1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ ngành quản lý đất đai đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của cây keo lai đến năng suất và chất lượng mật ong

101 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của cây keo lai đến năng suất và chất lượng mật ong trong khu vực đất rừng U Minh Hạ
Tác giả Phạm Ra Băng
Người hướng dẫn Ths. Trần Văn Vũ, Ts. Trần Văn Dũng, PGs. Ts. Lê Tấn Lợi
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thạc sĩ ngành quản lý đất đai đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của cây keo lai đến năng suất và chất lượng mật ong Luận văn thạc sĩ ngành quản lý đất đai đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của cây keo lai đến năng suất và chất lượng mật ong Luận văn thạc sĩ ngành quản lý đất đai đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của cây keo lai đến năng suất và chất lượng mật ong Luận văn thạc sĩ ngành quản lý đất đai đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của cây keo lai đến năng suất và chất lượng mật ong Luận văn thạc sĩ ngành quản lý đất đai đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của cây keo lai đến năng suất và chất lượng mật ong Luận văn thạc sĩ ngành quản lý đất đai đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của cây keo lai đến năng suất và chất lượng mật ong Luận văn thạc sĩ ngành quản lý đất đai đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của cây keo lai đến năng suất và chất lượng mật ong Luận văn thạc sĩ ngành quản lý đất đai đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của cây keo lai đến năng suất và chất lượng mật ong Luận văn thạc sĩ ngành quản lý đất đai đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của cây keo lai đến năng suất và chất lượng mật ong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

PHẠM RA BĂNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÂY KEO LAI ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG MẬT ONG TRONG KHU VỰC ĐẤT RỪNG U MINH HẠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

PHẠM RA BĂNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÂY KEO LAI ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG MẬT ONG TRONG KHU VỰC ĐẤT RỪNG U MINH HẠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS TRẦN VĂN DŨNG PGS TS LÊ TẤN LỢI

2015

Trang 3

CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG

Luận văn này, với tựa đề là “Nghiên cứu ảnh hưởng của cây Keo Lai

đến năng suất và chất lượng mật ong trong khu vực đất rừng U Minh Hạ”

do học viên Phạm Ra Băng thực hiện theo sự hướng dẫn của TS Trần Văn Dũng Luận văn đã báo cáo và được Hội đồng chấm luận văn thông qua ngày…………

Trang 4

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I Sơ yếu lí lịch

Quê quán: Khánh Hội, U Minh, Cà Mau Dân tộc: Kinh

Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: ấp 7, Khánh Hội, U Minh, Cà Mau Điện thoại di động: 0916072163 - 01666478175

Ngày và nơi bảo vệ luận văn: tại trường Đại học Cần Thơ

Người hướng dẫn: Ths Phạm Thanh Vũ

2 Thạc sĩ

Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian đào tạo từ 2013 đến 2015

Nơi học (trường, thành phố): Trường Đại học Cần Thơ, Cần Thơ

Ngành học: Quản lý đất đai

Tên luận văn: Nghiên cứu ảnh hưởng của cây Keo Lai đến năng suất và chất lượng mật ong trong khu vực đất rừng U Minh Hạ

Người hướng dẫn: Ts Trần Văn Dũng

3 Trình độ ngoại ngữ: Tiếng anh cấp độ B1 (Khung châu Âu)

Trang 5

i

LỜI CẢM TẠ

Để hoàn thành được luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báo từ các thầy cô, các anh chị, từ lời thăm hỏi, động viên của các bạn học viên cao học Quản lý đất đai Khóa 20 Trước tiên xin gửi lời cám ơn thầy Ts Trần Văn Dũng (Bộ môn Khoa học đất, Khoa Nông nghiệp & SHƯD) đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn Ban chủ nhiệm đề tài “Đánh giá tác động của trồng Keo Lai

đến nguồn lợi cá đồng và mật ong trong khu vực rừng U Minh Hạ” đã tạo

điều kiện cũng như hỗ trợ kinh phí cho tôi tham gia thực hiện đề tài Đặc biệt cám ơn thầy PGs Ts Lê Tấn Lợi đã dành nhiều thời gian giúp đỡ và hướng dẫn cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Xin gửi lời cám ơn đến cô Ths Nguyễn Thị Tuyết Nhung (Bộ môn Chăn nuôi, Khoa Nông nghiệp & SHƯD) đã cung cấp một số kiến thức quý giá liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài

Xin gửi lời cám ơn đến anh Đỗ Thanh Tân Em, anh Nguyễn Đông Hồ, chị Lý Hằng Ni và em Lý Trung Nguyên (Bộ môn Tài nguyên Đất đai, Khoa Môi trường & TNTN); anh Nguyễn Việt Trung và bạn Nguyễn Thị Hồng Thanh (học viên cao học Quản lý đất đai khóa 20); anh Nguyễn Văn Út Bé (NCS Quản lý đất đai khóa 2015) đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập, phân tích số liệu và viết luận văn

Xin cám ơn anh Nguyễn Tấn Truyền (cán bộ Vườn Quốc gia U Minh Hạ) và các anh, các chú ở xã Trần Hợi, xã Khánh Thuận đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện thí nghiệm của đề tài

Lời cuối cùng con xin cám ơn đến cha, mẹ và gia đình đã quan tâm, động viên và giúp đỡ con trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Chân thành cám ơn!

Phạm Ra Băng

Trang 6

ii

PHẠM RA BĂNG (2015), “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÂY KEO LAI

(Acacia hybrid) ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG MẬT ONG TRONG KHU

VỰC ĐẤT RỪNG U MINH HẠ”, Luận văn thạc sĩ Quản lý đất đai, Khoa Môi trường và TNTN, Trường Đại học Cần Thơ

Kết quả cho thấy, năng suất mật ong trong năm giữa ba khu vực là không khác biệt, cũng như năng suất mật ong trên mỗi kèo giữa ba khu vực và giữa các điểm là như nhau Tuy nhiên, năng suất mật ong ở mùa nắng luôn cao hơn mùa mưa Năng suất mật ong giữa cây Keo Lai và Tràm là tương đương nhau Đánh giá chất lượng cảm quan cho thấy không có sự khác biệt giữa ba khu vực và giữa các điểm, ngoại trừ mật ong Tràm (KV III) có màu vàng nhạt

và mùi vị đặc trưng của hoa Tràm khác hơn so với mật ong từ cây Keo Lai (KV I và KV II) có màu sẩm hơn Mật ong mùa nắng được đánh giá có chất lượng cảm quan tốt hơn mùa mưa Đối với mùa nắng, hàm lượng nước, hàm lượng đường sacarose, hàm lượng vitamin C trong mật ong giữa ba khu vực không khác biệt Trong khi hàm lượng HMF và chất rắn không tan trong nước

ở KV I thì cao hơn KV II và III Hàm lượng vitamin B1 và độ pH của mật ong Keo Lai (KV I) thấp hơn mật ong Tràm (KV III) Đối với mùa mưa, độ pH, hàm lượng HMF, vitamin B1 và vitamin C trong mật ong giữa ba khu vực là không khác nhau Mật ong Keo Lai (KV I) có hàm lượng nước và độ axit tự

do thấp hơn mật ong Tràm (KV III), ngược lại, hàm lượng đường khử và chất rắn không tan trong nước cao hơn Trong cả hai mùa, hàm lượng nước và chất rắn không tan trong nước ở ba khu vực đều vượt tiêu chuẩn quy định Đa số các chỉ tiêu về chất lượng của mật ong Keo Lai và Tràm trong mùa nắng tốt hơn mùa mưa

Nhìn chung, chất lượng mật ong Keo Lai và Tràm có xu hướng biến động đồng đều, do phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên và tập quán lấy mật nên một số chỉ tiêu về chất lượng vượt ngưỡng quy định

Từ khóa: cây Keo Lai, cây Tràm, mật ong, rừng U Minh Hạ

Trang 7

iii

PHAM RA BANG (2015), “STUDYING EFFECTS OF ACACIA HYBRID TO YIELD AND QUALITY OF HONEY IN U MINH HA FOREST”, Master thesis in Land Management, College of the Environment and Natural Recourses, Can Tho

University

Supervisor: PhD TRAN VAN DUNG

ABSTRACT

This study was conducted to compare and evaluate the productivity and

quality of honey on the zones of Acacia hybrid and Melaleuca cajuputi, at U

Minh Ha forest, Ca Mau Methods of household interview and the experimental design were used in this study The study was carried out on

three zones include of: KV I (Acacia hybrid forest at Thuy Son), KV II (Acacia hybrid forest at Kenh Dung), KV III (Melaleuca cajuputi forest at U

Minh Ha National Park) Each zone was divided into 3 sites, on each site the data was collected and repeat 3 times in 2 seasons

The results showed that the total yield of honey in a year among three zones was not different as the same as the yield of honey on each hives among three zones and among points were the same However, the yield of honey in the dry season was always higher than in the wet season The honey yield

between Acacia hybrid and Melaleuca cajuputi were similar

Assessing on organoleptic quality showed that no difference among three

zones and among sites, except Melaleuca cajuputi honey (KV III) had light yellow and had the special taste of Melaleuca cajuputi flower compared to

Acacia hybrid honey (KV I and KV II) that was a lit of bit darker In general,

the organoleptic quality of honey in the dry season was better than in the rainy season For the dry season, the water content, content of sacarozo sugar, amount of vitamin C in honey were not different among three zones The content of HMF and level of solids insoluble at KV I were higher than KV II

and KV III Amount of vitamin B1 and pH in Acacia hybrid honey (KV I) were lower than Melaleuca cajuputi honey (KV III) For the rainy season, pH,

content of HMF, vitamin B1 and vitamin C in honey among three zones were

not different The water content and free acid level of Acacia hybrid honey were lower than Melaleuca cajuputi honey, the opposite, content of reducing

sugar and level of solids insoluble were higher In both seasons, the water content and level of solids insoluble in water in three zones exceeded

regulatory standards Most of the indicators of quality of Acacia hybrid and

Melaleuca cajuputi honey in dry season were better rainy season

Overall, quality Acacia hybrid and Melaleuca cajuputi honey tend to

fluctuate evenly, so largely dependent on natural conditions and custom production of the famers, therefore some of quality indicators were exceed prescribed standards

Key words: Acacia hybrid trees, Melaleuca cajuputi trees, honey, U

Minh Ha forest

Trang 8

iv

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất

cứ luận văn cùng cấp nào khác Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành

dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi trong khuôn khổ của đề tài “Đánh giá

tác động của trồng Keo Lai đến nguồn lợi cá đồng và mật ong trong khu vực rừng U Minh Hạ” Đề tài có quyền sử dụng kết quả này để phục vụ cho đề tài

Tác giả luận văn

(Đã ký)

Phạm Ra Băng

Trang 9

v

MỤC LỤC

CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG i

LÝ LỊCH KHOA HỌC ……….… … i

LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT ii

ABSTRACT iii

LỜI CAM ĐOAN iv

MỤC LỤC v

DANH SÁCH BẢNG vii

DANH SÁCH HÌNH ix

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng nghiên cứu 2

1.5 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Giới thiệu về cây Keo Lai 3

2.1.1 Thông tin chung về cây Keo Lai 3

2.1.2 Diện tích trồng Keo Lai hiện nay 4

2.2 Tình hình nghiên cứu Keo Lai 5

2.2.1 Trên thế giới 5

2.2.2 Ở Việt Nam 7

2.3 Giới thiệu về cây Tràm 10

2.4 Giới thiệu về loài ong mật và mật ong 11

2.4.1 Loài ong mật 11

2.4.2 Loài ong Khoái (ong gác kèo) 12

2.4.3 Mật ong 14

2.4.4 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng mật ong 17

2.5 Đặc điểm vùng nghiên cứu 19

2.5.1 Vị trí địa lý 20

2.5.2 Đặc điểm địa hình, đất đai 20

2.5.3 Khí hậu, thủy văn 20

2.5.4 Những đặc trưng nổi bật của Vườn Quốc Gia U Minh Hạ 20

Trang 10

vi

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

3.2 Phương pháp nghiên cứu 22

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 22

3.2.2 Phương pháp điều tra thực tế 22

3.2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23

3.2.4 Phương pháp phân tích chất lượng mật ong 26

3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 27

3.3 Phương tiện nghiên cứu 27

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Thực trạng sản xuất và năng suất mật ong trên địa bàn nghiên cứu 28

4.1.1 Thực trạng sản xuất mật ong 28

4.1.2 Năng suất mật ong giữa rừng keo lai và rừng tràm 31

4.1.2.1 Đánh giá thực trạng năng suất mật ong trong vùng nghiên cứu 31

4.1.2.2 Đánh giá năng suất thực của mật ong trong vùng nghiên cứu 33

4.2 Đánh giá chất lượng mật ong trong vùng nghiên cứu 36

4.2.1 Đánh giá chất lượng cảm quan 36

4.2.2 Đánh giá chất lượng về các chỉ tiêu hóa học của mật ong 38

4.2.2.1 Độ pH 38

4.2.2.2 Hàm lượng nước 41

4.2.2.3 Hàm lượng đường khử 44

4.2.2.4 Hàm lượng đường sacarose 47

4.2.2.5 Hàm lượng chất rắn không tan trong nước 50

4.2.2.6 Độ axit tự do 53

4.2.2.7 Hàm lượng HMF 57

4.2.2.8 Hàm lượng vitamin B1 60

4.2.2.9 Hàm lượng vitamin C 63

4.3 Các ảnh hưởng và đề xuất giải pháp 66

4.3.1 Ảnh hưởng 66

4.3.2 Đề xuất giải pháp 66

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

5.1 Kết luận 67

5.2 Kiến nghị 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 73

Trang 11

Bảng 4.3 Tỷ lệ số hộ thu hoạch mật nhiều nhất trong mùa nắng 31

Bảng 4.17 Hàm lượng nước của mật ong Keo Lai và mật ong Tràm 44

Bảng 4.23 Hàm lượng đường sacarose trong mật ong tại KV II 49Bảng 4.24 Hàm lượng đường sacarose trong mật ong tại KV III 49Bảng 4.25 Hàm lượng đường sacarose của mật ong Keo Lai và Tràm 50Bảng 4.26 Hàm lượng chất rắn không tan trong nước của mật ong tại KV I 51Bảng 4.27 Hàm lượng chất rắn không tan trong nước của mật ong tại KV II 52

Trang 12

viii

Bảng 4.28 Hàm lượng chất rắn không tan trong nước của mật ong tại KV III 52Bảng 4.29 Tỷ lệ hàm lượng chất rắn không tan trong nước của mật ong Keo

Bảng 4.33 Độ axit tự do của mật ong Keo Lai và mật ong Tràm 56

Bảng 4.41 Hàm lượng vitamin B1 trong mật ong Keo Lai và Tràm 63

Bảng 4.45 Hàm lượng vitamin C trong mật ong Keo Lai và Tràm 66

Trang 13

ix

DANH SÁCH HÌNH

Hình 4.3 Thời gian hoa Keo Lai và hoa Tràm nở so với thời vụ

gác kèo, thu hoạch mật ong

33

Trang 14

x

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nội dung

ACIAR Australian Centre for International Agricultural Research

(Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế)

CISDOMA The Consultative Institute for Socio-Economic Development

of Rural & Mountainous Area (Viện Tư vấn Phát triển Kinh tế-Xã hội Nông thôn và Miền núi)

CSIRO-FFP

Commonwealth Scientific and Industrial Research Organisation-Forestry and Forest Products (Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp của khối Thịnh vượng chung-Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp và Lâm sản)

GPS Global Positioning System-Hệ thống định vị toàn cầu

Trang 15

1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Hiện nay, vấn đề biến đổi khí hậu ngày càng được quan tâm thì vai trò của rừng cũng ngày càng được chú trọng nhiều hơn Bởi vì, rừng đã góp phần rất lớn trong việc điều hòa khí hậu trên toàn thế giới Tuy nhiên, trong thực tế nếu trồng và bảo vệ rừng chỉ nhằm đem lại hiệu quả về mặt sinh thái môi trường mà không quan tâm đến vấn đề kinh tế và thu nhập thì rất ít người dân chịu đáp ứng cho công việc này

Rừng tràm U Minh Hạ có diện tích tập trung lớn nhất cả nước, là nơi chứa đựng tiềm năng cho nhiều nguồn lợi tự nhiên Ngoài nguồn lợi về cá đồng thì nguồn lợi mật ong vốn vĩ đã đi sâu vào đời sống người đân và là nghề truyền thống không thể thiếu trong khu vực Tiềm năng về sản lượng mật ong của khu vực rừng tràm U Minh Hạ khoảng 1.000 tấn/năm, trong đó khả năng khai thác có thể lên đến 700 tấn/năm, chủ yếu là từ nghề gác kèo ong (Nguyễn Thanh Dũng, 2012) Khai thác mật ong tự nhiên bằng nghề truyền thống trong thời gian qua đã góp phần cải thiện thu nhập của nhiều hộ dân trong vùng Để cũng cố uy tín, chất lượng cho loại đặc sản đặc biệt của Cà Mau, nhiều tổ chức

và cá nhân đã và đang bắt tay xây dựng thương hiệu cho mật ong rừng U Minh

Hạ nhằm thu hút khách du lịch, nâng cao giá trị của mật ong trên thị trường, qua đó nâng cao đời sống của người dân sống nghề rừng và góp phần bảo vệ phát triển vốn rừng, các tài nguyên của rừng

Trên thế giới, hiện nay cây Keo đã và đang trở thành nguồn tài nguyên quan trọng mang tính toàn cầu với diện tích hơn 3,5 triệu ha, bao gồm các loại hình rừng trồng kinh tế tập trung, rừng phòng hộ, nông-lâm kết hợp và hộ gia đình Việc đưa các loài Keo vào trồng xen trong các hệ sinh thái rừng đã góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh tế từ rừng Năm 2009, tỉnh Cà Mau được

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép bổ sung thêm hai loại cây lâm nghiệp, trong đó có cây Keo Lai được phép trồng trên đất rừng sản xuất, đến năm 2014 toàn tỉnh đã trồng được khoảng 10.000 ha Tuy nhiên, việc đưa cây Keo Lai vào trồng trên đất phèn trong khu vực rừng tràm đã gây ra quan ngại cho các nhà quản lý và người dân trong vùng do tạo ra một số tác động đến môi trường và đa dạng sinh học, từ đó tác động trực tiếp đến sinh kế của người dân trong khu vực rừng U Minh Hạ

Ở nước ta, đã có nhiều nghiên cứu về cây Keo Lai Tuy nhiên, những nghiên cứu đó chỉ tập trung nghiên cứu về giống, kỹ thuật trồng, hiệu quả kinh tế, mà chưa nghiên cứu đến việc trồng cây Keo Lai đã ảnh hưởng đến hệ

Trang 16

2

sinh thái của rừng tràm, đặc biệt là vùng U Minh Hạ Trước lợi thế về khả năng sinh khối nhanh và lợi nhuận kinh tế cao, cây Keo Lai đã ngày càng phát triển trong điều kiện không kiểm soát được Vấn đề này đã gây ra nhiều dư luận cho rằng kiểu sử dụng đất trồng cây Keo Lai sẽ gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng tràm, mà trong đó tác động trực tiếp đến năng suất và chất lượng mật ong vốn là nguồn tài nguyên tự nhiên nổi tiếng và có thương hiệu Như vậy, vấn đề đặt ra là trồng cây Keo Lai có vai trò và tác động như thế

nào Để trả lời được vấn đề trên đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của cây Keo

Lai đến năng suất và chất lượng mật ong trong khu vực đất rừng U Minh Hạ" được thực hiện nhằm làm cơ sở cho việc quản lý và phát triển hệ sinh

thái rừng U Minh Hạ hiệu quả và bền vững

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.4 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào năng suất, chất lượng mật ong và các vấn đề có liên quan

1.5 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng sản xuất và đánh giá năng suất mật ong trong khu vực trồng Keo Lai và khu vực trồng Tràm tại hệ sinh thái rừng U Minh Hạ

- Phân tích, đánh giá chất lượng mật từ cây nguồn mật trên đất trồng Keo Lai và đất trồng Tràm

- Đề xuất giải pháp quản lý và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng U Minh Hạ

Trang 17

3

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu về cây Keo Lai

2.1.1 Thông tin chung về cây Keo Lai

Keo Lai (Acacia hybrid) là một giống lai tự nhiên của Keo Tai Tượng (Acacia mangium) và Keo Lá Tràm (Acacia auriculiformis) Keo Lai có nhiều

đặc điểm hình thái giữa bố và mẹ, có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng, hiệu suất bột giấy, độ bền và độ trắng của giấy, có khả năng cố định đạm nhờ các nốt sần ở hệ rễ (Bộ NN và PTNN, 2007)

Giống Keo Lai được Hepburn and Shim phát hiện đầu tiên vào năm 1972 trong số những cây Keo Tai Tượng được trồng ven đường ở Sook Sau đó, Tham (1976) cho rằng đó là giống lai và đã được Pedley (1978) kết luận sau khi xét nghiệm một mẫu tiêu bản (SAN 81053) đã gửi vào tháng 01/1977 (trích dẫn của Pinso and Nasi, 1992)

Keo Lai tự nhiên cũng được phát hiện ở Papua New Guinea (Griffin, 1988) ở Malaysia và Thái Lan (Kijkar, 1992) Ngoài ra từ năm 1992 ở Indonesia đã bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo Lai từ nuôi cấy mô cùng Keo Tai Tượng và Keo Lá Tràm Keo Lai còn được tìm thấy ở vườn ươm Keo Tai Tượng tại trạm nghiên cứu Jon-Pu của viện nghiên cứu Lâm nghiệp Đài Loan

(Kiang Tao et al., 1989) và khu trồng Keo Tai Tượng tại Quãng Châu, Trung

Quốc Năm 1988, Griffin đã tiến hành nhân giống Keo Lai bằng hom hoặc nuôi cấy mô trong môi trường cơ bản của Murashige và Skooge có thêm 6- Benzyl amino purine (BAP) 0,5mg/l và cho ra rễ đến 70% (Darus, 1991) và sau một năm cây mô có thể cao 1,09 m (trích dẫn của Lê Đình Khả, 1999) Trong nghiên cứu của Rufels (1987) thì không tìm thấy sự sai khác nào đáng kể của Keo Lai so với các loài bố mẹ Các tính trạng của chúng đều thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế lai thật sự Tác giả đã chỉ ra rằng Keo Lai hơn Keo Tai Tượng về độ tròn đều của thân, có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành tự nhiên khá hơn Keo Tai Tượng, song độ thẳng thân, hình dạng tán lá và chiều cao dưới cành lại kém hơn Keo Tai Tượng (trích dẫn của Trần Thị Duyên, 2008) Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Pinso and Nasi (1992) thì cây Keo Lai có xuất xứ ở Sabah vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo Tai Tượng Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sinh trưởng của Keo Lai tự nhiên ở đời F1 là tốt hơn, còn từ đời F2 trở đi cây sinh trưởng không đồng đều và trị số trung bình còn kém hơn cả Keo Tai Tượng Khi đánh giá về chỉ tiêu chất lượng của cây Keo Lai, Pinso and Nasi

Trang 18

4

(1992) thấy rằng độ thẳng của thân, độ tròn đều của thân, đều tốt hơn bố mẹ

và phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại

Ở Việt Nam, Keo Lá Tràm và Keo Tai Tượng được nhập vào nước ta từ những năm 1960 nhưng mãi đến những năm 90 thì Keo Lai tự nhiên được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng phát hiện đầu tiên tại Ba Vì (Hà Tây cũ)

và vùng Đông Nam Bộ vào năm 1992 Theo đó, từ năm 1993 cho đến nay Lê Đình Khả và các cộng sự đã tiến hành thêm nhiều nghiên cứu về cải thiện một

số giống Keo Lai Đặc điểm hình thái của Keo Lai là thân thẳng hơn Keo Lá Tràm và tròn hơn Keo Tai Tượng, cành nhánh nhỏ và có khả năng tự tỉa cành cao hơn Vỏ thân có màu nâu nhạt, mặt vỏ mịn hơn vỏ thân Keo tràm, tán lá phát triển tốt, lá Keo Lai thường lớn hơn lá Keo Lá Tràm và nhỏ hơn lá Keo Tai Tượng, bề rộng lá từ 4-6 cm, dài 15-20 cm có gân trừ gân nằm mép lá là không hiện rõ, lá có màu xanh lục nhạt hơn lá Keo Tai Tượng và không bị úa vàng vào dịp rét Hoa có màu kem đến màu trắng sắp xếp thẳng dài từ 4-10

cm Keo Lai là loài ít quả và hạt bị biến tính không mang đặc tính trội của bố

mẹ Keo Lai sinh trưởng, phát triển tốt ở nhiệt độ tối cao từ 26-34oC và tối thấp từ 12-14oC Mọc tốt trên đất có độ pH từ 3-7, phân bố ở độ cao 800 m so với mặt nước biển Cây cao đến 25-30 m, đường kính có thể đến 60-80 cm (Lê Đình Khả, 1999)

Các kết quả nghiên cứu giống lai cho thấy Keo Lai là loài ưu việt, nhưng khi nghiên cứu về hiệu quả của rừng trồng Keo Lai mang lại thì ngoài lợi ích sinh thái như các dịch vụ môi trường thì còn phải nhắc đến các hiệu quả kinh

tế khác như các lâm sản ngoài gỗ Trong đó đặc biệt chú ý đến các sản phẩm chủ yếu như nguồn lợi về mật ong rừng Đây là loại sản phẩm luôn gắn liền với các hệ sinh thái rừng tự nhiên, mang tính chất đặc trưng cho từng hệ sinh thái rừng khác nhau

2.1.2 Diện tích trồng Keo Lai hiện nay

Diện tích rừng trồng các loài Keo (Acacia) ở Việt Nam hiện nay là

khoảng 900.000 ha, cung cấp 90% trong tổng số 5,4 triệu tấn gỗ dăm xuất khẩu vào năm 2011 và đạt trị giá khoảng 650 triệu đô la Mỹ, trong đó 300 triệu đô la là lợi nhuận của người trồng rừng Việc nghiên cứu và phát triển các loài Keo phục vụ cho trồng rừng, chế biến xuất khẩu gỗ và các ngành công nghiệp liên quan có vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là các mục tiêu quốc gia như xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, nâng cao độ phì đất, giảm thiểu phát thải và tăng nguồn dự trữ carbon

Vài năm gần đây, việc đưa cây Keo Lai trồng trên đất rừng U Minh Hạ (Cà Mau) mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần ổn định cuộc sống cho

Trang 19

5

người dân Trước đây, rừng trồng trên lâm phần U Minh Hạ chủ yếu là cây Tràm cừ bản địa, qua các chu kỳ kinh doanh rừng thì cây Tràm cho năng suất không cao, giá trị sinh lời trên một đơn vị diện tích so với một số loài cây trồng khác thấp hơn Để bổ sung và từng bước đa dạng cây trồng, nhiều đơn vị lâm nghiệp ở tỉnh Cà Mau đưa cây Keo Lai vào trồng trên đất rừng U Minh

Hạ, vừa rút ngắn chu kỳ kinh doanh, vừa cho hiệu quả kinh tế cao, cải thiện môi trường Năm 2010, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp U Minh (Cà Mau) đã trồng Keo Lai với diện tích gần 1.000 ha và đang

mở rộng thêm diện tích trồng trong kế hoạch trồng rừng của mình (Lê Huy Hải, 2010)

Tổng diện tích rừng tràm U Minh Hạ có khoảng 70.000 ha nhưng chỉ có khoảng 40.000 ha là có tràm che phủ Bên cạnh đó là giá trị về kinh tế của cây Tràm không cao chính vì thế mà tỉnh Cà Mau đã bắt đầu trồng cây Keo Lai từ năm 2010, tính đến năm 2015 diện tích trồng Keo Lai của tỉnh đạt khoảng 10.000 ha và mục tiêu sẽ là 20.000 ha vào năm 2020 (Trần Thành Nên, 2015)

2.2 Tình hình nghiên cứu Keo Lai

2.2.1 Trên thế giới

Năm 1988, ACIAR phê duyệt kinh phí cho một dự án với đề tài “Lai giống và nhân giống vô tính của cây Keo nhiệt đới Australia”, do cây Keo là một chi của một số loài cây thân bụi đại diện cho số lượng lớn các loài ở

Úc Dự án được thực hiện bởi các nhà khoa học đến từ CSIRO-FFP và phối hợp với Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia Một trong những mục tiêu của nghiên cứu là cải thiện khả năng thương mại của ngành công nghiệp trồng rừng của Malaysia bằng các phương pháp phát triển giống Keo Lai có năng suất cao hơn so với các loài Keo truyền thống ở vùng nhiệt đới Mặc dù mục tiêu ban đầu của dự án là dành cho Malaysia nhưng sau đó được lan tỏa và phát triển đến Việt Nam Với lợi nhuận kinh tế cao từ Keo Lai mang lại nên nó nhanh chóng trở thành cây trồng trên quy mô thương mại Kết quả đánh giá dự

án cho thấy, Keo Lai sinh trưởng tốt và cho năng suất cao, đồng thời nó cũng thích hợp trên loại đất nghèo dinh dưỡng (ACIAR, 2004)

Khi nghiên cứu tiềm năng sử dụng giống Keo Lai ở Sabah (Malaysia), Pinso and Nasi (1992) kết luận, Keo Lai mang những nét cơ bản của loài bố

mẹ, nó còn biểu hiện những tính chất tốt hơn như độ thẳng của thân, khả năng

tự tỉa cành, tốc độ tăng trưởng, và có được một ưu thế lai tùy thuộc vào các vùng khác nhau Các đặc tính về gỗ là trung gian giữa Keo Tai Tượng và Keo

Lá Tràm, Keo Lai có chất lượng ván ép, nguyên liệu giấy tốt hơn và có khả năng kháng bệnh thối tim so với Keo Tai Tượng Chia, E (1993) cũng cho

Trang 20

6

rằng Keo Lai có những đặc điểm nỗi trội như khả năng sinh trưởng tốt, thân thẳng, ít phân nhánh so với hai loài bố mẹ Tỷ trọng gỗ trung bình của Keo Lai

là cao hơn Keo Tai Tượng nhưng thấp hơn Keo Lá Tràm

Nghiên cứu hình thái và hiệu suất tăng trưởng của giống lai tự nhiên giữa

Keo Tai Tượng và Keo Lá Tràm ở Thái Lan, Royampaeng et al (1997) nhận

thấy, Keo Lai có những đặc điểm trung gian của hai loài bố mẹ, các giống lai thì tăng trưởng nhanh hơn so với loài bố mẹ và các dòng vô tính lai tốt hơn các cây con lai Sein and Mitlöhner (2011) cũng cho rằng Keo Lai có đặc điểm hình thái tương tự như loài bố mẹ, cây đạt chiều cao từ 8-10 m và đường kính ngang thân khoảng 7,5-9 cm trong vòng hai năm Lá Keo Lai rộng 4-6 cm và dài từ 15-20 cm, mỗi năm hoa nở vào khoảng tháng 7, 8 và tháng 11, 12, hoa

có màu trắng và mịn, chúng sắp xếp trên một cành thẳng hoặc cong và dài khoảng 8-10 cm (Hình 2.1) Quả có dạng xoắn như những loài Keo khác, trưởng thành trong khoảng 3 tháng, mỗi quả có từ 5-9 hạt, kích thước hạt khoảng 3x4 mm

(a) Chùm hoa Keo Lai trên cành (b) Một nhánh hoa Keo Lai

Hình 2.1 Hoa cây Keo Lai Khi so sánh tính chất gỗ, thành phần hóa học và tỷ trọng gỗ giữa Keo Lai

với Keo Tai Tượng và Keo Lá Tràm tại Indonesia, Yahya et al (2010) kết

luận rằng Keo Lai có sợi gỗ dài hơn, tỷ lệ độ mãnh cao hơn, hàm lượng xenlulose cao hơn Keo Tai Tượng và Keo Lá Tràm, tỷ trọng gỗ cao hơn Keo Tai Tượng trong khi hàm lượng lignin thấp hơn Dựa trên các yếu tố đó, tác

Trang 21

giống của cây Keo Lai ở Malaysia của Ng, C.-H et al (2009), nghiên cứu nhân giống Keo Lai trong ống nghiệm bằng alginate của Asmah et al

(2012), Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tập trung nghiên cứu về thời gian, địa điểm xuất hiện Keo Lai tự nhiên, các nghiên cứu

về lai giống, tính chất gỗ, đặc tính sinh học của chúng, vì vậy, mà đến nay đề tài vẫn chưa cập nhật được các nghiên cứu đã công bố về đánh giá ảnh hưởng của cây Keo Lai đối với môi trường và tác động của nó trên vùng đất rừng tràm, đặc biệt là vẫn chưa tìm thấy một nghiên cứu nào về năng suất và chất lượng mật ong của cây Keo Lai

2.2.2 Ở Việt Nam

Keo Lai ở nước ta được phát hiện đầu tiên vào những năm 90 tại Ba Vì, tiếp theo đó là các tỉnh ở vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung Bộ Sau đó,

Lê Đình Khả và ctv đã nhân giống, khảo nghiệm các dòng Keo Lai vô tính tại

Ba Vì và chọn được một số dòng có mức sinh trưởng tốt, hình dáng thân cây đẹp như BV5, BV10, BV16, BV32, BV33 (Lê Đình Khả, 1999)

Theo Lê Đình Khả và ctv (1993, 1995, 1997, 2006) khi nghiên cứu về

các đặc trưng hình thái và ưu thế lai của cây Keo Lai đã kết luận Keo Lai có tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ Keo Lai

có ưu thế lai về sinh trưởng so với Keo Tai Tượng và Keo Lá Tràm, điều tra sinh trưởng rừng trồng khảo nghiệm 4,5 tuổi tại Ba Vì cho thấy Keo Lai sinh trưởng nhanh hơn Keo Tai Tượng từ 1,2-1,6 lần về chiều cao và từ 1,3-1,8 lần

về đường kính, gấp hai lần về thể tích (Trích dẫn của Trần Thị Duyên, 2008) Những thử nghiệm dòng vô tính và lựa chọn nhân giống các giống lai tự nhiên giữa Keo Tai Tượng và Keo Lá Tràm ở Ba Vì cho thấy một số dòng Keo Lai vô tính F1 phát triển nhanh, tỷ trọng gỗ tương đối cao so với loài bố

mẹ, sự tăng trưởng của Keo Lai ở thế hệ F2 là thấp hơn so với thế hệ F1 Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không nên sử dụng hạt giống của cây F1 để trồng rừng mới vì chúng có chất lượng kém, đồng thời nên dùng phương pháp nhân

giống bằng giâm hom là thích hợp nhất cho việc duy trì ưu thế lai (Kha et al.,

1997)

Trang 22

8

Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã thấy Keo Lai

có hình thái lá, vỏ cây, quả và hạt cũng như có tỷ trọng gỗ trung gian giữa Keo Tai Tượng và Keo Lá Tràm, trong khi có sinh trưởng nhanh gấp 1,5-3,0 lần các loài Keo bố mẹ nên có tiềm năng bột giấy cao hơn Keo Lai cũng có lượng nốt sần và có khả năng cải tạo đất cao hơn các loài keo bố mẹ Do cây lai là đời F1 nên dùng hạt để trồng rừng thì ở đời F2 bị thoái hoá và phân ly nên phải nhân giống sinh dưỡng bằng nuôi cây mô và giâm hom Nhờ áp dụng kỹ thuật nhân giống bằng nuôi cấy mô và giâm hom mà các dòng Keo Lai đã được đưa

vào sản xuất trên quy mô lớn (Lê Đình Khả và ctv, 2006)

Theo Lê Đình Khả và ctv (2006) những nơi Keo Lai sinh trưởng nhanh là

Hàm Yên (Tuyên Quang), Bình Thanh (Hòa Bình), Đông Hà (Quảng Trị), Long Thành (Đồng Nai),… sau 5-7 năm trồng có thể đạt năng suất 43-45

m3/ha/năm Ngay tại nơi có đất nghèo dinh dưỡng và bị laterit hóa tương đối mạnh như ở Ba Vì, Keo Lai cũng có thể đạt năng suất 15 m3/ha/năm, trong khi năng suất của Keo Tai Tượng cũng chỉ đạt 9 m3/ha/năm Tại các tỉnh vùng Đông Nam Bộ và được trồng thâm canh Keo Lai có thể cho năng suất 35-40

m3/ha/năm trên diện rộng, vì thế Keo Lai đang được phát triển mạnh ở các tỉnh miền Trung và miền Đông Nam Bộ

Kết quả đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của một số dòng Keo Lai tại Cam Hiếu (Quảng Trị) cho thấy, các dòng Keo Lai TB16, BV10, BV32 sinh trưởng tốt, tăng trưởng trung bình 19,24 m3/ha/năm, dòng TB16 đạt cao nhất với 161,14 m3

/ha/7 năm, tuy nhiên dòng Keo Lai trồng bằng hạt thì sinh trưởng kém, sản lượng chỉ đạt 80,65 m3/ha/7 năm Sau 7 năm trồng lợi nhuận ròng thu được từ 33,87-38,79 triệu đồng/ha/7 năm, riêng dòng Keo Lai trồng bằng hạt là thấp nhất chỉ 12,73 triệu đồng/ha/7 năm so với các dòng TB16, BV10, BV32 Một số dòng Keo Lai được trồng thuần loài ở xã Mỹ Trinh, huyện Phù Mỹ (Bình Định) sinh trưởng mức trung bình, lượng tăng trưởng dao động từ 118,0-130,9 m3/ha/7 năm, tăng trưởng trung bình là 17,8

m3/ha/năm, doanh thu dao động từ 86,6-101,8 triệu đồng/ha/7 năm Lợi nhuận ròng dao động từ 29,4 triệu đồng đến 37,1 triệu đồng/ha/7 năm Keo Lai trồng thuần ở huyện M’Đrăk (Đăk Lăk), huyện KRông Nô, huyện Đăk Glong (Đăk Nông) có khả năng sinh trưởng rất nhanh, lượng tăng trưởng bình quân năm đạt 21,39-30,77 m3

/ha/năm Sau 06 năm, trữ lượng Keo Lai đạt bình quân 128,36-184,66 m3/ha, cho lợi nhuận 14.832,098-32.124,063 đồng/ha/6 năm Nhìn chung, trồng rừng keo lai lấy gỗ mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, tạo được công ăn việc làm, nâng cao đời sống của người dân địa phương Trồng rừng keo lai đã tạo ra nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp giấy, ván dăm và phục vụ xuất khẩu, nâng giá trị kim ngạch xuất khẩu

Trang 23

9

gỗ và sản phẩm của Việt Nam Đồng thời, góp phần vào việc phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường (Đặng Văn Dung, 2008; Trần Duy Rương,

2011, 2013a)

Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa và ctv (2013) khi khảo nghiệm hai

dòng Keo Lai mới là AH1 và AH7 (được Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam công nhận) cho thấy đạt năng suất 25 m3/ha/năm tại Cà Mau và Thanh Hóa, còn dòng KL2 đạt năng suất 22,3 m3/ha/năm ở tuổi 2 tại Cà Mau Trong các khu khảo nghiệm, không thấy xuất hiện bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor và bệnh héo lá do nấm Ceratocytis sp gây ra , trong khi bệnh đốm lá và bệnh khô cành ngọn đã gây hại các dòng Keo Lai TB1, TB11 và TB12 Các dòng Keo Lai AH1, AH7 đã chứng tỏ rất có triển vọng cả về sinh trưởng và chống chịu bệnh

Đánh giá hiệu quả rừng trồng Keo Lai của Trần Duy Rương (2013b) cho thấy các giống Keo Lai được trồng ở các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là BV10, BV32, BV33, TB1, TB5, TB11, TB12 đạt năng suất 25-35 m3/ha/năm Các giống trồng ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là BV10, BV16, BV32, BV33, TB11 năng suất đạt 18–25 m3/ha/năm Các giống trồng

ở miền Bắc là BV10, BV16, BV32, BV33 đạt từ 18 đến 25 m3/ha/năm Trong các giống trên, giống BV10, BV33 trồng ở vùng Đông Nam Bộ cao nhất đạt 32,51 và 25,32 m3/ha/năm Trữ lượng carbon trong rừng trồng Keo Lai tại các nơi nghiên cứu khác nhau, dao động trong khoảng 55,71-92,78 tấn/ha, trung bình là 75,52 tấn/ha Trong đó dòng BV10 trồng tại M’Đrắc-Đắc Lắk (vùng Tây Nguyên có trữ lượng carbon cao nhất là 92,78 tấn/ha), trồng tại Bắc Kạn (vùng Đông Bắc) có trữ lượng carbon thấp nhất (62,05 tấn/ha), riêng Keo Lai trồng từ hạt ở Quảng Trị (vùng Bắc Trung Bộ) có tổng lượng carbon hấp thu thấp nhất (55,71 tấn/ha)

Nguyễn Đức Minh và ctv (2004) đã nghiên cứu xác định nhu cầu dinh

dưỡng khoáng (N,P,K) của một số dòng Keo Lai ở giai đoạn vườn ươm và cây non, đưa ra kết luận rằng, Nitơ (N) là yếu tố quan trọng nhất đối với sinh trưởng của cây Keo Lai Tiếp đến vai trò của Photpho (P) trong quá trình xây dựng tế bào, Kali (K) có ảnh hưởng ít hơn N và P Khi có mặt cả ba yếu tố N,

P, K thì chúng tác dụng thúc đẩy quá trình hình thành tế bào giúp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt Ở cả giai đoạn vườn ươm và cây non nếu được bón phân sẽ tốt hơn nhiều so với không bón phân, mặc dù cây Keo Lai là cây có khả năng cố định đạm Tuy nhiên, để tiết kiệm chi phí, ở rừng non chỉ cần bón phân lân là được, do lúc đó cây có nấm cộng sinh cố định đạm Theo Phạm Duy Long và Luyện Thị Minh Hiếu (2014) thì bón phân có ảnh hưởng đến

Trang 24

gỗ từ rừng, đặc biệt là sản phẩm từ mật ong của việc trồng cây Keo Lai

2.3 Giới thiệu về cây Tràm

Theo Hoàng Chương (2004) trong các tài liệu xuất bản ở nước ta trước

năm 1993 đều đặt tên khoa học cây Tràm ở nước ta là Melaleuca

leucadendron Thực chất Melaleuca leucadendron là tên của một nhóm các

loài Tràm có hình thái bên ngoài giống nhau và có quan hệ di truyền gần gũi với nhau, do vậy mà cây Tràm của Việt Nam từ năm 1993 đã được định danh

lại là Melaleuca cajuputi Tràm có 3 loài phụ là:

- Melaleuca cajuputi subsp cajuputi Powell, phân bố ở Indonesia,

Australia;

- Melaleuca cajuputi subsp cumingiana Barlow, phân bố ở Myanma,

Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Việt Nam;

- Melaleuca cajuputi subsp Platyphylla Barlow, phân bố ở Papua New

Ghiné, Australia và là giống Tràm bản địa chính mọc nhiều ở Indonesia (trích dẫn của Lê Minh Lộc, 2005)

Cây Tràm (Melaleuca cajuputi) là loài cây ưa sáng, sống được trên cạn

và ngập nước khoảng 0,5-1 m, phân bố nhiều nhất ở châu Úc, còn ở Việt Nam, cây Tràm mọc thành rừng trên đất phèn Nam Bộ, nhiều nhất ở Cà Mau, Kiên Giang,… ngoài ra còn mọc rãi rác ở Quảng Bình, Quảng Trị,… (CISDOMA, 2002) Cây Tràm phát triển tự nhiên ở vùng có khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình khoảng 240C, lượng mưa từ 1.700-1.800 mm/năm, tái sinh tự nhiên bằng hạt mạnh, thích hợp với đất phèn, có khả năng chịu được pH<4 Gỗ Tràm có kích thước nhỏ, chiều cao trung bình 12 đến 15 m, có khi cao đến 20

Trang 25

5, quả chín tháng 11, hạt nhỏ và nhẹ, dễ phát tán (CISDOMA, 2002), theo Ngô Quang Đê và Nguyễn Hữu Vĩnh (1997) thì cây Tràm ra hoa tháng 12, tháng giêng, quả chín tháng 5 Theo Tạ Văn Thụy (1985) cây Tràm từ 2-3 tuổi bắt đầu trổ hoa, hoa Tràm là nguồn nguyên liệu để ong lấy mật, mật ong Tràm tốt hơn mật ong rừng đước, mật ong vùng nhiệt đới tốt hơn mật ong vùng ôn đới Rừng tràm có tác dụng ổn định đất đai, hạn chế dòng chảy, lắng đọng phù sa, ngăn đất phèn tiềm tàng thành đất phèn hoạt động, cây Tràm sống được ở nước lợ, nước ngọt, thuận lợi cho nhiều loài động vật cư trú như các loài cá (cá lóc, rô, trê,…), các loài thú (nai, heo rừng,…), trên tán rừng có các loài chim như Cò, Diệc,…ngoài ra, đất than bùn dưới tán rừng còn dùng làm phân bón hữu cơ, chế axit humic làm tăng năng suất cây trồng (Ngô Quang

Đê và Nguyễn Hữu Vĩnh, 1997)

2.4 Giới thiệu về loài ong mật và mật ong

2.4.1 Loài ong mật

Theo Ngô Đắc Thắng (1999) nước ta có 4 loài ong mật trong tổng số 7

loài ong mật trên thế giới gồm: ong nội-ong ruồi hoặc ong châu Á (A cerana), ong ngoại-ong châu Âu hoặc ong Ý (A mellifera), ong Khoái-ong gác kèo (A

dorsata), ong hoa-ong muỗi (A florea) Trong đó thì hai loài ong nội và ong

ngoại được nuôi nhiều, còn hai loài ong Khoái và ong hoa thì chưa được thuần hóa, chỉ khai thác tự nhiên

Theo Trần Đức Hà (1999), Ngô Đắc Thắng (1999), Phùng Hữu Chính và Phạm Thị Huyền (2004), trong đàn ong có ba cấp đó là ong chúa, ong thợ, ong đực:

Ong chúa là ong cái có trọng lượng lớn nhất đàn, có đặc điểm là cánh ngắn, bụng thon dài cân đối Trong khoảng 5-6 ngày đầu ong chúa sẽ tăng khối lượng lên đến 3.000 lần (0,1 g-300 g) do được nuôi bằng sữa ong chúa

Trang 26

12

nguyên chất, và trưởng thành trong 16 ngày (Tạ Thành Cấu, 1987) Ong chúa

có nhiệm vụ đẻ trứng và tiết chất chúa để điều hòa các hoạt động của đàn ong, bình quân ong chúa đẻ khoảng 400 trứng/ngày đêm, có khi lên đến 2.500 trứng, ngoài việc đẻ trứng ong chúa còn tiết ra chất chúa (pheromon) để điều hòa hoạt động của đàn Ong chúa sống khoảng 3-5 năm và đẻ trứng tốt nhất trong vòng 6-9 tháng đầu Khi về già việc tiết chất chúa giảm, sức đẻ trứng cũng giảm đi, khi đó đàn ong sẽ xây vài mũ chúa để nuôi chúa tơ, khi chúa tơ trưởng thành thì chúa cũ sẽ bị thải loại;

Ong thợ có kích thước cơ thể nhỏ nhất, bụng nhọn và có ngòi đốt, số lượng đông nhất trong đàn Ong thợ là ong cái, sinh ra từ trứng được thụ tinh Ong thợ làm tất cả các công việc trong đàn như: nuôi ấu trùng, nuôi chúa, dọn

vệ sinh trong tổ, thu mật hoa, phấn hoa, nước và chế biến thức ăn, lấy keo, xây

và bảo vệ tổ, điều hòa nhiệt độ, ẩm độ trong tổ Ong thợ sống bình quân 45 ngày, khi làm việc ít ong thợ sống lâu hơn từ 2-3 tháng Khi làm việc nhiều như là nuôi ấu trùng, thu hoạch trong vụ mật rộ thì tuổi thọ giảm đáng kể chỉ còn 20-35 ngày Theo Từ Thanh Ngân (2006), mỗi lần ong bay đi lấy mật hoặc phấn hoa chúng có thể ghé thăm vài trăm bông hoa và đem về lượng mật bằng ½ trọng lượng cơ thể Ong thợ có thể bay đi hút mật cách xa tổ vài ki-lô-met, tuy nhiên do cơ thể nhỏ bé mỗi chuyến đi chỉ lấy được lượng mật hoặc phấn hoa rất ít vì vậy mà khoảng cách tối ưu ong bay đi lấy mật chỉ trong

khoảng 2 km (Nguyễn Duy Hoan và ctv, 2008) Ở miền Nam, vào khoảng

tháng 11 và 12 khi mùa hoa tràm nở rộ ong thợ bay đi lấy mật về tổ, vào mùa mưa mật hoa ít hơn, ong thường bị đói nên bay đi hút mật tất cả các loài hoa ở

rừng (Phạm Thanh Hải và ctv, 2012) Để tạo được 100 gam mật, con ong phải

bay tới thăm một triệu bông hoa Để có 01 kg mật, con ong phải bay quãng đường là 360.000-460.000 km;

Ong đực có kích thước cơ thể lớn hơn ong thợ, bụng ngắn hơn ong chúa, cánh dài, không có ngòi đốt Ong đực được sinh ra từ trứng không được thụ tinh, hoặc khi ong chúa già yếu, ong thợ sẽ đẻ ra ong đực Vào mùa thiếu thức

ăn ong đực bị ong thợ đuổi ra khỏi đàn và bị chết đói Ong đực có nhiệm vụ duy nhất là giao phối với ong chúa tơ, ong đực sống khoảng 35-55 ngày, nhưng ong đực sẽ chết ngay sau khi được giao phối với ong chúa;

2.4.2 Loài ong Khoái (ong gác kèo)

Giống ong Apis dorsata ở Việt Nam có tên gọi là ong Khoái (miền Bắc)

hoặc gọi là ong mật hay ong gác kèo (miền Nam), là một giống ong ở Ấn Độ,

có sức sống dã sinh rất mạnh, có khả năng chuyển vùng rất xa khoảng 10-100

km khi hết mùa vụ hoa Khi chuyển vùng, những tổ ong không có mật thường

Trang 27

13

tạm dừng lại để nghĩ cánh, nếu nơi dừng chân có nguồn hoa dồi dào thì chúng

sẽ xây tổ để phát triển đàn (Tạ Thành Cấu, 1984) Theo Chauvin (1978) ong Khoái có tập tính chia đàn như sau, một nhóm đàn ong nhỏ sẽ tách ra xây tổ cạnh đàn mẹ khoảng 1 m, các con ong trong đàn mới sẽ còn quan hệ với nhau trong việc đi lại với đàn mẹ khoảng vài ngày rồi tách hẳn, vì thế nếu một đàn ong lớn có thể có nhiều tổ ong nhỏ cạnh nhau Trong nhiều trường hợp, sau thời gian chuyển vùng, đàn ong thường quay trở về địa điểm cũ để xây tổ Ong mật ở rừng tràm U Minh Hạ là loài ong Khoái, có khả năng xây một

tổ ở ngoài không khí dưới các cành cây Kích thước tổ khá lớn, chiều dài 0,5-1

m, chiều rộng 0,5-0,7 m Phía trên tổ là nơi dự trữ mật, tiếp theo là nơi chứa phấn rồi đến chỗ nuôi ấu trùng Mật dự trữ bình quân là 5 kg/tổ (Phùng Hữu Chính, 2008) Ong mật nổi tiếng là loài hung dữ và chúng có bản năng bảo vệ

tổ rất tốt, có tới 80-90% ong thợ đậu ở ngoài bảo vệ, khi bị kẻ thù tấn công chúng bay ra hàng trăm con cùng một lúc để lao vào kẻ thù và đuổi kẻ thù xa vài trăm mét Ở nước ta, ong mật phân bố ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và đặc biệt chúng có nhiều ở các tỉnh phía Nam, nơi có rừng tràm ngập nước Việc khai thác mật ong mật là rất khó vì chúng quá hung dữ, người ta dùng khói, lửa để đuổi ong hoặc tiêu diệt cả đàn ong để

lấy mật (Phạm Thanh Hải và ctv, 2012) Ở vùng U Minh (Cà Mau), người dân

có kỹ thuật khai thác đặc biệt là gác kèo để dẫn ong về làm tổ Kèo ong thường có chiều dài 2 m, đường kính thân kèo là 0,1-0,2 m, được bổ đôi và đặt nghiêng lên 2 cọc một cọc cao 1,8-2 m, một cọc thấp 1-1,4 m, tạo thành góc nghiêng 250-300 so với mặt đất Một đầu cao của kèo quay ra khoảng trống gọi

là trảng Kèo ong thường làm từ gỗ cây Tràm, cau, mốp, giá,… Mỗi người gác khoảng 40-50 kèo Mỗi vụ người gác kèo thu 2-3 lần, mỗi năm có hai vụ

là mùa mưa và mùa khô (Phùng Hữu Chính, 2008)

Nghề ong là một nghề đặc biệt có giá trị kinh tế cao do lợi ích mà ngành nuôi ong mang lại là rất lớn Không tốn chi phí đầu tư vì thức ăn chủ yếu của ong là mật hoa và phấn hoa của các loại cây trồng tự nhiên do ong tự bay đi lấy về và chế tạo thành các sản phẩm mật ong, phấn ong, sáp ong, không đòi hỏi có diện tích đất đai, không hao tốn tài nguyên thiên nhiên Ong còn tạo ra

sự đa dạng và phong phú của các loại cây trồng, bảo vệ môi trường sinh thái bởi ong tham gia tích cực trong việc thụ phấn chéo cho cây trồng, làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng (Nguyễn Thị Nga, 2008)

Khác với các loài vật khác, ong mật lấy thức ăn từ tự nhiên là mật hoa, phấn hoa, mật ở các kẻ lá, Mật hoa có nhiều ở các cây như nhãn, vải, cà phê, mật lá có ở cây cao su, Keo Tai Tượng, Theo Lê Đình Khả (1999), ở

Trang 28

14

các cuống lá của cây Keo Lai tiết tuyến mật giống như cây Keo Tai Tượng, do

đó mà người trồng rừng Keo có thể tăng thêm thu nhập từ nghề nuôi ong lấy mật

2.4.3 Mật ong

Mật ong tự nhiên (Honey) là sản phẩm do ong mật chế biến từ mật hoa hoặc mật lộ (mật lá), mật hoa được hình thành từ các tuyến mật nằm ở trong gân lá hoặc hoa tiết ra Mật lộ là một sản phẩm có đường do hoạt động của các côn trùng ký sinh trên cây mà ong thu thập từ lá, chồi, thân cây và vỏ cây (Tạ Thành Cấu, 1987) Theo tiêu chuẩn Việt Nam, mật ong là chất ngọt tự nhiên thu được từ ong mật Ong lấy mật hoa hoặc lấy dịch tiết ra từ cây, hoặc dịch tiết ra từ các côn trùng hút mật thực vật sống trên cây, sau đó chuyển hoá chúng bằng cách kết hợp với các chất đặc biệt trong cơ thể, tích luỹ, khử nước, lưu giữ và để trong tổ ong cho đến khi chín (Bộ KH và CN, 2008)

Theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5267-1:2008) sản phẩm mật ong được chia thành mật ong hoa và mật ong rừng Mật ong hoa là mật thu được từ hoa thực vật Mật ong rừng là mật thu từ dịch tiết của côn trùng hút mật thực vật hoặc dịch tiết ra từ thực vật (Bộ KH và CN, 2008) Mật ong hoa có thể là mật đơn hoa (do ong lấy mật hoa từ một loại cây, ví dụ mật ong cao su, mật ong cà phê,…) và mật đa hoa (ong lấy mật hoa từ vài loại cây, thường được gọi là mật ong rừng hoặc mật tràm) Mật ong lộ (mật ong rừng) có nhiều loại gluxit hơn mật ong hoa, ngoài đường fructose và glucose trong mật ong lộ còn

có đường sacarose, mantose, galactose, ribose, Trong mật ong lộ các đường đơn ít còn đường sacarose và mantose thì nhiều Mât ong lộ có màu từ tươi hổ phách đến trắng đục, hương của mật ong lộ không rõ rệt, độ ngọt thì không bằng mật ong hoa Độ nhớt, độ pH và tính diệt khuẩn của mật ong lộ cao hơn mật ong hoa (Tạ Thành Cấu, 1987)

Theo Phùng Hữu Chính và Phạm Thị Huyền (2004), Nguyễn Duy Hoan

và ctv (2008) ong mật thường hút mật ở các loại hoa, tuy nhiên chúng cũng

hút mật từ thân cây tiết ra Một số loài thực vật có tuyến mật nằm ở các cơ quan dinh dưỡng như cuống lá, thân lá nên được gọi là mật lá Mật lá thường được ong thu hoạch từ một số cây như keo tai tượng, sắn, cao su, đay, thong, Khi không có mật hoa thì ong mới lấy mật lá vì mật lá có hương vị kém hơn mật hoa Ong bay đến các cây nở hoa để lấy mật và phấn hoa Tuy nhiên không phải loại hoa nào cũng cho mật và phấn hoa, loại cây cho mật hoa hoặc

cả mật và phấn gọi là cây nguồn mật như vãi, nhãn, keo tai tượng,…những cây chỉ cho phấn hoa gọi là cây nguồn phấn như ngô, lúa, trinh nữ,… Cây nguồn mật chính là những cây có hoa cho nhiều mật và tập trung số lượng lớn, ở

Trang 29

15

miền Bắc thì có cây vãi, nhãn, bạch đàn,… ở miền Nam thì có cây tràm, dừa, chôm chôm,… (Ngô Đắc Thắng, 1999) Các tỉnh như Minh Hải (nay là Cà Mau) và Kiên Giang, nơi đây có diện tích rừng tràm lớn, ong Khoái thường sống ở khu vực này, do là loài ong dã sinh nên được người dân quản lý và khai thác mật bằng hình thức gác kèo, vì thế ở khu vực này hầu như không ai nuôi ong nội và ong ngoại (Ngô Đắc Thắng, 2003)

Quá trình chín của mật ong:

Theo Tạ Thành Cấu (1987) trong mật hoa và mật lộ đều có chứa những loại men xúc tác sự biến đổi của gluxit Các loại men có sẵn này sẽ thủy phân đường sacarose thành glucose và fructose ngay sau khi chúng được tiết ra Trong quá trình luyện mật, ong trộn mật thu được với các chất từ tuyến nước bọt có chứa protein, lipit, vitamin và các chất khoáng,… các chất này sẽ xảy ra các phản ứng hóa học làm cho mật chín Các protein trong nước bọt của ong

có các men xúc tác việc phân hủy đường sacarose thành các loại đường đơn (glucose, fructose), hoạt động của các protein này phụ thuộc vào tuổi của ong, các chất dinh dưỡng, trạng thái sinh lý và đặc điểm di truyền của con ong Khi một con ong thợ hút mật, chúng sẽ dự trữ tạm thời mật vào bụng và vận chuyển mật về tổ Mật do ong đem về có hàm lượng nước cao (70-80%), mặt khác trong mật hàm lượng đường sacarose chiếm tỷ lệ cao nên ấu trùng ong non không thể tiêu hóa được, chúng sẽ chuyền mật cho những con ong thợ khác trong tổ, những con ong này đặt mật vào những ô trống và nhả ra hút vào nhiều lần dưới dạng các hạt nhỏ vì vậy mà mật được trộn với các chất có trong nước bọt của ong, thao tác đó cũng làm cho lượng nước mất dần Một phần lượng nước sẽ tham gia vào quá trình phân hủy đường sacarose, phần lớn lượng nước trong mật giảm đi chủ yếu là do quá trình quạt gió làm nước bốc hơi của các con ong trong tổ, tốc độ luyện mật phụ thuộc vào số lượng thành viên đàn ong và sức khỏe của chúng Khi mật chín lượng nước sẽ giảm còn 20% hoặc thấp hơn và sẽ làm hạn chế tốc độ lên men của mật (Tạ Thành Cấu (1987), Bùi Quý Huy (2008))

Mật ong là chất có thành phần phức tạp, có gần 300 chất hoặc nguyên tố khác nhau, chất chính trong thành phần mật là gluxit (đường glucose, fructose, mantose,…), ngoài ra còn có các axit hữu cơ, các enzym và các hạt rắn từ việc thu gom mật Màu sắc của mật ong thay đổi từ không màu (cây đinh lăng, cây bách) đến màu nâu sẫm Trạng thái có thể là dạng lỏng, sánh hoặc kết tinh từng phần hoặc toàn bộ Hương vị và mùi thơm thay đổi theo nguồn gốc của thực vật, hương của mật ong có thể mạnh như chôm chôm, nhãn, mùi yếu (cao

su, đay) hoặc có mùi khó chịu (thuốc lá) Tất cả các loại mật đều có cảm giác

Trang 30

16

ngọt và hơi axit Mỗi loại mật có độ ngọt khác nhau có thể ngọt gắt, ngọt thanh, hơi ngọt hoặc có thể có dư vị Mật ong là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, được sử dụng làm thức ăn bổ sung cho con người trong nhiều loại thực phẩm và là vị thuốc tự nhiên chữa được nhiều bệnh (Tạ Thành Cấu (1987), Bộ KH và CN (2008))

Tác dụng của mật ong:

Mật ong được dùng làm chữa bệnh cách nay hơn 5.000 năm, được xem

là một loại dược liệu có tác dụng chung nhất để chữa nhiều loại bệnh Mật ong rất hiệu quả cho việc bồi dưỡng người có cơ thể suy nhược, cơ thể già yếu, trẻ

em còm cõi, người bị thiếu máu, người bệnh tim mạch, giúp cho cơ thể phục hồi nhanh chóng thể lực ban đầu như người mới khỏi bệnh, sau khi sinh, làm việc nặng nhọc,… bởi vì lượng đường glucose và fructose dễ dàng được hấp thụ trực tiếp qua ruột non mà không cần tiêu hóa Mật ong có nhiều chất dinh dưỡng nên cho nhiều năng lượng, 1 kg mật cho từ 3.150-3.350 kcal (Chu Thị

Thơm và ctv, 2005) và nó đảm bảo cho nhu cầu của một người trưởng thành

trong một ngày (Tạ Thành Cấu, 1987) Trong mật ong có chứa các vitamin nhóm B (B1, B2, B6, B12), vitamin C, E, K,… Chất khoáng có sắt, đồng, kali, natri, thiếc, mangan, magiê, canxi; protein; axit amin,…Vitamin B1 rất quan trọng cho cơ thể, nếu muốn biến đường thành năng lượng thì vitamin B1 không thể thiếu đươc, cho nên cơ thể thiếu vitamin B1 thì sinh ra mêt mỏi không làm việc được Còn vitamin B2 lại là nguyên tố có liên quan tới việc trao đổi chất, nếu muốn chống xơ cứng động mạch ngoài việc chống béo mỡ

và cấp năng lượng ra thì đồng thời phải hấp thụ một lúc cả vitamin B2, B6, B12 những loại này có tác dụng thúc đẩy việc trao đổi chất, giảm mỡ Vitamin

K là nguyên tố tất yếu tạo thành men lắng đông máu trong máu, nếu thiếu nó rất dễ dàng xảy ra mất máu vì không đông (Từ Thanh Ngân, 2006)

Mật ong có mặt trong nhiều ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, y học và sản xuất mỹ phẩm Đặc biệt, với xu thế chung của thế giới là sử dụng các mỹ phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên để làm đẹp thì mật ong rất được ưa chuộng và có mặt trong thành phần của nhiều loại mỹ phẩm như kem dưỡng

da, sữa dưỡng thể, dầu gội dưỡng mượt tóc nhờ tác dụng là ẩm da, mịn da, nuôi dưỡng tóc Chính nhờ các tác dụng trên mà mật ong đã thực sự trở thành một sản phẩm hàng hoá phổ biến trên thế giới Trong quá trình tiến hoá, ong mật có khả năng thu mật hoa và các dịch ngọt tiết trên lá, nụ, búp non của các loại cây nguồn mật về tổ để luyện thành mật ong Sự đa dạng và phong phú của các loại cây nguồn mật đã tạo nên các loại mật ong khác nhau như mật

Trang 31

- Dùng làm dung môi pha chế trong y học, bổ sung chất dinh dưỡng cho

cơ thể, vị ngọt của mật ong làm giảm vị đắng của thuốc;

- Đối với bệnh đường tiêu hóa: chữa viêm loét dạ dày, tá tràng; chữa viêm đại tràng và trực tràng; chống táo bón, tiêu chảy và kiết lỵ; tăng cường quá trình nhu động ruột, chữa bệnh viêm túi mật;

- Đối với bệnh đường hô hấp: chữa viêm phổi, lao phổi, viêm phế nang, phế quảng, cuống phổi;

- Đối với hệ tim mạch: tăng cường chức năng gan, thận, lách;

- Bệnh hệ sinh dục: chữa viêm loét âm đạo, cổ tử cung;

- Bệnh suy nhược thần kinh: có thể dùng riêng biệt hoặc kết hợp với các loại thuốc nam, thuốc bắc thì giúp tăng cân nhanh, ăn ngon, ngủ yên, tâm thần thoải mái;

- Đối với bệnh tiết niệu: chống được bệnh viêm thận, bể thận, ống dẫn niệu, viêm bàng quang;

- Đối với bệnh ngoài da: trị các vết thương do cơ học tác động, do bị bỏng, các bệnh ung nhọt; giúp mau lành sẹo

2.4.4 Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng mật ong

Các chỉ tiêu chính để đánh giá chất lượng mật ong gồm: độ pH, hàm lượng nước, hàm lượng đường đơn (đường khử), hàm lượng đường sacarose, chất rắn không tan trong nước, độ axit tự do, hàm lượng HMF (Hydroxymetylfurfural), vitamin B1, vitamin C và các chỉ tiêu cảm quan Bảng 2.1 Yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng mật ong

3 Hàm lượng đường đơn (glucose và fructose) ≥60%

5 Hàm lượng chất rắn không tan trong nước ≤0,5%

lượng/kg)

10 Trạng thái, màu sắc, độ trong, mùi, vị -

Nguồn: Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5267-1:2008)

Trang 32

18

Theo Đặng Hanh Khôi (1984), Ngô Đắc Thắng (1999):

- Hàm lượng nước là một trong các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng mật ong, khi tỷ lệ nước trong mật ong quá cao mật dễ bị lên men, biến chất, thời gian bảo quản ngắn Khi thu hoạch mật ong chưa chín thì mật còn chứa nhiều nước, lượng enzim ít; các loại vi sinh vật hoạt động mạnh, chúng tiêu thụ đường sau đó sẽ tạo ra nước, CO2, rượu etilic Sự lên men làm hàm lượng đường giảm và làm thay đổi mùi hương của mật Sự hình thành rượu sẽ kèm theo sự lên men dấm và tạo ra axit axetic Sự lên men phụ thuộc vào hàm lượng nước và nấm men vì thế hàm lượng nước đóng vai trò rất quan trọng (Tạ Thành Cấu, 1987);

- Đường khử tự do (đường đơn) trong mật ong chủ yếu là đường glucose

và fructose Glucose là loại đường đơn giản nhất, dễ hấp thụ mà không cần phải trải qua quá trình biến đổi Fructose cũng giống với glucose chỉ khác cấu trúc phân tử, fructose khó kết tinh nên mật có hàm lượng fructose cao thì để lâu vẫn giữ được thể lỏng, fructose có vị ngọt hơn glucose Lượng đường đơn trong mật cao biểu hiện ong đã luyện mật tốt, tỷ lệ đường đơn trong mật ong khoảng từ 70-75%;

- Ngoài đường đơn, trong mật ong còn có một phần nhỏ lượng đường sacarose (còn gọi là đường mía), sacarose là loại đường đa nên khó hấp thu vào cơ thể Trong ruột non, dưới tác dụng của enzim invectaza, sacarose tách thành glucose và fructose Nếu lượng sacarose thấp thì mật có chất lượng tốt Tuy nhiên, nếu lượng đường sacarose cao thì có thể do lấy mật non, hoặc do cho ong ăn đường mía;

- Các chất rắn không tan trong nước thường là tạp chất trong quá trình thu mật như xác ong, sáp ong, lá cây, bụi, ;

- Trong quá trình luyện mật, ong tiết ra một số axit hữu cơ có tác dụng làm cho các loại đường khử trong mật ong không bị lên men, làm tăng tính sát khuẩn của mật Nhưng nếu lấy mật non và bảo quản không tốt, mật ong sẽ bị lên men, sinh ra nhiều axit tự do, làm mật biến chất;

- Độ axit của mật ong là do có sẵn trong mật hoa hoặc do ong tiết ra trong quá trình luyện mật Trong mật ong có chứa khoảng 0,1% axit focmic, ngoài ra còn có các axit hữu cơ như axit oxalic, xitric, lactic, axit vô cơ như axit photphoric, clohydric,…;

- HMF là một hợp chất hữu cơ được sinh ra trong quá trình mất nước của một số loại đường, trong đó có fructose, khi bảo quản mật ong trên 300C Mật ong tươi, mới thu hoạch có hàm lượng HMF từ 1-5 mg/kg Chỉ tiêu nhập khẩu

Trang 33

19

của các nước EU và Mỹ là HMF từ 10-15 mg/kg Ngưỡng an toàn là nhỏ hơn

80 mg/kg Theo Tiêu chuẩn Việt Nam, hàm lượng HMF trong mật ong có giới hạn cho phép không lớn hơn 40 mg/kg (TCVN 5267-1: 2008), nếu bảo quản ở nhiệt độ cao, lượng HMF tăng cao sẽ gây độc;

- Hàm lượng vitamin trong mật ong không nhiều nhưng có nhiều loại như vitamin B1, B2, B3, B5, C, E, K, Nguồn gốc các vitamin này là do phấn hoa lẫn vào;

- Mật ong có màu từ vàng hổ phách đến nâu sẫm, màu đậm hay nhạt phụ thuộc vào nguồn mật mà ong lấy Mỗi loại mật khác nhau có mùi thơm khác nhau, ngoài nguyên nhân từ cây nguồn mật, trong mật còn có các axitamin, các nội tiết tố thực vật, các chất kích thích sinh trưởng và nếu gặp phải cây độc thì trong mật ong cũng có những chất có hại cho cơ thể

2.5 Đặc điểm vùng nghiên cứu

Rừng U Minh Hạ nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Cà Mau, có tổng diện tích khoảng 70.000 ha, diện tích có rừng khoảng 40.000 ha nằm trên 3 huyện U Minh, Thới Bình và Trần Văn Thời của tỉnh Cà Mau Trong khu vực rừng U Minh Hạ có VQG U Minh Hạ thành lập từ năm 2006 và đến ngày 26 tháng 5 năm 2009 được UNESCO công nhận là một trong ba vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau VQG U Minh Hạ với tổng diện tích chung là 8.527,8 ha và vùng đệm khoảng 25.000 ha bao gồm vùng lõi của khu Bảo tồn thiên nhiên Vồ Dơi, cùng một số tiểu khu của Lâm Ngư trường U Minh III và Lâm Ngư trường Trần Văn Thời (Lâm Quang Thái, 2015)

VQG U Minh Hạ được phân thành ba phân khu chức năng:

+ Phân khu Bảo tồn hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn: 2.592,6 ha + Phân khu phục hồi và sử dụng bền vững hệ sinh thái ngập nước: 5.134,2 ha

+ Phân khu dịch vụ hành chính: 801 ha

Diện tích có rừng: 7.639 ha, chiếm 89,6%

+ Rừng tự nhiên: 1.100,6 ha

+ Rừng trồng: 6.538,4 ha

+ Diện tích không rừng: 888,8 ha, chiếm 10,4% Bao gồm đất kinh bờ, kinh kê líp, đất xây dựng nhà ở

Trang 34

2.5.2 Đặc điểm địa hình, đất đai

- Địa hình: Khu vực trồng rừng có địa hình tương đối bằng phẳng, độ chêch lệch không đáng kể

- Đất đai: Thuộc dạng lập địa chính là đất sét, phèn tiềm tàng ở độ sâu 0,8-1,2 m, bên trên là lớp đất do trồng rừng năm 1998-1999, bề mặt là tầng Ao gồm các cành, lá rụng xuống và tạo thành một lớp xác bã thực vật chưa phân hủy với bề dầy từ 1-10 cm Độ pH của đất dao động từ 4-6

- Thực bì: Toàn bộ diện tích đưa vào thiết kế trồng rừng thực bì chủ yếu gồm các loại như: sậy, dây bòng bong, dớn, choại, năng và cành nhánh sau khai thác còn sót lại, một lớp thực bì tương đối dày, độ che phủ mặt đất rừng khoảng 30-40%

2.5.3 Khí hậu, thủy văn

- Nhiệt độ không khí bình quân trong năm là 26,80C;

- Ẩm độ bình quân là 85,9%;

- Lương mưa bình quân trên năm là 2.399 mm

Toàn bộ khu vực rừng tràm của VQG nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Tiểu vùng khí hậu bán đảo Cà Mau, trong năm có hai mùa mưa, nắng

rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 05 đến tháng 10, mùa này chịu ảnh hưởng gió mùa Tây Nam, tốc độ gió bình quân 4 m/s, mùa mưa mặt đất rừng bị ngập nước cao nhất từ 0,4-0,6 m Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 04 năm sau, mùa này chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc, tốc độ gió bình quân 5 m/s Thủy triều: Khu vực dân cư vùng đệm VQG U Minh Hạ được bao bọc bởi đê bao quanh khu vực, do đó không chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhật triều biển Tây, hàng năm khu rừng phụ thuộc chủ yếu vào mùa mưa bị ngập bởi lượng nước mưa được giữ lại bên trong Vào mùa mưa nơi cao nhất chỉ bị ngập nước từ 20-30 cm, nơi đất thấp nhất ngập từ 40-60 cm so với mặt đất rừng

2.5.4 Những đặc trưng nổi bật của Vườn Quốc Gia U Minh Hạ

Đặc trưng nổi bật là hệ sinh thái rừng tràm (Melaleuca cajuputi) họ Sim

(Myrtaceae) hình thành trong điều kiện ngập nước, úng phèn, trên đất than bùn, là cây tiêu biểu của vùng đồng bằng sông Cửu Long

Trang 35

21

Ngoài ra còn là nơi cư trú của nhiều loài chim, loài thú có giá trị khoa học và quý hiếm được ghi vào sách Đỏ Việt Nam và nhiều loài động vật thông thường Đặc biệt có nhiều loài chim đang bị đe doạ tuyệt chủng trên thế giới được ghi nhận nơi đây Tài nguyên rừng có giá trị khoa học về bảo tồn nguồn gen và bảo tồn thiên nhiên, rừng có giá trị bảo vệ môi trường và cảnh quan

+ Nhóm thủy sinh: bèo cái, bèo tai chuột, bèo tây, bèo cám, rau muống, rau trai nước, rau dừa, cỏ mặt bợ

Về động vật

- Thú rừng: có 23 loài, thuộc 13 họ, 8 bộ;

- Chim: có 91 loài thuộc 33 họ, 15 bộ;

- Bò sát: có 36 loài, thuộc 16 họ, 3 bộ;

- Lưỡng cư: có 11 loài thuộc 5 họ, 2 bộ

Tài nguyên thuỷ sản

- Có khoảng 37 loài cá thuộc 19 họ Trong đó có 9 loài cá kinh tế;

- Loài cá có giá trị kinh tế: cá lóc, cá trê vàng, cá rô, cá sặc bướm, cá sặc rằn, thát lát, cá dày, lóc bông

Trang 36

22

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm điều tra phỏng vấn là các hộ dân trồng rừng keo lai và rừng tràm trong khu vực rừng U Minh Hạ (thuộc huyện U Minh và huyện Trần Văn Thời)

Địa điểm thu mẫu mật ong để đánh giá năng suất và chất lượng nằm trong ba khu vực (KV):

- Khu vực I: KV có trồng cây Keo Lai tại xã Khánh Thuận, huyện U Minh (thuộc Công ty Cổ phần Đầu tư Thúy Sơn)

- Khu vực II: KV có trồng cây Keo Lai tại xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời (tại Trạm Nghiên cứu Kênh Đứng)

- Khu vực III: KV hoàn toàn không có trồng Keo Lai được chọn làm đối chứng là vùng đất không bị tác động của việc trồng cây Keo Lai tại VQG U Minh Hạ (vùng lõi và vùng đệm VQG U Minh Hạ, xã Trần Hợi huyện Trần Văn Thời)

Nơi xử lý và phân tích mẫu: Bộ môn Tài nguyên Đất đai (Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên) và Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Cần Thơ

Thời gian thực hiện: Từ tháng 10/2014 đến tháng 8/2015

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Thu thập và tổng hợp các tài liệu, báo cáo và đề tài đã thực hiện có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu

- Tham khảo các số liệu, tài liệu khác có liên quan đến đến khu vực nghiên cứu, nội dung nghiên cứu thông qua thư viện, Internet

3.2.2 Phương pháp điều tra thực tế

Khảo sát thực trạng sản xuất và năng suất mật ong trong khu vực trồng Keo Lai và khu vực trồng Tràm tại hệ sinh thái rừng U Minh Hạ trong năm

2014

- Xây dựng phiếu điều tra: Xây dựng phiếu điều tra theo phương pháp

“Bảng câu hỏi chuẩn” để thu thập số liệu về thực trạng sản xuất mật ong trên

ba khu vực nghiên cứu đã được chọn Các thông tin cần thu thập bao gồm:

Trang 37

23

thông tin lâm hộ, kiểu sử dụng đất, hiện trạng canh tác Thực trạng sản xuất mật ong về hiệu quả về kinh tế xã hội, vốn đầu tư và thu nhập Ngoài ra còn thu thập thêm thông tin liên quan có ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng mật ong (diện tích đất rừng, tháng gác kèo, tháng thu hoạch, )

- Bố trí mẫu thu thập số liệu: Thông tin điều tra được thu thập theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên với cỡ mẫu là 15 hộ trên một khu vực nghiên cứu và được lập lại trên 3 khu vực nghiên cứu Tổng số có 45 phiếu điều tra được thực hiện

- Thời gian điều tra thực tế: Tháng 10 năm 2014

Thí nghiệm được bố trí ở hai mùa: mùa nắng (tháng 10/2014 đến tháng 4/2015) và mùa mưa (tháng 5/2015 đến tháng 8/2015)

- Tại KV I và KV II: Trong mùa nắng, chọn ba điểm gác kèo tương ứng với ba cấp tuổi:

+ Điểm 1: Cây Keo Lai trồng được 1 năm tuổi;

+ Điểm 2: Cây Keo Lai trồng được 3 năm tuổi;

+ Điểm 3: Cây Keo Lai trồng được 4 năm tuổi

Theo mỗi điểm (cấp tuổi) của rừng keo lai, chọn vị trí thích hợp để gác kèo, số lượng kèo được gác là 10 kèo/điểm, mỗi kèo cách nhau khoảng 500 m, dùng GPS đánh dấu vị trí lại, sau đó theo dõi quá trình ong xuống làm tổ (Hình 3.1a) Đối với điểm 3, vì cây Keo Lai ở tuổi 4 nên không đủ điều kiện

để gác kèo, do đó sẽ chọn các tổ ong tự nhiên (Hình 3.1b) Ở mỗi điểm, khi mật chín (dân địa phương gọi là tô vôi) sẽ lấy 03 mẫu mật ở 03 kèo ngẫu nhiên trong 10 kèo đã gác, đại diện cho khu vực có khả năng xảy ra biến động tính chất của mật do trồng Keo Lai, ghi nhận năng suất thu được ở mỗi kèo (hoặc

Trang 38

24

tổ tự nhiên) và đem về phân tích chất lượng

Trong mùa mưa: Cách lấy mẫu tương tự như trong mùa nắng, tiếp tục theo dõi 10 kèo ong đã gác trong mùa nắng và khi mật chín sẽ lấy 03 mẫu mật

ở 03 kèo ngẫu nhiên trong 10 kèo (sẽ có trường hợp lấy trùng với kèo đã lấy trong mùa nắng), ghi nhận năng suất và đem về phân tích

Tổng số mẫu mật của mùa nắng và mùa mưa là 36 mẫu (2 KV x 2 mùa x

3 điểm x 3 lần lặp lại)

(a) Ong mật làm tổ trên kèo (b) Ong mật làm tổ tự nhiên

Hình 3.1 Ong mật làm tổ trong rừng keo lai

- Tại KV III: Ở mùa nắng, chọn ba điểm tương ứng với 3 vị trí như sau: + Điểm 1: Vị trí rừng tràm có cấp tuổi lớn 10 tuổi (vùng lõi VQG)

+ Điểm 2: Vị trí rừng tràm tiếp giáp giữa vùng lõi và vùng đệm

+ Điểm 3: Vị trí rừng tràm có cấp tuổi nhỏ hơn 10 tuổi (vùng đệm của VQG-do hộ dân trồng)

Ở mỗi điểm sẽ chọn vị trí thích hợp và gác 10 kèo/điểm, đánh dấu lại bằng GPS, sau đó theo dõi và thu mẫu mật khi mật chín (tương tự như KV I và

KV II) Tại mỗi điểm sẽ thu 03 mẫu mật ong ở ba kèo ngẫu nhiên trong 10 kèo đại diện cho tính chất mật không bị tác động do trồng Keo Lai, ghi nhận năng suất thu được của mỗi kèo và đem về phân tích Tuy nhiên, ở vùng rừng tràm phía trong lõi là rừng bảo tồn, được bảo vệ nghiêm ngặt nên chỉ thu mật ong xây tổ tự nhiên (Hình 3.2b)

Đối với mùa mưa: Cách lấy mẫu tương tự như mùa nắng, tiếp tục theo dõi các kèo ong và khi mật chín sẽ lấy 03 mẫu mật ở 03 kèo ngẫu nhiên trong

Trang 39

25

10 kèo (các kèo đã gác ở mùa nắng), ghi nhận năng suất và đem về phân tích Tổng số mẫu của hai mùa tại KV III là 18 mẫu (2 mùa x 3 điểm x 3 lần lặp lại)

(a) Ong mật làm tổ trên kèo (b) Ong mật làm tổ tự nhiên

Hình 3.2 Ong mật làm tổ trong rừng tràm

- Tổng ba khu vực sẽ có 54 mẫu mật ong: KV có trồng Keo Lai là 36 mẫu và KV trồng tràm là 18 mẫu Thời gian gác kèo trong tháng 10/2014, các kèo được sử dụng cho cả hai mùa

Dụng cụ lấy mật ong: lưới che mặt, bình hun khói, dao nhỏ, thùng nhựa, thao, ray lọc tạp chất, chai nhựa đựng mẫu mật

Cách lấy mẫu mật ong: khoảng 20 ngày sau khi ong xuống kèo làm tổ là thời điểm lấy mật, khi đã chuẩn bị xong dụng cụ lấy mật, sẽ cắt lấy phần sáp chứa mật (khúc mứt) và được để riêng trong các thùng khác nhau, vắt mật qua ray để lọc tạp chất, sau đó đem về cân để xác định năng suất Chiết ra chai nhựa có thể tích 1 lít bảo quản và đem về phân tích các chỉ tiêu chất lượng Thời gian thu mật: Sau khi gác kèo sẽ theo dõi thời gian ong xuống và tính toán đến ngày mật chín Mật ong được lấy khi mật chín hoàn Trong mỗi điểm lấy các mẫu mật ở các kèo đã chọn trước, mẫu mật được lấy vào tháng 3/2015 trong mùa nắng và tháng 8/2015 trong mùa mưa

Trang 40

Mùa nắng

Mùa mưa Điểm

Mùa nắng

Mùa mưa

Tổng: 54 mẫu

3.2.4 Phương pháp phân tích chất lượng mật ong

Các chỉ tiêu chất phân tích bao gồm: độ pH, hàm lượng nước, hàm lượng đường khử tự do (đường glucose và fructose), hàm lượng đường sacarose, hàm lượng chất rắn không tan trong nước, độ axit tự do, hàm lượng HMF, vitamin B1, vitamin C và các chỉ tiêu cảm quan (trạng thái, độ trong, màu sắc, mùi, vị)

Chỉ tiêu pH, hàm lượng nước, hàm lượng đường đơn được phân tích tại

Bộ môn Tài nguyên Đất đai (Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, trường Đại học Cần Thơ) Chỉ tiêu pH được đo bằng máy WalkLAB TI9000 (Hình 3.3), chỉ tiêu hàm lượng nước và đường đơn được đo bằng Khúc xạ kế Atago N-4E, độ Brix 45-82% (Hình 3.4) Các chỉ tiêu còn lại được phân tích tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Cần Thơ (Bảng 3.2) Thời điểm phân tích mẫu mật của mùa nắng là tháng 4/2015, và của mùa mưa là tháng 8/2015

Bảng 3.2 Các phương pháp phân tích chất lượng mật ong

Hàm lượng chất rắn không tan trong nước TCVN 5264-1990

Method V19, 28, 171-175

Ngày đăng: 28/06/2023, 15:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w