Trong lĩnh vực Công Nghệ Thông Tin nói riêng, yêu cầu quan trọng nhất của người học đó chính là thực hành. Có thực hành thì người học mới có thể tự mình lĩnh hội và hiểu biết sâu sắc với lý thuyết. Với ngành mạng máy tính, nhu cầu thực hành được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, trong điều kiện còn thiếu thốn về trang bị như hiện nay, người học đặc biệt là sinh viên ít có điều kiện thực hành. Đặc biệt là với các thiết bị đắt tiền như Router, Switch chuyên dụng
Dạy học hình học không gian theo hướng gắn liền với thực tế
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học và nội dung sách giáo khoa, nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức và kỹ năng, sẵn sàng áp dụng vào thực tiễn Điều này tạo điều kiện cho học sinh tiếp tục học tập hoặc tham gia vào thị trường lao động Sách giáo khoa cần làm rõ ý nghĩa và ứng dụng của kiến thức, đồng thời chú trọng đến mối quan hệ liên môn, đặc biệt trong việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học môn Toán.
Toán học có nguồn gốc thực tiễn sâu sắc, ví dụ như hình học ra đời từ nhu cầu đo đạc lại ruộng đất sau các trận lụt trên bờ sông Nile ở Ai Cập.
Toán học phản ánh thực tiễn cuộc sống qua các phương pháp chứng minh thuận và đảo Chúng ta thường được khuyên rằng "nghĩ đi rồi nghĩ lại" và "có qua có lại", điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét và đánh giá kỹ lưỡng trong mọi quyết định.
“sống phải có trước có sat
Toán học có nhiều ứng dụng thực tiễn, bắt đầu từ việc tính thể tích của các khối nước, quả cầu và quả bóng Để giải quyết vấn đề này, cần phát triển một công thức tính toán chung.
Nhiều giáo viên đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học toán, chú trọng phát huy tính tích cực của học sinh và tăng cường ứng dụng thực tế vào nội dung môn học Trong dạy học hình học không gian, giáo viên sử dụng hình ảnh trực quan và ví dụ minh họa cụ thể, yêu cầu học sinh tìm kiếm hình ảnh liên quan đến các khái niệm như mặt phẳng, đường thẳng, quan hệ vuông góc, quan hệ song song, các đa diện, khối tròn xoay và khối cầu Học sinh cũng được khuyến khích tạo ra các sản phẩm và mô hình về hình học không gian Tuy nhiên, sách giáo khoa chỉ cung cấp ít bài tập ứng dụng kiến thức vào giải quyết các bài toán thực tế.
Trong các đề kiểm tra và thi, giáo viên đã sử dụng các hình thực tế và bài toán có nội dung thực tế để kiểm tra học sinh, như thể tích các khối đa diện, mặt cầu, mặt trụ, mặt nón và diện tích xung quanh các hình tương ứng Hiện nay, nhờ vào sự hỗ trợ của các phần mềm dạy học toán như Cabri, Geogebra và Geometer's Sketchpad, giáo viên có thể minh họa nhiều hình ảnh trực quan hơn cho học sinh Số lượng câu hỏi thực tế trong các đề kiểm tra ngày càng tăng, đặc biệt là trong các bài thi trắc nghiệm, giúp học sinh vận dụng kiến thức hình học không gian vào giải quyết các bài toán thực tế, từ đó phát huy khả năng tư duy, tìm tòi và sáng tạo của học sinh.
Chủ đề mặt tròn xoay trong chương trình và sách giáo khoa môn toán
Phân phối chương trình trung học phổ thông dạy học chủ đề mặt tròn xoay
Theo phân phối chương trình dạy học môn Toán -THPT của Sở GD & ĐT
Chương II hình học lớp 12 tại Quảng Trị bao gồm 11 tiết học cho cả hai ban cơ bản và nâng cao, trong đó chủ đề mặt tròn xoay chiếm 6 tiết Dưới đây là thông tin chi tiết được thể hiện qua hai bảng.
Bảng 1.1 Trích PPCT chuẩn môn Toán lớp 12 (Sở GD& ĐT Quảng Trị)
TIẾT PPCT BÀI DẠY GHI CHỮ
Chương II: MẶT NÓN, MẶT TRỤ, MT CÂU (11 tiếp
Tiết 12, 13, 14 | $1 Khái niệm về mặt tròn xoay | Bài tập cân làm (tr39): 2, 3, 5, 7, 8, 9
Bang 1.2 Trích PPCT nâng cao môn Toán lớp 12 (Sở GD& ĐT Quảng Trị)
Chương II: Mặt cầu, mặt trụ, mặt nón (II tiếp)
Tiet 18 §2 Khái niệm về mặt tròn xoay
Tiết 19, 20 §3 Mặt trụ, hình trụ và khôi trụ
Tiet 21, 22 §4 Mặt nón, hình nón và khôi nón
Tiế 23,24 _ | Câu hỏi và bài tập ôn tập chương II 1.3.2.2 Mục tiêu chương trình dạy học chủ đề mặt tròn xoay lớp 12
~ HS nắm được khái niệm chung về mặt tròn xoay
~ HS hiểu được khái niệm mặt nón tròn xoay, phân biệt được các khái niệm: mặt nón tròn xoay, hình nón tròn xoay, khối nón tròn xoay
~ HS biết công thức tính diện tích xung quanh hình nón tròn xoay
~ HS biết công thức tính thể tích khối nón tròn xoay
~ HS hiểu được khái niệm mặt trụ tròn xoay, phân biệt được các khái niệm mặt trụ tròn xoay, hình trụ tròn xoay, khối trụ tròn xoay
~ Biết công thức tính diện tích xung quanh hình trụ tròn xoay, thể tích khối trụ tròn xoay
~ HS biết được liên hệ được các vấn đề trong thực tế về mặt tròn xoay
Học sinh cần nắm vững kiến thức về mặt nón cụt tròn xoay, bao gồm công thức tính diện tích xung quanh và thể tích của khối nón cụt Việc hiểu rõ các công thức này sẽ giúp học sinh áp dụng vào các bài toán thực tế một cách hiệu quả.
~ Vẽ thành thạo hình nón, hình trụ, hình nón cụt
~ Tính được diện tích xung quanh của hình nón, hình nón cụt
Mục tiêu chương trình dạy học chủ đề mặt tròn xoay lớp 12
- Tính được diện tích xung quanh hình trụ tròn xoay, thể tích khối trụ tròn xoay lải được các bài tập, giải quyết được các vấn để thực tế
- Liên hệ được các bài toán thực tế và kiến thức toán đã được học
~ Phát triển các kĩ năng thuyết trình, làm việc nhóm
~ Rèn luyện tính cân thận, chính xác, hứng thú với môn học
- Tư duy các vấn đề toán học một cách lôgic và hệ thống
~ Rèn luyện tỉnh thần tự học, tự tin của HS khi phát biểu, làm bài tập
~ HS biết hợp tác với HS khác khi làm việc nhóm.
Thực trạng dạy học theo dự án và năng lực giải quyết vấn đề thực tế của học
1.3.3.1 Thực trạng dạy học theo dự án ở một trường trung học phổ thông Tỉnh Quảng Trị
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng việc DHTDA của giáo viên Toán ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
Khảo sát được thực hiện thông qua phiếu điều tra (phụ lục 1) vào tháng 11 năm 2017, với sự tham gia của 36 giáo viên bộ môn Toán tại các trường THPT ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Kết quả điều tra cho thấy, 100% giáo viên đã nghe nói đến DHTDA, tuy nhiên, 17% giáo viên chưa hiểu rõ về khái niệm này Trong khi đó, 58% giáo viên đã hiểu nhưng chưa áp dụng, và chỉ có 25% giáo viên hiểu rõ và đã vận dụng DHTDA Điều này cho thấy có đến 75% giáo viên chưa sử dụng DHTDA trong thực tế.
Giáo viên thỉnh thoảng sử dụng DHTDA, chủ yếu trong các tiết thao giảng, thi GVDG và chuyên đề DHTDA được áp dụng cho một số nội dung như hệ thức lượng trong tam giác, thống kê lớp 10, hình học không gian và xác suất lớp 11.
Nhiều giáo viên cho biết nguyên nhân chưa thực hiện dạy học theo dự án (DHTDA) hoặc đã thực hiện nhưng chưa đạt hiệu quả là do thiếu đào tạo chuyên sâu về DHTDA (82%) và chưa có bài dạy mẫu để tham khảo (30%) Ngoài ra, các phương pháp giảng dạy và nội dung toán học cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp dạy, trong khi học sinh chưa có đủ kỹ năng cần thiết.
Trong bối cảnh 14 tham gia học theo dự án, DHTDA tập trung vào việc phát triển năng lực học sinh, trong khi kiểm tra đánh giá lại chủ yếu nặng về kiến thức và tính toán Do đó, nhiều giáo viên đề xuất rằng Sở GD & ĐT và nhà trường cần tạo điều kiện cho các buổi dạy học thử nghiệm, có sự tham gia và góp ý của chuyên gia Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cần xem xét thay đổi phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh, với 11% giáo viên cho rằng cần thay đổi chương trình và sách giáo khoa, trong khi 25% giáo viên cho rằng cần cải cách cách thức kiểm tra, đánh giá học sinh.
Năng lực giải quyết vấn đề thực tế của học sinh trung học phổ thông là một yếu tố quan trọng cần được điều tra Việc đánh giá thực trạng năng lực giải quyết vấn đề không chỉ giúp hiểu rõ hơn về khả năng của học sinh mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Chúng tôi đã xây dựng phiếu điều tra tham khảo cho 146 học sinh lớp 12 từ 2 trường THPT Vĩnh Định và THPT Nguyễn Hữu Thận tại tỉnh Quảng Trị, bao gồm 2 lớp thực nghiệm và 2 lớp đối chứng Kết quả thu được sẽ được trình bày trong bài viết.
54% học sinh có thái độ tiêu cực khi đối mặt với các tình huống khó khăn trong học tập và giải quyết vấn đề Những học sinh này thường không nhận ra vấn đề hoặc cần sự gợi ý để nhận diện Họ không biết cách bắt đầu quá trình giải quyết vấn đề và thiếu tự tin, thường phải nhờ sự hỗ trợ từ bạn bè hoặc giáo viên.
33% học sinh đôi lúc có phương pháp giải quyết vấn đề tốt, nhưng cũng có lúc không Học sinh hiểu những gì cần làm và biết cách tìm tòi để giải quyết vấn đề Tuy nhiên, họ không luôn tuân theo kế hoạch đã đặt ra, chưa biết cách lập kế hoạch để giải quyết vấn đề và không đánh giá kết quả sau khi thực hiện nhiệm vụ.
25% học sinh có khả năng nhận diện các tình huống vấn đề và tìm kiếm giải pháp cho nhiệm vụ được giao Họ biết tham khảo ý kiến bạn bè và xem xét lại kết quả đạt được Tuy nhiên, học sinh cần thời gian để hiểu vấn đề, nắm rõ các tiêu chí cho quyết định tốt và tạo ra những lựa chọn hợp lý.
90% các em HS đều cho rằng năng lực GQVĐ là rất cần thiết với bản thân 42
Theo khảo sát, 26% học sinh tự đánh giá năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) của mình ở mức độ trung bình, trong khi 19% cho rằng mình có năng lực GQVĐ khá Đáng chú ý, 11% học sinh cảm thấy mình còn yếu trong khả năng này, 2% tự tin cho rằng mình có năng lực GQVĐ tốt, và chỉ 2% học sinh tự nhận mình có năng lực GQVĐ xuất sắc.
Trong quá trình giải quyết bài toán thực tế, có 13% học sinh bỏ qua mà không suy nghĩ, 35% cảm thấy xa lạ với các bài toán thường gặp và ngại suy nghĩ, 20% không liên hệ được bài toán thực tế với kiến thức toán đã học, trong khi 32% học sinh đọc đề và tìm cách giải quyết vấn đề Tuy nhiên, đa số học sinh đều cảm thấy hứng thú khi các bài toán thực tế được áp dụng trong quá trình học toán.
Học sinh cho rằng nguyên nhân chính là do thiếu thử thách từ các tình huống thực tiễn trong cuộc sống và học tập Việc học chủ yếu dựa vào lý thuyết khô khan, ít liên hệ với thực tế, khiến cho kiến thức không được áp dụng vào cuộc sống Hệ thống kiểm tra và thi cử hiện tại khuyến khích học sinh làm nhiều bài tập mà không cần phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tế Nhiều học sinh còn chưa nhận thức rõ về năng lực của bản thân và không đánh giá chính xác khả năng của mình.
1.4 Nhận xét và đặt vấn đề nghiên cứu
Dạy học toán ở trường phổ thông hiện nay chú trọng phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh, đồng thời phát triển khả năng giải quyết vấn đề và ứng dụng toán học vào thực tiễn.
Nguyễn Thị Duyến (2015) nhấn mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học toán, tập trung vào các phương pháp tích cực như dạy học giải quyết vấn đề, khảo sát toán, dạy học hợp tác và dạy học theo dự án, nhằm nâng cao hiệu quả học toán cho học sinh Dạy học theo dự án (DHTDA) cho phép người học thực hiện nhiệm vụ học tập phức hợp, kết hợp lý thuyết và thực hành, đồng thời yêu cầu sự kết hợp kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm từ nhiều lĩnh vực khác nhau Học sinh tự lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá kết quả và tạo ra sản phẩm phù hợp với mục tiêu đề ra Phương pháp này không chỉ giúp học sinh mở rộng kiến thức trong toán mà còn trong các lĩnh vực khoa học khác, đồng thời phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề, hợp tác, giao tiếp, nghiên cứu và tự học, những kỹ năng cần thiết để thích ứng với sự thay đổi trong thời đại thông tin hiện nay.
Tiểu kết chương L _—
Trong chương này, chúng tôi đã trình bày các nghiên cứu về DHTDA, đặc biệt là trong giáo dục toán học, với trọng tâm là mặt tròn xoay trong chương trình và sách giáo khoa Chúng tôi cũng đã phân tích thực trạng dạy học theo dự án và năng lực giải quyết vấn đề thực tế của học sinh lớp 12 tại một số trường ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Ngoài ra, mục tiêu, câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu cùng với bố cục luận văn cũng đã được nêu rõ Nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu sẽ được trình bày trong chương tiếp theo.
CHƯƠNG 2 TÔNG QUAN VÁN ĐÈ NGHIÊN CỨU
2.1 Dạy học học theo dự án
2.1.1 Khái niệm dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án (DHTDA) là một phương pháp dạy học tích cực, được áp dụng trong nhiều môn học với nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau Theo K Frey (2005), một nhà nghiên cứu giáo dục người Đức, DHTDA được xem như một con đường giáo dục, là hình thức hoạt động học tập có tác dụng giáo dục Điều quan trọng là các nhóm học sinh xác định chủ đề học tập, thống nhất nội dung, tự lập kế hoạch và thực hiện công việc để tạo ra một sản phẩm có ý nghĩa.
Theo Sylvester (2007), DHTDA là phương pháp dạy học khác biệt so với các phương pháp truyền thống, tập trung vào việc thực hiện các dự án thực tế mà học sinh có thể gặp trong cuộc sống hàng ngày Qua việc giải quyết vấn đề trong dự án, học sinh không chỉ tạo ra sản phẩm có thể trình bày mà còn phát triển các kỹ năng mềm cho bản thân Thomas (1998) cũng đã đưa ra định nghĩa về DHTDA.
DHTDA là mô hình học tập dựa trên dự án, trong đó người học tham gia vào các nhiệm vụ phức tạp thông qua việc giải quyết các câu hỏi thách thức Mô hình này khuyến khích người học ra quyết định và thực hiện các hoạt động điều tra, tạo cơ hội cho họ làm việc chủ động trong một khoảng thời gian nhất định Kết quả cuối cùng của dự án thường là các sản phẩm thực tế hoặc bài thuyết trình.
Theo tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo (2009), DHTDA là phương pháp dạy học kết hợp lý thuyết và thực tiễn thông qua nhiệm vụ học tập phức hợp Người học thực hiện nhiệm vụ này với tính tự lực cao, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh và đánh giá kết quả Sản phẩm cuối cùng của dự án là những sản phẩm có thể trình bày và giới thiệu.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa và hiểu khác nhau về DHTDA từ các nhà nghiên cứu giáo dục trên toàn cầu và tại Việt Nam, nhưng họ đều đồng thuận về một số điểm chung.
~ DHTDA là hình thức tổ chức dạy học hướng vào người học, lấy người học làm trung tâm
Trong DHTDA, người học chủ động nghiên cứu và thực hiện nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của giáo viên hoặc do giáo viên và người học cùng đề xuất, nhằm phát triển kiến thức và kỹ năng cần thiết.
~ Các hoạt động học tập trong DHTDA được thiết kế cân thận, theo sát chương trình học, có phạm vi kiến thức liên môn
~ Tạo ra được những sản phẩm thực tế
Dạy học theo dự án là phương pháp giáo dục giúp người học thực hiện nhiệm vụ học tập phức tạp, kết hợp lý thuyết và thực hành, chủ yếu làm việc theo nhóm Phương pháp này yêu cầu người học kết hợp kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm từ nhiều lĩnh vực khác nhau Trong quá trình học, các nhóm tự lập kế hoạch, thực hiện dự án và tạo ra sản phẩm đáp ứng mục tiêu đã đề ra, đồng thời tham gia đánh giá quá trình và kết quả Sản phẩm cuối cùng có thể được giới thiệu, trình bày hoặc báo cáo.
DHTDA khuyến khích người học tiếp thu kiến thức và phát triển kỹ năng thông qua việc giải quyết các vấn đề phức tạp Các DAHT tạo ra nhiều cơ hội học tập đa dạng cho người học, có thể áp dụng ở nhiều cấp độ giáo dục khác nhau DHTDA cho phép người học đảm nhận nhiều vai trò tích cực như người giải quyết vấn đề, điều tra viên và người viết báo cáo, thực hiện các nhiệm vụ này với tính tự lực cao trong suốt quá trình học tập.
2.1.2 Đặc điểm của dạy học theo dự án
Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2014) DHTDA có các đặc điểm sau:
Chủ đề của các dự án học tập (DAHT) nên bắt nguồn từ các tình huống thực tiễn trong xã hội, nghề nghiệp và đời sống Nhiệm vụ của các DAHT cần phản ánh những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học.
21 người học tham gia vào các DAHT, giúp kết nối việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống và xã hội Khi được thực hiện một cách lý tưởng, các DAHT có thể tạo ra những tác động tích cực cho xã hội.
Hướng tới việc khơi dậy hứng thú của người học, việc cho phép họ tham gia lựa chọn các đề tài và nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích cá nhân là rất quan trọng Sự hứng thú này sẽ được duy trì và phát triển trong suốt quá trình thực hiện các dự án học tập.
Trong quá trình thực hiện dự án học tập, việc kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và áp dụng lý thuyết vào thực tiễn là rất quan trọng Điều này giúp người học kiểm tra, củng cố và mở rộng hiểu biết về lý thuyết, đồng thời rèn luyện kỹ năng hành động và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn.
Trong DHTDA, người học cần có tính tự lực cao và tham gia tích cực vào quá trình dạy học, điều này khuyến khích tinh thần trách nhiệm và sự sáng tạo Giáo viên chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn và hỗ trợ Tuy nhiên, mức độ tự lực của học sinh cần phù hợp với năng lực và độ khó của nhiệm vụ học tập.
Môi trường học tập tương tác trong các dự án học tập (DAHT) thường diễn ra theo nhóm, khuyến khích sự cộng tác và phân công công việc giữa các thành viên Hình thức học tập này không chỉ yêu cầu mà còn rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm và sự sẵn sàng hợp tác giữa người học với giáo viên và các lực lượng xã hội khác Đặc điểm này được gọi là học tập mang tính xã hội.