vị trí, vai trò của UBND cấp tỉnh trong hoạt động quản lý nhà nước, cơ cấu tổ chức của UBND cấp tỉnh TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT BÁO CÁO LUẬT HÀNH CHÍNH 3 Chủ đề 19 Vị trí, vai trò của Ủy ban nhâ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BÁO CÁO LUẬT HÀNH CHÍNH 3
Chủ đề 19: Vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
MSSV: S1200329
2 Lê Khải Hoàn MSSV: S1200314
3 Huỳnh Trung Phong MSSV: S1200335
Cần Thơ, ngày 25 tháng 8 năm 2014
Trang 2VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC,
CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
I VỊ TRÍ PHÁP LÝ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH:
Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, cơ quan hành chính địa phương ở nước ta gồm 3 cấp: tỉnh, huyện, xã; mỗi cấp đều tổ chức HĐND và UBND
- UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND tỉnh được quy định theo 14 lĩnh vực, của UBND huyện theo 11 lĩnh vực và của UBND xã theo 7 lĩnh vực, nhưng thực chất cũng là đầy đủ các lĩnh vực kinh tế - xã hội- an ninh, quốc phòng, xây dựng chính quyền; điểm khác biệt là càng xuống UBND cấp huyện, cấp xã càng có
sự lồng ghép một số lĩnh vực gần nhau Đối với UBND thành phố trực thuộc trung ương, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, quận, phường, còn được bổ sung một số nhiệm
vụ, quyền hạn phù hợp với đặc điểm, tính chất của đô thị; UBND huyện thuộc địa bàn hải đảo cũng được bổ sung nhiệm vụ thực hiện các biện pháp để xây dựng, quản lý, bảo vệ đảo, vùng biển và dân cư trên địa bàn
- Bên cạnh đó theo quy định tại điều 114 Hiến pháp 2013 thì Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao
Theo điều 7 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thì Hội đồng nhân dân chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Trang 3Uỷ ban nhân dân cấp dưới chịu sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân cấp trên Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu sự chỉ đạo của Chính phủ.
Như vậy như ta thấy vị trí pháp lý của UBND các cấp là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp và UBND cấp trên mà cụ thể thì UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước HĐND cấp tỉnh và chịu sự chỉ đạo của Chính phủ UBND cấp tỉnh là cầu nối giữa Trung ương với địa phương là nơi triển khai thực hiện hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên trong địa phương quản lý
II VAI TRÒ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH:
UBND cấp tỉnh do HÐND cấp tỉnh bầu ra, là cơ quan chấp hành của HÐND,
nó là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có chức năng và nhiệm vụ chấp hành hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HÐND cấp tỉnh
Vai trò của UBND cấp tỉnh được thể hiện rõ thông qua vai trò và quyền hạn được quy định tại Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 (quy định từ điều 82 đến điều 96) bao gồm các lĩnh vực như: kinh tế; nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi và đất đai; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải; xây dựng, quản lý và phát triển đô thị; thương mại, dịch vụ và
du lịch; giáo dục và đào tạo; văn hóa, thông tin, thể dục và thể thao; y tế và xã hội; khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường; quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; thi hành pháp luật; xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
III CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH:
Theo điều 119 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm
2003 quy định:
- Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là đại biểu Hội đồng nhân dân Các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân không nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân
Trang 4- Kết quả bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn
- Trong nhiệm kỳ nếu khuyết Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp giới thiệu người ứng cử Chủ tịch Uỷ ban nhân dân để Hội đồng nhân dân bầu Người được bầu giữ chức vụ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân
Theo điều 122 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm
2003 quy định số lượng thành viên UBND như sau:
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có từ chín đến mười một thành viên; Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có không quá mười ba thành viên;
- Các thành viên bao gồm chủ tịch, phó chủ tịch, các thành viên Số lượng phó chủ tịch và các thành viên được quy định tại nghị định 107/2004/NĐ-CP ngày
01 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ quy định số lượng Phó Chủ tịch và cơ cấu thành viên Ủy ban nhân dân các cấp Riêng thành phố Hà Nội có 13 thành viên gồm chủ tịch, 6 phó chủ tịch và các ủy viên được quy định tại Nghị định 36/2011/NĐ-CP ngày 23 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 107/2004/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ quy định số lượng phó chủ tịch và cơ cấu thành viên Ủy ban nhân dân các cấp
UBND cấp tỉnh có 17 được tổ chức thống nhất gồm: Sở Nội vụ, Tư pháp,
Kế hoạch và đầu tư, Tài chính, Công Thương, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Tài nguyên môi trường, Xây dựng, Thông tin và truyền thông, Lao động – Thương binh và xã hội, Văn hóa – thể thao và du lịch, Khoa học
và công nghệ, Giáo dục và đào tạo, Y tế, Thanh tra tỉnh, Văn phòng UBND Ngoài
ra có các sở đặc thù như Sở Ngoại giao, Ban Dân tộc, Sở Quy hoạch – Kiến trúc (Hà Nội – TP HCM), về một số lĩnh vực đặc thù khác (Theo nghị định 24/2014/NĐ-CP)