Các hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm soát đã được triển khai nhưng chưa đạtđược hiệu quả thiết thực, khả năng duy trì thường xuyên liên tục các hoạt động quản lý của cơ quan địa phương
Trang 1MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1
Chất lượng sản phẩm
.
1.1
Một số khái niệm về chất lượng sản phẩm
1.2
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
2
Quản trị chất lượng sản phẩm
.
2.1
Khái niệm và những nguyên tắc của quản trị chất lượng
2.2
Hệ thống quản lý chất lượng
PHẦN II: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG CỦA CÁC DOA
NH NGHIỆP CHẾ BIẾN THUỶ SẢN MIỀN BẮC
.
1
Giới thiệu chung về các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản miền Bắc
.
2
Chất lượng thuỷ sản miền bắc
.
3
Thực trạng quản trị chất lượng thuỷ sản miền Bắc hiện nay
.
3.1
Quy định về chất lượng sản phẩm thúy sản
3.2
Công tác kiểm tra, quản lý chất lượng thủy sản
Giải pháp cải thiện chất lượng
4.1
Quy hoạch chuỗi sản xuất và cung ứng thủy sản
4.2
Nâng cao nhận thức của người sản xuất về chất lượng thủy sản
4.3
Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và năng lực kiểm soát của Cơ quan quản lý nhà
nước về chất lượng thủy sản
:
4.4
Hoàn thiện hệ thống luật lệ văn bản pháp lý
:
4.5
Xã hội hóa công tác kiểm nghiệm, xét nghiệm chất lượng, an toàn thực
phẩm thủy sản
4.6
Xây dựng hợp tác liên Bộ ngành, tổ chức Hội, Hiệp hội về chất lượng
thủy sản
KẾT LUẬN
.
Trang 2TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển con người có đòihỏi ngày càng cao về chất lượng sản phẩm cũng như dịch vụ Doanh nghiệp muốntồn tại và phát triển thì sản phẩm cung cấp không phải chỉ cần mẫu mã đẹp, giá bánphù hợp mà chất lượng còn phải đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng Đặc biệt là vớinhững mặt hàng là thực phẩm như thuỷ sản chế biến thì yêu cầu chất lượng lại càngkhắt khe Chất lượng sản phẩm sẽ quyết định thương hiệu cũng như chỗ đứng củadoanh nghiệp trên thị trường Và một thực tế là hiện nay các doanh nghiệp chế biếnthuỷ sản Việt Nam sản phẩm sản xuất ra thì nhiều, xuất khẩu cũng nhiều nhưng têntuổi thương hiệu thì còn xa lạ trên thị trường thế giới
Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước nền kinh
tế nước ta đã có bước tăng trưởng rõ rệt, trong đó ngành thủy sản đã có những bướcphát triển nhảy vọt
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh thủy sản nhữngnăm qua cho thấy chất lượng và hoạt động quản lý chất lượng thủy sản còn nhiềuthách thức Mặc dù, hoạt động sản xuất và chế biến thủy sản đã ứng dụng nhữngthành tựu khoa học nhằm tạo ra các sản phẩm ngày càng đa dạng phong phú chongười tiêu dùng Nhưng chúng ta vẫn đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môitrường do sử dụng các hoá chất trong hoạt động sản xuất, tồn dư các hoá chất độchại trong sản phẩm thực phẩm và sự ô nhiễm do các chất thải của khu vực chế biếnthực phẩm, nuôi trồng, ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh đây là các mối nguy trực tiếptác động đến sức khoẻ người tiêu dùng
Các hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm soát đã được triển khai nhưng chưa đạtđược hiệu quả thiết thực, khả năng duy trì thường xuyên liên tục các hoạt động quản
lý của cơ quan địa phương chưa được thực hiện, hiệu lực quản lý nhà nước trongtoàn bộ chuỗi sản xuất thủy sản còn thiếu đồng bộ đã dẫn đến tỷ lệ các sản phẩmthủy sản chưa đảm bảo an toàn thực phẩm còn cao, gây ảnh hưởng tới sức khỏengười tiêu dùng, bức xúc trong xã hội và cản trở trong thương mại thủy sản
Trang 4Như vậy, việc quản trị chất lượng thủy sản nhằm nâng cao và đảm bảo chấtlượng mặt hàng thủy sản là hết sức cần thiết Ở nước ta nơi tập trung sản xuất, chếbiến nhiều nhất là khu vực đòng bằng sông Cửu Long Tiếp đó là khu vực phía bắcthì các doanh nghiệp tập trung quanh vùng duyên hải Ngành chế biến thuỷ sản ở
đây còn mới mẻ và non trẻ Đề án: “ Quản trị chất lượng sản phẩm thuỷ sản của
các doanh nghiệp miền Bắc” nhằm đánh giá thực trạng và nêu lên một số giải
pháp để nâng cao chất lượng ản phẩm thuỷ sản trong tương lai
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Thắm, giảng viênkhoa Quản trị kinh doanh đã giúp em hoàn thành đề án này
Trang 5PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1 Chất lượng sản phẩm.
1.1 Một số khái niệm về chất lượng sản phẩm
Khái niệm về chất lượng sản phẩm được nêu ra và xem xét dưới các góc độkhác nhau tùy đối tượng sử dụng Do đó có nhiều quan niệm khác nhau về chấtlượng sản phẩm, mỗi khái niệm đều có cơ sở khoa học nhằm giải quyết những mụctiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế
Quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được phảnánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó Quan niệm này đã đồng nghĩachất lượng sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản phẩm
Theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợpcủa một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã xácđịnh trước
Xuất phát từ người tiêu dùng, chất lượng được định nghĩa là sự phù hợp củasản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng
Xuất phát từ mặt giá trị, chất lựơng được hiểu là đại lượng đo bằng tỷ số giữalợi ích thu được từ tiêu dùng sản phẩm với chi phí phải bỏ ra để đạt được lợi ích đó
Để giúp hoạt động quản ký chất lượng trong các doanh nghiệp được thốngnhất, dễ dàng, Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO
9000 đã đưa ra định nghĩa về chất lượng: “Chất lượng là mức độ thỏa mãn của mộttập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu” Định nghĩa này thể hiện sự thống nhấtgiữa các thuộc tính nội tại khách quan của sản phẩm với đáp ứng nhu cầu chủ quancủa khách hàng
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
* Nhóm yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
Trang 6 Nhu cầu và cầu về chất lượng
Xu hướng toàn cầu hóa với sự tham gia hội nhập của doanh nghiệp vào nềnkinh tế thế giới của mọi quốc gia Đẩy mạnh tự do thương mại quốc tế
Sự thay đổi nhanh chóng của những tiến bộ xã hội với vai trò của khách hàngngày càng cao
Cạnh tranh trở nên gay gắt cùng với sự bão hòa của thị trường
Vai trò của các lợi thế về năng suất đang trở thành hàng đầu
Xu hướng phát triển và hoàn thiện chất lượng sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vàođặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu trên thị trường (nhu cầu càng phongphú, đa dạng và thay đổi nhanh càng cần hoàn thiện chất lượng để thích ứng kịpthời đòi hỏi ngày cang cao của khách hàng)
Trình độ tiến bộ khoa học - công nghệ
Tiến bộ khoa học - công nghệ tạo ra khả năng năng cao chất lượng sản phẩmkhông ngừng
Tiến bộ khoa học - công nghệ tạo phương tiện điều tra, nghiên cứu khoa họcchính xác hơn, xác định đúng đắn nhu cầu và biến đổi nhu cầu thành đặc điểm sảnphẩm chính xác hơn nhờ trang bị các phương tiện đo lường, dự báo, thí nghiệm,thiết kế tốt hơn, hiện đại hơn
Nhờ tiến bộ khoa học - công nghệ làm xuất hiện các nguồn nguyên liệu mớitốt hơn, rẻ hơn nguồn nguyên liệu sẵn có
Khoa học quản lý phát triển hình thành những phương pháp quản lý tiên tiếnhiện đại góp phần nắm bắt nhanh hơn, chính xác hơn nhu cầu khách hàng và giảmchi phí sản xuất, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng mức thỏa mãn của kháchhàng
Cơ chế, chính sách quản lý kính tế của các quốc gia
Trang 7Môi trường pháp lý với những chính sách và cơ chế quản lý kinh trế có tácđộng trực tiếp và to lớn đến việc tạo ra và nâng cao chất lượng sản phẩm của cácdoanh nghiệp.
Một cơ chế phù hợp sẽ góp phần kích thích các doanh nghiệp đấy mạnh đầu
tư, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ
Văn hóa, xã hội
Những yêu cầu về văn hóa, đạo đức, xã hội và tập tục truyền thống, thói quentiêu dùng có ảnh hưởng trực tiếp tới các thuộc tính chất lượng của sản phẩm đồngthời có ảnh hưởng gián tiếp thông qua các quy định bắt buộc mỗi sản phẩm phảithỏa mãn những đòi hỏi phù hợp với truyền thống, văn hóa, đạo đức, xã hội củacộng đồng
*Nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp: chúng ta đặc biệt chú ý đến 4 yếu tố cơ
Methods (trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp): phương pháp quản lý
đo lường sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể khai thác tốt nhất nguồn lực hiện
có, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm
Machines (khả năng về máy móc thiết bị, công nghệ hiện có của doanh nghiệp): khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị tác động nâng cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và năng suất lao động
Materials (nguyên vật liệu và hệ thốngcung ứng nguyên vật liẹu của doanh nghiệp): vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống cung cấp sẽ tạo ra việc cung cấp đúng số lượng, đúng thời hạn để đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm
Trang 82 Quản trị chất lượng sản phẩm.
2.1 Khái niệm và những nguyên tắc của quản trị chất lượng
Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 thì: Quản trị chất lượng là mộthoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu,trách nhiệm và thực hiện chúng bằng biện pháp như họach định chất lượng, kiểmsoát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệthống chất lượng
Quản lý chất lượng là một lĩnh vực quản lý có những đặc thù riêng Nó đòi hỏiphải thực hiện các nguyên tắc chủ yếu sau:
Quản lý chất lượng phải được định hướng bởi khách hàng: khách hàng làngười chấp nhận và tiêu thụ sản phẩm; khách hàng đề ra các yêu cầu về sản phẩm,chất lượng và giá cả sản phẩm do đó, quản lý chất lượng phải hướng tới kháchhàng và nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của khách hàng
Coi trọng con người trong quản lý chất lượng: con người giữ vị trí quantrọng hàng đầu trong quá trình hình thành, đảm bảo, nâng cao chất lượng sản phẩm
vì vậy, cần áp dụng các biện pháp và phương pháp thích hợp để huy động hết nguồnlực tài năng con người ở mọi cấp, mọi ngành vào việc đảm bảo và nâng cao chấtlượng sản phẩm
Quản lý chất lượng phải thực hiện toàn diện và đồng bộ: chất lượng sảnphẩm là kết quả tổng hợp của các lĩnh vưc, của những cố gắng, nỗ lực chung củacác ngành, các cấp, các địa phượng và từng con người nên cần đảm bảo tính toàndiện và sự đồng bộ trong các họt động lien quan đến đảm bảo và năng cao chấtlượng
Quản lý chất lượng phải thực hiện đồng thời với các yêu cầu đảm bảo và cảitiến chất lượng: đảm bảo và cải tiến chất lượng là hai vấn đè có liên quan mật thiếthữu cơ với nhau Đảm bảo chất lượng bao hàm việc duy trì và cải tiến để đáp ứngnhu cầu khách hàng Cải tiến chất lượng bao hàm việc đảm bảo chất lượng và nâng
Trang 9cao hiệu quả, hiệu suất của chất lượng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của kháchhàng.
Quản trị chất lượng theo quá trình: nhằm phòng ngừa và ngăn chặn kịp thờicác nguyên nhân gây ra chất lượng kém, giảm chi phí kiểm tra và sai sót trong khâukiểm tra
Nguyên tắc kiểm tra: kiểm tra nhằm mục đích hạn chế và ngăn chặn nhữngsai sót, tìm biện pháp khắc phục những khâu yếu, phát huy cái mạnh, để đảm bảo vànâng cao chất lượng sản phẩm ngày một hoàn thiện hơn, đáp ứng tốt nhu cầu của thịtrường
2.2 Hệ thống quản lý chất lượng
Hệ thống quản lý chất lượng là một tập hợp các yếu tố có liên quan và tươngtác để lập chính sách và mục tiêu chất lượng và đạt được các mục tiêu đó Hệ thốngquản lý chất lượng giúp các doanh nghiệp phân tích yêu cầu của khách hàng, xácđịnh các quá trình sản sinh ra sản phẩm được khách hàng chấp nhận và duy trì đượccác quá trình đó trong điều kiện được kiểm soát Hệ thống quản lý chất lượng có thểdùng làm cơ sở cho các hoạt động cải tiến chất lượng liên tục, ngày càng thoả mãncác yêu cầu của khách hàng và các bên liên quan Hệ thống quản lý chất lượng hàihoà mọi nỗ lực của doanh nghiệp, hướng toàn bộ nỗ lực của doanh nghiệp để thựchiện mục tiêu chung đã đặt ra Đó chính là phương pháp hệ thống quản lý chấtlượng Các yêu cầu của hệ thống quản lý chất lượng mang tính chung nhất, có thể
áp dụng cho mọi loại hình tổ chức
Hệ thống quản trị chất lượng ISO 9000
Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (International Organization forStandardization; viết tắt: ISO hay iso) là cơ quan thiết lập tiêu chuẩn quốc tế baogồm các đại diện từ các tổ chức tiêu chuẩn các quốc gia Tổ chức này đã đưa ra các
tiêu chuẩn thương mại và công nghiệp trên phạm vi toàn thế giới Bộ tiêu chuẩnISO 9000 do tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hoá (ISO) ban hành lần đầu vào năm
1987 nhằm mục đích đưa ra một mô hình được chấp nhận ở mức độ quốc tế về hệ
Trang 10thống đảm bảo chất lượng và có thể áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuấtkinh doanh và dịch vụ.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 qui tụ kinh nghiệm của quốc tế trong lĩnh vực quản lý
và đảm bảo chất lượng trên cơ sở phân tích các quan hệ giữa người mua và nhà sảnsuất Đây chính là phương tiện hiệu quả giúp các nhà sản xuất tự xây dựng và ápdụng hệ thống đảm bảo chất lượng ở cơ sở mình, đông thời cũng là phương tiện màbên mua có thể căn cứ vào đó tiến hành kiểm tra người sản xuất, kiểm tra sự ổnđịnh của sản xuất và chất lượng sản phẩm trước khi ký hợp đồng ISO 9000 đưa racác chuẩn mực cho một hệ thống chất lượng và có thể áp dụng rộng rãi trong cáclĩnh vực sản xuất , kinh doanh và dịch vụ ISO 9000 hướng dẫn các Tổ chức cũngnhư các doanh nghiệp xây dựng một mô hình quản lý thích hợp và văn bản hoá cácyếu tố của hệ thống chất lượng theo mô hình đã chọn
Tất cả các tiêu chuẩn khác trong TCVN ISO 9000 được độc lập đối với bất kỳngành công nghiệp hoặc khu vực kinh tế riêng biệt nào Chúng cung cấp, hướng dẫncho quản lý chất lượng và mô hình đảm bảo chất lượng Tiêu chuẩn trong bộ TCVNISO9000 mô tả các yếu tố mà các hệ thống chất lượng cần phải có, chứ không một
tổ chưc riêng biệt cần phải áp dụng những yếu tố đó như thế nào Bởi vì nhu cầucủa các tổ chức biến đổi, mục đích của các tiêu chuẩn này không phải là củng cố sựthống nhất của các hệ thống chất lượng Việc thiết kế và áp dụng một hệ thống chấtlượng nhất thiết phải chịu sự chi phối của các mục tiêu, sản phẩm, quá trình và cáccách thức thực hành riêng biệt của một tổ chức
Những triết lý cơ bản mà ISO 9000 đưa ra về một hệ thống quản lý chất lượng
là phù hợp với những đòi hỏi của các doanh nghiệp hiện nay:
- Hiệu quả chất lượng là vấn đề chung của toàn bộ tổ chức Chỉ có thể tạo ramột sản phẩm, một dịch vụ có chất lượng, có tính cạnh tranh cao khi mà cả hệ thốngđược tổ chức tốt - đó là sự phối hợp để cải tiến hoàn thiện lề lối làm việc
- Phải làm đúng, làm tốt ngay từ ban đầu
- Nêu cao vai trò phòng ngừa là chính trong mọi hoạt động của tổ chức Việctìm hiểu, phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả hoạt động của hệ thống
Trang 11và những biện pháp phòng ngừa được tiến hành thường xuyên với những công cụkiểm tra hữu hiệu.
- Thoả mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng, của xã hội là mục đích của hệthống đảm bảo chất lượng, do đó vai trò của nghiên cứu và cải tiến sản phẩm haynghiên cứu sản phẩm mới là rất quan trọng
- Đề cao vai trò của dịch vụ theo nghĩa rộng, tức là quan tâm đến phần mềmcủa sản phẩm, đến dịch vụ sau bán hàng Việc xây dựng hệ thống phục vụ bán vàsau bán hàng là một phần quan trọng của chiến lược sản phẩm, chiến lược cạnhtranh của một doanh nghiệp Thông qua các dịch vụ này uy tín của doanh nghiệpngày càng lớn và đương nhiên lợi nhuận sẽ tăng
- Trách nhiệm đối với kết quả hoạt động của tổ chức thuộc về từng người.Phân định rõ trách nhiệm của từng người trong tổ chức, công việc sẽ được thực hiệnhiệu quả hơn
- Quan tâm đến chi phí để thoả mãn nhu cầu- cụ thể là đối với giá thành Phảitìm cách giảm chi phí ẩn của sản xuất, đó là những tổn thất do quá trình hoạt độngkhông phù hợp, không chất lượng gây ra, chứ không phải do chi phí đầu vào
- Điều nổi bật xuyên suốt bộ tiêu chuẩn ISO 9000 là các vấn đề liên quan đếncon người Nếu không tạo điều kiện để tất cả mọi người nhận thức được đúng vaitrò và tầm quan trọng của chất lượng có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ
và không tạo cho họ có điều kiện phát huy được mọi khả năng thì hệ thống chấtlượng sẽ không đạt được kết quả như mong đợi
Các tiêu chuẩn quốc tế của ISO trong mọi phương diện đều không ràng buộcvới bất kỳ quốc gia hay ngành công nghiệp nào, nó đơn thuần chỉ với tư cách là cáctiêu chuẩn quốc tế Điều này cho phép trong một số tình huống thì một số tiêuchuẩn nào đó có thể mâu thuẫn với các yêu cầu và dự tính xã hội, văn hóa hay pháp
lý Nó cũng phản ánh một thực tế là các chuyên gia trong nước và quốc tế chịu tráchnhiệm tạo ra các tiêu chuẩn này không phải lúc nào cũng đồng ý và không phải mọi
đề xuất đều có thể trở thành tiêu chuẩn bởi sự biểu quyết nhất trí hoàn toàn Các
Trang 12quốc gia riêng biệt và các tổ chức tiêu chuẩn của họ vẫn là người phân xử cuốicùng.
Hệ thống quản trị chất lượng toàn diện (TQM)
TQC (Total Quality Control) được định nghĩa là: một hệ thống có hiệu quả đểhợp nhất các nỗ lực về triển khai chất lượng, duy trì chất lượng và cải tiến chấtlượng của các bộ phận khác nhau trong một tổ chức sao cho nó có thể sản xuất vàthực hiện dịch vụ ở mức kinh tế nhất thỏa mãn được người tiêu dùng
TQM là bước hoàn thiện của TQC với những ý tưởng cơ bản:
- Quản lý chất lượng là trách nhiệm của mỗi người, mỗi bộ phận trong côngty
- Quản lý chất lượng toàn diện là một hoạt động tập thể đòi hỏi phải cónhững nỗ lực chung của mọi người
- Quản lý chất lượng toàn diện sẽ đạt hiệu quả cao nếu mọi người trong công
ty, từ chủ tịch công ty đến công nhân sản xuất, nhân viên cùng tham gia
- Quản lý chất lượng tổng hợp đòi hỏi phải quản lý có hiệu quả mọi giai đoạncông việc trên cơ sở sử dụng vòng quản lý P-D-C-A (kế hoạch, thực hiện, kiểm tra,hành động)
- Hoạt động của các nhóm chất lượng là một phần cấu thành của quản lý chấtlượng tổng hợp
TMQ là cách tiếp cận về quản lý chất lượng ở mọi công đoạn nhằm nâng caonăng suất và hiệu quả chung của doanh nghiệp hay tổ chức TQM là sự lưu tâm đếnchất lượng trong tất cả các hoạt động, là sự hiểu biết, sự cam kết, hợp tác của toànthể thành viên trong donh nghiệp, nhất là ở các cấp lãnh đạo
Các đặc trưng của TQM và cũng đồng thời là trình tự căn bản để xây dựng nên
hệ thống TQM:
Nhận thức: phải hiểu rõ những khái niệm, những nguhyên tắc quản lý chung,xác định rõ vai trò, vị trí của TQM trong doanh nghiệp
Trang 13Cam kết: Sự cam kết của lãnh đạo, các cấp quản lý và toàn thể nhân viêntrong việc bền bỉ theo đuổi các chương trình về mục tiêu về chất lượng
Tổ chức: Đặt đúng người vào đúng chỗ, phân định rõ trách nhiệm từng người
Đo lường: đánh giá về mặt định lượng những cải tiến, hoàn thiện chất lượngcũng như những chi phí do những hoạy đọng không chất lượng gây ra
Hoạch định chất lượng: thiết lập các mục tiêu, yêu cầu về chất lượng, cácyêu cầu về áp dụng các yếu tố của hệ thống chất lượng
Thiết kế chất lượng: thiết kế công việc, thiết kế sản phẩm và dịch vụ, là cầunối giữa marketing vơớichức năng tác nghiệp
Hệ thống quản lý chất lượng: xây dựng chính sách chất lượng, các phươngpháp, thủ tục và quy trình để quản lý các quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Sử dụng các phương pháp thống kê: theo dõi các quá trình và sự vạn hành hệthống chất lượng
Tổ chức các nhóm chất lượngnhư là hững hạt nhân chủ yếu của TQM để cảitiến và hoàn thiện chất lượng công việc, chất lượng sản phẩm
Sự hợp tác nhóm được hình thành từ lòng tin cậy, tự do trao đổi ý kiến và sựthông hiểu của các thành viên đối với mục tiêu, kế hoạch chung của doanh nghiệpLập kế hoạch thực hiện TQM: trên cở sở nghiên cứu các cẩm nang áp dụngTQM, lập kế hoạch thực hiện theo từng phần của TQM để thích nghi dần, từngbước tiếp cận và tiến tới áp dụng toang bộ TQM
Hệ thống HACCP
HACCP (Hazard Analysis Crifical control points) là hệ thống phân tích mối
nguy và xác định điểm kiểm soát trọng yếu Nó là sự tiếp cận có tính khoa học, hợp
lý và có tính hệ thống cho sự nhận biết, xác định và kiểm soát mối nguy hại trongchế tạo, gia công, sản xuất, chuẩn bị và sử dụng thực phẩm để đảm bảo rằng thựcphẩm là an toàn khi tiêu dùng Hệ thống này nhận biết những mối nguy hại có thểxảy ta trong quá trình sản xuất thực phẩm và đặt ra các biện pháp kiểm soát để tránh
Trang 14những mối nguy xảy ra Mối nguy được định nghĩa như tác nhân hoặc điều kiệnsinh học, hoá học hoặc vật lý, thực phẩm có khả năng gây ra hậu quả có hại cho sứckhoẻ Ví dụ, mối nguy của thực phẩm là các mảnh kim loại, thuốc trừ sâu và chấtgây ô nhiễm HACCP quan trọng bởi vì nó kiểm soát mối nguy tiềm tàng trong sảnxuất thực phẩm Thông qua việc kiểm soát những rủi ro thực phẩm chủ yếu, nhữngnhà sản xuất có thể đảm bảo tốt hơn cho người tiêu dùng sản phẩm của họ an toàncho tiêu dùng Với sự giảm bớt mối nguy thực phẩm, việc bảo vệ sức khoẻ cộngđồng sẽ được củng cố Những chương trình kiểm soát an toàn thực phẩm truyềnthống nói chung dựa trên sự kiểm tra và việc nghiên cứu thành phẩm tức là cáchtiếp cận “quan sát, phát hiện và tiếp xúc” tin tưởng vào phát hiện mối nguy hại tiềmtàng hơn là ngăn chặn Với hệ thống HACCP, an toàn thực phẩm thích được hợpnhất vào đề cương của phương pháp hơn là hệ thống không hiệu lực của phươngpháp nghiên cứu thành phẩm Bởi vậy, hệ thống HACCP cung cấp phương phápmang lại lợi nhuận hơn và ngăn ngừa cho an toàn thực phẩm Kinh nghiệm của mộtvài quốc gia cho biết việc áp dụng hệ thống HACCP dẫn đến việc phòng ngừa cóhiệu quả hơn bệnh tật từ sản phẩm.
Các nguyên tắc của HACCP:
1) Tiến hành phân tích mối nguy hại: Xác định các mối nguy hại tiềm ẩn ởmọi giai đoạn có thể ảnh hưởng tới an toàn thực phẩm từ sơ chế, chế biến, phânphối cho tới khâu tiêu thụ cuối cùng Đánh giá khả năng xuất hiện các mối nguy hại
và xác định các biện pháp kiểm soát chúng
2) Xác định các điểm kiểm soát tới hạn: (CCP)Xác định các điểm tại côngđoạn vận hành của sơ đồ dây chuyền sản xuất cần được kiểm soát để loại bỏ cácmối nguy hại hoặc hạn chế khả năng xuất hiện của chúng Thuật ngữ “Điểm” dùng
ở đây được hiểu là bất kỳ một công đoạn nào trong sản xuất hoặc chế biến thựcphẩm bao gồm từ sản xuất hoặc tiếp nhận nguyên liệu, thu hoạch, vận chuyển, chếbiến hoặc bảo quản
3) Xác lập các ngưỡng tới hạn: Xác định các ngưỡng tới hạn không được vượtquá nhằm đảm bảo khống chế có hiệu quả các điểm kiểm soát tới hạn
Trang 154) Thiết lập hệ thống giám sát các điểm kiểm soát tới hạn Xây dựng một hệthống các chương trình thử nghiệm hoặc quan trắc nhằm giám sát tình trạng đượckiểm soát của các điểm kiểm soát tới hạn.
5) Xác định các hoạt động khắc phục cần phải tiến hành khi hệ thống giám sátcho thấy tại một điểm kiểm soát tới hạn nào đó không được kiểm soát đầy đủ
6) Xác lập các thủ tục kiểm tra để khẳng định rằng hệ thống HACCP đanghoạt động có hiệu quả
7) Thiết lập hệ thống tài liệu liên quan đến mọi thủ tục, hoạt động của chươngtrình HACCP phù hợp cới các nguyên tắc trên các bước áp dụng chúng
Lợi ích của việc được chứng nhận HACCP
Cải tiến phương pháp nội bộ
Hệ thống duy trì cân đối kế toán để ngăn ngừa hệ thống hỏng hóc
Tuân thủ theo các yêu cầu cần thiết, các công ty được chứng nhận ít đụng độnhững vấn đề với người điều chỉnh
Giảm bớt tính thường xuyên của kiểm toán ngân hàng
Lợi thế cạnh tranh với các công ty không được chứng nhận
Nâng cao hình ảnh công ty
Hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam
Hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam là các tiêu chuẩn do Tổng cục Tiêu chuẩn Đolường chất lượng của Việt Nam đề ra và được coi là chuẩn của quốc gia Hệ thốngTiêu chuẩn Việt Nam gồm: Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và Tiêu chuẩn cơ sở(TCCS) Tính đến hết năm 2006, Hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành gồmkhoảng 6000 TCVN
Hệ thống TCVN hiện hành có những ưu điểm chủ yếu sau:
Hệ thống TCVN đã góp phần quan trọng trong việc phục vụ nhu cẫu sản xuấtkinh doanh, quản lý kinh tế xã hội,…
Trang 16 Về cơ bản, hệ thong TCVN đã được xây dưng và phát triển sát thực các đóitượng theo yêu cầu quản lý cấp bách
Được soát xét kịp thời để loại ra khỏi hệ thống TCVN đã quá lạc hậu hoặckhông còn cần thiết hoặc thuộc các đối tượng có thể quản lý dưới dạng văn bảnkhác, cấp khác
Số lượng TCVN hòan toàn phù hợp hoặc tương đương với các tiêu chuẩnquốc tế, khu vực và nước ngoài ngày một nhiều hơn Năm 2000 Việt Nam có 1300TCVN tương đương với TCQT và TCNN, thì đến thàng 12/2006 con số này là2077
Tính đồng bộ các nội dung (loại) tiêu chuẩn được chú trọng
Thủ tục và phương pháp xây dựng TCVN luôn được cải tiến và hiện nayđang áp dụng thủ tục gần giống với thủ tục xây dựng tiêu chuẩn quốc tế ISO
Tuy nhiên, hiện nay TCVN chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu đổi mới hiệnnay và còn một số tồn tại như:
Hệ thống TCVN thực sự chưa được áp dụng rộng rãi, chưa thực sự phát huyhiệu lực và hiệu quả cao
Trình độ khoa học kỹ thuật của nhiều TCVN còn thấp và lạc hậu, cần phảisoát xét, thay thế
Số lượng tiêu chuẩn quốc tế được chấp nhận còn chiếm tỷ trọng chưa cáotrong hệ thống TCVN
Trang 17PHẦN II: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG CỦA CÁC DOA NH NGHIỆP CHẾ BIẾN THUỶ SẢN MIỀN BẮC.
1 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản miền Bắc.
Các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản khu vực phía bắc tập trung chủ yếu ởvùng duyên hải Các công ty chủ yếu nằm ở các tỉnh: Hải Phòng, Quảng Ninh Hầuhết đây đều là những cônh ty trẻ, sản lượng sản xuất hàng nghìn tấn một năm Ngoàiphục vụ nhu cầu trong nước thì thị trường xuất khẩu chính của các doanh nghiệp làthị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản
Chưa bao giờ ngành thuỷ sản vùng duyên hải Bắc Bộ lại có bước phát triểnmạnh mẽ cả về diện tích, năng suất, sản lượng nuôi trồng, đánh bắt như những nămgần đây Diện tích nuôi trồng tăng nhanh, các danh nghiệp tham gia vào thị trườngthuỷ hải sản ngày càng sôi động Tính đến 8/ 2009 miền Bắc đã có 32 doanh nghiệp,Hải Phòng có 8 doanh nghiệp chuyên chế biến thuỷ hải sản Ở các tỉnh khác nhưThái Bình, Nam Định công nghiệp chế biến cũng phát triển tương đối mạnh mẽ.Năm 2009 sản lượng của các doanh nghiệp chế thuỷ sản miền Bắc chiếm 21% sảnlượng của toàn ngành Trong những năm gần đây, công nghiệp chế biến thuỷ sản ởmiền Bắc ngày càng được nhà nước quan tâm, và có những chính sách thúc đẩyphát trỉển Góp phần quan trọng vào sự phát triển của một trong những ngành côngngiệp mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân
2 Chất lượng thuỷ sản miền bắc.
Theo đánh giá của Cục Quản lý Chất lượng an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản(NAFIQAVED), trong khoảng 10 năm trở lại đây, vấn đề chất lượng và an toànthực phẩm thủy sản về cơ bản được giải quyết, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.Chất lượng các mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam không ngừng được nânglên và ngày càng có uy tín trên thị trường thế giới Ngành thuỷ sản đã đạt đượcnhiều tiến bộ mà thể hiện rõ nhất ở kết quả xuất khẩu, tuy nhiên vấn đề dư lượng
Trang 18kháng sinh và nhiễm khuẩn do tiêm chích tạp chất và ngâm hoá chất vẫn là nỗi lo vàtiềm ẩn nhiều rủi ro đối với các doanh nghiệp
Trong thời gian qua, các nhà máy chế biến thủy sản của Việt Nam đã đạt trình
độ khu vực và được phép vào các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản Năm 2009,hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt tại 108 quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng nghĩavới việc chất lượng, an toàn vệ sinh sản phẩm thuỷ sản đã được chấp nhận rộng rãitrên thị trường quốc tế
Năm 2009, ngành thủy sản triển khai rộng rãi chương trình kiểm soát dư lượnghoá chất độc hại trong nuôi thuỷ sản với việc tiến hành đối với hầu hết các loài thuỷsản nuôi tập trung như tôm sú, tôm thẻ chân trăng, tôm càng xanh, cá basa, cá tra, cá
rô phi và cua
Ngoài ra, NAFIQAVED còn thực hiện khá tốt nhiều biện pháp kiểm soát khácnhư việc đưa tạp chất vào nguyên liệu thuỷ sản, chất lượng giống thuỷ sản nhậpkhẩu, kiểm dịch thuỷ sản, hoạt động của những người hành nghề thú y thuỷ sản.Tuy nhiên, những khuyến cáo về số hàng vi phạm tiêu chuẩn chất lượng đanggia tăng Theo Bộ Thuỷ sản, do hoạt động kiểm soát dư lượng hóa chất, kháng sinh
có hại đến sức khoẻ người tiêu dùng chưa được thực hiện nghiêm túc tại tất cả cáccông đoạn từ nuôi trồng, đánh bắt, thu mua vận chuyển nguyên liệu, đến chế biếnnên số lượng hàng thủy sản bị phát hiện kháng sinh có hại vẫn còn cao
Qua báo cáo của cơ quan kiểm soát thực phẩm Mỹ (FDA), phần lớn cáckhuyết điểm của hàng thuỷ sản bị vi phạm về: bao bì, nhãn hiệu, vệ sinh an toàn,nhiễm trùng (Salmonella ) và hàm lượng kháng sinh cao vượt mức cho phép(Chloramphenicol )
Việc sử dụng hóa chất ngoài vòng kiểm soát đang gây trở ngại cho ngành thủysản Chính phủ đã yêu cầu Bộ Thủy sản tăng cường hơn nữa việc quản lý, sử dụngcác loại hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sảnnguyên liệu và chế biến để bảo vệ người tiêu dùng và những thị trường xuất khẩucủa Việt Nam Mặc dù Bộ Thủy sản triển khai nhiều biện pháp quyết liệt nhằm bảođảm vệ sinh sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu, nhưng một số doanh nghiệp vẫn bị phát