UBND TỈNH BÌNH ĐỊNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH ĐỊNH Độc lập Tự do Hạnh phúc Số 15/BC UBND Quy Nhơn, ngày 16 tháng[.]
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÌNH ĐỊNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số : 15/BC-UBND Quy Nhơn, ngày 16 tháng 3 năm 2009
BÁO CÁO
Về tình hình thực hiện Bình đẳng giới và việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới tại tỉnh Bình Định
(Tài liệu phục vụ buổi làm việc với đoàn khảo sát của
Uỷ ban các vấn đề xã hội - Quốc hội khoá XII)
Thực hiện công văn số 1198/UBXH12 ngày 20/02/2009 của Uỷ ban về các vấn đề xã hội (Quốc hội khoá XII) về việc khảo sát tình hình thực hiện Bình đẳng giới và việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới tại tỉnh Bình Định (Kèm theo đề cương khảo sát),
Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Định báo cáo tình hình thực hiện Bình đẳng giới và việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới tại tỉnh Bình Định như sau:
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG:
1 Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về Luật Bình đẳng giới cho nhân dân và cán bộ, công chức của tỉnh
Sau khi Luật Bình đẳng giới ra đời và thực hiện Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1522/QĐ-CTUBND ngày 05/7/2007 về Kế hoạch triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh; trong Kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật hàng năm, dài hạn ở địa phương UBND tỉnh cũng đã thực hiện lồng ghép nội dung tuyên truyền, phổ biến Luật Bình đẳng giới: Quyết định số 126/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật năm 2007, Quyết định số 14/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật năm 2008 trong đó có việc tuyên truyền, phổ biến Luật Bình đẳng giới
UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị tập huấn phổ biến những nội dung cơ bản của Luật Bình đẳng giới và các văn bản pháp luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 cho gần 200 đại biểu là thành viên của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật, báo cáo viên pháp luật của tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành và trưởng Phòng Tư pháp 11 huyện, thành phố; tổ chức hội nghị tập huấn
kỹ năng trợ giúp pháp lý, phổ biến một số văn bản pháp luật mới ban hành, trong
đó có pháp luật về bình đẳng giới cho gần 300 đại biểu là chuyên viên, cộng tác viên trợ giúp pháp lý, trợ giúp viên pháp lý, Chủ nhiệm các Câu lạc bộ trợ giúp
Trang 2pháp lý Ngoài ra, thông qua các đợt tập huấn về nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cho cán bộ Tư pháp - Hộ tịch những nội dung pháp luật về bình đẳng giới cũng đã được phổ biến cho toàn thể cán bộ tư pháp hộ tịch của các xã, phường, thị trấn trong tỉnh
Bên cạnh đó, các cấp, các ngành và các tổ chức đoàn thể đã chủ động phối hợp tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến về bình đẳng giới như: Sở
Tư pháp, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Bình Định đã phối hợp thực hiện tuyên truyền, phổ biến Luật Bình đẳng giới trên các chuyên trang, chuyên mục về pháp luật; phát hành 500 cuốn đề cương và 7.000 tập “Hỏi - Đáp pháp luật” về các luật mới có hiệu lực thi hành trong đó có Luật Bình đẳng giới; 3.400 Bản tin Tư pháp Bình Định với nhiều tin, bài về pháp luật bình đẳng giới và công tác triển khai thi hành pháp luật bình đẳng giới của các cấp, các ngành trong tỉnh cho thành viên Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, các Sở, ban, ngành, tổ chức đoàn thể tỉnh, UBND và HĐND các cấp, thôn, bản, làng, khu vực, 11 phòng Tư pháp và các trường học làm tài liệu học tập, nghiên cứu, phổ biến cho cán bộ, nhân dân; thông qua hoạt động của các Đội thông tin lưu động, cổ động trực quan đã thực hiện tuyên truyền Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
Đối với cấp huyện, cấp xã duy trì thường xuyên chuyên mục “Pháp luật
và đời sống” trên đài truyền thanh địa phương; tổ chức trên 10.000 đợt tuyên truyền tại các thôn, bản, làng, khu vực để phổ biến các văn bản pháp luật mới ban hành, các chủ trương, chính sách phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của địa phương và các văn bản pháp luật liên quan thiết thực đến đời sống của người dân, nhất là các văn bản pháp luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 và trong năm
2008 mà đặc biệt là Luật Bình đẳng giới cho hàng nghìn lượt người dự nghe; tổ chức hội nghị tập huấn, lồng ghép với các hoạt động của chính quyền, đoàn thể, hoạt động hòa giải ở cơ sở, hoạt động trợ giúp pháp lý, sinh hoạt các câu lạc bộ pháp luật, câu lạc bộ trợ giúp pháp lý
2 Việc triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới tại địa phương:
2.1- Số lượng các văn bản của địa phương đã triển khai thực hiện bình
đẳng giới trên các lĩnh vực:
+ Chương trình hành động thực hiện Nghị Quyết 11-NQ/TW của Bộ
Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH” của Ban thường
vụ Tỉnh ủy;
+ Quyết định số 126/QĐ-UBND ngày 14/2/2007 của UBND tỉnh về việc phê duyệt kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật năm 2007;
+ Quyết định số 1522/QĐ-CTUBND ngày 05/7/2007 của UBND tỉnh về việc ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh;
+ Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 10/01/2008 của UBND tỉnh về việc phê duyệt kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật năm 2008;
+ Công văn số 2482/UBND-VX ngày 29/7/2008 của UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/6/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới;
Trang 3+ Quyết định số 584/QĐ-UBND ngày 16/10/2008 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch tổ chức triển khai thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh;
+ Quyết định số 638/QĐ-UBND ngày 14/11/2008 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch tổ chức mít tinh hưởng ứng chiến dịch truyền thông Phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh, thực hiện bình đẳng giới;
2.2 - Tình hình tổ chức, bộ máy, kinh phí và việc triển khai các hoạt động
về bình đẳng giới tại tỉnh:
+ Trước khi có Luật Bình đẳng giới và Nghị định số 70/2008/NĐ-CP của Chính phủ thì hoạt động bình đẳng giới do Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh đảm nhận Cơ cấu thành viên của Ban gồm có: Hội LHPN tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu
tư, Văn phòng UBND tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ,
Sở Giáo dục- Đào tạo, Sở Y tế, Sở Tư pháp, Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Ban Tổ chức Tỉnh ủy và các hội, đoàn thể liên quan do Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban
Kinh phí hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh do ngân sách tỉnh cấp qua Hội LHPN tỉnh, bình quân mỗi năm khoảng 40 – 50 triệu đồng
+ Thực hiện Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh; Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, thành phố và Thông tư số 10/2008/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 10/7/2008 về hướng dẫn thực hiện chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ quản lý nhà nước của UBND cấp xã về lao động, người
có công và xã hội, UBND đã giao sở Lao động - Thương binh và Xã hội tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực bình đẳng giới; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã giao nhiệm vụ này cho Phòng Tổ chức - Hành chính Sở và đã bố trí 01 biên chế chuyên trách theo dõi lĩnh vực Bình đẳng giới
Kinh phí chi cho hoạt động bình đẳng giới nằm trong kinh phí hoạt động thường xuyên của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; ngoài ra năm 2009, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ vẫn được tiếp tục được cấp kinh phí hoạt động 50 triệu (cấp qua tài khoản Hội LHPN tỉnh)
2.3 - Cơ chế phối hợp hoạt động giữa cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại địa phương với Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ, Hội phụ nữ địa phương:
Bình đẳng giới là một lĩnh vực rất mới đối với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, hơn nữa về vấn đề này Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chưa hướng dẫn cụ thể nên trong thời gian qua các mục tiêu hoạt động vì bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh vẫn lấy mục tiêu “Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh Bình Định đến năm 2010” đã được UBND tỉnh phê duyệt để hoạt động Giữa cơ quan quản lý nhà nước về Bình đẳng giới và Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh chưa xây dựng Qui chế phối hợp nhưng trong thực tế đã có sự phân công, phối hợp tốt giữa các cơ quan thành viên của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ với Sở Lao động,
Trang 4Thương binh và Xã hội Theo từng mục tiêu của Kế hoạch hành động và những nội dung liên quan đến bình đẳng giới, nếu thuộc sở, ngành nào thì cơ quan, đơn
vị đó chịu trách nhiệm chủ trì xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, các sở, ngành liên quan sẽ phối hợp tham gia, ví dụ:
+ Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Hội LHPN tỉnh, Sở Văn hoá, Thể thao
và Du lịch, Sở Thông tin -Truyền thông và UBND các huyện, thành phố hướng dẫn, tổ chức tuyên truyền, giáo dục Luật Bình đẳng giới và các văn bản pháp luật liên quan đến bình đẳng giới; phối hợp các sở, ngành liên quan đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
+ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Hội LHPN tỉnh và các sở, ngành liên quan thu thập, tổng hợp thông tin, số liệu về bình đẳng giới theo quy định của pháp luật; phối hợp với Sở
Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Ngân hàng Chính sách XH tỉnh, UBND các huyện, thành phố các hội, đoàn thể xây dựng kế hoạch tạo việc làm, vay vốn, đào tạo nghề cho lao động nữ
+ Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
+ Sở Y tế chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế
2.4 - Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương:
Dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương liên quan đến bình đẳng giới, phụ nữ và trẻ em đều được gửi lấy ý kiến tham gia của Hội LHPN tỉnh, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh trước khi trình HĐND, UBND tỉnh xem xét, quyết định ban hành Tuy nhiên, do việc nhận thức về các vấn đề liên quan giới cũng còn rất mới mẻ nên trong thực tế việc thể hiện nội dung Bình đẳng giới trong các văn bản Quy phạm pháp luật chưa rõ nét
2.5 - Việc lồng ghép các quy định của pháp luật bình đẳng giới vào trong chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội địa phương:
Do cơ cấu của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh gồm có các sở: Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ, Tài chính, Văn phòng UBND tỉnh và một số sở, ngành, hội đoàn thể liên quan cho nên việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào trong chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương và từng ngành
có nhiều thuận lợi Tuy nhiên, do số liệu có phân tích giới của các sở, ngành, địa phương và các doanh nghiệp chưa đầy đủ, kịp thời nên thiếu cơ sở xây dựng các chính sách liên quan phù hợp về giới, các cơ quan tham mưu của tỉnh còn lúng túng trong việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào hoạch định chính sách cũng như xây dựng các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội Trong thực tế mới chỉ có một số lĩnh vực như : việc làm, đào tạo nghề, vay vốn giải quyết việc làm, giáo dục - đào tạo, y tế, tham gia quản lý nhà nước thể hiện được sự lồng ghép giới
Trang 52.6 - Tình hình thực hiện việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thuộc lĩnh vực quản lý tại địa phương nhằm sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, ban hành mới theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi,
bổ sung, huỷ bỏ, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới, các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới và chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới: Sở Tư pháp đã tiến hành rà soát, trên cơ sở đó đã
tham mưu UBND tỉnh Quyết định số 1522/QĐ-CTUBND ngày 05/7/2007 của
Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh
II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
1 Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị.
- Tỷ lệ nữ đảng viên/ tổng số đảng viên: Năm 2007: 11.781/41.708 đảng
viên (tỷ lệ 28,2%) Năm 2008: 12.559/43.627 đảng viên (tỷ lệ 28,8%)
-Tỷ lệ nữ được kết nạp vào Đảng/ tổng số đảng viên mới được kết nạp:
Năm 2007: 829/2.156 đảng viên (tỷ lệ 38,5%) Năm 2008: 959/ 2.325 đảng viên (tỷ lệ 41,2%)
- Tỷ lệ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng thuộc nhiệm kỳ Đại hội Đảng X/ tổng số nữ Đảng viên thuộc cùng một cấp uỷ.
+ Cấp uỷ tỉnh: 4/49 (Tỷ lệ 8,16%) 4/48 (Tỷ lệ 8,3%) + Cấp uỷ huyện: 42/364 (Tỷ lệ 11,5%) 38/357 (Tỷ lệ 10,6%) + Cấp uỷ xã: 306/2151(Tỷ lệ 14,2%) 304/2157 (Tỷ lệ 14,1%)
- Tỷ lệ nữ Đại biểu Quốc hội/ tổng số đại biểu Quốc hội tại địa phương:
Nữ đại biểu Quốc hội khoá XI: 2/8 đại biểu (Tỷ lệ 25%) Nữ đại biểu Quốc hội khoá XII : 3/8 đại biểu (Tỷ lệ 37,5%)
- Tỷ lệ nữ tham gia HĐND các cấp/ tổng số đại biểu tham gia HĐND cùng cấp: Theo số liệu thống kê đầu nhiệm kỳ 2004-2009, toàn tỉnh có 720 đại
biểu HĐND các cấp là nữ Trong đó:
+ Đại biểu HĐND cấp tỉnh có 13/61 (Tỷ lệ 21,31%);
+ Đại biểu HĐND cấp huyện có 72/390 (Tỷ lệ 18,46%);
+ Đại biểu HĐND cấp xã có 635/4.156 (Tỷ lệ 15,28%);
- Tỷ lệ nữ là lãnh đạo UBND tỉnh: 01/4 (Tỷ lệ 25%).
- Tỷ lệ lãnh đạo nữ cấp sở, ngành và tương đương:
+ Trưởng ban, ngành và tương đương: 02/36 (Tỷ lệ 5,6%)
+ Phó Trưởng ban, ngành và tương đương: 06/68 (Tỷ lệ 8,8%)
- Tỷ lệ lãnh đạo nữ là lãnh đạo cấp phòng trở lên:
+ Trưởng phòng và tương đương: 10/80 (Tỷ lệ 12,5%)
+ Phó Trưởng phòng và tương đương: 29/92, (Tỷ lệ 31,5%)
Trang 6Theo báo cáo số 106- BC/TU ngày 23/02/2009 của Tỉnh uỷ về Tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì tỷ lệ cán bộ nữ trong cơ cấu đội ngũ cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể của tỉnh chưa tương xứng với lực lượng lao động nữ trong toàn tỉnh (cấp tỉnh 10%, cấp huyện 3,01 %, cấp
xã, phường 4,5%)
- Đánh giá nguyên nhân thành công và chưa thành công trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị tại địa phương:
+Thuận lợi: Nhận thức và sự quan tâm, tạo điều kiện của Cấp uỷ Đảng,
Chính quyền địa phương đã có sự chuyển biến: trong việc quy hoạch, đào tạo,
bố trí sử dụng cán bộ nữ; tạo điều kiện để Hội LHPN tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước để thông qua đó thực hiện vai trò của Hội LHPN trong việc đại diện cho quyền lợi, lợi ích chính đáng của Phụ nữ, trẻ em trên các lĩnh vực Bên cạnh đó, các tầng lớp phụ nữ ngày càng có ý thức hơn về vai trò, trách nhiệm của mình đối với gia đình, xã hội; thể hiện sự năng động, sáng tạo, khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác, tổ chức tốt cuộc sống gia đình
+Khó khăn : Một số cấp ủy Đảng, chính quyền chưa thực sự quan tâm tới
việc quy hoạch, đào tạo, bố trí sử dụng cán bộ nữ Một số nơi có quy hoạch nhưng thiếu quan tâm đào tạo, bồi dưỡng tạo điều kiện, cơ hội cho cán bộ nữ được rèn luyện và thể hiện năng lực Bên cạnh đó, nhiều cán bộ nữ cũng chưa thực sự có ý thức phấn đấu vươn lên về mọi mặt; trong thực tế quá trình lấy phiếu thăm dò tín nhiệm các chức danh lãnh đạo, tỷ lệ cán bộ nữ được tín nhiệm còn thấp
Qui định về độ tuổi nghỉ hưu đối với nữ là 55, nam là 60 nên độ tuổi được
cử đi đào tạo và đưa vào qui hoạch dự nguồn, bổ nhiệm cán bộ quản lý lần đầu của nữ thấp hơn nam 5 tuổi Điều này đã làm giảm cơ hội, động cơ phấn đấu, tham gia vào các hoạt động xã hội của nhiều phụ nữ
Quy định chế độ trợ cấp đối với cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh được
cử đi học, trong đó có trợ cấp bổ sung đối với cán bộ, công chức là nữ đi học ngoài các chế độ trợ cấp chung (nếu là cán bộ nữ được trợ cấp thêm 75.000đồng/người/tháng; nếu đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được trợ cấp thêm 150.000đồng/người/tháng) đã góp phần động viên cán bộ nữ phấn đấu học tập nâng cao trình độ Tuy nhiên, vẫn chưa có các quy định cụ thể nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong đào tạo - bồi dưỡng như: quy định ưu tiên cử cán
bộ nữ có cùng tiêu chuẩn, điều kiện đi học trước; các khoá đào tạo, bồi dưỡng phải bảo đảm tỷ lệ nữ…Do đó, trong thực tế vì nhiều lý do khác nhau tỷ lệ cán
bộ nữ tham gia các lớp đào tạo bồi dưỡng vẫn còn thấp
Hiện nay, cơ cấu lãnh đạo nữ trong cấp ủy Đảng, cơ quan quản lý nhà nước còn thấp chưa tương xứng với lực lượng lao động nữ; Y tế và Giáo dục là hai ngành có tỷ lệ lao động nữ trên 50% nhưng tới nay cũng không có cán bộ lãnh đạo cấp sở là nữ Đội ngũ cán bộ nữ dự nguồn các chức danh lãnh đạo chiếm tỷ lệ thấp.Vì vậy, nếu trong thời gian đến không có sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát thì cơ cấu cán bộ lãnh đạo nữ các cấp sẽ tiếp tục hẫng hụt
Trang 72 Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế:
- Tổng số doanh nghiệp năm 2008: 2.355 doanh nghiệp Tỷ lệ lao động nữ trong doanh nghiệp chiếm khoảng 42% Số doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ chủ yếu thuộc các ngành, nghề: may, chế biến thủy, hải sản, chế biến
gỗ và ngân hàng
- Tỷ lệ doanh nghiệp có sử dụng 30% lao động nữ trở lên chiếm khoảng 85%/ tổng số doanh nghiệp; tuy nhiên chỉ mới có 02 doanh nghiệp làm hồ sơ và được Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xác nhận có sử dụng nhiều lao động
nữ (CN ngân hàng công thương Phú Tài và chi nhánh Ngân hàng công thương Bình Định) để được ưu đãi về thuế và tài chính
- Lãnh đạo doanh nghiệp là nữ chiếm 20%
- Tỷ lệ số hộ có chủ hộ là nữ được vay vốn giải quyết việc làm và xoá đói
giảm nghèo:khoảng 60% tổng số hộ được vay vốn.
- Theo số liệu của Hội LHPN tỉnh, tổng số vốn cho vay đến nay do Hội quản lý là: 966,898 tỷ đồng Tổng số chủ hộ là phụ nữ được vay vốn: 348.685
hộ Trong đó:
+ Vốn cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội là 556,886 tỷ đồng Tổng số chủ hộ là phụ nữ được vay vốn: 294.059 hộ
+ Vốn cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là 442,618 tỷ đồng Tổng số chủ hộ là phụ nữ được vay vốn: 51.033 hộ
- Số lao động nữ trong tỉnh được hỗ trợ tín dụng: khoảng 60.000 hộ
- Các khoản chi chế độ chính sách đối với nữ ở các doanh nghiệp được cơ quan tài chính và thuế địa phương chấp nhận
3 Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động:
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề, tập huấn và bồi dưỡng nghề:
Năm 2007: Tỷ lệ 59,24% Năm 2008: Tỷ lệ 59,16%
- Tỷ lệ lao động nữ làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp/ tổng số lao động trong các cơ quan này:
Năm 2007: + Cơ quan HCNN: 230 nữ/1.004 (Tỷ lệ 22,9%);
+ Các đơn vị sự nghiệp NN: 3172 nữ/ 6696 (Tỷ lệ 47,4%).; Năm 2008: Sở Nội vụ đang tổng hợp, báo cáo
- Tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động được giải quyết việc làm hàng
năm: khoảng 50% (Năm 2008 lao động nữ chiếm tỷ lệ 63% trong tổng số
người được tạo việc làm mới)
- Tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động được giải quyết việc làm thông
qua chương trình vay vốn giải quyết việc làm: khoảng 59%.
- Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của lao động nữ khu vực nông thôn
Năm 2007 là 78,6% (Năm 2008 không điều tra)
- Tỷ lệ thất nghiệp năm 2007:
Trang 8+ Khu vực thành thị: chung 4,91%, trong đó nữ: 5,21% (Năm 2008: tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ ở khu vực thành thị giảm còn 4,98%)
+ Khu vực nông thôn: chung 2,53%, trong đó nữ 2,81%
- Độ tuổi, tiêu chuẩn phụ nữ được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành nghề có tiêu chuẩn, chức danh tại địa phương:Cán bộ, công
chức bổ nhiệm lần đầu không quá 55 tuổi đối với nam và không quá 50 tuổi đối với nữ; riêng các chức vụ Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các huyện, thành phố và tương đương tuổi bổ nhiệm lần đầu không quá 45 (đối với cả nam và nữ.)
- Đánh giá kết quả thực hiện bình đẳng giới trên lĩnh vực kinh tế và lao động.
+ Kết quả đạt được :
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu: Về cơ bản các chỉ tiêu thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động và việc làm nhằm nâng cao địa vị kinh tế và cải thiện đời sống lao động nữ tỉnh đạt các chỉ tiêu đã đề ra như:
Tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động được giải quyết việc làm hàng năm chiếm khoảng 50% Tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động được giải quyết việc làm thông qua chương trình vay vốn giải quyết việc làm khoảng 59% (Chỉ tiêu đến năm 2010 đạt tỷ lệ 50% lao động nữ được tạo việc làm mới) Tỷ lệ thất nghiệp lao động nữ ở khu vực thành thị 5,21% (chỉ tiêu giảm xuống dưới 6%)
Kết quả thực hiện chính sách lao động nữ: Trong việc tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lương: Khi có đủ tiêu chuẩn, phụ nữ hoàn toàn bình đẳng với nam giới trong việc được tuyển dụng vào làm việc tại các doanh nghiệp Một số công việc ở văn phòng như văn thư, kế toán, … phụ nữ được ưu tiên hơn Đến nay, trên địa bàn tỉnh chưa có phản ảnh về việc người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ; không công bằng trong việc nâng bậc lương, trả công lao động, sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới
12 tháng tuổi
Việc thực hiện chế độ đối với lao động nữ khi có thai, sinh đẻ: Ngoài những chế độ theo quy định của pháp luật, một số doanh nghiệp còn giải quyết thời gian nghỉ thêm không hưởng lương để người phụ nữ sinh con có điều kiện phục hồi sức khỏe, chăm sóc con nhỏ; có doanh nghiệp quy định giải quyết nghỉ thêm 2 tháng cho lao động nữ sinh con mà vẫn hưởng nguyên lương
Việc thực hiện các quy định về bảo hộ lao động đối với lao động nữ: Ở các xưởng sản xuất có sử dụng lao động nữ, các doanh nghiệp có bố trí chỗ thay quần áo và có buồng vệ sinh nữ Hầu hết các doanh nghiệp không bố trí lao động nữ làm việc trong điều kiện độc hại và các công việc không được sử dụng lao động theo danh mục Nhà nước quy định
Việc thực hiện chế độ, chính sách tại doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ: Các khoản chi cho việc thực hiện chính sách chế độ đối với lao động
nữ ở các doanh nghiệp được cơ quan tài chính và thuế ở địa phương chấp thuận
Có doanh nghiệp nếu lao động nghỉ phép vẫn được hưởng nguyên lương kinh doanh (Chi nhánh Ngân hàng Công thương Bình Định)
Trang 9+ Những hạn chế :
Về xã hội: Trong lĩnh vực nông nghiệp và thương mại phụ nữ làm việc chiếm tỷ lệ lớn và chiếm đa số trong ngành công nghiệp nhẹ Ngược lại, trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nhất là trong ngành công nghiệp nặng nam giới lại chiếm tỷ lệ lớn Phụ nữ thường làm việc ở những ngành, nghề đòi hỏi trình
độ chuyên môn và tay nghề thấp vì thế thu nhập của phụ nữ thường thấp hơn của nam giới; ít có cơ hội được học tập nâng cao trình độ chuyên môn và thăng tiến
so với nam giới
Về gia đình: Những công việc nhà nấu nướng, dọn dẹp và chăm sóc con cái được xem là công việc của phụ nữ Theo Luật Bảo hiểm xã hội đã cho phép các ông bố nghỉ phép chăm sóc trẻ sơ sinh và con ốm, đây là bước tiến trên con đường xóa bỏ gánh nặng công việc cho phụ nữ Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện những quy định như thế này trên thực tế lại là vấn đề cần phải bàn
Hầu hết các doanh nghiệp chưa quan tâm nghiên cứu, tổ chức thực hiện chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, giao việc tại nhà cho lao động nữ Nhiều doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh) chưa thực hiện việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động nên lao động nữ không được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội
về thai sản theo quy định Các doanh nghiệp chưa chủ động nghiên cứu những nghề mà người lao động nữ không thể làm việc liên tục cho đến tuổi về hưu và lập kế hoạch, tổ chức đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ theo quy định
Do nhận thức, thái độ và hành vi mang tính định kiến giới còn tồn tại khá phổ biến chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng nho giáo; việc bồi dưỡng, phát triển cán bộ nữ ở các địa phương còn bị hạn chế Một số doanh nghiệp thậm chí không muốn nhận lao động nữ vì ngại thực hiện chế độ thai sản và những lý do khác
4 Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
- Tỉ lệ trẻ em trai, em gái đến trường các bậc học; tỷ lệ trẻ em gái, em trai
bỏ học: Số liệu trong học kỳ I (năm học 2008-2009)
TT Bậc học Tổng số
học sinh Trẻ em gái so với TS HS bỏ học Trẻ em gái bỏ học
Số lưọng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
- Tỷ lệ xoá mù chữ cho phụ nữ bị mù chữ ở độ tuổi dưới 40: Số dân từ 15
đến 35 tuổi: 503.178 (nữ 248.691, chiếm tỷ lệ 49,4%) trong đó : 246.511 người biết chữ (chiếm tỉ lệ : 99,12%)
Trang 10- Tỉ lệ nữ trong tổng số người được đào tạo trên đại học: Hiện nay, tỉnh
có 13.803 cán bộ có trình độ đại học trở lên, trong đó có 544 trên đại học (chưa
có số liệu thống kê cụ thể đối với nữ) Tuy nhiên, theo báo cáo của Sở Giáo dục – Đào tạo và Sở Y tế là hai ngành có tỷ lệ đào tạo sau đại học cao nhất thì số liệu cụ thể như sau:
* Ngành giáo dục :
-Đã tốt nghiệp Cao học: 40 nữ/ 88, tỉ lệ 45,45%
-Đang đi học Cao học: 54 nữ/ 96 , tỉ lệ 56,25 %
* Ngành Y tế : 85 nữ/369 cán bộ, công chức, viên chức có trình độ đào tạo trên ĐH ( Tỷ lệ 23 %)
- Đối tượng có trình độ trên đại học đang làm việc (tính đến thời điểm 12/2008) tại các cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp (có vốn Nhà nước chiếm trên 51%) đã được hưởng chế độ hỗ trợ một lần sau tốt nghiệp theo chính sách khuyến khích phát triển khoa học và nhân lực có trình độ cao của tỉnh là
280 người (trong đó : Tiến sĩ: 08, Thạc sĩ : 250, Chuyên khoa cấp II: 22), chia theo năm cụ thể :
Năm
Thạc sĩ
(Nữ/TS)
Chuyên khoa II
(Nữ/TS)
Tiến sĩ
(Nữ/TS)
Nữ/Tổng số Tỷ lệ nữ
(%)
Tổng cộng 82/250 02/22 01/08 85/280 30,3
- Tỉ lệ nữ cán bộ công chức được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ trên tổng số cán bộ, công chức được đào như sau:
+ Năm 2006-2007: Đào tạo Trung cấp lý luận chính trị : 258/1.114 (đạt tỷ
lệ 23,16%); bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên: 233/703 (đạt 33,14%); bồi dưỡng QLNN ngạch chuyên viên chính: 23/142 (đạt tỷ lệ 16,2%); bồi dưỡng ngoại ngữ: 23/62 (đạt tỷ lệ 37,1%); bồi dưỡng nghiệp vụ Tư pháp: 120/493 (đạt tỷ lệ 24,34%); bồi dưỡng QLNN cho cán bộ xã : 114/389 (đạt tỷ lệ 29,31%); bồi dưỡng QLNN cho cán bộ thôn: 263/956 (đạt tỷ lệ 27,51%); bồi dưỡng kiến thức đại biểu HĐND huyện: 30/100 (đạt tỷ lệ 30%)
+ Năm 2008 : Bồi dưỡng kiến thức thị trường chứng khoán: 46/240 (đạt
tỷ lệ 19,17%); Bồi dưỡng kiến thức về Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại