ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NAM ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NAM ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HUYỆN ỦY NAM TRÀ MY * Nam Trà My, ngày tháng 12 năm 2014 Số BC/HU (Dự thảo) BÁO CÁO tổng kết 10 năm thực hiệ[.]
Trang 1ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NAM ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HUYỆN ỦY NAM TRÀ MY
* Nam Trà My, ngày tháng 12 năm 2014.
Số - BC/HU
(Dự thảo)
BÁO CÁO tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 41- NQ/TW ngày 15/11/2004 của
Bộ Chính trị (khóa IX) về “Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước”
-Thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về
“Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Qua 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết, Huyện uỷ Nam Trà My báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết như sau:
I Đặc điểm tình hình:
1 Thuận lợi:
Nam Trà My là huyện miền núi cao, 10/10 xã thuộc diện nghèo nhất cả nước, những năm qua được sự quan tâm, đầu tư của Chính phủ, các bộ ngành Trung ương, của tỉnh, sự nổ lực của Đảng bộ và nhân dân trong huyện, tình hình kinh tế - xã hội đang từng bước phát triển ổn định, đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện, quốc phòng
an ninh được giữ vững Công tác quản lý, bảo vệ môi trường của huyện đang từng bước được hoàn thiện, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng lên, nhận thức về mức độ ô nhiễm môi trường trong nhân dân có chuyển biến tích cực và hoạt động hiệu quả hơn
2 Khó khăn:
Do địa hình đồi núi cao, hiểm trở nên giao thông đi lại và phương tiện thông tin liên lạc giữa huyện và một số xã còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí của một bộ phận dân cư còn thấp, không đồng đều giữa các vùng, phần lớn nhân dân chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường; việc xử lý, giải quyết ô nhiễm môi trường của địa phương, đơn vị còn hạn chế; mặt khác, nguồn vốn đầu tư và chi thường xuyên cho công tác bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường ở các địa phương trong huyện chưa đảm bảo; đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nên lúng túng trong hoạt động quản lý, thực hiện nhiệm
vụ nhất là công tác cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về nhiệm vụ bảo vệ môi trường ở từng địa phương, đơn vị chưa được thực hiện kịp thời; nhận thức về xây dựng cảnh quan, giữ gìn vệ sinh môi trường sống cũng như bảo vệ môi trường sinh thái còn hạn chế Bên cạnh đó, kinh tế của huyện phát triển chậm, trình độ sản xuất canh tác còn lạc hậu, đời sống còn nhiều khó khăn, sinh hoạt gia đình và cộng đồng vẫn theo tập tục truyền thống là chủ yếu
Trang 2II Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết:
1 Việc tổ chức quán triệt thực hiện Nghị quyết:
Sau khi có Nghị quyết 41- CT/TW, ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX),
Ban Thường vụ Huyện ủy xác định công tác bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng,
cơ bản và lâu dài, do đó kịp thời tổ chức triển khai quán triệt nội dung Nghị quyết số 41 cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở huyện, xã và giao Ban Tuyên giáo Huyện uỷ xây dựng Kế hoạch phối hợp với Hội đồng công tác phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật và các địa phương triển khai thực hiện Nghị quyết theo nhiệm vụ chuyên môn của mỗi ngành, quán triệt nội dung Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và toàn thể Nhân dân trên địa bàn huyện nhằm nâng cao nhận thức và tầm quan trọng của công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định và lâu dài, đồng thời nâng cao nhận thức và hành động của mỗi người dân đối với nhiệm vụ bảo vệ môi trường
Hằng năm, Ban Thường vụ Huyện uỷ giao UBND huyện chỉ đạo các ngành chức năng tham mưu tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết, nhằm rút ra những kinh nghiệm trong việc chỉ đạo thực hiện Nhìn chung, sau 10 năm tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết 41- CT/TW, ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực
2 Các văn bản ban hành và tổ chức thực hiện:
Trên cơ sở Nghị quyết 41-CT/TW và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện đã ban hành nhiều văn bản với những chủ trương, định hướng quan trọng, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường
Xác định rừng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đảm bảo quốc phòng an ninh và bảo vệ môi trường sống của huyện, UBND huyện thường xuyên làm việc với các ngành quản lý lâm sản, tổ chức sơ kết, tổng kết công tác quản lý, bảo vệ chăm sóc rừng nhằm tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, tổ chức chốt chặn tại các vùng trọng điểm, kịp thời ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép với các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo như: Chỉ thị số 01/2007/CT-UBND
ngày 23/01/2007 của UBND huyện về việc ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng già làm nương rẫy; Công văn số 172/UBND-VP ngày 10/4/2009 của UBND huyện về xây dựng Phương án triển khai các biện pháp cấp bách về quản lý bảo vệ rừng và lâm sản; Kế hoạch số 04/KH-UBND ngày 02/3/2011 của UBND huyện về triển khai thực hiện Quyết định số 2762/QĐ-UBND ngày 01/9/2010 của UBND tỉnh Quảng Nam về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Chương trình hành động số 11-CTr/HU ngày 03/8/2011 của Huyện uỷ Nam Trà My về thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 04/6/2010 của Tỉnh uỷ Quảng Nam về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Công văn số 103/UB-KTĐC ngày 27/5/2004 của UBND huyện về việc quản
lý khai thác cát, sỏi trên địa bàn huyện, qua đó yêu cầu các cơ quan chức năng quản lý,
theo dõi, đề xuất và thực hiện theo đúng Luật Khoáng sản quy định Nhằm hạn chế những
Trang 3tác động do thiên tai gây ra đối với môi trường và con người, UBND huyện ban hành Chỉ
thị số 15/CT-UBND ngày 29/8/2005 về công tác phòng, chống lụt, bão - giảm nhẹ thiên tai năm 2005; Chỉ thị số 12/CT-UB ngày 27/5/2005 của UBND huyện về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ cây ươi bay; phối hợp với các ngành liên quan giải phóng mặt bằng và thực hiện tái định cư tại khu vực xây dựng công trình Thuỷ điện Sông Tranh 2 Ban hành Chỉ thị số 03/2007/CT-UBND ngày 11/4/2007 của UBND huyện về tăng cường tổ chức quản lý, khai thác và vận hành các công trình nước sinh hoạt trên địa bàn huyện; Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 27/5/2011 của UBND huyện về tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới và năm quốc tế về rừng; Công văn số 34-CV/UBND-VP ngày 15/01/2013 của UBND huyện về việc phối hợp tuyên truyền các ấn phẩm thuộc Dự án “Tăng cường nội dung thông tin và truyền thông lĩnh vực tài nguyên môi trường về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo năm 2012”; Công văn 91/UBND-VP ngày 26/2/2013 của UBND huyện về cung cấp thông tin liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2012 trên địa bàn huyện; Công văn số 99/UBND-TCKH ngày 01/3/2013 của UBND huyện về xử lý kinh phí hỗ trợ hộ nghèo cải thiện vệ sinh môi trường; Chương trình số 37-CTr/HU ngày 06/9/2013 của Huyện uỷ Nam Trà My về thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
3 Công tác kiểm tra, giám sát:
Cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo các địa phương, đơn vị, các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt các quy định của pháp luật về tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường, Huyện
uỷ, UBND huyện thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định trên, cụ thể hóa bằng các văn bản: Công văn số 76/UB-VP ngày 26/4/2004 của UBND lâm thời
huyện về việc quản lý tận thu gỗ tuyến đường điện 22 KV Trà Don – Trà Nam, Trà Vân – Trà Vinh; Công văn số 137/CV-CT ngày 12/7/2004 của UBND huyện về tăng cường công tác quản lý khai thác và vận chuyển lâm sản; Công văn số 191/UB-KT ngày
01/9/2004 của UBND huyện về việc tổ chức truy quét, đẩy đuổi các đối tượng khai thác khoáng sản trái phép ra khỏi địa bàn huyện; Kế hoạch số 12/KH-UBND ngày 15/6/2011
của UBND huyện về kiểm tra các cá nhân, tổ chức đang hoạt động khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn huyện…
III Kết quả cụ thể:
1 Những kết quả nổi bật trong quá trình thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị:
1.1- Công tác quán triệt, nhận thức 5 quan điểm về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nêu trong CTHĐ số 04-CTr/TU của Tỉnh uỷ:
Thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chương trình hành động
số 04-CTr/TU của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ, UBND huyện đã tổ chức quán triệt, đồng thời, chỉ đạo các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, các cơ quan, ban, ngành của huyện tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, trọng tâm là 5
Trang 4quan điểm về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Cụ thể hóa các mục tiêu của Nghị quyết và Chương trình hành động của Tỉnh uỷ trong xây dựng kế hoạch, phương hướng hoạt động bảo vệ môi trường của huyện Đồng thời, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức
và hành động trong các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về trách nhiệm, ý thức bảo vệ môi trường Phát huy vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong tuyên truyền về bảo vệ môi trường, giúp nhân dân hiểu rõ hậu quả trước mắt cũng như lâu dài của ô nhiễm môi trường và nguyên nhân làm biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, đời sống xã hội
và sự phát triển bền vững của đất nước; những bài học và kinh nghiệm về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu của các nước trong khu vực và trên thế giới
Thường xuyên tổ chức các hoạt động như: mitting, tuyên truyền trực quan trên hệ thống pano, apphich, băng rôn, khẩu hiệu, tổ chức các đợt thu dọn vệ sinh môi trường hưởng ứng các ngày lễ về môi trường tạo thành phong trào quần chúng bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện
1.2- Nhiệm vụ cụ thể:
a Ngăn ngừa, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường:
- Công tác giảm thiểu tác động xấu của ngành công nghiệp đối với môi trường:
Hằng năm, huyện xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn huyện Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan chức năng ở huyện phối hợp tăng cường kiểm tra công tác bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất, dịch vụ trên địa bàn, kiên quyết xử lý các vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường; kiểm tra theo đơn kiến nghị, kiểm tra đột xuất khi có sự cố xảy ra
- Việc nâng cao năng lực xử lý chất thải rắn sinh hoạt, xử lý ô nhiễm hóa chất, vấn
đề vệ sinh ở nông thôn: Chỉ đạo các cơ quan chức năng huyện phối hợp với UBND các
xã Trà Mai, Trà Don thực hiện đề án chất thải rắn ở nông thôn theo Quyết định số 3983/QĐ-UBND ngày 6/12/2012 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc phê duyệt Đề
án quản lý chất thải rắn vùng nông thôn tỉnh Quảng Nam đến năm 2020, xây dựng đồng bộ hệ thống quản lý, thu gom, xử lý rác thải tại các xã trên địa bàn huyện nhằm kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường, sức khỏe người dân; góp phần thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, xây dựng nông thôn mới
Chỉ đạo Phòng Tài nguyên môi trường phối hợp với Đội quy tắc xây dựng và môi trường thu gom rác thải hằng tuần (3 buổi/tuần), giải quyết phần lớn lượng rác thải sinh hoạt tại khu trung tâm hành chính huyện; đồng thời, xây dựng bãi xử lý rác thải tạm Chỉ đạo, kiểm tra việc bảo vệ môi trường các lò giết mổ gia súc và có biện pháp khắc phục một số vi phạm trong việc xử lý nước thải và chất thải của các lò giết mổ gia súc; tiến hành cấp phát, bàn giao thùng nhựa đựng rác thải cho các cơ quan, các địa phương Tổ chức các Hội nghị bồi dưỡng kiến thức pháp luật về môi trường, khoáng sản,
Trang 5đất đai cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; giao phòng Tài nguyên - Môi trường phối hợp với các cơ quan chức năng thường xuyên tổ chức kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm 2-3 đợt/năm; đồng thời chỉ đạo phòng chống các dịch bệnh, đặc biệt là dịch bệnh heo tai xanh, cúm gia cầm, lở mồm long móng ở trâu bò không để lây lan diện rộng
b Khắc phục khu vực bị ô nhiễm, suy thoái môi trường; bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên, đa dạng sinh học:
Năm 2011, UBND huyện đã đầu tư xây dựng khu xử lý rác thải tạm cho khu trung tâm hành chính huyện trên địa bàn thôn 1, xã Trà Don, cơ bản đã giải quyết được nhu cầu bức thiết của nhân dân trong tình hình hiện nay, góp phần làm ổn định sinh hoạt của nhân dân và bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện
Trong các năm 2009, 2012, 2013, huyện đã hợp đồng Trung tâm quan trắc và phân tích môi trường tỉnh Quảng Nam thực hiện tiến hành khảo sát lấy mẫu quan trắc và phân tích chất lượng môi trường nước mặt và nước ngầm được sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt hằng ngày của các hộ dân tại một số khu vực trên địa bàn huyện Kết quả phân tích các thông số chất lượng nước cung cấp những thông tin, đặc điểm cơ bản về chất lượng nước môi trường nước mặt và nước ngầm làm cơ sở để triển khai tốt các hoạt động bảo
vệ môi trường trên địa bàn huyện
c Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về môi trường:
Nhằm tăng cường hiệu quả, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về môi trường, huyện đã bố trí cán bộ, công chức có chuyên môn phụ trách công tác quản lý môi trường
Từ năm 2006 đến nay đã cử nhiều lượt cán bộ tham gia nhiều khóa tập huấn, nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý môi trường cấp huyện; phổ biến các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường rộng rãi trong nhân dân, và các hộ kinh doanh, sản xuất trên địa bàn huyện Xây dựng các kế hoạch, phương hướng hoạt động theo từng năm về bảo vệ môi trường Thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực hoạt động môi trường, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội đối với các hoạt động bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện
d Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng:
- Xây dựng và ký kết các văn bản cam kết phối hợp và cùng thực hiện kế hoạch hoạt động bảo vệ môi trường giữa cơ quan quản lý với các tổ chức chính trị - xã hội:
Thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban bí thư về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị Quyết số
41/NQ-TW của Bộ Chính trị, huyện đã triển khai chương trình ký kết liên tịch Bảo vệ môi trường giữa các hội, đoàn thể của huyện Các hoạt động liên tịch bảo vệ môi trường đã được các tổ chức, hội, đoàn thể các cấp tích cực triển khai, nhiều chương trình phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường đã được chú trọng thực hiện tại các cộng đồng dân cư,
Trang 6từng bước phát huy hiệu quả công tác xã hội hóa về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện
Ngoài ra, nhiều đơn vị luôn sẵn sàng hỗ trợ tích cực về nội dung, hình thức cho việc thành lập tổ thanh niên, tổ phụ nữ tình nguyện bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư…Các hoạt động phối hợp đã tạo sức lan tỏa về nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường, tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội, góp phần thuận lợi cho công tác bảo vệ môi trường trong thời gian đến
- Truyền thông về môi trường: Hằng năm, huyện đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền,
phổ biến giáo dục pháp luật về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện cho nhiều đối tượng khác nhau với nội dung phù hợp; tổ chức vận động quần chúng bảo vệ môi trường; tăng cường truyền thông công tác bảo vệ môi trường thông qua nhiều hình thức như đài phát thanh - truyền hình huyện, tổ chức tuyên truyền thông qua các hoạt động nhân các ngày lễ về môi trường; phát động các chiến dịch trồng cây xanh, dọn vệ sinh môi trường nhân các ngày
sự kiện về môi trường như: Ngày môi trường thế giới, chiến dịch làm sạch thế giới, tuần lễ quốc gia nước sạch vệ sinh môi trường, giờ trái đất, ngày Đa dạng sinh học, Tết trồng cây
Chỉ đạo Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện phát bản tin Tài nguyên và môi trường tuyên truyền về Luật bảo vệ môi trường, các văn bản có liên quan và các hoạt động liên quan đến môi trường
Tổ chức các hoạt động hưởng ứng các ngày môi trường như tuần lễ quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, ngày đa dạng sinh học, ngày môi trường thế giới, ngày làm cho thế giới sạch hơn…ở các địa phương trong huyện bằng nhiều hình thức phong phú, thu hút sự quan tâm tham gia của nhiều cộng đồng dân cư, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường
2 Đánh giá hơn 03 năm thực hiện chỉ thị 08-CT/TU ngày 13/4/2011 của Tỉnh
ủy về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Nam Trà My:
2.1- Về công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật:
Ngay sau khi quán triệt Chỉ thị của Tỉnh uỷ và UBND tỉnh về tăng cường các biện pháp nhằm lập lại trật tự kỷ cương trong lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản, Huyện
Uỷ Nam Trà My đã ban hành Thông tri số 08-TT/HU ngày 11/5/2011, UBND huyện ban
hành Chỉ thị số 08/CT-UBND ngày 12/5/2011 về việc “tăng cường các biện pháp cấp bách nhằm lập lại trật tự kỷ cương trong lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản”, Quyết
định thành lập Đoàn kiểm tra Liên ngành kiểm tra hoạt động khoáng sản, củng cố Ban quản lý Lâm-Khoáng sản, các kế hoạch truy quét, kiểm tra, thông báo về việc chấn chỉnh hoạt động khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn huyện, đồng thời phối hợp với các
cơ quan, ban, ngành, hội, đoàn thể của huyện tổ chức tuyên truyền phổ biến các quy định của Pháp luật liên quan đến hoạt động khoáng sản
Trang 7Công tác phối hợp giữa các ngành chức năng như Công an, Quân sự, Hạt kiểm lâm
và các ngành chức năng của huyện với UBND các xã triển khai có hiệu quả
Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Tỉnh ủy, UBND tỉnh qua các cuộc họp nhân dân thôn, nóc và trên các phương tiện thông tin đại chúng Vận động nhân dân không khai thác khoáng sản trái phép, không tiếp tay cho các tổ chức, cá nhân khai thác, mua bán, vận chuyển khoáng sản trái phép Qua đó đã tổ chức truy quét, đẩy đuổi các đối tượng khai thác trái phép ra khỏi địa bàn huyện, chấn chỉnh, lập lại trật tự kỷ cương trong hoạt động khoáng sản
Tuy vậy, việc chấp hành Pháp luật về khoáng sản của một số tổ chức và cá nhân trong thời gian qua chưa nghiêm, vẫn còn một số tụ điểm khai thác vàng trái phép xảy ra, nhất là ở các địa phương như Trà Leng và Trà Vân
2.2- Công tác quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản:
UBND huyện đã chỉ đạo Phòng Tài nguyên & Môi trường phối hợp với Phòng Kinh tế - Hạ tầng tiến hành kiểm tra, khảo sát các mỏ đá và bãi cát, sạn Trên địa bàn huyện, hiện có 05 điểm mỏ đá tại các xã: Trà Dơn, Trà Mai, Trà Vân, Trà Don và Trà Nam; 02 bãi cát, sạn dọc sông Tranh thôn 4, xã Trà Cang và bãi cát, sạn ngã ba Nước Là
- sông Tranh thôn 1, xã Trà Mai Hiện nay trên địa bàn huyện không có khai thác và chế biến khoáng sản
2.3- Việc ngăn chặn tình hình khai thác, chế biến trái phép và tình trạng khai
thác có phép nhưng chưa chấp hành đầy đủ các quy định của Nhà nước trên địa bàn:
Triển khai Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 13/4/2011 của Tỉnh uỷ và Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 15/4/2011 của 12/CT-UBND tỉnh về tăng cường các biện pháp cấp bách nhằm lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Ban Thường
vụ Huyện uỷ đã chỉ đạo UBND huyện thành lập đội Liên ngành, triển khai Kế hoạch tổ chức kiểm tra, truy quét, đẩy đuổi các tụ điểm khai thác khoáng sản trái phép tại các xã Trà Leng, Trà Mai, Trà Vân, thiêu hủy lán trại, phá huỷ máy móc và đẩy đuổi ra khỏi khu vực khai thác
Từ đầu năm 2011 đến quý II năm 2014, đã tổ chức kiểm tra, truy quét nhiều đợt ở các tụ điểm có hoạt động khoáng sản như đầu nguồn sông Nước Xa, khu vực giáp ranh giữa hai huyện Nam Trà My và Bắc Trà My, dòng sông Bua khu vực thôn 2 và thôn 3 xã Trà Vân - nơi giáp ranh với xã Sơn Bua, huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi; thôn 1, thôn 2
và thôn 3 xã Trà Leng; thôn 1, xã Trà Dơn Không có trường hợp cấp phép khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn huyện
2.4- Công tác rà soát và bảo vệ khoáng sản chưa khai thác:
Chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp với UBND các xã thường xuyên kiểm
tra, truy quét đẩy đuổi, phát hiện và xử lý nghiêm những đối tượng cố tình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát lập lại trật tự kỷ cương trong lĩnh vực khai thác khoáng sản Thanh tra, kiểm tra các đơn vị được cấp phép khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện về thủ tục, địa điểm, thời gian
Trang 8hoạt động khai thác và các nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước cũng như các đóng góp xây dựng địa phương, phí bảo vệ môi trường
IV- Những tồn tại, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm:
1- Những yếu kém tồn tại:
- Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên đất tại một số địa bàn đôi lúc đôi nơi còn tùy tiện Tính đồng bộ trong quy hoạch giữa các ngành chưa cao, công tác dự báo quy hoạch sử dụng đất còn hạn chế nên chưa phát huy được thế mạnh về tài nguyên đất đai, bố trí sử dụng đất chưa hợp lý Hiệu quả quản lý tài nguyên nước và tài nguyên lâm - khoáng sản chưa cao, còn nhiều bất cập, việc khai thác lâm - khoáng sản trái phép còn diễn ra ở một số nơi làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, đời sống sinh hoạt gây bức xúc trong nhân dân; việc cải tạo phục hồi môi trường sau khai thác chưa thực hiện tốt; công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, chưa đáp ứng yêu cầu
- Quang cảnh vệ sinh công cộng, trụ sở cơ quan làm việc, trường học chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ, một bộ phận cán bộ và nhân dân chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống xung quanh
- Ngân sách đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được so với nhu cầu thực tế Cơ sở hạ tầng thiết yếu về xử lý môi trường chưa được đầu tư đúng mức như bãi chôn lấp rác thải và xử lý nước thải tập trung chưa được đầu tư xây dựng (toàn huyện chỉ có 01 bãi chôn lấp rác thải tạm, không đảm bảo vệ sinh môi trường)
2 Nguyên nhân:
2.1- Nguyên nhân kết quả đạt được:
Có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nhất quán, kịp thời của Ban Thường vụ Huyện
uỷ, sự quản lý điều hành của UBND huyện đối với công tác bảo vệ tài nguyên môi trường trên địa bàn huyện; sự phối hợp chặt chẽ giữa Phòng Tài nguyên - Môi trường và các cơ quan chức năng liên quan của huyện; công tác tuyên truyền thực hiện Nghị quyết trong các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận, hội, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân đã được nâng lên, góp phần tác động tích cực đến nhận thức và hành động của cán bộ, công chức
và các tầng lớp nhân dân trong việc bảo vệ, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống
2.2- Nguyên nhân tồn tại, hạn chế:
- Một số cấp uỷ Đảng, Chính quyền, ban, ngành, đoàn thể chưa quan tâm đúng mức trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đối với công tác bảo vệ môi trường Công tác quản lý và phối hợp giữa các cơ quan chức năng liên quan chưa chặt chẽ thường xuyên và đồng bộ
- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và các chủ trương lãnh đạo của Đảng về môi trường nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường chưa được phổ biến rộng rãi và sinh động, chưa có lực lượng chuyên nghiệp nên hiệu quả chưa cao
Trang 9- Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa có ý thức tự giác trong việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
- Các biện pháp chế tài xử lý các vi phạm pháp luật về tài nguyên môi trường chưa
đủ nghiêm, chưa thật sự mạnh mẽ để răn đe, giáo dục chung nên một số đối tượng đã lợi dụng khai thác tài nguyên, lâm khoáng sản trái phép làm thất thoát tài nguyên, gây ô nhiễm nguồn nước, tiềm ẩn nguy cơ tác động xấu đến tài nguyên thiên nhiên, huỷ hoại môi trường sinh thái
- Hạ tầng bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập: hệ thống thu gom, xử lý rác thải;
hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát và xử lý nước thải; nghĩa trang, nghĩa địa chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế
- Nhiều văn bản hướng dẫn dưới Luật chưa được ban hành nên công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường gặp nhiều khó khăn, lúng túng
- Do địa bàn rộng, địa hình phức tạp, đội ngũ cán bộ quản lý môi trường mỏng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ còn nhiều hạn chế, nguồn lực đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường còn hạn hẹp
3 Bài học kinh nghiệm:
Các cấp uỷ Đảng và chính quyền phải nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của vấn
đề bảo vệ môi trường, xác định đây là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trên cơ sở đó tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo từ huyện đến cơ sở, đồng thời phát huy vai trò của tổ chức quần chúng, tạo ra phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện
Việc quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về công tác môi trường phải kịp thời, lan tỏa rộng khắp, sâu sắc để mọi tổ chức, cá nhân, đặc biệt là cán bộ, đảng viên thấy rõ trách nhiệm của mình trong công tác bảo vệ môi trường Xác định bảo vệ môi trường là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ cấp thiết, thường xuyên, là yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển bền vững của Nam Trà My nói riêng, của đất nước nói chung
Bảo vệ môi trường là một lĩnh vực phức tạp, liên quan đến mọi ngành, mọi cấp, do vậy các cấp ủy Đảng phải thường xuyên theo dõi, chỉ đạo và có biện pháp cụ thể thì công tác bảo vệ môi trường mới có thể mang lại hiệu quả cao Tăng cường hơn nữa hiệu quả quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường, kiên quyết xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
V Mục tiêu, nhiệm vụ và một số giải pháp trong thời gian đến:
Để triển khai thực hiện tốt Chỉ thị 29-CT/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; Chương trình hành động số 04-CT/TU của Tỉnh
ủy, Huyện uỷ Nam Trà My xác định tiếp tục thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới như sau:
Trang 101 Mục tiêu:
- Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào việc vào việc phát triển KT- XH, ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng – an ninh và thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế
- Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển KT -XH của từng ngành và từng địa phương Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển KT- XH mà coi nhẹ bảo vệ môi trường Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững
- Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh, hiện đại nhằm xây dựng quê hương, đất nước ngày thêm giàu đẹp
- Bảo vệ môi trường phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên, kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh nguồn lực trong xã hội, kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống
- Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách có tính đa ngành đòi hỏi phải cỏ sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc bảo vệ môi trường đạt kết quả
- Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học
- Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường
- Xây dựng địa phương có môi trường tốt, có sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, mọi người đều có ý thức bảo
vệ môi trường
2 Nhiệm vụ:
- Chấm dứt nạn đổ rác và xả nước thải chưa qua xử lý ra các sông, kênh, mương,
ao hồ, hệ thống giao thông công cộng, thu gom và xử lý toàn bộ rác thải sinh hoạt, hạn chế tối đa khối lượng rác chôn lấp
- Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, kiên quyết đình chỉ hoạt động hoặc buộc di dời đối với những cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng trong khu dân cư nhưng không có giải pháp khắc phục có hiệu quả