếp nhận cácchương trình dự án có tính mũi nhọn, cũng như lập kế hoạch, tổ chức thựchiện, triển khai có hiệu quả, kiểm tra đánh giá các chương trình, dự án đó.Đội ngũ CBCC Nhà nước hiện nay "chủ yếu được ĐTBD trong điều kiện

cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Hơn nữa nhiều người làm việc không theochuyên ngành đào tạo, chưa được đào tạo, trang bị những kiến thức, kỹ năng

để tư duy và làm việc theo cách mới" [30; ] Chính vì vậy, những kiến thứcnhư về đầu tư, kiểm toán, thị trường chứng khoán, tiền tệ, liên doanh, dự ánhợp tác đầu tư, bị hẫng hụt nhiều trong đội ngũ CBCC nói chung, đặc biệt làtrong đội ngũ CBCC trực tiếp QLNN về kinh tế

Thực trạng cơ cấu của đội ngũ CBCC trong lĩnh vực QLKT cho thấy sựhẫng hụt và thiếu đồng bộ Đội ngũ CBCC QLKT chủ chốt, nhất là ở vùngsâu, vùng xa vừa thiếu, vừa yếu về trình độ văn hoá, lý luận chuyên môn Tỷ

lệ CBCC QLKT được đào tạo trong thời kỳ kinh tế tập trung, bao cấp còn rấtcao: 65% tốt nghiệp trước năm 1989 Số cán bộ đã được đào tạo lại và số cầnđược đào tạo lại chiếm tỷ lệ ngang bằng nhau, khoảng 50%

Nghị quyết Trung ương ba, khoá VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩymạnh CNH - HĐH đất nước đã đề ra các tiêu chuẩn, yêu cầu trong xây dựngđội ngũ CBCC QLKT, quản lý kinh doanh Ngoài các tiêu chuẩn chung,CBCC quản lý kinh doanh cần phải hiểu biết sâu sắc các quan điểm kinh tếcủa Đảng, có phẩm chất đạo đức, cần kiệm liêm chính; không lợi dụng chứcquyền để tham ô, lãng phí, xa hoa; có kiến thức về kinh tế thị trường và quản

Ngày đăng: 27/05/2014, 11:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ Tư pháp (1992): Nền công vụ, công chức, sách tham khảo của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền công vụ, công chức
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 1992
12. C.Mác và Ph. Ănghen: Toàn tập, (1995), Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, t.2, tr.181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph. Ănghen: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
13. Các bài giảng theo phương pháp tích cực, Hà Nội 2007, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng theo phương pháp tích cực
Nhà XB: NXB Lao động
14. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia - 200 1 , tr. 159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - 200 1
22. Đỗ Mười (1996): Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.232 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đỗ Mười
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
23. Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, , t5, tr.154- 248-269-273 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập (1995)
Tác giả: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
24. Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t6, tr. 522- 548 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập (1995
Tác giả: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
25. Hồ Chí Minh Toàn tập (1995), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, T10, tr.251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập (1995)
Tác giả: Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
27. Lương Trọng Yêm, Bùi Thế Vĩnh (2004): Mô hình hành chính ASEAN, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình hành chính ASEAN
Tác giả: Lương Trọng Yêm, Bùi Thế Vĩnh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
32. Raja Roy Sinh, Nền giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng Châu Á - Thái Bình Dương – UNESCO; Hà Nội; 1994, tr. 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng Châu Á - Thái Bình Dương – UNESCO
35. Quy định số 54 - QĐ/ TW ngày 12/5/1999 của Ban chấp hành trung ương Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 54 - QĐ/ TW ngày 12/5/1999
38.Tô Tử Hạ (1998): Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay
Tác giả: Tô Tử Hạ
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
39. Thông tư Liên Tịch số 79/TTLT ngày 19/9/1997 giữa Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư Liên Tịch số 79/TTLT
53.V.I.Lênin: Toàn tập(1975), Nxb. Tiến bộ, Mátcơva, T.6, tr. 162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập(1975)
Tác giả: V.I.Lênin: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Tiến bộ
Năm: 1975
3. Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ (2000): Đánh giá cải cách hành chính Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và phát triển nguồn nhân lực Khác
5. Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: Báo cáo của BCH Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khoá IX trình Đại hội X Công đoàn Việt Nam Khác
6. Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: Báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn các năm 2000, 2001, …và 2009 Khác
7. Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: Điều lệ Công đoàn Việt Nam khoá X Khác
8. Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: Văn kiện Đại hội Công đoàn Việt Nam khoá X Khác
9. Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: Các Nghị quyết BCH Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam các khoá IX, X Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các quá trình quản lý ở chủ thể công tác đào  tạo, bồi dưỡng - đổi mới đào tạo, bồi dưỡng công chức cơ quan tổng liên đoàn lao động việt nam giai đoạnhiện nay
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các quá trình quản lý ở chủ thể công tác đào tạo, bồi dưỡng (Trang 40)
Bảng 2.1: Biên chế cơ quan Tổng Liên đoàn theo các khối                                                                        Đơn vị tính: Người - đổi mới đào tạo, bồi dưỡng công chức cơ quan tổng liên đoàn lao động việt nam giai đoạnhiện nay
Bảng 2.1 Biên chế cơ quan Tổng Liên đoàn theo các khối Đơn vị tính: Người (Trang 57)
Bảng 2.3: Số lượng Đảng viờn trong cơ quan Tổng Liên đoàn Lao - đổi mới đào tạo, bồi dưỡng công chức cơ quan tổng liên đoàn lao động việt nam giai đoạnhiện nay
Bảng 2.3 Số lượng Đảng viờn trong cơ quan Tổng Liên đoàn Lao (Trang 60)
Bảng 2.4: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 2005- 2009 - đổi mới đào tạo, bồi dưỡng công chức cơ quan tổng liên đoàn lao động việt nam giai đoạnhiện nay
Bảng 2.4 Kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 2005- 2009 (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w