1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội

131 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Tác giả Trần Minh Ngọc, Lê Khánh Ly, Trịnh Mỹ Phương
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Thu Trang
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Khoa học và công nghệ
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 549,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (10)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (14)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (14)
    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu (14)
    • 1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (18)
  • CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (19)
    • 2.1. Giới thiệu chung về Năng lượng mặt trời, Điện mặt trời và Khởi nghiệp (19)
      • 2.1.1. Khái niệm và đặc điểm (19)
        • 2.1.1.1. Khái niệm về khởi nghiệp và dự định khởi nghiệp (19)
        • 2.1.1.2. Khái niệm năng lượng mặt trời (19)
        • 2.1.1.3. Đặc điểm của năng lượng mặt trời (20)
        • 2.1.1.4. Khái niệm điện mặt trời (21)
        • 2.1.1.5. Đặc điểm của điện mặt trời (21)
      • 2.1.2. Vai trò (về môi trường & về kinh tế - xã hội) (22)
      • 2.1.3. Những điều kiện để phát triển Năng lượng mặt trời và những vấn đề tồn tại (23)
    • 2.2. Lý thuyết liên quan đến khởi nghiệp (24)
    • 2.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất (30)
      • 2.3.1. Giáo dục khởi nghiệp (31)
      • 2.3.2. Khả năng tài chính (32)
      • 2.3.3. Nhận thức kiểm soát hành vi (32)
      • 2.3.4. Đam mê kinh doanh (32)
      • 2.3.5. Sự tiếp cận thông tin (33)
  • CHƯƠNG 3: BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (34)
    • 3.1. Mô tả đặc điểm của mẫu khảo sát (34)
      • 3.1.1. Phân tích bảng thống kê tần số (34)
    • 3.2. Kiểm định dữ liệu (38)
      • 3.2.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo (38)
      • 3.2.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập (42)
      • 3.2.3. Đặt tên lại cho các nhóm nhân tố và phát biểu lại giả thuyết (45)
      • 3.2.4. Mô hình nghiên cứu mới (47)
      • 3.2.5 Phân tích bản thống kê mô tả (48)
      • 3.2.6 Đánh giá độ tin cậy của thang đo của biến mới (52)
      • 3.2.7. Phân tích tương quan (56)
      • 3.2.8. Mức độ tác động của các nhân tố (58)
    • 3.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu (60)
  • CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP (61)
    • 4.1. Kết luận (61)
    • 4.2. Đề xuất giải pháp (63)
    • 4.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (65)
  • PHỤ LỤC (68)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ---ĐỀ TÀI THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN - VIETCOMBANK” NĂM HỌC 2019 - 2020 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN D

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Lý do chọn đề tài

Xuất phát từ khoảng trống lý thuyết

Theo Hisrich & Peters (2002), "Khởi nghiệp" được định nghĩa là quá trình tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ mới có giá trị, thông qua việc đầu tư thời gian và nỗ lực, đồng thời chấp nhận các rủi ro tài chính, tinh thần và xã hội, với mục tiêu đạt được phần thưởng về tài chính, sự thỏa mãn cá nhân và độc lập Hơn nữa, dự định đóng vai trò là tiền đề cho hành động và hành vi (Ajzen, 1991).

Một yếu tố quan trọng trong khởi nghiệp là xác định động lực thúc đẩy dự định khởi nghiệp (DDKN) Theo Ajzen (1991), "dự định được coi là yếu tố thúc đẩy có ảnh hưởng đến hành vi."

Xây dựng DDKN là trọng tâm chính trong nhiều công việc, bắt đầu từ việc khảo sát các đặc điểm tính cách và nhân khẩu học, cho đến việc tiếp cận thái độ và hành vi của từng cá nhân (Liủỏn, Rodrớíguez-Cohard và Rueda-Cantuche, 2011).

Khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội hiện đại, thúc đẩy đổi mới công nghệ và tạo ra cơ hội thị trường mới Nhiều Chính phủ trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển, đã chú trọng đến việc xây dựng các chính sách khuyến khích khởi nghiệp, nhằm hỗ trợ dân số nói chung và thanh niên nói riêng.

Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về các yếu tố tác động đến DDKN của sinh viên, nhưng chủ yếu tập trung vào sinh viên ngành kinh tế và quản trị kinh doanh, trong khi thiếu nghiên cứu về sinh viên ngành năng lượng Hơn nữa, các nghiên cứu trước đây thường chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến DDKN một cách tổng quát, mà không kết hợp với DDKN trong lĩnh vực cụ thể Mặc dù có nhiều nghiên cứu về ngành năng lượng mặt trời, nhưng chúng lại chưa tiếp cận từ góc nhìn khởi nghiệp và kinh doanh.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn

Theo báo cáo của “KrAsia, Bain&Co” năm 2018, Việt Nam đã thu hút khoảng 150 triệu USD đầu tư giai đoạn đầu và dự kiến sẽ tiếp tục thu hút nhiều khoản đầu tư lớn, với ước tính đạt 320 triệu USD và 440 triệu USD vào năm 2020 và 2021 Điều này cho thấy hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng về số lượng và chất lượng Cụ thể, số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp đã tăng từ khoảng 400 vào năm 2012 lên 1,800 vào năm 2015, gấp 4 lần, và tiếp tục tăng trưởng với 4,000 start-up vào năm 2018 và 2019.

Việt Nam hiện đang được đánh giá cao trong lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo, đứng thứ ba trong khu vực ASEAN, chỉ sau Singapore Sự phát triển này diễn ra từ những năm 2012-2013, khi khái niệm khởi nghiệp sáng tạo còn mới mẻ Hiện tại, Việt Nam đang vươn lên mạnh mẽ với tốc độ phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp và sự phong phú của hệ sinh thái khởi nghiệp.

Chính phủ Việt Nam đang tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua nhiều chương trình và chính sách hỗ trợ, như Dự án IPP hợp tác với Chính phủ Phần Lan, Chương trình FIRST do Ngân hàng Thế giới tài trợ, và Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia đến năm 2025 Các cơ quan như Qũy Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp quốc gia và Trung tâm Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp cũng được thành lập nhằm kết nối vốn và đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, đồng thời cung cấp đào tạo, tập huấn và trợ giúp pháp lý cho những doanh nghiệp còn nhỏ Những nỗ lực này không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà còn khai thác lợi thế môi trường và xã hội của Việt Nam.

Hiện nay, có nhiều lỗ hổng vẫn còn tồn đọng:

1 Thiếu các chính sách ưu tiên cho khởi nghiệp: Hiện nay Việt Nam đang còn thiếu những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp Cụ thể các doanh nghiệp FDI chưa được lan tỏa vào kinh tế khởi nghiệp trong các địa phương Người ta nhận định rằng ở các tỉnh thành, doanh nghiệp khởi nghiệp chưa thật sự được ưu tiên về các chính sách cũng như các hỗ trợ phát triển Thêm vào đó, các doanh nghiệp khởi nghiệp ở nước ngoài có phần được ưu tiên hơn

2 Hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam còn mang nhiều hạn chế: Tuy thực trạng khởi nghiệp Việt Nam trong những năm 2017-2019 đã đạt được một con số ấn tượng thể hiện sự tăng lên của người tham gia vào hệ sinh thái khởi nghiệp, nhưng vẫn còn nhiều chỉ số chỉ ra rằng Việt Nam vẫn còn kém xa các nước cùng trình độ kinh tế và các nước trong khu cực Đông Nam Á Một số hạn chế như: người khởi nghiệp lo sợ những thất bại có thể xảy ra, không tự tin vào khả năng kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh và ít thông tin tìm hiểu về những sự đổi mới sáng tạo trong kinh doanh,… Thêm vào đó, các vấn đề hạn chế liên quan đến chính phủ như các chương trình hỗ trợ của chính phủ, chính sách của chính phủ hay các sự chuyển giao công nghệ vẫn không được cải thiện phần nào so với các năm trước Chính phủ thực hiện các công việc chậm chạp, nhiều thủ tục và kém hiệu quả chính là lời nhận xét chung của các doanh nghiệp khởi nghiệp nói riêng và các doanh nghiệp lớn nói chung

3 Hạn chế về vốn đầu tư: Hiện nay trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam các dự án khởi nghiệp được bắt đầu với một nguồn vốn hạn hẹp của một cá nhân hoặc các thành viên gia đình, và khả năng vay vốn ngân hàng cũng như kêu gọi các nhà đầu tư đnag còn rất hạn chế và khó khăn.

4 Hạn chế về cơ sở vật chất để nghiên cứu phát triển: các dự án khởi nghiệp thường không đủ hoặc thiếu điều kiện để trang trải và đầu tư vào phòng thí nghiệm hay cho các loại máy móc và thiết bị để phục vụ nghiên cứu thị trường Việc này dẫn tới sản phẩm của các doanh nghiệp còn hạn hẹp, không được phát triển phù hợp với nhịp sống của người tiêu dùng. Đi sâu hơn vào phân tích thực trạng khởi nghiệp lĩnh vực Năng lượng mặt trời (NLMT) tại Việt Nam, nhóm tác giả nhận thấy có rất nhiều điểm sáng.

Nhu cầu sử dụng điện và tỷ trọng năng lượng hóa thạch trong sản xuất điện tại Việt Nam đang gia tăng, dẫn đến nguy cơ thiếu hụt nguồn năng lượng này trong tương lai Sự phát triển mạnh mẽ của Việt Nam cũng gây ra tác động tiêu cực đến môi trường do ô nhiễm từ năng lượng hóa thạch Theo Tổng cục thống kê năm 2019, 33.122.548 người sống tại các thành phố, chiếm 34,4% tổng dân số, với tỷ lệ tăng dân số khu vực thành thị gấp hơn hai lần khu vực nông thôn trong giai đoạn 2009 – 2019 Xu hướng đô thị hóa mạnh mẽ kéo theo nhiều nguy cơ về năng lượng và môi trường Vấn đề đặt ra cho các đô thị là làm thế nào để cân bằng giữa phát triển, khan hiếm tài nguyên và ô nhiễm môi trường trong bối cảnh toàn cầu hóa và đô thị hóa gia tăng.

Với sự bùng nổ của "Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4", năng lượng mặt trời đang ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam Quốc gia này được đánh giá có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo, và nhiều dự án phát triển năng lượng mặt trời đã được triển khai, mang lại những kết quả khả quan.

Trong nửa đầu năm 2018, Bộ Công thương đã ghi nhận 272 dự án nhà máy điện, gấp 7 lần so với nhà máy thủy điện Sơn La Đến đầu năm 2019, số lượng dự án điện mặt trời với tổng công suất 4.500 MW đã đưa vào vận hành đạt 90 dự án, chiếm 9% tổng công suất điện của nhà nước, mặc dù sản lượng điện khai thác chỉ đạt khoảng 2% tổng sản lượng điện sản xuất Việt Nam không chỉ thu hút sự chú ý của các nhà thầu trong nước mà còn nhiều dự án lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài, như nhà máy Tata Power công suất 300 MW tại Hà Tĩnh.

“Hanwha công suất 100-200 MW” tại Thừa Thiên Huế, nhà máy “GT & Associates và Mashall & Street Ltd công suất 150 MW” tại Quảng Nam.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp (DDKN) trong lĩnh vực năng lượng mặt trời (NLMT) của sinh viên tại Hà Nội, nhằm tìm ra những phương pháp hiệu quả để nâng cao "ý định khởi nghiệp" của sinh viên.

1 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực NLMT của sinh viên

2 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó tới dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực NLMT của sinh viên đại học

3 Dựa trên nghiên cứu và khảo sát thực tế, đề xuất một số cách thức giúp làm tăng tinh thần, ý chí, chất lượng và số lượng của sinh viên khởi nghiệp trong lĩnh vực này

4 Chỉ ra tác động của nghiên cứu khi đi sâu phân tích mối liên hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng tới dự định khởi nghiệp và một lĩnh vực khởi nghiệp cụ thể, ở dây là ngànhNLMT.

Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm khám phá ảnh hưởng của các yếu tố như Giáo dục khởi nghiệp, Khả năng tài chính, Đặc điểm cá nhân, Thái độ với sự nghiệp, Sự tiếp cận thông tin, Mối quan hệ xã hội và Chính sách hỗ trợ của chính phủ đối với DDKN trong lĩnh vực NLMT của sinh viên Việt Nam Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi liên quan đến những yếu tố trên.

1 Những nhân tố nào ảnh hưởng đến DDKN của sinh viên trong lĩnh vực NLMT?

2 Những tiêu chí nào được sử dụng để đo lường DDKN trong lĩnh vực NLMT của sinh viên?

3 Các nhân tố có ảnh hưởng như thế nào đến DDKN trong lĩnh vực NLMT của sinh viên?

4 Làm thế nào để nâng cao DDKN của sinh viên trong lĩnh vực NLMT?

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát trên mẫu bảng hỏi có sẵn nhằm làm rõ các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.

Theo Hair (2006), để thực hiện phân tích nhân tố hiệu quả, số lượng mẫu cần gấp 5 lần số biến, do đó với 28 biến quan sát, kích thước mẫu tối thiểu là 140 Đối với phân tích hồi quy, Tabachnick và Fidell (1996) chỉ ra rằng kích thước mẫu tối thiểu phải thỏa mãn điều kiện \( n \geq 8m + 50 \) (với \( n \) là kích thước mẫu, \( m \) là số biến độc lập), trong khi Aprimer yêu cầu \( n \geq 104 + m \) Với 23 biến quan sát, kích thước mẫu tối thiểu theo Aprimer là 127 quan sát.

Nhóm nghiên cứu đã khảo sát ý kiến sinh viên về các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng môi trường (NLMT) thông qua phiếu khảo sát trực tuyến gửi qua mạng xã hội và email đến các trường đại học tại Hà Nội Nghiên cứu đã thu về 230 phiếu, trong đó 22 phiếu không hợp lệ do tính chất "chiếu lệ", và 208 phiếu hợp lệ được sử dụng cho phân tích Số lượng quan sát này đủ để đánh giá các nhân tố tác động đến dự định khởi nghiệp của sinh viên trong lĩnh vực NLMT.

Nhóm sử dụng các thang đo như sau:

Thang đo định danh (Nominal) bao gồm các biến như GIOITINH (nam/nữ) và thông tin đối tượng như TDH (trường đại học), CHOO (chỗ ở), LAMTHEM (làm thêm), cùng với các biến có hai phương án lựa chọn là có/không.

Tôi đang học chuyên ngành liên quan đến “Năng lượng mặt trời”.

“Thang đo thứ bậc (Ordinal)” với biến SVN (sinh viên năm) và các biến có câu trả lời là đánh giá từ 1 đến 5.

Ví dụ: Đánh giá mức độ từ 1-5

(“1-Hoàn toàn không đồng ý; 2- Không đồng ý; 3- Bình thường; 4- Đồng ý; 5- Hoàn toàn đồng ý”)

Tôi đam mê nghiên cứu về năng lượng mặt trời nên có dự định khởi nghiệp về lĩnh vực đó

1.4.3 Quy trình nghiên cứu Để đạt được mục tiêu của nghiên cứu, đề tài cần thông qua quy trình sau:

Nhóm nghiên cứu đã sử dụng hai loại dữ liệu trong quá trình thu thập, bao gồm "dữ liệu sơ cấp" và "dữ liệu thứ cấp".

Dữ liệu thứ cấp bao gồm thông tin thu thập từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, cũng như các cơ sở lý thuyết liên quan đến dự định khởi nghiệp của sinh viên trong lĩnh vực Năng lượng mặt trời Bài viết cũng đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp (DDKN) trong lĩnh vực năng lượng mặt trời.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp định tính, nhằm khai thác thông tin cần thiết cho quá trình phân tích Nhóm nghiên cứu đã sử dụng bảng hỏi với nhiều loại câu hỏi khác nhau để đảm bảo thu thập đầy đủ dữ liệu.

“phương pháp lấy mẫu thuận tiện”, phát bảng hỏi khảo sát cho đối tượng sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội.

Sau khi đã thu thập được dữ liệu, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích dữ liệu và

“kiểm định” thang đo, mô hình, giả thuyết Nhóm sử dụng mô hình “phân tích mô tả” và

Phân tích hồi quy nhị phân (Binary Logistic) được sử dụng để xác định ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong lĩnh vực Năng lượng mặt trời Phần mềm SPSS 22 là công cụ chính cho quá trình phân tích này.

1.4.4 Phương pháp thu thập dữ liệu

1.4.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

Tổng quan nghiên cứu Khung lí thuyết

Thu thập dữ liệu Phân tích Đề xuất giải pháp

Thông tin và nghiên cứu liên quan đến khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời (NLMT) được tìm kiếm rộng rãi trên Internet, bao gồm các công trình nghiên cứu từ nhiều quốc gia trên thế giới.

- Các tài liệu bằng tiếng việt

Nhóm nghiên cứu đã sử dụng công cụ tìm kiếm Google để tìm kiếm các tài liệu bằng tiếng Việt, đồng thời tham khảo các bài báo trong nước liên quan trực tiếp đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý thuyết vững chắc.

- Các tài liệu bằng tiếng anh

Các tài liệu bằng tiếng anh được nhóm thu thập qua Google, những nghiên cứu trên thế giới có liên quan

1.4.4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp Điều tra xã hội học

Sinh viên đang học tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội.

Nhóm nghiên cứu xác định kích thước mẫu bằng công thức “104 + m” với m là số biến độc lập trong mô hình Từ đó, suy ra kích thước mẫu n là 127.

“kích thước mẫu tối thiểu”) Nhóm chọn quy mô mẫu là 230 người, đã vượt quá kích thức mẫu tối thiểu.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện.

- Thiết kế phiếu điều tra

Hai loại thang đo: Thang đo định danh và thang đo thứ bậc.

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phát ngẫu nhiên 10 phiếu điều tra cho 10 sinh viên tại hai trường Đại học ở Hà Nội: Đại học Kinh tế Quốc dân và Đại học Điện lực Điều tra viên đã trực tiếp trao đổi với sinh viên trong quá trình điền phiếu để giải đáp thắc mắc, từ đó đánh giá tính dễ hiểu của câu hỏi và thời gian cần thiết để hoàn thành phiếu điều tra.

- Chỉnh sửa phiếu điều tra

Sau khi thử nghiệm phiếu điều tra và lắng nghe ý kiến của người tham gia, nhóm nghiên cứu đã quyết định giữ nguyên số lượng câu hỏi Đồng thời, họ đã chỉnh sửa các câu hỏi để sinh viên có thể hiểu rõ hơn và trả lời phiếu điều tra một cách nhanh chóng.

- Thả phiếu điều tra và loại bỏ các phiếu không phù hợp

Nhóm nghiên cứu đã phát phiếu khảo sát trực tuyến qua các nền tảng mạng xã hội và gửi email đến các trường đại học tại Hà Nội, bao gồm nhiều khối ngành khác nhau.

Trong nghiên cứu về các lĩnh vực như Kinh tế năng lượng, Quản trị kinh doanh, Đầu tư Tự động hóa, Kỹ thuật, Cơ điện tử, Cơ khí, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật điện, Điều khiển tự động hóa, và Điện công nghiệp và dân dụng, đã thu thập được 230 phiếu khảo sát trực tuyến Tuy nhiên, trong số đó có 22 phiếu không hợp lệ do tính chất "chiếu lệ", vì vậy chỉ có 208 phiếu hợp lệ được sử dụng cho quá trình phân tích.

- Phân tích, đánh giá số liệu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nhóm tác giả xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài là “dự định khởi nghiệp của sinh viên tại Hà Nội” dựa trên mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

- Phạm vi không gian: Các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Nhóm nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu thứ cấp từ năm 1996 đến 2019, trong khi dữ liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2020.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Giới thiệu chung về Năng lượng mặt trời, Điện mặt trời và Khởi nghiệp

2.1.1.1 Khái niệm về khởi nghiệp và dự định khởi nghiệp

Khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới và tiến bộ xã hội, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế (Dvouletý, 2017) Quá trình khởi nghiệp có thể được đo lường thông qua các dự định, hoạt động và sự tương tác của từng cá nhân (Tong, McCrohan và Erogul, 2012).

Theo Hisrich & Peters (2002), "Khởi nghiệp" được định nghĩa là quá trình tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ mới có giá trị, đòi hỏi sự cống hiến về thời gian và nỗ lực, đồng thời chấp nhận các rủi ro tài chính, tinh thần và xã hội, với mục tiêu đạt được phần thưởng về tiền bạc, sự thỏa mãn cá nhân và độc lập Hơn nữa, dự định đóng vai trò là tiền đề cho hành động và hành vi (Ajzen, 1991).

Một yếu tố quan trọng trong khởi nghiệp là xác định động lực thúc đẩy dự định khởi nghiệp, vì "dự định được cho là yếu tố thúc đẩy ảnh hưởng đến hành vi" (Ajzen, 1991) Do đó, "xây dựng dự định khởi nghiệp là trọng tâm của phần lớn công việc, bắt đầu từ việc điều tra các đặc điểm tính cách và nhân khẩu học đến việc tiếp cận thái độ và hành vi của từng cá nhân" (Liủỏn, Rodrớíguez-Cohard và Rueda-Cantuche, 2011).

2.1.1.2 Khái niệm năng lượng mặt trời

Năng lượng là đại lượng thể hiện khả năng sinh công của vật, đo lường chuyển động vật chất và khả năng thay đổi trạng thái của hệ vật chất Nó tồn tại dưới nhiều dạng, bao gồm động năng, nhiệt năng, công năng, thế năng và nội năng, mỗi loại đều có vai trò quan trọng trong việc tác động đến vật thể.

Năng lượng là tài nguyên vật chất chủ yếu từ năng lượng mặt trời và năng lượng lòng đất, được chia thành hai loại: năng lượng tái tạo và không tái tạo Các tài nguyên không tái tạo bao gồm than đá, khí than, dầu mỏ, khí thiên nhiên và quặng urani Ngược lại, năng lượng tái tạo được thể hiện qua sức nước, sức gió, ánh sáng mặt trời, địa nhiệt và nhiên liệu sinh học.

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng từ bức xạ điện từ phát ra từ mặt trời, bao gồm cả một phần nhỏ năng lượng từ các hạt hạ nguyên tử khác.

2.1.1.3 Đặc điểm của năng lượng mặt trời

Theo tác giả Hoàng Dương Hùng trong tác phẩm “Năng lượng mặt trời - lý thuyết và ứng dụng”, năng lượng mặt trời đã được con người sử dụng từ sớm, nhưng chỉ thực sự được ứng dụng rộng rãi vào cuối thế kỷ 18, chủ yếu ở những khu vực có nhiều ánh sáng mặt trời như sa mạc Sau các cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu năm 1968 và 1973, năng lượng mặt trời đã thu hút sự chú ý đặc biệt, với các nước công nghiệp phát triển dẫn đầu trong nghiên cứu và ứng dụng Để phát triển nguồn năng lượng này, việc hiểu rõ các đặc điểm quan trọng của năng lượng mặt trời là rất cần thiết.

- Năng lượng mặt trời là một loại năng lượng tái tạo và vô tận

Năng lượng tái tạo bao gồm các nguồn tài nguyên như ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, sức nước, sức gió và nhiên liệu sinh học Bức xạ mặt trời có thể được chuyển đổi thành năng lượng hữu ích thông qua các công nghệ khác nhau Thiết bị thu năng lượng mặt trời có khả năng sưởi ấm không khí trong nhà và cung cấp nước nóng thay cho nguồn điện truyền thống Hơn nữa, pin mặt trời có thể chuyển đổi trực tiếp bức xạ mặt trời thành điện năng.

NLMT cung cấp một nguồn năng lượng dồi dào cho hành tinh, bao gồm sức nóng và ánh sáng gần như vô tận Nguồn năng lượng từ lòng đất và nước chảy trên bề mặt trái đất là những nguyên liệu quý giá, đang chờ được khai thác một cách hiệu quả và hợp lý Điều này đặc biệt quan trọng khi nguồn năng lượng hóa thạch đang dần cạn kiệt.

NLMT, hay năng lượng mặt trời, là dòng bức xạ điện từ từ mặt trời đến trái đất Chúng ta sẽ tiếp tục nhận được nguồn năng lượng này cho đến khi phản ứng hạt nhân trên mặt trời cạn kiệt, dự kiến khoảng 5 tỷ năm nữa Điều này chứng tỏ rằng NLMT là một nguồn năng lượng vô tận.

- Năng lượng mặt trời là loại năng lượng sạch

NLMT là nguồn năng lượng sạch, ít gây ô nhiễm và giúp giảm thiểu chất độc hại ra môi trường, đang thu hút sự quan tâm và đầu tư phát triển mạnh mẽ Do đó, nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả của nguồn năng lượng này trở nên ngày càng quan trọng.

“thiết bị sử dụng NLMT” và đưa chúng vào ứng dụng trong thực tế là vấn đề cấp thiết quan trọng hiện nay

Việc sử dụng năng lượng mặt trời (NLMT) đã giúp giảm đáng kể lượng khí thải và ô nhiễm từ các hệ thống năng lượng truyền thống Cụ thể, để sản xuất 1 kWh điện từ than hoặc dầu, sẽ thải ra khoảng 1 kg khí CO Ngược lại, khi điện được sản xuất từ thủy điện, điện mặt trời hoặc phong điện, sẽ không có khí CO nào được sinh ra Do đó, điện "sạch" từ các nguồn năng lượng tái tạo này có khả năng giảm lượng khí CO thải vào không khí một cách hiệu quả.

- Năng lượng mặt trời phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên.

Năng lượng mặt trời (NLMT) phụ thuộc vào bức xạ từ mặt trời, chủ yếu vào ban ngày và biến đổi theo vị trí của Trái Đất Sự chênh lệch về bức xạ mặt trời giữa các khu vực khác nhau trên bề mặt trái đất phụ thuộc vào tầng khí quyển và lượng mây Trong mùa mưa hoặc các vùng có thời tiết cực đoan, việc sử dụng ánh sáng mặt trời làm nguồn năng lượng điện gặp nhiều thách thức Tuy nhiên, hiện nay đã có nhiều giải pháp được phát triển để tối ưu hóa NLMT trong sản xuất và sinh hoạt, giúp giảm thiểu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh và nâng cao hiệu quả sử dụng.

2.1.1.4 Khái niệm điện mặt trời

Điện năng, được sản xuất từ các nguồn như thủy điện, nhiệt điện (bao gồm điện than, điện khí, điện dầu, điện mặt trời, điện hạt nhân) và điện gió, đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người Nó không chỉ phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng mà còn là yếu tố đầu vào thiết yếu cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, cũng như cho các hoạt động như thắp sáng, đun nấu, sưởi ấm, làm mát và thương mại.

“Điện mặt trời là việc ứng dụng kỹ thuật biến đổi ánh sáng thành điện dựa trên động cơ nhiệt và pin quang điện.”

NLMT hiện nay được ứng dụng phổ biến trong hai lĩnh vực chính: Điện năng và Nhiệt năng Đầu tiên, NLMT được chuyển đổi thành điện năng thông qua các tế bào quang điện bán dẫn, cho phép pin mặt trời sản xuất điện năng liên tục khi có bức xạ mặt trời Lĩnh vực thứ hai là Nhiệt năng, nơi NLMT cũng đóng vai trò quan trọng.

Lý thuyết liên quan đến khởi nghiệp

- Những nghiên cứu liên quan đến dự định khởi nghiệp của sinh viên

Bài nghiên cứu “The factor affecting entrepreneurial intention of the student of

A mediation analysis conducted by Nguyen Huu An and Mai Ngoc Khuong in 2016 at Vietnam National University revealed that three factors—Prior entrepreneurial experience, External environment, and Perceived feasibility—positively influence students' entrepreneurial intentions Notably, Prior entrepreneurial experience has a direct impact on these intentions Conversely, both Perceived feasibility and Personal traits negatively affect students' entrepreneurial intentions Interestingly, the study found that Perceived feasibility can have both positive and negative effects on the dependent variable being examined.

Nghiên cứu “Factor influencing entrepreneurial intention among university students” vào năm 2011 của ba tác giả Xue Fa Tong, David Yoon Kin Tong và Liang

Chen Loy highlighted that the factors of "Need for achievement," "Family business background," and "Subjective norms" positively influence students' entrepreneurial intentions Additionally, other factors also play a significant role in shaping these intentions.

“Mong muốn độc lập (Desire for independence)” không có ảnh hưởng.

The 2004 study "Factors Affecting Entrepreneurial Intentions Among Indonesian Students" by Nurul Indarti revealed that independent variables such as self-efficacy and contextual elements—including capital access, information access, and social networks—significantly influence the entrepreneurial intentions of Indonesian students Additionally, locus of control has an indirect effect, as it directly impacts self-efficacy, which in turn affects students' business intentions.

Cả ba yếu tố đều ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc trong nghiên cứu Tuy nhiên, "Yếu tố nhân khẩu học và nền tảng cá nhân" không có tác động đáng kể.

Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền và Mai Võ tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên ngành quản trị kinh doanh tại các trường đại học và cao đẳng ở thành phố Cần Thơ Bài viết phân tích các yếu tố này nhằm hiểu rõ hơn về động lực và rào cản mà sinh viên gặp phải trong quá trình khởi nghiệp.

Ngọc Thanh (2016) đã chỉ ra bốn nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp (KSDN) của sinh viên ngành Quản trị kinh doanh, bao gồm: thái độ và sự đam mê, sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan và giáo dục Trong nghiên cứu này, nhân tố "thái độ và sự đam mê" được xác định là có tác động lớn nhất đến ý định KSDN của sinh viên.

Bài nghiên cứu “Các nhân tố tác động tới dự định khởi nghiệp của thanh niên ở

Việt Nam” trích trong “Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia” của tác giả Nguyễn Anh

Năm 2019, Tuấn đã áp dụng thuyết TPB để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên Việt Nam, kế thừa ba yếu tố chính từ thuyết này là “thái độ đối với phát triển kinh doanh, chuẩn mực xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi” Bên cạnh đó, tác giả còn bổ sung các yếu tố từ các nghiên cứu khác như “thái độ đối với tiền bạc, khát vọng thành công, giáo dục khởi nghiệp, kinh nghiệm khởi nghiệp, môi trường kinh doanh và tính sáng tạo” Kết quả nghiên cứu cho thấy “khát vọng thành công và thách thức, thái độ đối với khởi nghiệp, nhận thức kiểm soát hành vi, kinh nghiệm khởi nghiệp và tính sáng tạo” đều có mối liên hệ tích cực với ý định khởi nghiệp của thanh niên Việt Nam, trong đó “thái độ” được xác định là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất trong mô hình phân tích hồi quy.

The research article "Factors Influencing Small Business Start-Ups: A Comparison with Previous Research" by Tim Mazzarol, Thierry Volery, Noelle Doss, and Vicki Thein presents a model of factors affecting entrepreneurial intentions, which includes "Environment" and "Personality." The "Environment" encompasses Social, Economic, Political, and Infrastructure development factors, while "Personality" consists of Traits and Background Due to the complexity and diversity of industries in entrepreneurship, the study focuses on analyzing three demographic factors: Gender, Previous government employment, and Recent redundancy.

Bài nghiên cứu “What Determinants Influence Students to Start Their Own

A 2018 study by Alexandrina, Maria Pauceanu, Onise Alpenidze, Tudor Edu, and Rodica Milena Zaharia highlights four key factors influencing the entrepreneurial intentions of students at universities in the United Arab Emirates.

Entrepreneurial confidence is the only factor that positively influences entrepreneurship, particularly among individuals aged 20 to 25 and those whose parents are also entrepreneurs While entrepreneurial orientation, university support for entrepreneurship, and cultural support for entrepreneurship are relevant, they do not exhibit the same positive impact as entrepreneurial confidence.

Trong bài nghiên cứu “Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật” (2018), tác giả Đoàn Thị Thu Trang đã áp dụng “Lý thuyết hành vi có kế hoạch” (TPB) của Ajzen để chỉ ra ba nhân tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam Các nhân tố này bao gồm “Thái độ với khởi nghiệp”, “Nhận thức kiểm soát hành vi” và “Chuẩn chủ quan” Trong đó, “Thái độ với khởi nghiệp” và “Nhận thức kiểm soát hành vi” có tác động mạnh nhất, trong khi “Chuẩn chủ quan” chỉ tác động gián tiếp và ở mức độ yếu hơn.

Nghiên cứu “Factors Influencing International Student Entrepreneurial

In the article "Intention in Malaysia" (2017) by Ilesanmigbenga Joseph, several factors influencing entrepreneurial decisions are identified, including Family Background, Desire for Independence, Need for Achievement, Subjective Norms, Entrepreneurial Education, and Economic Situation Notably, the author highlights that four factors positively impact students' entrepreneurial intentions: Need for Achievement, Subjective Norms, Entrepreneurial Education, and Economic Situation.

- Những nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực năng lượng mặt trời

Bài nghiên cứu “Năng lượng mặt trời: lý thuyết và ứng dụng” của tác giả Hoàng Dương Hùng (2007) đã trình bày rõ ràng lý thuyết về năng lượng mặt trời (NLMT) và chỉ ra các ứng dụng thực tiễn của NLMT trong đời sống hàng ngày cũng như trong sản xuất Nghiên cứu cũng đề cập đến một số chính sách liên quan đến việc phát triển NLMT.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng năng lượng tái tạo là nguồn năng lượng thiết yếu cho tương lai của nhân loại Đặc biệt, cuốn sách “Năng lượng thế kỷ 21; Tiềm năng và thách thức” của Hồ Sĩ Thoảng và Trần Mạnh Trí (Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2008) nêu bật tiềm năng phát triển trong lĩnh vực năng lượng, đồng thời nhấn mạnh những thách thức về nguồn lực trong quá trình phát triển này.

Trong luận văn “Nghiên cứu sử dụng thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời phục vụ sinh hoạt” của Nguyễn Đình Đáp (2011), tác giả cung cấp cái nhìn tổng quan về nguồn năng lượng mặt trời và các công nghệ ứng dụng Ông đề cập đến công nghệ sản xuất nước nóng bằng năng lượng mặt trời, kèm theo những lưu ý khi sử dụng, đồng thời đưa ra cái nhìn tổng quát về bức tranh kinh tế và triển vọng phát triển điện mặt trời.

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nghiên cứu của nhóm nghiên cứu áp dụng thuyết TPB nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến động lực khởi nghiệp (DDKN) trong lĩnh vực năng lượng mặt trời (NLMT) của sinh viên tại các trường đại học trong khu vực.

Nhóm nghiên cứu tại Hà Nội đã kế thừa nhân tố "kiểm soát hành vi" từ thuyết TPB, thể hiện mức độ dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện hành vi Theo tác giả Ajzen, nhân tố này có tác động trực tiếp và ảnh hưởng lớn đến xu hướng hành động của cá nhân, đồng thời có khả năng dự đoán kết quả hành vi nếu được đánh giá chính xác Mô hình TPB được giải thích dựa trên những yếu tố này.

Chúng tôi cũng xem xét các yếu tố từ các nghiên cứu khác như giáo dục khởi nghiệp, khả năng tài chính, đam mê kinh doanh và sự tiếp cận thông tin.

“Giáo dục khởi nghiệp” là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên, với Popescu & Pohoata (2007) nhấn mạnh rằng giáo dục định hình mong muốn khởi nghiệp và chuyển đổi nó thành hành động Nhiều trường đại học tại Việt Nam đã tích hợp khởi nghiệp vào chương trình học hoặc phát triển thành ngành học độc lập Theo Singh, Verma và Rao (2015), giáo dục khởi nghiệp là công cụ chính thúc đẩy ý định và hành vi khởi nghiệp Nghiên cứu của Al Mamun, Nawi và Dewiendren (2016) cho thấy việc hiểu rõ các yếu tố dẫn đến hành vi khởi nghiệp sẽ góp phần vào sự thành công của giáo dục khởi nghiệp.

H1: Giáo dục khởi nghiệp có tác động tích cực lên dự định khởi nghiệp của sinh viên.

Chuẩn mực xã hội Xu hướng hành vi Hành vi thực sự

Nhận thức kiểm soát hành vi

Khả năng tài chính, hay khả năng tiếp cận nguồn vốn, là một trong những thách thức lớn mà người khởi nghiệp phải đối mặt, bất kể nền kinh tế mạnh hay đang phát triển Nguồn vốn có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau như nền tảng gia đình, tiết kiệm cá nhân, mạng lưới gia đình mở rộng, hệ thống tín dụng và tiết kiệm cộng đồng, hoặc các tổ chức tài chính và ngân hàng Nghiên cứu cho thấy sinh viên có cha mẹ điều hành doanh nghiệp có xu hướng khởi nghiệp cao hơn Ngoài ra, kinh tế và nguồn vốn được xác định là một trong những động lực chính thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh viên.

H2: Khả năng tài chính có ảnh hưởng tích cực đến dự định khởi nghiệp của sinh viên.

2.3.3 Nhận thức kiểm soát hành vi

Nhận thức kiểm soát hành vi, theo Hisrich và Peters (1998), là thuộc tính chỉ ý thức kiểm soát mà một người có trong suốt cuộc đời Mô hình TPB cho rằng nhận thức này liên quan đến sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện hành vi, với các nguồn lực đủ để thực hiện hành động đó Mức độ nhận thức kiểm soát hành vi được xác định là một trong những đặc điểm kinh doanh nổi trội nhất (Venkantha-pathy, 1984) Các cá nhân có nhận thức kiểm soát hành vi thường có tầm nhìn rõ ràng về các kế hoạch phát triển kinh doanh trong tương lai và dài hạn (Entrialgo, Fernández và Vázquez, 2000).

H3: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động tích cực đến dự định khởi nghiệp của sinh viên.

Nghiên cứu của Wenjun Wang (2011) cho thấy rằng sự đam mê kinh doanh có tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở Trung Quốc và Mỹ Bên cạnh đó, Alsos và Kolvereid (1998) cùng với Krueger và các cộng sự (2000) cũng nhấn mạnh rằng đam mê kinh doanh không chỉ ảnh hưởng lớn đến quyết định khởi sự kinh doanh mà còn là yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành công trong lĩnh vực này.

H4: Đam mê kinh doanh có tác động tích cực đến dự định khởi nghiệp của sinh viên.

2.3.5 Sự tiếp cận thông tin

Nghiên cứu của Singh và Krishna (1994) chỉ ra rằng sự háo hức tìm kiếm thông tin là đặc điểm quan trọng trong khởi nghiệp, với tần suất tiếp cận thông tin phụ thuộc vào khả năng cá nhân và mạng lưới quan hệ xã hội Kristiansen (2002) nhấn mạnh rằng việc truy cập thông tin mới là thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, và sự sẵn có của thông tin phụ thuộc vào trình độ học vấn và cơ sở hạ tầng Huggins (2000) cho thấy rằng các doanh nhân và công ty mới cần tham gia vào mạng lưới để tồn tại, trong khi Aldrich và Zimmer (1986) khẳng định rằng mạng lưới quan hệ xã hội giúp giảm thiểu rủi ro, chi phí giao dịch và cải thiện khả năng tiếp cận ý tưởng, kiến thức và vốn kinh doanh.

Từ đây, nhóm tác giả đưa ra giả thuyết:

H5: Sự tiếp cận thông tin và mạng lưới mối quan hệ xã hội có tác động cùng chiều tới ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Mô hình nghiên cứu đề xuất:

“Dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà

Nhận thức kiểm soát hành vi Đam mê kinh doanh

Sự tiếp cận thông tin

Bảng 2 Mô hình nghiên cứu đề xuất

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 28/06/2023, 20:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Đình Thống (2010) Đánh giá tiềm năng, hiện trạng công nghệ và hiệu quả sử dụng năng lượng mặt trời ở Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng, hiện trạng công nghệ và hiệu quả sử dụng năng lượng mặt trời ở Hà Nội
Tác giả: Đặng Đình Thống
Năm: 2010
2. Đặng Đình Thống (2010) Hiện trạng ứng dụng năng lượng mặt trời ở Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng ứng dụng năng lượng mặt trời ở Hà Nội
Tác giả: Đặng Đình Thống
Năm: 2010
3. Đặng Đình Thống (2010) Đánh giá hiệu quả thực tế về tiết kiệm năng lượng của thiết bị đun nước nóng năng lượng mặt trời, Báo cáo Chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả thực tế về tiết kiệm năng lượng của thiết bị đun nước nóng năng lượng mặt trời
Tác giả: Đặng Đình Thống
Nhà XB: Báo cáo Chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010
Năm: 2010
4. Đoàn Thị Thu Trang (2018) Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật, Luận án tiến sĩ kinh tế, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Tác giả: Đoàn Thị Thu Trang
Nhà XB: trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Năm: 2018
5. Hoàng Dương Hùng (2007) Năng lượng mặt trời: lý thuyết và ứng dụng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lượng mặt trời: lý thuyết và ứng dụng
Tác giả: Hoàng Dương Hùng
Năm: 2007
6. Hồ Sĩ Thoảng và Trần Mạnh Trí (2008) Năng lượng thế kỷ 21; Tiềm năng và thách thức, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lượng thế kỷ 21; Tiềm năng và thách thức
Tác giả: Hồ Sĩ Thoảng, Trần Mạnh Trí
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2008
7. Nguyễn Đình Đáp (2011) Nghiên cứu sử dụng thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời phục vụ sinh hoạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời phục vụ sinh hoạt
Tác giả: Nguyễn Đình Đáp
Năm: 2011
8. Nguyễn Thanh Tâm Nghiên cứu khả năng xây dựng nhà máy điện mặt trời ở điều kiện Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng xây dựng nhà máy điện mặt trời ở điều kiện Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm
10. Nguyễn Thị Thúy Hà (2017) Thực hiện chính sách phát triển điện mặt trời tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện chính sách phát triển điện mặt trời tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hà
Năm: 2017
11. Nguyễn Anh Tuấn (2019) Các nhân tố tác động đến dự định khởi nghiệp của thanh niên ở Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, NCS Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 298-331.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố tác động đến dự định khởi nghiệp của thanh niên ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn
Nhà XB: Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia
Năm: 2019

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Mô hình nghiên cứu đề xuất - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2. Mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 34)
Hình 1 : Biểu đồ sinh viên năm - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Hình 1 Biểu đồ sinh viên năm (Trang 36)
Hình 3 : Tỷ lệ đi làm thêm - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Hình 3 Tỷ lệ đi làm thêm (Trang 37)
Hình 5 : Tỷ lệ dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực NLMT - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Hình 5 Tỷ lệ dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực NLMT (Trang 38)
Bảng 4. Kết quả phân tích “độ tin cậy Cronbach’s Alpha” - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng 4. Kết quả phân tích “độ tin cậy Cronbach’s Alpha” (Trang 41)
Bảng 7. Bảng mã hoá các nhóm nhân tố mới. - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng 7. Bảng mã hoá các nhóm nhân tố mới (Trang 47)
Bảng 8. Mô hình nghiên cứu mới - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng 8. Mô hình nghiên cứu mới (Trang 48)
Bảng 9. Bảng thống kê mô tả - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng 9. Bảng thống kê mô tả (Trang 48)
Bảng 10. Kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng 10. Kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha (Trang 55)
Bảng 12. Bảng phân loại - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng 12. Bảng phân loại (Trang 58)
Bảng phân loại cho thấy phân loại những đối tượng quan sát “có dự định” và - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng ph ân loại cho thấy phân loại những đối tượng quan sát “có dự định” và (Trang 59)
Bảng 1: Bảng mã hoá Câu hỏi thông tin cá nhân. - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng 1 Bảng mã hoá Câu hỏi thông tin cá nhân (Trang 74)
Bảng 2: Bảng mã hoá Giáo dục khởi nghiệp. - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2 Bảng mã hoá Giáo dục khởi nghiệp (Trang 75)
Bảng 5: Bảng mã hoá Đam mê kinh doanh. - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng 5 Bảng mã hoá Đam mê kinh doanh (Trang 77)
Bảng 6: Bảng mã hoá Sự tiếp cận thông tin và Mạng lưới mối quan hệ xã hội. - Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Bảng 6 Bảng mã hoá Sự tiếp cận thông tin và Mạng lưới mối quan hệ xã hội (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w