1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ktdn mh 10 giao trinh nguyen ly ke toan 0492

137 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên Lí Kế Toán
Tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa
Trường học Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Công Nghệ Quy Nhơn
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2018
Thành phố Bình Định
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Có thể nhận thấy để theo dõi và đo lường kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, cung cấp thông tin tài chính cần thiết cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông

Trang 1

UBND TỈNH BÌNH ĐỊNH

TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ QUY NHƠN

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP - CAO ĐẲNG

Ban hành kèm theo Quyết định số: 99/QĐ-CĐKTCNQN ngày 14 tháng 3 năm 2018

của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Quy Nhơn

Bình Định, năm 2018

Trang 4

LỜI GIỚI THIỆU

Nguyên lý kế toán là môn trang bị cho người học các kiến thức và khái niệm cơ bản về kế toán làm cơ sở học tập và nghiên cứu các môn học trong chuyên ngành kế toán Dựa theo chương trình môn học Nguyên lý kế toán của trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Quy Nhơn, giáo trình được kết cấu thành7 chương, trong đó tuân thủ những nội dung cơ bản của Luật Kế toán được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17/06/2003 và những sửa đổi của hệ thống kế toán theo các chuẩn mực kế toán mới hiện nay

Trong quá trình biên soạn giáo trình, tác giả đã cố gắng cập nhật thông tin mới đồng thời tham khảo nhiều giáo trình khác, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế nhất định Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà chuyên môn, các anh chị đồng nghiệp và các bạn đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cám ơn

Tác giả

Nguyễn Thị Kim Thoa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC

Tên môn học: Nguyên lý kế toán

Mã môn học: MH 10

Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:

- Vị trí: Nguyên lý kế toán là môn học cơ sở để học các mô đun hạch toán kế toán vốn bằng tiền, các khoản phải thu; mô đun hạch toán kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng

cụ, kế toán tiền lương; ;

- Tính chất: Môn học này khái quát những lý thuyết cơ bản về kế toán trong doanh nghiệp

- Ý nghĩa và vai trò: Cung cấp những kiến thức nền tảng cần thiết, những nguyên tắc

và khái niệm căn bản về kế toán trên phương diện là một khoa học và hiểu biết tổng quát về nghề nghiệp kế toán hiện nay ở Việt Nam, làm cơ sở cho người học có thể tiếp tục nghiên cứu những nội dung sâu hơn về kế toán cũng như tiến hành những nghiên cứu xa hơn về tài chính, kinh tế và quản lý

Mục tiêu của môn học:

+ Đủ khả năng hạch toán kế toán;

+ Thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ được giao, thích nghi với các môi trường làm việc khác nhau;

+ Tuân thủ quy định pháp luật trong lĩnh vực hạch toán kế toán

Nội dung của môn học:

Trang 8

Số TT Tên

chương, mục

Thời gian (giờ)

Trang 9

Tổng

số thuyết Lý Thực hành Kiểm tra

Trang 10

1 Chương 1: Vai trò, chức năng, đối tượng và phương pháp hạch toán kế toán 6 6 0

Trang 11

2 Chương 2: Phương pháp chứng từ kế toán 15 6 9

Trang 12

3 Chương 3: Phương pháp tài khoản kế toán 30 9 20 1

Trang 13

4 Chương 4: Phương pháp tính giá và kế toán các quá trình kinh tế chủ yếu 39 24 14 1

Trang 14

5 Chương 5: Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán 27 15 11 1

Trang 15

6 Chương 6: Sổ kế toán và hình thức kế toán 12 9 3

Trang 16

7 Chương 7: Tổ chức công tác hạch toán kế toán 6 6 0

Trang 17

Cộng 135 75 57 3

Trang 19

CHƯƠNG 1: VAI TRÒ, CHỨC NĂNG, ĐỐI TƯỢNGVÀ PHƯƠNG PHÁP

Mục tiêu:

- Trình bày được khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ và yêu cầu của kế toán

- Xác định được đối tượng của hạch toán kế toán

- Phân loại được toàn bộ tài sản của đơn vị kế toán

- Thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ được giao, tuân thủ đúng quy định của Luật

kế toán

Nội dung chính:

1.1 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hạch toán kế toán

1.1.1 Hạch toán kế toán và tính tất yếu khách quan của hạch toán kế toán

1.1.1.1 Tính tất yếu khách quan của hạch toán kế toán

Hạch toán lúc đầu chỉ đơn thuần là công cụ được con người sử dụng để quản lý tài sản làm ra trong các điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và sự bấp bên của cuộc sống Càng về sau, theo đà phát triển của nền kinh tế xã hội cùng với sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật, hạch toán cũng ngày càng phát triển đa dạng và phong phú cả về nội dung lẫn hình thức Trong đó có một loại hạch toán được xem là phương tiện không thể thiếu được với sự tồn tại và phát triển của tất cả các chủ thể trong một nền kinh tế như: hộ gia đình, tổ chức tài chính trung gian, tổ chức tài chính quốc tế, ngân sách Nhà nước và đặc biệt là các doanh nghiệp, đó chính là Hạch toán kế toán

Hạch toán kế toán thực sự xuất hiện và có dấu hiệu phát triển từ khi có sự hình thành chữ viết và số học sơ cấp mà trước hết là sự phát minh ra hệ đếm thập phân và việc sử dụng rộng rãi chữ số Ả rập đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự ra đời của hạch toán kế toán

Khoảng 2000 năm trước công nguyên người dân Babylonienne đã biết những khái niệm sơ khởi về kế toán như việc ghi chép về trao đổi hàng hoá, cho vay và thiếu nợ hoặc như ở Ai cập cổ đại người ta đã tìm thấy các loại giấy dùng để ghi chép sự tăng giảm tài sản, ta gọi là giấy papirus, còn ở La mã cổ đại thì lại tìm thấy các bảng nhỏ bằng sáp dùng để ghi chép tính toán Qua phân tích so sánh giữa các di vật với các tài liệu kế toán hiện nay, ta có thể dễ dàng nhận thấy đặc điểm của các vật dùng để ghi chép đó lần lượt ảnh hưởng đến các loại sổ sách, chứng từ ngày nay

Vào những năm của thập niên cuối thế kỷ XV (1491 - 1495), một nhà toán học người Ý có tên là Fra Luca Pacioli đã viết nên cuốn sách trình bày các nguyên tắc căn bản về một phương pháp ghi chép các quan hệ kinh tế phát sinh, gọi là ghi kép

Trong thời kỳ nguyên thủy, sản xuất tự cung tự cấp thì hạch toán đã xuất hiện nhưng chưa phải là hạch toán kế toán, việc hạch toán chỉ được thực hiện một cách đơn giản như đánh dấu lên thân cây hay buộc nút dây Trong thời kỳ này hạch toán chỉ là hạch toán bằng hiện vật và được sử dụng phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội

Sang thời kỳ chiếm hữu nô lệ, ý nghĩa của hạch toán đã thay đổi, hạch toán được sử dụng trước hết để theo dõi nô lệ và đất đai, ngoài ra hạch toán còn được sử dụng để theo dõi việc đổi chác tiền, lúc bấy giờ không chỉ hạch toán bằng hiện vật mà

Trang 20

còn hạch toán bằng tiền - sau này gọi là hạch toán kế toán Cũng trong thời kỳ này sổ

kế toán đã xuất hiện

Đến thời kỳ phong kiến, sự phát triển của nông nghiệp đã làm xuất hiện địa tô phong kiến và chế độ cho vay nặng lãi của địa chủ đối với nông dân Chính những bước phát triển này đã làm cho hệ thống sổ sách hạch toán kế toán càng phong phú, chi tiết hơn và hoàn thiện hơn

Sang thời kỳ chủ nghĩa tư bản, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc hơn, dẫn đến quan hệ trao đổi mua bán phát triển mạnh, đồng thời quá trình dịch chuyển tư bản ngày càng gia tăng

và càng làm mở rộng hơn các mối quan hệ kinh tế mới

Sự xuất hiện các quan hệ kinh tế này chính là tiền đề cho khoa học hạch toán kế toán phát triển ở mức độ cao hơn một cách nhanh chóng vượt bậc Đặc trưng tiêu biểu của thời kỳ này đó chính là sự ra đời của hệ thống kế toán kép và sự xuất hiện của hệ thống tài khoản kế toán

Trong chế độ xã hội Xã hội chủ nghĩa, hạch toán kế toán càng trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho các thành viên trong quản lý kinh tế xã hội

Đặc biệt là trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, hạch toán

kế toán đã dần chuyển sang hệ thống xử lý tự động hoá và không ngừng phát triển cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật

Có thể kết luận rằng: Hạch toán kế toán là một khoa học kinh tế ra đời và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội và phục vụ trực tiếp cho nền sản xuất xã hội

1.1.1.2 Khái niệm và bản chất của hạch toán kế toán

* Khái niệm

Hạch toán kế toán là một môn khoa học phản ánh và giám đốc các mặt hoạt động kinh tế - tài chính ở tất cả các đơn vị, các tổ chức kinh tế xã hội Hạch toán kế toán có đối tượng cụ thể là các hoạt động kinh tế, tài chính: sự biến động về tài sản, nguồn vốn, sự chu chuyển của tiền, Để có thể phản ánh các đối tượng này, hạch toán

kế toán sử dụng cả 3 loại thước đo nói trên nhưng chủ yếu và bắt buộc phải sử dụng thước đo giá trị

Theo Luật kế toán Việt Nam 2003: Kế toán là viêc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kin tế tài chính dưới hình thức giá trị hiện vật và thời gian lao động.

Hạch toán kế toán sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu đặc thù: phương pháp chứng từ, phương pháp đối ứng tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán

* Bản chất của hạch toán kế toán

- Kế toán là khoa học và nghệ thuật về việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích

và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị hiện vật và thời gian lao động

- Có thể nhận thấy để theo dõi và đo lường kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, cung cấp thông tin tài chính cần thiết cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin, kế toán thực hiện một quá trình gồm có 3 hoạt động: thu thập, xử lý và cung cấp thông tin

1.1.2 Vai trò của hạch toán kế toán

- Kế toán phục vụ cho các nhà quản lý kinh tế: dựa vào thông tin kế toán, các nhà quản lý định ra các kế hoạch, dự án và kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch, các

dự án đặt ra

Trang 21

- Kế toán phục vụ các nhà đầu tư: căn cứ vào thông tin kế toán, các nhà đầu tư nắm được hiệu quả của một thời kỳ kinh doanh và thực trạng tài chính của doanh nghiệp Từ đó, đề ra các quyết định đầu tư hợp lý; kiểm tra, kiểm soát được tình hình

sử dụng vốn đầu tư của doanh nghiệp

- Kế toán phục vụ Nhà nước: qua kiểm tra, tổng hợp số liệu kế toán, Nhà nước nắm được tình hình chi phí, lợi nhuận của cac đơn vị, từ đó đề ra các chính sách về đầu tư, thuế vụ, hoạch định chính sách, soạn thảo luật lệ thích hợp

1.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của hạch toán kế toán

1.1.3.1 Chức năng

- Chức năng phản ánh (hay còn gọi là chức năng thông tin)

Chức năng phản ánh được biểu hiện ở việc kế toán theo dõi toàn bộ các hiện tượng kinh tế, tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị thông qua việc tính toán, ghi chép, phân loại, xử lý và tổng kết các dữ liệu liên quan đến hoạt động sử dụng vốn và tài sản của đơn vị

- Chức năng giám đốc (Chức năng kiểm tra)

Chức năng giám đốc thể hiện ở việc thông qua số liệu đã được phản ánh, kế toán sẽ nắm được một cách có hệ thống toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động của đơn vị làm cơ sở cho việc đánh giá đúng đắn và kiểm soát chặt chẽ tình hình chấp hành luật pháp của các đơn vị trong công tác quản lý kế toán - tài chính Chức năng này nhằm giúp cho hoạt động của đơn vị ngày càng đạt hiệu quả cao hơn

Mối liên hệ giữa các chức năng: Chức năng phản ánh là đối tượng của chức năng giám đốc, chức năng giám đốc là công cụ đôn đốc chức năng phản ánh được chính xác, rõ ràng và đầy đủ hơn

1.1.3.2 Nhiệm vụ

Theo điều 5 Luật kế toán, nhiệm vụ của kế toán như sau:

- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc

kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán

- Kiểm tra giám sát các khoản thu chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán

- Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán

- Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật

1.1.4 Phân loại hạch toán kế toán

1.1.4.1 Căn cứ vào đối tượng sử dụng thông tin của kế toán

Với vai trò là cung cấp thông tin kinh tế tài chính và đặc điểm của thông tin là cung cấp cho các đối tượng khác nhau, do đó kế toán ngày nay được phân biệt thành

kế toán tài chính và kế toán quản trị

Giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị có điểm giống và khác nhau:

* Khác nhau:

Trang 22

Tiêu thức

phân biệt

Kế toán quản trị Kế toán tài chính

Trang 23

Mục tiêu

Phục vụ cho nhà quản trị bên trong doanh nghiệp Phục vụ cho các thành phần bên ngoài doanh nghiệp

Trang 24

Đặc điểm

thông tin

Nhanh, linh hoạt, chủ yếu hướng về tương lai và được biểu diễn dưới hình thái tiền tệ

và hiện vật

Tuân thủ các nguyên tắc kế toán, phản ánh cả quá khứ và được biểu diễn dưới hình thái tiền tệ

Trang 25

Cung cấp thông tin tổng quát toàn doanh nghiệp

Trang 26

Kỳ báo cáo

Báo cáo thường xuyên, kịp thời Báo cáo định kỳ: tháng, quý,

năm

Trang 27

Tính pháp lý

của thông tin

Không có tính pháp lệnh, chỉ có hiệu lực trong nội bộ doanh nghiệp

Có tính pháp lệnh, việc lập báo cáo phải tuân thủ theo những nguyên tắc chung nhằm đảm bảo cho sự tin cậy của những người nhận báo cáo

Trang 28

1.1.4.2 Căn cứ vào mức độ khái quát thông tin do kế toán cung cấp

- Kế toán tổng hợp: Là loại hạch toán mà thông tin về các hoạt động kinh tế - tài chính được hạch toán kế toán thu nhận, xử lý ở dạng tổng quát và được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ

- Kế toán chi tiết: Là loại hạch toán kế toán mà thông tin về các hoạt động kinh

tế - tài chính được hạch toán kế toán thu nhận, xử lý ở dạng chi tiết, cụ thể và được biểu hiện không những dưới hình thái tiền tệ mà cả dưới hình thái hiện vật, hình thái lao động

1.1.4.3 Căn cứ vào cách ghi chép và thu nhận thông tin

- Kế toán đơn: Là loại hạch toán kế toán mà cách ghi chép thu nhận thông tin về các hoạt động kinh tế - tài chính được tiến hành một cách riêng biệt, độc lập

- Kế toán kép: Là loại hạch toán kế toán mà cách ghi chép, thu nhận thông tin

về các hoạt động kinh tế - tài chính được tiến hành trong mối quan hệ mật thiết với nhau

1.1.4.4 Căn cứ vào đặc điểm và mục đích hoạt động

- Kế toán công: Là loại hạch toán kế toán được tiến hành ở các đơn vị hoạt động không có tính chất kinh doanh Mục tiêu chính của các đơn vị này là hoạt động phục

vụ cộng đồng, vì sự an sinh và phát triển chung của xã hội

- Kế toán doanh nghiệp: Là loại hạch toán kế toán được tiến hành ở các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu chính là kinh doanh sinh lời Tuy nhiên, loại hạch toán

kế toán này cũng được tiến hành ở một số doanh nghiệp hoạt động không vì mục đích sinh lời mà chủ yếu là hoạt động phục vụ cộng đồng

1.2 Một số khái niệm và nguyên tắc kế toán

1.2.1 Các khái niệm

1.2.1.1 Đơn vị kế toán

Đơn vị kế toán còn được gọi là tổ chức kế toán, là nơi diễn ra các hoạt động kiểm soát tài sản và tiến hành các công việc, các nghiệp vụ sản xuất, kinh doanh Các đơn vị này là nơi cần phải thực hiện việc ghi chép, thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin, tổng hợp và lập báo cáo cho doanh nghiệp, tổ chức

- Đơn vị kế toán có thể là các loại hình doanh nghiệp, cũng có thể là các đơn vị hành chính sự nghiệp, cơ quan của chính quyền, chính phủ…

- Cần có sự độc lập về mặt kế toán, tài chính giữa một đơn vị kế toán với chủ sở hữu của nó và với các đơn vị kế toán khác

- Đơn vị kế toán phải lập báo cáo kế toán theo quy định

1.2.1.2 Thước đo tiền tệ

Thước đo tiền tệ là đặc trưng cơ bản của kế toán Tất cả các đối tượng, các quá trình hoạt động cũng như các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải phản ánh thông qua thước đo tiền tệ và cũng chỉ có thước đo tiền tệ mới cho phép xác định được những chỉ tiêu tổng hợp phục vụ cho việc so sánh, đánh giá Đơn vị tiền tệ sử dụng là đồng tiền của quốc gia mà đơn vị đang hoạt động và giả định rằng đó là đồng tiền cố định (không có những biến động lớn do lạm phát gây ra)

1.2.1.3 Kỳ kế toán

Kỳ kế toán là độ dài của một khoảng thời gian được quy định (tháng, quý, năm)

mà vào thời điểm cuối kỳ, kế toán phải lập báo cáo tài chính phản ánh tình hình và kết quả hoạt động, tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu so sánh, tổng hợp, kiểm tra và đánh giá của các đối tượng khác nhau

Kỳ kế toán thường được xác định theo năm dương lịch, bắt đầu từ 01/01 đến ngày 31/12 của một năm

Trang 29

1.2.2 Các nguyên tắc kế toán

Các nguyên tắc kế toán được quy định trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam - chuẩn mực số 01 được xác định là cơ sở pháp lý trong việc tổ chức và thực hiện kế toán cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước Các nguyên tắc này bao gồm:

* Nguyên tắc cơ sở dồn tích

Nguyên tắc này yêu cầu mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu, thực tế chi hoặc tương đương tiền

* Nguyên tắc hoạt động liên tục của đơn vị kế toán

Theo nguyên tắc này, các doanh nghiệp hoạt động liên tục, vô thời hạn hoặc không bị giải thể là điều kiện cơ bản để có thể áp dụng các nguyên tắc, chính sách kế toán Khi một đơn vị kế toán còn tồn tại dấu hiệu hoạt động liên tục thì giá trị tài sản của đơn vị được ghi theo giá gốc, tuy nhiên khi không còn tồn tại dấu hiệu hoạt động liên tục thì giá thị trường là căn cứ quan trọng để xác định giá trị tài sản của đơn vị kế toán

* Nguyên tắc về thước đo giá trị thống nhất

Sử dụng thước đo giá trị (thước đo tiền tệ) làm đơn vị thống nhất trong ghi chép

và tính toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, nói cách khác, kế toán chỉ phản ánh những biến động có thể biểu hiện bằng tiền Theo nguyên tắc này, tiền tệ được sử dụng như một thước đo cơ bản và thống nhất trong tất cả các báo cáo tài chính

Các nghiệp vụ kinh tế cần được ghi chép, phản ánh bằng một đơn vị tiền tệ thống nhất (đồng tiền kế toán), trường hợp nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến đồng tiền khác, cần quy đổi về đơn vị tiền tệ thống nhất để ghi sổ theo phương pháp thích hợp

* Nguyên tắc kỳ kế toán

Báo cáo tài chính phải được lập theo từng khoảng thời gian nhất định gọi là kỳ

kế toán Kỳ kế toán có thể là tháng, quý, năm Nguyên tắc này xuất phát từ đòi hỏi của người ra quyết định quản lý và những người sử dụng báo cáo tài chính là cần có sự đánh giá thường kỳ về tình hình hoạt động của đơn vị

Kỳ kế toán năm được gọi là một niên độ kế toán Ngày bắt đầu và kết thúc niên

độ kế toán do chế độ kế toán từng quốc gia quy định cụ thể

* Nguyên tắc doanh thu thực hiện

Doanh thu phải được xác định bằng số tiền thực tế thu được và được ghi nhận khi quyền sở hữu hàng hoá bán ra được chuyển giao và khi các dịch vụ được thực hiện

* Nguyên tắc phù hợp

Tất cả các chi phí phát sinh để tạo ra doanh thu ở kỳ nào cũng phải phù hợp với doanh thu được ghi nhận của kỳ đó và ngược lại Sự phù hợp được xem xét trên hai khía cạnh là thời gian và quy mô

* Nguyên tắc nhất quán

Trang 30

Trong quá trình kế toán, các chính sách kế toán, khái niệm, nguyên tắc, chuẩn mực và các phương pháp tính toán phải được thực hiện trên cơ sở nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác.

* Nguyên tắc công khai

Tất cả tư liệu liên quan đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị

kế toán phải được thông báo đầy đủ cho người sử dụng

* Nguyên tắc thận trọng

Thông tin kế toán được cung cấp cho người sử dụng cần đảm bảo sự thận trọng thích đáng để người sử dụng không hiểu sai hoặc không đánh giá quá lạc quan về tình hình tài chính của đơn vị Do đó, kế toán:

- Chỉ ghi tăng nguồn vốn chủ sở hữu khi có chứng cứ chắc chắn (đã xảy ra)

- Ghi giảm nguồn vốn sở hữu khi có chứng cứ có thể (sẽ xảy ra)

- Cần lập dự phòng cho một số trường hợp nhất định nhưng không được quá cao

* Nguyên tắc trọng yếu

- Thông tin kế toán mang tính trọng yếu là những thông tin có ảnh hưởng đáng

kể tới bản chất của nghiệp vụ hoặc ảnh hưởng tới những đánh giá của đối tượng sử dụng về tình hình tài chính của đơn vị, hoặc ảnh hưởng đến đối tượng sử dụng về tình hình tài chính của đơn vị, hoặc ảnh hưởng tới đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định

- Chỉ chú trọng những vấn đề mang tính trọng yếu, quyết định bản chất và nội dung của sự vật, không quan tâm tới những yếu tố ít tác dụng trong báo cáo tài chính

1.3 Đối tượng của hạch toán kế toán

Kế toán cũng nghiên cứu quá trình tái sản xuất nhưng thông qua nghiên cứu tài sản, nguồn hình thành tài sản (nguồn vốn), sự tuần hoàn của vốn qua các quá trình hoạt động và các mối quan hệ kinh tế - pháp lý phát sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của một đơn vị kế toán

1.3.1 Đối tượng chung của hạch toán kế toán

Các đơn vị để tiến hành hoạt động được cần phải có một lượng tài sản nhất định Trong quá trình hoạt động, lượng tài sản đó luôn biến động Trong khi đó hạch toán kế toán là công cụ phục vụ cho việc điều hành và quản lý hoạt động kinh tế - tài chính Để quản lý chặt chẽ các tài sản trong đơn vị kế toán cần phải phản ánh, kiểm tra

và cung cấp thông tin về tình hình hiện có và sự vận động của nó trong quá trình hoạt động của đơn vị

Trong quá trình hoạt động, tài sản của đơn vị luôn luôn biến đổi và chuyển hóa

từ hình thái này sang hình thái khác Do đó, kế toán cần phải thu nhận và cung cấp thông tin về quá trình biến đổi và chuyển hóa tài sản của đơn vị Bởi vậy, đối tượng của hạch toán kế toán còn biểu hiện một cách cụ thể hơn về quá trình biến đổi tài sản chính là quá tình hoạt động kinh doanh của đơn vị

Như vậy, tài sản và sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động của các đơn vị là đối tượng nghiên cứu chung của hạch toán kế toán

1.3.2 Đối tượng cụ thể của hạch toán kế toán trong các đơn vị

1.3.2.1 Tài sản

Tài sản trong đơn vị có nhiều loại khác nhau và được hình thành từ các nguồn khác nhau Các loại vốn kinh doanh, nguồn vốn kinh doanh là hai mặt biểu hiện khác nhau của cùng một lượng tài sản Một lượng vốn kinh doanh của đơn vị sản xuất là đối tượng cụ thể của hạch toán kế toán trong đơn vị sản xuất

*Tài sản

Trang 31

Gồm có 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn

- Tài sản ngắn hạn: là những tài sản có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trong 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh Được thể hiện dưới các hình thái:

+ Vốn bằng tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: là trị giá các loại tiền như: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các loại chứng khoán ngắn hạn

+ Vốn trong thanh toán (nợ phải thu): là trị giá tài sản của đơn vị nằm trong quá trình thanh toán như: khoản thu khách hàng, tạm ứng cho công nhân viên, khoản phải thu khác

+ Vốn dự trữ sản xuất kinh doanh: là trị giá tài sản của đơn vị đang trong quá trình dự trữ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn như trị giá các loại nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm

- Tài sản dài hạn: là biểu hiện bằng tiền (trị giá) của toàn bộ những tài sản của doanh nghiệp có thời gian luân chuyển dài, thường là trên 1 năm, gồm: tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính dài hạn

Căn cứ vào hình thái biểu hiện và tính chất đầu tư, tài sản cố định được chia làm 3 loại:

* Nguồn vốn kinh doanh

Trong đơn vị sản xuất kinh doanh các nguồn vốn kinh doanh bao gồm: các khoản nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu

- Các khoản nợ phải trả: là nguồn vốn huy động và khai thác bằng hình thức đi vay và được sử dụng trong một thời gian nhất định để hỗ trợ cho vốn chủ sở hữu trong quá trình hoạt động kinh doanh, hết thời gian phải hoàn trả

Các khoản nợ phải trả bao gồm:

+ Nợ ngắn hạn: là khoản nợ mà đơn vị có trách nhiệm phải thanh toán trong thời hạn một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh

+ Nợ dài hạn: là khoản nợ mà đơn vị có trách nhiệm phải thanh toán trong thời hạn trên một năm

- Nguồn vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của đơn vị, được sử dụng thường xuyên, lâu dài, không phải cam kết thanh toán Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm:

+ Nguồn vốn kinh doanh

+ Lợi nhuận chưa phân phối

Trang 32

- Giai đoạn sản xuất: đơn vị sử dụng các loại nguyên liệu – vật liệu, tài sản ngắn hạn và sức lao dộng để tạo ra sản phẩm theo mục đích đã định.

- Giai đoạn bán hàng: đơn vị xuất kho thành phẩm, hàng hóa bán cho khách hàng để thu về một lượng tiền tương ứng Tài sản của đơn vị chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ

Quá trình trên được lặp đi lặp lại không ngừng gây nên sự vận động của tài sản làm phát sinh các khoản chi phí, các khoản thu nhập, kết quả kinh doanh Vì vậy, cần thiết phải nắm bắt thông tin kịp thời, đầy đủ về quá trình vận động của tài sản Đây chính là một phần công việc của hạch toán kế toán hay quá trình vận động của tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị là đối tượng của hạch toán

1.4 Phương pháp hạch toán kế toán

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, hạch toán kế toán sử dụng các phương pháp khoa học như sau:

Phương pháp chứng từ kế toán nhằm sao chụp nguyên tình trạng và sự vận động của các đối kế toán, được sử dụng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và thực sự hoàn thành theo thời gian, địa điểm phát sinh vào các bản chứng

từ kế toán

Hệ thống chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý cho việc bảo vệ tài sản và xác minh tính hợp pháp trong việc giải quyết các mối quan hệ kinh tế pháp lý thuộc đối tượng hạch toán kế toán, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh

1.4.2 Phương pháp tài khoản kế toán

- Phương pháp tài khoản: là một trong các phương pháp hạch toán kế toán nhằm thông tin và kiểm tra về trạng thái, về sự vận động và mối liên hệ giữa các đối tượng hạch toán kế toán theo từng loại tài sản, nguồn vốn cũng như từng quá trình kinh doanh

Nếu như phương pháp chứng từ cung cấp thông tin về từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh gây ra sự biến động về tài sản và nguồn vốn, các thông tin mang tính phân tán không có hệ thống thì để thu nhập thông tin tổng hợp về tình hình và sự biến động của từng đối tượng kế toán, kế toán sử dụng phương pháp tài khoản kế toán

1.4.3 Phương pháp tính giá

Tính giá là phương pháp thông tin và kiểm tra về chi phí trực tiếp và gián tiếp cho từng loại hoạt động, từng loại tài sản như: tài sản cố định, hàng hoá, vật tư, sản phẩm và lao vụ…

Trang 33

Phương pháp tính giá sử dụng thước đo tiền tệ để tính toán, xác định giá trị của từng loại tài sản của đơn vị thông qua việc mua vào, nhận góp vốn, được cấp, được tài trợ hoặc sản xuất ra theo những nguyên tắc nhất định.

1.4.4 Phương pháp tổng hợp – cân đối kế toán

Tổng hợp và cân đối kế toán là phương pháp khái quát tình hình tài sản, nguồn vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn là sử dụng phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán Nhưng chỉ có thể tổng hợp và cân đối các loại tài sản của doanh nghiệp trên cơ sở theo dõi chặt chẽ sự hình thành và vận động biến đổi của các loại tài sản qua các giai đoạn sản xuất kinh doanh Việc ghi chép vào các tài khoản kế toán bắt buộc phải dùng đơn vị đo lường là tiền tệ do đó cần phải tính giá các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh

Muốn tính giá và ghi chép vào các tài khoản có liên quan một cách chính xác thì phải có những thông tin chính xác về từng hoạt động kinh tế cụ thể của đơn vị tức

là phải có những chứng từ hợp lệ phản ánh nguyên vẹn nghiệp vụ kinh tế phát sinh và

có đầy đủ cơ sở pháp lý để làm căn cứ ghi sổ kế toán Nhưng nếu chỉ dựa vào chứng từ thì không thể phản ánh hết sự biến đổi của tài sản Trong thực tế có những hiện tượng không thống nhất giữa hiện vật với chứng từ, sổ sách do điều kiện khách quan gây ra như: đường dôi thừa do ẩm ướt, xăng dầu bị hao hụt do bốc hơi Để khắc phục tình trạng trên kế toán phải tiến hành kiểm kê để kiểm tra số lượng và tình hình cụ thể của hiện vật, đối chiếu giữa sổ sách với thực tế trong từng thời điểm có khớp đúng với nhau hay không Nếu không khớp đúng thì lập biên bản và căn cứ vào biên bản (cũng

là chứng từ) mà điều chỉnh lại sổ sách kế toán cho khớp với thực tế Bảo đảm cho các

số liệu của kế toán phản ánh chính xác và trung thực về các loại tài sản của doanh nghiệp

Các phương pháp kế toán trên có mối liên hệ với nhau, phương pháp này làm tiền đề cho phương pháp kia

ÔN TẬP CHƯƠNG 1

Câu 1:Hãy trình bày sơ lược về sự phát triển của kế toán và những điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của kế toán?

Câu 2: Kế toán là gì?

Câu 3: Đối tượng nào có nhu cầu sử dụng thông tin kế toán?

Câu 4: Kế toán tài chính và kế toán quản trị có điểm gì giống và khác nhau?Câu 5: Nguyên tắc kế toán là gì? Những nguyên tắc kế toán chung nào được thừa nhận?

Câu 6: Đối tượng của kế toán là gì? Đối tượng kế toán có những đặc điểm nào? Câu 7:Tiêu chí nào để ghi nhận tài sản trong đơn vị kế toán? Tài sản ngắn hạn

và Tài sản dài hạncó điểm nào giống và khác nhau?

Câu 8: Hãy phân biệt Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả?

Câu 9: Phương pháp kế toán là gì? Hãy trình bày hệ thống 4 phương pháp kế toán và mối quan hệ giữa chúng?

Trang 34

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP CHỨNG TỪ KẾ TOÁN

vụ kinh tế đã phát sinh, kế toán sẽ sử dụng phương pháp chứng từ

- Vận dụng đúng trình tự luân chuyển chứng từ kế toán

- Phân loại được các loại chứng từ kế toán, các loại kiểm kê

- Thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ được giao, tuân thủ đúng quy định của Luật kế toán

- Hệ thống bản chứng từ

- Quy trình luân chuyển chứng từ

Bản chứng từ kế toán chứa đựng thông tin (vật mang tin) về hoạt động kinh tế tài chính, nó chứng minh cho các hoạt động kinh tế tài chính phát sinh và thực sự hoàn thành

Quy trình luân chuyển chứng từ kế toán là đường đi của chứng từ kế toán được xác định trước đến các bộ phận chức năng, các cá nhân có liên quan, thực hiện chức năng truyền thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính phản ánh trong chứng từ kế toán

2.1.2 Ý nghĩa

- Đây là phương pháp đầu tiên và quan trọng trong hệ thống các phương pháp

- Thông qua phương pháp chứng từ kế toán sẽ thu nhận được thông tin một cách kịp thờinhanh chóng phục vụ cho quản lý, điều hành từng nghiệp vụ một cách có hiệu quả

- Thông qua phương pháp chứng từ kế toán cung cấp số liệu để ghi sổ kế toán

và thôngkinh tế

- Thông qua phương pháp chứng từ kế toán thực hiện chức năng kiểm tra được tính hợppháp hợp lý của nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thông qua đó góp phần phát hiện những hành vitham ô, lãng phí, những vi phạm chếđộ thể lệ quản lý kinh tế tài chính

Trang 35

2.2.1.1 Khái niệm chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán là chứng minh bằng giấy tờ về nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và thực sự hoàn thành, làm cơ sở ghi sổ kế toán Mọi số liệu, thông tin ghi trong sổ kế toán bắt buộc phải được chứng minh bằng những chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lệ

Như vậy thực chất của chứng từ kế toán là những loại giấy tờ đã in sẵn (hoặc chưa in sẵn) theo mẫu quy định, được sử dụng để ghi chép những nội dung vốn có của các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã thực sự hoàn thành trong quá trình hoạt động của đơn vị, gây ra sự biến động đối với các loại tài sản, các loại nguồn vốn cũng như các đối tượng kế toán khác

Chứng từ kế toán phải lập theo đúng quy định trong chế độ hiện hành và phải ghi chép rõ ràng, đầy đủ, chính xác, kịp thời đúng với sự thực nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh

- Là căn cứ pháp lý để kiểm tra việc chấp hành các chính sách chế độ và quản

lý kinh tế, tài chính tại đơn vị, kiểm tra tình hình về bảo quản và sử dụng tài sản, phát hiện và ngăn ngừa, có biện pháp xử lý mọi hiện tượng tham ô, lãng phí tài sản của đơn

vị, của Nhà nước

- Là bằng chứng để kiểm tra kế toán, bằng chứng để giải quyết các vụ kiện tụng, tranh chấp về kinh tế, kiểm tra kinh tế, kiểm toán trong đơn vị

2.2.1.3 Phân loại chứng từ kế toán

* Phân loại theo công dụng của chứng từ

Theo cách phân loại này ta có các loại chứng từ: chứng từ mệnhlệnh; chứng từ chấp hành; chứng từ thủ tục kế toán và chứng từ liênhợp

- Chứng từ mệnh lệnh: Là loại chứng từ dùng để truyền đạt nhữngmệnh lệnh hay chỉ thị của người lãnh đạo cho các bộ phận cấp dưới thihành như: Lệnh chi tiền mặt; lệnh xuất kho vật tư Loại chứng từ này chỉ mới chứng minh nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhưng chưa nói tớimức độ hoàn thành của nghiệp vụ, do đó chưa đủ điều kiện ghi chépthanh toán vào sổ sách kế toán

- Chứng từ chấp hành: Là những chứng từ chứng minh cho mộtnghiệp vụ kinh

tế nào đó đã thực sự hoàn thành như: phiếu thu tiềnmặt, phiếu chi tiền mặt, phiếu xuất kho Chứng từ chấp hành cùngvới chứng từ mệnh lệnh có đủ điều kiện được dùng làm căn cứ ghi sổkế toán

- Chứng từ thủ tục: Là những chứng từ tổng hợp, phân loại cácnghiệp vụ kinh tế

có liên quan theo những đối tượng cụ thể nhất địnhcủa kế toán, để thuận lợi trong việc ghi sổ và đối chiếu các loại tàiliệu Đây chỉ là chứng từ trung gian, phải kèm theo chứng từ ban đầumới đầy đủ cơ sở pháp lý chứng minh tính hợp pháp của nghiệp vụ

- Chứng từ liên hợp: Là loại chứng từ mang đặc điểm của 2 hoặc3 loại chứng từ nói trên như: Hóa đơn kiêm phiếu xuất kho phiếu xuấtvật tư theo hạn mức

Trang 36

* Phân loại theo trình tự lập chứng từ

- Chứng từ ban đầu (còn gọi là chứng từ gốc): Là những chứng từđược lập trực tiếp khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh hay vừa hoàn thành.Chứng từ ban đầu gồm tất cả các loại hóa đơn, phiếu xuất nhập vật tư,lệnh thu chi tiền mặt

* Phân loại theo phương thức lập chứng từ

Theo cách phân loại này, ta có các loại chứng từ: chứng từ một lầnvà chứng từ nhiều lần

- Chứng từ một lần: Là loại chứng từ mà việc ghi chép nghiệp vụkinh tế phát sinh chỉ tiến hành một lần, sau đó được chuyển vào ghi sổkế toán

- Chứng từ nhiều lần: Là loại chứng từ ghi một loại nghiệp vụkinh tế tiếp diễn nhiều lần Sau mỗi lần ghi các con số được cộng dồntới một giới hạn đã được xác định trước được chuyển vào ghi vào sổkế toán

* Phân loại theo địa điểm lập chứng từ

- Chứng từ bên trong còn gọi là chứng từ nội bộ là những chứngtừ được lập ra trong nội bộ đơn vị kế toán và chỉ liên quan đến cácnghiệp vụ kinh tế giải quyết những quan hệ trong nội bộ đơn vị như:Bảng tính khấu hao tài sản cố định, biên bản kiểm kê nội bộ

- Chứng từ bên ngoài : Là những chứng từ về các nghiệp vụ cóliên quan đến đơn vị kế toán nhưng được lập ra từ các đơn vị khácnhư: Hóa đơn bán hàng, hóa đơn : của các đơn vị cung cấp dịch vụ

* Phân loại theo nội dung các nghiệp vụ kinh tế phản ánhtrong chứng từ

- Chỉ tiêu lao động và tiền lương

- Chỉ tiêu hàng tồn kho

- Chỉ tiêu bán hàng

- Chỉ tiêu tiền tệ

- Chỉ tiêu tài sản cố định

* Phân loại theo tính cấp bách của thông tin trong chứng từ

- Chứng từ bình thường: Là những chứng từ mà thông tin trong đómang tính chất bình thường, được quy định chung đối với các nghiệpvụ kinh tế phù hợp với hoạt động của đơn vị

- Chứng từ báo động: Là những chứng từ chứa đựng những thôngtin thể hiện mức độ diễn biến không bình thường của các nghiệp vụkinh tế như: sử dụng vật tư đã vượt định mức, những chứng từ về mấttrộm, mất cắp

* Phân loại theo dạng thể hiện dữ liệu và lưu trữ thông tin của chứng từ

- Chứng từ thông thường: là chứng từ được thể hiện dưới dạnggiấy tờ để chứng minh nghiệp vụ kinh tế phát sinh và đã thực sự hoànthành mà không phải thể hiện qua dạng dữ liệu điện tử

- Chứng từ điện tử là chứng từ được thể hiện dưới dạng dữ liệuđiện tử, được

mã hoá mà không bị thay đổi trong quá trình truyền quamạng máy tính hoặc trên vật mang tin như: bảng từ, đĩa từ, các loạithẻ thanh toán

Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, hệ thống biểu mẫu chứng từ kế toán gồm 5 loại chứng từ kế toán được ban hành tại phụ lục 3 của Thông tư này, tất cả những chứng từ này đều thuộc loại hướng dẫn Doanh nghiệp được chủ động xây dựng, thiết

kế biểu mẫu chứng từ kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của mình nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu của Luật kế toán và đảm bảo nguyên tắc

rõ ràng, minh bạch, kịp thời, dễ kiểm tra, kiểm soát và đối chiếu

Trường hợp không tự xây dựng và thiết kế biểu mẫu chứng từ cho riêng mình, doanh nghiệp có thể áp dụng hệ thống biểu mẫu và hướng dẫn nội dung ghi chép

Trang 37

chứng từ kế toán theo hướng dẫn Phụ lục 3 Thông tư 200.

Các doanh nghiệp có các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đặc thù thuộc đối tượng điều chỉnh của các văn bản pháp luật khác thì áp dụng theo quy định về chứng từ tại các văn bản đó

DANH MỤC VÀ BIỂU MẪU CHỨNG TỪ KẾ TOÁN

(Ban hành kèm theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ

Tài chính)

BB (*)

HD (*)

A CHỨNG

TOÁN BAN HÀNH THEO QUYẾT

ĐỊNH NÀY

I Lao động tiền lương

6 Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc

hoàn thành

10 Biên bản thanh lý (nghiệm thu) hợp đồng

giao khoán

11 Bảng kê trích nộp các khoản theo lương 10-LĐTL x

12 Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội 11-LĐTL x

II Hàng tồn kho

3 Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản

5 Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm,

Trang 38

1 Phiếu thu 01-TT x

9 Bảng kiểm kê quỹ (dùng cho ngoại tệ, vàng

B CHỨNG TỪ BAN HÀNH THEO CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHÁC

2 Danh sách người nghỉ hưởng trợ cấp ốm

đau, thai sản

x

4 Hoá đơn bán hàng thông thường 02GTGT-3LL x

5 Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ 03 PXK-3LL x

6 Phiếu xuất kho hàng gửi đại lý 04 HDL-3LL x

7 Hoá đơn dịch vụ cho thuê tài chính 05 TTC-LL x

8 Bảng kê thu mua hàng hoá mua vào không

9

Ghi chú: (*) BB: Mẫu bắt buộc

(*) HD: Mẫu hướng dẫn

2.2.1.4 Các yếu tố cơ bản của chứng từ

Căn cứ vào điều 16 của Luật kế toán năm 2015, chứng từ kế toán phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

* Tên và số hiệu chứng từ kế toán

- Tên chứng từ là một cụm từ thường thể hiện nội dung khái quát của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh

Ví dụ:Chứng từ "Hoá đơn bán hàng": nội dung khái quát của nghiệp vụ chứng

minh một nghiệp vụ bán hàng đã phát sinh, không phải là một nghiệp vụ thu chi tiền tệ

- Số hiệu chứng từ thực chất là số thứ tự chứng từ Việc thiết kế số hiệu chứng

từ phải tuân theo những quy định cụ thể đối với từng ngành nghề, từng lĩnh vực hoạt động của đơn vị và từng loại nghiệp vụ kinh tế, tài chính phản ánh trên chứng từ

Trang 39

* Ngày, tháng, năm lập chứng từ kế toán

Ngày, tháng, năm lập chứng từ là các yếu tố xác định về thời gian, thứ tự nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh, đây cũng là một yếu tố quan trọng phục vụ cho việc quản lý chứng từ và thanh tra tài chính

Ngoài ra, ngày tháng năm trên chứng từ còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong các vụ tranh chấp pháp lý, các vụ án đang xét xử

* Tên, địa chỉ của các bên lập và nhận chứng từ kế toán

Các bên lập và nhận chứng từ kế toán có thể là một doanh nghiệp, một cơ quan, một tổ chức hoặc một cá nhân

Yếu tố này làm cơ sở cho việc xác định trách nhiệm vật chất đối với nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh Đồng thời là cơ sở cho việc xác minh, đối chiếu và kiểm tra về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính khi có tranh chấp xảy ra

* Nội dung kinh tế của chứng từ kế toán

Đây là một trong những yếu tố cơ bản nhất của chứng từ Nội dung kinh tế của chứng từ chính là nội dung của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh, nó có tác dụng giải thích rõ hơn về ý nghĩa kinh tế của nghiệp vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, thanh tra tính hợp lý của chứng từ

Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính trên chứng từ phải được diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng bằng chữ viết quy định thống nhất theo Luật kế toán và các quy định liên quan

Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính không được viết tắt, không được tẩy xóa, sửa chữa Các thuật ngữ được sử dụng trong nội dung chứng từ phải đảm bảo thông dụng và dễ hiểu

* Chỉ tiêu số lượng, đơn giá, số tiền và đơn vị tính

Yếu tố này trước tiên có tác dụng phân biệt ranh giới giữa chứng từ kế toán với các chứng từ khác sử dụng trong các lĩnh vực thanh tra, trong hành chính hoặc lĩnh vực kỹ thuật

Chỉ tiêu số lượng và giá trị là yếu tố cơ sở để hạch toán kế toán và cũng là cơ sở hay đối tượng của công tác thanh tra, kiểm tra.Trong một số trường hợp, chỉ tiêu giá trị, số lượng được biểu hiện cả băng chữ và bằng số có kèm theo đơn vị tính

Đơn vị tính sử dụng trong kế toán phải đúng theo quy định của Nhà nước, chẳng hạn ở nước ta quy định:

- Đơn vị tiền tệ là đồng Việt Nam, ký hiệu quốc gia là “ đ”, ký hiệu quốc tế là

“VND” Trong trường hợp nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh là ngoại tệ, phải ghi theo nguyên tệ và đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái thực tế hoặc quy đổi theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố

- Đơn vị hiện vật và đơn vị thời gian lao động là các đơn vị đo lường được quy định chính thức của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Xem xét về số lượng và giá trị phản ánh trên chứng từ, kế toán có thể phát hiện tính bất hợp lý của nghiệp vụ kinh tế, tài chính hoặc của chứng từ

* Chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quan đến chứng từ kế toán

Yếu tố này nhằm đảm bảo tính pháp lý và gắn liền trách nhiệm vật chất trong từng nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh

Mỗi nghiệp vụ kinh tế, tài chính thường gắn liền với việc thay đổi trách nhiệm vật chất của đối tượng này sang đối tượng khác, của bộ phận này sang bộ phận khác,

do đó chứng từ kế toán phải có ít nhất hai chữ ký của các bên liên quan

Những chứng từ kế toán thể hiện mối quan hệ giữa các pháp nhân kinh tế với

Trang 40

nhau nhất thiết phải có chữ ký của người quản lý có thẩm quyền Ví dụ: chủ tài khoản,

kế toán trưởng

Chú ý: Ngoài những nội dung chủ yếu của chứng từ kế toán quy định ở trên, chứng từ kế toán có thể có thêm những nội dung khác theo từng loại chứng từ Những chứng từ dùng làm căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán phải có thêm chỉ tiêu định khoản

Ví dụ:Ngày 25/5/2018, Công ty A, địa chỉ 22 Trần Hưng Đạo, Quy Nhơn, Bình

Định chi tiền mặt cho ông Nguyễn Văn Minh phòng hành chính mua văn phòng phẩm với giá có cả thuế GTGT 10% là 1.100.000 đồng, thanh toán bằng tiền mặt, kế toán tiến hành lập Phiếu chi

Hướng dẫn thực hiện:

Bước 1: Xác định nội dung nghiệp vụ chứng từ liên quan

Chi mua văn phòng phẩm với số tiền 1.100.000 đồng (đã bao gồm thuế GTGT 10%)

- Bước 2: Xác định chứng từ cần lập: Phiếu chi

- Bước 3: Lập chứng từ

Địa chỉ: 22 Trần Hưng Đạo, Quy Nhơn,

Bình Định (Ban hành theo Thông tư số: 200/2014/TT-BTC

ngày 22/12/2014 của BTC)

PHIẾU CHI Quyển số: 06

Ngày 25 tháng 5 năm 2018 Số: 123

Nợ: 642, 133Có: 111

Họ và tên người nhận tiền: Nguyễn Văn Minh

Địa chỉ: phòng Hành chính

Lý do chi: Chi mua văn phòng phẩm

Số tiền: 1.100.000 đồng (Viết bằng chữ): Một triệu một trăm nghìn đồng

Kèm theo: 01 Chứng từ gốc:

Ngày .tháng .năm

(Ký, họ tên, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ

tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

Đã nhận đủ số tiền (viết bằng chữ) :

+ Tỷ giá ngoại tệ (vàng bạc, đá quý):

+ Số tiền quy đổi:

Ngày đăng: 28/06/2023, 21:11

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm