1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Khoa Học Quản Lý, Chính Sách, An Sinh Xã Hội, Thái Nguyên.pdf

127 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách An Sinh Xã Hội Đối Với Người Có Hoàn Cảnh Khó Khăn Ở Tỉnh Thái Nguyên Hiện Nay
Tác giả Tạ Thị Hồng
Người hướng dẫn GS.TS Dương Xuân Ngọc
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Khoa học Quản lý
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TẠ THỊ HỒNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TẠ THỊ HỒNG

CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI

CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC QUẢN LÝ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TẠ THỊ HỒNG

CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN Ở TỈNH

THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Khoa học Quản lý

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Dương Xuân Ngọc

Hà Nội, 3/2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả

trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình của các tác giả nào khác

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC HÌNH VẼ 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU 7

MỞ ĐẦU 8

1 Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

3 Mục tiêu nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4.1 Đối tượng nghiên cứu 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Câu hỏi nghiên cứu 12

6 Giả thuyết nghiên cứu 12

7 Phương pháp nghiên cứu 13

8 Kết cấu của luận văn 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN 15

1.1 Khái quát chung về ASXH, chính sách ASXH 15

1.1.1 Khái niệm ASXH 15

1.1.2 Bản chất của ASXH 19

1.1.3 Nội dung của ASXH 23

1.2 Chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn 40

Trang 5

1.2.1 Khái niệm người có hoàn cảnh khó khăn……… 40

1.2.2 Bản chất của chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn 41

1.2.3 Nội dung chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn 42

1.2.4 Sự cần thiết phải thực hiện chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn 47

1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng của hệ thống chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn 48

1.3.1 Đánh giá thông qua mức độ bao phủ của hệ thống chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn: 48

1.3.2 Đánh giá thông qua chỉ số tác động 49

1.3.3 Đánh giá thông qua chỉ số về tài chính 50

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới chính sách ASXH 1.4.1 Thể chế chính sách………50

1.4.2 Thể chế tài chính……… 51

1.4.3 Các đối tác tham gia……… 52

1.4.4 Nhận thức về ASXH……… 52

1.4.5 Bộ máy tổ chức, năng lực của đội ngũ cán bộ……… 53

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY 54

2.1 Khái quát về tỉnh Thái Nguyên 54

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 54

2.1.2 Điều kiện dân cư lao động- kinh tế - xã hội 54

2.1.3 Cơ sở hạ tầng 57

Trang 6

2.2 Những thành tựu của việc thực hiện chính sách ASXH đối với người có

hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên 59

2.2.1 Chính sách BHXH, Bảo hiểm y tế cho người có hoàn cảnh khó khăn 59

2.2.2 Trợ giúp xã hội 61

2.2.3 Chương trình xóa đói giảm nghèo 66

2.2.4 Cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản 71

2.3 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện chính sách ASXH cho người có hoàn cảnh khó khăn 74

2.3.1 Những hạn chế trong việc thực hiện các chính sách ASXH cho người có hoàn cảnh khó khăn 74

2.3.2 Nguyên nhân những hạn chế trong thực hiện chính sách ASXH………… 78

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN TRONG THỜI GIAN TỚI 85

3.1 Bối cảnh kinh tế- xã hội trong việc thực hiện chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn trong giai đoạn hiện nay 85

3.1.1 Tình hình kinh tế- xã hội thế giới và tình hình trong nước 85

3.1.2 Tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên 86

3.2 Quan điểm định hướng thực hiện chính sách ASXH cho người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 87

3.2.1.Quan điểm chung 87

3.2.2 Định hướng nâng cao hiệu quả thực thi chính sách ASXH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 88

3.3 Giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn tại tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 90

Trang 7

3.3.1 Phát huy tính chủ động, sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện hệ thống chính sách ASXH thống nhất, đồng

bộ hiệu quả 90

3.3.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về ASXH 90

3.3.3 Tăng cường huy động nguồn lực cho các chương trình ASXH 93

3.3.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách ASXH ở tất cả các cấp, các ngành, đoàn thể và cơ sở; sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ ASXH 96

3.3.5.Kiện toàn bộ máy tổ chức, nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác ASXH 99

3.3.6 Hoàn thiện, nâng cao chất lượng hệ thống văn bản pháp luật 101

3.3.7 Tăng cường sự phối hợp với các cơ quan chuyên môn về ASXH với các tổ chức đoàn thể, quần chúng khác 103

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Phụ lục 1 114

Phụ lục 2 119

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASXH BHXH BHYT BCHTƢ CTXH PTTH TNHH THCS TGXH UBND

An sinh xã hội BHXH

Bảo hiểm y tế Ban chấp hành trung ương Cứu trợ xã hội

Phổ thông trung học Trách nhiệm hữu hạn Trung học cơ sở Trợ giúp xã hội

Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Đánh giá về mức độ đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của trợ cấp thường xuyên 43 Hình 2.1 Nhu cầu đào tạo nghề của các đối tượng đang thụ hưởng chính sách 64 Hình 2.2 Nhận thức của các đối tượng về chính sách ASXH 74

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tình hình cấp thẻ BHYT cho các đối tượng 56

Bảng 2.2 Đánh giá chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ sở 73

Bảng 2.3 Mức độ hiểu biết của các đối tượng đang thụ hưởng chính sách 75

Bảng 2.4 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH 77

Bảng 3.1 Đánh giá các biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác ASXH………93

Bảng 3.2 Đánh giá các biện pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách ASXH….… ……….……….96

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc

tế, bên cạnh việc phát huy mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Hệ thống ASXH góp phần quan trọng thực hiện công bằng xã hội; giúp người dân chống trọi với các rủi ro trong nền kinh tế thị trường; tạo ra cho mọi người cơ hội vươn lên trong xã hội

Sau những năm đổi mới, kinh tế nước ta có bước phát triển đáng kể Bên cạnh đó, đà tăng trưởng và hành trình phát triển của chúng ta đang này càng có những dấu hiệu khó khăn: phân hóa xã hội ngày một gia tăng, khoảng cách thu nhập và điều kiện sống giữa các vùng miền còn chênh lệch nhiều, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, người nông dân và các ngành nghề khác; thất nghiệp vẫn ở tỷ lệ cao; môi trường bị phá hủy trầm trọng; tình trạng nghèo và tái nghèo vẫn chưa được giải quyết triệt để, sự phân hóa xã hội ngày càng rõ rệt và phức tạp Người có hoàn cảnh khó khăn là đối tượng còn chịu nhiều thiệt thòi và gặp nhiều rủi ro trong xã hội.Vì họ có thu nhập thấp và không ổn định, đời sống kinh tế khó khăn Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước từ trước tới nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách quan tâm tới đối tượng người có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội Trong đó phải kể tới hệ thống chính sách về ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn, tuy nhiên vẫn chưa giải quyết được vấn đề một cách triệt để

Những năm vừa qua, tỉnh Thái Nguyên đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, đời sống của nhân dân có bước được cải thiện Tuy nhiên với đặc thù

là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ dân trí của một

số vùng còn chưa cao đặc biệt là vùng núi, vùng sâu, vùng xa Chính sách ASXH đã được hình thành và triển khai nhưng chưa thực sự phát huy hết tính

Trang 12

năng của nó vì thế cần có những giải pháp đồng bộ để hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn tại tỉnh Thái Nguyên đồng thời thúc đẩy sự phát triển toàn diện của tỉnh

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đã hướng cho người viết một ý

tưởng về nghiên cứu đề tài: “Chính sách an sinh xã hội đối với người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” với mong muốn sẽ

góp phần lý giải nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn trong việc phát triển

và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề ASXH và

chính sách ASXH, đáng quan tâm là những công trình sau:

- Các sách đã xuất bản: “Xây dựng và hoàn thiện chính sách ASXH ở Việt

Nam” do GS, TS Mai Ngọc Cường (chủ biên), NXB CTQG Hà Nội, 2009;

“Lao động, tiền lương, ASXH”, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012; “Hệ thống ASXH của

EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” do PGS, TS Đinh Công Tuấn (chủ

biên), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008; “ Giáo trình nhập môn về ASXH” của Nguyễn Hải Hữu, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2007; “Thành tựu

an sinh và phúc lợi xã hội”, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2005;

“Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới - Mô

hình, thực tiễn và kinh nghiệm” của PGS, TS Đinh Xuân Lý, NXB CTQG,

Hà Nội, 2011; “Vai trò của các tổ chức xã hội đối với phát triển và quản lý xã

hội” của TS Thăng Văn Phúc – PGS TS Nguyễn Minh Phương.NXB CTQG,

Hà Nội, 2011; “Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển xã hội và quản lý

phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam” của PGS,TS Nguyễn

Văn Mạnh NXB CTQG, Hà Nội, 2011; “Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách

xã hội trong thời kỳ đổi mới” của TS Nguyễn Thị Thanh NXB CTQG, Hà

Trang 13

Nội, 2011; “Yếu tố xã hội trong nền kinh tế thị trường xã hội” của Mai Ngọc Cường.NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005; “Quản lý sự phát triển xã hội

theo nguyên tắc tiến bộ và công bằng” của Phạm Xuân Nam NXB CTQG,

Hà Nội, 2001; “Bình đẳng xã hội – vấn đề chủ yếu của tư tưởng xã hội chủ

nghĩa” của Mai Ngọc Cường, Nxb của Phạm Xuân Nam, Nxb CTQG, Hà

Nội, 2001; “Nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam” của Bùi Ngọc

Thanh, Nguyễn Hữu Dũng, Phạm Đỗ Nhật Tân Nx.CTQG, Hà Nội,1996;

“Một số vấn đề phúc lợi xã hội của Nhật Bản và Việt Nam” của Dương Phú

Hiệp, Nguyễn Duy Dũng, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Hà Nội,1996;

“Kinh tế thị trường và vấn đề phân hóa giàu nghèo các vùng dân tộc và miền

núi” của Hoàng Văn Hoa Nxb CTQG, Hà Nội, 1999

- Các nghiên cứu trên các tạp chí: “ASXH ở nước ta – một số vấn đề lý

luận và thực tiễn” của PGS, TS Vũ Văn Phúc Tạp chí Cộng sản, số 4/2012;

“Chính sách ASXH với đảm bảo định hướng XHCN trong phát triển KTTT ở Việt Nam hiện nay” Hà Thị Thùy Dương, Tạp chí sinh hoạt Lý luận, số 6

(109) 2011; “Kết hợp giữa phát triển kinh tế với việc giải quyết ASXH – qua

thực tiễn ở nước ta”, Ths Phan Văn Trinh Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 6

(109) 2011; “Phát triển hệ thống ASXH đối với nông dân hiện nay”, Mai Ngọc Anh Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 364, tháng 9/2008; “Nghiên cứu hệ

thống chính sách xã hội nông thôn Cộng hòa Liên bang Đức và kiến nghị đối với việc xây dựng hệ thống an ninh xã hội cho nông dân Việt Nam” Mai Ngọc

Anh Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số tháng 10/2006; “Hoàn thiện hệ thống

ASXH trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Nguyễn Hữu

Dũng, Tạp chí Kính tế và phát triển, 1/2005; “Chính sách xã hội trong nền

KTTT xã hội của CHLB Đức và khả năng vận dụng ở Việt Nam”, Nguyễn

Hoàng Mai; Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 3/2005; “Mối quan hệ giữa

chuyển dịch cơ cấu kinh tế với xóa đói giảm nghèo và bất bình đẳng”, Lê

Huy Đức; Tạp chí Kinh tế và dự báo, 2/2004; “Nghịch lý trong tăng trưởng

Trang 14

kinh tế ở Việt Nam”, Trần Văn Tùng Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới,

số 5/2003; “Vấn đề ASXH trong nền kinh thế thị trường ở Việt Nam”, Nguyễn Thị Định Tạp chí Kinh tế và phát triển, 2002; “Bảo đảm ASXH dưới ánh sáng

Đại hội XI của Đảng”, ThS Dương Văn Thắng Tạp chí tuyên giáo số

5,2011; “Bảo đảm ASXH theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng”,

TS Nguyễn Thị Thanh Tạp chí lịch sử Đảng, số 5/2011; “Quan điểm của

Đảng cộng sản Việt Nam về thực hiện ASXH trong thời kỳ đổi mới”, ThS

Nguyễn Văn Chiều Tạp chí Triết học số 1/2011; “ASXH trong sự phát triển

xã hội ở Việt Nam”, TS Mai Ngọc Anh Tạp chí Kinh tế phát triển, số

4/2010; “ASXH trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”, PGS.TS Mạc Văn Tiến Tạp chí BHXH ngày 25/7/2011; “Về xây dựng và hoàn thiện hệ

thống ASXH ở nước ta những năm tới”, GS,TS Mai Ngọc Cường Tạp chí

kinh tế phát triển số 178 (tháng 4/2012)

* Đánh giá tổng quát về các công trình nghiên cứu nói trên:

Các công trình nghiên cứu về chính sách xã hội, hệ thống chính sách ASXH nói chung đã trình bày một cách rõ nét những vấn đề cơ bản của chính sách ASXH trong nền KTTT; thực trạng hệ thống chính sách ASXH ở nước

ta hiện nay; phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam

Vấn đề ASXH có nội hàm rất rộng và có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh CNH – HĐH, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, cho nên nghiên cứu về ASXH vẫn luôn

có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

Đối với các công trình nghiên cứu về chính sách ASXH tại tỉnh Thái

Nguyên: hiện nay, chưa có công trình nào đi vào đánh giá việc thực thi chính

sách ASXH cho người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên một cách cụ thể, toàn diện Trong quá trình hoàn thành luận văn, tác giả có tập trung sưu tầm nhưng chưa gặp đề tài nào về mảng ASXH, đặc biệt là ASXH cho người có

Trang 15

hoàn cảnh khó khăn Chỉ có một vài công trình nghiên cứu là khóa luận tốt nghiệp về chính sách xóa đói giảm nghèo Trong đó có đề cập đến ASXH nhưng

ít và chung chung, chưa đi vào cụ thể, chi tiết và đưa ra giải pháp Vì vậy nghiên cứu Chính sách ASXH cho người có hoàn cảnh khó khăn tại tỉnh Thái nguyên hiện nay là rất cần thiết

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách ASXH và đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay, luận văn đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hệ thống chính sách ASXH cho người

có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là việc thực hiện chính sách ASXH đối với những người có hoàn cảnh khó khăn tại tỉnh Thái Nguyên

4.2 Phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách ASXH đối với những

người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái nguyên trong thời gian từ 2006

(Đại hội X) đến nay

5 Câu hỏi nghiên cứu

1 Thực trạng thực hiện chính sách ASXH cho người có hoàn cảnh khó khăn tại tỉnh Thái nguyên hiện nay như thế nào?

2 Làm gì và làm thế nào để nâng cao hiệu quả thực hiện hệ thống chính sách ASXH, nâng cao đời sống cho người có hoàn cảnh khó khăn tại tỉnh Thái Nguyên trong những năm tới?

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Các chính sách ASXH cho người có hoàn cảnh khó khăn tại tỉnh Thái Nguyên hiện nay đã được thực hiện tương đối tốt, đem lại hiệu quả

Trang 16

góp phần ổn định, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người có hoàn cảnh khó khăn Tuy nhiên quá trình thực hiện chính sách còn có nhiều hạn chế cần khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả

- Để hệ thống chính sách ASXH có hiệu quả hơn thì thực hiện đồng

bộ các giải pháp: phát huy tính chủ động, sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền; tăng cường tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về chính sách an sinh; Tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện chính sách ASXH; sơ kết tổng kết tình hình thực hiện các mục tiêu thực hiện nhiệm vụ ASXH; Tăng cường huy động nguồn lực cho các chương trình ASXH của tỉnh; Kiện toàn bộ máy tổ chức,nâng cao năng lực của cán

bộ làm công tác ASXH; hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống văn bản pháp luật ASXH; Phối hợp triển khai thực hiện một cách đồng bộ giữa

cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm về ASXH với các cơ quan đoàn thể khác như hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên, hội người cao tuổi…

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp, trong đó chú trọng sử dụng nhóm phương pháp: thống kê – so sánh, phân tích – tổng hợp, lịch sử - logic, tổng kết, đánh giá thực tiễn, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Đối với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi tác giả luận văn phát bảng hỏi cho hai đối tượng gồm:

- Đối tượng cán bộ làm công tác ASXH: Tổng số phiếu phát ra là 291 phiếu, tổng số phiếu thu về là 291 phiếu Trong đó số phiếu hợp lệ là 291, phiếu không hợp lệ là 0 phiếu

- Đối tượng hưởng chính sách ASXH: Tổng số phiếu phát ra là 394 phiếu, tổng số phiếu thu về là 394 phiếu Trong đó số phiếu hợp lệ là 394,

số phiếu không hợp lệ là 0 phiếu

- Thời gian phát bảng hỏi 10/2013

Trang 17

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách ASXH và chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách anh sinh xã hội đối với người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên

Chương 3 Quan điểm, giải pháp thực hiện tốt chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn trong thời gian tới

Trang 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ

HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN 1.1 Khái quát chung về ASXH, chính sách ASXH

1.1.1 Khái niệm ASXH

Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động tạo ra được thu nhập Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất hạnh, rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác, chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong… Hơn nữa, cuộc sống của con người trên trái đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống Những điều kiện thiên nhiên và xã hội không thuận lợi đã làm cho một bộ phận dân cư cần phải có sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thường Do đó, để tồn tại và phát triển, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục khó khăn

Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã tự khắc phục, như câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”; đồng thời, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc

Trang 19

sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương

Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ

Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều Bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi

ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Đến cuối những năm 1880, ASXH (lúc này

là BHXH) đã mở ra hướng mới Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên) Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, người khoẻ - người yếu

mà tất cả đều phải tham gia đóng góp

Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu á, châu Phi và vùng Caribê Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ

em mồ côi, người goá bụa và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hoả hoạn… Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dự phòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện

Trang 20

tổ chức, chính trị, kinh tế – xã hội, tài chính và quản lý khác nhau Hệ thống ASXH được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ

Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc

tế ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền

do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội

có quyền hưởng ASXH Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người…” Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 9 bộ phận

Tuy nhiên, cho đến nay, do tính chất phức tạp và đa dạng của ASXH nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này Khái niệm về ASXH cũng còn khá khác biệt giữa các quốc gia

Trong tiếng Anh, ASXH là Social Security và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ

xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩa không hoàn toàn tương đồng nhau Theo nghĩa chung nhất, Social Security là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm,

Trang 21

có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già…Theo nghĩa này thì tầm “ bao” của Social Security rất lớn và vì vậy khi dịch sang tiếng Việt có nhiều nghĩa như trên cũng là điều dễ hiểu Theo nghĩa hẹp, Social Security được hiểu

là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cả,

cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, dịch hoạ…Theo chúng tôi, ASXH mà chúng ta đang nói tới, nên được hiểu theo nghĩa hẹp của khái niệm Social Security này Bên cạnh khái niệm này, từ những cách tiếp cận khác nhau, một số nhà khoa học đưa ra những khái niệm rộng - hẹp khác nhau về ASXH, chẳng hạn: Theo H Beveridge, nhà kinh tế học và xã hội học người Anh (1879-1963), ASXH là sự bảo đảm về việc làm khi người ta còn sức làm việc và bảo đảm một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa

Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu khái quát hơn, đó

là sự bảo đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ

Theo khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đang sử dụng:

“ASXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình

thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngưng hoặc giảm sút đáng

kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và tử vong; sự cung cấp về chăm sóc y tế và các khoản tiền trợ cấp giúp cho các gia đình đông con” [38,tr 11]

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng định nghĩa này làm cơ sở

để triển khai những nội dung tiếp theo

Trang 22

1.1.2 Bản chất của ASXH

Theo khái niệm ASXH ở trên, có thể thấy:

ASXH trước hết đó là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình

Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng

Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội trước những biến cố, những “rủi ro xã hội” dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập… Như vậy, có thể nói, bản chất sâu xa của ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc Có thể thấy rõ bản chất của ASXH từ những khía cạnh sau:

ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con người đã được Liên hợp quốc thừa nhận

Để thấy rõ bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục tiêu của nó Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc

bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình

do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung là những biến cố và những “rủi ro xã hội” Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm

và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau

ASXH, như đã nêu, có nội dung rất rộng lớn, nhưng tập trung vào

ba vấn đề chủ yếu:

Thứ nhất, là trụ cột cơ bản, cần thiết cho sự bảo đảm, đó là sự BHXH

Có thể nói BHXH là xương sống của hệ thống ASXH Chỉ khi có một hệ thống BHXH hoạt động có hiệu quả thì mới có thể có một nền ASXH vững

Trang 23

mạnh BHXH dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia, gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp Thông qua các trợ cấp BHXH, người lao động có được một khoản thu nhập bù đắp hoặc thay thế cho những khoản thu nhập bị giảm hoặc mất trong những trường hợp họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm

Thứ hai, là sự cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người lao động

và các thành viên gia đình họ, nhằm bảo đảm cho họ tái tạo được sức lao động, duy trì và phát triển nền sản xuất xã hội, đồng thời phát triển mọi mặt cuộc sống của con người, kể cả phát triển bản thân con người

Thứ ba, là các loại trợ giúp xã hội (cung cấp tiền, hiện vật…) cho

những người có rất ít hoặc không có tài sản (người nghèo khó), những người cần sự giúp đỡ đặc biệt cho các gánh nặng gia đình… ASXH cũng khuyến khích, thậm chí bao quát cả những loại trợ giúp như miễn giảm thuế, trợ cấp

về ăn, ở, dịch vụ đi lại…

Hệ thống ASXH hiện đại không chỉ là những cơ chế đơn giản nhằm thay thế thu nhập mà đã trở thành những véctơ hỗn hợp của cái gọi là “những chuyển giao xã hội”, tức là những công cụ, những biện pháp phân phối lại tiền bạc, của cải và các dịch vụ xã hội có lợi cho những nhóm người “yếu thế” hơn trong cộng đồng xã hội

Như vậy, có thể thấy rõ bản chất của ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho các thành viên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi

ASXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp

Mỗi người trong xã hội từ những địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo khác nhau… là những hiểu hiện khác nhau của một hệ thống giá trị xã hội Nhưng vượt lên trên tất cả, với tư cách là một công dân, họ phải được bảo đảm mọi mặt để phát huy đầy đủ những khả năng của mình, không phân biệt địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo… ASXH tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm

Trang 24

những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng ASXH kích thích tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả những người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn, giúp họ hướng tới những chuẩn mực của Chân - Thiện - Mỹ Nhờ đó, một mặt có thể chống thói ỷ lại vào xã hội; mặt khác, có thể chống lại được tư tưởng mạnh ai nấy lo, “đèn nhà ai nhà ấy rạng”… ASXH là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí

xã hội… Đồng thời, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, bình yên

ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái của cộng đồng

Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội Sự san sẻ trong cộng đồng, giúp

đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, bảo đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh

ASXH thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội Trên bình diện

xã hội, ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là đối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư

“yếu thế” trong xã hội Trên bình diện kinh tế, ASXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai chiều ngang và dọc Sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự phân phối lại giữa những người khoẻ mạnh và người ốm đau, giữa người đang làm việc và người đã nghỉ việc, giữa người chưa có con và những người

có gánh nặng gia đình Một bên là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ ASXH hoặc đóng thế, còn bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với các điều kiện xác định Thông thường, sự phân

Trang 25

phối lại theo chiều ngang chỉ xảy ra trong nội bộ những nhóm người được quyền hưởng trợ cấp (một “tập hợp đóng” tương đối)

Sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản

và sức mua của những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập quá thấp, cho những nhóm người “yếu thế” Phân phối lại theo chiều dọc được thực hiện bằng nhiều kỹ thuật khác nhau: trực tiếp (thuế trực thu, kiểm soát giá cả, thu nhập và lợi nhuận…) hoặc gián tiếp (trợ cấp thực phẩm, cung cấp hiện vật hoặc các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, nhà ở, giúp đỡ và bảo vệ trẻ em…) Việc phân phối lại theo chiều dọc có ý nghĩa xã hội rất lớn (thực hiện cho một “tập hợp mở” tương đối)

Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện phân phối lại theo chiều dọc còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện tài chính và tổ chức Song cũng có thể có một số biện pháp để thực hiện một số chế độ cho những người có thu nhập thấp thông qua hệ thống đóng góp và hệ thống trợ cấp Những người có thu nhập thấp thường được miễn giảm chế độ đóng góp, hoặc được người chủ sử dụng lao động (kể cả Nhà nước) đóng cho hoàn toàn

Hệ thống trợ cấp cũng lưu ý tới những người có thu nhập thấp (tỷ lệ trợ cấp cao hơn so với những người có thu nhập cao) Sự phân phối theo chiều ngang và theo chiều dọc đã tạo ra một lưới ASXH (social safety net hoặc social security net)

ASXH góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội Sự phát triển của xã hội là một quá trình, trong đó các nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau Sự phát triển của thế giới trong những năm gần đây đặt

ra mục tiêu là bảo đảm những cải thiện nhất định cho hạnh phúc của mỗi người và đem lại những lợi ích cho mọi người; bảo đảm phân phối công bằng hơn về thu nhập và của cải, tiến tới công bằng xã hội; đạt được hiệu quả sản xuất, bảo đảm việc làm, mở rộng và cải thiện về thu nhập giáo dục

và y tế cộng đồng; giữ gìn và bảo vệ môi trường… Đáp ứng những nhu cầu

Trang 26

tối cần thiết cho những người gặp khó khăn, bất hạnh là vấn đề được ưu tiên trong chiến lược phát triển của thế giới Những lưới đầu tiên của ASXH đã bảo vệ, giảm bớt sự khó khăn cho họ Sự phát triển sau này của những lưới khác tạo ra sự đa dạng trong ASXH, giải quyết được những nhu cầu khác nhau của nhiều nhóm người trong những trường hợp “rủi ro

xã hội” Tuy nhiên, phải thấy rằng, ASXH không loại trừ được sự nghèo túng mà chỉ có tác dụng góp phần đẩy lùi nghèo túng, góp phần vào việc thúc đẩy tiến bộ xã hội

ASXH là một tất yếu khách quan trong cuộc sống xã hội loài người Trong bất kỳ xã hội nào, ở bất cứ giai đoạn phát triển nào cũng đều có những nhóm dân cư, những đối tượng rơi vào tình trạng không thể tự lo liệu được cuộc sống, hoặc trong hoàn cảnh gặp sự cố nào đó trở thành những người “yếu thế” trong xã hội Nếu trong xã hội có những nhóm người “yếu thế”, những người gặp rủi ro, bất hạnh thì cũng chính trong xã hội đó lại nẩy sinh những cơ chế hoặc tự phát, hoặc tự giác, thích ứng để giúp đỡ họ Đây là cơ sở để hệ thống ASXH hình thành và phát triển Tất nhiên, ASXH là một quá trình phát triển toàn diện, từ đơn giản đến phức tạp và ngày càng phong phú, đa dạng

1.1.3 Nội dung của ASXH

ASXH gồm những nội dung cơ bản là:

Thứ nhất là BHXH, BHYT Thứ hai là Cứu trợ xã hội Thứ ba là Ưu đãi xã hội Thứ tư là Chính sách xóa đói giảm nghèo

Và thứ năm là Cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản

BHXH, Bảo hiểm y tế

Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

đã mang lại bộ mặt tươi sáng cho sự phát triển toàn diện của đất nước Cùng

Trang 27

với sự phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống ASXH, đặc biệt là chính sách BHXH (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) đóng vai trò trụ cột trong hệ thống ASXH, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH Có thể nói, không

có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh BHXH ra đời và phát triển từ khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở châu Âu BHXH nhằm bảo đảm cuộc sống cho những người công nhân công nghiệp và gia đình họ trước những rủi ro xã hội như ốm đau, tai nạn, mất việc làm…, làm giảm hoặc mất thu nhập Tuy nhiên, cũng do tính lịch sử

và phức tạp của vấn đề, khái niệm BHXH đến nay cũng chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất và gần đây có xu hướng hòa nhập giữa BHXH với ASXH Khi đề cập đến vấn đề chung nhất, người ta dùng khái niệm SOCIAL SECURITY và vẫn dịch là BHXH, nhưng khi đi vào cụ thể từng chế độ thì BHXH được hiểu theo nghĩa của từ SOCIAL INSURANCE Tuy nhiên, sự hòa nhập này không có nghĩa là hai thuật

ngữ này là một Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có thể hiểu BHXH là sự bảo

đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi

họ gặp rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo ASXH [38, tr 19]

BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động và

Trang 28

người lao động, với một phần tham gia của Nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của Quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH…

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm mang tính cộng đồng cao chia

sẻ sâu sắc được áp dụng trong lĩnh vực khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho mọi người , không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế (Luật này đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009)

Chính sách BHXH, BHYT đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống ASXH:

Thứ nhất, thực hiện chính sách BHXH, BHYT nhằm ổn định cuộc

sống người lao động, trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro: ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp… sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm

Theo phương thức BHXH, người lao động khi có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng Quỹ này

hỗ trợ người lao động khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc già cả để duy trì và ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ Do vậy hoạt động BHXH, BHYT, một mặt, đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng người lao động đối với bản thân mình, với gia đình và với cộng đồng, xã hội theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp

Trang 29

nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết, thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững

Trong hoạt động BHXH, BHYT, Nhà nước tiến hành xây dựng chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH, BHYT Như vậy nhà nước giữ vai trò quản lý về BHXH, BHYT, bảo hộ cho quỹ BHXH mà không phải chi từ ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực này Mặt khác, chính sách BHXH, BHYT là bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, giúp Nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trên phương diện vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và giữ gìn ổn định xã hội trong từng thời kỳ cũng như trong suốt quá trình

Chính sách BHYT với mục tiêu thực hiện BHYT toàn dân đã tạo điều kiện cho người dân giảm bớt gánh nặng chi phí khám chữa bệnh do

ốm đau, tai nạn, tạo sự bình đẳng trong khám chữa bệnh BHYT

Thứ hai, thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT, nhất là chế độ hưu

trí, góp phần ổn định cuộc sống của người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động

Theo quy định của Luật BHXH, người lao động tham gia đóng BHXH từ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Hiện nay cả nước có khoảng 2,5 triệu người hết tuổi lao động đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng với số tiền chi trả từ quỹ BHXH hàng nghìn tỷ mỗi tháng

Thứ ba, thực hiện chính sách BHXH, BHYT góp phần ổn định và

nâng cao chất lượng lao động, đảm bảo sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển

Trang 30

Chính sách BHXH, BHYT hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản

“đóng - hưởng” đã tạo ra bước đột phá quan trọng về sự bình đẳng của người lao động về chính sách BHXH, BHYT Khi đó người lao động làm việc ở các thành phần kinh tế, các ngành nghề, địa bàn khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia thực hiện các chính sách BHXH, BHYT Phạm vi, đối tượng tham gia BHXH, BHYT không ngừng được mở rộng đã thu hút hàng triệu người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi BHXH, BHYT, tạo sự an tâm, tin tưởng và yên tâm lao động, sản xuất, kinh doanh

Người lao động tham gia BHXH, BHYT khi ốm đau sẽ được khám chữa bệnh và được quỹ BHXH chi trả phần lớn chi phí; được nhận tiền trợ cấp khi ốm đau không đi làm được, được nghỉ ốm chăm con; khi thai sản được nghỉ khám thai, được nghỉ sinh đẻ và nuôi con, được nhận trợ cấp khi sinh con và trợ cấp thai sản; khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được nhận phần trợ cấp do suy giảm sức lao động do tai nạn, bệnh nghề nghiệp gây ra Ngoài ra, người lao động còn được nghỉ dưỡng sức và phúc hồi sức khỏe sau khi ốm đau, sinh đẻ hay điều trị thương tật nhằm nâng cao thể lực Khi người lao động mất việc làm được hưởng trợ cấp thất nghiệp và được giới thiệu việc làm hoặc gửi đi học nghề để có cơ hội tìm kiếm việc làm mới

Với những quyền lợi của người lao động khi tham gia BHXH, BHYT

đã góp phần thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, giữ gìn và nâng cao thể lực cho người lao động trong suốt quá trình lao động, sản xuất Việc được tham gia BHXH, BHYT khi đang làm việc và hưởng lương hưu sau này đã tạo ra cho người lao động sự hứng khởi, tâm lý ổn định, an tâm vào việc làm mà họ đang thực hiện Thực tế là nhiều doanh nghiệp, khi tuyên truyền quảng cáo tuyển dụng lao động, thì tiêu thức được tham gia BHXH, BHYT cũng là một quyền lợi quan trọng thu hút được nhiều người lao động

Trang 31

Sự an tâm của người lao động cũng như việc bảo vệ sức lao động của

họ thông qua chính sách BHXH, BHYT đã trở thành một chính sách thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, bảo đảm sự ổn định và thúc đẩy sản xuất phát triển

Thứ tư, BHXH, BHYT là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp

phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi phí cho ngân sách Nhà nước, đảm bảo ASXH bền vững

Trên thị trường lao động, “tiền lương là giá cả sức lao động” được hình thành tự phát căn cứ vào quan hệ cung cầu, vào chất lượng lao động cũng như các điều kiện khung mà trong đó Nhà nước chỉ đóng vai trò quản

lý thông qua nhưng quy định về mức lương tối thiểu và những điều kiện lao động cần thiết Quá trình hình thành tiền lương theo thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động và người lao động là sự phân phối lần đầu và phân phối trực tiếp cho từng người lao động Do vậy, người lao động có tay nghề cao, có nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu xã hội sẽ có thu nhập cao

Đó là sự hợp lý, khuyến khích làm giàu chính đáng

Sau khi đã thực hiện thuế thu nhập, Nhà nước sẽ tiến hành phân phối lại thông qua chính sách BHXH, BHYT Khi đó, người có năng lực hơn, nhận được tiền lương cao hơn sẽ đóng góp nhiều hơn cho xã hội để trợ giúp những người “yếu thế” hơn trong xã hội Một bộ phận lao động khác do gặp rủi ro trong cuộc sống như về sức khỏe, về năng lực, về hoàn cảnh gia đình… có việc làm và thu nhập thấp hơn sẽ nhận được các quyền lợi BHXH, BHYT để duy trì cuộc sống Bên cạnh đó, chế độ hưu trí, tử tuất với nguyên tắc tương đồng giữa mức đóng và mức hưởng đã khuyến khích người lao động khi làm việc có thu nhập cao và đóng ở mức cao, với thời gian dài thì sau này sẽ được hưởng tiền lương hưu với mức cao, an tâm nghỉ ngơi khi tuổi già

Trang 32

Như vậy, nguồn để thực hiện chính sách là do người lao động đóng góp, Nhà nước không phải bỏ ngân sách ra nhưng vẫn thực hiện được mục tiêu ASXH lâu dài Trong hệ thống ASXH thì hệ thống BHXH giữ vai trò trụ cột, bền vững nhất Phát triển BHXH sẽ là tiền đề và điều kiện

để thực hiện tốt các chính sách ASXH, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trợ giúp xã hội

Đó là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình

Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng

Hoạt động trợ giúp xã hội có thể biểu hiện ở nhiều chính sách xã hội

có liên quan như: cứu tế xã hội, trợ cấp xã hội, trợ cấp gia đình Những mảng chính sách này có thể do Chính phủ thống nhất ban hành và cũng có thể do chính quyền địa phương quyết định Các chính sách liên quan đến trợ giúp xã hội thường được coi là lưới che chắn thứ hai hoặc thứ ba cho mọi thành viên trong cộng đồng và cũng không nằm ngoài mục đích chung của ASXH

Đặc điểm của trợ giúp xã hội là: Tính pháp lí luôn bị hạn chế do đối tượng rộng, nên phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước; chính sách trợ giúp xã hội có liên quan tới tất cả cộng đồng xã hội không phân biệt vùng miền, tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc hay địa vị xã hội…Hoạt động để thực hiện chính sách trợ giúp xã hội rất phong phú đa dạng Hoạt động này không chỉ được thực hiện bởi Nhà nước, mà còn

Trang 33

được thực hiện bởi các tổ chức kinh tế - xã hội, các đoàn thể và từng cá nhân trong cộng đồng Đồng thời hoạt động trợ giúp xã hội không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà nó còn được thực hiện trên phạm vi quốc tế; Nhà nước thực hiện chính sách trợ giúp xã hội chủ yếu thông qua chính sách thuế để huy động sự đóng góp của các cá nhân, các tổ chức vào ngân sách này để trợ giúp cho những người có hoàn cảnh khó khăn, không may gặp thiên tai, địch họa hoặc lâm vào hoàn cảnh yếu thế không tự lo liệu được cuộc sống của mình

Ƣu đãi xã hội

Đất nước ta trải qua thời kỳ đấu tranh giữ nước chống giặc ngoại xâm kéo dài vì thế khi thống nhất đất nước, ưu đãi người có công là một vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế văn hóa đặc biệt Đến năm 2010, cả nước còn 1,5 triệu người hưởng ưu đãi thường xuyên Ngân sách nhà nước chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng gần 20 tỷ đồng/năm Ưu đãi người có công trong hệ thống ASXH ở Việt Nam luôn là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta

Là chính sách đặc thù dành cho những người hoặc thân nhân những người đã cống hiến, hi sinh cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế

Chính sách ưu đãi xã hội về bản chất là ghi nhận, trân trọng tôn vinh, đền ơn đáp nghĩa với người có công, chăm lo, bù đắp bằng vật chất, tinh thần đối với những cống hiến, đóng góp, hi sinh của người có công cho sự nghiệp cách mạng

Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội là một việc làm tất yếu bởi vì bất

kì chính sách nào xây dựng cũng dựa trên nền tảng được xã hội công nhận Đối với chính sách ưu đãi xã hội, cơ sở nền tảng để xây dựng và thực hiện chính sách là đạo đức xã hội và nguyên tắc công bằng xã hội

Trang 34

Dưới góc độ về đạo đức xã hội, chính sách ưu đãi xã hội thể hiện truyền thống “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc Việt Nam Để có được cuộc sống hòa bình, ổn định, kinh tế phát triển như ngày hôm nay, chúng

ta phải biết ơn và thực hiện đền ơn đáp nghĩa những người đã cống hiến hi sinh giúp đỡ cách mạng hay trực tiếp tham gia cách mạng

Về khía cạnh công bằng xã hội, việc thực hiện chính sách ưu đãi xã hội thể hiện nguyên tắc đóng góp - hưởng lợi Rõ ràng rằng mọi thành quả không tự nhiên mà có mà là kết quả của những đóng góp, cống hiến từ quá khứ Nếu coi thành quả cách mạng là bảo vệ nền độc lập dân tộc, đem lại hòa bình thống nhất đất nước, làm cho đất nước không ngừng phát triển thì những người đóng góp cho sự phát triển đó có quyền hưởng lợi từ thành quả đạt được Như vậy việc người có công với cách mạng hưởng chính sách ưu đãi mang ý nghĩa công bằng xã hội

Việc luận giải cơ sở thực hiện chính sách ưu đãi xã hội nêu trên không chỉ

để khẳng định sự cần thiết thực hiện chính sách mà còn là cơ sở để xây dựng cách tiếp cận xây dựng, thực hiện chính sách ưu đãi xã hội Mặc dù chính sách

ưu đãi xã hội được xây dựng trên hai khía cạnh nhưng khía cạnh đạo đức, tinh thần vẫn giữ vị trí, ý nghĩa quan trọng bởi sự cống hiến hi sinh của những người

có công với cách mạng là không thể đo đếm để có thể bù đắp (theo nguyên tắc công bằng như phân phối quyền lợi trong kinh tế) được

Đối tượng hưởng chính sách ưu đãi xã hội được phân tách theo các tiêu chí sau:

Phân theo đối tượng trực tiếp hay gián tiếp: chính sách ưu đãi xã hội hướng tới cả đối tượng trực tiếp tham gia cách mạng, đồng thời với đối tượng là thân nhân của những người có công với cách mạng Theo cách phân nhóm này thì nhóm hưởng lợi trực tiếp là người có công bao gồm: thương binh, anh hùng, thanh niên xung phong, cán bộ tiền khởi nghĩa; nhóm đối tượng là thân nhân như gia đình liệt sĩ, mẹ Việt nam anh hùng…

Trang 35

Phân theo hình thức cống hiến, mức độ hi sinh: Rất nhiều hình thức cống hiến, hi sinh cho cách mạng của người có công như hi sinh tính mạng (liệt sĩ), một phần xương máu (thương binh), một thời tuổi trẻ (thanh niên xung phong)…

Việc xem xét theo nhóm đối tượng với những tiêu chí khác nhau là

cơ sở để xác định cách tiếp cận xây dựng, thực hiện chính sách ưu đãi xã hội một cách phù hợp đạo lý và nguyên tắc công bằng xã hội

Như đã trình bày ở trên cơ sở lý luận xây dựng và thực hiện chính sách xã hội dựa trên nền tảng tư tưởng là truyền thống uống nước nhớ nguồn và nguyên tắc công bằng xã hội (hay quyền được hưởng) Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là chính sách ưu đãi thực hiện như thế nào? Mức độ

ưu đãi ra sao? Lại phụ thuộc vào cơ sở thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước và đời sống của các đối tượng chính sách ưu đãi xã hội

Chính sách ưu đãi xã hội trong những năm qua đã đạt nhiều kết quả và thành tựu đáng ghi nhận, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nâng cao mức sống người có công và gia đình, phù hợp với khả năng của nền kinh tế qua các thời kỳ, đặc biệt là qua các lần cải cách tiền lương, BHXH và ưu đãi người có công Trong thời gian tới cần tích cực giải quyết và khắc phục những điểm hạn chế, bất cập của chính sách và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng tiếp tục thực hiện cải cách ưu đãi người có công; xử lý dứt điểm các trường hợp còn tồn đọng về xác nhận, công nhận người có công đồng thời bổ sung thêm đối tượng người có công mới; giải quyết nhu cầu

về nhà ở, việc làm cho gia đình người có công và mở rộng phong trào xã hội hóa công tắc chăm sóc người có công

Xóa đói giảm nghèo

Theo Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương:

“nghèo đói là trạng thái một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được

Trang 36

xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”

Ở Việt Nam, nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có

khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện (nguồn: chinhphu.vn) Theo chương trình xóa đói giảm nghèo và phương hướng từ

năm 2006 - 2010 của Thủ tướng Chính phủ, đói là tình trạng một bộ phận

dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật

chất để duy trì cuộc sống Hộ nghèo là những hộ có thu nhập bình quân

đầu người trong hộ dưới ngưỡng nghèo đói

Về chuẩn mực nghèo đói ở Việt Nam, có thể thấy giai đoạn

2006-2010 (theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 08/7/2005) chuẩn nghèo áp dụng cho hai khu vực, ở khu vực nông thôn thu nhập bình quân 200.000 đồng/người/tháng được xếp vào diện hộ nghèo, ở khu vực thành thị thu nhập bình quân 260.000 đồng/người/tháng được xếp vào diện hộ nghèo; giai đoạn 2011-2015 mức chuẩn này tăng lên (theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 21/99/2010): khu vực nông thôn thu nhập bình quân 400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) được xếp vào diện hộ nghèo, khu vực thành thị thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/tháng (6.000.000 đồng/người/năm) được xếp vào diện hộ nghèo)

Chính sách xóa đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của Nhà nước và xã hội hướng vào người nghèo hay là của chính những đối tượng diện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để họ tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo đã được quy định

Công tác xóa đói giảm nghèo luôn là vấn đề hết sức quan trọng, thể hiện tinh thần, sự quyết tâm của chính phủ đồng thời cũng là việc thể chế

Trang 37

hóa các quan điểm, nghị quyết của Trung ương Đảng về sự phát triển kinh

tế đất nước gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo ASXH trong đó nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo luôn được coi là vấn đề nhiều khó khăn và thách thức nhất

Xóa đói giảm nghèo đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm

từ rất sớm, sau Cách mạng tháng Tám 1945, trong bối cảnh thiếu lương thực trầm trọng trên phạm vi cả nước, đói được xem là giặc, “diệt giặc đói” đã trở thành khẩu hiệu trong tăng gia sản xuất

Đến thời kỳ đổi mới và mở cửa, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh mẽ, nhưng cùng với tăng trưởng là phân hóa giàu nghèo có xu hướng ngày càng tăng và xóa đói giảm nghèo đã chính thức trở thành một chương trình nghị sự quốc gia vào những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ

XX Đánh dấu bằng chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 sau đó là giai đoạn 2001-2005, 2006-2010…và những cam kết quốc tế về thực hiện mục tiêu giảm nghèo

Nhờ tác động của tăng trưởng và các chương trình giảm nghèo, nghèo đói ở Việt Nam dù xem xét theo bất kỳ chuẩn nào đều đã giảm một cách ấn tượng Theo chuẩn nghèo của ngân hàng thế giới và Tổng cục Thống kê (sử dụng phân tích mức sống dân cư Việt Nam), tỷ lệ nghèo của Việt Nam đã giảm từ 37,4 % năm 1998 xuống còn 16% năm 2006 và khoảng 14% năm

2008 Theo chuẩn nghèo quốc gia (điều chỉnh tăng theo từng giai đoạn), tỷ

lệ hộ nghèo đã giảm từ 15,7% năm 1998 xuống còn 10% năm 2000 (theo chuẩn nghèo giai đoạn 1998 - 2000), từ 17,2 năm 2001 xuống còn 10% năm 2005 (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2001 - 2005) và từ 20% đầu năm

2006 xuống khoảng 10-11% năm 2009 (theo chuẩn nghèo giai đoạn

2006-2010 Tình trạng nghèo đã được giảm ở cả nông thôn và thành thị, đồng bằng và miền núi, các nhóm dân tộc thiểu số

Trang 38

Tình trạng nghèo lương thực thực phẩm (theo chuẩn 2100 Kcalo) gần như đã được xóa bỏ ở thành thị - năm 2008, tỷ lệ nghèo lương thực thực phẩm đã giảm xuống còn khoảng 1% ở thành thị và khoảng 6% ở nông thôn; thành tích xóa bỏ tình trạng đói kinh niên (theo chuẩn nghèo quốc gia) đã được công bố trong báo cáo tổng kết thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 -2000 Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo trước thời hạn và là quốc gia điển hình về giảm nghèo trên thế giới Chất lượng cuộc sống của người dân trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là người nghèo được cải thiện đáng

kể thông qua các chỉ số cơ cấu chi tiêu, tỉ lệ thất học, tỉ lệ tốt nghiệp các cấp, cấp thẻ bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh, cải thiện nhà ở, dạy nghề tăng cường công trình giao thông và các cơ sở hạ tầng thiết yếu khác…

Thu nhập của nhóm dân cư thu nhập thấp đã tăng lên - phân phối thu nhập dân cư đã có những thay đổi đáng kể theo hướng tỷ lệ người có mức thu nhập thấp giảm xuống Tình trạng bất bình đẳng không bị trầm trọng hóa như nhiều nước đang phát triển phải đối mặt - chỉ số GINI chi tiêu của Việt Nam chỉ giao động trong khoảng 0,35 - 0,37 trong nhiều năm qua Giảm nghèo tới thời điểm hiện nay không chỉ đơn giản là hướng đến mục tiêu xóa đói, giảm số hộ, số người hay tỷ lệ hộ nghèo, thu nhập thấp mà đã bắt đầu phát triển đến các khía cạnh chi phí tiền tệ là một trụ cột để giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển bền vững

Giảm nghèo nhanh trong những năm qua là kết quả của những chủ trương lớn, chính sách hiệu quả và là thành quả của những nỗ lực của toàn

xã hội, đặc biệt là của chính phủ trước hết là thông qua các chính sách đầu

tư, tăng trưởng hướng đến mục tiêu giảm nghèo và sau đó là các chương trình giảm nghèo hay đảm bảo công bằng xã hội và ASXH

Trang 39

Tuy nhiên, nhiều báo cáo, nghiên cứu đã đề cập đến những hạn chế trong xóa đói giảm nghèo những năm qua, có thể tổng hợp một số hạn chế liên quan đến thiết kế và điều hành như sau:

Không thể tách biệt được mức độ đóng góp của các chương trình giảm nghèo và tăng trưởng trong kết quả giảm nghèo Nhiều ý kiến cho rằng tăng trưởng đã và đang đóng vai trò tác động chủ đạo đến giảm nghèo Các chương trình giảm nghèo chủ yếu là mang tính hỗ trợ Bằng chứng cụ thể là giai đoạn 1993-1998, mặc dù không có các chương trình giảm nghèo, nhưng nghèo đói vẫn giảm mạnh Do vậy cần phải có những thay đổi hợp lý trong thiết kế chương trình hỗ trợ thực hiện mục tiêu giảm nghèo (khác với các chương trình thực hiện mục tiêu theo cách thông thường như hiện nay) Việc đồng thời thực hiện quá nhiều chương trình, chính sách, dự án về giảm nghèo như một năm vừa qua dễ dẫn đến tình trạng chồng chéo, quản lý không hiệu quả, lãng phí nguồn lực, đặc biệt là những nơi thiếu năng lực nhất là năng lực cán bộ Năm 2008, ngoài 3 chương trình, chính sách lớn là chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010; chương trình 135 giai đoạn II, Nghị quyết 30a/2008/NQ còn gần 40 chương trình, chính sách, dự án khác liên quan trực tiếp đến các mục tiêu giảm nghèo Điều này đòi hỏi phải có những thay đổi hợp lý hơn trong điều hành vĩ mô về giảm nghèo

Việc thiết kế nhiều chương trình cũng đã bộc lộ những hạn chế Một

số chương trình thiếu luận chứng kỹ thuật về quan hệ giữa mục tiêu đề ra

và các hoạt động, cũng như công tác tổ chức hay bố trí ngân sách (ví dụ: mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm của các tỉnh gần như không có mối liên hệ kỹ thuật với ngân sách đầu tư) Điều này đòi hỏi phải thay đổi phương pháp tiếp cận và nâng cao năng lực thiết kế các chương trình, chiến lược Tính gắn kết mục tiêu giảm nghèo với các chương trình, chiến lược phát triển chung đã được thể hiện, cụ thể như chiến lược tăng trưởng

Trang 40

và giảm nghèo toàn diện Triển khai thực tế ở các địa phương chưa thực sự

rõ ràng, ví dụ như lồng ghép giảm nghèo với các chương trình phát triển nông nghiệp, phát triển nông thôn mới, dạy nghề và tạo việc làm …phối hợp trong triển khai các hợp phần khác nhau trong cùng một chương trình cũng có nhiều khó khăn, bất cập – ví dụ giữa phối hợp phần khuyến nông với chính sách tín dụng trong khuôn khổ chương trình mục tiêu quốc gia

về giảm nghèo… Điều này đòi hỏi phải có những thay đổi hợp lý trong công tác điều hành tổ chức thực hiện

Công tác giảm nghèo đã được quan tâm nhưng chưa thực sự được đầu

tư, kiện toàn hợp lý, đặc biệt là ở cấp huyện và xã Bên cạnh đó là hệ thống

cơ chế “cứng nhắc”, đặc biệt là cơ chế tài chính đã và đang hạn chế tính sáng tạo hiệu quả của các ý tưởng và giải pháp Công tác theo dõi, giám sát, đánh giá thực hiện các chương trình giảm nghèo thiếu tính hệ thống và hiệu quả thấp Quản lý không tốt không chỉ là hiệu quả thấp mà còn có thể dẫn đến tình trạng tham nhũng Điều này đòi hỏi có những thay đổi hợp lý hơn trong thiết kế hệ thống tổ chức, hệ thống theo dõi giám sát Năng lực người nghèo (vốn nhân lực, vốn xã hội, tài chính, tài sản…) thực sự còn nhiều hạn chế, khó tham gia vào các chuỗi sản xuất có giá trị gia tăng cao nên thu nhập thấp và không ổn định, nên rất dễ bị ảnh hưởng từ các cú sốc Tình trạng tái nghèo vẫn khá phổ biến, đặc biệt tập trung ở những vùng thiên tai Mặt khác, năng lực thấp dẫn đến tình trạng tham gia quá trình quyết định của người nghèo chỉ mang tính hình thức Điều này đòi hỏi có những thay đổi hợp lý về cách tiếp cận và các phương pháp hỗ trợ hiệu quả Tăng trưởng

và phát triển không đều và giảm nghèo chưa hiệu quả ở một số nơi đang tạo ra bức tranh tình trạng nghèo “co cụm” ngày càng rõ ràng ở một số vùng, đặc biệt là những vùng thiếu các nguồn lực và điều kiện phát triển (ví dụ: 62 huyện nghèo) Điều này đòi hỏi tiếp tục có những thay đổi trong cách tiếp cận giảm nghèo theo vùng trọng điểm, có ưu tiên Tình trạng rò

Ngày đăng: 28/06/2023, 15:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tuấn Anh (2000), Thử nêu một số giải pháp nhằm hạn chế các sai sót trong việc thực hiện chính sách thương binh liệt sỹ, Tạp chí Lao động và Xã hội, 7/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nêu một số giải pháp nhằm hạn chế các sai sót trong việc thực hiện chính sách thương binh liệt sỹ
Tác giả: Tuấn Anh
Năm: 2000
2. Trọng Anh, Những thương binh, gia đình liệt sỹ làm kinh tế giỏi . Nhân dân, 16/6/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thương binh, gia đình liệt sỹ làm kinh tế giỏi
3. BHXH Việt Nam (1998), Hệ thống văn bản pháp quy về BHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản pháp quy về BHXH
Tác giả: BHXH Việt Nam
Năm: 1998
4. BHXH Việt Nam (1998), Thực trạng quản lý thu BHXH và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý thu BHXH và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu
Tác giả: BHXH Việt Nam
Năm: 1998
5. BHXH Việt Nam (1999), Chiến lược phát triển BHXH phục vụ mục tiêu kinh tế và xã hội đến năm 2000, Tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học, Hà Nội, 12/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển BHXH phục vụ mục tiêu kinh tế và xã hội đến năm 2000, Tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học
Tác giả: BHXH Việt Nam
Năm: 1999
7. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1996), Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về lao động thương binh xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về lao động thương binh xã hội
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 1996
8. Bộ Lao động thương binh và xã hội (1997), Báo cáo một số vấn đề về công tác thương binh xã hội, tình hình hoạt động và sự cần thiết đổi mới các trung tâm bảo trợ xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo một số vấn đề về công tác thương binh xã hội, tình hình hoạt động và sự cần thiết đổi mới các trung tâm bảo trợ xã hội
Tác giả: Bộ Lao động thương binh và xã hội
Năm: 1997
9. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (1999), Người cao tuổi Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 1999
10. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (1999), Số liệu hệ thống ASXH Việt Nam, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu hệ thống ASXH Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 1999
11. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (2000), Thống kê lao động, thương binh và xã hội năm 1999, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê lao động, thương binh và xã hội năm 1999
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2000
12. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (2003), Niên giám thống kê lao động, thương binh và xã hội năm 2002, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê lao động, thương binh và xã hội năm 2002
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2003
13. Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê (2003), Hội nghị công bố số liệu Điều tra y tế quốc gia 2001-2002. Melia, Hà Nội, 25/9/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị công bố số liệu Điều tra y tế quốc gia 2001-2002
Tác giả: Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê
Năm: 2003
14. Chính phủ (2007), Nghị định số 67/2007/ NĐ – CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ “về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
15. Chính phủ (2007), Nghị định số 190/2007/ NĐ – CP ngày 28/12/2007 của Chính phủ “hướng dẫn một số diều của luật BHXH về BHXHTN” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “hướng dẫn một số diều của luật BHXH về BHXHTN
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
17. Cục Thương binh liệt sỹ và người có công, Bộ Lao động, thương binh và xã hội (1999), Đề án tính bù giá 20% điều chỉnh trợ cấp đối tượng người có công hưởng trợ cấp thường xuyên hàng tháng, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tính bù giá 20% điều chỉnh trợ cấp đối tượng người có công hưởng trợ cấp thường xuyên hàng tháng
Tác giả: Cục Thương binh liệt sỹ và người có công, Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Năm: 1999
18. Bùi Thế Cường (Chủ biên) (1994), Người cao tuổi và ASXH. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi và ASXH
Tác giả: Bùi Thế Cường (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1994
19. Phạm Kiên Cường (2000), Chính sách xã hội mới và những vấn đề bất cập, Viện Xã hội học, 14/7/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xã hội mới và những vấn đề bất cập
Tác giả: Phạm Kiên Cường
Năm: 2000
20. Bùi Thế Cường (2001), Già hoá dân số Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với chính sách người cao tuổi, Trong : Tạp chí Xã hội học số 1/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hoá dân số Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với chính sách người cao tuổi
Tác giả: Bùi Thế Cường
Năm: 2001
21. Bùi Thế Cường (2002a), Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập niên 90, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập niên 90
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
22. Bùi Thế Cường (Chủ biên) (2002b), Phúc lợi xã hội châu á - Thái Bình Dương, Phúc lợi doanh nghiệp, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phúc lợi xã hội châu á - Thái Bình Dương, Phúc lợi doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w