1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình

96 402 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Văn Mác
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế & PTNT
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 777,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên việc tiêu thụ sản phẩm của công ty cũng còn nhiều hạn chế: sản phẩm chưa đa dạng, phong phú về mẫu mã, kiểu dáng, một số sản phẩm mới chưa có được thương hiệu do vậy mà khối lư

Trang 1

Trờng đại học nông nghiệp hà nội

Khoa kinh tế & ptnt

Tam Điệp - Ninh Bỡnh”

Giỏo viờn hướng dẫn : Th.S NGUYỄN VĂN MÁC

Sinh viờn thực hiện : NGUYỄN THỊ NGỌC

Hà nội - 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài tr- ờng.

Trớc hết tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các Thầy Cô giáo Khoa Kinh tế & PTNT và trờng đại học Nông nghiệp Hà Nội đã hết lòng giúp đỡ, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trờng

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo Th.S Nguyễn Văn Mác đã tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài.

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bác, các cô, các chú và các anh chị làm việc tại Công ty Cổ phần TPXK Đồng Giao, đặc biệt là bác Đinh Cao Khuê đã tận tình giúp đỡ trong trong quá trình thực tập.

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những ngời thân, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện.

Do thời gian có hạn, đề tài chắc hẳn không tránh khỏi những hạn chế

và thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận đợc sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc.

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

iii

Trang 5

Bảng 4.6: Số lượng sản phẩm của công ty tiêu thụ qua các kênh Error:Reference source not found

Bảng 4.7: Đánh giá của khách hàng về sản phẩm của công ty.Error: Referencesource not found

Bảng 4.8: Giá cả một số sản phẩm của công ty qua 3 năm Error: Referencesource not found

Bảng 4.9: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của công ty Error: Reference source not foundBảng 4.10: Kim ngạch xuất khẩu rau quả của công ty qua 3 năm Error:Reference source not found

Bảng 4.11: Kim ngạch xuất khẩu rau quả qua các thị trường của công ty Error:Reference source not found

Trang 6

Bảng 4.12: Giá trị tiêu thụ của công ty qua các thị trường nội tiêu Error:Reference source not found

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bộ máy quản lý Error: Reference source not found

Sơ đồ 4.1: Thị trường đầu ra của công ty Error: Reference source not found

iv

Trang 7

Trong nền kinh tế mở, mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, quyết liệt hơn khi số lượng doanh nghiệp ngày một tăng, mặt hàng thay thế

v

Trang 8

nhiều hơn, trình độ cạnh tranh cao hơn, nhu cầu và sự lựa chọn của người tiêu dùng tinh vi hơn Mặt khác không bao giờ doanh nghiệp thoả mãn về thị trường đã chiễm lĩnh được mà luôn tìm cách tận dụng mọi cơ hội, phát huy mọi khả năng vươn lên mở rộng thị trường.

Đứng trước xu thế phát triển của nền kinh tế nước ta nói chung, nhất là trong bối cảnh hội nhập WTO thì bất kì một doanh nghiệp dù là kinh doanh sản phẩm dịch vụ nào đi chăng nữa đều phải tham gia vào quá trình cạnh tranh để xâm nhập, khẳng định vị trí và phát triển hơn nữa Sự cạnh tranh đó

là phù hợp với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Cạnh tranh lành mạnh sẽ là động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy khoa học kỹ thuật, tìm các biện pháp tối ưu hoá đầu vào cũng như đa dạng các yếu tố đầu ra, nhằm đạt mục tiêu sản phẩm sản xuất ra có giá thành thấp nhưng có tính cạnh tranh cao, điều đó sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng

Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của một chu kỳ sản xuất kinh doanh, do

đó tiêu thụ sản phẩm là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của sản xuất, thực hiện hoạt động tiêu thụ sản phẩm thực chất là thực hiện mục đích sản xuất hàng hoá, đưa sản phẩm từ người sản xuất đến tay người tiêu dùng Tiêu thụ là cầu nối trung gian giữa một bên là người sản xuất và một bên là người tiêu dùng

Công ty Cổ phần thực phẩn xuất khẩu Đồng Giao là một doanh nghiệp sản xuất, chế biến và kinh doanh các mặt hàng rau quả, nông sản khép kín Công ty có diện tích đất tự nhiên lớn dùng cho sản xuất nông nghiệp gồm các loại cây: dứa, vải, lạc tiên… đây là một lợi thế cạnh tranh rất lớn của công ty trong đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất và chế biến rau quả Hiện nay công ty đã trở thành trung tâm chế biến rau quả lớn với 4 dây chuyền thiết bị hiện đại, công suất 25.000 tấn sản phẩm/ năm, tất cả các sản phẩm của công

ty đã và đang được thị trường trong nước và nước ngoài chấp nhận tiêu thụ với sản lượng lớn

Trang 9

Tuy nhiên việc tiêu thụ sản phẩm của công ty cũng còn nhiều hạn chế: sản phẩm chưa đa dạng, phong phú về mẫu mã, kiểu dáng, một số sản phẩm mới chưa có được thương hiệu do vậy mà khối lượng sản phẩm tiêu thụ của công ty còn rất nhỏ so với nhu cầu của thị trường.

Ngày nay trong cơ chế thị trường với cơ cấu nhiều thành phần và có sự cạnh tranh gay gắt thì thị trường luôn có sự biến động thay đổi không ngừng,

vì thế tiêu thụ sản phẩm không còn là vấn đề mới mẻ nhưng nó luôn mang tính thời sự cấp bách và là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở Công ty Cổ phần TPXK Đồng Giao - Tam Điệp - Ninh Bình”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Tìm hiểu tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty Cổ phần TPXK Đồng Giao - Tam Điệp - Ninh Bình, trên cơ sở đó định hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tiêu thụ sản phẩm của công ty

Trang 10

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Tập trung vào những sản phẩm chủ yếu của công ty

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi về nội dung: Thị trường, kênh tiêu thụ, chủng loại sản phẩm

- Phạm vi về không gian: Công ty Cổ phần TPXK Đồng Giao

- Phạm vi về thời gian: Đề tài được nghiên cứu từ ngày 10/1/2008 đến 10/5/2008 Số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài trong 3 năm (2005 - 2007)

Trang 11

Việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất, thực hiện dịch vụ của các doanh nghiệp dịch vụ cũng như bán hàng của các doanh nghiệp thương mại đều diễn ra trên thị trường Trong khi đó, cạnh tranh lại đòi hỏi mọi doanh nghiệp phải ra sức cố gắng giành vị thế cao trên thị trường Dựa trên chi phí kinh doanh tính trên một đơn vị sản phẩm đã tạo ra, doanh nghiệp

có thể xác định được mức giá sản phẩm mà doanh nghiệp có thể chấp nhận được và nhất thiết phải được tiêu thụ trên thị trường vì các lý do:

- Hoạt động trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất hàng hóa với mục đích

để bán và kiếm được nhiều lời

- Muốn duy trì và phát triển hàng hóa trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp phải thực hiện cho được vấn đề tái sản xuất mở rộng với bốn khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Rõ ràng bốn khâu này vận hành một cách thông suốt thì sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp nhất thiết phải được tiêu thụ trên thị trường

Trang 12

- Mỗi doanh nghiệp khi tiến hành xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và phương án sản phẩm của mình phải quán triệt phương châm:

Những luận cứ trên là hoàn toàn đúng đắn, vừa có cơ sở khoa học, vừa

có thực tiễn sâu sắc Thị trường phát triển phong phú và đa dạng ở nhiều lĩnh vực khác nhau nên cũng có nhiều định nghĩa khác nhau

Thứ nhất: Theo cách cổ điển: “Thị trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi và buôn bán”

Thứ hai: Cách hiểu cụ thể hơn: “Thị trường là nơi mua bán hàng hoá, là nơi gặp gỡ để tiến hành hoạt động mua bán giữa người bán và người mua”

Thứ ba: Theo C.Mác: “Hễ ở đâu và khi nào có sự phân công lao động

xã hội và có sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy có thị trường” Thị trường chẳng qua chỉ là sự biểu hiện của sự phân công xã hội và do đó nó có thể phát triển vô cùng tận

Thứ tư: “Thị trường là sự biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua

đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định của các công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và các quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được dung hòa sự điều chỉnh giá cả” Theo quan điểm này thị trường là sự trao đổi ngang giá tất

cả các mặt hàng, dịch vụ… cho các tổ chức và cá nhân

Trang 13

Thứ năm: Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu, trong đó người mua và người bán bình đẳng, cùng cạnh tranh Số lượng hàng hóa nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ Việc xác định nên mua hay nên bán hàng hóa và dịch vụ với khối lượng và giá cả bao nhiêu do cầu và cung quyết định Từ quan điểm này cho thấy, thị trường còn là nơi thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu: sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.

Với các định nghĩa về thị trường ở trên chúng ta đều có khả năng nghiên cứu khác nhau, sử dụng các biện pháp thích hợp để phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa hay dịch vụ theo các cách phân loại khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu Xét trên lĩnh vực lưu thông hàng hóa và dịch vụ theo tôi có thể định nghĩa về thị trường theo quan điểm thứ năm để đưa ra mối quan hệ của hệ thống thị trường, xác định thực trạng của thị trường theo các tiêu thức có thể lượng hóa được, đưa ra các lý do mà người tiêu dùng mua hay là không mua sản phẩm

2.1.1.2 Chức năng của thị trường

* Chức năng thừa nhận

Thị trường thừa nhận: khối lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đưa ra thị trường, chủng loại và cơ cấu chủng loại hàng hóa, giá cả, phương thức trao đổi đối với một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể nào đó, thừa nhận giá trị sử dụng, thừa nhận các hoạt động mua bán…

* Chức năng thực hiện

Thông qua chức năng này hàng hóa và dịch vụ sẽ hoàn thành quá trình chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị Quá trình trao đổi hay mua bán là quá trình chủ yếu diễn ra trên thị trường Cũng qua quá trình này sản phẩm hay dịch vụ bằng quan hệ cung cầu sẽ hình thành nên giá cả, cơ sở để thanh toán và điều kiện để thỏa mãn nhu cầu

Trang 14

* Chức năng điều tiết kích thích

Lợi nhuận là mục đích cao nhất của quá trình sản xuất Lợi nhuận kinh doanh chỉ được hình thành thông qua hoạt động thị trường, vì vậy thị trường vừa là động lực để điều tiết kích thích sản xuất thể hiện ở các khía cạnh:

+ Dựa vào nhu cầu các loại sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường, các doanh nghiệp có thể điều chỉnh các yếu tố sản xuất từ ngành này sang ngành khác, từ sản phẩm này sang sản phẩm khác để kiếm lợi nhuận cao hơn

+ Sự thay đổi nhu cầu và cơ cấu nhu cầu bắt buộc các doanh nghiệp phải thay đổi phương hướng kinh doanh cho phù hợp hơn

+ Thị trường sẽ tạo ra động lực cạnh tranh Những doanh nghiệp mạnh

sẽ phải phát huy lợi thế của mình để phát triển, các doanh nghiệp yếu sẽ phải tìm cách đổi mới, vươn lên để tồn tại nếu không muốn phá sản

+ Thị trường có vai trò quan trọng trong điều tiết cung cầu thông qua

hệ thống giá cả Doanh nghiệp muốn tồn tại phải tính đến các nguồn lực, tiết kiệm chi phí sản xuất để có mức giá phù hợp

* Chức năng thông tin

Thông tin kinh tế là rất quan trọng đối với doanh nghiệp và chỉ có thị trường mới thực hiện được chức năng này Thông tin thị trường góp phần đắc lực cho sự hiểu biết giữa người mua và người bán, giữa người sản xuất và người tiêu dùng, như cho biết về tổng số cung, tổng cầu Cơ cấu cung cầu, quan hệ cung cầu, giá cả, chất lượng, các điều kiện mua bán từng loại hàng hóa, dịch vụ Thông tin kinh tế rất cần thiết cho người bán và người mua để đưa ra những quyết định phù hợp với lợi ích của mình

Tất cả các chức năng của thị trường đều có mối quan hệ với nhau trong

đó chức năng thừa nhận chi phối các chức năng khác

2.1.2 Sản phẩm hàng hóa

Trang 15

2.1.2.1 Khái niệm sản phẩm hàng hóa

Đối tượng chính của hệ thống tiêu thụ đó là sản phẩm hàng hóa hay của cải vật chất hoặc các loại hình dịch vụ Thông qua sản phẩm hàng hóa, hệ thống tiêu thụ ngày càng được cải thiện nhiều hơn, không những thế nó còn làm cho hoạt động của hệ thống sôi động và đa chiều thích nghi dần với xu thế tiêu dùng của mọi đối tượng

Sản phẩm hàng hóa chính là lời giải đáp của doanh nghiệp cho nhu cầu

đã được lượng hóa nhờ vào kết quả của công tác nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp Khái niệm về sản phẩm hàng hóa mang tính chất phức tạp, bởi

lẽ mỗi sản phẩm đều có những nét đặc trưng về vật chất và những nét đặc trưng về tâm lý như: nhãn hiệu, ký hiệu…

Khi nói về sản phẩm hàng hóa, người ta thường quy nó về một hình thức tồn tại vật chất cụ thể và do đó nó chỉ bao hàm những thành phần hoặc yếu tố có thể quan sát được Đối với chuyên gia Marketing, họ hiểu hàng hóa

ở một phạm vi rộng lớn hơn nhiều Cụ thể là: sản phẩm là tất cả những cái gì, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng Theo quan điểm này, sản phẩm bao hàm cả những yếu tố vật chất và phi vật chất Ngay cả những hàng hóa hữu hình thì cũng bao hàm cả yếu tố vô hình Từ lập luận đó, họ chia sản phẩm hàng hóa thành các loại khác nhau để có các hoạt động, chiến lược khác nhau và đáp ứng theo những cách khác nhau

Trên thực tế, sản phẩm hàng hóa được xác định bằng các đơn vị sản phẩm hàng hóa Đơn vị sản phẩm hàng hóa là mặt chính thể riêng biệt, được đặc trưng bởi các thước đo như: độ lớn, giá cả, hình thức bên ngoài và các đặc tính khác của sản phẩm hàng hóa

Còn người mua thường quan niệm: sản phẩm hàng hóa là của cải vật chất hoặc dịch vụ mà họ mua là để thỏa mãn nhu cầu của mình Đối với người mua, sản phẩm đơn giản hơn rất nhiều, họ không quan tâm đến việc sản xuất

Trang 16

nó như thế nào mà họ chỉ quan tâm đến việc tiêu dùng nó vào mục đích gì là tốt nhất mà thôi.

Với quan điểm về sản phẩm của mọi đối tượng khác nhau cho thấy, nếu doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu lâu dài là lợi nhuận tối đa hay phát triển thị trường hoặc phát triển sản xuất… doanh nghiệp phải luôn tìm cách làm cho hàng hóa hoặc dịch vụ của mình thích ứng được với thị trường

2.1.2.2 Đặc điểm của sản phẩm hàng hóa

* Đặc điểm của sản phẩm tiêu dùng cuối cùng

Sản phẩm tiêu dùng cuối cùng là sản phẩm được bán cho người mua nhằm

để thỏa mãn nhu cầu, lợi ích cá nhân của họ Có những đặc điểm chính sau:

- Đa dạng về loại sản phẩm, đa dạng về phẩm cấp để đáp ứng nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng

- Nhiều sản phẩm có thể thay thế cho nhau trong quá trình tiêu dùng

- Thị trường phân bố rộng, ở đâu có người là ở đó có nhu cầu tiêu dùng

- Hàng hóa nông sản tiêu dùng ít co giãn

- Một bộ phận lớn nông sản được tiêu dùng dưới dạng tươi sống

- Các nông sản chủ yếu là tiêu dùng cho con người, do vậy vấn đề chất lượng, an toàn sản phẩm phải tuân thủ những quy định nhất định

- Sản phẩm nông sản có tính mùa vụ

- Ngoài ra còn nhiều đặc điểm khác, những đặc điểm đó sẽ chi phối đến hành vi tiêu dùng và quyết định tiêu dùng của người tiêu dùng

* Đặc điểm của nông sản tiêu dùng trung gian

Nông sản tiêu dùng trung gian là nông sản tiêu dùng qua chế biến hoặc qua một số dịch vụ của tổ chức trung gian Có đặc điểm chủ yếu:

- Độ đồng đều về chất lượng sản phẩm cao

Trang 17

- Giá cả tương đối ổn định.

- Giá trị của nông sản được tăng thêm do bổ sung các dịch vụ vào trong sản phẩm

- Thị trường tập trung hơn so với nông sản tiêu dùng cuối cùng

- Các sản phẩm thường có sự khác biệt để định vị trên thị trường

* Đặc điểm nông sản là tư liệu sản xuất

- Nông sản đòi hỏi những tiêu chuẩn chất lượng cao

- Quyết định đến kết quả của quá trình sản xuất sau

- Thích nghi với điều kiện của từng vùng sinh thái

- Nhu cầu của nó thường là nhu cầu dẫn suất

- Luôn luôn chịu áp lực của sự thay thế của sản phẩm mới

- Cơ hội thành công và rủi ro lớn trong kinh doanh

* Đặc điểm của sản phẩm ở công ty Đồng Giao

Sản phẩm của công ty đã có thương hiệu ổn định trên thị trường trong nước và quốc tế, sản phẩm cũng rất đa dạng để phục vụ cho nhu cầu của người tiêu dùng, tuy nhiên sản phẩm dứa chiếm cơ cấu lớn trong tổng khối lượng các mặt hàng của công ty sản xuất ra, còn lại là các sản phẩm nước quả Hiện nay sản phẩm mà công ty sản xuất ra chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu

2.1.3 Tiêu thụ

2.1.3.1 Khái niệm tiêu thụ

Xã hội phát triển, nhu cầu mua - bán - trao đổi hàng hóa càng gia tăng, hoạt động tiêu thụ trở nên đa dạng và phức tạp Chính vì vậy, có nhiều quan điểm về tiêu thụ khác nhau

Có quan điểm cho rằng thực chất của tiêu thụ là hoạt động bán hàng:

“Là hoạt động kinh tế nhằm bán được hàng hóa của nhà sản xuất cho tất cả

Trang 18

các đối tượng tiêu dùng khác nhau trong xã hội” Như vậy, tiêu thụ là hoạt động trung gian, thực hiện mối giao lưu giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các nhà sản xuất, các nhà phân phối với các tổ chức, đối tượng tiêu dùng khác nhau Nó tác động đến sự phát triển kinh tế đất nước Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra gay gắt, bán hàng trở thành khâu quyết định mang tính chất sống còn đối với các doanh nghiệp.

Theo quan điểm của các nhà kế toán quản trị thì: “Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa” Theo quan điểm này thì tiêu thụ được coi là hoạt động cuối cùng của một vòng luân chuyển vốn Từ đây mới có các hoạt động tiếp theo để tiến hành tái sản xuất

mở rộng, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn

Theo quan điểm của hoạt động thương mại và dịch vụ thì: “Tiêu thụ là quá trình trao đổi hàng hóa - tiền tệ trong đó người bán trao đổi cho người mua và người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho người bán” Định nghĩa này cho rằng tiêu thụ là một khâu quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Nó kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh và mở ra một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới

Một quan điểm khác lại cho rằng: “Tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch

vụ là quá trình đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng thông qua hình thức mua bán”

Từ những quan điểm trên về tiêu thụ có thể khái quát lại như sau:

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định

ba vấn đề trung tâm, cho nên tiêu thụ sản phẩm cần phải được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng: Tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng tổng thể các biện pháp tổ chức, kinh tế và kế hoạch nhằm thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tiêu thụ sản phẩm như công tác điều tra nghiên cứu

Trang 19

khả năng tiêu thụ, tiến hành hoạt động sản xuất, tiếp nhận sản phẩm, chuẩn bị hàng hóa và xuất bán theo yêu cầu của khách hàng với chi phí kinh doanh nhỏ nhất Như vậy, tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp là một hoạt động mang tính nghiệp vụ cao, bao gồm nhiều loại công việc khác như liên quan các nghiệp

vụ kỹ thuật sản xuất và các nghiệp vụ tổ chức quản lý hệ thống tiêu thụ Mục tiêu của quá trình này bao gồm mục tiêu số lượng: thị phần, doanh số, đa dạng hóa sản phẩm, lợi nhuận; mục tiêu chất lượng: cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp và cải thiện dịch vụ khách hàng Từ đó có thể định nghĩa về tiêu thụ theo nghĩa rộng như sau: “Tiêu thụ sản phẩm là một quá trình bao gồm nhiều khâu từ nghiên cứu thị trường, xây dựng nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất, thực hiện nhiệm vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất”

Theo nghĩa hẹp: “Tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng, đồng thời thu được tiền bán hàng hóa hoặc được quyền thu tiền bán hàng Cũng có quan niệm theo nghĩa hẹp cho rằng, quá trình tiêu thụ sản phẩm gắn với sự thanh toán giữa người mua và người bán và sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa” Từ

đó tiêu thụ có thể được định nghĩa theo nghĩa hẹp như sau: tiêu thụ sản phẩm

là quá trình thực hiện giá trị của hàng hóa, quá trình chuyển hóa hình thái giá trị của hàng hóa sang tiền, sản phẩm được coi là tiêu thụ khi được khách hàng chấp nhận thanh toán tiền hàng

Qua sự phân tích ý nghĩa và sự khác nhau về tiêu thụ, chúng tôi cho rằng phạm trù tiêu thụ được hiểu đúng đắn và đầy đủ nhất là khái niệm tiêu thụ sản phẩm theo nghĩa rộng Tức là coi tiêu thụ sản phẩm như một quá trình kinh tế chủ động bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thực tiễn, xác định đúng đắn cầu thị trường và cầu bản thân doanh nghiệp đang và sẽ có khả năng sản xuất để quyết định đầu tư tối ưu, chủ động tiến hành các hoạt động quảng cáo cần thiết nhằm giới thiệu và thu hút khách hàng; tổ chức công tác bán

Trang 20

hàng cũng như các hoạt động yểm trợ nhằm bán được nhiều hàng với chi phí kinh doanh cho hoạt động bán hàng thấp nhất cũng như đáp ứng tốt nhất các dịch vụ sau bán hàng và mang lại hiệu quả cao nhất.

2.1.3.2 Đặc điểm của tiêu thụ

Trong nền kinh tế thị trường hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của doanh nghiệp sản xuất hàng hóa nó cũng quyết định việc thực hiện thành công hay thất bại các mục tiêu doanh nghiệp đề ra Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ được sản phẩm là mục đích cơ bản nhất của sản xuất hàng hóa, là công việc hàng ngày của các doanh nghiệp

Hoạt động tiêu thụ được cấu thành từ các yếu tố sau:

- Chủ thể tham gia: người bán và người mua

- Đối tượng tiêu thụ: hàng hóa và tiền tệ

- Thị trường tiêu thụ: đây là môi trường trung tâm của toàn bộ quá trình sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và các dịch vụ cho xã hội Thị trường hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau:

+ Lợi ích cá nhân được đặt lên hàng đầu đối với tất cả các cá nhân cũng như tổ chức (họ mong muốn đạt được nhiều nhất nhu cầu của mình)

+ Lấy cạnh tranh làm thi đua, nhưng không phải là cá lớn nuốt cá bé

mà là cạnh tranh lành mạnh, cùng nhau tăng trưởng, ai tụt hậu sẽ bị thua thiệt trong cạnh tranh

+ Đổi mới, tăng trưởng thường xuyên là mục tiêu an toàn phát triển và lợi nhuận

+ Nhu cầu về kế hoạch hóa và điều khiển là rất cao, nhưng việc quyết định về kế hoạch hóa là do doanh nghiệp quyết định Việc quyết định kinh doanh loại hàng hóa gì, số lượng bao nhiêu, sản xuất như thế nào, phân phối

Trang 21

cho ai tùy thuộc vào khả năng, nguồn lực của doanh nghiệp thông qua thị trường và nhu cầu của khách hàng.

+ Sự vận động của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường được diễn ra tự

do theo pháp luật Tự do ra nhập, tự do hội họp, tự do mua bán, tự do kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật Do đó, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn cần quan tâm đến đối thủ hiện tại và đối thủ tiềm năng

+ Các mối quan hệ giữa người mua và người bán, giữa nhà sản xuất kinh doanh và khách hàng thông qua mua bán bằng tiền trên thị trường

* Đặc điểm riêng của tiêu thụ nông sản

Sản phẩm rau quả là sản phẩm của ngành sản xuất nông nghiệp, là hàng hoá thiết yếu cho đời sống hàng ngày của con người, đặc điểm tiêu thụ rau quả giống như những hàng hoá nông sản, bị ảnh hưởng bởi ngành sản xuất nông nghiệp

Do rau quả là sản phẩm tươi sống khó vận chuyển và bảo quản nên tiêu thụ thường là tại chỗ Rau quả là hàng hoá thiết yếu hàng ngày nên được tiêu thụ đều qua các tháng trong năm, mặt khác sản xuất rau quả ở nước ta thường quanh năm, cho nên tiêu thụ rau quả thường ổn định, ít co dãn về mặt cung cầu

Sản phẩm rau quả rất cần thiết cho con người nhằm phát triển của cơ thể nhưng tiêu thụ của mỗi người lại bị hạn chế về khối lượng, nên khi giá rẻ thì họ cũng không dùng nhiều hơn, vậy thì nhà sản xuất vẫn có thể bán với khối lượng lớn

Tiêu thụ rau quả cũng mang tính thời vụ rõ rệt biểu hiện qua lượng cung, lượng cầu và giá cả rau quả Sự khan hiếm vào đầu vụ dẫn đến giá bán tăng rất cao và giảm hẳn vào giữa vụ, lượng cung tăng lên và giá tăng chậm

về cuối vụ Đặc biệt khi gặp rủi ro trong sản xuất do thiên tai, lũ lụt thì giá rau quả tươi và chế biến sẽ tăng cao

Trang 22

Đồng thời giá cả rau quả biến động theo thời vụ sản xuất trong năm và khối lượng sản phẩm cũng tăng theo thời vụ Tiêu thụ sản phẩm gắn chặt với khai thác và sử dụng lợi thế so sánh của vùng về điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu.

2.1.3.3 Vai trò của tiêu thụ sản phẩm

* Đối với doanh nghiệp

Hoạt động tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được vận động qua các giai đoạn cơ bản T - H - H’ - T’ Vì vậy, nếu xét trên toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh thì hoạt động tiêu thụ là công việc quan trọng nhất để thực hiện các mục tiêu chuyển đổi các hình thái giá trị chủ yếu của doanh nghiệp

Chỉ khi sản phẩm được tiêu thụ doanh nghiệp mới thu hồi được vốn để thực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng Thực hiện tốt hoạt động tiêu thụ là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển Hoạt động tiêu thụ sản phẩm

là khâu quan trọng vì ảnh hưởng tới vòng quay của vốn, nếu như sản phẩm được tiêu thụ sớm thì vòng quay của vốn được thu hồi nhanh, tốc độ vòng quay của vốn lớn, chu kỳ kinh doanh được rút ngắn và hiệu quả sử dụng vốn cao Trong thực tế, việc thích ứng với thay đổi của thị trường qua hoạt động tiêu thụ phản ánh sự linh hoạt trong sản xuất, là thước đo đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tiêu thụ sản phẩm đã kết nối các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp với thị trường, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh Qua tiêu thụ, tính chất hữu ích của sản phẩm mới được xác định một cách hoàn toàn, chứng tỏ được năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện kết quả của công tác nghiên cứu thị trường…

Trang 23

Hoạt động tiêu thụ được thực hiện, sản phẩm của doanh nghiệp bán được chứng tỏ nó được người tiêu dùng và thị trường chấp nhận, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng; doanh nghiệp tạo được chữ tín trên thị trường, hay nói cách khác nó là điều kiện tiền đề cho doanh nghiệp mô tả chính sách cơ cấu thị trường, nâng cao tính tự chủ của doanh nghiệp Ngoài ra hoạt động tiêu thụ sản phẩm còn làm chiến lược, sách lược cho các hoạt động khác.

* Đối với xã hội

- Tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trong việc cân đối cung cầu, bởi vì nền kinh tế là một thể thống nhất với những cân bằng tỷ lệ tương quan nhất định Sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ có nghĩa là sản xuất đang diễn

ra một cách bình thường, nhịp nhàng, cân đối, giữ được sự bình ổn trong xã hội, góp phần làm ổn định và phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân

- Sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ có nghĩa là xã hội đã thừa nhận kết quả lao động của doanh nghiệp, thực hiện sự thừa nhận đó thông qua các hành vi mua và dẫn tới điều tiết và kích thích thị trường bằng các thông tin về số lượng, chất lượng, thời điểm, loại hình cung ứng… diễn ra trên thị trường Thông qua các hoạt động này, chức năng của thị trường được thể hiện, làm nguồn động lực mạnh mẽ góp phần vào điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa

- Mặt khác, tiêu thụ sản phẩm còn thể hiện vào việc giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, đóng góp tiền vào ngân sách nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với xã hội

2.1.4 Kênh tiêu thụ

2.1.4.1 Khái niệm

Kênh tiêu thụ là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo ra dòng vận

Trang 24

chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng Tất cả những người tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là những trung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối thực hiện các chức năng khác nhau.

Các thành viên tham gia:

* Người cung ứng: Là người đứng đầu của kênh tiêu thụ, có thể là người sản xuất hoặc công ty thương mại

* Nhà bán buôn: Là trung gian bán hàng hóa, dịch vụ cho các trung gian khác như nhà bán lẻ hoặc những nhà sử dụng công nghiệp

* Nhà bán lẻ: Là trung gian bán hàng hóa và dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng

* Đại lý và môi giới: Là những trung gian có quyền hợp pháp thay mặt cho nhà sản xuất cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các trung gian khác Trung gian này có thể đại diện cho nhà sản xuất nhưng không sở hữu sản phẩm mà họ có nhiệm vụ đưa người mua và người bán đến với nhau

* Nhà phân phối: Là chỉ chung những người trung gian thực hiện chức năng phân phối trên thị trường

* Người tiêu dùng: Là người cuối cùng của kênh phân phối, họ mua sản phẩm

để tiêu dùng cho cuộc sống

2.1.4.2 Các loại kênh tiêu thụ

Có hai loại hình thức tiêu thụ sản phẩm là tiêu thụ trực tiếp và tiêu thụ gián tiếp

* Tiêu thụ trực tiếp: Việc tiêu thụ sản phẩm được doanh nghiệp thực hiện thông qua các tổ chức tiêu thụ của doanh nghiệp, các cửa hàng hay chi nhánh

Trang 25

của công ty có mối quan hệ trực tiếp về tài chính, tổ chức và nhân sự, bán sản phẩm đến thẳng tay người tiêu dùng.

* Tiêu thụ gián tiếp: Việc tiêu thụ sản phẩm của nhà sản xuất không trực tiếp bán cho người tiêu dùng mà thông qua các trung gian khác nhau, tùy vào số lượng trung gian mà được chia thành các loại kênh khác nhau Chiều dài của kênh được thể hiện qua số cấp trung gian của kênh

- Kênh 1 cấp: Bao gồm một người trung gian là các nhà bán lẻ

- Kênh 2 cấp: Có hai cấp trung gian là nhà bán buôn và nhà bán lẻ

- Kênh 3 cấp: Có ba cấp trung gian là đại lý đến nhà phân phối và nhà bán lẻ

2.1.4.3 Vai trò của kênh tiêu thụ

Bất kỳ nhà sản xuất nào cũng thiết lập mạng lưới phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp, thông qua hệ thống trung gian để thỏa mãn thị trường mục tiêu nhằm đem lại lợi ích hơn, hiệu quả hơn so với khi họ tự làm Vai trò chính của các trung gian thương mại là làm cho cung và cầu phối hợp một cách trật tự và hiệu quả Việc tiêu thụ sản phẩm qua các bộ phận trung gian biểu hiện quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động rõ nét, tạo được nhiều lợi thế cho nhà sản xuất

- Các bộ phận trung gian chịu phần chi phí trong việc bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng

- Nhà sản xuất có điều kiện tập trung đầu tư vào công việc sản xuất của mình, đầu tư chuyên môn hóa cao sẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm

- Thông qua trung gian sẽ làm giảm số lượng các mối quan hệ giao dịch, làm tăng hiệu quả của phân phối trong xã hội

Trang 26

Như vậy, thông qua kênh phân phối có bộ phận trung gian các nhà sản xuất giảm được đầu tư tiền bạc và nhân lực mà sản phẩm của mình vẫn đến được tay người tiêu dùng Mặt khác, người tiêu dùng được tiếp xúc nhiều chủng loại sản phẩm hàng hóa thông qua trung gian, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phong phú hơn

2.1.4.4 Chức năng của kênh tiêu thụ

* Nghiên cứu thị trường: Nhằm thu thập thông tin cần thiết để thiết lập chiến lược phân phối, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ

* Chiêu thị: Soạn thảo và truyền bá những thông tin về hàng hóa nhằm khuyếch trương sản phẩm cần tiêu thụ

* Tiếp xúc: Thiết lập các mối liên hệ, tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những người mua tiềm năng

* Đàm phán: Thỏa thận phân chia trách nhiệm và quyền lợi trong kênh, thỏa thuận với nhau về giá cả và những điều kiện phân phối khác nhằm thực hiện quá trình chuyển giao quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hóa

* Phân phối vật phẩm: Vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hóa

* Hoàn thiện hàng hóa: Làm cho hàng hóa đáp ứng những yêu cầu của người mua như đóng gói, bảo hành…

* Tài trợ: Huy động và phân bổ nguồn vốn cần thiết để dự trữ và bù đắp các chi phí hoạt động của kênh phân phối

* Chia sẻ rủi ro: Chấp nhận rủi ro liên quan đến việc điều hành hoạt động của kênh phân phối

Trang 27

cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ”

Nói một cách khác, ta hiểu ngành hàng là: tập hợp những tác nhân kinh

tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất, tiếp đó là gia công, chế biến và đi đến một thị trường, hoàn tất của sản phẩm nông nghiệp

Như vậy mọi ngành hàng là một chuỗi các tác nghiệp, chuỗi những tác nhân và cũng là chuỗi những thị trường Điều đó kéo theo những luồng vật chất và những bù đắp bằng giá trị tiền tệ

Những ý tưởng trên đều chứng tỏ rằng ngành hàng là một chuỗi các hoạt động kinh tế, ngành hàng cho phép mô tả từ nguồn tới ngọn một chuỗi liên tiếp các hoạt động sản xuất, chế biến, tiêu thụ và sự phối hợp hoạt động của từng tác nhân trong ngành hàng Quá trình đi từ điểm sản xuất sản phẩm đầu tiên tới sản phẩm cuối cùng trong quá trình vận hành của một ngành hàng

đã tạo ra sự chuyển dịch các luồng vật chất trong ngành hàng đó

Ta có thể xem xét sự chuyển dịch đó theo ba dạng cơ bản sau:

- Sự chuyển dịch về thời gian

Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian khác

Sự chuyển dịch này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ

Để thực hiện tốt sự chuyển dịch này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm

- Sự chuyển dịch về mặt không gian

Trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được tiêu dùng ở nơi khác Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm Sự chuyển dịch này giúp ta thỏa mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp nhân dân trong nước và đó cũng là cơ sở không thể thiếu được để sản phẩm trở thành hàng hóa Điều kiện cần thiết của chuyển dịch về

Trang 28

mặt không gian là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của chính phủ.

- Sự chuyển dịch về mặt tính chất

Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác động của công nghệ chế biến Ở đây yếu tố vật chất của sản phẩm vẫn còn giữ nguyên nhưng nó được sàng lọc, chiết suất hoặc phụ thêm các yếu tố vật chất phụ gia nào đó để tạo ra sản phẩm cuối cùng có chất lượng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng… chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêu dùng và trình độ chế biến Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng càng nhiều lần thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra

Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất phức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt yếu tố về tự nhiên, công nghệ và chính sách Hơn nữa theo P.Fabre thì “Ngành hàng là sự hình thức hóa dưới dạng

mô hình đơn giản làm hiểu rõ sự tổ chức của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và các phương thức điều tiết”

Như vậy, để một ngành hàng phát triển ở mức độ cao, có chỗ đứng trong thị trường, đáp ứng được yêu cầu của xã hội, đem lại lợi ích cho người sản xuất kinh doanh thì việc nghiên cứu, phân tích ngành hàng có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung và cho từng ngành, từng loại sản phẩm nói riêng

Quá trình vận hành của ngành hàng từ khâu sản xuất đến tiêu dùng bao gồm một tập hợp liên tiếp các hoạt động kinh tế của các tác nhân, hay là sự luân chuyển liên tục của các luồng vật chất qua từng tác nhân, mà ở từng khâu, mỗi tác nhân lại tạo ra những sản phẩm khác nhau và sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng là sự hợp thành của tất cả những hoạt động kinh

tế đó Theo cách hiểu này, ngành hàng sẽ bao gồm một chuỗi các tác nhân có quan hệ với nhau thông qua các hoạt động kinh tế của chúng, được sắp xếp

Trang 29

theo một trật tự nhất định ở từng vị trí của từng luồng hàng và các hoạt động đó được hoàn thiện dần cho đến khi tạo nên sản phẩm cuối cùng của ngành hàng.

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về tiêu thụ sản phẩm

Để thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp, nhà nước đưa ra một số chính sách, thuộc các lĩnh vực sản xuất tiêu thụ Bao gồm các chính sách:

a Ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp

b Tạo thêm nguồn lực phát triển các hình thức hợp đồng với nông dân, liên kết có hiệu quả giữa nông nghiệp, công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm

c Áp dụng một số chính sách về tài chính bao gồm:

Chính sách thuế: ngoài thực hiện chính sách thuế hiện hành còn áp dụng chính sách mới sau đây: miễn thu thuế buôn chuyên về hàng hoá nông sản, không thu thuế tài nguyên và được lưu thông tự do

Cần xem xét giá trị gia tăng đối với các sản phẩm để điều chỉnh cần thiết và kể từ năm 2001 được xét giảm thuế khi gặp rủi ro về thị trường giá cả, đồng thời chú ý đến chính sách đầu tư, tín dụng và bảo hiểm Cụ thể nhà nước tăng vốn ngân sách đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, tăng khối lượng sản phẩm, giảm giá thành sản phẩm Nhà nước đầu tư hỗ trợ phát triển chợ bán buôn, chợ nông thôn tạo thuận lợi cho giao dịch và tiêu thụ sản phẩm

Thị trường nông sản hàng hoá thường gặp rủi ro, ảnh hưởng tới lợi ích của nông dân và doanh nghiệp Ngoài các chính sách tài chính hiện hành thì nhà nước khuyến khích lập quỹ bảo hiểm xuất khẩu hàng hoá

d Tăng cường công tác thị trường trong nước, nước ngoài, nâng cao khả năng

về thông tin, tiếp thị

Trang 30

e Quản lý nhà nước về tiêu thụ sản phẩm

Nâng cao khả năng quản lý nhà nước về tiêu thụ sản phẩm nhằm đảm bảo sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm được thông suốt Cần xem xét lại việc phân công cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm giữa các Bộ ngành trực thuộc trung ương để phát huy vai trò quản lý của nhà nước và nâng cao trách nhiệm của từng Bộ về lĩnh vực này

2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nông sản

Quá trình tiêu thụ rau quả các thập niên trước do sản xuất ít, sản lượng thấp chủ yếu tiêu thụ trong nước với hình thái sản phẩm tươi sống, phần đưa vào làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu chiếm tỷ lệ rất nhỏ nhưng do lượng tiêu thụ trong nước giới hạn theo nhu cầu của mỗi người,

mà sản xuất thì có tính mùa vụ và tập trung theo vùng, nên xảy ra hiện tượng thừa, giá rẻ ở nơi sản xuất được, thiếu và đắt ở những nơi không sản xuất được hay sản xuất với quy mô nhỏ Do đó, cần phải thu gom, phân phối hay tiêu thụ, đặc biệt là tìm thị trường tiêu thụ ổn định

Hiện nay tiêu thụ rau quả của nước ta đạt được một số kết quả đáng kể, tăng lên cả về số lượng và chất lượng, chủng loại sản phẩm thúc đẩy sản xuất rau quả của nông dân ở nhiều vùng trong cả nước phát triển Và được thể hiện qua các thời kỳ sau:

Thời kỳ 1969-1970: là thời kỳ bắt đầu xây dựng các nhà máy chế biến rau quả, do ảnh hưởng của chiến tranh, sản lượng rau quả sản xuất ra không đáng kể chủ yếu tiêu thụ trong nước

Thời kỳ 1975-1985: là thời kỳ thống nhất đất nước và bắt đầu phục hồi kinh tế đất nước, xây dựng cơ sở vật chất và tìm kiếm thị trường để phát triển ngành rau quả từ sản xuất đến tiêu thụ Thị trường chủ yếu của thời kỳ này là Liên Xô và các nước Đông Âu

Trang 31

Thời kỳ 1986-1990: là thời kỳ phát triển tốt của ngành sản xuất rau quả ở Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu tăng, nhưng thị trường chính vẫn là các nước Đông Âu và Liên Xô Sản lượng rau quả của một số sản phẩm đạt như sau:

Rau quả tươi đạt khoảng 80.000 tấn/nămRau quả hộp đạt khoảng 30.000 tấn/nămRau quả đông lạnh đạt 20.000 tấn/nămRau quả sấy muối đạt 10.000 tấn/nămRau quả gia vị đạt gần 6.000 tấn/năm

Từ năm 1991 Liên Xô và Đông Âu bị tan rã, nên thị trường xuất khẩu truyền thống của Việt Nam bị giảm sút, ngành rau quả phải tìm kiếm cho mình một thị trường mới

Thời kỳ 1994 trở lại đây: xuất khẩu rau quả của nước ta tăng cả về sản lượng và chủng loại sản phẩm

Quá trình hội nhập sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa được giao lưu nhiều hơn, tăng được khối lượng bán ra và cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh với nhau để cùng phát triển Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều doanh nghiệp, cơ sở chế biến rau quả với những dây chuyền hiện đại, công suất lớn, đem lại lợi nhuận cao, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh

tế đất nước như: công ty thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang, công ty rau quả Tiền Giang, công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao…

Để thực hiện chương trình rau quả đến năm 2010 (phấn đấu đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu mặt hàng rau quả và hoa cây cảnh là 1 tỷ USD), Tổng công ty rau quả nói chung và các nhà máy chế biến rau quả khác ở Việt Nam nói riêng đã tập trung nâng cấp đổi mới thiết bị chế biến rau quả tính đến năm

2007 đưa công suất lên trên 120.000 tấn sản phẩm/năm, với các thiết bị chế biến tương đối hiện đại, quy hoạch vùng nguyên liệu chế biến cho các nhà máy chế biến rau quả (riêng vùng dứa nguyên liệu đến năm 2010 là 58.000 ha

Trang 32

kể cả diện tích luân canh và cải tạo đất) Riêng 9 dự án vùng nguyên liệu trọng điểm ở các tỉnh Ninh Bình, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Đồng Nai, Kiên Giang và Tiền Giang là 46.000 ha, hiện tại đã trồng được 20.000 ha Nhưng đến nay đa số các nhà máy thiếu nguyên liệu, các dây chuyền đồ hộp chỉ hoạt động được 30% công suất, các dây chuyền đông lạnh hoạt động được 50% công suất, các dây chuyền cô đặc hoạt động được 60% công suất, dây chuyền nước quả tự nhiên hoạt động được 25% công suất Đây

là một khó khăn rất lớn đang đặt ra trước mắt cho các công ty chế biến rau quả nói chung

Hiện nay một số mặt hàng chế biến xuất khẩu chủ yếu ở các nước thuộc khu vực Châu Á là dứa hộp, nước dứa cô đặc, nước lạc tiên cô đặc… Đối với mặt hàng dứa hộp thì Thái Lan là nước xuất khẩu lớn nhất với khối lượng 625.994 tấn chiếm 64,39% tổng khối lượng xuất khẩu của khu vực, tiếp đó là Philippin với 173.904 tấn, Inđônêxia là 162.324 tấn và Việt Nam là nước xuất khẩu nhỏ nhất chỉ với 10.000 tấn Nhìn chung, khối lượng các mặt hàng nông sản chế biến xuất khẩu của Việt Nam còn rất nhỏ so với các nước khác trong khu vực, vì vậy để thực hiện được mục tiêu đề ra các doanh nghiệp, cơ sở chế biến cần chủ động mở rộng thị trường, đặc biệt là xuất khẩu, tăng khối lượng

và thị phần trên các thị trường truyền thống, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất ra…

2.2.3 Kinh nghiệm tiêu thụ rau quả của các nước trên thế giới và Việt Nam

2.2.3.1 Các nước trên thế giới

* Thái Lan: Những năm 60 tình hình kinh tế của nước này chậm phát triển như nước ta hiện nay, nhưng sau bốn thập kỷ qua kinh tế nước này đã có những bước ngoặt đáng kể, kinh tế phát triển và ổn định Nhưng mức tăng không đều giữa thành thị và nông thôn

Về chính sách phát triển: lúc đầu Thái Lan chú trọng phát triển ngành sản xuất nông nghiệp theo chiều rộng, đa cây, đa canh Nhưng sau đó đã tận

Trang 33

dụng thế mạnh để nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường tiêu thụ Thái Lan đã chú trọng khâu bảo quản chế biến làm cho người tiêu dùng trong nước tiêu dùng trái cây trong nước nhằm tháo gỡ ách tắc đầu ra cho trái cây Cho nên một số rau quả như sầu riêng, xoài sản lượng lớn hơn nước ta 10 lần nhưng không ách tắc về đầu ra do người dân của họ ưa chuộng sử dụng sản phẩm trong nước Bên cạnh đó, Thái Lan vẫn tạo những mối quan hệ với các nước để có thị trường mới, mang lại hiệu quả cao, dần dần tạo chỗ đứng trên thị trường quốc tế.

* Trung Quốc: là nước đông dân nhất thế giới, nước này khối lượng sản phẩm rau quả tươi và rau quả chế biến xuất khẩu ra các nước với khối lượng lớn Nhờ quan hệ hài hoà với một số nước có thị trường tiêu thụ lớn, chú trọng đến công tác bảo quản, chế biến và kích thích tiêu thụ trong nước, tăng niềm tin của khách hàng đối với tiêu dùng sản phẩm trong nước Trung Quốc quan tâm đến bảo quản công nghiệp chế biến nhằm đa dạng hoá sản phẩm, quan hệ rộng với các nước để tăng khối lượng xuất khẩu, mở rộng thị trường dần tạo chỗ đứng trên thị trường quốc tế

* Inđônêxia: trước những năm 60 nền kinh tế nước này còn nghèo, đến những năm 80 thì nền kinh tế có chuyển biến mạnh Inđônêxia là một nước đông dân, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, dân số nông thôn chiếm khoảng 70%, đất canh tác trên đầu người thấp, nên cần chuyển hướng từ đơn canh sang

đa canh theo hướng tận dụng triệt để sản phẩm thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, tìm kiếm thị trường mới và tìm hiểu nhu cầu của thị trường

Các nước này đã dần xâm nhập vào các thị trường Châu Âu, Phi, Mỹ…

và dần tạo chỗ đứng vững chắc trên các thị trường cả về sản xuất nông nghiệp

và sản phẩm công nghiệp chế biến

2.2.3.2 Đối với Việt Nam

Nước ta nền kinh tế chậm phát triển do thiệt hại nặng nề của 2 cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm để giải phóng dân tộc Sau giải phóng

Trang 34

Đảng và nhà nước đã có những chủ trương, chính sách nhằm xoá đói giảm nghèo, phục hồi phát triển nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu Do điều kiện nước ta thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Trong thời gian qua sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp chế biến xuất khẩu tăng, hàng năm chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu Đảng và nhà nước đã đề

ra những chủ trương và chính sách kích thích tiêu thụ trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài Đồng thời chú ý tới bảo quản, chế biến sản phẩm rau quả, mở rộng quan hệ với các nước để tìm kiếm mở rộng thị trường, tìm kiếm tăng tính cạnh tranh của các loại sản phẩm trên thị trường để dần tạo được uy tín của sản phẩm đối với người tiêu dùng trên cả thị trường trong nước và thị trường thế giới

Trang 35

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Sự hình thành và phát triển của công ty

3.1.1.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển của công ty

Công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao có trụ sở chính tại phường Trung Sơn - Thị xã Tam Điệp - Tỉnh Ninh Bình, tiền thân là nông trường quốc doanh Đồng Giao, được thành lập ngày 26 tháng 12 năm 1955 Sau nhiều giai đoạn phát triển thăng trầm với nhiều tên gọi khác nhau như: Nông trường quốc doanh Đồng Giao năm 1955 sau đó nông trường đổi tên thành “Xí nghiệp nông công nghiệp Đồng Giao” vào năm 1993 Đến năm

1997, “Xí nghiệp nông công nghiệp Đồng Giao” được đổi tên thành “Công ty thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao” thuộc tổng công ty rau quả Việt Nam theo theo quyết định số 3193 NN-TCBT/QĐ của Bộ NN&PTNT Từ năm 2004 đến nay có tên là Công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao với tên

giao dịch quốc tế là “Dong Giao Foodstuff export joint sock company”, tên

Trang 36

Giai đoạn 1976 - 1993: Đây là giai đoạn đất nước hoàn toàn được giải phóng cả nước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng hậu quả do chiến tranh để lại, cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Âu và sự cấm vận của Mỹ, đặc biệt với việc sản xuất trong chế độ bao cấp nên sản xuất của công ty không phát triển, một số diện tích cà phê được thay thế bằng diện tích trồng dứa Nhưng sản phẩm làm ra lại không xuất khẩu được, đời sống cán bộ công nhân viên chức cực kỳ khó khăn, tưởng chừng như sự tồn tại của công ty là không bền vững.

Giai đoạn từ 1994 đến nay: Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, sản xuất của công ty trong giai đoạn này đã bắt đầu ổn định và phát triển Đặc biệt từ chỗ không có thị trường công ty đã chủ động tìm kiếm và khai thác thị trường, do vậy mà sản xuất của công ty đã có những bước phát triển vượt bậc cả về sản xuất nông nghiệp, cả về sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công tác xuất nhập khẩu

3.1.1.2 Nhiệm vụ chủ yếu của công ty

Công ty có nhiệm vụ quản lý và khai thác có hiệu quả các nguồn lực của công ty trong quá trình trồng trọt và chế biến các sản phẩm rau quả nhằm cung cấp, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng

Là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập thực hiện các mục tiêu trong sản xuất kinh doanh nhiệm vụ chủ yếu của công ty như sau:

+ Đáp ứng kịp thời nhu cầu hàng hóa cho thị trường, mở rộng thị trường đặc biệt cho thị trường xuất khẩu

+ Bảo toàn và phát triển vốn, bảo đảm cho các mục tiêu lợi nhuận, nâng cao phúc lợi tập thể, thu nhập cho người lao động và hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước

+ Nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, đáp ứng khả năng cạnh tranh trên thị trường

Trang 37

+ Đảm bảo chữ tín đối với khách hàng, khẳng định chữ tín của công ty trên thị trường thực phẩm xuất khẩu.

3.1.1.3 Ngành nghề kinh doanh

Hiện nay công ty kinh doanh những ngành nghề chính sau:

+ Trồng trọt, công nghiệp chế biến rau quả

+ Kinh doanh vật tư nông nghiệp: Đạm, lân, kali, thuốc trừ sâu, giống cây trồng…

+ Đại lý kinh doanh xăng dầu

+ Kinh doanh các mặt hàng nông sản, nước giải khát

+ Xuất khẩu hàng nông sản và nhập khẩu thiết bị máy móc vật tư nông nghiệp, hạt giống và rau quả các loại

- Dây chuyền chế biến đồ hộp công suất 10.000 tấn sản phẩm/năm

- Dây chuyền chế biến cô đặc công suất 5.000 tấn sản phẩm/năm

- Dây chuyền lạnh Block, IQF công suất 8.000 tấn sản phẩm/năm

Trang 38

- Dây chuyền chế biến nước quả công suất 2.000 tấn sản phẩm/ năm.Với hệ thống dây chuyền thiết bị hiện đại, các sản phẩm rau quả của công ty sản xuất đã được thị trường trong và ngoài nước biết đến như nước dứa cô đặc, nước dứa ép nguyên chất, dứa hộp, dưa chuột đóng lọ, ngô bao tử, ngô ngọt…

3.1.2.2 Tình hình lao động của công ty

Qua biểu 1 ta thấy, công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao

có đội ngũ cán bộ công nhân tương đối lớn là 1217 người vào năm 2007, nhìn chung số lượng lao động không có biến đổi nhiều qua 3 năm, nhưng có xu hướng giảm sau khi cổ phần hóa để bộ máy gọn nhẹ hơn, năm 2005 là 1268 người thì đến năm 2007 chỉ còn 1217 người Xét theo tính chất công việc thì lao động trực tiếp chiếm phần lớn trong công ty là trên 93% tổng số lao động

và cơ cấu lao động trực tiếp cũng không ngừng tăng qua các năm Còn đối với lao động gián tiếp thì cơ cấu lại có xu hướng giảm nhẹ qua các năm, điều này

có nghĩa là năng lực quản lý của công ty đã được tăng lên và đây cũng là một trong những yếu tố đem lại năng suất và hiệu quả cao trong quá trình sản xuất kinh doanh

Về trình độ lao động ta thấy số lượng lao động có trình độ chuyên môn ngày càng tăng cao Năm 2005 có 60 lao động có trình độ đại học và 96 lao động có trình độ cao đẳng và THCN thì đến năm 2007 số lao động có trình độ đại học đã lên đến 73 người và số lao động có trình độ cao đẳng và THCN là

121 người Chúng ta nhận thấy sự thay đổi về trình độ lao động trong công ty

là rất tốt, điều này chứng tỏ công ty ngày càng quan tâm tới việc đầu tư vào con người, đây là một điều kiện tốt cho việc nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh của công ty Về cơ cấu giữa lao động nam và nữ ở công ty thì

Trang 39

Bảng 3.1: Tình hình lao động của công ty qua 3 năm 2005 - 2007

LĐ(người) CC(%) LĐ(người) CC(%) LĐ(người) CC(%) 06/05 07/06 BQ

Trang 40

lao động nữ thường nhiều hơn lao động nam và lao động nữ tăng dần qua các năm với tốc độ tăng bình quân là 101,5%

Nhìn chung đội ngũ cán bộ quản lý của công ty có tới 90% cán bộ có trình độ đại học và trên đại học đây là điều kiện tốt để quản lý và nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất và kinh doanh của công ty Đặc biệt công ty đã đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác kinh doanh xuất nhập khẩu giỏi về chuyên môn và thông thạo về ngoại ngữ gồm 8 đồng chí được phân công làm

ở các thị trường khác nhau trên thế giới Ngoài ra công ty cũng còn ký hợp đồng thời vụ với hàng ngàn lao động trên địa bàn

3.1.2.3 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty

- Sơ đồ bộ máy quản lý

Bộ máy quản lý của công ty đứng đầu là đại hội cổ đông, dưới là ban kiểm soát và hội đồng quản trị, dưới hội đồng quản trị là ban giám đốc điều hành, dưới ban giám đốc điều hành là 5 phòng ban và 20 đơn vị sản xuất Mặc

dù mỗi phòng ban và đơn vị sản xuất đều có chức năng và nhiệm vụ riêng nhưng tất cả đều có quan hệ thống nhất, qua lại với nhau tạo nên bộ máy quản

lý hoàn chỉnh và đồng bộ

Ngày đăng: 27/05/2014, 10:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quyền Đình Hà - Mai Thanh Cúc. Giáo trình phát triển nông thôn. NXB Nông nghiệp Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội 2005
3. Giáo trình Quản trị kinh doanh nông nghiệp. Bộ môn Quản trị kinh doanh. NXB Nông nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội
4. PGS.TS. Phạm Vân Đình - TS. Đỗ Kim Chung. Giáo trình Kinh tế nông nghiệp. NXB Nông nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế nông nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội
5. Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế. Bộ môn Kinh tế - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế
6. PGS.TS. Lê Văn Ái. Các giải pháp tài chính mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá. NXB Tài chính - Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp tài chính mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá
Nhà XB: NXB Tài chính - Hà Nội 2003
7. PGS.TS. Nguyễn Nguyên Cự. Marketing nông nghiệp. NXB Nông nghiệp 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing nông nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bộ máy quản lý - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ bộ máy quản lý (Trang 41)
Bảng 3.2 : Kết quả SXKD của công ty qua 3 năm (2005 - 2007) - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 3.2 Kết quả SXKD của công ty qua 3 năm (2005 - 2007) (Trang 44)
Bảng 4.1: Tình hình sản xuất và chế biến của công ty qua 3 năm 2005 – 2007 - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 4.1 Tình hình sản xuất và chế biến của công ty qua 3 năm 2005 – 2007 (Trang 52)
Bảng 4.3: Tình hình tiêu thụ các loại rau quả tươi của công ty qua 3 năm - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 4.3 Tình hình tiêu thụ các loại rau quả tươi của công ty qua 3 năm (Trang 56)
Sơ đồ 4.1: Thị trường đầu ra của công ty - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Sơ đồ 4.1 Thị trường đầu ra của công ty (Trang 58)
Bảng 4.4: Tình hình tiêu thụ sản phẩm CNCB trên các thị trường của công ty qua 3 năm 2005 - 2007 - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 4.4 Tình hình tiêu thụ sản phẩm CNCB trên các thị trường của công ty qua 3 năm 2005 - 2007 (Trang 59)
Bảng 4.5: Số lượng từng loại sản phẩm xuất khẩu qua các thị trường năm 2007 - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 4.5 Số lượng từng loại sản phẩm xuất khẩu qua các thị trường năm 2007 (Trang 62)
Bảng 4.6: Số lượng sản phẩm của công ty tiêu thụ qua các kênh - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 4.6 Số lượng sản phẩm của công ty tiêu thụ qua các kênh (Trang 65)
Bảng 4.7: Đánh giá của khách hàng về sản phẩm của công ty - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 4.7 Đánh giá của khách hàng về sản phẩm của công ty (Trang 67)
Bảng 4.8: Giá cả một số sản phẩm của công ty qua 3 năm 2005 - 2007 - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 4.8 Giá cả một số sản phẩm của công ty qua 3 năm 2005 - 2007 (Trang 68)
Bảng 4.9: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của công ty qua 3 năm 2005 - 2007 - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 4.9 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của công ty qua 3 năm 2005 - 2007 (Trang 70)
Bảng 4.10: Kim ngạch xuất khẩu rau quả của công ty qua 3 năm - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 4.10 Kim ngạch xuất khẩu rau quả của công ty qua 3 năm (Trang 71)
Bảng 4.11: Kim ngạch xuất khẩu rau quả qua các thị trường của công ty - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 4.11 Kim ngạch xuất khẩu rau quả qua các thị trường của công ty (Trang 73)
Bảng 4.12: Giá trị tiêu thụ của công ty qua các thị trường nội tiêu - thực trạng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần tpxk đồng giao - tam điệp - ninh bình
Bảng 4.12 Giá trị tiêu thụ của công ty qua các thị trường nội tiêu (Trang 74)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w