1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề bình đẳng giới trên báo phụ nữ việt nam

34 496 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề Bình Đẳng Giới Trên Báo Phụ Nữ Việt Nam
Trường học Khoa Báo Chí Và Truyền Thông, Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Báo chí và Truyền thông
Thể loại Niên luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 4,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau… Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội…”

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tình trạng bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình không phải là vấn đề xa

lạ đối với mọi quốc gia nhưng lại là nguyên nhân khiến các nhà lãnh đạo mỗinước phải “đau đầu” khi đứng trước vấn đề đó Bất bình đẳng giới và bạo lựcgia đình có lịch sử gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người, khi mà vaitrò của người đàn ông trong sản xuất xã hội ngày càng đề cao Khi xã hội ngàycàng phát triển, người phụ nữ được tạo điều kiện để thể hiện sâu sắc vai trò xãhội của mình, nhưng ý nghĩa về vai trò của người đàn ông đã bị biến thiên thànhlối sống bạo lực, độc đoán, ích kỷ, thích áp đặt và tự cho mình cái quyền áp đặt

đó Trong thời đại mới, dù vai trò xã hội của nữ giới được nâng cao nhưng bấtbình đẳng giới và bạo hành gia đình vẫn còn tồn tại không chỉ ở các nước kémphát triển hay các nước đang phát triển mà thậm chí còn ở các nước phát triểnvới những mức độ biểu hiện khác nhau Nạn nhân của bất bình đẳng giới đaphần là những người phụ nữ, họ bị đối xử bất bình đẳng trong công việc, ngoài

xã hội và ngay trong chính gia đình của mình

Khi bàn về vấn đề bình đẳng giới, Hiến Pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm

2001) đã quy định: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau… Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội…”; Luật Bình đẳng giới (2007) tiếp tục nhấn mạnh hơn nữa:

“Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; Nam,

nữ không bị phân biệt đối xử về giới”; Nhà nước cũng ban hành một hệ thống

các văn bản pháp luật đầy đủ để điều chỉnh về bình đẳng giới trên các lĩnh vựccủa đời sống xã hội và gia đình Trên thực tế, tình trạng bất bình đẳng giới vẫntồn tại và giữa quy định của pháp luật với việc thực thi vẫn là một khoảng cách

Trang 2

khá xa Chúng ta đang phải đối mặt với hàng loạt thách thức mới trong quá

trình thực hiện bình đẳng giới như nạn buôn bán Phụ nữ và trẻ em ra nước

ngoài làm mại dâm; mất cân bằng giới tính trong cơ cấu dân số và cơ cấu laođộng tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và những thách thức khác như địnhkiến giới, phân biệt đối xử với phụ nữ… đã và đang tồn tại từ rất lâu trongnhiều lĩnh vực của đời sống, hạn chế sự phát triển của phụ nữ nói riêng và sựtiến bộ của xã hội nói chung Hiểu được những thách thức, khó khăn đó, xã hộichúng ta cần phải tích cực chung tay hành động, xoá bỏ bất bình đẳng giới, tạomọi điều kiện tốt đẹp nhất để hai giới cùng phát triển và hội nhập

Để thực hiện bình đẳng giới yêu cầu phải thực hiện nhiều biện pháp kếthợp với nhau Báo chí với chức năng xã hội đặc biệt và có sức tác động lớn đến

xã hội, được coi là một trong những biện pháp quan trọng góp phần thúc đẩycuộc đấu tranh vì sự nghiệp bình đẳng giới Luật Báo chí 1989 (sửa đổi, bổ sung

năm 1999) chỉ rõ: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (dưới đây gọi chung là tổ chức); là diễn đàn của nhân dân” (Điều 1).

Báo Phụ nữ Việt Nam – Cơ quan Trung ương của Hội Liên hiệp Phụ nữViệt Nam, có thể nói đây là một tờ báo riêng của giới nữ, là một diễn đàn quantrọng chuyên phản ánh và đề cập đến vai trò, tiếng nói của nữ giới trong xã hội,góp phần lên án và đấu tranh vì sự tiến bộ của nữ giới, vì sự bình đẳng trong xãhội Đó chính là lý do để tôi lựa chọn báo Phụ nữ Việt Nam làm phạm vi nghiêncứu vấn đề bình đẳng giới, với mục đích nhìn nhận và đánh giá chính xác mộtcách chính xác hơn nữa hiệu quả tuyên truyền và nâng cao nhận thức xã hội củabáo chí nói chung và của báo Phụ nữ Việt Nam nói riêng đối với toàn xã hội

Trang 3

2 Mục đích nghiên cứu.

Nghiên cứu bất bình đẳng giới và các biện pháp tuyên truyền bất bìnhđẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình trên báo chí nói chung và cụ thể là trênbáo Phụ Nữ Việt Nam

Trên cơ sở thực tiễn nghiên cứu trên báo Phụ Nữ Việt Nam, đề xuấtnhững kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền nâng cao nhận thức vàđấu tranh vì sự nghiệp bình đẳng giới của xã hội

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Giải quyết những vấn đề lý luận và xây dựng cơ sở lý luận về vai tròcủa báo chí trong công tác tuyên truyền xã hội

- Chỉ ra thực trạng bất bình đẳng giới và các hình thức phản ánh, đề cậpvấn đề bất bình đẳng giới trên báo Phụ Nữ Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề bất bình đẳng giới và vai trò của báo chítrong công tác tuyên truyền bất bình đẳng giới;

- Phạm vi nghiên cứu: Báo Phụ Nữ Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận khoa học: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩaduy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp tổng hợp, phương phápphân tích, phương pháp đánh giá…

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp khảo sát

6 Kết cấu niên luận

- Tên niên luận: Vấn đề Bình đẳng giới trên báo Phụ nữ Việt Nam

- Kết cấu niên luận: 2 chương

Chương 1: Một số nét khái quát về bất bình đẳng giới

Chương 2: Bình đằng giới trên báo Phụ nữ Việt Nam

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

1 Khái niệm, mục tiêu bình đẳng giới

1.1.1 Khái niệm bình đẳng giới

Theo tài liệu Thúc đẩy bình đẳng giới để chống buôn bán phụ nữ và trẻem” (Dự án Chống buôn bán trẻ em và phụ nữ tại tiểu vùng Mêkông) của tổchức ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế), khái niệm giới và bình đẳng giới đượchiểu như sau:

Giới chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em trai

và trẻ em gái, giữ phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trongmột nền văn hoá và giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian Sự khácbiệt này được nhận thấy rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn

và thuận lợi của các giới

Giới tính chỉ sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và nữ giới mang

tính toàn cầu và không thay đổi

Bình đẳng giới đề cập đến sự bình đẳng về quyền, trách nhiệm và cơ hội

của nam giới và nữ giới, trẻ em gái và trẻ em trai

Luật Bình đẳng giới Việt Nam (2007) cũng đã đưa ra khái niệm về giới,giới tính và bình đẳng giới như sau:

Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan

hệ xã hội

Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.

Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo

điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộngđồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó

Trong tài liệu “Hướng dẫn lồng ghép giới trong họach định và thực thichính sách” do Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam (xuất bản năm

Trang 5

2004) cũng đề cập đến bình đẳng giới và cho rằng: “Bình đẳng giới là sự thừanhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ vànam giới”.

Như vậy, cả ILO và các tài liệu bình đẳng giới Việt Nam đều cho rằnggiới và giới tính là chỉ sự khác biệt nhau về mặt sinh học giữa nam và nữ Đồngthời thừa nhận bình đẳng giới, tức là thừa nhận sự ngang bằng nhau trong quyền

và trách nhiệm cũng như về vị trí, vai trò của cả nam và nữ trong gia đình và

ngoài xã hội Do đó, bình đẳng giới có thể được hiểu một cách chung nhất là những mối quan hệ không có sự phân biệt đối xử với phụ nữ; ở đó, phụ nữ và nam giới có cơ hội, có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và được đối xử, được hưởng thụ như nhau về các thành quả trong mọi lĩnh vực của xã hội; họ được tham gia như nhau vào mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị và dân sự.

1.1.2 Mục tiêu bình đẳng giới

Điều 4, Luật Bình đẳng giới (2007) đã khẳng định: Mục tiêu bình đẳnggiới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữtrong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳnggiới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữanam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Theo đó, người phụ nữ không bị phân biệt đối xử và tạo điều kiện pháttriển toàn diện Cả nam giới và nữ giới không có sự phân biệt về trách nhiệm,nghĩa vụ và quyền lợi, họ đều được đối xử ngang nhau về mọi mặt Tuy nhiên,điều đó không có nghĩa bình đẳng giới là sự hoán đổi vai trò của nam, nữ từ tháicực này sang thái cực khác; hay sự bình đẳng đó được tuyệt đối hóa hoàn toànvới tỷ lệ 50/50, mà cần hiểu rằng, bình đẳng giới là sự khác biệt về giới tínhtrong các hoạt động sản xuất, tái sản xuất và các hoạt động xã hội khác và đòihỏi sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên trong gia đình để tạo

cơ hội cho cả nam và nữ phát triển toàn diện về mọi mặt

Trang 6

Trong Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạnđến năm 2010 của Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam cũng đã

đưa ra mục tiêu tổng quát trong thực hiện bình đẳng giới: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội” Trong mục tiêu tổng

quát đó còn bao gồm những mục tiêu cụ thể về bình đẳng giới trên các lĩnh vực:

- Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động,việc làm;

Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo;

Cải thiện và nâng cao sức khỏe cho phụ nữ;

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội để tăng tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo; Bảođảm quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ và trẻ em gái trong giađình và xã hội;

- Tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.Trong mỗi mục tiêu cụ thể sẽ đưa ra những chỉ tiêu phấn đấu riêng và ứngvới mỗi lĩnh vực thì sẽ có những hướng giải pháp đạt mục tiêu phù hợp với lĩnhvực đó Ví như với mục tiêu thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trên lĩnh vựclao động việc làm, Uỷ ban hành động đã đưa ra một loạt các chỉ tiêu cụ thể đểthực hiện đến năm 2010: Tỷ lệ 50% lao động nữ trong tổng số người được tạoviệc làm mới; Giảm tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ ở khu vực thành thị xuốngdưới 6%; Giảm 50% số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ; Tăng tỷ lệ lao động nữđược đào tạo lên 35%, trong đó đào tạo nghề là 21% Để đạt được mục tiêu thìhướng tới thực hiện các giải pháp như: Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách

về lao động, việc làm nhằm bảo đảm bình đẳng giới; Thúc đẩy thực hiện chínhsách đối với lao động nữ; Tăng cường đào tạo nghề cho lao động nữ…

Trang 7

Dù trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn và mỗi lĩnh vực có những mục tiêu

và chỉ tiêu cụ thể nhưng tựu chung lại đều hướng tới thực hiện một cách có hiệuquả công tác bình đẳng giới Chính vì thế, Nhà nước và toàn xã hội khôngngừng thúc đẩy thực hiện các biện pháp bình đẳng giới như: phòng chống bạolực gia đình; bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ;tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình; khuyến khích cơ quan, tổchức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới; và bảođảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giađình đặc biệt là thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động sản xuất (bìnhđẳng về tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội…)

1 2 Hệ quả của bất bình đẳng giới

Chúng ta không phủ nhận việc có nhiều phụ nữ đã và đang nắm giữquyền lực chính trị và quyền lực kinh tế lớn ở nhiều quốc gia và trong xã hội.Nhưng bất bình đẳng giới từ lâu đã được coi là một vấn đề xã hội bức xúc củahầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở những nước Á Đông và ở cácnước Hồi giáo

Việt Nam là một quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi những tư tưởng,những quan niệm phong kiến mang tính định kiến, phân biệt đối với người phụ

nữ Một thời gian dài, người phụ nữ bị gò bó trong những giáo lý nghiêm ngặtcủa lễ giáo phong kiến, họ không được học hành, không được phép tham giavào các hoạt động xã hội, bị trói buộc vào những công việc gia đình và lệ thuộcvào người đàn ông trong chính gia đình đó Tiếng nói và vai trò xã hội củangười phụ nữ hầu như bị biến mất Xã hội hiện đại đã dần có những bước “cởitrói” cho người phụ nữ, tạo điều kiện cho họ phát triển một cách toàn diện hơn

và có nhiều cơ hội được đóng góp sức mình vào sự phát triển chung của xã hội.Tuy nhiên, điều đó cũng không thể xoá bỏ được tình trạng bất bình đẳng giới đãtồn tại ở nước ta hàng trăm năm qua Chính sự bất bình đẳng đó đã kéo theohàng loạt những hệ luỵ cho xã hội Chúng ta có thể kể đến một số hậu quả của

Trang 8

bất bình đẳng giới như: Nạn bạo hành trong gia đình, nạn buôn bán phụ nữ vàtrẻ em gái, tình trạng mất cân đối về giới trong cơ cấu dân số…

1.2.1 Nạn bạo hành trong gia đình

Phụ nữ được coi là một nửa của thế giới; ở Việt Nam, nữ giới chiếm 1/2dân số cả nước với khoảng 50,8% tổng dân số cả nước và 50% lao động của cảnước nhưng chính họ lại là những người đang trực tiếp phải đối mặt với nạn bạohành gia đình

Ở Việt Nam, bạo hành gia đình khá phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nôngthôn và những vùng kinh tế kém phát triển Nạn nhân của bạo hành gia đình chủyếu là phụ nữ, và trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái Nguyên nhân xuất phát từ nhiềuyếu tố khác nhau, nhưng tập trung vào các nguyên nhân do rượu, cờ bạc, nghèotúng, do sinh con một bề toàn là gái, do ghen tuông vô cớ, do trình độ nhận thứchạn chế… Những người đàn ông hành hạ vợ mình thường gia trưởng, cho mình

có quyền hành hạ vợ, còn người vợ đương nhiên phải chịu đựng Họ thanh minhviệc đánh vợ là do vợ nói lắm, suốt ngày cằn nhằn nhưng họ không cần biết lý

do vì sao vợ phải cằn nhằn

Không chỉ ở nông thôn mà ngay cả ở thành thị, nơi có điều kiện kinh tếphát triển và có trình độ văn hoá cao, tình trạng bạo hành trong gia đình cũngdiễn ra rất phức tạp Bạo lực gia đình không chỉ dừng lại ở việc đánh đập, hành

hạ về thể xác mà còn phải kể tới tình trạng bạo lực về tinh thần, bạo lực về tìnhdục, bạo hành về mặt xã hội (ngăn cấm giao tiếp với bên ngoài…) Có ý kiếncho rằng trong những gia đình trí thức, tình trạng bạo hành càng tinh vi hơn,không có những hành động thô bạo về thể xác nhưng khủng bố về mặt tinhthần Báo Lao động số 127 ra ngày 10/6/2009 đăng bài viết: “Bạo hành tronggia đình: Càng trí thức, càng tinh vi” (Quỳnh Châu) đề cập đến tình huống trảthù vợ của một người chồng trí thức Chỉ vì ghen tuông và muốn tra tấn tinhthần vợ sau một lần lầm lỡ tình cảm bằng cách treo ảnh vợ và bạn trai cũ thânmật trong phòng ngủ của hai vợ chồng và bật đèn rọi tranh suốt đêm Điều đó

Trang 9

đã khiến người vợ bị suy nhược thần kinh và kết cục đã lựa chọn giải pháp uốngthuốc ngủ tự vẫn.

Bạo hành trong gia đình: Càng trí thức, càng tinh vi

Lao Động số 127 Ngày 10/06/2009 Cập nhật: 9:10 AM, 10/06/2009

LĐ) - Hứa hẹn sẽ bỏ qua hết khi vợ quay trở về

tổ ấm sau một lần lầm lỡ tình cảm, nhưng anh

M - một nghệ sĩ - vẫn treo ảnh vợ và bạn trai cũthân mật ngay trong phòng ngủ của hai vợ chồng và bật đèn rọi tranh suốt đêm

Bị ám ảnh bởi cách tra tấn tinh thần khủng khiếp của chồng, sau 2 năm chịu đựng, chị N -

vợ anh - đã uống thuốc ngủ tự vẫn

Đó là một trong những câu chuyện vô cùng thương tâm chúng tôi được nghe chị Nguyễn Thị Thuý - GĐ Trung tâm Tư vấn và thông tin

tư liệu về bạo lực giới (CMRC) - kể lại khi tìm hiểu về các trường hợp bạo hành trong các gia đình trí thức

Theo thống kê của Viện Xã hội học, Viện KH-XH Việt Nam trong năm

2006, Việt Nam có đến 66% các vụ ly hôn liên quan đến bạo hành gia đình; 5%phụ nữ được hỏi thừa nhận bị chồng đánh đập thường xuyên; 82% hộ dân nôngthôn và 80% hộ ở thành phố có xảy ra bạo lực; Tỷ lệ phụ nữ bị ngược đãi trongnhững gia đình khá giả ở mức cao,76%

Bạo lực gia đình được xem là hành vi phạm pháp và được quy định trong

Bộ Luật hình sự nhưng trong thực tế các nạn nhân, thường là phụ nữ khôngnhìn nhận đó là vi phạm pháp luật, họ coi việc chịu đựng đó là lẽ đương nhiên

vì họ là vợ và họ cũng không dám lên tiếng vì sợ xấu hổ, sợ mất mặt với bà conhàng xóm láng giềng Chỉ khi bị đánh đập tàn nhẫn không chịu đựng nổi thì họmới tìm tới đến các đoàn thể, cơ quan chức năng như Công an, Hội phụ nữ đểnhờ giải quyết Nhiều người không muốn đem vụ việc ra giải quyết bởi việc

Càng trong những gia đình trí

thức thì hành vi bạo hành diễn

ra càng tinh vi và người ngoài

không thể biết được (cảnh trong

phim "Khoan nói lời yêu

thương" do CMRC phối hợp

sản xuất)

Trang 10

giải quyết theo luật pháp đều ảnh hưởng nhất định đến quyền lợi, kinh tế chungcủa gia đình, sợ cảnh con cái, cha mẹ bị “tan đàn xẻ nghé”…

Bạo hành gia đình gây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng, làm chokhông ít gia đình phải ly tan và thường để lại những di chứng nặng nề cho concái của họ Trẻ em gái thường rất mặc cảm trước mọi người, không thích giaotiếp, không tự tin trong cuộc sống, luôn có tư tưởng bỏ học, không dám kết thânvới người khác, nếu tình trạng bạo lực gia đình kéo dài sẽ khiến các em dần rơivào trạng thái lãnh cảm Trẻ em trai thì trở nên ương bướng, khó bảo, thích gây

gổ với người khác, học hành rất kém và rất nhiều trong số đó đã trở nên hư hỏng

1.2.2 Nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em gái

Trong những năm qua, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em gái ra nướcngoài làm mại dâm diễn ra khá phổ biến và có chiều hướng gia tăng ở nước ta.Nạn nhân chủ yếu là những phụ nữ và trẻ em ở các vùng nông thôn, vùng núi cóđiều kiện kinh tế khó khăn và trình độ nhận thức thấp bị kẻ xấu lợi dụng, lừabán sang Trung Quốc, Camphuchia, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po, HồngKông, thậm chí cả một số nước châu Âu, châu Mỹ… Họ bị lừa bán để "làm vợ"hoặc phải vào các động mại dâm của người địa phương hoặc cộng đồng ngườigốc Việt ở nước đó, một số khác bị đưa đi lao động cưỡng bức

Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an), giai đoạn 1998 –

2006, ở nước ta có 5.746 phụ nữ và trẻ em bị bán ra nước ngoài và 665 phụ nữ

và trẻ em bị buôn bán trong nước, chưa kể đến 7.940 phụ nữ và trẻ em nghi ngờ

bị buôn bán Từ năm 2005 đến tháng 6-2008, cả nước đã xảy ra 1.100 vụ với2.800 phụ nữ và trẻ em bị buôn bán, diễn ra mạnh nhất tại các tuyến biên giớiViệt Nam – Trung Quốc với hơn 65% tổng số vụ Tuyến Việt Nam – Cam-pu-chia cũng chiếm đến 15% tổng số vụ buôn bán phụ nữ và trẻ em, tuyến ViệtNam – Lào chiếm khoảng 6,5% số vụ… Theo thống kê của Ban Chỉ đạo130/CP (Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em), chỉ

Trang 11

trong sáu tháng đầu năm 2009, cả nước đã xảy ra 191 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ

em, với 362 đối tượng, lừa bán 417 nạn nhân

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em ngày cànggia tăng nhưng đây cũng chính là hệ quả của tình trạng bất bình đẳng giới vànạn bạo hành gia đình Hầu hết các chị em phụ nữ ở nông thôn, do trình độ hiểubiết thấp lại bị đối xử phân biệt, tệ bạc ngay trong chính gia đình của mình nên

họ dễ bị tổn thương và dễ bị kẻ xấu lợi dụng với những chiêu thức lừa như đượclấy chồng giàu sang, được ra nước ngoài làm việc với mức lương cao… Vìmong ước được thoát nghèo, được thoát khỏi địa ngục gia đình nên họ dễ dàngtin tưởng một cách mù quáng vào những người sẵn sàng chia sẻ, hứa hẹn giúp

đỡ họ mà đâu biết rằng đó là một bẫy bán thân

Các nhà hoạt động xã hội trong quá trình nghiên cứu đã đưa ra nguyênnhân khiến chị em phụ nữ rơi vào tay bọn buôn bán người chính là sự cả tin Và

sự cả tin đó xuất phát từ những nỗi khổ cực, bất hạnh do sự phân biệt đối xử, donhững bất bình đẳng giới mà họ phải gánh chịu Vô hình chung chính tư tưởngtrọng nam khinh nữ, tư tưởng phân biệt giới đã tiếp tay cho nạn buôn bán phụ

nữ và trẻ em, gây nên những kết cục đau buồn cho chính bản thân người phụ nữ

và những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội

1.2.3 Tình trạng mất cân đối về giới trong cơ cấu dân số

Bên cạnh những hệ quả về nạn bạo hành gia đình và nạn buôn bán phụ nữ

và trẻ em ra nước ngoài làm mại dâm, bất bình đẳng giới còn là nguyên nhângây ra tình trạng mất cân đối về giới trong cơ cấu dân số ở nước ta trong gầnmột thập kỷ qua

Dù đã sang thể kỷ 21, nhưng quan niệm “trọng nam khinh nữ”, “nhấtnam viết hữu, thập nữ viết vô”… vẫn là tâm lý ăn sâu bám rễ ở mỗi người dânViệt Nam, đặc biệt là những người dân vùng nông thôn, những dân tộc vùngsâu vùng xa nhận thức còn thấp kém Đã có rất nhiều người vì khao khát có contrai để nối dõi tông đường nên đã nạo phá những bào thai khi kết quả siêu âm là

Trang 12

bé gái dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về giới trong cơ cấu dân sốchung của cả nước; thậm chí có những những người vợ vì không sinh được contrai, đã lén lút cưới vợ lẽ cho chồng, cũng chính điều đó đã gây ra hậu quảngười vợ cả bị hắt hủi, ghẻ lạnh khi chồng có vợ mới, gia đình ly tán, con cái bịthiếu thốn tình cảm cũng như sự nuôi dạy của cha mẹ…

Theo số liệu của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình (2007), tỷ sốgiới tính khi sinh (số bé trai/100bé gái) của cả nước là 112/100, trong đó cảnước có tới 16 tỉnh, thành phố có tỷ lệ giới cao đến mức báo động từ 115 –118/100 Người ta cũng dự báo rằng, trong khoảng 15 – 20 năm tới, Việt Nam

sẽ thiếu từ 2,3 – 4,3 triệu nữ giới (trung bình khoảng 3 triệu thanh niên nam giớiViệt Nam không có cơ hội lấy vợ) Theo Báo cáo kết quả suy rộng mẫu củacuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở đã tiến hành vào thời điểm 1/4/2009 đượccông bố tại buổi họp báo ngày 31/12/2009, dân số Việt Nam đã đạt gần 85,8triệu người Tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam ở mức tương đối cao, đạt111/100, đặc biệt cao ở vùng đồng bằng Sông Hồng (115/100), tiêu biểu nhất làHưng Yên với tỷ số 131/100 Đây chính là những hệ quả chủ yếu nảy sinh từ sựbất bình đẳng giới

Từ những vấn đề đã nêu trên, dù bình đẳng giới đã được thực hiện rất phổbiến và trên diện rộng nhưng những tư tưởng, những định kiến về giới vẫn chưađược cải thiện, chưa được xoá bỏ, đặc biệt là ở các vùng nông thôn Bình đẳngnam nữ đang thực sự là một cuộc cách mạng khó khăn, lâu dài đòi hỏi cần phải

có sự chung tay, góp sức và tinh thần trách nhiệm của toàn xã hội

Trang 13

Chương 2 BÁO PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG

TUYÊN TRUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI

2.1 Một số vấn đề lý luận chung về báo chí

Báo chí - truyền thông xuất hiện trong quá trình phát triển của loài ngườinhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp, truyền đạt thông tin của con người trong xãhội Càng về sau, vị trí, vai trò của báo chí đối với xã hội ngày càng quan trọngtrong việc tạo và định hướng dư luận xã hội khiến cho báo chí được mệnh danh

là một dạng “quyền lực thứ 4” cùng với các quyền lực Nhà nước (quyền lậppháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp)

2.1.1 Vị trí, vai trò của báo chí

Báo chí là một hình thái ý thức xã hội, ra đời do nhu cầu thông tin – giaotiếp, giải trí và nhận thức của con người Ngay từ khi mới ra đời, báo chí đã thểhiện tính năng động trong việc phản ánh hiện thực xã hội và trở thành một bộphận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người

Với tư cách là những phương tiện truyền thông đại chúng hoạt động trênquy mô toàn xã hội, báo chí đã tham gia vào việc tìm tòi, phát hiện những conđường, phương pháp hợp lý để giải quyết các nhiệm vụ của thực tiễn; đảm bảothông tin chính xác, trung thực và kịp thời cho nhân dân về tất cả các vấn đề, sựkiện của đời sống xã hội và thế giới xung quanh trên một phạm vi rộng lớn;đồng thời báo chí cũng tham gia vào việc hình thành và định hướng dư luậnđúng đắn, xây dựng thái độ sống tích cực và nâng cao ý thức trách nhiệm củacác cá nhân trong cộng đồng, xã hội Do đó, báo chí luôn giữ vai trò hết sứcquan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của mỗi quốc gia Bất kỳ một lựclượng cầm quyền nào cũng muốn nắm giữ và sử dụng báo chí như một công cụ

để tác động vào tư tưởng, tình cảm của công chúng nhằm tạo ra ở họ nhữngnhận thức mới, những định hướng có giá trị cho cuộc sống theo mục đích củagiới cầm quyền Chính vì thế một thứ quyền lực bất thành văn đã được trao cho

Trang 14

báo chí để chỉ sự tác động to lớn của nó đối với toàn xã hội – “quyền lực thứ 4”.

Xã hội mặc nhiên thừa nhận điều đó và thực tế hoạt động của báo chí cũng ngàycàng củng cố thêm địa vị của mình trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Trên thực tế, báo chí cách mạng Việt Nam đã gắn liền với cuộc cách mạngđấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước của nhân dân ta trong suốt mộtthế kỷ qua Ngày nay, báo chí không những giữ vai trò cung cấp kiến thức thôngtin cho công chúng và tạo lập, định hướng, hướng dẫn dư luận mà còn tham giavào công tác quản lý và giám sát xã hội, tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

2.1.2 Chức năng của báo chí

Truyền thông là một quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹnăng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhậnthức của con người Báo chí là một loại hình truyền thông, hoạt động thông tinmang tính chính trị - xã hội, ra đời do nhu cầu khách quan của xã hội nên nócũng mang trong mình những chức năng nhất định nhằm thay đổi hành vi vànhận thức của con người, định hướng dư luận xã hội

2.1.2.1 Chức năng giáo dục tư tưởng

Chức năng giáo dục tư tưởng hay còn gọi là chức năng nhận thức của báochí là một trong những chức năng quan trọng hàng đầu của báo chí nhằm tácđộng vào ý thức xã hội, nâng cao trình độ nhận thức của công chúng và hìnhthành một hệ tư tưởng chính thống với những định hướng nhất định

Để thực hiện được điều đó, báo chí phải thông tin một cách chính xác,đầy đủ, sinh động các sự kiện, hiện tượng cũng như các quá trình xã hội, phântích các mối quan hệ và chỉ ra các biểu hiện của những mối quan hệ đó nhằmmang lại cho công chúng một bức tranh toàn cảnh về hiện thực của đời sống xãhội Đồng thời thông qua đó, báo chí còn giúp công chúng nhìn nhận, đánh giá

Trang 15

đúng đắn về bức tranh hiện thực đó để xác định và định hướng hành vi ý thứccủa mình cho phù hợp

Báo chí có sức tác động lớn và trực tiếp đến sự hình thành, định hướng dưluận xã hội một cách nhanh chóng và toàn diện Tính chất dư luận xã hội như thếnào phụ thuộc vào mức độ thông tin trên báo chí Chính vì thế, ở nước ta, Đảng

sử dụng báo chí như một phương tiện truyền thông quan trọng để giáo dục chínhtrị - tư tưởng cho quần chúng và “báo chí báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, Nhànước và đoàn thể xã hội vừa là tiếng nói của nhân dân Sức mạnh định hướng củabáo chí thể hiện ở khả năng trở thành diễn đàn cho toàn Đảng, toàn dân tham giathảo luận và giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước, phê bình và đấutranh chống những hiện tượng tiêu cực cản trở sự phát triển của xã hội”1 Báo chíViệt Nam đóng vai trò quan trọng trong công tác truyền bá chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; truyền bá tri thức tiên tiến của nhân loại và tuyêntruyền, giải thích bản chất đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về tất cảcác lĩnh vực của đời sống xã hội đến với quần chúng Trên cơ sở đó cổ độngquần chúng, hình thành những nhận thức và hành vi tích cực trong đời sống xãhội, phù hợp với mục đích chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhànước

2.1.2.2 Chức năng quản lý và giám sát xã hội

Ngoài chức năng giáo dục tư tưởng, báo chí còn có chức năng quản lý vàgiám sát xã hội Trong hoạt động quản lý xã hội, báo chí đóng vai trò là cầu nốigiữa các cơ quan, tổ chức quản lý (chủ thể quản lý) và đối tượng quản lý (côngchúng, xã hội) thông qua việc cung cấp thông tin cho cả chủ thể quản lý và đốitượng quản lý

Trong hoạt động quản lý, những đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước đến với người dân thông qua báo chí Báo chí truyền tải, phổbiến, giải thích để người dân hiểu và thực hiện vào trong thực tiễn Ngược lại,

Trang 16

báo chí cũng là nơi thể hiện ý kiến phản hồi, tâm tư, nguyện vọng của quần chúngtới các cấp có thẩm quyền để từ đó có sự điều chỉnh lại hoặc ban hành nhữngchính sách mới phù hợp hơn, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn; Đồng thời cũng gópphần xây dựng và hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước thông quaviệc phản ánh kịp thời tình hình thực tế, hiện trạng các vấn đề đang xảy ra trong xãhội; Báo chí còn tham gia quản lý và giám sát xã hội thông qua hoạt động lên án,phê phán và đấu tranh chống lại những tiêu cực trong xã hội

Ngày nay, báo chí đã và đang đóng góp một vai trò rất quan trọng trongviệc tố cáo, phanh phui những tệ nạn, những thói hư tật xấu trong xã hội và cácvấn đề tiêu cực trong hoạt động quản lý Nhà nước… Thông qua sức ép dư luận

xã hội, những hành vi tiêu cực đó được xử lý một cách công khai và nghiêmminh Đây chính là mục đích hoạt động của báo chí nhằm mang lại sự công bằng

và bình ổn trong xã hội

2.1.2.3 Chức năng phát triển văn hoá và giải trí

Trước đây chức năng chủ yếu của báo chí chỉ dừng lại ở chức năng giáodục tư tưởng, định hướng nhận thức dư luận xã hội Trong xu thế phát triểnchung và nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của con người, chức năngphát triển văn hoá và giải trí của báo chí dần dần được hình thành và trở thànhmột phần không thể thiếu trong báo chí

Báo chí là kênh truyền bá, phổ biến một cách sinh động, hấp dẫn các loạihình và tác phẩm văn hoá – văn nghệ để nâng cao trình độ nhận thức và đáp ứngnhu cầu văn hoá – giải trí của nhân dân Các tác phẩm văn hoá – nghệ thuật trongbáo chí có thể là các tác phẩm về nghệ thuật, âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, điệnảnh, những tin bài về hoạt động trong lĩnh vực văn hoá – nghệ thuật… Qua đó đểđại chúng hoá các giá trị văn hoá, tinh thần tốt đẹp của dân tộc, nhân loại, đồngthời tạo điều kiện cho mỗi thành viên tự bổ sung thêm nguồn tri thức và tự làmphong phú thêm đời sống tinh thần của mình, hình thành nhân cách, lối sống tốtđẹp Bên cạnh ý nghĩa đó, báo chí Việt Nam còn góp phần truyền bá, bảo vệ, bảo

Trang 17

tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, phổ biến rộng rãi đạo đức, phong tục tậpquán tích cực của dân tộc Việt đê gây ảnh hưởng… Ngày nay, chức năng giải trícủa báo chí còn bao gồm cả hoạt động quảng cáo, giúp công chúng tìm kiếmthông tin dễ dàng, tiết kiệm về kinh tế và thời gian.

Với chức năng văn hoá và giải trí đã làm phong phú thêm vai trò của báochí đối với xã hội, góp phần thiết lập những mối quan hệ, những lối sống lànhmạnh, tích cực Do đó, báo chí vừa là công cụ tích cực thực hiện truyền bá tácphẩm văn hoá, vừa là nơi hội tụ các sáng tạo các giá trị văn hoá và kiểm nghiệmcác tác phẩm văn hoá Với ưu thế đó, báo chí vừa giáo dục chính trị, tư tưởng vừagiáo dục đạo đức thẩm mĩ của công chúng, hướng con người tới Chân – Thiện –

Mĩ, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của xã hội

Tuy phân chia thành các chức năng cụ thể, riên biệt nhưng các chức năngcủa báo chí không hoàn toàn tách rời nhau mà có sự đan xen, cài lồng trong cáctác phẩm báo chí Mỗi tờ báo, mỗi tác phẩm báo chí đều có sức lan toả rất lớn tớicông chúng và có giá trị định hướng cho công chúng không chỉ về nhận thức, tưtưởng mà còn cả về văn hoá, tinh thần

2.2 Vấn đề bình đẳng giới trên báo Phụ Nữ Việt Nam

2.2.1 Đôi nét về báo Phụ nữ Việt Nam

Báo chí với tư cách là cơ quan ngôn luận của Đảng, của cơ quan Nhànước, tổ chức xã hội và là diễn đàn của nhân dân đã không ngừng phát huy vaitrò và chức năng của mình đối với xã hội Báo Phụ nữ Việt Nam cũng khôngnằm ngoài vai trò đó

Báo Phụ nữ Việt Nam ra đời năm 1977, số báo đầu tiên ra từ ngày 3/1/1977 với số lượng 1số/1 tuần Cơ quan chủ quản của tờ báo là Trung ươngHội phụ nữ Việt Nam và được coi là cơ quan ngôn luận của một tổ chức chínhtrị - xã hội, cụ thể là của Hội Phụ nữ Việt Nam, là tiếng nói của chị em phụ nữtrong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; trụ sở chính đặt tại số 47

1-Hàng Chuối, Hà Nội Ngay từ khi mới ra đời, tờ báo đã nhanh chóng phản ánh

Ngày đăng: 27/05/2014, 10:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w