- Lý do nghiên cứu : Luận văn muốn làm rõ quan điểm về nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các NHTM hiện nay tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, sự cần thiết cũng n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
LÊ VĂN THẨM
PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU PHÁT SINH TỪ
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI QUA THỰC TIỄN TẠI TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngành: Luật kinh tế
Mã số ngành: 8380107
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
LÊ VĂN THẨM
PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU PHÁT SINH TỪ
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI QUA THỰC TIỄN TẠI TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sỹ tại bất cứ trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đay hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
TP Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 12 năm 2022 Người thực hiện luận văn
Lê Văn Thẩm
Trang 4ii
LỜI CÁM ƠN
Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Ngân hàng – Thành phố Hồ Chí Minh, khoa Sau đại học, khoa Luật Kinh tế và các thầy cô đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS
TS Bành Quốc Tuấn, người thầy đã dành rất nhiều thời gian hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức kinh nghiệm quý báu và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức
và kỹ năng về ngành luật kinh tế trong suốt quá trình học tập trên giảng đường Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên và chỉ bảo rất nhiệt tình từ gia đình, người thân, các anh chị đi trước và tất cả bạn bè, đồng nghiệp luôn ở bên, giúp sức và hỗ trợ để tôi có thể hoàn thành chương trình học học tập và luận văn này
Mặc dù đã cố gắng hết sức mình bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý từ phía thầy cô và các bạn
TP Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 12 năm 2022 Người thực hiện luận văn
Lê Văn Thẩm
Trang 5- Lý do nghiên cứu : Luận văn muốn làm rõ quan điểm về nợ xấu phát sinh
từ hợp đồng tín dụng của các NHTM hiện nay tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, sự cần thiết cũng như các phương thức mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các NHTM; thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM; thực tiễn
áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Làm rõ một số định hướng
cơ bản về việc hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM; kiến nghị giải pháp pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD
Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng (HĐTD) của các NHTM Từ đó, đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
về mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM trên thực tiễn
- Để làm sáng tỏ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp phân tích và phương pháp thống kê
- Kết quả nghiên cứu của đề tài: Hệ thống các quy định pháp luật còn chưa đồng bộ, đầy đủ và rõ ràng
3 Từ khóa
Pháp luật về mua bán nợ xấu, định hướng, giải pháp
Trang 6iv
THESIS SUMMARY
1 Title of the topic
The law on buying and selling bad debts arising from credit contracts of commercial banks through practice in Ho Chi Minh City Ho Chi Minh
2 Summary
- Reason for the study: The thesis wants to clarify the views of bad debts arising from credit contracts of commercial banks in Vietnam as well as in many countries around the world, the necessity as well as methods of buying and selling bad debts arising from credit contracts of commercial banks; current status of Vietnamese legal regulations on trading of bad debts arising from credit activities of commercial banks; apply the law on buying and selling bad debts arising from credit contracts of commercial banks in the city Ho Chi Minh Clarifying some basic orientations on completing the law on bad debts arising from credit activities of commercial banks; propose legal solutions on buying and selling bad debts arising from credit contracts Proposing basic solutions to contribute to improving the efficiency of the law on buying and selling bad debts arising from credit activities of commercial banks
- Research objectives of the topic: The research objective of the topic is to clarify the theoretical issues of the law and practical application of the law on buying and selling bad debts arising from credit contracts of NHs From there, propose recommendations to improve the law and improve the efficiency of applying the law on buying and selling bad debts arising from credit activities of commercial banks in practice
- To clarify the research purpose and tasks of the research, the thesis uses analytical and statistical methods
- Research results of the topic: The system of legal regulations is still not synchronous, complete and clear
3 Keywords
Law on bad debt trading, orientation, solutions
Trang 7v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Stt Từ viết tắt Tên gọi
01 NHTM Ngân hàng thương mại
07 AMC Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc
ngân hàng thương mại
08 DATC Công ty TNHH mua bán nợ Việt Nam
09 BLDS Bộ Luật dân sự
10 LTM Luật thương mại
11 NSNN Ngân sách nhà nước
Trang 8vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN………
i LỜI CÁM ƠN………iiTÓM TẮT LUẬN VĂN……… iiiTHESIS SUMMARY ……… iiiDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… ivMỤC LỤC……….vi
1 MỞ ĐẦU……….1
11.1 Đặt vấn đề………
11.2 Tính cấp thiết đề tài………
12 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI………
32 1 Mục tiêu tổng quát………
32.2 Mục tiêu cụ thể………
33 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU……….
4 4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU……….
44.1 Đối tượng nghiên cứu………
44.2 Phạm vi nghiên cứu………
45 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………
56 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI………
57 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU………
6CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI……… 71.1 Khái luận chung về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại……… 81.1.1 Khái niệm về nợ xấu………81.1.2 Đặc điểm của nợ xấu………11111.2 Khái niệm, đặc điểm về nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại……….1121.2.1 Khái niệm nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại……… 1121.2.2 Đặc điểm về nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại………18181.3 Khái niệm, đặc điểm về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại……… 19
1.3.1 Khái niệm về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại……… ………19
1.3.2 Đặc điểm về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại……… ……… 22
1.4 Khái quát pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng
mại……… 28281.4.1 Khái niệm pháp luật
Trang 9vii
về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại………281.4.2 Đặc điểm của pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại………301.4.3 Vai trò pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại………31Kết luận Chương
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ
trạng quy định pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng
của các ngân hàng thương mại………352.1.1 Quy định
pháp luật về điều kiện đối với khoản nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại……….352.1.2 Quy định về chủ thể mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại………37
2.1.2.1 Về bên bán nợ……… 37 2.1.2.2 Về bên mua nợ……….39 2.1.3 Quy định pháp luật về phương pháp xác định giá mua bán
nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại………442.1.4 Quy định pháp luật về phương thức mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại……….46
2.1.4.1 Quy định về phương thức thỏa thuận……… 47 2.1.4.2 Quy định về phương thức đấu giá………49
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP Hồ Chí Minh….51
2.2.1 Áp dụng quy định pháp luật về đối tượng mua bán nợ xấu phát sinh
từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP Hồ Chí Minh ……….51 2.2.2 Áp dụng quy định pháp luật về chủ thể mua bán nợ xấu phát sinh
từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP Hồ Chí Minh ……….52 2.2.3 Áp dụng quy định pháp luật về giá mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP Hồ Chí Minh……….58 2.2.4 Áp dụng quy định pháp luật về phương thức mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP Hồ Chí Minh……… 63
Trang 10viii
ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ MUA BÁN NỢ XẤU PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI……….673.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín
dụng của các ngân hàng thương mại………673.1.1
Hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại phù hợp với định hướng phát triển thị trường mua bán
n ợ………673.1.2 Hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng th ương mại đảm bảo sự đa dạng hóa nguồn vốn và chủ thể tham gia vào
mua bán nợ……… 68
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại đảm bảo sự độc lập trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Nhà nước……….69
3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế và cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng……….70
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại………71
3.2.1 Hoàn thiện các quy định về đối tượng mua bán nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại các ngân hàng thương mại………71
3.2.2 Hoàn thiện các quy định về chủ thể mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại các ngân hàng thương mại………73
3.2.3 Hoàn thiện các quy định về phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại các ngân hàng thương mại………76
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại……… 78
3.3.1 Nâng cao năng lực hoạt động của các chủ thể mua nợ………78
3.3.2 Khắc phục tình trạng cung nhiều hơn cầu trong mua, bán nợ của ngân hàng thương mại……… …80
3.3.3 Thành lập hiệp hội các công ty mua, bán nợ……… 81
Kết luận Chương 3……… 81
KẾT LUẬN……… 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢOiI Văn bản pháp luật……… ii
II Sách chuyên khảo, luận văn, tạp chí……… iii
III Tài liệu điện tửi……… iv
Trang 11ix
Trang 12lý nợ xấu luôn phải được áp dụng đúng quy định của pháp luật chứ không thể thực hiện theo tính chất tùy nghi hoặc tự phát không tuân thủ theo quy tắc xử sự chung thống nhất từ trung ương đến đại phương gọi chung là pháp luật
1.2 Tính cấp thiết đề tài
Trong hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM), nợ xấu phát sinh
từ hợp đồng tín dụng đối với khách hàng có xu hướng gia tăng trong những năm trở lại đây mặc dù các NHTM đã siết chặt các điều kiện cho vay và áp dụng các biện pháp ngăn ngừa rủi ro Xu hướng tiêu cực này buộc các NHTM phải đẩy mạnh các giải pháp xử lý nợ xấu, trong đó, bán nợ xấu cho các tổ chức, cá nhân
có nhu cầu được coi là giải pháp có tính khả thi nhất, từ đó hình thành quan hệ mua bán nợ xấu giữa NHTM (giữ vai trò là bên bán nợ) với các tổ chức, cá nhân
(giữ vai trò là bên mua nợ).Đứng trước thực trạng đó, ngày 18/5/2013, Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định
số 18/2016/NĐ-CP) thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (viết tắt là VAMC) Sự ra đời của VAMC đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nỗ lực xử lý nợ xấu của Chính phủ và ngân hàng nhà nước (NHNN) Những tín hiệu khả quan ban đầu cho thấy VAMC đã bắt đầu phát huy hiệu quả trong hoạt động xử lý nợ xấu đồng thời giúp cải thiện tính thanh khoản của các NHTM Báo cáo thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các
tổ chức tín dụng và Đề án 1058 “ Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020 " cho thấy quá trình cơ cấu lại và xử lý
Trang 13nợ xấu đã cơ cấu và nợ xấu tiềm ẩn, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng
ở mức 6,6 – 6,7% 1 Ngoài VAMC và các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản ngân hàng thương mại (AMC), công ty TNHH mua bán nợ Việt Nam (viết tắt là DATC) cũng là một chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ mua bán nợ xấu Tuy nhiên, điểm khác biệt của DATC so với VAMC và AMC là DATC chủ yếu tập trung vào việc mua các khoản nợ của các doanh nghiệp nhà nước theo chỉ thị của Chính phủ, tức là các khoản nợ của các ngân hàng thương mại nhà nước và
c ó mở rộng sang mua nợ xấu của các NHTM do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối Chính phạm vi chủ thể và đối tượng mua bán gò bó nên khả năng và vai trò tham gia vào quan hệ mua bán nợ xấu của DATC không đáng kể Như vậy, mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các NHTM ở Việt Nam hiện nay đang có sự tham gia chủ yếu của VAMC, các AMC trực thuộc các NHTM
và DATC
Hiện nay có rất nhiều quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ mua bán nợ xấu giữa NHTM bán nợ với bên mua nợ là VAMC và các chủ thể khác đang gây ra nhiều tranh cãi, thậm chí có nhiều quy định khó áp dụng trong thực tiễn như Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP)về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam; Thông tư số 19/2013/TT-NHNN (sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 32/2019/TT-NHNN) quy định về việc mua, bán và xử lý
1 Vũ Mai Chi, Trần Anh Quý (2018), “Tình hình xử lý nợ xấu tại Việt Nam qua các giai đoạn - các vấn
đề cần quan tâm và khuyến nghị”, Tạp chí Ngân hàng, Số 21, tr 26-33
Trang 14
nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam Cùng với đó, mặc dù các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật nhằm đa dạng hóa các chủ thể tham gia mua bán nợ xấu trên thị trường, ngoài các công ty mua bán nợ xấu chuyên nghiệp, pháp luật đã trao quyền cho chính các NHTM tham gia mua bán nợ xấu của các NHTM khác, hay các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đặc biệt là cơ chế pháp lý cho sự ra đời của mô hình chủ thể kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu, tuy nhiên, quy định
về mức vốn pháp định và điều kiện với người quản lý, người điều hành khi thành lập Chủ thể kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu trong Nghị định số 69/2016/NĐ-
CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu không phù hợp với thực tế Những quy định này vô hình chung là rào cản đối với hoạt động mua bán nợ xấu, cũng như tác động tiêu cực tới tâm lý của NHTM khi buộc phải lựa chọn phương
án bán nợ xấu cho VAMC hay các chủ thể khác2 Vì vậy, để phát huy hơn nữa vai trò cũng như hiệu quả trong hoạt động của VAMC và các chủ thể mua nợ khác trong thực tiễn, cần phải xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan
hệ mua bán nợ xấu đồng bộ và hoàn chỉnh, qua đó để nâng cao hiệu quả thực thi
của các quy định này Chính vì lý do trên tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của ngân hàng thương mại qua thực tiễn tại TP Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành
2.2 Mục tiêu cụ thể
dụng ở Việt Nam hiện nay và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Luật học, Số 7/2018, tr.62-71
Trang 153 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ mua bán nợ xấu, giá mua bán
nợ xấu trong mọi giao dịch cần được xác định theo giá trị thị trường hay tùy từng trường hợp, các bên có thể lựa chọn một cách linh hoạt phương pháp xác định giá theo giá trị sổ sách hoặc giá trị thị trường?
- Xác lập quan hệ mua bán nợ xấu, việc lựa chọn phương thức thỏa thuận hay đấu giá do các bên toàn quyền quyết định hay theo chịu sự chỉ đạo của Nhà nước?
- Đảm bảo quan hệ mua bán nợ xấu thực chất và giải quyết triệt để, tận gốc
nợ xấu của NHTM, công cụ thanh toán (tiền hoặc giấy tờ có giá) nên được sử dụng linh hoạt trong các giao dịch mua bán nợ xấu hay phải sử dụng công cụ thanh toán bằng tiền trong mọi trường hợp?
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM Cụ thể là quy định của Bộ Luật dân sự 2015; Luật Ngân hàng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; Luật các tổ chức tín dụng, Nghị quyết 42 năm 2017 của Quốc hội về xử lý nợ xấu và các văn bản hướng dẫn dưới luật
Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật Việt Nam về mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM theo số liệu báo cáo của các NHTM tại TP
Hồ Chí Minh và NHNN Việt Nam;
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian nghiên cứu: Từ giai đoạn năm 2015 đến năm 2021
Trang 165 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp luận
Để làm sáng tỏ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó trọng tâm dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích được sử dụng Chương 1 và 2 để nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về mua bán nợ xấu và những ưu điểm, hạn chế, tồn tại của pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM Trên cơ
sở đó, đánh giá sự phù hợp của thực trạng pháp luật vào quá trình áp dụng trên thực tiễn
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng tại Chương 2 để thu thập và tổng hợp các thông tin về những hoạt động mua bán nợ xấu đã được VAMC và các Chủ thể kinh doanh mua bán nợ xấu thực hiện nhằm đánh giá những thành tựu
đã đạt được và những vướng mắc còn tồn tại khi áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM
- Phương pháp so sánh được sử dụng tại Chương 3 nhằm học hỏi giữa lý luận và thực tiễn những kinh nghiệm nước ngoài, từ đó nghiên cứu tìm kiếm giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học có tính hệ thống hóa đã giải quyết những vấn đề lý luận pháp luật về mua bán nợ xấu mua bán nợ xấu phát
Trang 17Luận văn là nguồn tài liệu có giá trị đối với các cơ sở nghiên cứu khoa học, giảng dạy pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM
7 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Mặc dù quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM ở nước
ta đã hình thành từ những năm 1999, 2000 khi các công ty mua bán nợ xấu chuyên nghiệp trực thuộc Vietcombank và Vietinbank chính thức được thành lập Tuy nhiên, vấn đề này chỉ thực sự nhận được sự quan tâm của các chuyên gia kinh tế và pháp lý kể từ thời điểm VAMC được thành lập năm 2013 để giải quyết khối nợ xấu khổng lồ của hệ thống ngân hàng Nhìn chung, pháp luật về
nợ xấu và mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM là đề tài nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở các góc độ tiếp cận khác nhau Mức độ quan tâm này ngày càng trở nên rõ nét từ sau năm 2013 trở lại đây, khi Công ty Quản lý tài sản của các NHTM Việt Nam (VAMC) được thành lập Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu:
- Phạm Quang Huy (2015), “Pháp luật về nợ xấu trong HĐTD của ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận về nợ xấu trong HĐTD của ngân hàng thương mại Phân tích thực trạng pháp luật về nợ xấu trong HĐTD của ngân hàng thương mại tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn
đề này
- Phạm Thị Hoài Nam (2017), “Hoạt động xử lý nợ xấu của Công ty TNHH Một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn đã nghiên cứu
Trang 18
một số vấn đề chung về Công ty TNHH Một thành viên Quản lý tài sản của các
tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) Phân tích thực tiễn hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thực tế
- Võ Trung Tín, Văn Thành Khánh Linh (2019), “Lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng từ thực tiễn áp dụng Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về việc thí điểm xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
13 Bài viết đã khái quát về Nghị quyết số 42/2017/QH, thực tiễn áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14 trong quá trình xử lý nợ xấu Nêu một số vấn đề đặt ra
từ thực tiễn thực hiện Nghị quyết này
- Hoàng Thu Uyên (2019), “Những vấn đề pháp lý đặt ra từ thực tiễn thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng
ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn
đã trình bày những vấn đề chung về xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng và quy định về xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 Phân tích thực tiễn thi hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng ở Việt Nam; từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này
- Nguyễn Hải Yến (2018), “Cơ sở cho việc hoán đổi nợ xấu của ngân hàng thương mại thành vốn góp doanh nghiệp để xử lý nợ xấu”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2018 Bài viết đã nghiên cứu khái quát về việc hoán đổi nợ xấu thành vốn góp doanh nghiệp để xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại, đồng thời phân tích các cơ sở cho việc hoán đổi nợ xấu của ngân hàng thương mại thành vốn góp trong quá trình xử lý nợ xấu, từ đó đưa ra một số nhận xét và kiến nghị pháp lý nhằm thúc đẩy quá trình xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại, góp phần lành mạnh hóa hệ thống các tổ chức tín dụng và ổn định nền kinh
tế
Trang 19
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU
PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái luận chung về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về nợ xấu
Về kỹ thuật lập pháp thì định nghĩa về nợ xấu, hay khoản nợ xấu của NHTM được ghi nhận tại nhiều thông tư khác nhau của NHNN Tại định nghĩa về khoản
nợ của NHTM tại Điều 3 của Thông tư 11/2021/TT-NHNN của NHNN ban hành quy định về việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 11/2021/TT-NHNN), theo đó
Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 trong đó nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) trong bảng phân loại nợ theo phương pháp định lượng và phương pháp định tính
Cụ thể, theo phương pháp định lượng nợ xấu được xác định dựa vào thời hạn trả nợ quá hạn như sau3:
* Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến
180 ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu;…
* Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;…
* Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn trên 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;…”
Trang 20
Bên cạnh phương pháp định lượng, nợ xấu cũng được NHTM nhận diện theo phương pháp định tính dựa vào đánh giá của NHTM đối với khả năng trả
nợ của khách hàng như sau4:
“* Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất Các cam kết ngoại bảng được
tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không
có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết
* Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao,
* Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết”
Tuy nhiên, về nguyên tắc, TCTD chỉ được phân loại nợ xấu theo phương pháp định tính sau khi được NHNN chấp thuận bằng văn bản và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: (1) Có Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh, đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ
và có thời gian thử nghiệm tối thiểu 01 năm; (2) Có chính sách dự phòng rủi ro; (3) Có chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô hình giám sát rủi ro tín dụng, phương pháp xác định, đo lường rủi ro tín dụng (trong đó bao gồm cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng theo hợp đồng tín dụng, tài sản bảo đảm, khả năng thu hồi nợ) và quản lý nợ; (4) Phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) trong việc phê duyệt, thực hiện và kiểm tra thực hiện Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tính độc lập của các bộ phận quản lý rủi ro
Trang 21
Như vậy, về mặt định lượng quan niệm nợ xấu của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế khá tương đồng, theo đó, các khoản nợ bị xếp vào nhóm nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi từ 90 ngày (91 ngày) trở lên đồng thời tính toán
về khả năng trả nợ của khách hàng khi đến hạn, điều đó có nghĩa không chỉ xem xét khi đã có dấu hiệu rõ ràng về việc khách hàng không trả được nợ mà còn phải đánh giá tới các khả năng xảy ra thiệt hại trong tương lai Sự chuẩn hóa quốc tế các tiêu chí nhận diện nợ xấu của Thông tư 11/2021/TT-NHNN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Để thu hút nguồn vốn của các tổ chức tài chính quốc tế hoặc các nhà đầu tư nước ngoài vào hoạt động mua bán và xử lý nợ xấu của các TCTD, minh bạch và chuẩn hóa quốc tế tiêu chí phân loại nợ xấu của các TCTD là yêu cầu không thể thiếu Thực tiễn cho thấy, sự thiếu minh bạch trong các thông tin
về nợ xấu và không đảm bảo các tiêu chí phân loại nợ xấu theo chuẩn mực quốc
tế là những rào cản lớn nhất ngăn cản các tổ chức tài chính quốc tế hoặc các nhà đầu tư ngoại tham gia mua bán nợ xấu trên thị trường ở Việt Nam thời gian qua Tuy nhiên, quan niệm về nợ xấu của Thông tư 11/2021/TT-NHNN đang tạo ra sự nhầm lẫn giữa khái niệm nợ xấu (Bad Debt) với khái niệm các khoản cho vay không hiệu quả (Non-performing loans) khi viết tắt “Nợ xấu là NPL” Trong khi nợ xấu được xác định thông qua thời hạn trả nợ đã quá từ 91 ngày trở lên hoặc được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn thì các khoản cho vay không hiệu quả (Non-performing loans5) được nhận biết thông qua quy trình luân chuyển vốn vay từ TCTD đến khách hàng và hoạt động thu hồi vốn của TCTD không được như kỳ vọng Sự không hiệu quả trong các khoản vay này (NPLs) có thể xuất phát từ những rủi ro trong quá trình
sử dụng vốn của khách hàng như khách hàng đầu tư không hiệu quả, giải thể, phá sản…dẫn tới khả năng trả nợ gốc và lãi của khách hàng bị ảnh hưởng hoặc
có thể xuất phát từ những rủi ro về chính sách, rủi ro về lãi suất, rủi ro về thị trường…từ đó làm giảm hiệu quả, lợi nhuận từ những khoản cho vay mặc dù
Non-Performing Loans (October 10, 2016) EBRD Working Paper No 193, Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=3119677 or http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3119677
Trang 22
khách hàng có thể trả nợ gốc và lãi đúng hạn6
1.1.2 Đặc điểm của nợ xấu
Thứ nhất, nợ xấu làm gián đoạn vòng quay vốn của các ngân hàng, những khoản nợ được cung ra thị trường, sau một thời gian sẽ được thu hồi để ngân hàng tiếp tục vòng quay vốn mới Tuy nhiên, khi khoản nợ trở thành nợ xấu, ngân hàng sẽ không thể thu hồi được khoản nợ đúng hạn hay thậm chí là không thể thu hồi được nữa, dẫn đến gián đoạn vòng quay vốn của ngân hàng
Thứ hai, nợ xấu cao có thể đẩy ngân hàng rơi vào tình trạng mất vốn, mất thanh khoản và mất lòng tin của người dân, của những khách hàng khác Khi nợ xấu gia tăng đồng nghĩa với nguồn vốn đầu tư sẽ bị đóng băng, không có khả năng thu hồi Nguồn vốn cho vay không có khả năng thu hồi được thì khả năng thanh toán chắc chắn sẽ giảm Khủng hoảng trong thanh toán chính là nguyên nhân dễ dẫn đến sự phá sản của các Ngân hàng7
Thứ ba, nợ xấu sẽ làm suy giảm năng lực tài chính của NHTM, vì thế ảnh hưởng đến sự ổn định của khu vực tài chính Do tỷ lệ nợ xấu gia tăng, lợi nhuận của NHTM vì thế sẽ bị suy giảm Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực tài chính và khả năng tồn tại lành mạnh của NHTM, đặc biệt đối với các NHTM nhỏ sẽ rất dễ bị phá sản Ngân hàng không đạt được kế hoạch lợi nhuận với những khoản nợ khó đòi trong nhiều quý và chính NHTM cũng trở thành những con nợ với những khoản nợ khổng lồ và buộc phải đi đến kết cục bị phá sản hay bị thôn tính sáp nhập8
Thứ tư, nợ xấu khiến uy tín của ngân hàng giảm sút Khi nợ xấu phát sinh
sẽ khiến uy tín của các NHTM giảm sút đối với khách hàng như việc chậm trễ trong thanh toán, khả năng thanh toán giảm sút, đối với cổ đông như chậm trễ trong thanh toán cổ tức, cổ tức giảm do thu nhập giảm, hoạt động kinh doanh và chất lượng tín dụng đi xuống và đối với các đối tác khác như chậm trễ trong giải
Trang 231.2 Khái niệm, đặc điểm về nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
Thuật ngữ “nợ” có lịch sử sử dụng lâu đời và không còn là một thuật ngữ mới hay xa lạ đối với đời sống kinh tế xã hội, song khái niệm này lại có nhiều định nghĩa khác nhau, từ đó dẫn đến cách hiểu và cách ứng phó với nợ khác nhau Nợ phát sinh như một hệ quả tất yếu từ hoạt động tín dụng của NHTM, qua quá trình NHTM hoạt động tín dụng và kiểm soát rủi ro kém hiệu quả, nợ xấu xuất hiện và có thể tồn tại lâu dài Như vậy, nợ và nợ xấu có mối quan hệ mật thiết với nhau, nợ bao gồm các khoản nợ xấu và các khoản nợ không phải là
nợ xấu
Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm nợ
Nợ có thể được hiểu là một nghĩa vụ tài sản của một bên đối với một bên khác, mối quan hệ này tồn tại giữa hai chủ thể bao gồm chủ thể có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, mà ở đây là yêu cầu trả nợ, chủ thể còn lại có nghĩa vụ thực hiện
Tạp chí Ngân hàng, Số 4, tr.32-35
Trang 24khi bên có quyền yêu cầu
Ngoài ra, một khái niệm nợ khác thường được sử dụng trong trường hợp phải thực hiện một nghĩa vụ hoàn trả hay đền bù về tài sản, vật chất Tuy nhiên,
nợ cũng có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác Trong trường hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó Nợ được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người vay một lượng tài sản nhất định11 Khái niệm trên đây cho thấy rõ hơn sự hình thành
“nợ”, đồng thời trong khái niệm này, người vay có thể trả đúng tài sản mà họ đã vay mượn hoặc trả bằng một tài sản khác, bao gồm tiền, mang tính chất đền bù, tùy theo sự thỏa thuận của các bên Khái niệm này cũng xét đủ hai chủ thể cho vay và chủ thể đi vay, tuy nhiên chưa đề cập đến việc yêu cầu trả nợ của người cho vay mà chỉ nêu lên việc xác lập khoản nợ cho người cho vay khi họ đồng ý cho vay Vì vậy, khái niệm này tuy xét nhiều mặt, song vẫn chưa hoàn thiện
Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa về “nợ” Theo đó, nợ là cái vay phải trả mà chưa trả Định nghĩa này chỉ ra mối quan hệ vay mượn, theo đó tình trạng một bên vay mượn của bên kia tài sản, vật chất mà chưa thực hiện hành vi hoàn trả được thể hiện dưới tên gọi là nợ Định nghĩa ngắn gọn này phần nào thể hiện được bản chất và sự hình thành khoản nợ12 Ngoài ra, nợ còn được hiểu là điều mang ơn phải đền đáp mà chưa đền đáp được hoặc đã hứa với ai đó mà chưa có dịp thực hiện13 Theo cách hiểu này, nợ không chỉ gói gọn trong quan hệ tài sản,
thương mại tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường ĐH Luật, ĐH Huế, tr.37
Trường ĐH Luật, ĐH Huế
12 Nguyễn Văn Thịnh (2014), Pháp luật về mua bán nợ của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường ĐH Kinh tế Luật, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
13 Ngô Thu Hiền (2016), Pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Viện Đại Học Mở Hà Nội
Trang 25
vật chất mà còn mở rộng ra các đối tượng về tinh thần, đạo đức, lời hứa Song, hiểu một cách ngắn gọn, nợ là mối quan hệ mà một bên phải thực hiện việc trao một đối tượng cho một bên khác, hình thành dựa trên việc cho vay, hứa hẹn Các khái niệm nêu trên đều chỉ ra bản chất của nợ là tình trạng một bên có quyền yêu cầu, và một bên phải có nghĩa vụ trao cho bên kia đối tượng cụ thể
mà chưa thực hiện việc trao này, nghĩa vụ đó có thể phát sinh từ việc bên có quyền đã cho bên có nghĩa vụ vay mượn, mua bán nhưng chưa thanh toán, hoặc phát sinh từ các thoả thuận, quy định của pháp luật trong từng trường hợp
Nợ xấu của NHTM có thể được hiểu một cách đơn giản là những khoản nợ khó có khả năng thu hồi, do đặc thù hoạt động cấp tín dụng của NHTM nhiều rủi
ro và việc đòi hỏi phải phân loại nợ để kiểm soát rủi ro tín dụng14 Từ những lý
do này mà NHTM dành sự chú trọng và quan tâm đặc biệt cho nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của mình
Trên thế giới cũng tồn tại nhiều khái niệm về nợ xấu Một khoản nợ được coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi nợ; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày, Theo đó, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và/hoặc có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ Nhận định
về nợ không có khả năng thanh toán hay nợ xấu này được dựa trên việc đánh giá yếu tố định tính khi xét khả năng trả nợ không đầy đủ của khách hàng, không những vậy, định nghĩa này còn dựa trên yếu tố định lượng, mang tính chất cố định và dễ xác định, về trường hợp quá hạn 90 ngày mà khách hàng vay chưa có thực hiện nghĩa vụ thanh toán, cả hai yếu tố này đều nhìn từ góc độ người vay
và đánh giá hành vi của họ mà không đánh giá hành vi triển khai thu hồi nợ của ngân hàng15
Một khái niệm khác cho rằng, một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá
văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật ĐHQGHN
với Việt Nam, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, Số 147, tr 50 - 59
Trang 26
hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn
90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản) Định nghĩa này, bằng một cách định lượng, lấy một khoảng thời gian quá hạn, 90 ngày, một khoảng thời gian đủ dài, để đánh giá khả năng khó thu hồi của một món nợ, bên cạnh đó cũng xét đến yếu tố định tính, dưới 90 ngày nhưng có các lý do hợp lý để nghi ngờ về khả năng trả nợ.16
Tại Việt Nam cũng có nhiều khái niệm về nợ xấu, theo đó nợ xấu, hay còn gọi là nợ khó đòi hoặc các khoản vay có vấn đề, được sử dụng phổ biến nhằm
ám chỉ các khoản nợ bị suy giảm khả năng thu hồi hoặc mất khả năng thu hồi,
về bản chất nợ xấu là khoản nợ mà người vay không trả nợ đến hạn bao gồm cả trường hợp không trả nợ và mất khả năng trả nợ Nếu bên vay trả nợ không sòng phẳng, không đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thì nó trở thành
nợ xấu
Những định nghĩa trên đã có cách xác định và hiểu khá tương đồng về bản chất nợ xấu Qua đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu hay nợ giảm giá trị khi
nó xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: (i) Quá hạn thanh toán trong một
khoảng thời gian nhất định; (ii) Khách hàng vay bị coi là khó có khả năng trả nợ
Nợ xấu là một trong những tiêu chí hàng đầu để đánh giá tình trạng hoạt động của các NHTM, thể hiện sức khỏe tài chính, khả năng kiểm soát rủi ro; của NHTM đó và là một trong những vấn đề quan trọng trong tái cấu trúc hệ thống tài chính
Trên cơ sở những phân tích nêu trên, khái niệm “nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại” có thể được hiểu là một khoản tiền bao gồm khoản gốc, lãi và các chi phí khác mà khách hàng vay phải thanh toán cho NHTM tại một hoặc nhiều thời điểm nhất định được gọi là hạn thanh toán do NHTM và khách hàng thoả thuận trong hợp đồng Khái niệm “nợ xấu”
Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Số 2, tr.69-71
Trang 27
được hiểu là những khoản nợ có rủi ro tín dụng cao, khả năng thu hồi vốn thấp,
có khả năng gây thiệt hại cho NHTM cho vay, dựa trên sự đánh giá về lượng thời gian quá hạn mà chưa thanh toán nợ và sự đánh giá thấp của NHTM về khả năng trả nợ của khách hàng Ở trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu
Có thể nghiên cứu quan điểm của Ngân Hàng Thương Mại trung ương Châu Âu (ECB) là một ví dụ điển hình khi mà họ cho rằng “Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc có thể không được thu hồi đầy đủ cho NHTM, gồm17:
* Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ
* Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ, những khoản nợ mà NHTM không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ
*Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ
* Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, những phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ
nợ
* Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn
nợ nhưng không đền bù được nợ trong thời gian thỏa thuận
* Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở NHTM không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ NHTM đầy đủ
* Những khoản nợ mà tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ
Bên cạnh, đó, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng có quan điểm riêng về nợ xấu bằng một định nghĩa về nợ xấu rất cơ bản mà chính Quỹ tiền tệ quốc tế IMF
chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Trang 28
đưa ra, như sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền
thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả
nợ sẽ được thực hiện đầy đủ 18 ”.“Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa
trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của KH Khả năng trả nợ của
KH ở đây có thể là toàn bộ số gốc và lãi hoặc một phần gốc và lãi
Ở Việt Nam, dưới góc độ luật thực định Thông tư 11/2021/TT-NHNN Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định như sau: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Trong đó: i) Nợ nhóm 3: thời gian quá hạn từ 90 – 180 ngày ii)– Nợ nhóm 4: thời gian quá hạn từ 181 – 360 ngày iii) Nợ nhóm 5: thời gian quá hạn trên 360 ngày Như vậy, nợ xấu theo quan điểm của NHNN Việt Nam cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày hoặc khả năng trả nợ đáng
lo ngại Tuy nhiên, việc các NHTM tiếp cận theo yếu tố nào là phụ thuộc vào khả năng và điều kiện tiến hành phân loại nợ Với những quan điểm trên thì quan điểm về nợ xấu phải được tiếp cận dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng Có nghĩa là một khoản cho vay trong hạn nhưng có các dấu hiệu chứng tỏ rằng khả năng trả nợ của khoản vay là đáng nghi ngờ thì cũng có thể coi là một khoản nợ xấu, cần phải xử lý.” Nợ và nợ xấu của NHTM có mối quan hệ liên quan mật thiết đến nhau Nợ bao gồm cả nợ xấu và nợ đủ tiêu chuẩn Nợ xuất phát từ hoạt động cấp tín dụng của NHTM, NHTM kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận trên các khoản nợ Tuy nhiên, khi một khoản nợ khó có khả năng thu hồi và bị đánh giá là nợ xấu trong một khoảng thời gian dài, nó phản ánh hoạt động kinh doanh kém hiệu quả và NHTM luôn muốn tránh điều đó Nợ luôn tồn tại trong NHTM
https://htpldn.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=1865&l=Nghiencuutraodoi
Trang 29Thứ hai, nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương
mại bao gồm số tiền nợ gốc, lãi vay và chi phí khác nếu có Theo đó, số tiền nợ gốc tức là số tiền mà NHTM đã giải ngân cho khách hàng vay dựa trên hợp đồng vay đã ký kết Lãi vay là số tiền được xác định theo tỷ lệ so với số tiền vay gốc, thường thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm trên một khoảng thời gian nhất định được thoả thuận trong hợp đồng vay Ngoài những khoản này ra, khách hàng vay có thể phải trả thêm một số chi phí khác cho NHTM, chẳng hạn như phí phạt khi khách hàng vay trả nợ trước hạn, chi phí quản lý, lãi phạt chậm trả; và một số loại chi phí khác Vậy nên, khoản phải trả của khách hàng vay thường lớn hơn khoản mà ngân hàng đã cho họ vay ban đầu, phần chênh lệch mà họ phải gánh chịu xem như cái giá, chi phí để họ có thể được sử dụng vốn của người khác19 Thứ ba, nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại luôn mang rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng Rủi ro có thể được hiểu là khả năng mất đi những giá trị về mặt vật chất hoặc tinh thần do việc thực hiện một hành động (hoặc không hành động) nhất định, thấy trước hoặc không lường trước được (dự định hoặc không có kế hoạch), là sự ảnh hưởng của sự không chắc chắn đối với các mục tiêu Trong định nghĩa này, sự không chắc chắn bao gồm các sự kiện (có thể xảy ra hoặc không xảy ra) và sự không chắc chắn gây ra bởi sự mơ
hồ hoặc thiếu thông tin Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng của khoản nợ là việc khách hàng không thực hiện đúng cam kết trong HĐTD dẫn đến NHTM không thể thu
hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội
Trang 30
hồi được nợ Hiểu theo nghĩa rộng, rủi ro tín dụng là tất cả những khả năng mà theo đó, NHTM sẽ không thể thu hồi đầy đủ và đúng hạn các khoản tín dụng đã cấp Rủi ro tín dụng sẽ gây nên những thiệt hại đối với các ngân hàng, làm mất mát nguồn vốn, suy giảm khả năng chi trả và khả năng thanh toán các khoản nợ của ngân hàng20 Một cách đơn giản, rủi ro tín dụng được định nghĩa là tiềm năng
mà khách hàng vay của ngân hàng không đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán nợ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận Trong quá trình hoạt động, nhiệm
vụ kiểm soát rủi ro tín dụng luôn được đặt ra đối với các chủ nợ Để khắc phục rủi ro tín dụng đòi hỏi cần phải có cả một hệ thống các biện pháp nhằm khắc phục tổn thất phát sinh trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, trong
đó có cả các yếu tố đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm của cán bộ ngân hàng với mục tiêu bảo đảm được quyền lợi của ngân hàng cho vay cũng như khách hàng vay vốn
1.3 Khái niệm, đặc điểm về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
Cùng với sự phát triển của hoạt động ngân hàng, nợ xấu hình thành như quy luật tất yếu và gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sự an toàn của hệ thống NHTM Chính vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm được hệ thống NHTM hướng tới là giải quyết nợ xấu nhằm đưa tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn tối thiểu Về nguyên tắc, khi các khoản cho vay không được khách hàng thanh toán đầy đủ và đúng hạn, NHTM có thể sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ thu hồi nợ như bán đấu giá tài sản bảo đảm để thu hồi nợ hoặc chứng khoán hóa nợ xấu, tức là chuyển nợ xấu thành phần vốn góp vào doanh nghiệp hoặc bán nợ xấu cho các công ty mua bán
nợ xấu hoặc bán nợ xấu cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ
So với các giải pháp khác mà bản thân NHTM phải tự thu hồi nợ xấu, bán
nợ xấu cho các công ty mua bán nợ xấu hoặc tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua
Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật ĐHQGHN
Trang 31
nợ có thể được xem là giải pháp xử lý nợ xấu nhanh chóng và hiệu quả Sở dĩ giải pháp này được đánh giá là có khả năng giải quyết nhanh chóng và hiệu quả hơn vì khi quan hệ mua bán nợ xấu được xác lập thông qua việc giao kết hợp đồng mua bán nợ xấu, nợ xấu sẽ được chuyển giao từ NHTM bán nợ sang bên mua nợ, thay vì NHTM phải tự mình xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ Nhờ
đó, NHTM bán nợ nhanh chóng thu hồi được phần vốn và tiếp tục phục vụ cho hoạt động kinh doanh
Dưới góc độ pháp luật dân sự, mua bán nợ xấu từ HĐTD của các NHTM
là một bộ phận của mua bán tài sản vì nợ xấu là tài sản hay cụ thể hơn là quyền tài sản Điều đó có nghĩa, quan hệ này được hình thành trên cơ sở thống nhất ý chí giữa bên bán nợ và bên mua nợ, theo đó, bên bán nợ (là NHTM sở hữu nợ xấu) bán nợ xấu cho bên mua nợ (là tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ) Quan
hệ mua bán nợ xấu được xác định là quan hệ song vụ vì cả NHTM bán nợ xấu
và tổ chức, cá nhân mua nợ đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau Trong quan
hệ mua bán nợ xấu, NHTM có nghĩa vụ chuyển giao khoản nợ xấu và có quyền yêu cầu bên mua nợ thanh toán tiền mua khoản nợ xấu đó, còn bên mua nợ có nghĩa vụ thanh toán giá trị khoản nợ xấu đã mua và có quyền nhận chuyển giao khoản nợ xấu từ bên bán nợ là các NHTM
Như vậy, với tư cách một quan hệ mua bán tài sản trong các giao dịch dân
sự, khoản nợ xấu được chuyển giao từ NHTM bán nợ sang tổ chức, cá nhân mua
nợ Sau khi mua nợ xấu, bên mua nợ trở thành chủ sở hữu mới của khoản nợ xấu
và được quyền đòi nợ từ con nợ Sau khi bán nợ xấu, NHTM thu về được một khoản tiền nhất định và tiếp tục đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình Dưới góc độ pháp luật ngân hàng, mua bán nợ xấu từ HĐTD của các NHTM là một giải pháp được sử dụng nhằm giải quyết tình trạng nợ xấu của hệ thống NHTM Dưới góc độ luật thực định thì Khoản 1 Điều 3 Thông tư 09/2015/TT-NHNN Quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài định nghĩa “hoạt động mua bán nợ” như sau:
Mua, bán nợ là thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua
Trang 32
nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ
Như vậy, việc mua bán nợ phải theo thỏa thuận bằng văn bản, thông qua việc xác lập quan hệ mua bán, nợ xấu được chuyển giao từ NHTM sở hữu khoản
nợ sang tổ chức, cá nhân mua nợ, qua đó giảm tỷ lệ nợ xấu của NHTM So với các phương thức thu hồi nợ khác như bán đấu giá tài sản bảo đảm của con nợ, chuyển nợ thành vốn góp tại con nợ, mua bán nợ xấu giúp NHTM có khả năng thu hồi vốn nhanh và hiệu quả hơn Tuy nhiên, kết quả đó chỉ đạt được khi khoản
nợ xấu có đủ sức cuốn hút với các nhà đầu tư hoặc thỏa mãn những điều kiện nhất định mà bên mua nợ đặt ra Điều này xuất phát từ tính chất đặc thù của khoản nợ xấu được chuyển giao Nợ xấu hình thành khi khách hàng không thể thanh toán đầy đủ gốc và lãi các khoản vay tại NHTM Vì vậy nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ rủi ro lớn đối với bên mua nợ
Trong khi đó, khi chuyển giao khoản nợ xấu và nhận thanh toán từ bên mua
nợ, NHTM được xóa khoản nợ xấu trong bảng cân đối kế toán, đồng thời được giải phóng nguồn vốn bị đóng băng do nợ xấu và phần vốn trích lập dự phòng rủi ro Như vậy, có thể thấy, mua bán nợ xấu có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động của các NHTM
Tóm lại, thông qua việc phân tích quan hệ mua bán nợ xấu từ HĐTD của các NHTM từ những góc độ khác nhau, có thể thấy nội hàm của khái niệm này bao gồm những vấn đề sau đây:
* Đối tượng chuyển giao: là các khoản nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với khách hàng;
* Chủ thể tham gia: là các NHTM bán nợ xấu (bên bán nợ) và các cá nhân,
tổ chức có nhu cầu mua nợ xấu (bên mua nợ)
Từ đây, có thể hiểu mua bán nợ xấu từ HĐTD của các NHTM như sau:
Mua bán nợ xấu từ HĐTD của các NHTM là việc chuyển nhượng khoản nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại (bên bán nợ) đối với khách hàng sang cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu mua nợ (bên mua nợ) theo những phương thức do các bên thỏa thuận trên cơ sở quy định của pháp luật
Trang 33
1.3.2 Đặc điểm về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
Thứ nhất, đối tượng của mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM
là loại hàng hoá đặc biệt
Dưới góc độ pháp luật dân sự, có thể thấy rằng các khoản nợ xấu được chuyển giao chính là một loại tài sản mà theo nghĩa thông thường, tài sản bao gồm tiền, vật, giấy tờ có giá và quyền tài sản, ở đó, nợ xấu được xem là một loại tài sản đặc biệt tồn tại dưới dạng quyền tài sản Theo đó, nợ xấu là một nghĩa vụ nảy sinh từ HĐTD của NHTM với khách hàng, khi một bên có nghĩa vụ phải thanh toán cho phía bên kia một số tiền nhất định, nghĩa vụ đó được hình thành trên cơ sở hợp đồng vay tài sản giữa hai bên Đồng thời cũng có thể hiểu nợ xấu
là trách nhiệm pháp lý theo đó bên vay (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán với bên cho vay (NHTM) một khoản tiền nhất định theo HĐTD đã được ký kết và thực hiện giữa hai bên Như vậy, “nợ” ở đây là khoản phải trả xuất phát từ nguyên tắc cơ bản trong đời sống dân sự nói chung và ngân hàng nói riêng là có vay, có trả Tuy nhiên, khi nghĩa vụ trả nợ này không được thực hiện theo đúng thỏa thuận làm cho khoản nợ này thành nợ “xấu” Vậy nguyên nhân nào dẫn tới sự hình thành các khoản nợ xấu này? Câu trả lời thỏa đáng nhất cho câu hỏi này chính là sự mất khả năng thanh khoản của bên vay hay bên có nghĩa vụ trả nợ
Sự mất khả năng thanh khoản này có thể đến từ rất nhiều những lý do khác nhau bao gồm những lý do chủ quan từ quá trình quản lý và sử dụng vốn vay của bên vay hoặc đến từ những lý do khách quan như sự thay đổi chính sách của Nhà nước, sự đi xuống của thị trường, sự đóng băng của thị trường bất động sản hay
sự khủng hoảng của nền kinh tế21 Tất cả những nguyên nhân này tác động trực tiếp tới khả năng trả nợ của bên vay đối với NHTM và làm hình thành các khoản
nợ xấu
Tuy nhiên, không phải mọi khoản nợ xấu phát sinh từ việc ký kết và thực hiện HĐTD đều trở thành đối tượng của hoạt động mua bán nợ xấu giữa NHTM
Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học QGHN
Trang 34
và tổ chức, cá nhân có nhu cầu Vì đối với các khoản nợ được đánh giá có khả năng thu hồi vốn cao, NHTM sẽ áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để thu hồi nợ gốc và lãi từ khách hàng thay vì bán cho các công ty mua bán nợ xấu chuyên nghiệp, các tổ chức, cá nhân có nhu cầu Khi sử dụng nghiệp vụ thu hồi nợ, quan
hệ giữa NHTM và khách hàng được giữ vững, bí mật thông tin tài chính của khách hàng được bảo đảm Chính vì vậy, NHTM chỉ chấp nhận bán các khoản
nợ có tính thanh khoản thấp, khi thời hạn trả nợ gốc và lãi đã quá 91 ngày hay còn gọi là các khoản nợ xấu
Như vậy, mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM tập trung vào những khoản nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM và khách hàng không
có khả năng thu hồi
Thứ hai, NHTM luôn là một bên chủ thể tham gia giao dịch mua bán nợ xấu từ chính HĐTD của các NHTM (bên bán nợ) và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ xấu (bên mua nợ)
Trên thị trường sơ cấp, NHTM sở hữu khoản nợ xấu phát sinh trong quá trình cho khách hàng vay để tìm kiếm lợi nhuận và cần giảm thiểu khối lượng nợ xấu bằng cách chuyển nhượng, vì vậy trở thành bên bán nợ, các tổ chức, cá nhân
có nhu cầu và tiềm lực tài chính để mua nợ xấu trở thành bên mua nợ Vì đối tượng của giao dịch mua bán này là các khoản nợ xấu từ HĐTD của các NHTM nên các NHTM bao giờ cũng trở thành một bên chủ thể (bên bán nợ); tuy nhiên, bên mua nợ rất đa dạng, đó có thể là các NHTM được pháp luật cho phép thực hiện nghiệp vụ mua bán nợ xấu (nếu được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép), các công ty mua bán nợ xấu tập trung, các công ty kinh doanh nghiệp vụ mua bán nợ xấu hoặc có thể là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có nhu cầu Khả năng tham gia mua nợ của các chủ thể này chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi quy mô
nợ xấu trên thị trường cũng như mức độ can thiệp của chính phủ mỗi nước Trong thời kỳ hệ thống NHTM phát triển ổn định, nợ xấu trên thị trường có quy mô nhỏ, các chính phủ sẽ để cho thị trường tự điều tiết thông qua vai trò của các công ty kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu, còn khi thị trường bộc lộ những dấu hiệu tiêu cực, nợ xấu tăng cao đến mức báo động, các công ty mua bán nợ xấu
Trang 35
tập trung hoạt động với nguồn vốn được cấp từ NSNN sẽ được thành lập và tham gia mua nợ xấu của các NHTM22 Tuy nhiên, tính chất đặc biệt của công ty mua bán nợ xấu này làm cho sự tồn tại của nó trên thị trường hầu như chỉ mang tính tạm thời Thông thường các công ty này sau khi hoàn thành xong sứ mệnh lịch
sử của mình sẽ tự động giải thể, nhường hoạt động của thị trường cho các NHTM
và các công ty mua bán nợ xấu chuyên nghiệp
Thứ ba, mua bán nợ xấu là hoạt động mang tính rủi ro cao
Tính rủi ro của hoạt động này xuất phát tính chất đặc biệt của khoản nợ xấu
là đối tượng mua bán giữa các bên Nợ xấu hình thành khi khách hàng vay không thể thanh toán đầy đủ gốc và lãi khi đến hạn, thậm chí còn bị quá hạn dài Vì vậy, khả năng thu hồi vốn của loại tài sản này rất thấp, thậm chí trong nhiều trường hợp không có khả năng thu hồi Khi nợ xấu hình thành, rủi ro thuộc về các NHTM Để ngăn chặn rủi ro, một mặt NHTM phải sử dụng tài sản của mình
để trích lập dự phòng, một mặt phải dùng các phương thức khác nhau để xử lý rủi ro đó, trong đó, bán nợ xấu là một trong những phương thức chuyển rủi ro hiệu quả Khi quan hệ mua bán nợ xấu được xác lập, rủi ro sẽ được chuyển từ NHTM bán nợ sang bên mua nợ hay có thể nói, khi quyết định mua nợ xấu của NHTM, bên bán nợ chấp nhận rủi ro về phía mình Chính vì vậy, các nhà đầu tư
tư nhân thường e ngại tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu của các NHTM, trừ khi Nhà nước có chính sách ưu đãi đặc biệt để mời gọi họ tham gia đầu tư vào lĩnh vực này23 Cho nên thông thường, ở nhiều quốc gia, Chính phủ phải bỏ
ra nguồn vốn lớn từ NSNN để thành lập công ty mua bán nợ xấu, từ đó trực tiếp giải quyết nợ xấu của hệ thống NHTM và dẫn dắt thị trường mua bán nợ xấu Thứ tư, mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM được thực hiện theo nguyên tắc thị trường nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, cần có sự can thiệp Nhà nước
tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh,
của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng của Việt Nam”, Đề tài KH&CN Học viện Chính sách và Phát triển
Trang 36
Mọi quan hệ mua bán đều phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc cơ bản của thị trường, đó là quy luật cung – cầu; quy luật giá trị; quy luật cạnh tranh… Mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM cũng không nằm ngoài những nguyên tắc đó Theo đó, việc mua bán nợ xấu phải được xác lập và thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa bên bán nợ và bên mua nợ Có nghĩa là khi tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán nợ xấu, các bên phải đảm bảo tôn trọng sự thỏa thuận, sự tự do ý chí, không bên nào được ép buộc hay lừa dối bên nào Đồng thời, các bên có toàn quyền thỏa thuận về các khoản nợ xấu cụ thể được mua bán, giá mua bán, phương thức mua bán…
Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc biệt của loại tài sản là đối tượng mua bán trong giao dịch loại này, chủ thể tham gia và mục đích mua bán, quan hệ mua bán nợ xấu chịu sự can thiệp của Nhà nước với những quy định mang tính bắt buộc các NHTM ở vào những điều kiện nhất định phải tuân theo Theo nguyên tắc này, khi nền kinh tế có những dấu hiệu khủng hoảng làm cho tỷ lệ nợ xấu trên hệ thống ngân hàng tăng cao ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của nền kinh tế, tới niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng và tới sự an toàn vốn của các ngân hàng, Nhà nước sẽ thành lập một hoặc một số công ty mua bán
nợ xấu đặc biệt để trực tiếp tham gia mua bán nợ xấu của các NHTM nhằm kéo mức nợ xấu của cả hệ thống NHTM về ngưỡng an toàn Để hoạt động này phát huy hiệu quả tối đa thì các NHTM có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ vượt mức an toàn tối thiểu sẽ buộc phải bán nợ xấu cho công ty mua bán nợ xấu do Nhà nước thành lập
Đây được coi là một trong những điểm đặc thù của quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM so với các quan hệ mua bán tài sản thông thường, không có sự can thiệp của nhà nước Nói cách khác, trong một số giao dịch mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM, các chủ thể tham gia giao dịch không hoàn toàn được tự do ý chí mà phải tuân theo chỉ đạo của nhà nước…
Thứ năm, các chủ thể tham gia vào quan hệ mua bán nợ xấu nhằm tìm kiếm lợi nhuận hoặc kiểm soát và giới hạn tỷ lệ nợ xấu của các NHTM ở ngưỡng an toàn
Trang 37
Trong quan hệ mua bán tài sản thông thường, cả bên mua và bên bán đều tham gia nhằm thỏa mãn những lợi ích nhất định của mình về vật chất hoặc tinh thần Với các chủ thể kinh doanh, mục đích tìm kiếm lợi nhuận là động lực quan trọng thúc đẩy họ tham gia giao kết và thực hiện các quan hệ mua bán Đối với quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM, mục đích tìm kiếm lợi nhuận cũng không loại trừ, đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ mua bán nợ xấu Thông qua việc mua các khoản nợ xấu của các NHTM, bên mua nợ sẽ trở thành chủ sở hữu mới của khoản nợ xấu và có nhiều cơ hội để thu
về khoản lợi nhuận lớn từ việc bán các khoản nợ xấu đó trên thị trường thứ cấp hoặc trực tiếp thu hồi nợ từ con nợ Kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu được coi là một ngành nghề kinh doanh có mức độ tiềm ẩn rủi ro cao đối với bên mua
nợ nhưng rủi ro càng cao thì lợi nhuận có khả năng mang lại càng lớn Sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế dẫn tới sự hình thành các khoản
nợ xấu và nhu cầu mua nợ xấu của các NHTM để tìm kiếm lợi nhuận ngày càng phát triển Đặc biệt với các quốc gia xây dựng được thị trường mua bán nợ xấu, việc giao dịch các khoản nợ xấu được các nhà đầu tư thực hiện không khác gì mua bán cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường vốn, ở đó, mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận được đặt ra như động lực thúc đẩy các chủ thể tham gia mua bán nợ xấu trên thị trường
Tuy nhiên, tìm kiếm lợi nhuận không phải là mục đích duy nhất được bên mua và bên bán nợ xấu hướng tới khi xác lập quan hệ mua bán nợ xấu, đặc biệt, nếu quan hệ đó có sự tham gia của các công ty mua bán nợ xấu tập trung hoạt động với nguồn vốn được cấp từ NSNN Bản thân các NHTM nắm giữ nguồn lực tài chính lớn của cả xã hội, vì vậy, nếu nợ xấu của các NHTM không được kiểm soát sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực đối với nền kinh tế và tới toàn xã hội Trong trường hợp này, mục đích cơ bản và quan trọng nhất mà các chủ thể tham gia giao dịch hướng tới là đưa tỷ lệ nợ xấu của các NHTM về ngưỡng an toàn nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của hệ thống NHTM nói riêng và nền kinh
tế nói chung
Thứ sáu, hình thức pháp lý của quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ HĐTD của các NHTM là hợp đồng mua bán nợ xấu
Trang 38
Hợp đồng mua bán nợ xấu là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên bán nợ
và bên mua nợ, theo đó, bên bán nợ chuyển quyền sở hữu khoản nợ, mà thực chất là quyền đòi nợ và các lợi ích khác sang cho bên mua nợ theo những điều kiện và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Có thể coi hợp đồng mua bán nợ xấu là cơ sở quan trọng để ghi nhận sự thỏa thuận của các bên và đảm bảo tính thực thi của những thỏa thuận đó Thông thường, để được gọi là một hợp đồng mua bán nợ xấu, hợp đồng đó phải thỏa mãn những điều kiện sau đây:
* Đó phải là một văn bản ghi nhận sự thỏa thuận của các bên;
* Văn bản thỏa thuận đó được ký kết giữa hai bên chủ thể: bên mua nợ (tổ chức và cá nhân có nhu cầu) và bên bán nợ (NHTM sở hữu nợ xấu);
* Nội dung của hợp đồng ghi nhận thỏa thuận của các bên về việc chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ xấu theo phương pháp xác định giá do các bên thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ có liên quan từ bên bán nợ sang cho bên mua nợ, đồng thời thực hiện nghĩa vụ thanh toán bằng tiền hoặc giấy tờ có giá của bên mua nợ với bên bán nợ
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, sự thỏa thuận của các bên về việc chuyển quyền sở hữu khoản nợ xấu phải được thể hiện dưới hình thức văn bản Việc thể hiện dưới các hình thức khác như lời nói hoặc hành vi pháp lý cụ thể sẽ làm cho thỏa thuận không có giá trị pháp lý
Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, hợp đồng mua bán nợ xấu phải phù hợp với điều lệ, quy định nội bộ về hoạt động mua bán
nợ xấu do các NHTM tự ban hành trên cơ sở quy định của pháp luật Trong đó, quy định nội bộ về hoạt động mua bán nợ xấu xác định rõ về phân cấp thẩm quyền theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định mua bán nợ xấu; phương thức mua bán nợ xấu; quy trình mua bán nợ xấu; quy trình định giá khoản nợ xấu; quy trình bán đấu giá khoản nợ xấu trong trường hợp tự đấu giá khoản nợ xấu và quản trị rủi ro đối với hoạt động mua bán nợ xấu Việc ban hành quy định nội bộ này là cơ sở cho việc giao kết hợp đồng mua bán
nợ xấu trên thực tế của các NHTM
Đối với các quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh giữa NHTM bán nợ với bên mua nợ là công ty quản lý tài sản do Nhà nước thành lập, mặc dù chịu sự can
Trang 39
thiệp của Nhà nước khi buộc NHTM có tỷ lệ nợ xấu vượt mức an toàn tối thiểu phải bán nợ, tuy nhiên, quan hệ này vẫn được xác lập dưới hình thức hợp đồng mua bán nợ xấu Mặc dù hợp đồng mua bán nợ xấu vẫn chứa đựng đầy đủ những điều khoản về đối tượng của hợp đồng, về giá trị hợp đồng, về công cụ thanh toán…tuy nhiên, thực chất, hợp đồng này chỉ là hình thức để hợp pháp hóa sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động xử lý nợ xấu của NHTM
1.4 Khái quát pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
1.4.1 Khái niệm pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng và nhằm đạt được những mục đích nhất định24 Trong đời sống xã hội, các quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ không thể thiếu, điều chỉnh các quan hệ xã hội bên cạnh những quy phạm đạo đức, phong tục, tập quán, chứa đựng những chỉ dẫn về khả năng và các phạm vi có thể xử sự, cũng như những nghĩa vụ (sự cần thiết phải xử sự) của các bên tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, nhằm bảo đảm cho sự tồn tại và vận hành của xã hội Các quyền và nghĩa vụ được quy phạm pháp luật dự liệu cho các chủ thể tham gia quan hệ mà
nó điều chỉnh luôn có sự liên hệ mật thiết với nhau với hình thức, tính chất do nhà nước xác định phụ thuộc vào tính chất của chính quan hệ xã hội đó Vì vậy, trong cơ chế điều chỉnh pháp luật có vai trò thực hiện chức năng thông báo của nhà nước đến các chủ thể tham gia quan hệ xã hội về nội dung ý chí, mong muốn của nhà nước để họ biết được điều gì có thể làm, điều gì không được làm, điều
gì phải làm, điều gì phải tránh không làm trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định nào đó
Việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động mua bán nợ xấu là cần thiết bởi sự tồn tại của hoạt động mua bán nợ xấu là cần thiết, bắt nguồn cho sự hình thành các quy định pháp luật điều chỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý hoạt
24 Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb.Tư pháp,
Trang 40kỳ, cung cấp thông tin cũng giúp cho cơ quan quản lý kiểm soát, bảo đảm sự phát triển lành mạnh của hoạt động mua bán nợ xấu Hơn nữa môi trường pháp
lý ổn định mở ra nhiều cơ hội phát triển các mối quan hệ kinh doanh, đầu tư Pháp luật về hoạt động mua bán nợ xấu từ HĐTD của NHTM là một kim chỉ nam điều tiết, hướng dẫn để thị trường mua bán nợ xấu hoạt động một cách bài bản, có nguyên tắc, đem lại độ an toàn nhất định cho thị trường Bằng sự hướng dẫn của pháp luật và sự giám sát của cơ quan công quyền, hoạt động mua bán nợ xấu được thực hiện hiệu quả, phát huy đúng vai trò của mình, giải quyết bài toán
nợ xấu cho NHTM, khơi thông dòng chảy vốn, qua đó ổn định trật tự xã hội, phát triển kinh tế quốc gia
Bởi vì những lợi ích và tầm quan trọng như đã phân tích, việc xây dựng một hành lang pháp lý vững chắc để điều chỉnh các mối quan hệ, hoạt động phát sinh trong quá trình mua bán nợ xấu là vô cùng quan trọng và cần thiết xuất phát
từ nhu cầu của thực tiễn Pháp luật về hoạt động mua bán nợ xấu từ HĐTD của NHTM là một bộ phận của pháp luật về các NHTM Theo đó, những quy định này cần điều chỉnh mối quan hệ của: (i) Các bên tham gia giao dịch – bên mua