Chính vì vậy mà Hội nghị Trung ươngĐảng lần thứ ba Khóa IX đã khẳng định: “Đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp nhànước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng đ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU 2
I MỤC TIÊU CỦA TIỂU LUẬN 2
I.I PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
I.I.I PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
PHẦN NỘI DUNG 4
I TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HÓA 4
I.1 Lý luận về cổ phần hóa và công ty cổ phần 4
I.1.1 Quan niệm về cổ phần hóa 4
I.1.2 Quan niệm về công ty cổ phần 4
I.1.3 Mục tiêu và đối tượng của cổ phần hóa 5
I.2 Sự cần thiết phải cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 6
I.2.1 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hiện nam 6
I.2.2 Vai trò của cổ phần hóa và sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hóa ở Việt Nam 7
I.3 Kinh nghiệm cổ phần hóa của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 8
I.4 Cơ sở pháp lý về cổ phần hóa tại Việt Nam 9
I.I THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 9
II.1 Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam 9
II.1.1 Giai đoạn thí điểm (1992-5/1996) 9
II.1.2 Giai đoạn thí điểm mở rộng (5/1996-6/1998) 10
II.1.3 Giai đoạn triển khai từ tháng 7/1998 đến nay 10
II.2 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện CPH 12
II.2.1 Thuận lợi 12
II.2.2 Khó khăn 13
II.3 Những thành tựu đạt được từ việc CPH 14
II.4 Những hạn chế trong công tác CPH 15
I.I.I GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA 19
III.1 Thách thức trong quá trình thực hiện cổ phần hóa DNNN hiện nay 19
III.2 Giải pháp 20
III.2.1 Giải pháp vĩ mô: 20
III.2.2 Giải pháp vi mô: 21
KẾT LUẬN 22
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách kinh tế, các chính sách về tự do hóathương mại – đầu tư và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã và đang hoàn thiện dần cơ chếnhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển phù hợp với quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa.Song song với việc cải cách kinh tế, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, gia nhập tổ chức WTO, một sân chơi nhiều thuận lợi nhưng cũng đầy thách thức và khókhăn
Thực tiễn đặt ra như vậy, đòi hỏi nền kinh tế của VN trong những năm tiếp theo phải thực sựvững mạnh và phát triển Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhà nước vốn được biết đến là giữ
vị trí chủ đạo, hoạt động trong lĩnh vực then chốt của nền kinh tế nước ta nhưng lại có cơ chếquản lý thiếu chặt chẽ, trình độ công nghệ sản xuất tụt hậu, thiếu năng động trong kinh doanh, bộmáy quản lý cồng kềnh, không hiệu quả từ nhiều năm nay Chính vì vậy mà Hội nghị Trung ươngĐảng lần thứ ba (Khóa IX) đã khẳng định: “Đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp nhànước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơbản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”
Trước chủ trương đúng đắn và rất cần thiết đối với tiến trình phát triển của đất nước về việc đổi
mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, chúng tôi đã chọn đề tài “Đánh giá quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và các giải pháp đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới”
Từ năm 1991 đến nay, nhiều công ty cổ phần VN đã ra đời và được phân bố dọc theo chiều dàiđất nước, và theo thời gian chính sự tồn tại và phát triển không ngừng của chúng đã mang lạinhiều thành quả đáng kể như hiệu quả hoạt động của DN được nâng cao, cơ cấu quản lý doanhnghiệp đi dần đến hoàn thiện, doanh thu và lợi nhuận không ngừng nới rộng, đời sống của ngườilao động ngày càng cải thiện theo mức thu nhập ngày một gia tăng, và doanh thu cho ngân sáchnhà nước từ những khoản thuế của DN ngày được chất chồng thêm, cũng có nghĩa là uy tín và têntuổi của chúng đang dần lan xa, và tại sao chúng trở thành những mục tiêu chính yếu luôn nằmtrong tằm ngắm của nhiều nhà đầu tư nước ngoài Điều đó đã chứng tỏ rằng: “CPH DNNN ởViệt Nam” trở thành một tất yếu khách quan, một xu hướng phù hợp với thời đại Song bên cạnhnhững thành tựu đã đạt được thì nhìn chung tiến độ thực thi còn chậm, vẫn còn nhiều vấn đề tồntại cần phải giải quyết Chính vì vậy, việc nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn đểtìm ra giải pháp thúc đẩy tiến trình CPH ở nước ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Do đó, qua đềtài này chúng tôi muốn mang đến cho các bạn cái nhìn tổng quan về thực trạng quá trình cổ phầnhóa DNNN ở VN và cùng nhau thảo luận về các giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả của cáccông ty cổ phần hóa DNNN xứng tầm với vị thế vốn có của nó, đóng góp vào nền tăng trưởngkinh tế của nước nhà ngày một phồn vinh sung mãn
Phương pháp thống kê: Chỉ tiêu thống kê là sự biểu hiện một cách tổng hợp đặc điểm về
mặt lượng trong sự thống kê về mặt chất của tổng thể hiện tượng trong điều kiện về thờigian và địa điểm cụ thể Phương pháp thống kê được sử dụng chủ yếu là thu thập các sốliệu và tổng hợp lại theo trình tự để thuận lợi cho quá trình đánh giá
Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp được áp dụng rất phổ biến So sánh là đối
chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa có cùng một nội dung, có
Trang 3tính chất tương tự để xác đinh xu hướng biến động của các chỉ tiêu Trên cơ sở đó ta cóthể đánh giá một cách khách quan, những mặt phát triển hay chưa phát triển, hiệu quả haykém hiệu quả, để từ đó đưa ra cách giải quyết, các biện pháp nhằm đạt được hiệu quả tốiưu.
Do thời gian nghiên cứu ngắn, phạm vi và lĩnh vực nghiên cứu còn cần nhiều cải cách, địnhhướng cho nên đề tài nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào việc tìm hiểu khái quát về:
Cổ phần hóa và các lí do dẫn đến cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Namcũng như các quy định hiện hành của khung pháp lý về cổ phần hóa
Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và đánh giá những thành tựu, cũngnhư các hạn chế còn tồn tại trong quá trính cổ phần hóa thời gian qua
Nhận thức những thách thức cho quá trình cổ phần hóa và đưa ra các giải pháp đẩy nhanhtiến độ cổ phàn hóa hiện nay
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
I TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HÓA
I.1 Lý luận về cổ phần hóa và công ty cổ phần
I.1.1 Quan niệm về cổ phần hóa
Theo tài liệu của hầu hết các học giả nước ngoài thì việc xem xét vấn đề cổ phần hóa doanhnghiệp nhà nước đều đặt nó trong một quá trình rộng lớn hơn đó là quá trình tư nhân hóa Tưnhân hóa theo như định nghĩa của Liên Hiệp Quốc là sự biến đổi tương quan giữa Nhà nước vàthị trường trong đời sống kinh tế của một nước ưu tiên thị trường Theo cách hiểu này thì toàn bộcác chính sách, thể chế, luật lệ nhằm khuyến khích, mở rộng, phát triển khu vực kinh tế tư nhânhay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, giảm bớt quyền sở hữu và can thiệp trực tiếp củanhà nước vào các hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, giành cho thị trường vai tròđiều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh đáng kể thông qua tự do hóa giá cả, tự do lựa chọn đốitác và ngành nghề kinh doanh
Xét về mặt hình thức, thì cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là việc nhà nước bán một phần haytoàn bộ giá trị tài sản của mình cho các cá nhân hay tổ chức kinh tế trong hoặc ngoài nước, hoặcbán trực tiếp cho cán bộ, công nhân của chính doanh nghiệp nhà nước thông qua đấu thầu côngkhai, hay thông qua thị trường chứng khoán để hình thành nên các công ty cổ phần
Như vậy cổ phần hóa chính là phương thức thực hiện xã hội hóa sơ hữu – chuyển hình thức kinhdoanh từ một chủ sở hữu là doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu
để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được với nhucầu kinh doanh hiện đại
Từ quan niệm trên, kết hợp với điều kiện cụ thể với nước ta, có thể đưa ra khái niệm cổ phần hóadoanh nghiệp nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp mà chủ sở hữu là nhà nước (doanh nghiệpđơn sở hữu) thành công ty cổ phần (doanh nghiệp đa sở hữu), chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạtđộng theo Luật doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo Luật doanh nghiệp
I.1.2 Quan niệm về công ty cổ phần
Xét về mặt pháp lý : công ty Cổ phần là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân độc lập,được hưởng quy chế pháp lý của Nhà nước, có tư cách bên nguyên để kiện các pháp nhân khácđồng thời cũng có thể bị các pháp nhân khác kiện Công ty Cổ phần có vốn kinh doanh do nhiềungười đóng góp dưới hình thức cổ phần Các cổ đông trong công ty chỉ phải chịu trách nhiệm vềcác khoản nợ của công ty trong phạm vị vốn góp của mình cho công ty chứ không chịu tráchnhiệm vô hạn như hình thức kinh doanh một chủ hay hình thức kinh doanh chung vốn Nhờ đó
mà khả năng thu hút vốn đầu tư và khả năng mạo hiểm cao hơn
Thuận lợi và khó khăn của công ty cổ phần
Thuận lợi của công ty Cổ phần phải kể đến là :
Thứ nhất, việc thu hút và sử dụng vốn nhàn rỗi trong dân cư nhờ vào việc phát hành cổ
phiếu thông qua thị trường chứng khoán và các nguồn vốn nhàn rỗi từ khu vực dân cư,các nhà đầu tư nhỏ lẽ
Thứ hai, việc đầu tư vào các công ty Cổ phần thường đem lại lợi ích lớn hơn so với việc
gửi tiền vào các quỹ tín dụng hay ngân hàng Thông thường lợi tức do cổ phiếu đem lạicao hơn lãi suất tiền gửi, dẫn đến hiệu quả kinh doanh cao, góp phần phát triển kinh tế đấtnước
Trang 5 Thứ ba, các cổ đông trong công ty không được phép rút vốn ra khỏi công ty mà chỉ có thể
mua, bán, chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho những người khác Do vậy số vốnkinh doanh của công ty luôn luôn ổn định cho dù có những biến động lớn về nhân sựtrong công ty
Thứ tư, điều kiện áp dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ trong họat động sản xuất
kinh doanh nhằm nâng cao năng suất lao động dễ dàng hơn do nguồn vốn dự phòng chođầu tư phát triển được mở rộng và tính tự chủ cao về mặt quản lý điều hành DN
Với những thuận lợi trên, công ty Cổ phần đã có vai trò thúc đẩy sự ra đời và phát triển của thịtrường chứng khoán; tạo điều kiện thực hiện xã hội hoá các hình thức sở hữu
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, công ty Cổ phần vừa chuyển đổi từ DNNN cũng phải đốimặt với những khó khăn như:
Sự ảnh hưởng nặng nề của tư duy kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ trong điều kiệnchiến tranh kéo dài Trong tư duy cũng như trong thực tiễn xây dựng cơ sở vật chất kỹthuật , người ta vẫn thường xem nhẹ các quy luật kinh tế khách quan của thị trường , coikinh tế thị trường là của riêng Chủ nghĩa tư bản, từ đó dẫn đến hậu quả là việc hạch toánkinh tế trong các doanh nghiệp là mang tính hình thức,
Hơn nữa, lực lượng sản xuất của ta còn quá yếu kém; cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, lạchậu; hệ thống pháp luật, chính sách quản lý còn chưa thống nhất đồng bộ, thủ tục hànhchính còn quá rườm rà, quan liêu; cơ cấu kinh tế chưa hợp lý…
Tóm lại, những thuận lợi và khó khăn của công ty Cổ phần là một mâu thuẫn lớn , song bắt buộcphải kiên quyết đổi mới, phải có những giải pháp và bước đi phù hợp với trình độ thực tế cơ sở
Do vậy mà mục tiêu và quan điểm đổi mới doanh nghiệp Nhà nước thông qua Cổ phần hoá làđúng đắn và cần thiết
I.1.3 Mục tiêu và đối tượng của cổ phần hóa
Theo Nghị định số 109/2001/NĐ-CP ngày 26/06/2007 về chuyển doanh nghiệp nhà nước thànhcông ty cổ phần thì mục tiêu, đối tượng là:
Chuyển đổi những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hìnhdoanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nướcngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lýnhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trongdoanh nghiệp
Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phầnhóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trườngchứng khoán
Như vậy mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của nước ta được xác định rất rõ nhằm:
Thứ nhất: chuyển hoá từ đơn sở hữu sang đa sở hữu doanh nghiệp, đảm bảo quyền làm
chủ thực sự của những người góp vốn và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Có điều kiện huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chứckinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việclàm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp nhànước
Trang 6 Thứ ha, thay đổi căn bản về tổ chức các quan hệ quản lý nội bộ doanh nghiệp Với cơ cấu
tổ chức mới, có sự phân công, phân cấp và giám sát lẫn nhau chặt chẽ Thay đổi phươngthức quản lý tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản nhànước, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước
Thứ ba, thay đổi căn bản về quan hệ quản lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp Từ chỗ
doanh nghiệp bị chi phối toàn diện trong quá trình sản xuất kinh doanh bởi Nhà nước với
tư cách là chủ sở hữu duy nhất, sang quyền tự chủ kinh doanh được mở rộng và tính chịutrách nhiệm được đề cao
Công ty nhà nước độc lập thuộc các Bộ, ngành, địa phương
Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế (sau đây gọi tắt là tập đoàn), Tổng công ty nhà nước(kể cả Ngân hàng Thương mại nhà nước)
Công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ - công ty con
Công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư
và thành lập
Đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty nhà nước độc lập, tập đoàn, tổng công ty nhànước, công ty mẹ, công ty thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty
Công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
I.2 Sự cần thiết phải cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
I.2.1 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hiện nam
Trong đổi mới kinh tế, một vấn đề lớn được đặt ra là phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất
và từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất Để giảiphóng lực lượng sản xuất, tất yếu phải phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường và xây dựng thểchế kinh tế thị trường, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai tròchủ đạo, thể hiện ở những mặt sau:
DNNN có vị trí rất quan trọng, góp phần để khu vực kinh tế Nhà nước thực hiện được vaitrò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là động lực thúc đẩy sự phân bố lại dân cư theohướng công nghiệp hóa, hình thành các trung tâm kinh tế, văn hóa, đô thị mới, đào tạocán bộ kĩ thuật, công nhân lành nghề và tạo thêm điều kiện hạ tầng cho quá trình pháttriển
DNNN là công cụ vật chất để Nhà nươc điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thị trườngtheo định hướng XHCN
DNNN đang đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách xã hội và ổnđịnh chính trị- xã hội, định hướng công bằng, văn minh, góp phần cùng khu vực kinh tếkhác giải quyết vấn đề việc làm, thu nhập cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, pháttriển văn hóa giáo dục, y tế làm cơ sở và nền tảng cho công cuộc công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước
Trang 7Ngoài một số những thành quả đạt được, nhìn chung hiện nay hiệu quả hoạt động của khu vựckinh tế nhà nước nói chung và hệ thống doanh nghiệp nhà nước nói riêng vẫn chưa cao, chưa thểhiện vai trò đầu tàu của mình trong nền kinh tế Những tồn tại yếu kém cụ thể là:
Thứ nhất, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, chưa tương xứng với vị trí và sự đầu tư
của ngân sách
Thứ hai, DNNN có quy mô nhỏ Do quy mô doanh nghiệp còn rất nhỏ nên khả năng đầu
tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ rất hạn chế
Thứ ba, DNNN lạc hậu về công nghệ sản xuất, về trình độ quản lí
Thứ tư, cơ cấu phân bố chưa hợp lí Còn khá nhiều DNNN hoạt động trong các lĩnh vực
mà trong đó chúng khó có thể cạnh tranh được trong những dịch vụ thông thường Bêncạnh đó, có thể nhận thấy DNNN được phân bổ không hợp lí theo địa phương, theongành Có những địa phương, ngành như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng,ngành công nghiệp, thương mại DNNN tập trung với số lượng lớn trong lúc đó nhiều địaphuơng lại có rất ít các DNNN
Thứ năm, cơ chế quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp cũng như cơ chế quản lý trong
bản thân doanh nghiệp cồng kềnh và thiếu hiệu quả Quản lý vĩ mô DNNN chưa hiệuquả, chưa theo kịp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, của việc nâng cao hiệu quả củaDNNN
Chế độ chủ quản đối với DNNN, chế độ chức năng đối với DNNN rất nhiều tầng cấpkhiến chúng bị ràng buộc bởi quá nhiều yêu cầu và đòi hỏi khác nhau Trong lúc đó, lợi íchcủa người lao động trong DNNN chưa trở thành động lực thúc đẩy họ lao động tốt hơn, gắnvới doanh nghiệp một cách chặt chẽ hơn
Thứ sáu, như là hệ quả của những điểm yếu trên, DNNN có ít khả năng cạnh tranh trên
thị trường Trong bối cảnh đất nước ta đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tham gianhiều hơn về các khu vực tự do mậu dịch hoặc các hiệp định thương mại song phương,
đa phương, tính cạnh tranh thấp của DNNN là một thách thức sống còn đối với nền kinh
tế nước ta
Để các DNNN hoạt động có hiệu quả, cơ chế quản lí tốt, khả năng cạnh tranh trên thị trường tốthơn, người lao động gắn bó hơn với doanh nghiệp thì DNNN cần sắp xếp, đổi mới một trongnhững giải pháp tốt nhất là cổ phần hóa, đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta
I.2.2 Vai trò của cổ phần hóa và sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hóa ở Việt Nam
Xuất phát từ thực tế nêu trên, thực hiện CPH là một nhiệm vụ rất cần thiết và quan trọng trongquá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, CPH sẽ giải quyết được các vấn đề sau:
Thứ nhất, thực hiện CPH là để giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng
sản xuất CPH góp phần thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu Trướcđây chúng ta xây dựng một cách cứng nhắc chế độ công hữu, thể hiện ở một số lượng quálớn các DNNN mà không nhận thấy quan hệ sản xuất này không phù hợp với lực lượngsản xuất còn nhiều yếu kém, lạc hậu Vì vậy CPH sẽ giải quyết được mâu thuẫn này, giúplực lượng sản xuất phát triển
Thứ hai, thực hiện CPH nhằm xã hội hoá lực lượng sản xuất, thu hút thêm nguồn lực sản
xuất Khi thực hiện CPH , người lao động sẽ gắn bó , có trách nhiệm với công việc hơn,
họ trở thành người chủ thực sự của doanh nghiệp Ngoài ra, phương thức quản lý được
Trang 8thay đổi, doanh nghiệp sẽ trở nên năng động, tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh, nângcao hiệu quả sản xuất.
Thứ ba, bên cạnh đó, CPH là một yếu tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trườngchứng khoán, đưa nền kinh tế hội nhập với kinh tế khu vực và trên thế giới
nguồn lực trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế Với việc huy động được các nguồnlực, các công ty cổ phần có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới côngnghệ, nâng cao được khả năng cạnh tranh trên thị trường, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh
Thứ năm, cổ phần hoá tác động tích cực đến đổi mới quản lý ở cả tầm vĩ mô và vi mô.
Chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần không những chỉ là sự thay đổi về sở hữu, màcòn là sự thay đổi căn bản trong công tác quản lý ở cả phạm vi doanh nghiệp và ở cảphạm vi nền kinh tế quốc dân
Thứ sáu, cổ phần hoá là một giải pháp quan trọng để cơ cấu lại nền kinh tế trong quá
trình đổi mới
Như vậy, đứng trước thực trạng hoạt động yếu kém của hệ thống DNNN, CPH với những ưuđiểm và mục tiêu của mình đã chứng tỏ đó là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với quá trình đổimới, phù hợp với giai đoạn quá độ đi lên CHXH ở nước ta
I.3 Kinh nghiệm cổ phần hóa của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương trình thí điểm cổ phần hoá nhằm cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước được tiếnhành ở Trung Quốc vào tháng 12/1986 và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Theo con số thống
kê cuối năm 1992, Trung Quốc có khoảng 3.700 xí nghiệp cổ phần hoá trong đó 750 xí nghiệpnguyên là quốc doanh được chuyển đổi
Từ năm 1994, quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc chuyển sang một giaiđoạn mới với nhiều biện pháp mới như thành lập Công ty quản lý doanh nghiệp trung ương vàbiến các công ty cổ phần hoá thành công ty con của Công ty quản lý; tách hoạt động quan trọng
ra khỏi doanh nghiệp nhà nước và chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần; đẩy mạnh thu hútvốn nước ngoài vào các xí nghiệp cổ phần hoá
Tính đến cuối năm 1996, Trung Quốc đã cổ phần hoá và thành lập mới được khoảng 9.200 Công
ty cổ phần với tổng vốn đăng ký khoảng 600 tỷ NDT, trong đó cổ phần nhà nước chiếm 43%.Như vậy sau 10 năm thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, Trung Quốc đã thu đượcnhiều thắng lợi, tuy cũng có những vấp váp, thất bại, nhưng nhìn chung con đường cải cách củaTrung Quốc là đúng đắn và được sự ủng hộ của nhân dân
Bài học kinh nghiệm từ quá trình cổ phần hoá ở Trung Quốc:
Xây dựng và quán triệt một quan niệm, một mục tiêu đúng đắn về cổ phần hoá, phù hợpvới bản chất của chế độ xã hội : Chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần là
để thu hút vốn từ bên ngoài vào, chứ không bán toàn bộ tài sản Nhà nước
Hình thức cổ phần hoá áp dụng chủ yếu đối với các doanh nghiệp vừa và lớn, có khảnăng phát triển
Áp dụng tỷ lệ bán cổ phần đa dạng Chẳng hạn như ở Thẩm Quyến, cổ đông tư nhânchiếm tới 12%, ở Thượng Hải chỉ có 8,5% trong đó tư nhân ở nước ngoài chiếm tới 41%
Trang 9 Cổ phần hoá muốn phát triển và mở rộng phải có sự gắn kết với thị trường chứng khoán.Đặc biệt, Trung Quốc đã xoá bỏ sự phân biệt giữ cổ phiếu Nhà nước (cổ phiếu A) và cổphiếu của các cá nhân, pháp nhân (cổ phiếu B) gọi chung là cổ phiếu đầu tư, tạo một sânchơi bình đẳng cho các nhà đầu tư.
Chính phủ Trung Quốc chú trọng đến giải pháp kích cầu và tạo cơ sở ban đầu cho việchình thành thị trường vốn trong nước Bên cạnh việc mở rộng đối tượng bán để các côngdân có thể tham gia chương trình cổ phần hoá, chính phủ còn có biện pháp hỗ trợ vốn banđầu cho người lao động trong doanh nghiệp, có các chính sách lãi suất, chính sách tàichính đúng, mở rộng thị trường mua, kể cả việc bán cho người nước ngoài và chuyển nợthành vốn đầu tư
Thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài
I.4 Cơ sở pháp lý về cổ phần hóa tại Việt Nam
Để quá trình cổ phần hóa ngày càng phát triển và hoàn thiện, trong nhiều năm qua, Đảng, Chínhphủ đã ban hành nhiều Nghị quyết, Quyết định và các văn bản về cổ phần hóa Trong đó nổi lêncác văn bản sau đây:
Quyết định số 202- CT, ngày 8/6/1992 của chủ tịch HĐBT “Về việc tiếp tục làm thí điểmchuyển một số DNNN thành CTCP ”
Nghị định số 44/1998/NĐ-CP, ngày 27/06/1998 của thủ tướng chính phủ “ Về việcchuyển DNNN thành CTCP ”
Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 24/09/2001 của hội nghị lần thứ ba Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa IX “ về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệuquả DNNN”
Nghị định số 64/2002/NĐ-CP, ngày 19/06/2002 của chính phủ “Về việc chuyển DNNNthành CTCP
Nghị định 187/2004/NĐ-CP, ngày16/11/2004 của Chính phủ về chuyển DNNN thànhCTCP thay thế cho Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày19/06/2002 với nhiều sửa đổi và
bổ sung phù hợp với tình hình của nước ta
Nghị định số 109/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốnnhà nước thành công ty cổ phần
Thông tư 146/2007/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2007 về Hướng dẫn thực hiện một sốvấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty
cổ phần theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ
I.I THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM II.1 Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam
II.1.1 Giai đoạn thí điểm (1992-5/1996)
Quá trình Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1992, Nhà nướcchỉ chọn một số Doanh nghiệp nhà nước có quy mô vừa và nhỏ, kinh doanh có lãi và tự nguyện
Cổ phần hoá để thực hiện thí điểm
Suốt bốn năm 1992- 1996, tuy chỉ Cổ phần hoá được 5 doanh nghiệp nhưng cả 5 đơn vị này đềuhoạt động có hiệu quả hơn trước Đó là các doanh nghiệp:
Trang 10 Công ty Đại lý liên hiệp vận chuyển thuộc Bộ GTVT- ngày thực hiện Cổ phần hoá:01/07/1993
Công ty Cơ điện lạnh thuộc UBND TPHCM- ngày thực hiện Cổ phần hoá: 01/10/1993
Xí nghiệp giày Hiệp An thuộc Bộ Công nghiệp- ngày thực hiện Cổ phần hoá: 01/10/1994
Xí nghiệp Chế biến hàng xuất khẩu thuộc UBNN tỉnh Long An- ngày thực hiện Cổ phầnhoá: 01/07/1995
Xí nghiệp Chế biến thức ăn gia súc thuộc Bộ NN & PTNT- ngày thực hiện Cổ phần hoá:01/07/1995
II.1.2 Giai đoạn thí điểm mở rộng (5/1996-6/1998)
Sau khi đạt được thành công ban đầu của giai đoạn thí điểm, ngày 07/05/1996 Chính phủ đã banhành nghị định số 28/CP về chuyển một số Doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Trongnghị định chính phủ yêu cầu các bộ, ngành TW và các chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc
TW lập danh sách các doanh nghiệp do mình quản lý sẽ được Cổ phần hoá cho đến năm 1997.Đối tượng chính là những Doanh nghiệp nhà nước mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn và
có phương án kinh doanh hiệu quả
Nghị định số 25/CP ngày 26/3/1997 của Chính phủ cho phép các lãnh đạo bộ, ngành, địa phương
có thêm quyền hạn trong việc tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp được chọn làm thử Theo
đó, đối với doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống thì lãnh đạo bộ, ngành, địa phương cóquyền tự tổ chức thực hiện cổ phần hóa trên cơ sở Nghị định số 28/CP
Chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần nhằm các mục tiêu sau :
Huy động vốn của công nhân viên chức trong doanh nghiệp; cá nhân, các tổ chức kinh tếtrong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp
Tạo điều kiện để những người góp vốn và công nhân viên chức trong doanh nghiệp có cổphần, nâng cao vai trò làm chủ thực sự, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinhdoanh có hiệu quả
Kết quả của giai đoạn mở rộng này là có 25 Doanh nghiệp nhà nước đã được Cổ phần hoá Nhưvậy từ năm 1992 đến tháng 06/1998 cả nước có 30 Doanh nghiệp nhà nước đã hoàn thành Cổphần hoá với vốn điều lệ ban đầu là: 281 tỷ đồng và gần 6.000 lao động
II.1.3 Giai đoạn triển khai từ tháng 7/1998 đến nay
Ngày 27/06/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về chuyển Doanh nghiệpnhà nước thành công ty cổ phần đã tạo cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa.Nghị định này quy định rằng đối với cổ phần phát hành lần đầu của doanh nghiệp được chuyểnđổi nhưng Nhà nước vẫn muốn nắm quyền chi phối, cá nhân không được phép mua quá 5% vàpháp nhân không được phép mua quá 10% Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắmquyền chi phối, cá nhân được phép mua tới 10% và pháp nhân được phép mua tới 20% tổng cổphần phát hành lần đầu Riêng đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước hoàn toàn không cònmuốn sở hữu, cá nhân và pháp nhân được phép mua không hạn chế Tiền thu được từ bán cổ phần
sẽ được sử dụng để đào tạo lại lao động, sắp xếp việc làm cho lao động dư thừa, bổ sung vốn chocác doanh nghiệp nhà nước khác
Sự ra đời của nghị định này đã đẩy mạnh tốc độ Cổ phần hoá Tuy nhiên, Nhà nước chỉ tập trungtiến hành Cổ phần hóa ở một số ngành, lĩnh vực then chốt trong xã hội Do đó, quá trình Cổ phầnhóa chưa có được sự phân bố đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực Theo số liệu tính đến hết tháng
Trang 11Phần lớn các doanh nghiệp được Cổ phần hoá có quy mô nhỏ, các doanh nghiệp có vốn nhỏ hơn
5 tỷ chiếm trên 50%, trong khi đó số doanh nghiệp có số vốn trên 10 tỷ chỉ chiếm khoảng 12%
Đa số các doanh nghiệp thực hiện Cổ phần hoá theo hình thức bán một phần vốn của Nhà nướcnắm giữ trong doanh nghiệp
Tiến trình Cổ phần hoá được thực hiện chủ yếu 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minhnơi tập trung nhiều Doanh nghiệp nhà nước và sau đó lan sang các tỉnh thành phố khác như: HảiPhòng, Nam Định, Thanh Hóa, Đà Nẵng…
Cuối năm 2004, Chính phủ ra Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty nhà nước thànhcông ty cổ phần, theo đó cả các công ty thành viên của các tổng công ty nhà nước và ngay cảchính tổng công ty nhà nước nào mà Nhà nước không muốn chi phối đều có thể trở thành đốitượng cổ phần hóa Điểm mới quan trọng nữa trong Nghị định này là quy định việc bán cổ phầnlần đầu phải được thực hiện bằng hình thức đấu giá tại các trung tâm giao dịch chứng khoán nếu
là công ty có số vốn trên 10 tỷ đồng, tại các trung tâm tài chính nếu là công ty có số vốn trên 1 tỷđồng, và tại công ty nếu công ty có số vốn không quá 1 tỷ đồng Bán đấu giá khiến cho giá cổphiếu phát hành lần đầu của nhiều công ty nhà nước được đẩy vọt lên, đem lại những nguồn thurất lớn cho Nhà nước
Ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần nhằm thay thế Nghị định 187/2004/NĐ-CPngày 16/11/2004 Sự ra đời của Nghị định 109/2007/NĐ-CP là một tất yếu khách quan, phù hợpvới thực tế và đồng bộ với các quy định mới nhất của Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứngkhoán 2006
Khác với Nghị định 187/2004/NĐ-CP, Nghị định mới đã mở rộng đối tượng nhà đầu tư chiếnlược, không chỉ có các nhà đầu tư trong nước, mà bao gồm cả nhà đầu tư nước ngoài Đặc biệt,Nghị định lần này đã tập trung chủ yếu vào xác định giá trị Doanh nghiệp, điều mà bấy lâu luôn
là vấn đề bức xúc trong dư luận về việc xác định giá trị Doanh nghiệp khi Cổ phần hoá quá thấp,gây thiệt hại cho Nhà nước và làm lợi cho một bộ phận cá nhân Nghị định 109 đã khắc phục vấn
đề này bằng những quy định rõ ràng, cụ thể với các quy định về xác định giá trị Doanh nghiệptheo phương pháp tài sản, phương pháp dòng tiền chiết khấu và với quy định Doanh nghiệp Cổphần hoá có tổng giá trị tài sản theo sổ kế toán từ 30 tỷ đồng trở lên hoặc giá trị vốn nhà nướctheo sổ kế toán từ 10 tỷ đồng trở lên hoặc có vị trí địa lý thuận lợi phải thuê các tổ chức có chứcnăng định giá thuộc danh sách do Bộ Tài chính công bố Nếu như hiện nay mới chỉ quy địnhphương thức bán đấu giá thì Nghị định mới đã đưa thêm các hình thức bán cổ phần lần đầu khácnhư bảo lãnh phát hành, và thoả thuận trực tiếp Nếu áp dụng phương thức đấu giá côngkhai, Doanh nghiệp có khối lượng cổ phần bán ra dưới 10 tỷ đồng thì được đấu giá tại các tổ chức