1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dien cong nghiep 07 mh07 gt an toan lao dong sua lai docx 5372

89 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điện Công Nghiệp 07 Mh07 Gt An Toàn Lao Động Sửa Lại
Trường học Trường Cao Đẳng Nghề Điện Bình Định
Chuyên ngành An Toàn Lao Động
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2017
Thành phố Bình Định
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vị trí môn học - An toàn lao động là môn học không thể thiếu được của người làm việc ởxưởng, ở công trường giúp họ xử lí các hiện tượng bình thường nhưng lại gây ra cácnguy hiểm hàng ngà

Trang 2

được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo vàtham khảo.

Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinhdoanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm

Trang 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG 3

1.2 Vị trí, mục đích, ý nghĩa, tính chất, yêu cầu của môn học 4

1.3 Những nguyên nhân gây ra tai nạn lao động 61.3.1 Giới thiệu một số trường hợp tai nạn lao động: 6

1.4 Thực trạng công tác BHLĐ ở nước ta hiện nay 7

2.4.2 Các quy định về an toàn khi làm việc trên cao 23

3.2 Các nguyên nhân gây cháy, nổ và biện pháp đề phòng 313.3 Các biện pháp và các phương tiện chữa cháy 32

3.5 Xử lý tình huống khi có hỏa hoạn, cháy nổ 40

4.2 Tác dụng của dòng điện đối với cơ thể con người 464.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tai nạn điện giật 474.3.2 Ảnh hưởng của trị số dòng điện giật đến tai nạn điện 494.3.4 Ảnh hưởng của thời gian dòng điện qua người đến tai nạn điện giật 504.3.5 Ảnh hưởng của tần số dòng điện giật đến tai nạn điện 51

Trang 4

4.9 Bảo vệ an toàn cho người tránh bị điện giật 614.10 Phương tiện bảo vệ và dụng cụ kiểm tra điện cho người khi làm việc 634.10.1 Cấu tạo một số phương tiện bảo vệ cách điện: 63

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU

Mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của thịtrường lao động kỹ thuật và hội nhập Bộ Lao Động Thương binh và Xã hội đã banhành chương trình khung Cao đẳng, Trung cấp nghề Điện Công Nghiệp

Là một trường đã có bề dày hơn 50 năm đào tạo nghề của tỉnh Bình Định, khuvực Miền trung và Tây Nguyên, với quy mô trang thiết bị luôn được đầu tư mới; nănglực đội ngũ giáo viên ngày càng được tăng cường Việc biên soạn giáo trình phục vụcho công tác đào tạo của nhà Trường, đáp ứng yêu cầu mục tiêu của chương trìnhkhung do Bộ LĐTB&XH ban hành cũng nhằm đáp ứng các yêu cầu sau đây:

- Yêu cầu của người học

- Nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực nghề Điện Công Nghiệp

- Cung cấp lao động kỹ thuật cho doanh nghiệp và xuất khẩu lao động

Dưới sự chỉ đạo của Ban Giám Hiệu nhà trường trong thời gian qua các giáoviên trong khoa Điện đã dành thời gian tập trung biên soạn giáo trình, cải tiến phươngpháp giảng dạy nhằm tạo điều kiện cho học sinh hiểu biết kiến thức và rèn luyện kỹnăng nghề

Giáo trình được xây dựng dựa trên nội dung và cấu trúc của chương trình khungmôn An toàn lao động nghề Điện Công Nghiệp Nội dung giáo trình có thể đáp ứng đểđào tạo cho từng cấp trình độ và có tính liên thông cho 3 cấp trình độ (Sơ cấp, Trungcấp, Cao đẳng)

Mặt khác nội dung của môn học phải đạt được các tiêu chí quan trọng theo mụctiêu, hướng tới đạt chuẩn quốc tế cho nghề Điện Công Nghiệp

Trong quá trình biên soạn giáo trình Khoa đã tham khảo tài liệu từ sách của cáctác giả lớn, các trường Đại học và Cao đẳng trên toàn quốc Nhóm biên soạn đã hếtsức cố gắng để giáo trình đạt được chất lượng tốt nhất Tuy nhiên, không thể tránhkhỏi thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ các đồng nghiệp, các bạn đọc

để giáo trình được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn!

Bình Định, ngày …… tháng … năm 2018

Tác giả

Lê Tiến Hán

Trang 6

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Tên môn học: An toàn lao động

Mã môn học: MH 07

Thời gian thực hiện môn học: 90 giờ (LT: 58 giờ; TH: 30 giờ, KT: 02 giờ)

Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:

- Vị trí: Là môn học được bố trí trong học kỳ đầu của chương trình học

- Tính chất: Là môn học cơ sở trong chương trình đào tạo nghề Điện côngnghiệp Trang bị kiến thức và kỹ năng an toàn điện, an toàn vệ sinh công nghiệp,phòng chống bụi, cháy nổ, các biện pháp sơ cấp cứu người bị tai nạn lao động

- Ý nghĩa và vai trò: Kiến thức về an toàn lao động là một phần không thể thiếukhi người lao động làm việc ở xưởng, ở công trường, xí nghiệp… giúp họ xử lí cáchiện tượng, chấn thương, tình huống gặp phải hàng ngày Đây là một môn học rất quantrọng và cần thiết, trang bị kiến thức về an toàn lao động cho học sinh trước khi xuốngxưởng thực tập hoặc tham gia sản xuất

+ Sử dụng được các phương tiện chống cháy;

+ Sơ cứu được người bị tai nạn lao động, bị điện giật, cháy bỏng

- Năng lực tự chủ và trách nhiệm:

+ Làm việc độc lập và làm việc nhóm;

+ Rèn luyện tính cẩn thận, tỉ mỉ, tư duy sáng tạo

Nội dung của môn học

Số

1 Chương 1: Khái quát chung về an toàn lao động 06 06 0 0

3 Chương 3: Kỹ thuật phòng chống cháy nổ 12 06 06 0

5 Chương 5: Cấp cứu nạn nhân bị tai nạn lao động 15 06 09 0

Trang 7

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG

Mục tiêu:

- Trình bày được tầm quan trọng của môn an toàn lao động;

- Trình bày được các phương pháp phòng tránh tai nạn về điện;

- Rèn luyện được phương pháp học tư duy và nghiêm túc trong công việc

Nội dung chính:

1.1 Khái niệm về môn học an toàn lao động

Sự an toàn lao động có liên quan đến các vấn đề về: tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, chấn thương trong quá trình lao động

An toàn lao động là hệ thống các giải pháp về pháp luật, khoa học kỹ thuật, kinh

tế - xã hội nhằm đảm bảo an toàn và sức khỏe, ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trongquá trình lao động, gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tử vong cho người laođộng trong quá trình lao động sản xuất

Hay, an toàn lao động còn có cách hiểu khác là tình trạng điều kiện lao độngkhông gây nguy hiểm, không có hại trong quá trình lao động Ngược lại với an toànlao động có các khái niệm như: tai nạn lao động, chấn thương, bệnh nghề nghiệp.Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của

cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền vớiviệc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động Nhiễm độc đột ngột cũng là tai nạnlao động

Tai nạn lao động được phân ra: Chấn thương, nhiễm độc nghề nghiệp và bệnhnghề nghiệp

- Chấn thương là tai nạn mà kết quả gây nên những vết thương hay huỷ hoại mộtphần cơ thể người lao động, làm tổn thương tạm thời hay mất khả năng lao động vĩnhviễn hay thậm chí gây tử vong Chấn thương có tác dụng đột ngột xảy ra đối với ngườilao động trong quá trình làm việc khi không tuân thủ theo các yêu cầu về an toàn laođộng

- Bệnh nghề nghiệp là những bệnh lý mang đặc trưng của nghề nghiệp hoặc liênquan tới nghề nghiệp Bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có hại, bất lợi(tiếng ồn, rung động, ) đối với người lao động Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu dầndần sức khoẻ hay làm ảnh hưởng đến khả năng làm việc và sinh hoạt của người laođộng Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu sức khoẻ người lao động một cách dần dần vàlâu dài

- Nhiễm độc nghề nghiệp: là sự huỷ hoại sức khoẻ do tác dụng của các chất độcxâm nhập vào cơ thể người lao động trong điều kiện sản xuất

Trang 8

1.2 Vị trí, mục đích, ý nghĩa, tính chất, yêu cầu của môn học

1.2.1 Vị trí môn học

- An toàn lao động là môn học không thể thiếu được của người làm việc ởxưởng, ở công trường giúp họ xử lí các hiện tượng bình thường nhưng lại gây ra cácnguy hiểm hàng ngày

- Do đó học sinh cần được trang bị kiến thức về môn học này trước khi xuốngxưởng thực tập hoặc tham gia sản xuất

1.2.2 Mục đích môn học

- Nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về kỹ thuật an toàn trong các lĩnh vực

cơ, điện, nhiệt, vệ sinh công nghiệp, phòng cháy chữa cháy Chú ý đến các qui định,quy tắc an toàn lao động trong mỗi lĩnh vực để có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh vànhắc nhở mọi nguời cùng thực hiện

- Trang bị cho học sinh những kiến thức về: luật bảo hộ lao động, biện pháp đềphòng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, phòng chống cháy nổ trong lúc thực tậphoặc trong lao động sản xuất

- An toàn lao động tốt đảm bảo xã hội trong sáng, lành mạnh, người lao động cóđiều kiện phát triển toàn diện về trí lực, thể lực Người lao động có sức khỏe sẽ làmviệc có hiệu quả cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật,… tai nạn lao độngkhông xảy ra, sức khỏe được đảm bảo thì Nhà nước, xã hội và gia đình không phảichịu những tổn thất do phải nuôi dưỡng điều trị và do đó hạnh phúc gia đình được đảmbảo

* Lợi ích về kinh tế

- An toàn lao động đem lại lợi ích thiết thực, tạo ra các điều kiện lao động tốt tức

là đảm bảo cho người lao động không bị tác động bởi các yếu tố có hại trong sản xuất,giữ gìn được sức khỏe và khả năng lao động của họ, do đó người lao động làm việcđược liên tục, được tăng năng suất cao

- Đảm bảo thực hiện đầy đủ các biện pháp kỹ thuật, an toàn lao động đúng theoquy phạm, quy trình và chỉ tiêu sẽ đảm bảo cho máy móc, thiết bị, nhà xưởng sử dụng

Trang 9

được lâu dài, không bị sự cố hư hỏng, bảo vệ tài sản cố định và do đó cũng tránh đượctai nạn lao động đáng tiếc có thể xảy ra.

- Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, phát triển kinh doanh

- Thực hiện tốt an toàn lao động là hành động thiết thực để xây dựng văn hóa antoàn tại nơi làm việc của nhà hàng, sẽ mang lại khả năng cạnh tranh cao, mang lại vịthế, uy tín cao trước bạn hàng, quốc tế

1.2.4 Tính chất môn học

* Tính chất khoa học

- Mọi hoạt động của công tác an toàn lao động là nhằm loại trừ yếu tố nguy hiểm

và có hại cho người lao động

- Các biện pháp phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đều xuất phát từ

cơ sở khoa học bằng những biện pháp khoa học kỹ thuật mới

- Các hoạt động điều tra, khảo sát, phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnhhưởng của các yếu tố nguy hiểm và có hại đến sức khỏe của người lao động, các biệnpháp xử lý ô nhiễm môi trường lao động, các giải pháp kỹ thuật an toàn dụng cụ, thiếtbị,… đều là những hoạt động khoa học kỹ thuật mới do các bộ phận khoa học kỹ thuậtcông nghệ đề xuất thực hiện

* Tính chất pháp lý: An toàn lao động phải mang tính pháp lý thể hiện ở chỗ:

- Muốn cho các giải pháp đảm bảo an toàn lao động thực hiện được thì phải thểchế hóa chúng thành những luật lệ, chế độ, chính sách tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật

an toàn, hướng dẫn để buộc mọi cấp quản lý, mọi tổ chức cá nhân, nhà hàng phảinghiêm chỉnh thực hiện

- Cấp có thẩm quyền phải tiến hành thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên,khen thưởng những đơn vị có thành tích và xử phạt kịp thời và thích đáng những đơn

vị, cá nhân vi phạm thì công tác an toàn lao động mới được tôn trọng và có hiệu quảthiết thực

Trang 10

1.2.5 Yêu cầu môn học

1.2.3.1 Về mặt kiến thức

- Nắm được mục đích, ý nghĩa, nội dung của công tác bảo hộ lao động

- Nắm được kỹ thuật an toàn điện, cơ và nhiệt

- Nắm được nội dung công tác phòng cháy chữa cháy

- Nắm được các quy định về an toàn điện, cơ, nhiệt…

1.2.3.2 Về thực hành

- Trình bày được các qui trình qui tắc về an toàn điện, cơ, nhiệt …

- Thực hiện các bước cấp cứu sơ bộ người bị tai nạn về điện

- Biết sử dụng các trang thiết bị, dụng cụ an toàn khi làm việc trên cao, trang bịphòng cháy chữa cháy, trang bị vệ sinh công nghiệp

1.3 Những nguyên nhân gây ra tai nạn lao động

1.3.1 Giới thiệu một số trường hợp tai nạn lao động:

Các bộ phận và cơ cấu chuyển động của máy, nếu để hở, có thể gây ra chấnthương nguy hiểm khi công nhân bất ngờ tiếp xúc vào, như là: mâm cặp, trục chính,trục vít me, trục trơn của máy tiện, trục chính của máy khoan, dao phay, đá mài… các

bộ phận quay tròn với tốc độ cao có mặt ngoài lồi lõm là hết sức nguy hiểm Tiếp xúcvới các bộ phận này tóc, quần áo có thể bị cuộn vào gây những hậu quả nghiêm trọng

Các bộ phận tịnh tiến của máy cũng có thể gây những tai nạn trầm trọng: nhưcầu trục, máy bào có thể ép công nhân vào tường, máy dập, máy búa có thể dập nát tayngười công nhân vô ý

- Các mảnh của dụng cụ và vật liệu gia công văng ra

Ví dụ: khi phay hoặc tiện tốc độ cao phôi kim loại văng ra vừa có động nănglớn vừa có nhiệt độ cao

- Các bộ phận của dụng cụ hư hỏng văng ra rất mạnh có thể gây chấn thươngnặng nề Vỡ đá mài, vỡ răng cưa đĩa, vỡ dao phay, văng búa

- Nổ do hoá học là phản ứng oxy hoá xảy ra nhanh chóng, kèm theo toả nhiệt vàhình thành khí có áp lực cao, có sức phá hủy lớn

- Bức xạ: nhiều quá trình sản xuất có kèm theo việc phóng ra các tia nănglượng Các tia này gây phá hủy tế bào, gây chấn thương sản xuất (tia tử ngoại mắtthường không nhìn thấy có bước sóng nhỏ hơn 0,4m) Tia phóng xạ là một dạng đặcbiệt của bức xạ, nó có thể gây bỏng ở da, phá hủy hệ thần kinh và các hủy hoại khácđến hoạt động sống của cơ thể

- Ảnh hưởng của các yếu tố vệ sinh và điều kiện vi khí hậu đến an toàn laođộng

Tình trạng vệ sinh và điều kiện vi khí hậu của nơi sản xuất và chổ làm việc khôngthích hợp có ảnh hưởng xấu đến an toàn lao động Ví dụ: nơi sản xuất nóng quá, có khíhậu độc, nhiều tiếng ồn và rung động, ánh sáng không đầy đủ làm cho con ngườichóng mệt mỏi, cử động không chính xác, kém tập trung tư tưởng dẫn đến tai nạn laođộng

1.3.2 Nguyên nhân gây ra tai nạn lao động

a Nguyên nhân về kỹ thuật.

- Quá trình công nghệ có nhân tố nguy hiểm (như có khí độc, có bụi, phôi, cóhơi khí dễ cháy nổ, phải trèo cao, phải làm việc nơi có điện áp nguy hiểm…)

- Cấu tạo thiết bị, dụng cụ hoặc đồ gá không tốt hoặc hư hỏng (như máy không

đủ độ bền, đá mài bị rạng, nứt Đồ gá không ổn định, cán búa lỏng, nứt, gãy)

- Thiếu cơ cấu che chắn bộ phận có chứa nguồn điện

Trang 11

- Thiếu hệ thống tín hiệu, thiếu cơ cấu an toàn hoặc cơ cấu an toàn bị hỏng.

Ví dụ: áp kế, nhiệt kế, van an toàn của nồi hơi bị hỏng, cơ cấu hãm của tời không làmviệc được

- Không thực hiện nghiêm chỉnh những qui tắc và kỹ thuật an toàn điện

Ví dụ: Không ngắt nguồn điện khi tiến hành sửa chữa điện

- Không tiến hành cơ khí hoá tự động hoá những nơi cần thiết Chẳng hạn khicần phải thường xuyên khấy trộn các chất độc Khi cần chuyển vật nặng lên cao, đưavật liệu vào lò nóng và lấy ra

- Dụng cụ phòng hộ cá nhân bị hỏng hoặc không thích hợp

Ví dụ: ủng cách điện, thảm cách điện bị hỏng, mặt nạ phòng độc…

b Các nguyên nhân về tổ chức sử dụng lao động

- Bố trí lao động tại chổ làm việc không thích hợp

Ví dụ: chổ làm việc quá đông, máy đặt sát nhau quá cự li quy định

- Sắp đặt thiết bị sản xuất không hợp lí

Ví dụ: sự cố xảy ra trên máy mài gây nguy hiểm cho công nhân ở máy khác

- Bố trí đường đi, cách thức vận chuyển chưa tốt

Ví dụ: đường đi chật hẹp gồ ghề, các đường vận chuyển cắt nhau

- Bảo quản thành phẩm và bán thành phẩm không đúng qui tắc an toàn

Ví dụ: để lẫn các hoá chất có thể phản ứng với nhau, xếp các chi tiết trong khoquá cao, không ổn định

- Không trang bị cho công nhân những bộ phận phòng hộ cần thiết

Ví dụ: công nhân không đeo kính bảo hộ, quần áo bảo hộ lao động

- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục công tác bảo hộ lao động, không có nội qui an toàntreo trên từng máy…

c Các nguyên nhân vệ sinh

- Vi phạm các yêu cầu về vệ sinh công nghiệp khi thiết kế mặt bằng xí nghiệp và cácxưởng sản xuất thiếu các biện pháp để giảm chất độc (như các phân xưởng thải ra chấtđộc nhẹ lại để ở tầng dưới hoặc đầu gió, chất thải trước khi ra ngoài không khử độc vàlàm sạch bụi)

- Không khí trong sản xuất có bụi, hơi, khí độc (do thiết bị bình thường không đủ kín)

- Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất không đúng tiêu chuẩn quy định (quá nóng, quạtvới tốc độ cao quá)

- Chiếu sáng chổ làm việc không hợp lí (ánh sáng quá ít hoặc quá nhiều, còn để cácbóng đen trên nền)

- Rung động tiếng ồn nhiều, các máy có rung động mạnh không được cách li hoặc khửrung

- Biện pháp phòng hộ cá nhân chưa tốt

- Không thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu về vệ sinh cá nhân

1.4 Thực trạng công tác BHLĐ ở nước ta hiện nay.

Ở nước ta, trước cách mạng tháng Tám, trong thời kỳ kháng chiến ở vùng tạmchiến của Pháp và ở miền Nam dưới chế độ thực dân mới của Mỹ tình cảnh người laođộng rất điêu đứng, tai nạn lao động xảy ra rất nghiêm trọng

Công tác bảo hộ lao động được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Ngaytrong thời kỳ bí mật, Đảng đã kêu gọi công nhân đấu tranh đòi ngày làm 8 giờ, phảnđối việc bắt phụ nữ và thiếu nhi làm việc quá sức, đòi cải thiện điều kiện làm việc.Tháng 8 năm 1947, sắc lệnh số 29/SL được ban hành tong lúc cuộc trường kỳ khángchiến bước vào giai đoạn gay go Đây là sắc lệnh đầu tiên về lao động của nước Việt

Trang 12

Nam Dân Chủ Cộng Hoà, trong đó có nhiều khoản về BHLĐ Điều 133 của sắc lệnhquy định “Các xí nghiệp phải có đủ phương tiện để bảo an và giữ gìn sức khoẻ chocông nhân ”

Điều 140 quy định: Những nơi làm việc phải rộng rãi, thoáng khí và có ánh mặttrời Những nơi làm việc phải cách ly hẳn nhà tiêu, những cống rãnh để tránh mùi hôithối, đảm bảo vệ sinh môi trường làm việc Ngày 22-5-1950, nhà nước đã ban hành sắclệnh số 77/SL quy định thời gian làm việc, nghỉ ngơi và tiền lương làm thêm giờ chocông nhân

Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, toàn dân ta bước vào thời kỳ khôiphục và phát triển kinh tế Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, số lượng công nhân ít ỏi,tiến thẳng lên một nước Xã hội chủ nghĩa có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại,việc đào tạo một đội ngũ công nhân đông đảo là một nhiệm vụ cấp bách Trong tìnhhình đó, công tác BHLĐ lại trở nên cực kỳ quan trọng

Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (Đại hội III) đã vạch rõ:Phải hết sức quan tâm đến việc đảm bảo an toàn lao động(ATLĐ), cải thiện điều kiệnlao động, chăm lo sức khoẻ của công nhân Tích cực thực hiện mọi biện pháp cần thiết

để BHLĐ cho công nhân

Chỉ thị 132/CT ngày 13-3-1959 của Ban Bí thư Trung ương Đảng có đoàn viết:

“Công tác bảo vệ lao động phục vụ trực tiếp cho sản xuất và không thể tách rời sảnxuất Bảo vệ tốt sức lao động của người sản xuất là một yếu tố quan trọng để đẩy mạnhsản xuất phát triển, xem nhẹ bảo đảm ATLĐ là biểu hiện thiếu quan điểm quân chúngtrong sản xuất”

Trong những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, ta vẫn triển khai côngtác nghiên cứu khoa học về BHLĐ Bộ phận nghiên cứu vệ sinh lao động và bệnhnghề nghiệp của Viện vệ sinh dich tễ được thành lập từ năm 1961 và đến nay đã hoànthành nhiều công trình nghiên cứu, phục vụ công nghiệp có giá trị Năm 1971, Việnnghiên cứu khoa học kỹ thuật BHLĐ trực thuộc Tổng Công Đoàn Việt Nam đã đượcthành lập và đang hoạt động có hiệu quả Môn học “Bảo hộ lao động” đã được cáctrường Đại học, Trung học chuyên nghiệp và các Trường dạy nghề đưa vào chươngtrình giảng dạy chính khoá

Ngày nay, công tác bảo hộ đã được nâng lên một tầm cao mới Hàng tuần côngnhân chỉ phải làm việc 5 ngày, các công xưởng, xí nghiệp phải được kiểm tra công tácbảo an định kỳ và chặt chẽ Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có các phân việnBHLĐ đóng ở các miền để kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện công tác bảo hộ laođộng

Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn về công tác BHLĐ.Các ngành chức năng của của nhà nước (Lao động và TBXH, Ytế, Tổng Liên đoànLĐVN ) đã có nhiều cố gắng trong công tác BHLĐ

Tuy nhiên vẫn còn một số cơ quan, doanh nghiệp chưa nhận thức một cáchnghiêm túc công tác BHLĐ, coi nhẹ hay thậm chí vô trách nhiệm với công tác BHLĐ,vẫn còn tồn tại một số vấn đề như hệ thống tổ chức quản lý về BHLĐ từ Trung ươngđến địa phương chưa được cũng cố chặt chẽ, các văn bản pháp luật về BHLĐ chưađược hoàn chỉnh, việc thực hiện các văn bản pháp luật về BHLĐ chưa nghiêm chỉnh.Điều kiện làm việc còn nhiều nguy cơ đe doạ về ATLĐ, điều kiện VSLĐ bị xuống cấpnghiêm trọng

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1

1 Trình bày vị trí, tính chất và mục đích của môn học an toàn lao động

Trang 13

2 Trình bày các nguyên nhân gây tai nạn lao động.

Trang 14

CHƯƠNG 2: BẢO HỘ LAO ĐỘNG

Chất độc khi xâm nhập vào cơ thể gây nên các biến đổi sinh lý, sinh hóa, phá

vỡ cân bằng sinh học, gây rối loạn chức năng sống bình thường, dẫn tới trạng tháibệnh lý của các cơ quan nội tạng, các hệ thống (tiêu hóa, tuần hoàn thần kinh ) hoặctoàn bộ cơ thể Các tình trạng này có thể diễn biến mạn tính hoặc cấp tính Đây đượcgọi là tình trạng ngộ độc

Trong tự nhiên không tồn tại chất độc tuyệt đối: Nghĩa là chất độc có thể gâyngộ độc trong mọi điều kiện, nói một cách khác, một chất chỉ trở thành độc trongnhững điều kiện nhất định Các điều kiện đó rất đa dạng:

- Thuốc trừ sâu Phospho hữu cơ có gốc para-nitrophenol (Wofatox, parathion)

- Thuốc ngủ là dẫn chất acid barbituric: Gardenal, veronal

b Dựa vào phương pháp phân lập hoặc phân tích chất độc

Người ta chia ra thành 4 nhóm:

Trang 15

Ví dụ: Chì, thủy ngân, Asen

- Nhóm chất độc phân lập bằng phương pháp đặc biệt

c Các nhóm hoá chất độc:

- Nhóm 1: Chất gây bỏng, kích thích da, niêm mạc: như axit đặc, kiềm đặc và loãng

(vôi tôi, NH3) Nếu bị trúng độc nhẹ thì dùng nước lã dội rửa ngay (chú ý bỏng nặng

có thể gây choáng, mê man, nếu trúng mắt có thể bị mù)

- Nhóm 2: Các chất kích thích đường hô hấp trên và phế quản: hơi clo (Cl), NH3, SO3,

NO, SO2, hơi flo, hơi crôm v.v Các chất gây phù phổi: NO2, NO3, Các chất nàythường là sản phẩm cháy các hơi đốt ở nhiệt độ trên 800oC

- Nhóm 3: Các chất làm người bị ngạt do làm loãng không khí như: CO2, C2H5, CH4,N2, CO

- Nhóm4: Các chất độc đối với hệ thần kinh như các loại hydro cacbua, các loại rượu,

xăng, H2S, CS2, v.v

- Nhóm 5: Các chất gây độc với cơ quan nội tạng như hydrocacbon, clorua metyl,

bromua metyl v.v Chất gây tổn thương cho hệ tạo máu: Benzen, phenol Các kim loại

và á kim độc như chì, thuỷ ngân, mangan, hợp chất asen, v.v

d Một số chất độc và các dạng nhiễm độc nghề nghiệp thường gặp:

Chì còn có thể xuất hiện dưới dạng Pb(C2H5)4, hoặc Pb(CH3)4 Những chất nàypha vào xăng để chống kích nổ, song chỉ có thể xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp,đường da (rất dễ thấm qua lớp mỡ dưới da) Với nồng độ các chất này ≥ 0,182 ml/lítkhông khí thì có thể làm cho súc vật thí nghiệm chết sau 18 giờ

- Thuỷ ngân và hợp chất của nó:

Thuỷ ngân (Hg) dùng trong công nghiệp chế tạo muối thuỷ ngân, làm thuốcgiun Calomen, thuốc lợi tiểu, thuốc trừ sâu…

Thủy ngân và hợp chất của nó thâm nhập vào cơ thể bằng đường hô hấp, đường tiêuhoá và đường da

Thủy ngân và hợp chất của nó gây ra nhiễm độc mãn tính, gây viêm lợi, viêmmiệng, loét niêm mạc, viêm họng, rối loạn chức năng gan, gây bệnh Parkinson, buồnngủ, kém nhớ, mất trí nhớ, rối loạn thần kinh thực vật…với nữ giới còn gây rối loạnkinh nguyệt và gây quái thai, sẩy thai…

- Asen và hợp chất của Asen:

Trang 16

Các chất Asen như As203dùng làm thuốc diệt chuột, AsCl3để sản xuất đồ gốm,As205dùng trong sản xuất thuỷ tinh, bảo quản gỗ, diệt cỏ, nấm…

Asen và hợp chất của nó có thể gây ra các loại nhiễm độc sau:

+ Nhiễm độc cấp tính: đau bụng, nôn, viêm thận, viêm thần kinh ngoại biên,

suy tủy, cơ tim bị tổn thương và có thể gây chết người

+ Nhiễm độc mãn tính: gây viêm da mặt, viêm màng kết hợp, viêm mũi kích

thích, thủng vách ngăn mũi, viêm da thể chàm, vẩy sừng và xạm da, gây bệnh độngmạch vành, thiếu máu, khí thải của ô tô hoặc gan to, xơ gan, ung thư gan và ung thưda…

- Cácbon ôxit (CO):

Cácbon ôxit là khí không màu, không mùi, không kích thích, tỉ trọng 0,967được tạo ra do cháy không hoàn toàn (có trong lò cao, các phân xưởng đúc, rèn, nhiệtluyện và cả trong động cơ đốt trong)

CO gây ngạt thở hóa học khi hít phải nó, hoặc làm cho người bị đau đầu, ù tai, ở dạngnhẹ sẽ gây đau đầu ù tai dai dẳng, sút cân, mệt mỏi, chống mặt, buồn nôn, khi bị trúngđộc nặng có thể bị ngất xỉu ngay, có thể chết

- Crôm và hợp chất của Crôm:

Gây loét da, loét mạc mũi, thủng vách ngăn mũi, kích thích hô hấp gây ho, cothắt phế quản và ung thư phổi…

- Mangan và hợp chất của nó:

Gây rối loạn tâm thần và vận động, nói khó và dáng đi thất thường, thao cuồng

và chứng Parkinson, rối loạn thần kinh thực vật, gây bệnh viêm phổi, viêm gan, viêmthận

- Benzen (C 6 H 6 ):

Benzen có trong các dung môi hòa tan dầu, mỡ, sơn, keo dán, trong kỹ nghệnhuộm, dược phẩm, nước hoa, trong xăng ô tô Benzen vào trong cơ thể chủ yếu bằngđường hô hấp và gây ra chứng thiếu máu nặng, chảy máu răng lợi, khi bị nhiễm nặng

có thể bị suy tủy, nhiễm trùng huyết, giảm hồng cầu và bạch cầu, nhiễm độc cấp có thểgây cho hệ thần kinh trung ương bị kích thích quá mức

- Axit cromic (H 2 CrO 4 ):

Loại này thường khi mạ crôm cho các đồ trang sức, mạ bảo vệ các chi tiết máy.Hơi axit crômic làm rách niêm mạc, gây viêm phế quản, viêm da…

- Hơi ôxit nitơ (NO 2 ):

Chúng có nhiều trong các ống khói các lò phản xạ, trong khâu nhiệt luyện thấmthan, trong khí xả của động cơ Diezel và trong khi hàn điện Hơi NO2làm đỏ mắt, rátmắt, gây viêm phế quản, tê liệt thần kinh, hôn mê…

Khi hàn điện có thể các các hơi độc và bụi độc như: FeO, Fe2O3, SiO2, MnO, CrO3,ZnO, CuO…

2.1.1.3 Các biện pháp trong phòng ngừa tác hại của hóa chất.

a Biện pháp chung đề phòng về kỹ thuật:

- Hạn chế hoặc thay thế các hóa chất độc hại

- Tự động hoá quá trình sản xuất hoá chất

- Các hoá chất phải bảo quản trong thùng kín, phải có nhãn rõ ràng

Trang 17

- Chú ý công tác phòng cháy chữa cháy.

- Cấm để thức ăn, thức uống và hút thuốc gần khu vực sản xuất

- Tổ chức hợp lý hoá quá trình sản xuất: bố trí riêng các bộ phận toả ra hơi độc,đặt ở cuối chiều gió Phải thiết kế hệ thống thông gió hút hơi khí độc tại chổ…

b Biện pháp phòng hộ cá nhân:

Phải trang bị đủ dụng cụ bảo hộ lao động để bảo vệ cơ quan hô hấp, bảo vệ mắt,bảo vệ thân thể, chân tay như: mặt nạ phòng độc, găng tay, ủng, khẩu trang

c Biện pháp vệ sinh-y tế:

- Xử lý chất thải trước khi đổ ra ngoài

- Có kế hoạch kiểm tra sức khoẻ định kỳ, phải có chế độ bồi dưỡng bằng hiệnvật

- Vệ sinh cá nhân nhằm giữ cho cơ thể sạch sẽ

d Biện pháp sơ cấp cứu: Khi có nhiễm độc cần tiến hành các bước sau:

- Đưa bệnh nhân ra khỏi nơi nhiễm độc, thay bỏ quần áo bị nhiễm độc, chú ýgiữ yên tĩnh và ủ ấm cho nạn nhân

- Cho ngay thuốc trợ tim, hay hô hấp nhân tạo sau khi bảo đảm khí quản thôngsuốt, nếu bị bỏng do nhiệt phải cấp cứu bỏng

- Rửa sạch da bằng xà phòng nơi bị thấm chất độc kiềm, axit phải rửa ngaybằng nước sạch

- Sử dụng chất giải độc đúng hoặc phương pháp giải độc đúng cách (gây nôn,xong cho uống 2 thìa than hoạt tính hoặc than gạo giã nhỏ với 1/3 bát nước rồi uốngnước đường gluco hay nước mía, hoặc rửa dạ dày…)

2.1.2 Các bước thực hiện

Bước 1: Đánh giá các loại hóa chất, chất độc trong môi trường cụ thể

Bước 2: Xác định và đánh giá các giải pháp phòng chống nhiễm độc

Bước 3: Lựa chọn giải pháp và tiến hành giải pháp

- Thảo luận nhóm, phát vấn người học

- Thời gian thực hiện 5 phút

Hướng dẫn đánh giá

- Đánh giá từng nhóm hoặc từng câu trả lời

- Hình thức đánh giá: Giảng viên nghe, phát vấn

- Công cụ đánh giá: Chấm điểm theo tiêu chí các bước thực hiện

2.2 Phòng chống bụi

2.2.1 Lý thuyết

2.2.1.1 Khái niệm và phân loại

Bụi phát sinh trong tự nhiên do gió bão, động đất, núi lửa, nhưng quan trọng làtrong sinh hoạt và trong sản xuất của con người trong nền công nghiệp, nông nghiệphiện đại, bụi phát sinh từ các quá trình gia công chế biến các nguyên liệu rắn như các

Trang 18

khoáng sản hoặc kim loại như như nghiền, đập, sàng, cưa, khoan, bụi còn phát sinh khivận chuyển nguyên vật liệu hoặc các sản phẩm dạng bột, gia công các sản phẩm dạngbột, gia công các sản phẩm bông, vải, lông thú, gỗ…

a Khái niệm

Bụi là tập hợp nhiều hạt có kích thước lớn nhỏ khác nhau tồn tại lâu trongkhông khí dưới dạng: bụi bay, khi những hạt bụi lơ lửng trong không khí (gọi làaerozon), bụi lắng, khi chúng đọng lại trên bề mặt vật thể (gọi là aerogen), và các hệkhí dung nhiều pha, gồm: hơi, khói, mù

b Phân loại

- Phân loại bụi theo nguồn gốc.

Bụi kim loại Mn, Si, gỉ sắt,

Bụi cát, bụi gỗBụi động vật lông, xương bột, …

Bụi thực vật bụi bông, bụi gai,

Bụi hoá chất graphit, bột phấn, bột hàn the, bột

xà phòng, vôi,

- Phân loại bụi theo kích thước.

Phân loại Kích thước điển hình,

- Phân loại bụi theo tác hại.

Bụi gây nhiễm độc Pb, Hg, benzen,

Bụi gây dị ứngBụi gây ung thư Nhựa đường, phóng xạ, các chất

brom,

Bụi gây xơ phổi Bụi silic, amiang,

2.2.1.2 Tính chất lý hoá của bụi

- Độ phân tán: là trạng thái của bụi trong không khí phụ thuộc vào trọng lượng

hạt bụi và sức cản không khí Hạt bụi càng lớn càng dễ rơi tự do, hạt càng mịn thì càng

Trang 19

rơi chậm và hạt nhỏ hơn 0,1m thì chuyển động trong không khí Những hạt bụi mịngây hại cho phổi nhiều hơn.

- Sự nhiễm điện của bụi: Dưới tác dụng của một điện trường mạnh các hạt bụi

bị nhiễm điện và sẽ bị cực của điện trường hút với những vận tốc khác nhau tuỳ thuộcvào kích thước của hạt bụi Tính chất này của bụi được ứng dụng để lọc bụi bằng điện

- Tính cháy nổ của bụi: Các hạt bụi càng nhỏ mịn thì diện tích tiếp xúc càng

lớn, hoạt tính hoá học càng mạnh, dễ bốc cháy trong không khí Ví dụ bột cacbon, bộtsắt, bột coban… bông vải có thể tự bốc cháy trong không khí Nếu có mồi lửa như tialửa điện, các laọi đèn không có bảo vệ lại càng nguy hiểm hơn

- Tính lắng trầm nhiệt của bụi: Cho một luồng khói đi qua từ một ống dẫn từ

vùng nóng chuyển sang vùng lạnh, phần lớn khói bị lắng trên bề mặt ống lạnh, hiệntượng này do các phần tử khí giảm vận tốc từ vùng nóng sang vùng lạnh Sự lắng trầmcủa bụi được ứng dụng để lọc bụi

2.2.1.3 Tác hại của bụi

Bụi gây tác hại đến da, mắt, cơ quan hô hấp, tiêu hoá

- Bụi gây chấn thương mắt: bụi bám vào mắt gây ra các bệnh về mắt như

viêm màng tiếp hợp, viêm giác mạc Nếu bụi nhiễm siêu vi trùng mắt hột sẽ gây bệnhmắt hột Bụi kiềm, bụi axit có thể gây ra bỏng giác mạc làm giảm thị lực Nếu là bụivôi khi bắn vào mắt gây bỏng mắt

- Đối với tai: bụi bám vào các ống tai gây viêm nhiễm, nếu vào nhiều quá làm

tắc ống tai

- Đối với đường hô hấp: Vì bụi chứa trong không khí nên tác hại lên đường hô

hấp là chủ yếu Bụi trong không khí càng nhiều thì bụi vào trong phổi càng lớn Cáchạt bụi bay lơ lửng trong không khí bị hít vào phổi gây tổn thương đường hô hấp Khi

ta thở, nhờ có lông mũi và màng niêm dịch của đường hô hấp mà những hạt bụi cókích thước lớn hơn 5 bị giữ lại ở hốc mũi tới 90% Các hạt bụi có kích thước (2-5)[micromet] dễ dàng vào tới phế quản, phế nang, ở đây bụi được các lớp thực bào vâyquanh và tiêu diệt khoảng 90% nữa, số còn lại đọng ở phổi gây nên bệnh bụi phổi vàcác bệnh khác Bụi có hể gây ra các bệnh như viêm mũi, viêm họng, viêm phếquản, viêm teo mũi do bụi crom, asen, Các hạt bụi rất bé từ 0,1- 10 micromet vàođến tận phế nang gây ra bệnh bụi phổi Bệnh bụi phổi được phân thành:

+ Bệnh bụi silíc (bụi có chứa SiO2trong vôi, ximăng)

+ Bệnh bụi silicat (bụi silicat, amiăng, bột than)

+ Bệnh bụi than (bụi than)

+ Bệnh bụi nhôm (bụi nhôm)

+ Bệnh silicose: Là bệnh do phổi bị nhiễm bụi silic ở thợ khoan đá, thợ mỏ, thợlàm gốm sứ, vật liệu chịu lửa, chiếm 40,7% trong tổng số các bệnh về phổi Ngoài

ra còn có các bệnh asbestose (nhiễm bụi amiang), aluminose (bụi boxit, đất sét),siderose (bụi sắt)

+ Bệnh phổi nhiễm bụi Thường gặp ở các ngành khai thác chế biến vận chuyểnquặng đá, kim loại, than vv

- Đối với da: Bụi có thể dính bám vào da làm viêm da, bịt kín các lỗ chân lông

và ảnh hưởng đến bài tiết mô hôi, có thể bịt các lỗ của tuyến nhờn, gây ra mụn, lở loét

ở da, mộng thịt

- Đối với bộ máy tiêu hoá: Bụi bay vào miệng gây ra viêm lợi và sâu răng, các

loại bụi có cạnh sắc nhọn lọt vào dạ dày có thể làm tổn thương niêm mạc dạ dày, gâyrối loạn tiêu hoá

Trang 20

- Bụi hoạt tính dễ cháy nếu nồng độ cao, khi tiếp xúc với tia lửa dễ gây cháy nổ,rất nguy hiểm.

2.2.1.4 Tiêu chuẩn nồng độ bụi cho phép

a Bụi không chứa silic

Nồng độ bụi hạt không chứa Silic tối đa cho phép:

[số hạt /m2] [mg/m2]

Ximăng, đất sét, bụi vô

b Bụi chứa SiO2

Nồng độ bụi hạt SiO2 tối đa cho phép:

Theo ca Theo thời điểm Theo ca Theo thời điểm

Theo ca Theo thời điểm Theo ca Theo thời điểm

Trang 21

- Sử dụng hệ thống thông gió, hút bụi trong các phân xưởng có nhiều bụi.

- Bao kín thiết bị và có thể là cả dây truyền sản xuất: Dùng các tấm che kín cácloại máy móc tạo ra bụi

- Thay thế loại vật liệu sinh nhiều bụi bằng các loại vật liệu sinh ít bụi hoặckhông sinh bụi

b Biện pháp y học

- Khám và kiểm tra sức khoẻ định kỳ, phát hiện sớm bệnh để chữa trị, phục hồichức năng làm việc cho công nhân

- Dùng các phương tiện bảo vệ cá nhân (quần áo, mặt nạ, khẩu trang, )

Lọc bụi trong không khí

Các nhà máy công nghiệp thải ra một lượng khí và hơi độc hại Vì vậy để đảmbảo môi trường trong sạch, trước khi thải ra bầu khí quyển các khí thải công nghiệpphải được lọc tới mức nồng độ cho phép

- Áp dụng các biện pháp về sản xuất ướt hoặc sản xuất trong không khí ẩm nếuđiều kiện cho phép hặc có thể thay đổi kỹ thuật trong thi công

- Sử dụng các hệ thống thông gió tự nhiên và nhân tạo, rút bớt độ đậm đặc củabụi trong không khí bằng các hệ thống hút bụi, hút bụi cục bộ trực tiếp từ chỗ bụi đượctạo ra

- Thường xuyên làm tổng vệ sinh nơi làm việc để làm giảm trọng lượng bụi dựtrữ trong môi trường sản xuất

c Biện pháp về tổ chức

- Bố trí các xí nghiệp, xưởng ra công… phát ra nhiều bụi ra xa các khu vực nhà

ở Công trình nhà ăn, nhà trẻ đều phải bố trí xa nơi sản xuất phát sinh ra bụi

- Đường vận chuyển các nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm mang bụiphải bố trí riêng biệt để tránh tình trạng tung bụi vào môi trường sản xuất nói chung và

ở các khu vực gián tiếp Tổ chức tốt tưới ẩm mặt đường khi trời nắng gió, hanh khô

d Biện pháp phòng hộ cá nhân

- Trang bị quần áo phòng hộ lao động, công tác phòng chống bụi không cho bụi

lọt qua để phòng ngừa cho công nhân làm việc ở những nơi nhiều bụi, đặc biệt với bụiđộc

- Tăng cường vệ sinh cá nhân thường xuyên và triệt để, nhất là nơi có bụi độcthì không được ăn, uống, hút thuốc, nói chuyện khi làm việc

- Làm xong phải tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ

e Biện pháp y tế

- Ở trên công trường và nhà máy phải có đủ nhà tắm, nơi rửa cho công nhânlàm việc ở những nơi nhiều bụi Sau khi làm việc phải tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo

- Cấm ăn uống, hút thuốc lá ở nơi sản xuất

- Không tuyển dụng người có bệnh mãn tính về đường hô hấp làm việc ở nhữngnơi nhiều bụi Những công nhân tiếp xúc với bụi thường xuyên được khám sức khỏeđịnh kỳ để phát hiện kịp thời những người bị bệnh do nhiễm bụi

- Phải định kỳ kiểm tra hàm lượng bụi ở môi trường sản xuất, nếu thấy quá tiêuchuẩn cho phép phải tìm mọi biện pháp làm giảm hàm lượng bụi

Trang 22

f Các biện pháp khác

- Thực hiện tốt khâu bồi dưỡng hiện vật cho công nhân

- Tổ chức ca kíp và bố trí giờ giấc lao động, nghỉ ngơi hợp lý để tăng cường sức khỏe

- Coi trọng khẩu phần ăn và rèn luyện thân thể cho công nhân

g Các phương pháp làm sạch khí thải:

- Lọc bụi trong không khí

- Phương pháp ngưng tụ Áp dụng khi áp suất riêng của hơi độc trong hỗn hợpchất khí ở mức độ cao, như khi cần thông các thiết bị, thông van an toàn

- Phương pháp đốt cháy có xúc tác Áp dụng đốt tất cả các chất hữu cơ (trừ khíthải của nhà máy tổng hợp hữu cơ, chế biến dầu mỏ, ) để tạo thành CO2 và hơi nướcH2O ít độc hại hơn

- Phương pháp hấp thụ Thường dùng silicagen để hấp thụ khí và hơi độc Cũng

có thể dùng than hoạt tính các loại để làm sạch các chất hữu cơ rất độc

- Để lọc bụi trong phân xưởng sản xuất, người ta thường dùng các hệ thống hútbụi cyclon: không khí mang bụi được hút và cyclon, tại đó chúng được lọc sạch bụi rồithải ra không khí sạch

- Lọc bụi trong sản xuất công nghiệp

Ở các nhà máy sản xuất công nghiệp (như nhà máy xi măng, nhà máy dệt, luyệnkim, ) lượng bụi thải ra môi trường không khí là rất lớn Do đó khí thải ra môitrường phải được lọc sạch bụi đến giới hạn cho phép, ngoài ra còn có thể thu hồi cácbụi quý

Để lọc bụi người ta sử dụng nhiều dạng thiết bị lọc khác nhau Tuỳ thuộc bảnchất các lực tác dụng bên trong thiết bị, phân ra các nhóm thiết bị lọc bụi chủ yếu dướiđây:

+ Buồng lắng bụi Quá trình lắng xảy ra dưới tác dụng của trọng lực

+ Thiết bị lọc bụi kiểu quán tính Lợi dụng lực quán tính khi đổi chiều dòng khí

để tách bụi khỏi luồng khí thải

+ Thiết bị lọc bụi kiểu ly tâm-cyclon Dùng lực ly tâm để đẩy các hạt bụi ra xatâm quay rồi va chạm vào thành thiết bị, hạt bụi mất động năng và rơi xuống đáy thiếtbị

+ Lưới lọc Vật liệu lọc bằng vải, lưới thép, giấy, vật liệu rỗng bằng khâu sứ,khâu kim loại, Lực quán tính, lực trọng trường và cả lực khuyếch tán đều phát huytác dụng

+ Thiết bị lọc bụi bằng điện Dưới tác dụng của điện trường điện áp cao, các hạtbụi được tích điện và bị hút vào các bản cực khác dấu

2.2.2 Các bước thực hiện

Bước 1: Đánh giá và xác định các loại bụi trong từng trường hợp

Bước 2: Xác định và đánh giá các biện pháp phòng chống bụi

Bước 3: Lựa chọn giải pháp và tiến hành giải pháp

- Thảo luận nhóm, phát vấn người học

- Thời gian thực hiện 5 phút

Trang 23

Hướng dẫn đánh giá

- Đánh giá từng nhóm hoặc từng câu trả lời

- Hình thức đánh giá: Giảng viên nghe, phát vấn

- Công cụ đánh giá: Chấm điểm theo tiêu chí các bước thực hiện

2.3 Thông gió công nghiệp

2.3.1 Nhiệm vụ của thông gió công nghiệp

Môi trường không khí có tính chất quyết định đối với việc tạo ra cảm giác dễchịu không bị ngột ngạt, không bị nóng bức hay quá lạnh

Trong các nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp nguồn toả độc hại chủ yếu do cácthiết bị và quá trình công nghệ tạo ra Môi trường làm việc luôn bị ô nhiễm bởi các hơi

ẩm, bụi bẩn, các chất khí do hô hấp thải ra và bài tiết của con người: CO2, NH3, hơinước Ngoài ra còn các chất khí khác do quá trình sản xuất sinh ra như CO, NO2, cáchơi axít, bazơ

Thông gió trong các xí nghiệp nhà máy sản xuất có 2 nhiệm vụ chính sau:

- Thông gió chống nóng: Thông gió chống nóng nhằm mục đích đưa không khímát, khô ráo vào nhà và đẩy không khí nóng ẩm ra ngoài tạo điều kiện vi khí hậu tối

ưu Tại những vị trí thao tác với cường độ cao, những chỗ làm việc gần nguồn bức xạ

có nhiệt độ cao người ta bố trí những hệ thống quạt với vận tốc gió lớn (2-5 m/s) đểlàm mát không khí

- Thông gió khử bụi và hơi độc: ở những nơi có toả bụi hoặc hơi khí có hại, cần

bố trí hệ thống hút không khí bị ô nhiễm để thải ra ngoài, đồng thời đưa không khísạch từ bên ngoài vào bù lại phần không khí bị thải đi Trước khi thải có thể cần phảilọc hoặc khử hết các chất độc hại trong không khí để tránh ô nhiễm khí quyển xungquanh

Dựa vào nguyên nhân tạo gió và trao đổi không khí, có thể chia biện pháp thônggió thành thông gió tự nhiên và thông gió nhân tạo Dựa vào phạm vi tác dụng của hệthống thông gió có thể chia thành thông gió chung và thông gió cục bộ

2.3.2 Các biện pháp thông gió

a Thông gió tự nhiên:

Thông gió tự nhiên là trường hợp thông gió mà sự lưu thông không khí từ bênngoài vào nhà và từ trong nhà thoát ra ngoài thực hiện được nhờ những yếu tố tự nhiênnhư nhiệt thừa và gió tự nhiên

Dựa vào nguyên lý không khí nóng trong nhà đi lên còn không khí nguội xungquanh đi vào thay thế, người ta thiết kế và bố trí hợp lý các cửa vào và gió ra các cửa

có cấu tạo lá chớp khép mở được, làm lá hướng dòng và thay đổi diện tích cửa đểthay đổi được đường đi của gió cũng như hiệu chỉnh được lưu lượng gió vào, ra

b Thông gió nhân tạo:

Thông gió nhân tạo là thông gió có sử dụng máy quạt chạy bằng động cơ điện

để làm không khí vận chuyển từ chỗ này đến chỗ khác Trong thực tế thường dùng hệthống thông gió thổi vào và hệ thống thông gió hút ra Có 2 phương pháp để thông giónhân tạo:

* Thông gió chung:

Là hệ thống thông gió thổi vào hoặc hút ra có phạm vi tác dụng trong toàn bộkhông gian của phân xưởng Nó phải có khả năng khử nhiệt thừa và các chất độc hạitoả ra trong phân xưởng để đưa nhiệt độ và nồng độ độc hại xuống dưới mức chophép Có thể sử dụng thông gió chung theo nguyên tắc thông gió tự nhiên hoặc theonguyên tắc thông gió nhân tạo

Trang 24

- Hệ thống hút cục bộ: Dùng để hút các chất độc hại ngay tại nguồn sản sinh rachúng và thải ra ngoài, không cho lan toả ra các vùng chung quanh trong phân xưởng.Đây là biện pháp thông gió tích cực và triệt để nhất để khử độc hại (ví dụ các tủ hoánghiệm, bộ phận hút bụi đá mài, bộ phận hút bụi trong máy dỡ khuôn đúc ).

2.3.3 Lọc sạch khí thải trong công nghiệp

Trong các xí nghiệp nhà máy sản xuất ví dụ các nhà máy sản xuất hoá chất, cácnhà máy luyện kim v.v thải ra một lượng khí và hơi độc hại đối với sức khoẻ conngười và động thực vật Vì vậy để đảm bảo môi trường trong sạch, các khí thải côngnghiệp trước khi thải ra bầu khí quyển cần được lọc tới những nồng độ cho phép

Có các phương pháp làm sạch khí thải sau:

- Phương pháp ngưng tụ: chỉ áp dụng khi áp suất hơi riêng phần trong hỗn hợpkhí cao., như khi cần thông các thiết bị, thông van an toàn Trước khi thải hơi khí đó rangoài cần cho đi qua thiết bị để làm lạnh Phương pháp này không kinh tế nên ít được

sử dụng

- Phương pháp đốt cháy có xúc tác: để tạo thành CO2và H2O có thể đốt cháy tất

cả các chất hữu cơ, trừ khí thải của nhà máy tổng hợp hữu cơ, chế biến dầu mỏ v.v

- Phương pháp hấp thụ: thường dùng silicagen để hấp thụ khí và hơi độc Cũng

có thể dùng than hoạt tính các loại để làm sạch các chất hữu cơ rất độc Phương pháphấp thụ được sử dụng rộng rãi vì chất hấp thụ thường dùng là nước, sản phẩm hấp thụkhông gây nguy hiểm nên có thể thải ra theo cống rãnh Những sản phẩm có tính chấtđộc hại, nguy hiểm cần phải tách ra, chất hấp thụ sẽ làm hồi liệu tái sinh

Để lọc sạch bụi trong các phân xưởng người ta thường dùng các hệ thống thiết

bị dạng đĩa tháp, lưới, đệm, xiclo hoặc phân ly tĩnh điện

Trang 25

Hình 2.1 Đồ bảo hộ lao động

a Quần áo bảo hộ lao động:

Quần áo chính là loại đồ bảo hộ lao động cơ bản nhất, hầu hết các ngành côngnghiệp đều sử dụng quần áo bảo hộ lao động cho công nhân của mình có thể bảo vệthân thể của họ khỏi ảnh hưởng của môi trường nguy hiểm

Hình 2.2: Quần áo bảo hộ lao động

b Nón bảo hộ lao động:

Có thể nói nón, mũ chính là loại đồ bảo hộ lao động quan trọng và có vai trò nặng nềnhất khi nó chính là thứ bảo vệ cho vùng quan trọng nhất của con người Hạn chế đếnmức thấp nhất thương tổn xảy ra trên vùng đầu khi có tai nạn lao động chính là điều

mà nón bảo hộ mang lại cho người lao động

Trang 26

Hình 2.3: Nón bảo hộ lao động

c Giày bảo hộ lao động: một số môi trường làm việc lại nguy hiểm cho đôi chân như

những ngành chế biến thủy hải sản, hóa chất, … do đó chúng ta nên sử dụng giày bảo

hộ để bảo vệ cho đôi chân của người lao động đồng thời làm đẹp, giữ ấm đôi chân

Hình 2.4: Giày bảo hộ lao động

d Kính bảo hộ lao động: đây là loại đồ bảo hộ lao động dùng để bảo vệ cho vùng mắt

của người lao động ở những môi trường làm việc nhiều hóa chất, chất thải hay bụibặm, có nhiều vật thể lạ bay trong không gian

Hình 2.5: Kính bảo hộ lao động

e Găng tay, khẩu trang: găng tay và khẩu trang sẽ giúp cho người lao động bảo vệ

cho gương mặt và đôi tay của mình một cách tốt nhất khi làm việc ở nhiều môi trườngnguy hiểm

Trang 27

Hình 2.6: Khẩu trang

2.4.2 Các quy định về an toàn khi làm việc trên cao

Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu nguyên nhân tai nạn ngã từ trên cao

a Các trường hợp ngã cao

Ngã cao là tai nạn rất phổ biến, đa dạng và thường xảy ra các trường hợp sau:

- Ở trong tất cả các dạng công tác thi công ở trên cao như xây, lắp đặt, Tháo dỡcốp pha, lắp đặt cốt thép đổ dầm bê tông, lắp ghép các kết cấu xây dựng và thiết bị,vận chuyển vật liệu lên cao, làm mái và các công tác hoàn thiện (trát, quét vôi, trangtrí, …)

- Khi công nhân làm việc ở xung quanh công trình hoặc ở các bộ phận kết cấunhô ra ngoài công trình (mái đua, công xôn, ban công, ôvăng; khi làm việc trên mái,nhất là trên mái dốc, mái lợp bằng vật liệu giòn, dễ gãy vỡ (mái ngói, mái lợp,fibrô-ximăng): trên mép sàn, trên dàn giáo không có lan can bảo vệ

- Khi công nhân lên xuống ở trên cao (leo trèo trên tường, trên các kết cấu lắpghép, trên dàn giáo, trên khung cốp pha, cốt thép, khi lên xuống thang….)

- Khi đi lại ở trên cao (đi trên đỉnh tường, đỉnh dầm, đỉnh dàn, trên các kết cấukhác)

- Khi sàn thao tác hoặc thang bắt tạm bợ bị đổ gãy

- Khi làm việc ở vị trí chênh vênh, nguy hiểm không đeo dây an toàn

- Ngã cao không những chỉ xảy ra ở những công trường lớn, thi công tập trung,công trình cao, mà cả ở các công trường nhỏ, công trình thấp, thi công phân tán

b Những nguyên nhân chính gây tai nạn ngã cao

Ngã cao xảy ra có thể do những nguyên nhân sau:

- Công nhân làm việc trên cao không đáp ứng các điều kiện:

- Sức khỏe không tốt như thể lực yếu, phụ nữ có thai, người có bệnh về tim,huyết áp, tai điếc, mắt kém, …

- Công nhân chưa được đào tạo về chuyên môn hoặc làm việc không đúng vớinghề nghiệp, bậc thợ

- Công nhân chưa được học tập, huấn luyện chưa đạt yêu cầu về an toàn laođộng

- Phải kiểm tra giám sát thường xuyên để phát hiện, ngăn chặn và khắc phụckịp thời các hiện tượng làm việc trên cao không an toàn

- Thiếu hoặc không sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân như dây an toàn,giày, mũ … bảo hộ lao động

Trang 28

- Không sử dụng các phương tiện làm việc trên cao như thang, các loại dàn giáo(giáo ghế, giáo cao, giáo treo, nôi treo, …) để tổ chức chỗ làm việc và đi lại an toàncho công nhân, trong quá trình thi công ở trên cao.

- Sử dụng các phương tiện làm việc trên cao nói trên không đảm bảo các yêucầu an toàn gây ra sự cố tai nạn do những sai sót liên quan đến thiết kế, chế tạo, lắp đặt

và sử dụng

- Công nhân vi phạm nội qui an toàn lao động, làm bừa, làm ẩu trong thi công

d Các biện pháp an toàn lao động khi làm việc trên cao

Yêu cầu đối với người làm việc trên cao

Người làm việc trên cao phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:

- Từ 18 tuổi trở lên

- Có giấy chứng nhận đảm bảo sức khỏe làm việc trên cao do cơ quan y tế cấp.Định kỳ 6 tháng phải được kiểm tra sức khỏe một lần Phụ nữ có thai, người có bệnhtim, huyết áp, tai điếc, mắt kém không được làm việc trên cao

- Có giấy chứng nhận đã học tập và kiểm tra đạt yêu cầu về an toàn lao động dogiám đốc đơn vị xác nhận

- Đã được trang bị và hướng dẫn sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân khilàm việc trên cao: dây an toàn, quần áo, giày, mũ bảo hộ lao động

- Công nhân phải tuyệt đối chấp hành kỷ luật lao động và nội qui an toàn làmviệc trên cao

e Nội quy kỷ luật và an toàn lao động khi làm việc trên cao

- Nhất thiết phải đeo dây an toàn tại những nơi đã qui định

- Việc đi lại, di chuyển chỗ làm việc phải thực hiện theo đúng nơi, đúng tuyếnquy định, cấm leo trèo để lên xuống vị trí ở trên cao, cấm đi lại trên đỉnh tường, đỉnhdầm, xà, dàn mái và các kết cấu đang thi công khác

- Lên xuống ở vị trí trên cao phải có thang bắc vững chắc Không được mangvác vật nặng, cồng kềnh khi lên xuống thang

- Cấm đùa nghịch, leo trèo qua lan can an toàn, qua cửa sổ

- Không được đi dép lê, đi giày có đế dễ trượt

- Trước và trong thời gian làm việc trên cao không được uống rượu, bia, hútthuốc lào

- Công nhân cần có túi đựng dụng cụ, đồ nghề, cấm vứt ném dụng cụ, đồ nghềhoặc bất kỳ vật gì từ trên cao xuống

- Lúc tối trời, mưa to, giông bão, hoặc có gió mạnh từ cấp 5 trở lên không đươclàm việc trên dàn giáo cao, ống khói, đài nước, cột tháp, trụ hoặc dầm cầu, mái nhà 2tầng trở lên, vv

f Yêu cầu đối với các phương tiện làm việc trên cao

Để phòng ngừa tai nạn ngã cao, một biện pháp cơ bản nhất là phải trang bị dàngiáo (thang, giáo cao, giáo ghế, giáo treo, chòi nâng, sàn treo, …) để tạo ra chỗ làmviệc và các phương tiện khác bảo đảm cho công nhân thao tác và đi lại ở trên caothuận tiện và an toàn

Để bảo đảm an toàn và tiết kiệm vật liệu, trong xây dựng chỉ nên sử dụng cácloại dàn giáo đã chế tạo sẵn theo thiết kế điển hình

Chỉ được chế tạo dàn giáo theo thiết kế riêng, có đầy đủ các bản vẽ thiết kế và thuyếtminh tính toán đã được xét duyệt

Dàn giáo phải đáp ứng với yêu cầu an toàn chung sau:

* Về kết cấu

Trang 29

- Các bộ phận riêng lẻ (khung, cột, dây treo, đà ngang, đà dọc, giằng liên kết,sàn thao tác, lan can an toàn), và các chỗ liên kết phải bền chắc Kết cấu tổng thể phải

đủ độ cứng và ổn định không gian trong quá trình dựng lắp và sử dụng

- Sàn thao tác phải vững chắc, không trơn trượt, khe hở giữa các ván sàn khôngđược vượt quá 10mm

- Sàn thao tác ở độ cao 1,5m trở lên so với nền, sàn phải có lan can an toàn

- Lan can an toàn phải có chiều cao tối thiều 1m so với mắt sàn, có ít nhất haithanh ngang để phòng ngừa người ngã

- Có thang lên xuống giữa các tầng (đối với dàn giáo cao, và dàn giáo treo).Nếu tổng chiều cao của dàn giáo dưới 12m có thể dùng thang tựa hoặc thang treo Nếutổng chiều cao trên 12m, phải có lồng cầu thang riêng

- Có hệ thống chống sét đối với giáo cao Giáo cao làm bằng kim loại nhất thiếtphải có hệ thống chống sét riêng

* Yêu cầu an toàn khi dựng lắp và tháo dỡ

- Khi dựng lắp và thao dỡ dàn giáo phải có cán bộ kỹ thuật hoặc đội trưởnghướng dẫn, giám sát

- Chỉ được bố trí công nhân có đủ tiêu chuẩn làm việc trên cao, có kinh nghiệmmới được lắp dựng, tháo dỡ dàn giáo ở trên cao

- Công nhân lắp đặt và tháo dỡ dàn giáo ở trên cao phải được trang bị cácphương tiện bảo vệ cá nhân khi làm việc trên cao như giày vải, dây an toàn

- Trước khi tháo dỡ dàn giáo, công nhân phải được hướng dẫn trình tự vàphương pháp tháo dỡ cũng nhu các biện pháp an toàn

- Mặt đất để dựng lắp dàn giáo cần san phẳng, đầm chặt để chống lún và bảođảm thoát nước tốt

- Dựng đặt các cột hoặc khung đàn khung dàn giáo phải bảo đảm thẳng đứng và

bố trí đủ các giằng neo theo yêu cầu của thiết kế

- Dưới chân các cột phải kê ván lót chống lún, chống trượt Cấn kê chân cộthoặc khung dàn giáo bằng gạch đá hoặc các mẩu gỗ vụn

- Giáo cao, giáo treo phải được neo bắt chặt vào tường của ngôi nhà hoặc côngtrình đã có hoặc đang thi công Vị trí và số lượng móc neo hoặc dây chằng phải thựchiện theo đúng chỉ dẫn của thiết kế Cấm neo vào các bộ phận kết cấu kém ổn địnhnhư lan can, ban công, mái đua, ống thoát nước, vv

- Đối với dàn giáo đứng độc lập hoặc dùng để chống đỡ các kết cấu công trình,phải có hệ giằng hoặc dây neo bảo đảm ổn định theo yêu cầu của thiết kế

- Dàn giáo bố trí ở gần đường đi, gần các hố đào, gần phạm vi hoạt động củacác máy trục, phải có biện pháp đề phòng các vách hố đào bị sụt lở, các phương tiệngiao thông và cẩu chuyển va chạm làm đổ gãy dàn giáo

- Ván lát sàn thao tác phải có chiều dày ít nhất là 3cm, không bị mục mọt hoặcnứt gãy Các tấm phải ghép khít và bằng phẳng, khe hở giữa các tấm ván không đượclớn hơn 1cm Khi dùng ván rời đặt theo phương dọc thì các tấm ván phải đủ dài để gáctrực tiếp hai đầu lên thanh đà đỡ, Mỗi đầu ván phải chìa ra khỏi thanh đà đỡ một đoạn

ít nhất là 20cm và được buộc hoặc đóng đinh chắc vào thanh đà Khi dùng các tấm vánghép phải nẹp bên dưới để giữ cho ván khỏi bị trượt

- Lỗ hổng ở sàn thao tác chỗ lên xuống thang phải có lan can bảo vệ ở ba phía.Giữa sàn thao tác và công trình phải để chừa khe hở không quá 5cm đối với công tácxây và 20cm đối với công tác hoàn thiện

- Giáo treo và nôi treo phải dựng lắp cách các phần nhô ra cửa công trình mộtkhoảng tối thiểu là 10cm

Trang 30

- Dầm công xôn, giáo treo và nôi treo phải lắp đặt và ổn định vào các bộ phậnkết cấu vững chắc của ngôi nhà hay công trình Để tránh bị lật hai bên côngxôn phải cócác vấu định vị chống giữ Đuôi công xôn phải có cơ cấu neo bắt chặt vào kết cấu máihoặc đặt đối trọng để tránh chuyển dịch.

- Không được đặt dầm công xôn lên mái đua hoặc bờ mái

- Đối với mái công xôn, khi lắp đặt, dầm công xôn phải được neo buộc chắcchắn vào các bộ phận kết cấu của công trình, để phòng khả năng trượt hoặc lật giáo.Khi chiều dài công xôn lớn, hoặc tải trọng nặng, dưới công xôn phải có các thanhchống xiên đỡ, các thanh này không chỉ cố định vào côngxôn bằng mộng ghép mà cònbằng bulông, hoặc đinh đĩa Không cho phép cố định công xôn vào bậu cửa

- Khi chuyển vật liệu lên sàn thao tác, phải dùng thăng tải hoặc các thiết bị nângtrục khác Không được neo các thiết bị nâng trục này vào công xôn

- Sàn thao tác trên giáo công xôn cũng phải có thành chắn cao 1m chắc chắn

- Thang phải đặt trên mặt nền (sàn) bằng phẳng ổn định và chèn giữ chắc chắn

- Cấm tựa thang nghiêng với mặt phằng nằm ngang lớn hơn bảy 70 độ và nhỏhơn 45 độ Trường hợp đặt thang trái với qui định này phải có người giữ thang và chânthang phải chèn giữ vững chắc chắn

- Chân thang tựa phải có bộ phận chặn giữ, dạng mấu nhọn bằng kim loại, đếcao su và những bộ phận hãm giữ khác, tùy theo trạng thái và vật liệu của mặt nền, cònđầu trên của thang cần bắt chặt vào các kết cấu chắc chắn (dàn giáo, dầm, các bộ phậncủa khung nhà)

- Tổng chiều dài của thang tựa không quá 5m

- Khi nối dài thang, phải dùng dây buộc chắc chắn

- Thang xếp phải được trang bị thanh giằng cứng hay mềm để tránh hiện tượngthang bất ngờ tự doãng ra

- Thang kim loại trên 5m, dựng thẳng đứng hay nghiêng với góc trên 70 độ sovới đường nằm ngang, phải có vây chắn theo kiểu vòng cung, bắt đầu từ độ cao 3m trởlên

- Vòng cung phải bố trí cách nhau không xa quá 80cm, và liên kết với nhau tốithiểu bằng ba thanh dọc Khoảng cách từ thang đến vòng cung không được nhỏ hơn70cm và không lớn hơn 80cm khi bán kính vòng cung là 35 - 40cm

-Nếu góc nghiêng của thang dưới 70 độ, thang cần có tay vịn và bậc thang làmbằng thép tấm có gân chống trơn trượt

- Với thang cao trên 10m, cứ cách 6 - 10m phải bố trí chiếu nghỉ

- Trước khi dỡ các bộ phận của sàn, cần dọn hết vật liệu, rác, thùng đựng vậtliệu, dụng cụ, …

- Khi tháo dỡ dàn giáo phải dùng cần trục hay các thiết bị cơ khí đơn giản nhưròng rọc để chuyển các bộ phận xuống đất

- Cấm ném hay vứt các bộ phận của dàn giáo từ trên cao xuống

* Yêu cầu an toàn khi sử dụng

- Dàn giáo khi lắp dựng xong phải tiến hành và lập biên bản nghiệm thu Trongquá trình sử dụng, cần quy định việc theo dõi kiểm tra tình trạng an toàn của dàn giáo

- Khi nghiệm thu và kiểm tra dàn giáo phải xem xét những vấn đề sau: sơ đồdàn giáo có đúng thiết kế không; cột có thẳng đứng và chân cột có đặt lên tấm gỗ kê đểphòng lún không; có lắp đủ hệ giằng và những điểm neo dàn giáo với công trình đểbảo đảm độ cứng vững và ổn định không; các mối liên kết có vững chắc không; mépsàn thao tác, lỗ chừa và chiếu nghỉ cầu thang có lắp đủ lan can an toàn không

Trang 31

- Tải trọng đặt trên sàn thao tác không được vượt quá tải trọng tính toán Trongquá trình làm việc không được để người, vật liệu, thiết bị tập trung vào một chỗ vượtquá quy định Khi phải đặt các thiết bị cẩu chuyển trên sàn thao tác ở các vị trí khácvới quy định trong thiết kế, thì phải tính toán kiểm tra lại khả năng chịu tải của các bộphận kết cấu chịu lực trong phạm vi ảnh hưởng do thiết bị đó gây ra Nếu khi tính toánkiểm tra lại thấy không có đủ khả năng chịu tải thì phải có biện pháp gia cố.

- Khi dàn giáo cao hơn 6m, phải có ít nhất hai tầng sàn Sàn thao tác bên trên,sàn bảo vệ dưới Khi làm việc đồng thời trên hai sàn, thì giữa hai sàn này phải có sànhoặc lưới bảo vệ

- Cấm làm việc đồng thời trên hai tầng sàn cùng một khoang mà không có biệnpháp bảo đảm an toàn

- Khi vận chuyển vật liệu lên dàn giáo bằng cần trục không được để cho vậtnâng va chạm vào dàn giáo, không được vừa nâng vừa quay cần Khi vật nâng còncách mặt sàn thao tác khoảng 1m phải hạ từ từ và đặt nhẹ nhàng lên mặt sàn

- Chỉ được vận chuyển vật liệu bằng xe cút kít hoặc xe cải tiến trên dàn giáo nếutrong thiết kế đã tính với những tải trọng này Trên sàn thao tác phải lát ván cho xe vậnchuyển

- Hết ca làm việc phải thu dọn sạch các vật liệu thừa, đồ nghề dụng cụ trên mặtsàn thao tác

- Ban đêm, lúc tối trời, chỗ làm việc và đi lại trên dàn giáo phải đảm bảo chiếusáng đầy đủ

- Khi trời mưa to, lúc dông bão hoặc gió mạnh cấp 5 trở lên không được làmviệc trên dàn giáo

- Đối với giáo ghế di động, lúc đứng tại chỗ, các bánh xe phải được cố địnhchắc chắn Đường để di chuyển giáo ghế phải bằng phẳng Việc di chuyển giáo ghếphải làm từ từ Cấm di chuyển giáo ghế nếu trên đó có người, vật liệu, thùng đựng rác,v.v

- Tính chất, tác dụng và biện pháp phòng chống bụi;

- Các biện pháp lọc sạch khí thải công nghiệp;

- Các biện pháp trong phòng ngừa tác hại của hóa chất

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2

1 Thế nào là bụi, có mấy cách phân loại bụi và hãy nêu các biện pháp phòng tránhbụi?

2 Trình bày khái niệm về chất độc và các biện pháp phòng tránh

3 Kể tên và trình bày tác dụng của các đồ bảo hộ lao động

4 Hãy nêu các yêu cầu khi làm việc trên cao đối với người lao động

Trang 32

CHƯƠNG 3: KỸ THUẬT PHÒNG CHỐNG CHÁY NỔ

Mục tiêu:

- Giải thích được nguyên nhân gây cháy, nổ;

- Thực hiện các biện pháp phòng chống cháy nổ;

- Sơ cứu được người bị bỏng;

- Rèn luyện được tính cẩn thận, phương pháp học tư duy và nghiêm túc trongcông việc

Nội dung chính:

3.1 Những kiến thức cơ bản về cháy nổ

a Định nghĩa quá trình cháy:

Theo định nghĩa cổ điển nhất thì quá trình cháy là phản ứng hóa học kèm theohiện tượng tỏa nhiệt lớn và phát sáng Theo quan điểm này quá trình cháy thực chất làmột quá trình ôxy hóa- khử Các chất cháy đóng vai trò của chất khử, còn chất ôxy hóathì tùy phản ứng có thể khác nhau

Theo quan điểm hiện đại thì quá trình cháy là quá trình hoá lý phức tạp, trong

đó xảy ra các phản ứng hoá học kèm theo hiện tượng toả nhiệt và phát sáng Như vậyquá trình cháy gồm hai quá trình cơ bản là quá trình hóa học và quá trình vật lý Quátrình hóa học là các phản ứng hóa học giữa chất cháy và chất ôxy hóa Quá trình vật lý

là quá trình khuyếch tán khí và quá trình truyền nhiệt từ giữa vùng đang cháy ra ngoài

Định nghĩa trên có những ứng dụng rất thực tế trong kỹ thuật phòng chốngcháy, nổ Chẳng hạn khi có đám cháy, muốn hạn chế tốc độ quá trình cháy để tiến tớidập tắt hoàn toàn đám cháy, ta có thể sử dụng hai nguyên tắc hoặc là hạn chế tốc độcấp không khí vào phản ứng cháy hoặc giải tỏa nhanh nguồn nhiệt từ vùng cháy rangoài và tốt hơn cả là áp dụng cả hai

Như vậy cháy chỉ xảy ra khi có 3 yếu tố: Chất cháy (Than, gổ, tre, nứa, xăng,dầu, khí mêtan, hydrô, ôxit cácbon ), ôxy trong không khí (> 14-15%) và nguồn nhiệtthích ứng (ngọn lửa, thuốc lá hút dở, chập điện, )

b Nhiệt độ chớp cháy, nhiệt độ bốc cháy, nhiệt độ tự bốc cháy:

* Nhiệt độ chớp cháy:

Giả sử có một chất cháy ở trạng thái lỏng (ví dụ nhiên liệu diezel) được đặttrong cốc bằng thép Cốc được nung nóng với tốc độ nâng nhiệt độ xác định Khi tăngdần nhiệt độ của nhiên liệu thì tốc độ bốc hơi của nó cũng tăng dần Nếu đưa ngọn lửatrần đến miệng cốc thì ngọn lửa sẽ xuất hiện kèm theo tiếng nổ nhẹ, nhưng sau đóngọn lửa lại tắt ngay Vậy nhiệt độ tối thiểu tại đó ngọn lửa xuất hiện khi tiếp xúc vớingọn lửa trần sau đó tắt ngay gọi là nhiệt độ chớp cháy của nhiên liệu diezel Sở dĩngọn lửa tắt là vì ở nhiệt độ đó tốc độ bay hơi của nhiên liệu diezel nhỏ hơn tốc độ tiêutốn nhiên liệu vào phản ứng cháy với không khí

* Nhiệt độ bốc cháy:

Nếu ta tiếp tục nâng nhiệt độ của nhiên liệu cao hơn nhiệt độ chớp cháy thì saukhi đưa ngọn lửa trần tới miệng cốc, quá trình cháy xuất hiện, sau đó ngọn lửa vẫn tiếp

Trang 33

tục cháy Nhiệt độ tối thiểu tại đó ngọn lửa xuất hiện và không bị dập tắt gọi là nhiệt

độ bốc cháy của nhiên liệu diezel

* Nhiệt độ tự bốc cháy:

Giả sử ta có một hỗn hợp chất cháy và chất ôxy hóa (ví dụ metan và không khí)được giữ trong một bình kín Thành phần của hỗn hợp này được tính toán trước đểphản ứng có thể tiến hành được Nung nóng bình từ từ ta sẽ thấy ở nhiệt độ nhất địnhthì hỗn hợp khí trong bình sẽ tự bốc cháy mà không cần có sự tiếp xúc với ngọn lửatrần Vậy nhiệt độ tối thiểu tại đó hỗn hợp khí tự bốc cháy không cần tiếp xúc với ngọnlửa trần gọi là nhiệt độ tự bốc cháy của nó

Ba loại nhiệt độ trên càng thấp thì khả năng cháy, nổ càng lớn, càng nguy hiểm vàcàng phải đặc biệt quan tâm tới các biện pháp phòng ngừa cháy, nổ

c Áp suất tự bốc cháy:

Giả sử có một hỗn hợp khí gồm một chất cháy và một chất ôxy hóa (như metan

và không khí) được pha trộn theo một tỷ lệ phù hợp với phản ứng cháy Hỗn hợp khíđược giữ trong ba bình phản ứng giống nhau, nhiệt độ nung nóng T0ban đầu của babình giống nhau, nhưng áp suất P trong ba bình khác nhau theo thứ tự tăng dần:

P1<P2<P3

Quan sát ba bình phản ứng trên, người ta nhân thấy: ở bình có áp suất P1, quátrình cháy không xảy ra, ở bình có áp suất P2cháy đã xảy ra và ở bình có áp suất P3sựcháy xảy ra rất dễ dàng

Áp suất tự bốc cháy của hỗn hợp khí là áp suất tối thiểu tại đó quá trình tự bốccháy xảy ra ở thí nghiệm trên thì áp suất tự bốc cháy là áp suất P2

Áp suất tự bốc cháy càng thấp thì nguy cơ cháy, nổ càng lớn

d Thời gian cảm ứng của quá trình tự bốc cháy:

Ở thí nghiệm trên, trong bình có áp suất P2sau khi hỗn hợp đã được nung nóngđến nhiệt độ T2 thì phản ứng cháy vẫn chưa tiến hành được mà phải chờ một thời giannữa thì ngọn lửa mới xuất hiện ở trong bình Khoảng thời gian đó (từ khi đạt đến ápsuất tự bốc cháy cho đến khi ngọn lửa xuất hiện) gọi là thời gian cảm ứng

Thời gian cảm ứng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện cụ thể của quá trình cháy Thờigian cảm ứng càng ngắn thì hỗn hợp khí càng dể cháy, nổ và cần phải đặc biệt quantâm phòng chống

Ví dụ: sự cháy của hydrocacbon ở trạng thái khí với không khí có thời gian cảmứng chỉ vài phần trăm giây, trong khi đó thời gian này của vài loại than đá trong khôngkhí kéo dài hàng ngày thậm chí hàng tháng

e Tốc độ lan truyền ngọn lửa trong hỗn hợp chất cháy và chất ôxy hóa:

Tốc độ lan truyền ngọn lửa là một thông số vật lý quan trọng của hỗn hợp khí,

nó nói lên khả năng cháy nổ của hỗn hợp là dễ hay khó và có nhiều ứng dụng thực tếtrong kỹ thuật phòng cháy, nổ Tốc độ lan truyền của ngọn lửa cũng phụ thuộc vào rấtnhiều yếu tố Ví dụ hơi xăng cháy với không khí trong động cơ xăng, khi tốc độ lan

Trang 34

truyền ngọn lửa là 15-35m/giây thì quá trình cháy được coi bình thường, nhưng nếutốc độ lan truyền >35m/giây thì đã là cháy kích nổ Cháy kích nổ là quá trình cháy quánhanh tạo ra sóng áp suất trong động cơ nên có tiếng gõ làm tuổi thọ của động cơ bịgiảm Với những hỗn hợp khí cháy cực nhanh như là hydro hoặc axetylen với khôngkhí thì tốc độ lan truyền ngọn lửa có thể lên tới hàng Km/giây…

3.2 Các nguyên nhân gây cháy, nổ và biện pháp đề phòng

a Các nguyên nhân gây cháy nổ:

- Cháy do nhiệt độ cao đủ sức đốt cháy một số chất như que diêm, dăm bào, gỗ,khi hàn hơi, hàn điện,

Nguyên nhân tự bốc cháy: gỗ thông 250oC, giấy 184oC, vải sợi hoá học 180oC

- Cháy do tác dụng của hoá chất, do phản ứng hóa học: một vài chất nào đó khitác dụng với nhau sẽ gây ra hiện tượng cháy

- Cháy do điện: khi chất cách điện bị hư hỏng, do quá tải hay ngắn mạch chậpđiện, dòng điện tăng cao gây nóng dây dẫn, do hồ quang điện sinh ra khi đóng cầu daođiện, khi cháy cầu chì, chạm mach,

- Cháy do ma sát tĩnh điện của các vật thể chất cháy với nhau, như ma sát mài,

- Cháy do tia bức xạ: tia nắng mặt trời khi tiếp xúc với những hỗn hợp cháy,nắng rọi qua những tấm thủy tinh lồi có thể hội tụ sức nóng tạo thành nguồn

- Cháy do sét đánh, tia lửa sét

- Cháy do áp suất thay đổi đột ngột: trường hợp này dễ gây nổ hơn gây cháy.Khi đổ nước nguội vào nước kim loại nóng chảy gây nổ; bởi vì khi nước nguội gặpnhiệt độ cao sẽ bốc hơi, tức khắc kéo theo tăng áp suất gây nổ

Ví dụ: Chất pH3 bình thường không gây nổ khi có oxy, nhưng khi hạ áp suất xuống lạigây ra nổ

Trang bị phương tiện PCCC (bình CO2, bột khô như cát, …)

- Cơ khí và tự động hoá quá trình sản xuất có tính nguy hiểm về cháy, nổ

- Hạn chế khối lượng của chất cháy (hoặc chất ôxy hoá) đến mức tối thiểu chophép về phương diện kỹ thuật

- Tạo vành đai phòng chống cháy Ngăn cách sự tiếp xúc của chất cháy và chấtôxy hoá khi chúng chưa tham gia vào quá trình sản xuất Các kho chứa phải riêng biệt

và cách xa các nơi phát nhiệt Xung quanh các bể chứa, kho chứa có tường ngăn cáchbằng vật liệu không cháy

- Cách ly hoặc đặt các thiết bị hay công đoạn dễ cháy nổ ra xa các thiết bị khác

và những nơi thoáng gió hay đặt hẳn ngoài trời

- Loại trừ mọi khả năng phát sinh ra mồi lửa tại những chỗ sản xuất có liên quanđến các chất dễ chay nổ

- Thiết bị phải đảm bảo kín, để hạn chế thoát hơi, khí cháy ra khu vực sản xuất

- Dùng thêm các chất phụ gia trơ, các chất ức chế, các chất chống nổ để giảmtính cháy nổ của hỗn hợp cháy

Trang 35

3.3 Các biện pháp và các phương tiện chữa cháy

3.3.1 Các biện pháp chữa cháy

3.3.1.1 Các chất dập tắt lửa:

- Các chất chữa cháy là các chất khi đưa vào chỗ cháy sẽ làm đình chỉ sự cháy

do làm mất các điều kiện cần cho sự cháy

- Yêu cầu các chất chữa cháy phải có tỷ nhiệt cao, không có hại cho sức khoẻ

và các vật cần chữa cháy, rẽ tiền, dễ kiếm và dễ sử dụng

- Khi lựa chọn các chất chữa cháy phải căn cứ vào hiệu quả dập tắt của chúng,

sự hợp lý về mặt kinh tế và phương pháp chữa cháy

3.3.1.2 Chữa cháy bằng nước

Nước có tỷ nhiệt rất cao, khi bốc hơi nước có thể tích lớn gấp 1700 lần thể tíchban đầu Nước rất dễ lấy, dễ điều khiển và có nhiều nguồn nước

a Đặc điểm chữa cháy bằng nước:

- Có thể dùng nước để chữa cháy cho các phần lớn các chất cháy: chất rắn haychất lỏng có tỷ trọng lớn hơn 1 hoặc chất lỏng dễ hoà tan với nước

- Khi tưới nước vào chỗ cháy, nước sẽ bao phủ bề mặt cháy hấp thụ nhiệt, hạthấp nhiệt độ chất cháy đến mức không cháy được nữa Nước bị nóng sẽ bốc hơi làmgiảm lượng khí và hơi cháy trong vùng cháy, làm loãng ôxy trong không khí, làmcách ly không khí với chất cháy, hạn chế quá trình ôxy hoá, do đó làm đình chỉ sựcháy

- Cần chú ý rằng:

+ Khi nhiệt độ đám cháy đã cao quá 1700oC thì không được dùng nước để dập tắt.+ Không dùng nước chữa cháy các chất lỏng dễ cháy mà không hoà tan với nướcnhư xăng, dầu hoả,

b Nhược điểm chữa cháy bằng nước

- Nước là chất dẫn điện nên chữa cháy ở các nhà, công trình có điện rất nguyhiểm, không dùng để chữa cháy các thiết bị điện

- Nước tác dụng với K, Na, CaO sẽ tạo ra sức nóng lớn và phân hoá khi cháynên có thể làm cho đám cháy lan rộng thêm

- Nước tác dụng với axít H2SO4 đậm đặc sinh ra nổ

- Khi chữa cháy bằng nước có thể làm hư hỏng vật cần chữa cháy như thư viện,nhà bảo tàng,

c Phương pháp tưới nước vào đám cháy:

- Tưới nước vào đám cháy có thể thự hiện bằng các vòi phụt mạnh hoặc phunvới các tia nhỏ dưới hình thức mưa:

- Để tạo ra các vòi phụt mạnh có thể dùng các ống phụt (vòi rồng) cầm tay vàống phụt có giá Các vòi nước phụt mạnh có đặc điểm là diện tích tác dụng nhỏ, tốc

độ lớn, sức phụt xa tập trung một khối nước lớn lên 1 diện tích nhỏ Ngoài tác dụnglàm mạnh, vòi nước phụt mạnh còn có tác dụng phân tích vật cháy ra những phần nhỏ,tách ngọn lửa khỏi vật cháy Vòi nước phụt mạnh nên áp dụng để chữa cháy các vậtrắn có thể tích lớn, chữa các đám cháy ở trên cao và xa không thể đến gần được,những chổ hiểm hóc, để làm nguội các kết cấu và thiết bị

- Để tạo ra các tia nước phun mưa có thể dùng ống phun mưa cầm tay, ống phụt

để tạo ra các tia nước nhỏ dưới áp suất lớn ở các đầu vòi phun, miệng phun hình cầu

xoắn, các loại vòi này thường sử dụng ở trong hệ thống chữa cháy tự động.Tưới nước dưới hình thức phun mưa có ưu điểm làm tăng bề mặt tưới và giảm lượngnước tiêu thụ Thường áp dụng chữa cháy các chất như than, vải, giấy, phốt pho, các

Trang 36

chất chất rời rạc, chất có sợi, chất cháy lỏng và dễ làm nguội bề mặt kim loại bị nungnóng.

3.3.1.3 Chữa cháy bằng bọt:

Bọt chữa cháy là các loại bọt hoá học hay bọt không khí, có tỷ trọng từ0.1-0.26 chịu được sức nóng Tác dụng chủ yếu của bọt chữa cháy là cách ly hổn hợpcháy với vùng cháy, ngoài ra có tác dụng làm lạnh

Bọt là 1 hỗn hợp gồm có khí và chất lỏng Bọt khí tạo ra ở chất lỏng do kết quảcủa các quá trình hoá học hoặc hỗn hợp cơ học của không khí với chất lỏng Bọt rấtbền với nhiệt nên chỉ cần 1 lớp mỏng từ 7-10cm là có thể dập tắt ngay đám cháy

- Không được dùng bọt hoá học để chữa cháy:

- Những nơi có điện vì bọt dẫn điện có thể bị điện giật

- Các khi loại K, Na vì nó tác dụng với nước trong bọt làm thoát khí H2

3.3.1.4 Chữa cháy bằng các chất khí trơ:

- Các loại khí trơ dùng vào việc chữa cháy là N2, CO2 và hơi nước Các chất

chữa cháy này dùng đẻ chữa cháy dung tích vì khi hoà vào các hơi khí cháy chúng sẽlàm giảm nồng độ ôxy trong không khí, lấy đi 1 lượng nhiệt lớn và dập tắt phần lớncác chất cháy rắn và lỏng (tác dụng pha loãng nồng độ và giảm nhiệt)

- Do đó có thể dùng để chữa cháy ở các kho tàng, hầm ngầm nhà kín, dùng

để chữa cháy điện rất tốt Ngoài ra dùng để chữa các đốm cháy nhỏ ở ngoài trời nhưdùng khí CO2 để chữa cháy các động cơ đốt trong, các cuộn dây động cơ điện, đámcháy dầu loang nhỏ

- Nó có ưu điểm không làm hư hỏng các vật cần chữa cháy Tuy nhiên khôngđược dùng trong trường hợp nó có thể kết hợp với các chất cháy để tạo ra hổn hợp

nổ, không có khả năng chữa được các chất Na, K, Mg cháy

- Ngoài những chất trên, người ta còn dùng cát, đất, bao tải, cói, để dập tắtnhững đám cháy nhỏ Đối với đám cháy lớn dùng những chất này không hiệu quả

3.3.2 Dụng cụ, phương tiện chữa cháy

3.2.2.1 Nước

a Nước Nước có ẩn nhiệt hoá hơi lớn làm giảm nhanh nhiệt độ nhờ bốc hơi.Nước được sử dụng rộng rãi để chống cháy và có giá thành rẻ Tuy nhiên không thểdùng nước để chữa cháy các kim loại hoạt tính như K, Na, Ca hoặc đất đèn và các đámcháy có nhiệt độ cao hơn 1700oC

b Bụi nước Phun nước thành dạng bụi làm tăng đáng kể bề mặt tiếp xúc của nóvới đám cháy Sự bay hơi nhanh các hạt nước làm nhiệt độ đám cháy giảm nhanh và

Trang 37

pha loãng nồng độ chất cháy, hạn chế sự xâm nhập của ôxy vào vùng cháy Bụi nướcchỉ được sử dụng khi dòng bụi nước trùm kín được bề mặt đám cháy.

c Hơi nước Hơi nước công nghiệp thường có áp suất cao nên khả năng dập tắtđám cháy tương đối tốt Tác dụng chính của hơi nước là pha loãng nồng độ chất cháy

và ngăn cản nồng độ ôxy đi vào vùng cháy Thực nghiệm cho thấy lượng hơi nước cầnthiết phải chiếm 35% thể tích nơi cần chữa cháy thì mới có hiệu quả

3.2.2.2 Vòi rồng chữa cháy

Hệ thống vòi rồng cứu hoả có tác dụng tự động dập tắt ngay đám cháy bằngnớc khi nó mới xuất hiện Vòi rồng có 2 loại: kín và hở

a Vòi rồng kín:

Có nắp ngoài làm bằng kim loại dễ chảy, đặt hướng vào đối tượng cần bảo vệ(các thiết bị, các nơi dễ cháy) Khi có đám cháy, nắp hợp kim sẽ chảy ra và nước sẽ tựđộng phun ra để dập tắt đám cháy Nhiệt độ nóng chảy của hợp kim, phụ thuộc vàonhiệt độ làm việc của gian phòng và lấy nh sau:

- Đối với phòng có nhiệt độ dới 40o là 72o

- Đối với phòng có nhiệt độ từ 40o-60o là 93o

- Đối với phòng có nhiệt độ dới 60o-100o là 141o

- Đối với phòng có nhiệt độ cao hơn 100o là 182o

b Vòi rồng hở:

Không có nắp đậy, mở nớc có thể bằng tay hoặc tự động Hệ thống vòi rồng hở

để tạo màng nớc bảo vệ các nơi sinh ra cháy

3.2.2.3 Bình chữa cháy bọt hoá học CO3

- Vỏ bình làm bằng thép hàn chịu được áp suất 20KG/cm2, có dung tích 10 líttrong đó chứa dung dịch kiềm Na2CO3với chất tạo bọt chiết từ gốc cây

- Trong thân bình có 2 bình thuỷ tinh: 1 bình chứa đựng axit sulfuaric nồng độ65.5 độ, 1 bình chứa sulfat nhôm nồng độ 35 độ Mỗi bình có dung tích khoảng0.45-1 lít Trên thân bình có vòi phun để làm cho bọt phun ra ngoài Khi chữa cháyđem bình đến gần đám cháy cho chốt quay xuống dưới, đập nhẹ chốt xuống nền nhà.Hai dung dịch hoá chất trộn lẫn với nhau, phản ứng sinh bọt và hướng vòi phun vàođám cháy Loại bình này tạo ra được 45 lít bọt trong 1.5phút, tia bọt phun xa được8m

3.2.2.4 Bình chữa cháy tetaccloruacacbon CCl4

- Bình chữa cháy loại này có thể tích nhỏ, chủ yếu dùng để chữa cháy trên ôtô,động cơ đốt trong và thiết bị điện

- Cấu tạo có nhiều kiểu, thông thường nó là 1 bình thép chứa khoảng 2.5 lítCCl4, bên trong có 1 bình nhỏ chứa CO2

- Khả năng dập tắt đám cháy của CCl4 là tạo ra trên bề mặt chất cháy 1 loại hơinặng hơn không khí 5.5 lần Nó không nuôi dưỡng sự cháy, không dẫn điện, làm cảnôxy tiếp xúc với chất cháy do đó làm tắt cháy

- Khi cần dùng, đập tay vào chốt đập, mũi nhọn của chốt đập chọc thủng tấmđệm và khí CO2 trong bình nhỏ bay ra ngoài Dưới áp lực của khí CO2, dung dịchCCl4 phun ra ngoài theo vòi phun thành 1 tia Bình được trang bị 1 màng bảo hiểm đểphòng nổ Một số bình kiểu này người ta dùng không khí nén để thay thế CO2

3.2.2.5 Bình chữa cháy bằng khí CO2 (loại OY-2)

- Vỏ bình chữa cháy bằng khí CO2 làm bằng thép dày chịu được áp suất thử là250kg/cm2 và áp suất làm việc tối đa là 180kg/cm2 Nếu quá áp suất này van an toàn

Trang 38

sẽ qua ống xiphông và loa phun rồi đợc phun vào ngọn lửa.

- Bình chữa cháy bằng khí CO2 không dùng để chữa cháy các thiết bị điện,những thiết bị quý,

- Không được dùng bình chữa cháy loại này để chữa cháy kim loại như các nitơrat,hợp chất técmít,

Hình 3.1: Cấu tạo bình chữa cháy

1 Thân bình; 2 Ống xiphông; 3 Van an toàn; 4 Tay cầm5.Nắp xoáy; 6 Ống dẫn; 7 Loa phun; 8 Giá kê

3.2.2.6 Xe chữa cháy chuyên dụng:

Được trang bị cho các đội chữa cháy chuyên nghiệp của thành phố hay thị xã

Xe chữa cháy loại này gồm: xe chữa cháy, xe thông tin và ánh sáng, xe phun bọt hoáhọc, xe hút khói vv Xe được trang bị dụng cụ chữa cháy, nước và dung dịch chữa cháy(lượng nước đến (400÷5.000)[lít], lượng chất tạo bọt 200 lít.)

3.2.2.7 Phương tiện báo và chữa cháy tự động:

Phương tiện báo tự động dùng để phát hiện cháy từ đâu và báo ngay về trungtâm chỉ huy chữa cháy Phương tiện chữa cháy tự động là phương tiện tự động đưachất cháy vào đám cháy và dập tắt ngọn lửa

3.2.2.8 Các trang bị chữa cháy tại chỗ:

Đó là các loại bình bọt hoá học, bình CO2, bơm tay, cát, xẻng, thùng, xô đựngnước, câu liêm, vv Các dụng cụ này chỉ có tác dụng chữa cháy ban đầu và được trang

bị rộng rãi cho các cơ quan, xí nghiệp, kho tàng

Ngoài ra nên sử dụng các biển báo, tiêu lệnh chữa cháy, biển cảnh báo cháy nổ,biển chỉ dẫn bình và thiết bị chữa cháy, biển chỉ dẫn thoát hiểm khi có cháy, nổ

Trang 39

Hình 3.2: Bảng tiêu lệnh chữa cháy

3.4 Sơ cứu người bị bỏng

- Độ II: Bỏng một phần da

Trường hợp này thì lớp biểu bì và một phần của lớp chân bì bị tổn thương, cáctúi phỏng nước được hình thành, nếu các túi phỏng nước được hình thành, nếu các túiphỏng nước vỡ ra sẽ để lộ một bề mặt màu hồng và cũng rất đau Nếu được giữ sạchvết bỏng sẽ tự lành sau khoảng 1-4 tuần không cần điều trị gì mà cũng không để lại sẹohoặc sẹo nhưng không đáng kể Nhưng tổ chức da sau khi lành vết bỏng có thể đỏtrong một thời gian dài hơn Nếu bỏng độ II bị nhiễm khuẩn thì lớp da dưới sẽ bị pháhủy và bỏng độ II chuyển thành bỏng độ III

Hình 3.3 Sơ cứu người bị bỏng bằng nước

Trang 40

Đối với bỏng một phần da, nếu được giữ sạch vết bỏng sẽ tự lành sau khoảng1-4 tuần không cần điều trị gì mà cũng không để lại sẹo.

- Độ III: Bỏng toàn bộ các lớp da.

Toàn bộ các lớp da đều bị tổn thương bao gồm cả lỗ chân lông và tuyến

mồ hôi Vết bỏng trắng nhợt hoặc xám lại, khô cứng và mất cảm giác (không đau) vàcác đầu nút dây thần kinh bị phá hủy

Trong trường hợp bỏng rất nặng toàn bộ các lớp da thì lớp mỡ dưới da cũng có thể bịphá hủy và để lộ phần cơ

Khi bị bỏng toàn bộ các lớp của da thì vết bỏng chỉ được lành dần từ phía bờcác vết bỏng và các vết bỏng rất dễ bị nhiễm khuẩn do vậy thời gian lành vết bỏngthường kéo dài rất lâu

Độ sâu của một vết bỏng nhiều khi không đều nhau vì độ sâu của các vết bỏngphụ thuộc vào nhiệt độ, nồng độ hóa chất và thời gian mà nhiệt độ hoặc hóa chất tácđộng lên da Da có xu hướng giữ nhiệt và quần áo bị đốt cháy thành than làm cho vếtthương trở nên nặng nề hơn, do đó việc sử dụng quá nhiều nước để rửa vết bỏng khi

mà vết bỏng vừa mới xảy ra (trong vòng 30 phút khi xảy ra tai nạn) sẽ có tác dụng làmgiảm độ sâu của bỏng

+ Nếu nạn nhân hít phải khói, hơi nóng thì có thể gây bỏng đường hô hấp làm phù

nề đường hô hấp, gây tắc nghẽn dẫn đến suy hô hấp và rất dễ dẫn đến viêm phổi

3.4.1.2 Chăm sóc, cấp cứu người bị bỏng nói chung

a Dập tắt lửa đang cháy trên quần áo và làm mát vết bỏng

Đây là việc làm trước hết để tránh cho nạn nhân bị bỏng sâu và rộng thêm

- Dùng nước hoặc cát để dập tắt lửa, hoặc có thể dùng áo khoác, chǎn, vải bọckín chỗ đang cháy để dập lửa (không dùng vải nhựa, ni lông để dập lửa)

- Xé bỏ phần quần áo đang cháy âm ỉ hoặc bị thấm đẫm nước nóng, dầu hay cácdung dịch hóa chất nếu ngay sau đó không có nước lạnh để dội vào vùng bỏng

- Bọc vùng bỏng chắc chắn rồi đổ nước lạnh lên Với những vết bỏng ở tay cóthể để cho nước từ vòi nước máy chảy trực tiếp lên vùng bỏng hoặc ngâm phần chi bị

Ngày đăng: 28/06/2023, 21:10

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm