Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2008.Hiện nay, phụ nữ nông thôn không còn tham gia sản xuất nông nghiệp nhiều mà chuyển sang buôn bán và tham gia vào các nghề tiểu thủ công nghiệ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu nghiên cứu trong luận văn này là trungthực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đãđược cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2008
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Trang 2
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thị MinhHiền – Bộ môn Phát triển nông thôn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôitrong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thánh cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các ban ngành, đoànthể, các nhân viên, cán bộ và nhân dân huyện Gia Lâm và xã Ninh Hiệp đãgiúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực tập đề tài
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các tập thể, cá nhân, bạn bè
và người thân đã quan tâm giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong quá trìnhthực hiện luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1 viii
1.1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1 viii
1.2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu 3 viii
1.2.1 Mục tiêu chung 3 viii
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3 viii
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 viii
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3 viii
1.3.2.Phạm vi nghiên cứu 3 viii
PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5 ix
2.1 Cơ sở lý luận 5 ix
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của các làng nghề 5 ix
2.1.2 Vai trò của các làng nghề và các nhân tố ảnh hưởng tới làng nghề 7 ix
2.1.3 Khái niệm về giới và giới tính 10 ix
2.1.4 Vai trò của phụ nữ trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò phụ nữ 12 ix
2.1.5 Vai trò của phụ nữ trong làng nghề và trong nông thôn 15 ix
2.2 Cơ sở thực tiễn 16 ix
2.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển của các làng nghề Việt Nam 16 ix
2.2.2 Thực trạng về phụ nữ trên thế giới 20 ix
2.2.3 Tình hình chung về phụ nữ ở Việt Nam 21 ix
2.2.4 Thực trạng về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong nông thôn 22 ix
VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 25 ix
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25 ix
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25 ix
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội: 25 ix
3.1.3 Tình hình nghề chế biến dược liệu chung của xã: 30 ix
3.2.Phương pháp nghiên cứu 37 ix
Trang 43.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu điều tra 37 ix
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 38 ix
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 39 ix
3.2.4 Nội dung và hệ thống các chỉ tiêu 40 ix
PHẦN THỨ TƯ: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42 ix
4.1 Một số nét chung về địa bàn điều tra và các hộ điều tra 42 ix
4.1.1 Một số nét chung về địa bàn nghiên cứu 42 ix
4.1.2 Thực trạng ở các hộ điều tra 43 ix
4.2 Vai trò của phụ nữ làng nghề dược liệu Ninh Hiệp: 50 ix
4.2.1 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất – kinh doanh dược liệu 51 ix
4.2.2 Vai trò của phụ nữ đối với gia đình 64 x
4.2.3 Vai trò của phụ nữ đối với cộng đồng 66 x
4.3 Một số giải pháp nhằm phát huy và nâng cao vai trò của phụ nữ trong làng nghề dược liệu ở Ninh Hiệp 71 x
4.3.1 Một số nhận xét chung về vai trò của phụ nữ trong làng nghề dược liệu Ninh Hiệp 71 x
4.3.2 Những thuận lợi và khó khăn của phụ nữ trong làng nghề 74 x
4.3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong làng nghề dược liệu Ninh Hiệp 81 x
PHẦN THỨ NĂM: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84 x
5.1 Kết luận 84 x
5.2 Khuyến nghị 85 x
5.2.1 Đối với nhà nước 85 x
5.2.2 Đối với các cấp chính quyền, đoàn thể địa phương: 85 x
Bảng 2.1: Tổng số hộ và lao động theo nghề của một số làng nghề chủ yếu tại huyện Gia Lâm – Hà Nội 8 xi
Bảng 3.1: Tình hình dân số, lao động của xã Ninh Hiệp 3 năm 2005, 2006, 2007 26 xi
Bảng 3.2: Tình hình đất đai xã Ninh Hiệp 3 năm 2005, 2006, 2007 27 xi
Trang 5Bảng 3.3: Tình hình phát triển kinh tế xã Ninh Hiệp 3 năm 2005, 2006, 2007
28 xi
Bảng 3.4: Tình hình lao động làng dược liệu Ninh Hiệp 3 năm 2005, 2006, 2007 33 xi
Bảng 3.5: Đóng góp của làng dược liệu Ninh Hiệp vào GTSX toàn huyện 3 năm 2005, 2006, 2007 34 xi
Bảng 3.6: Tình hình lao động ở các làng nghề huyện Gia Lâm 35 xi
3 năm 2005, 2006, 2007 35 xi
Bảng 3.7: Tiêu chí phân loại hộ 37 xi
Bảng 3.8: Tổng hợp số mẫu của các hộ điều tra 38 xi
Bảng 4.1:Tình hình lao động xóm 8 42 xi
Bảng 4.2: Tình hình các hộ làm nghề dược liệu Ninh Hiệp 43 xi
3 năm 2005, 2006, 2007 43 xi
Bảng 4.3: Tình hình cơ bản của các cơ sở sản xuất kinh doanh 47 xi
Bảng 4.4: Vốn sản xuất – kinh doanh trong các hộ điều tra 48 xi
Bảng 4.5: Trình độ lao động của trong các hộ điều tra 50 xi
Bảng 4.6: Thực trạng tiếp cận một số nguồn lực chính trong các hộ điều tra 53 xi Bảng 4.7: Sự tham gia của lao động nữ trong một số công đoạn SXKD chính 55 xi
Bảng 4.8: Sự tham gia của phụ nữ trong việc ra quyết định sản xuất 58 xi
Bảng 4.9: Thăm dò ý kiến về thu nhập của phụ nữ và nam giới trong gia đình 60 xi
Bảng 4.10: Sự tham gia của phụ nữ trong bảo tồn và duy trì làng nghề 64 xii
Bảng 4.11: Thời gian làm nội trợ và nghỉ ngơi trong ngày của phụ nữ 65 xii
Bảng 4.12: Sự tham gia của phụ nữ trong các tổ chức chính quyền và đoàn thể 67 xii
Bảng 4.13: Tham gia các hoạt động chung cộng đồng 68 xii
Bảng 4.14: Phụ nữ hưởng lợi từ cộng đồng 70 xii
Trang 6Bảng 4.15: Tóm tắt sự tham gia của phụ nữ một số công việc ở làng nghề
dược liệu Ninh Hiệp 74 xii
Bảng 4.16: Lịch thời gian trong ngày của phụ nữ 76 xii
Bảng 4.17: Thời gian sử dụng trong ngày của nam giói và phụ nữ trong hộ điều tra 78 xii
Bảng 4.18: Những khó khăn mà phụ nữ làng nghề thường gặp phải 80 xii
Bảng 4.19: Tóm tắt một số thuận lợi và khó khăn mà phụ nữ làng dược liệu Ninh Hiệp gặp phải 81 xii
Hộp 3.1: Người dân cho rằng không cần phải học 36 xiii
Hộp 4.1: Ai làm chủ hộ mà chẳng được 44 xiii
Hộp 4.2: Cần gì học nhiều 49 xiii
Hộp 4.3: Thời gian đâu? 52 xiii
Hộp 4.4: Con gái làng Nành thái thuốc khéo lắm 54 xiii
Hộp 4.5: Quyền quyết định 57 xiii
Hộp 4.6: Tâm sự của một cụ lang già 63 xiii
Hộp 4.7: Không khó nhưng không phải ai cũng làm được 64 xiii
Hộp 4.8: Đàn ông làm việc nhà thì còn ra thể thống gì 65 xiii
Hộp 4.9: Cô ấy vất vả quá! 76 xiii
Hình 4.1 Phụ nữ Ninh Hiệp trong công đoạn thái, cắt thuốc 55 xiii
Hình 4.2: Phụ nữ trong công đoạn chế biến thuốc Hà Thủ Ô 56 xiii
Hình 4.3: Phụ nữ trong công đoạn buôn bán dược liệu 56 xiii
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2.Phạm vi nghiên cứu 3
Trang 7PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của các làng nghề 5
2.1.2 Vai trò của các làng nghề và các nhân tố ảnh hưởng tới làng nghề 7
2.1.3 Khái niệm về giới và giới tính 10
2.1.4 Vai trò của phụ nữ trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò phụ nữ 12
2.1.5 Vai trò của phụ nữ trong làng nghề và trong nông thôn 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 16
2.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển của các làng nghề Việt Nam 16
2.2.2 Thực trạng về phụ nữ trên thế giới 20
2.2.3 Tình hình chung về phụ nữ ở Việt Nam 21
2.2.4 Thực trạng về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong nông thôn 22
VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội: 25
3.1.3 Tình hình nghề chế biến dược liệu chung của xã: 30
3.2.Phương pháp nghiên cứu 37
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu điều tra 37
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 38
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 39
3.2.4 Nội dung và hệ thống các chỉ tiêu 40
PHẦN THỨ TƯ: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Một số nét chung về địa bàn điều tra và các hộ điều tra 42
4.1.1 Một số nét chung về địa bàn nghiên cứu 42
4.1.2 Thực trạng ở các hộ điều tra 43
4.2 Vai trò của phụ nữ làng nghề dược liệu Ninh Hiệp: 50
4.2.1 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất – kinh doanh dược liệu 51
Trang 84.2.1.1 Phụ nữ với việc tiếp cận nguồn lực 51
4.2.1.2 Phụ nữ trong quá trình sản xuất 54
4.2.1.3 Phụ nữ với việc ra quyết định sản xuất – kinh doanh 57
4.2.1.4 Trong việc thụ hưởng 60
4.2.1.5 Phụ nữ với việc bảo tồn làng nghề 62
4.2.2 Vai trò của phụ nữ đối với gia đình 64
4.2.3 Vai trò của phụ nữ đối với cộng đồng 66
4.3 Một số giải pháp nhằm phát huy và nâng cao vai trò của phụ nữ trong làng nghề dược liệu ở Ninh Hiệp 71
4.3.1 Một số nhận xét chung về vai trò của phụ nữ trong làng nghề dược liệu Ninh Hiệp 71
4.3.2 Những thuận lợi và khó khăn của phụ nữ trong làng nghề 74
4.3.2.1 Những thuận lợi 74
4.3.2.2 Những khó khăn 75
4.3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong làng nghề dược liệu Ninh Hiệp 81
PHẦN THỨ NĂM: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
5.1 Kết luận 84
5.2 Khuyến nghị 85
5.2.1 Đối với nhà nước 85
5.2.2 Đối với các cấp chính quyền, đoàn thể địa phương: 85
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2.Phạm vi nghiên cứu 3
Trang 9PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của các làng nghề 5
2.1.2 Vai trò của các làng nghề và các nhân tố ảnh hưởng tới làng nghề 7
2.1.3 Khái niệm về giới và giới tính 10
2.1.4 Vai trò của phụ nữ trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò phụ nữ 12
2.1.5 Vai trò của phụ nữ trong làng nghề và trong nông thôn 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 16
2.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển của các làng nghề Việt Nam 16
2.2.2 Thực trạng về phụ nữ trên thế giới 20
2.2.3 Tình hình chung về phụ nữ ở Việt Nam 21
2.2.4 Thực trạng về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong nông thôn 22
VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội: 25
3.1.3 Tình hình nghề chế biến dược liệu chung của xã: 30
3.2.Phương pháp nghiên cứu 37
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu điều tra 37
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 38
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 39
3.2.4 Nội dung và hệ thống các chỉ tiêu 40
PHẦN THỨ TƯ: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Một số nét chung về địa bàn điều tra và các hộ điều tra 42
4.1.1 Một số nét chung về địa bàn nghiên cứu 42
4.1.2 Thực trạng ở các hộ điều tra 43
4.2 Vai trò của phụ nữ làng nghề dược liệu Ninh Hiệp: 50
4.2.1 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất – kinh doanh dược liệu 51
Trang 104.2.2 Vai trò của phụ nữ đối với gia đình 64
4.2.3 Vai trò của phụ nữ đối với cộng đồng 66
4.3 Một số giải pháp nhằm phát huy và nâng cao vai trò của phụ nữ trong làng nghề dược liệu ở Ninh Hiệp 71
4.3.1 Một số nhận xét chung về vai trò của phụ nữ trong làng nghề dược liệu Ninh Hiệp 71
4.3.2 Những thuận lợi và khó khăn của phụ nữ trong làng nghề 74
4.3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong làng nghề dược liệu Ninh Hiệp 81
PHẦN THỨ NĂM: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
5.1 Kết luận 84
5.2 Khuyến nghị 85
5.2.1 Đối với nhà nước 85
5.2.2 Đối với các cấp chính quyền, đoàn thể địa phương: 85
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng số hộ và lao động theo nghề của một số làng nghề chủ yếu tại
huyện Gia Lâm – Hà Nội 8
Bảng 3.1: Tình hình dân số, lao động của xã Ninh Hiệp 3 năm 2005, 2006, 2007 26
Bảng 3.2: Tình hình đất đai xã Ninh Hiệp 3 năm 2005, 2006, 2007 27
Bảng 3.3: Tình hình phát triển kinh tế xã Ninh Hiệp 3 năm 2005, 2006, 2007 28 Bảng 3.4: Tình hình lao động làng dược liệu Ninh Hiệp 3 năm 2005, 2006, 2007 33
Bảng 3.5: Đóng góp của làng dược liệu Ninh Hiệp vào GTSX toàn huyện 3 năm 2005, 2006, 2007 34
Bảng 3.6: Tình hình lao động ở các làng nghề huyện Gia Lâm 35
3 năm 2005, 2006, 2007 35
Bảng 3.7: Tiêu chí phân loại hộ 37
Bảng 3.8: Tổng hợp số mẫu của các hộ điều tra 38
Bảng 4.1:Tình hình lao động xóm 8 42
Bảng 4.2: Tình hình các hộ làm nghề dược liệu Ninh Hiệp 43
3 năm 2005, 2006, 2007 43
Bảng 4.3: Tình hình cơ bản của các cơ sở sản xuất kinh doanh 47
Bảng 4.4: Vốn sản xuất – kinh doanh trong các hộ điều tra 48
Bảng 4.5: Trình độ lao động của trong các hộ điều tra 50
Bảng 4.6: Thực trạng tiếp cận một số nguồn lực chính trong các hộ điều tra.53 Bảng 4.7: Sự tham gia của lao động nữ trong một số công đoạn SXKD chính 55 Bảng 4.8: Sự tham gia của phụ nữ trong việc ra quyết định sản xuất 58 Bảng 4.9: Thăm dò ý kiến về thu nhập của phụ nữ và nam giới trong gia đình 60
Trang 12Bảng 4.10: Sự tham gia của phụ nữ trong bảo tồn và duy trì làng nghề 64Bảng 4.11: Thời gian làm nội trợ và nghỉ ngơi trong ngày của phụ nữ 65Bảng 4.12: Sự tham gia của phụ nữ trong các tổ chức chính quyền và đoàn thể67
Bảng 4.13: Tham gia các hoạt động chung cộng đồng 68Bảng 4.14: Phụ nữ hưởng lợi từ cộng đồng 70Bảng 4.15: Tóm tắt sự tham gia của phụ nữ một số công việc ở làng nghề dược liệu Ninh Hiệp 74Bảng 4.16: Lịch thời gian trong ngày của phụ nữ 76Bảng 4.17: Thời gian sử dụng trong ngày của nam giói và phụ nữ trong hộ điều tra 78Bảng 4.18: Những khó khăn mà phụ nữ làng nghề thường gặp phải 80Bảng 4.19: Tóm tắt một số thuận lợi và khó khăn mà phụ nữ làng dược liệu Ninh Hiệp gặp phải 81
Trang 13DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1: Người dân cho rằng không cần phải học 36
Hộp 4.1: Ai làm chủ hộ mà chẳng được 44
Hộp 4.2: Cần gì học nhiều 49
Hộp 4.3: Thời gian đâu? 52
Hộp 4.4: Con gái làng Nành thái thuốc khéo lắm 54
Hộp 4.5: Quyền quyết định 57
Hộp 4.6: Tâm sự của một cụ lang già 63
Hộp 4.7: Không khó nhưng không phải ai cũng làm được 64
Hộp 4.8: Đàn ông làm việc nhà thì còn ra thể thống gì 65
Hộp 4.9: Cô ấy vất vả quá! 76
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 4.1 Phụ nữ Ninh Hiệp trong công đoạn thái, cắt thuốc 55
Hình 4.2: Phụ nữ trong công đoạn chế biến thuốc Hà Thủ Ô 56
Hình 4.3: Phụ nữ trong công đoạn buôn bán dược liệu 56
Trang 145 GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
6 HĐH: Hiện đại hoá
18 TTCN: Tiểu thủ công nghiệp
19 UBND: Uỷ Ban Nhân Dân
20 UNDP: Tổ chức phát triển liên hợp quốc
21 USD: Đô la Mỹ
22 WB (World Bank): Ngân hàng thế giới
Trang 15PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số thế giới Theo thống kê của bandân số năm 2005, nam giới là 40,845 triệu người (chiếm 49,14 % tổng dân sốthế giới) Phụ nữ với 42,3 triệu người, chiếm 50,86 % tổng dân số.(Development Report of UNDP, 2005) Trong đời sống và trong sự phát triểnkinh tế - xã hội, phụ nữ luôn có vai trò quan trọng Hiện nay, khi phụ nữ vànam giới đã bình đẳng hơn thì người phụ nữ không chỉ tham gia vào quátrình sản xuất, mà còn tham gia vào công tác quản lý cộng đồng
Ở Việt Nam phụ nữ chiếm tới 52 % lực lượng lao động xã hội và 55
% lực lượng trực tiếp sản xuất trong các ngành công, nông, thương nghiệp vàdịch vụ Là một nước Á Đông, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ tưtưởng Nho giáo và Phật giáo, trong đó có tư tưởng “trọng nam, kinh nữ”.Nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện cho người phụ nữ tham giavào các công tác xã hội, các lĩnh vực kinh tế - chính trị như nam giới Năm
1483, ngay trong Bộ luật Hồng Đức dưới triều Lê, đã cho phép người phụ nữhưởng quyền bình đẳng, quyền ly hôn và quyền không bị xâm hại Điều 9của Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam năm 1946 đã nêu rõ rằng: “Phụ
nữ bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực” Điều 24 của Hiến phápnăm 1959 có ghi: “Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnhvực hoạt động - chính trị, kinh tế, văn hoá, trong gia đình và trong xã hội.Những công việc như nhau cần được trả lương như nhau ” Ngày nay ngườiphụ nữ đã tham gia vào tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế - chính trị - xã hội
và có những đóng góp quan trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế
Trong nông thôn, phụ nữ chiếm số đông trong dân số (51,5%) và lựclượng lao động (51,86%) (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2008).Hiện nay, phụ nữ nông thôn không còn tham gia sản xuất nông nghiệp nhiều
mà chuyển sang buôn bán và tham gia vào các nghề tiểu thủ công nghiệp vì
Trang 16những ngành nghề này mang lại thu nhập cao hơn, đặc biệt giúp giải quyếtvấn đề việc làm khi mà diện tích đất nông nghịêp bình quân một lao độngđang giảm dần
Các làng nghề của Việt Nam ra đời từ rất sớm, sớm nhất ở vùngĐồng bằng sông Hồng (Trần Thị Minh Ngọc, 2000) Từ lâu các làng nghềluôn thu hút nhiều lao động, đặc biệt là lao động nữ Các làng nghề ra đờigiải quyết việc làm cho một lực lượng lao động đông đảo Các làng nghề ởnước ta hiện nay thu hút 11 triệu lao động, chiếm khoảng 30 % lực lượng laođộng nông thôn (Thông tấn xã Việt Nam, 2008) Các làng nghề ra đời gópphần thay đổi bộ mặt nông thôn, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, vì vậyĐảng và Nhà nước ta luôn chủ trương khuyến khích phát triển các ngànhnghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nhằm đẩy mạnh quá trình CNH -HĐH nông thôn
Xã Ninh Hiệp cách trung tâm Hà Nội 18 km (trước đây còn được gọi
là làng Nành), thuộc huyện ngoại thành Gia Lâm, Hà Nội Ngày nay, người tabiết đến Ninh Hiệp với nghề buôn vải Nghề buôn bán vải đã biến Ninh Hiệptrở nên trù phú và sầm uất, nhưng nó cũng là nguyên nhân làm cho một nghềtruyền thống nổi tiếng ở đây mai một nghiêm trọng Đó là nghề trồng và chếbiến dược liệu Nghề trồng và chế biến dược liệu ở Ninh Hiệp đã có từ hàngtrăm năm nay Hiện nay, ở Ninh Hiệp không trồng cây thuốc nữa mà chỉ buônbán và chế biến dược liệu Cũng như những làng nghề khác, nghề dược liệu ởNinh Hiệp sử dụng một số lượng tương đối lớn lao động nữ, trong tất các côngđoạn: sản xuất, chế biến, tiêu thụ và bảo tồn nghề truyền thống
Trước thực tế đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ trong làng nghề dược liệu ở xã Ninh Hiệp - huyện Gia Lâm – Hà Nội” với mong muốn tìm hiểu những đặc trưng cũng như những đóng góp
của phụ nữ trong làng nghề này, và thông qua đó đề xuất một số giải pháp cơbản nhằm nâng cao vai trò của người phụ nữ trong các làng nghề nói chung
và làng nghề chế biến dược liệu Ninh Hiệp nói riêng
Trang 171.2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong làng nghề dược liệu ở xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm – Hà Nội Từ đó, đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằmnâng cao vai trò của phụ nữ trong làng nghề nghiên cứu
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình sản xuất, phát triển và bảo tồn một làng nghề
- Phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong làng nghề
+ Số liệu thứ cấp được thu thập trong thời gian 3 năm từ 2005 đến 2007.+ Thông tin sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ30/2/2008 đến 15/4/2008
+ Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ 10/1/2008 đến10/5/2008
Trang 18- Phạm vi nội dung
Trong thời gian nghiên cứu có hạn, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứuvai trò của phụ nữ trong một số công đoạn chính của nghề dược liệu NinhHiệp – Gia Lâm – Hà Nội, so sánh đóng góp của phụ nữ và nam giới đối vớilàng nghề này Trên cơ sở đó, tìm hiểu những khó khăn mà phụ nữ gặp phảikhi tham gia các hoạt động ở làng nghề và đề xuất một số giải pháp nhằm gópphần hạn chế những khó khăn, trở ngại đang gặp phải
Trang 19PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của các làng nghề
- Khái niệm:
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (www.Wikipedia.org, 2007):
“Làng nghề Việt Nam, làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống, hoặc làng nghề cổ truyền…, thường được gọi ngắn gọn là làng nghề, là những làng mà tại đó hầu hết dân cư tập trung vào làm một nghề duy nhất nào đó, nghề của
họ thường có tính chuyên sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng.”
- Một số đặc điểm cơ bản của làng nghề:
● Các làng nghề được sinh ra từ nông thôn
Người làm làng nghề đa số xuất phát là nông dân, sản phẩm của ngànhnghề ban đầu cũng được sản xuất để phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đờisống của của nông dân, vì vậy làng nghề thường tồn tại ở nông thôn, gắn bóchặt chẽ với nông nghiệp
Ban đầu làng nghề ra đời để giải quyết việc làm cho lao động phụ, laođộng chính lúc nhàn rỗi, người thợ thủ công đồng thời là người nông dân.Các gia đình nông dân vừa làm ruộng vừa làm nghề Về sau ở các làng nghềxuất hiện các hộ làm nghề phi nông nghiệp Các hộ chuyên làm nghề thủcông chỉ tham gia sản xuất nông nghiệp ở mức độ nhất định, hộ vẫn giữ đấtnông nghiệp để tự mình trồng hoặc thuê mướn người làm nông nghiệp Vìvậy ở các làng nghề vẫn còn một bộ phận ruộng đất sản xuất nông nghiệp vàtồn tại kinh tế nông nghiệp
● Lao động ở các làng nghề chủ yếu là lao động thủ công đơn giản
Đại đa số lao động làng nghề là lao động thủ công đơn giản đơn Ngàynay một số nghề, một số công đoạn đã được cơ giới hoá nhưng đa số côngđoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải nhờ đến bàn tay khéo léo và sự tinh
Trang 20xảo của người thợ thủ công Chính vì vậy mà khi nói đến làng nghề thườnggắn với hình ảnh người nghệ nhân
Nguồn lao động tại các làng nghề bao gồm: lao động tại chỗ (lao độngtrong gia đình, lao động của địa phương) và lao động thuê mướn Các làngnghề sử dụng nhiều lao động ngoài độ tuổi là người già và trẻ em Nhữngnghề có một số công đoạn đơn giản thu hút lao động trẻ em tham gia (ví dụ:nghề mây tre đan,…) Một số nghề đòi hỏi kinh nghiệm lại thu hút một lụclượng không nhỏ lao động ngoài độ tuổi (ví dụ: nghề chế biến dược liệu…)
● Công nghệ sử dụng trong các làng nghề đơn giản, trình độ thấp
Công nghệ, thiết bị máy móc sử dụng trong các làng nghề là nhữngcông nghệ trình độ thấp, chủ yếu sử dụng kỹ thuật thủ công Trong nhữngnăm gần đây, việc nghiên cứu, cải tiến quy trình công nghệ tại các làng nghềđược quan tâm, ứng dụng nhiều Nhiều doanh nghiệp, các hợp tác xã, hộ sảnxuất đã chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, nâng cao chấtlượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh Nhưng nhìn chung, các làng nghềdựa trên cơ sở lao động thủ công là chính, máy móc cơ khí chỉ sử dụng ởmột số khâu, một số công đoạn nhất định
● Các làng nghề xuất phát từ nguồn nguyên liệu tại chỗ
Phần lớn các làng nghề được hình thành do có nguồn nguyên liệu tạichỗ Ngày nay do sản xuất mở rộng, một số nghề phải mua nguyên liệu từbên ngoài như nghề mộc, nghề chạm khắc gỗ, đúc đồng Một số nghề tậndụng cả những phế phẩm, phế liệu, phế thải công nghiệp, nông nghiệp vàsinh hoạt để làm nguyên liệu sản xuất như nghề chế biến lông gà vịt, thú nhồibông… Một số nghề còn phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài như chỉ thêu,thuốc nhuộm, thuốc nam, thuốc bắc…
● Hình thức tổ chức chủ yếu là hình thức hộ gia đình
Với quy mô hộ gia đình, các thành viên đều tham gia vào quá trình sảnxuất kinh doanh nhưng ở các công việc khác nhau Một số hộ có thể thuêthêm lao động bên ngoài theo hình thức thường xuyên hoặc theo thời vụ ở tất
cả các công đoạn hoặc chỉ ở một số công đoạn nhất định
Trang 21Hiện nay ngoài quy mô hộ gia đình còn xuất hiện nhiều hình thức tổchức sản xuất khác như: HTX, công ty TNHH, công ty cổ phần, liên doanh.Các cơ sở này có thể này có thể vừa sản xuất vừa làm đầu mối thu gom tiêuthụ sản phẩm Họ có thể sản xuất ra những loại sản phẩm hoàn chỉnh hoặcchỉ tham gia một bộ phận hoặc một công đoạn của sản phẩm Ở nhiều làngnghề hình này đóng vai trò liên kết các hộ gia đình, thực hiện hợp đồng đặthàng với hộ gia đình, giải quyết đầu ra, đầu vào với các thị trường khác nhau.
2.1.2 Vai trò của các làng nghề và các nhân tố ảnh hưởng tới làng nghề
- Vai trò của làng nghề
● Giải quyết việc làm và hạn chế di dân tự do
Năm 2005, trong tổng số lực lượng lao động cả nước là 44.385.000người, lao động nông thôn là 33.313.000 người, chiếm 75,1% Mỗi năm độingũ này lại được bổ sung thêm 6,5 vạn người Tỷ lệ sử dụng thời gian ở nôngthôn năm 1996 của dân số hoạt động kinh tế thường xuyên đủ 15 tuổi trở lêntrong cả nước là 72,28% và tăng lên 74,16% năm 2000 và năm 2005 là 80,7%.(Thông tấn xã Việt Nam, 2008)
Năm 2005 có khoảng 2,22 triệu người, tương đương với 0,5 % tổnglực lượng lao động cả nước di cư tự do từ nông thôn lên thành thị Đồng bằngsông Hồng là vùng có tỷ lệ di cư tự do ra thành phố cao nhất, chiếm tới 12,94
% Tỷ lệ phụ nữ trong đội quân di dân tự do không nhỏ, chiếm 48,85 %.Trong các phụ nữ di cư thì 43,2 % số người cho rằng di cư vào thành phố dothu nhập ở nông thôn quá thấp, và 38,5 % cho rằng ở nông thôn thiếu việclàm Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn được coi là biệnpháp hữu hiệu để giải quyết việc làm (Thông tấn xã Việt Nam, 2008)
Bình quân mỗi hộ gia đình ngành nghề thu hút từ 3 - 5 lao động, mỗi
cơ sở tiểu thủ công nghiệp thu hút thường xuyên từ 25 - 30 lao động Trongbối cảnh đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do tốc độ công nghiệp hoá và đôthị hoá, lao động nông thôn ngày càng thiếu việc làm nghiêm trọng ViệtNam hiện có 2.017 làng nghề truyền thống, trong đó có những làng đã hơn
Trang 22100 năm tuổi Tất cả các làng nghề Việt Nam hiện nay thu hút 11 triệu laođộng chiếm khoảng 30 % lực lượng lao động nông thôn Có những làng nghềthường xuyên thu hút trên 60 % lao động của cả làng Nhờ đó, tỷ lệ thời gianlàm việc được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn đạtkhoảng 80 % (Thông tấn xã Việt Nam, 2008)
Huyện Gia Lâm, một huyện ngoại thành Hà Nội cũng là một khu vựctập trung khá nhiều làng nghề tiểu thủ công nghiệp Các làng nghề này là nơigiải quyết việc làm cho rất nhiều lao động
Bảng 2.1: Tổng số hộ và lao động theo nghề của một số làng nghề chủ yếu tại huyện Gia Lâm – Hà Nội
( Nguồn: Phòng Thống kê huyện Gia Lâm)
● Đóng góp đáng kể vào tổng GDP của đất nước
Theo Liên minh Hợp tác xã Việt Nam vào cuối năm 1959 các ngành nghềphi nông nghiệp đạt giá trị sản lượng chiếm 63,7 % tổng giá trị hàng côngnghiệp sản xuất trong nước Năm 1999, chỉ tính riêng nhóm hàng thủ công mỹnghệ gồm cả đồ gia dụng xuất khẩu đạt kim ngạch khoảng 250 triệu USD,chiếm 2,5 % tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Đến năm 2007, các ngànhnghề phi nông nghiệp đã đạt giá trị sản lượng chiếm 70,2 % tổng giá trị hàng
Trang 23công nghiệp sản xuất trong nước, kim ngạch xuất khẩu đạt 380 USD, chiếm 2,9
% (Liên Minh Hợp tác xã Việt Nam, 2007)
● Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn
Ngành nghề phát triển sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoáxây dựng nông thôn mới
Năm 1996, lao động lâm nông nghiệp chỉ chiếm 69,8 %, công nghiệpxây dựng chiếm 10,55 % dịch vụ chiếm 19,65 % Đến năm 2001, số ngườilàm việc trong các ngành lâm, nông nghiệp chiếm 67,2 %, công nghiệp xâydựng chiếm 12,6 %, dịch vụ chiếm 20,2 % Đến 2005 đã tăng lao động côngnghiệp xây dựng lên 17,88 %, dịch vụ lên 25,33 % và nông lâm nghiệp giảmxuống còn 56,79 %
Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp và nông nghiệp, là bướctrung gian chuyển từ nông thôn thuần nông nhỏ lẻ, phân tán lên công nghiệp lớnhiện đại và đô thị hoá Làng nghề sẽ tham gia tích cực vào phân công lao độngtại chỗ, tạo sự kết hợp nông nghiệp, công nghiệp có hiệu quả Do đó ngành nghềnông thôn có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế , cơ cấulao động theo hướng công nghiệp hoá, xây dựng nông thôn mới
- Các nhân tố ảnh hưởng tới làng nghề
● Thị trường tiêu thụ
Đây là yếu tố quan trọng nhất và có tác động mạnh mẽ nhất khi mà
nền kinh tế chuyển hướng từ hướng sản xuất sang hướng tiêu dùng Đáp ứngnhu cầu thị trường là điều kiện để các làng nghề tồn tại và phát triển vì vậy
mà cùng với sự xuất hiện của nhiều làng nghề mới là sự mai một và mất dầncủa một số làng nghề truyền thống
● Vốn sản xuất kinh doanh
Nguồn vốn của các làng nghề chủ yếu là của các hộ gia đình sảnxuất với quy mô nhỏ, nguồn đầu tư vốn của các hộ chủ yếu là vốn tự có.Từng ngành nghề có quy mô vốn khác nhau Trong điều kiện sản xuất ngày
Trang 24càng mở rộng thì vốn là yếu tố rất quan trọng Các công ty và các HTXthường có điều kiện để đầu tư nhiều vốn mở rộng sản xuất hơn các hộ giađình Vốn được dùng để đầu tư mới, đổi mới công nghệ, thuê nhân công, mởrộng nhà xưởng, thu mua sản phẩm của hộ gia đình.
● Chính sách
Trong những năm gần đây, Đảng và Chính phủ đã có nhiều chínhsách đổi mới kinh tế nói chung và tạo điều kiện hỗ trợ ngành nghề nói riêng.Nhiều hội thảo, nhiều cuộc triển lãm lớn đã được tổ chức Qua đó, người dânlàng nghề có điều kiện giao lưu, giới thiệu sản phẩm của mình cũng như phảnánh các khó khăn vướng mắc đang gặp phải
2.1.3 Khái niệm về giới và giới tính
Trang 25Phụ nữ và giới được phân biệt với nhau bởi hai khía cạnh: khía cạnhsinh học và khía cạnh xã hội Khía cạnh sinh học muốn đề cập đến hình dạng,cấu trúc cơ thể và sinh lý Khía cạnh xã hội bao gồm việc mô tả tính cách vàứng xử Toàn bộ sự khác nhau nêu trên được bao hàm trong hai khái niệm:giới và giới tính.
● Giới tính (Sex) (Phạm Văn Bước, 2008)
- Giới tính là thuật ngữ chỉ sự khác nhau giữa nam và nữ về mặt sinhhọc Sự khác biệt này liên quan chủ yếu tới quá trình tái sản xuất nòi giống(Reproduction)
- Con người mới sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính Giới tínhthể hiện tính ổn định, bất biến
● Giới (Gender) (Phạm Văn Bước, 2008)
- Giới là mối quan hệ và tương quan giữa địa vị xã hội của nữ giới vànam giới trong một bối cảnh cụ thể Nghĩa là giới nói lên vai trò, trách nhiệm
và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ; bao gồm việc phân công laođộng và phân chia các nguồn lợi ích cá nhân
- Do được quy định bởi các yếu tố xã hội nên giới và các quan hệ củagiới không giống nhau và không mang tính bất biến
● Vai trò giới (UNDP Report, 2000)
Vai trò giới là những hành vi được học trong bất cứ một cộngđồng/xã hội nào hay một nhóm mà quy định những hoạt động, nhiệm vụ vàtrách nhiệm cho nam giới và phụ nữ Vai trò giới bị chi phối bởi độ tuổi, giaicấp, chủng tộc, dân tộc, tín ngưỡng và bởi môi trường địa lý, kinh tế và chínhtrị Những thay đổi trong vai trò giới thường xảy ra tương ứng với nhữngthay đổi kinh tế, các điều kiện chính trị và tự nhiên bao gồm cả những hoạtđộng phát triển
Cả nam giới và phụ nữ đóng nhiều vai trò trong xã hội Vai trò giớicủa phụ nữ bao gồm các vai trò tái sản xuất, sản xuất và quản lý cộng đồng,trong khi vai trò của nam giới bao gồm vai trò sản xuất và hoạt động chính
Trang 26trị Nam giới có thể tập trung vào một vai trò sản xuất cụ thể và thực hiện lầnlượt các vai trò của mình Ngược lại, phụ nữ phải thực hiện nhiều vai tròcùng một lúc và đảm bảo thực hiện trọn vẹn từng vai trò
2.1.4 Vai trò của phụ nữ trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò phụ nữ
- Vai trò của phụ nữ
● Vai trò sản xuất (Productive Role)
Vai trò sản xuất bao gồm những công việc do cả phụ nữ và namgiới cùng làm nhằm tạo thu nhập bằng tiền hoặc bằng hiện vật Chúng có thểđược tiêu dùng trong gia đình hoặc trao đổi, mua bán trên thị trường Chúng
có thể là các sản phẩm vật chất hoặc dịch vụ
● Vai trò tái sản xuất (Reproductive Role)
Vai trò tái sản xuất bao gồm các hoạt động tạo ra nòi giống, duy trì
và tái sản xuất sức lao động Vai trò đó không chỉ bao hàm là sự tái sản xuấtsinh học mà còn cả việc chăm lo, duy trì và phát triển lực lượng lao động chothực tại và cho tương lai như nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng và chăm sóc cácthành viên khác trong gia đình, các công việc nội trợ, giặt giũ, lau chùi nhàcửa Các công việc này hầu hết đều do phụ nữ đảm nhận
● Vai trò cộng đồng (Community Role)
Đây là những hoạt động do nam và nữ thực hiện ở cấp cộng đồngnhằm duy trì, bảo dưỡng các nguồn lực khan hiếm của cộng đồng, thực hiệncác nhu cầu chung của cộng đồng như xây dựng đường làng, tham gia traođổi thông tin, họp hành trong cộng đồng Vai trò cộng đồng được thể hiệntrên hai khía cạnh:
Thứ nhất, vai trò tham gia cộng đồng chủ yếu là do phụ nữ thựchiện ở cấp độ cộng đồng như là sự mở rộng vai trò tái sản xuất của mình Cáchoạt động này nhằm duy trì, bảo vệ nguồn lực khan hiếm được sử dụngchung trong cộng đồng như nước sinh hoạt, chăm sóc sức khoẻ và giáo dục,giữ gìn vệ sinh môi trường đây là những công việc tự nguyện, không đượctrả công và thường được làm vào thời gian rỗi
Trang 27Thứ hai, vai trò lãnh đạo cộng đồng: bao gồm các hoạt động ở cấpcộng đồng nhưng mang tính thể chế, chính trị của quốc gia Những công việcnày thường do nam giới thực hiện và thường được trả công trực tiếp hoặcgián tiếp bằng tiền hoặc tăng thêm vị thế, quyền lực
Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy ngoài việc tham gia các hoạtđộng sản xuất kiếm tiền nuôi sống gia đình như nam giới phụ nữ và trẻ emgái còn phải làm các công việc tái sản xuất nhiều hơn, vất cả hơn nam giới
Sự phân công lao động chưa bình đẳng dẫn đến sự xuất hiện thuật ngữ “Vaitrò 3 mặt, gánh nặng công việc” (Tripe roles/work burdens) Thuật ngữ nàynói về một thực tế là phụ nữ hầu như phải làm nhiều loại công việc trongnhiều thời gian hơn vì họ phải thực hiện cùng lúc 3 vai trò giới khác nhau.Công việc sản xuất, công việc tái sản xuất và tham gia cộng đồng Trong khinam giới chỉ tham gia vào 2 loại công việc là công việc sản xuất và tham giacộng đồng Hậu quả của nhận thức không đầy đủ về vai trò giới là các côngviệc của phụ nữ thường không được xã hội đánh giá đầy đủ
- Những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ:
● Quan điểm về giới và những phong tục tập quán
Công bằng giới và phát triển kinh tế nông thôn có mối quan hệ chặtchẽ với nhau Bình đẳng giới đảm bảo sẽ cho phép tăng trưởng kinh tế bềnvững và hiệu quả, gia đình, xã hội phát triển bền vững Chế độ phong kiếncoi nhẹ vai trò của người phụ nữ trong xã hội Công việc chính của họ làchăm sóc con cái và nội trợ, các hoạt động học tập thi cử và quản lý đất nướcđều do nam giới chi phối Các quan niệm này ít nhiều đã ảnh hưởng đến thế
hệ sau khiến cho nữ giới ít được đối xử ngang bằng với nam giới
Ở một số nước Á Đông, trong đó có Việt Nam còn lưu giữ rất nhiềuphong tục tập quán và cả những hủ tục cản trở người phụ nữ tham gia vàocác hoạt động xã hội Như vậy, chính những quan niệm, phong tục tập quán
là một trong những nguyên nhân cản trở trực tiếp sự tiến bộ giới và vai tròcủa họ trong phát triển kinh tế và xã hội
● Nguồn tín dụng cho sản xuất – kinh doanh
Trang 28Tín dụng là đầu vào cần thiết của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ở Việt Nam, đặc biệt là nông thôn hiện nay, đầu tư cho sản xuất kinh tế bịhạn chế vì vốn tích luỹ trong các hộ gia đình không nhiều Nam giới thuậnlợi hơn phụ nữ trong việc tiếp cận nguồn lực tín dụng bởi họ là người đứngtên những tài sản lớn của gia đình như đất đai, xe máy…nên họ có tài sản đểthế chấp Vì vậy, khi cần vay vốn nam giới thường được tiếp cận nguồn vốnchính thống và được vay với số lượng lớn Ngược lại phụ nữ thì lại thườngtiếp cận với các nguồn vốn không chính thống và với số lượng ít hơn
● Khả năng tiếp cận thông tin
Mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đều cần sử dụng côngnghệ thông tin và ứng dụng của công nghệ thông tin Thông tin không chỉgiúp con người mở rộng tầm hiểu biết mà còn giúp con người áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật, nâng cao đời sống vật chất tinh thần Khả năng tiếp cậnthông tin của người phụ nữ thường bị hạn chế vì công việc nội trợ hàng ngàychiếm nhiều thời gian và sức lực của họ
● Trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật
Trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của phần lớn phụ nữ thấphơn nam giới Hiện nay, đa số các gia đình đều cho con trai và con gái đi họcnhư nhau nhưng ngoài thời gian học tập, nghiên cứu người phụ nữ và các emgái vẫn bị ràng buộc bởi công việc gia đình Hạn chế về văn hoá, chuyênmôn – kỹ thuật gây nhiều khó khăn cho phụ nữ trong việc nắm bắt pháp luật,tìm nguồn tín dụng, tìm kiếm thị trường, tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, hiệu quả công việc và năng suất chưa đạtyêu cầu
● Điều kiện sức khoẻ
Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người và muốn làm được công việcthì phải có sức khoẻ Từ trước đến nay thì người phụ nữ luôn được xem là pháiyếu Có nhiều công việc môi trường làm việc độc hại, cần có sức khỏe người tachỉ tuyển lao động nam mà không tuyển lao động nữ
Trang 292.1.5 Vai trò của phụ nữ trong làng nghề và trong nông thôn
● Sự đóng góp của phụ nữ vào lực lượng lao động
Nông nghiệp là ngành sản xuất chính ở nông thôn, đặc biệt là ở cácnước chậm và đang phát triển Trong hầu hết các nước đang phát triển ở khuvực châu Á, phụ nữ là lực lượng lao động chính trong ngành sản xuất nôngnghiệp Tỷ lệ phụ nữ tham gia sản xuất nông nghiệp ở Thái Lan là 64 %, Ấn
Độ 89,5 % và Việt Nam là 73 % (Nguyễn Phượng Lê, 2003)
Phần lớn các làng nghề tiểu thủ công nghiệp cần sự khéo léo củangười phụ nữ như các nghề thủ công mỹ nghệ: mây tre đan, dệt thổ cẩm… vàcác nghề chế biến: dược liệu, thủy hải sản…Lao động chính trong các làngnghề này là phụ nữ Họ chiếm đa số trong lực lượng lao động và tham giavào hầu hết các công đoạn trong sản xuất, lưu thông và tiêu thụ sản phẩmlàng nghề
● Vai trò trong đào tạo nghề và xóa đói giảm nghèo
Phụ nữ là lực lượng lao động chính trong nông thôn Hiện nay, khiđàn ông đổ xô lên thành phố kiếm việc làm ngày càng nhiều thì phụ nữ càng
có vai trò quan trọng trong kinh tế nông thôn Các hoạt động hỗ trợ phụ nữvay vốn phát triển kinh tế gia đình diễn ra sôi nổi ở nhiều nơi
Việc phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn làhướng giải quyết cho vấn đề xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế ở nôngthôn Thực tế cho thấy, nơi nào có làng nghề, nơi đó kinh tế phát triển, đờisống của người dân khá giả Thu nhập của người lao động tham gia ngànhnghề thường cao gấp 3 - 4 lần so với lao động nông nghiệp đơn thuần Hiệnnay, ở nhiều vùng nông thôn các chị em là lực lượng lao động chính trongviệc bảo tồn các làng nghề, mạnh dạn đầu tư đổi mới sản xuất, không chỉ làmgiàu cho bản thân mà còn góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn (Trung tâmPhát triển Bền vững, 2003)
Các phong trào “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế”, “Ngày tiết kiệm vìphụ nữ nghèo”, “Chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập” đã
Trang 30khơi dậy được tiềm năng to lớn, sức sáng tạo và truyền thống nhân ái, ý thức
tự nguyện giúp nhau giống, vốn, kinh nghiệm, ngày công sản xuất trong phụ
nữ Các tổ nhóm “Vay vốn - tiết kiệm”, “Phụ nữ sản xuất giỏi”, “Câu lạc bộphụ nữ khuyến nông”, “Câu lạc bộ nữ doanh nghiệp”, các mô hình lồng ghépdân số, sức khoẻ sinh sản với xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập, xoá mùchữ… đã thu hút nhiều phụ nữ nông thôn tham gia
● Tham gia lãnh đạo cộng đồng
Ngày càng có nhiều phụ nữ tích cực tham gia vào các hoạt động xãhội ở nông thôn Họ đã khẳng định được vị trí của mình bằng những thànhcông không thu kém nam giới trong nhiều lĩnh vực, kể cả những lĩnh vực vốnđược coi là lãnh địa của nam giới như kinh doanh, nghiên cứu khoa học,quản lí xã hội Hình ảnh người phụ nữ hiện đại, năng động, thành công đãkhông còn quá hiếm trong nông thôn và xã hội Việt Nam Thậm chí trongnhiều lĩnh vực phụ nữ đang có ưu thế hơn nam giới
Việt Nam có tỉ lệ phụ nữ tham gia vào Quốc hội cao trong khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương, đứng thứ hai sau New Zealand (29,2 %) Chỉ có
10 nước trên thế giới có tỉ lệ phụ nữ trong Quốc hội cao hơn (Cuba, ĐanMạch, Phần Lan, Đức, Iceland, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Nam Phi vàThuỵ Điển) (Uỷ ban Quốc gia Vì sự Tiến bộ của Phụ nữ, 2000) Điều nàycho thấy khoảng cách bất bình đẳng giới ở Việt Nam đang ngày càng thuhẹp Phụ nữ đã có nhiều cơ hội bình đẳng về học tập, lao động trí óc gópphần phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Trang 31các làng nghề chỉ nhằm mục đích cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếuhàng ngày, về sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của
nó, mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân Như việc làm ra các đồ dùng bằngmây, tre, lụa…phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất Nghềphụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đãmang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vàocác vụ lúa Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng họclàm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều lànggần nhau
Nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trongmỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triểnmạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp vớilàng thì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghềchuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng Gốm, làng làm chiếu,làng làm lụa, làng làm đồ đồng Những phát hiện về khảo cổ học, những cứliệu lịch sử đã chứng minh được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàngngàn năm trước đây Các làng nghề thường tập trung chủ yếu ở các vùngchâu thổ sông lớn như: Châu thổ Sông Hồng, tại Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh,Thái Bình, Nam Định…(www.Wikipedia.org, 2007)
● Tình hình chung về các làng nghề Việt Nam
Theo kết quả một cuộc điều tra do tổ chức JICA (Nhật Bản) phối hợpvới Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện, Việt Nam hiện có2.017 làng nghề truyền thống, trong đó có những làng đã hơn 100 năm tuổi.Phần lớn trong số này đang phát triển các nghề thủ công truyền thống nhưmây, tre đan, dệt vải, thêu ren, sản xuất đồ nội thất, sơn mài… (Thông tấn xãViệt Nam, 2008)
Thực tế cho thấy, nơi nào có làng nghề truyền thống, nơi đó kinh tếphát triển, đời sống của người dân khá giả, thu nhập của người lao động tham
Trang 32gia ngành nghề thường cao gấp 3 - 4 lần so với lao động nông nghiệp đơnthuần Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực có làng nghề thường thấp hơn nhiều so với
tỷ lệ hộ nghèo bình quân trong cả nước Hàng năm, các làng nghề đóng gópcho kim ngạch xuất khẩu khoảng 600 triệu USD (Thông tấn xã Việt Nam,2008)
Dân số nông thôn chiếm tới 73 % tổng dân số cả nước, trong khi đấtcanh tác ngày càng bị thu hẹp do tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá việclàm là vấn đề nan giải ở nông thôn Các làng nghề đã giải quyết việc làm cho
11 triệu lao động, chiếm khoảng 30 % lực lượng lao động nông thôn Cónhững làng nghề thường xuyên thu hút trên 60 % lao động của cả làng Nhờ
đó, tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khuvực nông thôn đạt khoảng 80% (Thông tấn xã Việt Nam, 2008)
● Một số nét về làng nghề ở Hà Nội
Trên địa bàn Hà Nội có 40 làng nghề trong đó nghề truyền thống (20làng) và nghề mới (20 làng) Nghề thủ công ở Hà Nội xuất hiện từ rất sớm.Theo các nhà sử học thì vào thời kỳ Bắc thuộc xung quanh Long Biên - Đại
La (Hà Nội) đã xuất hiện các làng nghề giấy, dệt như các phường Hồ Khẩu,Yên Thái Nghề truyền thống phát triển rực rỡ vào thời Lý - Trần, đặc biệtnghề dệt và nghề làm gốm Trong đó, làng dệt Nghi Tàm và gốm sứ BátTràng là tiêu biểu nhất Vào thời kỳ hậu Lê ở Thăng Long (vùng ven HồTây), nghề dệt phát triển rất mạnh (khoảng 20 làng) Một số nghề như đúcđồng Ngũ Xá, làng rèn Hoè Thị, làng giấy sắc Nghĩa Đô, làng dát vàng quỳKiêu Kỵ đã xuất hiện
Cùng với những làng nghề truyền thống, các làng nghề mới ra đời tạo
ra nhiều loại sản phẩm đa dạng đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuấtkhẩu sang các nước khác Một số làng nghề đã tồn tại và ngày càng phát triểnnhư làng Bát Tràng, Ninh Hiệp, Vân Hà, Triều Khúc…
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường hoạt động sản xuất côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề có nhiều điều kiện phát triển,
Trang 33tốc độ tăng trưởng khá cao, đạt 15 – 20 % Trong cơ cấu giá trị sản xuất nôngthôn, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có xu hướngtăng khá nhanh.
Hiện nay công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Hà Nội có xuhướng tập trung lại thành các cụm làng nghề theo hình thức làng nghề xómnghề bao gồm cả nghề truyền thống và nghề mới như chế biến lương thực -thực phẩm, nghề mộc, mây tre đan, nghề dệt may, gốm sứ Toàn thành phố
Hà Nội có 200 cụm làng nghề Lực lượng lao động tham gia các hoạt độngcông nghiệp - thủ công nghiệp của địa phương cũng ngày một tăng
Gia Lâm, một huyện ngoại thành Hà Nội là nơi được biết đến vớinhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng như: làng gốm Bát Tràng, dát quỳKiêu Kỵ, chế biến dược liệu Ninh Hiệp…Huyện Gia Lâm hiện nay có 10làng nghề, bao gồm làng nghề truyền thống và các làng nghề mới
Làng nghề truyền thống gồm: gốm sứ Bát Tràng, may da, dát quỳKiêu Kỵ, chế biến dược liệu Ninh Hiệp, đan lát, làm chổi ở Dương Quang
Làng nghề mới gồm: sản xuất gốm sứ Kim Lan, Đa Tốn, Đông Dư,Văn Đức, chế biến giò chả, bún bánh ở xã Yên Viên, sản xuất diêm ở ĐìnhXuyên Một số nghề mới phát triển trong những năm gần đây như chế biến
gỗ (gỗ dán, ván ép), kéo rút sắt ở khu vực Yên Viên, Yên Thường, chế biếnhành ở Dương Xá, nghề may gia công ở khu vực Đặng Xá, Kim Sơn, TrungMầu, Phù Đổng…
Các làng nghề ở huyện Gia Lâm đóng góp không nhỏ vào sự pháttriển kinh tế - xã hội chung của toàn huyện Một số làng nghề nổi tiếng nhưlàng nghề sản xuất gốm sứ Bát Tràng, sản phẩm không chỉ có mặt trongnước mà còn được xuất khẩu sang một số nước ở khu vực châu Á, châu Mỹ
và châu Âu như Hàn Quốc, Hông Kông, Mỹ, Na Uy, Nhật Bản…Hàng nămgiải quyết việc làm cho 3.200 lao động thường xuyên (khoảng 2/5 là laođộng địa phương và 3/5 là lao động từ nơi khác) và 4.000 – 5.000 lao động
Trang 34thời vụ Giá trị sản xuất hàng năm đạt hàng trăm tỷ đồng (Phòng Thống kêhuyện Gia Lâm)
Tuy nhiên, do có khó khăn về vốn, công nghệ sản xuất lạc hậu, sảnphẩm khó có khả năng cạnh tranh, trình độ tổ chức sản xuất của các hộ tại cáclàng nghề thấp nên phần nào đã hạn chế sự phát triển của các làng nghề Một sốlàng nghề hiện nay có xu hướng thu hẹp lại và gần như không còn sản xuất
Tóm lại, với lịch sử một ngàn năm Thăng Long, những làng nghề HàNội nói chung và những làng nghề ở Gia Lâm nói riêng đã hình thành, pháttriển và đạt được những kết quả rực rỡ Nhiều sản phẩm nhiều làng nghề đã
đi vào cuộc sống văn hoá tinh thần của người dân thủ đô Tuy vậy, cũng cónhững nghề - những làng nghề đã không thể tồn tại và phục hồi như nghề làmgiấy ở làng Yên Thái Có những làng nghề mất đi nhưng cũng có những làngnghề mới hình thành Nhìn chung, các làng nghề tiểu thủ công nghiệp cónhững đóng góp quan trọng về kinh tế - văn hoá - xã hội cho Hà Nội nóichung và các vùng ngoại thành Hà Nội nói riêng
2.2.2 Thực trạng về phụ nữ trên thế giới
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, sự tiếp cận với các nguồn lực cơ bảncòn hạn chế đặc biệt đối với người phụ nữ So với những trẻ em trai, thì congái sinh ra ít được chăm sóc và phòng bệnh hơn Tại Iran các nhà “y tế nôngthôn” đã xây dựng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ở những vùng nông thôn hẻolánh nhằm đảm bảo sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em Cũng như ở Ấn Độ,phương pháp kiểm soát dân số thay đổi thông qua hình thức nâng cao quyềnlực cho người phụ nữ (Development Report of UNDP, 2001)
Cũng theo Liên Hợp Quốc, hiện nay trên thế giới có 840 triệu người
mù chữ thì 2/3 số mù chữ là phụ nữ Ở hầu hết những vùng xa xôi hẻo lánh,điều kiện chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận thông tin còn nhiều hạn chế nên mức
độ phát triển giới còn thấp
Trong lĩnh vực kinh tế, nhìn chung toàn cầu hiện nay phụ nữ ít đượctiếp cận với thị trường lao động hơn so với nam giới và nếu đi làm thì phụ nữ
Trang 35bao giờ cũng được mức lương thấp hơn khi làm cùng một công việc Thực tếmặc dù phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số thế giới nhưng tính trung bình chỉ
15 % số ghế trong quốc hội dành cho phụ nữ và 6 % vị trí trong nội các chínhphủ, phần còn lại hoàn toàn dành cho nam giới Một số công trình nghiên cứuquốc tế đã chỉ ra rằng để phụ nữ thực sự có ảnh hưởng trong chính trị thì họphải nắm giữ ít nhất 30 % vị trí trên chính trường Tuy nhiên, chỉ một số rất ítcác quốc gia đạt được con số này
Theo Tổ chức phát triển Liên Hợp quốc - UNDP có 3 lý do mấu chốtthể hiện tính cấp thiết phải quan tâm đến vấn đề giới trong công tác phát triển,
đó là:
Thứ nhất, phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng trong việc hưởng lợi
từ sự phát triển
Thứ hai, đưa quan điểm giới vào phát triển không chỉ vì sự bình đẳng
về các vấn đề xã hội mà còn vì hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững
Thứ ba, phụ nữ có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình pháttriển bao gồm: phát triển con người đó là tái sản xuất sức lao động và pháttriển kinh tế
2.2.3 Tình hình chung về phụ nữ ở Việt Nam
Phụ nữ Việt Nam đã đạt được bình đẳng giới ở mức độ khá cao Tỷ
lệ phụ nữ là đại biểu quốc hội từ nhiệm kì 9 đến nhiệm kì 11 đã tăng thêm8,7 % nâng tỷ lệ phụ nữ tham gia chính quyền lên 27,3 % - tỷ lệ cao nhấttrong khu vực Đông Nam Á Tỷ lệ phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân bacấp: xã, phường, quận, huyện và tỉnh thành đều tăng Tỷ lệ biết chữ và theohọc các bậc học dưới đại học của nam và nữ không có sự chênh lệch lớn Cótới 37 % cán bộ nữ trong tổng số cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên;trong đó giáo sư, phó giáo sư chiếm 6,7 %, số nữ tiến sỹ chiếm 19,9 % (LêThị Quý, 2006)
Trang 36Việt Nam cũng có tỉ lệ tham gia kinh tế cao nhất trên thế giới: 85%nam giới và 83 % nữ giới ở độ tuổi từ 15 – 60 tham gia vào các hoạt độngkinh tế (Ngân hàng Thế giới, 2003).
Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn tồn tại những bất bình đẳng cơ bản như:Thu nhập của người phụ nữ bằng 72 % thu nhập của nam giới, trong nôngnghiệp là 62 %, trung bình một ngày 1 người phụ nữ dành 3 giờ làm côngviệc nội trợ trong khi nam giới chỉ có 12 phút, số phụ nữ mù chữ 14 %, namgiới 6 %, nữ sinh viên đại học dưới 30 %, năm học tập trung bình của 1 nườiphụ nữ là 3,4 năm, còn nam là 5,8 năm…(UNDP report, 2003)
Như vây, nhìn chung phụ nữ Việt Nam đã tương đối bình đẳng vớinam giới trong nhiều lĩnh vực, và trong nhiều vùng, đặc biệt là ở thành thị.Tuy nhiên, vẫn có sự chênh lệch đáng kể giữa phụ nữ và nam giới, nhất là ởcác vùng nông thôn, miền núi, hải đảo…và các đồng bào dân tộc ít người
2.2.4 Thực trạng về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong nông thôn
Trên thế giới, ngày càng có nhiều nghiên cứu chứng minh mối quan hệkhăng khít giữa công bằng giới với phát triển kinh tế nông thôn Trong nôngthôn Việt Nam, phụ nữ chiếm số đông trong dân số (51,5 %) và lực lượng laođộng (51,86 %) Trong sản xuất nông, lâm, và ngư nghiệp, không chỉ chiếm
số lượng đông mà họ còn tham gia vào hầu hết các khâu sản xuất Do đó, sovới nam giới, họ là những người hiểu rõ và đóng góp nhiều đối với tăngtrưởng kinh tế nông thôn (www.Agroviet.gov.vn, 2008)
Phụ nữ nông thôn thường không hiểu rõ các quyền về mặt pháp lý củamình do trình độ học vấn của họ còn thấp (so với phụ nữ ở thành thị) và thiếuthông tin Họ làm việc trung bình 12,5 giờ một ngày, và ở phía Bắc, BắcTrung bộ và ở miền núi, phụ nữ nông thôn làm việc trung bình 14 giờ mộtngày Nếu những phụ nữ này còn sống độc thân thì số giờ làm việc trung bìnhcủa họ có thể lên đến 16 giờ một ngày (UNDP Report, 2005) Chính điều nàylàm cho phụ nữ có rất ít thời gian để tham gia các cuộc họp của cộng đồng,
Trang 37nghe đài hay đọc sách để nâng cao kiến thức về các quyền của họ và nắmđược các kỹ năng khuyến nông.
Ngày nay, ở nông thôn bên cạnh sản xuất nông nghiệp, ngày càngnhiều chị em làm thêm các nghề tiểu thủ công nghiệp để tăng thu nhập.Những năm gần đây nhiều nghề mới phát triển như nghề dệt, thêu ren, chếbiến thực phẩm phát triển mạnh Đó là những nghề gắn với nông nghiệpnông thôn mà người phụ nữ tham gia đông đảo Những làng nghề thườngxuyên thu hút trên 60 % lao động của cả làng Nhờ đó, tỷ lệ thời gian làmviệc được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn đạtkhoảng 80 % Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực có làng nghề thường thấp hơn nhiều
so với tỷ lệ hộ nghèo bình quân trong cả nước Hàng năm, các làng nghềđóng góp cho kim ngạch xuất khẩu khoảng 600 triệu USD
Vai trò quan trọng nhất của phụ nữ trong các làng nghề là việc duy trì
và bảo tồn nghề truyền thống Khi phần lớn đàn ông rời nông thôn đi tìm việclàm ở thành phố thì phụ nữ chính là những người nắm giữ bí quyết nghềnghiệp và truyền nghề, đặc biệt là các nghề truyền thống Chẳng hạn như ởQuảng Nam, đã có 33 làng nghề được khôi phục, trong đó nổi lên như làngdệt thổ cẩm Zara; làng gốm Thanh Hà (Hội An), nước mắm Tam Thanh(Tam Kỳ), Bình Minh (Thăng Bình), dệt vải Duy Trinh, Duy Trung; mây tređan Bình Nguyên, hương Hà Lam, bánh tráng Đại Lộc, dệt chiếu TamThăng…nhờ sự mạnh dạn của người phụ nữ Hội phụ nữ địa phương chodoanh nghiệp nữ vừa và nhỏ vay với số vốn lớn, phát triển kinh tế theo kiểunói của chị em là “cho vay khởi sự doanh nghiệp” (với mức vay 5 - 20 triệuđồng/chủ hộ) Những phụ nữ làm kinh tế giỏi tham gia Hội doanh nghiệp,Hội nông dân…truyền đạt kinh nghiệm cho những người muốn học tập Từ
đó mà các làng nghề được phục hồi và phát triển
Như vậy, trong nông thôn Việt Nam hiện nay phụ nữ có vai trò quantrong trong nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vựckinh tế
Trang 39PHẦN THỨ BA: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Xã Ninh Hiệp nằm ở Đông Bắc huyện Gia Lâm, giáp tỉnh Bắc Ninh.Phía Tây giáp xã Đình Xuyên, phía Nam giáp xã Phù Đổng, phía Bắc vàĐông giáp hai xã Đình Bảng và Phù Chấn – Tiên Sơn - Bắc Ninh Ninh Hiệpcách quốc lộ số 1 về phía Đông Bắc 3 km, cách sông Đuống về phía Nam 2,5
km, cách trung tâm Hà Nội 18 km Nhìn chung Ninh Hiệp có vị trí thuận lợi
về giao thông như đường sông, đường bộ, đường sắt – là xã có tuyến đườnggiao thông quan trọng Hà Nội - Lạng Sơn đi qua
Cấu trúc địa chất không phức tạp đã làm cho địa hình xã Ninh Hiệpđơn giản Phần lớn diện tích của xã là đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuốngĐông Nam theo hướng chung của địa hình và cũng là theo hướng của dòngchảy sông Hồng
Là vùng có địa hình bằng phẳng, được bồi tích phù sa dày, bề mặtcủa phù sa trung bình là 90 - 120cm Từ đó xã có rất nhiều điều kiện thuậnlợi cho việc phát triển nông nghiệp, cũng như phát triển xây dựng các côngtrình hạ tầng, dân dụng và công nghiệp
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội:
● Dân số và lao động
Năm 2007 dân số xã Ninh Hiệp là 15.000 người, trong đó dân số nữluôn đông hơn nam, mật độ dân số trong toàn xã là 30,65 người/km3 (thuộcloại cao trong huyện) Như vậy, xã có dân cư đông, nguồn lao động dồi dào
có điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế và dịch vụ cần nhiềulao động, như nghề làm và buôn bán vải, nghề buôn bán và chế biến dượcliệu Đây là hai ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chủ yếu của địa phương, sửdụng nhiều lao động nữ và tạo nguồn thu chính cho dân cư cũng như chính
Trang 40quyền địa phương Hai ngành nghề này đòi hỏi nhiều lao động, nhưng khôngyêu cầu trình độ lao động cao nên tạo được rất nhiều việc làm cho lao độngđịa phương.
Bảng 3.1: Tình hình dân số, lao động của xã Ninh Hiệp 3 năm 2005, 2006, 2007