DANH MỤC BẢNG BIỂUBảng 1: Dự báo tiêu thụ thuỷ sản trên thế giới đến 2010 Bảng 2: Tình hình lao động của Công ty trong 3 năm 2005- 2007 Bảng 3: Tình hình vốn của Công ty Bảng 4: Tình hìn
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ củacác cán bộ, các thầy cô giáo trong trường Đại học Nông Nghiệp- Hà Nội; thànhviên, khách hàng của Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô; bạn bè và giađình
Tôi xin tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, Khoa kinh tế và pháttriển nông thôn- Trường Đại học Nông Nghiệp- Hà Nội đã tạo điều kiện về mọi mặtgiúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin tỏ lòng biết ơn tới ban giám đốc, các phòng ban, nhân viên vàkhách hàng của Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô- Hà Nội đã dành tìnhcảm và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện nghiên cứu và hoàn thành tốt đềtái
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Đinh Văn Đãn đã địnhhướng và chỉ dẫn tận tình để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các tập thể thầy cô giáo trong bộ môn Pháttriển nông thôn đã có những đóng góp ý, trao đổi hết sức bổ ích để tôi hoàn thiệnluận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bàn bè đã động viên và giúp đỡ tôihoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 21 tháng05 năm 2008
Sinh viên
Phí Thị Chinh
i
Trang 2CNH- HĐH Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
C.Âu + Nga Châu Âu + Nga
iv
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Dự báo tiêu thụ thuỷ sản trên thế giới đến 2010
Bảng 2: Tình hình lao động của Công ty trong 3 năm (2005- 2007)
Bảng 3: Tình hình vốn của Công ty
Bảng 4: Tình hình cung ứng và tiêu thụ của Công ty
Bảng 5: Kết quả tiêu thụ trên các kênh phân phối qua 3 năm (2005- 2007)
Bảng 6: Mức tiêu thụ của các trung gian qua các kênh trên các thị trường mục tiêu 2007
Bảng 7: Khách hàng thường xuyên và không thường xuyên của Công ty
Bảng 8: Biến động thị trường sản phẩm của Công ty đối với khách hàng lâu năm (Hà Nội, HưngYên, Hà Tây, Hải Phòng) qua ba năm
Bảng 9: Biến động thị trường sản phẩm của Công ty đối với khách hàng mới (Bắc Ninh, Bắc Giang,Hải Dương, Thanh Hoa, Nghệ An)
Bảng 10: Thị phần và số lượng đại lý của các Công ty
Bảng 11: Đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm của công ty
Bảng 12: Kết quả tiêu thụ của các hãng khác (Lộc Việt và APT)
Bảng 13: Uy tín sản phẩm của Công ty Đông Đô so với một số Công ty khác
Bảng 14a: Giá và lượng các sản phẩm được chế biến từ cá
Bảng 14b: Giá và sản lượng các cỡ tôm thương hiệu Đôi Đũa Vàng
Bảng 14c: Giá và sản lượng các loại nem thương hiệu Đôi Đũa Vàng
Bảng 14d: Giá và sản lượng các sản phẩm từ mực của thương hiệu Đông Đô
Bảng 14e: Giá và sản lượng một số sản phẩm khác thương hiệu Đôi Đũa Vàng
Bảng 15: Danh mục hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản
Bảng 16: Sự biến động của nguyên liệu sản xuất chính
Bảng 17: Danh mục một số hoá chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất kinh doanh thuỷsản
Bảng 18: Lượng tiêu thu theo quý của ba năm (2005- 2007)
Bảng 19: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty qua ba năm
Bảng 20: Dự báo về thị phần và số lượng đại lý của Công ty
Bảng 21: Đào tạo nguồn nhân lực qua ba năm
Bảng 22: Giá và lượng một số sản phẩm mới của Công ty quý II năm 2008
3ii
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Sách: Giáo trình Thuỷ sản, 2005, NXB Tp Hồ Chí Minh
2 Sách: Xuất khẩu Thuỷ sản, 2005, NXB Tp Hồ Chí Minh
4 Sách: Giáo trình thuỷ sản, 2004, NXB Nha Trang
3 Hoàng Ngọc Bích, Marketing nông nghiệp, 2004
4 Nguyễn Văn Luật, Luận văn tốt nghiệp Đại học, 2006
5 Nguyễn Thị Dư, Luận văn tốt nghiệp Đại học, 2002
6 Một chương trình hướng dẫn từng bước cách khởi sự doanh nghiệp thành công: Sách bài tập
“Lập kế hoạch kinh doanh” Khởi sự doanh nghiệp 1, 2, 3; ILO.
7 Phân tích tình hình tiêu thụ, Kinh tế Quốc Dân, 2005
8 Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997), Giáo trình kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà
Nội
9 Phòng Kế toán, Kinh doanh (2007) của Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô
11 Niên giám thống kế 2006, NXB Thống kê
12 Tiêu thụ thịt lợn giảm 20% tại Việt Nam, Sức tiêu thụ thuỷ sản cá, tôm tăng 50%, Thông tấn xã
Việt Nam
13 Báo Thuỷ sản, 2007- 2008; Tình hình xuất khẩu ở Việt Nam 2007
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Nội dung nghiên cứu 3
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1.1 Cơ sở lý luận về thị trường tiêu thụ thuỷ hải sản đông lạnh 4
2.1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm 8
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 16
2.2.1 Tình hình tiêu thụ thuỷ sản trên thế giới 16
2.2.2 Tình hình tiêu thụ thuỷ sản trong nước 17
2.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 19
2.3.1 Chính sách của chính phủ đối với tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản 19
2.3.2 Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài trên địa bàn Hà Nội 20
PHẦN III:ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21 3.1 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 21
3.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 21
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.2.1 Phương pháp duy vật biện chứng 30
3.2.2 Phương pháp duy vật lịch sử 30
3.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu: 30
3.2.4 Phương pháp phân tích thống kê kinh tế: 31
3.2.5 Phương pháp chuyên gia chuyên khảo 32
3.2.6 Phương pháp phân tích SWOT: 32
3.2.7 Phương pháp điều tra nhanh 33
PHẦN IV:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM 34
4.1.1 Tình hình cung ứng và tiêu thụ của Công ty 34
4.1.2 Nghiên cứu thực trạng thị trường tiêu thụ của Công ty 36
4.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY 51
ii
Trang 64.2.1 Khách hàng 51
4.2.2 Môi trường cạnh tranh 56
4.2.3 Thương hiệu, hình thức và mẫu mã sản phẩm 61
4.2.4 Giá cả, chủng loại và kích cỡ sản phẩm 63
4.2.5 Chất lượng sản phẩm 70
4.2.6 Chiến lược xúc tiến, khuyếch trương sản phẩm của Công ty 71
4.2.7 Nguồn đầu vào 74
4.2.8 Ảnh hưởng của mùa vụ và nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thuỷ sản đông lạnh tới lượng tiêu thụ theo quí 77
4.2.9 Kết quả kinh doanh của Công ty 78
4.3 ĐỊNH HƯỚNG MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ TRONG NƯỚC - XUẤT KHUẨT RA NƯỚC NGOÀI VÀ GIẢI PHÁP 81
4.3.1 Xác định mục tiêu chung của công ty 81
4.3.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu 82
4.3.3 Giải pháp về nhân lực, vốn và khoa học công nghệ 83
4.3.4 Đa dạng hoá sản phẩm 85
4.3.5 Các hoạt động kinh doanh thường nhật 86
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 88
5.1 KẾT LUẬN 88
5.2 ĐỀ NGHỊ 89
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1: Dự báo tiêu thụ thuỷ sản trên thế giới đến 2010 19
Bảng 2: Tình hình lao động của Công ty trong 3 năm (2005- 2007) 26
Bảng 3: Tình hình vốn của Công ty 27
Bảng 4: Tình hình cung ứng và tiêu thụ của Công ty 32
Bảng 6: Mức tiêu thụ của các trung gian qua các kênh trên các thị trường mục Bảng 5: Kết quả tiêu thụ trên các kênh phân phối qua 3 năm (2005- 2007) 36
Bảng 7: Khách hàng thường xuyên và không thường xuyên của Công ty 38
Bảng 8: Biến động thị trường sản phẩm của Công ty đối với khách hàng lâu Bảng 9: Biến động thị trường sản phẩm của Công ty đối với khách hàng mới năm (Hà Nội, Hưng Yên, Hà Tây, Hải Phòng) qua ba năm 41
Bảng 10: Thị phần và số lượng đại lý của các Công ty 43
Bảng 11: Đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm của công ty 47
Bảng 12: Kết quả tiêu thụ của các hãng khác (Lộc Việt và APT) 50
Bảng 13: Uy tín sản phẩm của Công ty Đông Đô so với một số Công ty khác 52
Bảng 14a: Giá và lượng các sản phẩm được chế biến từ cá 56
Bảng 14b: Giá và sản lượng các cỡ tôm 57
iii
Trang 7Bảng 14c: Giá và sản lượng các loại nem 57
Bảng 14e: Giá và sản lượng một số sản phẩm khác 58
Bảng 14d: Giá và sản lượng các sản phẩm từ mực 58
Bảng 15: Danh mục hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản 59
Bảng 16: Sự biến động của nguyên liệu sản xuất chính 63
Bảng 17: Danh mục một số hoá chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất kinh doanh thuỷ sản 63
Bảng 18: Lượng tiêu thu theo quý của ba năm (2005- 2007) 64
Bảng 19: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty qua ba năm 65
Bảng 20: Dự báo về thị phần và số lượng đại lý của Công ty 67
Bảng 21: Đào tạo nguồn nhân lực qua ba năm 69
Bảng 22: Giá và lượng một số sản phẩm mới của Công ty quý II năm 2008 70
iv
Trang 8PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thuỷ sản Việt Nam là ngành sản xuất nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong sự pháttriển kinh tế đất nước Quy mô của ngành nuôi trồng thuỷ sản ngày càng mở rộng và đóng gópkhông ngừng tăng lên cho nền kinh tế quốc dân Từ cuối thập kỉ 80 đến nay, tốc độ tăng trưởngGDP của ngành thuỷ sản cao hơn các ngành kinh tế khác cả về trị số tuyệt đối và tương đối củanông nghiệp
Dân số nước ta hiện nay trên 80 triệu người, là dân số trẻ vừa là nguồn lao động, vừa là thịtrường tiêu thụ lớn và tiềm năng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuỷ sản trongnước.Với nhu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng về thuỷ sản của người tiêu dùng Thuỷsản được sơ chế và chế biến sẵn mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng quanh năm của người tiêu dùng,điều hoà thị trường tiêu thị giữa vùng NTTS và vùng không NTTS
Trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới, hiện nay sản phẩm thô không thể đáp ứng nhucầu của người tiêu dùng và cạnh tranh với sản phẩm của nước ngoài đặc biệt khi gia nhập WTOnăm 2007 với cam kết thuế nhập khẩu giảm trung bình mỗi năm từ 5- 10% và đến năm 2010 còn 0-5% Thị trường nông sản không chỉ có nguồn gốc trong nước, mà cả nước ngoài
Tiêu thị thuỷ sản không chỉ đem lại lợi nhuận, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp kinhdoanh thuỷ sản mà nó còn ảnh hưởng tới nguồn thu nhập chính của người nông dân NTTS Để ổnđịnh đời sống của người nông dân, nền KT- XH đất nước, với định hướng phát triển thị trường tiêuthụ thuỷ sản từ nay đến 2020 của Đảng và chính phủ là: “Xây dựng cơ cấu thị trường và cơ cấu sảnphẩm ổn định, vừa có tính chất cạnh tranh cao, vừa chủ động đối phó với các rào cản thương mạitrong quá trình hội nhập Nâng cao dần tiêu thụ trong nước gắn với phát triển thị trường thuỷ sản
nội địa Phát triển mạnh mẽ và đổi mới dịch vụ hậu cần nghề cá” [1]
Thuỷ sản là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, cung cấp nhiều protein và có đủ cácaxitamin, muối khoáng với các vi lượng quan trọng Thuỷ sản sống ở biển có nhiều chất khoánghơn cá sống ở nước ngọt chính vì thế mà, nhu cầu tiêu dùng của người dân hiện nay về thuỷ hải sảnngày nay càng tăng về chất lượng và số lượng Cá thuộc loại thức ăn chóng hỏng do hàm lượngnước tương đối cao trong cá Cấu trúc mô của cá không chặt chẽ bằng thịt nên cá dễ bị ô nhiễm visinh vật, dễ bị ươn và hư hỏng Cá còn sống hoặc mới chết thì trong thịt cá chứa nhiều vi khuẩn,nếu không ướp lạnh ngay thì cá bị ươn Cá ượp lạnh thì vẫn giữ được thành phần các chất dinhdưỡng, người ta còn bảo quản cá bằng cách ướp muối, phơi khô hoặc xông khói Nên hiện này, mứctiêu thụ thuỷ sản không ngừng tăng qua các năm Đi đôi với nó là xuất hiện nhiều nhà kinh doanhthuỷ sản với hình thức sơ chế và chế biến, mẫu mã sản phẩm khác nhau để cạnh tranh nhau, khaithác những thị trường tiềm năng để mở rộng quy mô tiêu thụ Hiện nay, các tỉnh lân cận Hà Nộiđang là mục tiêu của các doanh nghiệp kinh doanh thuỷ sản, thị phần trên các tỉnh này còn thấp Bởi
Trang 9đây là mặt hàng có giá bán tương đối cao phù hợp với người có thu nhập cao , chủ yếu được bán tạicác siêu thị và khách sạn Thị trường tiêu thụ ở các huyện của tỉnh lẻ chủ yếu là thuỷ sản tươi vàkhô, chưa có thuỷ sản đông lạnh Kênh tiêu thụ sản phẩm đông lạnh chủ yếu qua một cấp trung gian
là đến người tiêu dùng, chiếm tới 70- 80%, còn lại là tiêu thụ trực tiếp
Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô có mức tiêu thụ thuỷ sản lớn nhất phía Bắc,Công ty đang khai thác dần thị trường các tỉnh lẻ lân cận Hà Nội Mức tiêu thụ hàng năm của Công
ty không ngừng tăng lên về số lượng Đặc biệt, để cạnh tranh được sản phẩm của mình trên thịtrường Công ty chú trọng đến chất lượng, mẫu mã và đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng người tiêu
dùng Từ đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản đông lạnh của Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô – Hà Nội”.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kênh phân phối, các khách hàng của Công ty, các doanh nghiệp cùng bán sản phẩm giốngCông ty, nghiên cứu người tiêu dùng, những nhân tố ảnh hưởng tới quá trình tiêu thụ của Công ty
1.3.2 Nội dung nghiên cứu
Những vấn đề kinh tế trong tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản đông lạnh và những giải pháp mangtính định hướng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Trang 10PHẦN II:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Cơ sở lý luận về thị trường tiêu thụ thuỷ hải sản đông lạnh
2.1.1.1 Khái niệm về sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm
- Người ta cho rằng sản phẩm có thể là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khác nhaunhư thương phẩm, công nghệ học, thẩm mỹ học, theo các nhà chuyên môn trong lĩnh vực này, sảnphẩm có phạm vi nghiên cứu rất rộng tuỳ những mục tiêu nghiên cứu
Với quan điểm cổ điển: Sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý hoá học, sinh học có thể rất
quan trọng được tập hợp trong một hình thức đồng nhất là vật mang giá trị sử dụng Khi mục tiêusản xuất là hàng hoá thì sản phẩm chứa các thuộc tính của hàng hoá, đó là sự thống nhất của haithuộc tính giá trị và giá trị sử dụng, nghĩa là sản phẩm hàng hoá không chỉ là sự tổng hợp đặc tínhhoá sinh, lý hoá học, đặc tính sử dụng mà còn là vật mang giá trị trao đổi hay giá trị
Theo quan điểm của marketing: Sản phẩm phải gắn liền với nhu cầu của người tiêu dùng
nên nó được xem như một khái niệm có hệ thống bao gốm những yếu tố chính như sau:
Yếu tố vật chất: Gồm những đặc tính vật lý, hoá học của sản phẩm kể cả những đặc tính vật
lý, hoá học của bao gói
Yếu tố phi vật chất: Gồm công cụ sản phẩm, cách sử dụng, tên gọi, biểu tượng, cách nhậnbiết sản phẩm, mức độ thoả dụng của sản phẩm đối với nhu cầu của khách hàng mà những nỗ lựccủa Marketing phải hướng tới
Từ những khái niệm trên có thể nói sản phẩm thuỷ sản đông lạnh là kết quả của quá trìnhđầu tư sau một chu kỳ sản xuất để tạo ra các sản phẩm mang một đặc trưng riêng đáp ứng nhu cầucủa thị trường
- Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, qua giai đoạn này ngườisản xuất mới đánh giá được kết quả sản xuất kinh doanh cuả mình Do đó, hoạt động tiêu thụ có ýnghĩa quan trọng đối với bất kì người sản xuất kinh doanh khi tham gia vào thị trường, đây cũng là
cơ sở để người sản xuất đưa ra giải pháp khắc phục và định hướng cho phát triển của mình Có thểhiểu hoạt động tiêu thụ sản phẩm theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: Là một quá trình kinh tế gồm nhiều khâu, nó có quan hệ mật thiết với
nhau như nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất
Theo nghĩa hẹp: Là việc chuyển quyền sở hửu sản phẩm cho khách hàng (người mua) và thu
được tiền từ hoạt động này Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sửdụng của hàng hoá để thoả mãn lợi ích của người sản xuất cũng như thoả mãn nhu cầu sử dụnghàng hoá của khách hàng
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm nói chung được cấu thành bởi các yếu tố sau:
Trang 11Các chủ thể kinh tế tham gia: Người mua và người bán
Đối tượng đem trao đổi: Là sản phẩm hàng hoá
Thị trường: Là nơi diễn ra trao đổi hàng hoá giữa người mua và người bán
2.1.1.2 Đặc điểm của thị trường tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản đông lạnh
a- Các loại sản phẩm thuỷ sản trên thị trường
Thuỷ sản nước ta hiện nay chủ yếu cung cấp ra thị trường hai sản phẩm chính: Một là, thuỷsản giống phục vụ cho nuôi trồng thuỷ sản; hai là, thuỷ sản bán cho các cơ sở chế biến sau đó bán rathị trường và cho người tiêu dùng cuối cùng Trong giới hạn của đề tài chúng tôi nghiên cứu tiêuthụ loại sản phẩm chế biến
- Sản phẩm đánh bắt và sơ chế qua: Đây là sản phẩm thuỷ sản mà người tiêu dùng thường muatại các chợ Trong sinh hoạt hàng ngày của con người thì tỷ lệ này chiếm tới 50- 60% Các sảnphẩm này không thể để được lâu mà phải được bán hết trong ngày
- Sản phẩm đánh bắt và được chế biến: Các sản phẩm được chế biến từ thuỷ sản bán trên thịtrường là: nem, tôm thịt tươi, tôm thịt hấp, cá thu kho tiêu,…các sản phẩm này phải được bảo quảnnhiệt độ từ -100C đến -80C thì để được khoảng mấy tháng
b- Các kênh tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản
* Khái niệm kênh phân phối:
Là một tập hợp gồm nhiều thành phần (có thể là một công ty, một doanh nghiệp hay cánhân) tự gánh vác việc giúp đỡ chuyển giao cho ai đó quyền sở hữu đối với một loại hàng hoá cụthể hay một dịch vụ nào đó trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng
* Chức năng của kênh:
Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá dịch vụ được lưu thông từ nhà sản xuất đếnngười tiêu dùng, nhờ đó mà khắc phục được khoảng cách dài về thời gian, địa điểm và chuyển sởhữu giữa các hàng hoá hay dịch vụ mà người tiêu dùng muốn sở hữu chúng Các thành viên trongkênh phân phối thực hiện một số chức năng sau:
- Nghiên cứu thu thập những nguồn thông tin cần thiết để lập kế hoạch và tạo mọi thuận lợicho việc trao đổi hàng hoá
- Kích thích tiêu thụ: Soạn thảo và truyền bá những thông tin cần thiết về hàng hoá nhằmtăng cường sự hiểu biết người tiêu dùng đối với sản phẩm hàng hoá
- Thiết lập các mối quan hệ: Kênh phân phối có nhiệm vụ thiết lập các mối quan hệ vớinhững khách hàng tiềm ẩn, cố gắng thiết lập các mối quan hệ mới, tìm kiếm thị trường mới
- Hoàn thiện hàng hoá: Chức năng này được trung tâm thực hiện Giới trung gian luôn có xuhướng hoàn thiện hàng hoá, làm cho hàng hoá đáp ứng được những nhu cầu của người mua như:đóng gói, bao bì, chế biến, phân loại,…
- Tiếp xúc với người mua: Tiến hành việc thoả thuận với nhau về giá cả và những điều kiệnkhác để thực hiện bước tiếp theo là chuyển giao sở hữu hay quyền sử dụng cho người khác
Trang 12- Tổ chức lưu thông hàng hoá, vận chuyển và bảo quản dự trữ hàng hoá.
- Bảo đảm kinh phí: Các thành phân trong kênh phải tìm kiếm và sử dụng nguồn vốn để bảođảm bù đắp các chi phí hoạt động của kênh
- Chấp nhận rủi ro: Mỗi một thành viên trong kênh phân phối đều có trách nhiệm hạn chế rủi
ro và chấp nhận chia sẻ rủi ro trong quá trình hoạt động của kênh
Việc thực hiện 5 chức năng đầu tiên hỗ trợ cho việc tìm kiếm và ký kết các hợp đồng tiêuthụ sản phẩm, còn 3 chức năng sau hỗ trợ cho việc thực hiện và hoàn tất các thương vụ đã được kýkết
Các tổ chức, cá nhân tham gia vào kênh tiêu thụ với những cách thức liên kết khác nhau hình thànhnên những cấu trúc kênh khác nhau Cấu trúc kênh được xác định qua chiều dài và bề rộng của hệthống kênh Do đó, các kênh phân phối của sản phẩm thuỷ sản được thể hiện qua sơ đồ 1
+ Kênh phân phối trực tiếp: đây là kênh mà người NTTS đem bán thuỷ sản cho người tiêudùng, mà không qua một trung gian nào Đặc điểm của kênh này là người NTTS chỉ bán với sốlượng ít,chủ yếu bán trong địa bàn
Sơ đồ 1: Kênh phân phối thuỷ sản trên thị trường
Kênh I Kênh II Kênh III Kênh IV Kênh V Kênh VI
Hộ chế sơ chế, chế biến
Người thu gom
Người bán buôn Người bán lẻ
Doanh nghiệp chế biến
Người tiêu dùng trong nước
Thị trường nước ngoài
Đại lý, siêu thị
Người bán lẻ
Hộ
NTTS
Hộ NTTS
Hộ NTTS
Hộ NTTS
Hộ NTTS
Hộ NTTS
Trang 13+ Kênh 1 cấp: Bao gồm một người trung gian gần nhất với người tiêu dùng cuối cùng Trênthị trường tiêu dùng người trung gian này thường là người bán lẻ, các siêu thị.
+ Kênh 2 cấp: Bao gồm 2 người trung gian trên thị trường tiêu dùng Thành phân trung giannày có thể là nhà buôn hoặc nhà bán lẻ Quy mô sản phẩm hàng hoá lớn, tập trung, thị trường hànghoá phong phú, các doanh nghiệp không có đủ điều kiện để thực hiện các kênh phân phối ngắn
+ Kênh 3 cấp: Bao gồm 3 người trung gian Thông thường các sản phẩm để bảo quản, sảnphẩm chế biến, qua sơ chế,… được phân phối theo loại kênh này
+ Kênh 4 cấp: gồm 4 người trung gian Các sản phẩm bán ra được bảo quản, chế biến, qua
sơ chế,… được phân phối theo loại kênh này
2.1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp có thể kháiquát thành hai nhóm nhân tố chủ yếu:
Những nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp (nhân tố nội tại) như: Chất lượng sản phẩm,giá cả hàng hoá, các phương thức phục vụ tiêu thụ, uy tín doanh nghiệp,…Tất cả được biểu ở chiếnlược sản phẩm, chiến lựơc giá, chiến lược khuyếch trương của doanh nghiệp Những nhân tố nàydoanh nghiệp có thể khắc phục được một cách chủ động hay thay đổi để có chiến lược kinh doanhphù hợp hơn
Những nhân tố không thuộc bản thân doanh nghiệp (nhân tố bên ngoài) như: Thị trường tiêuthụ sản phẩm của doanh nghiệp, chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước,….Những nhân tố nàydoanh nghiệp khó có thể chủ động trong công việc khắc phục hay thay đổi nó mà phải tìm cáchthích ứng với nó để tồn tại và phát triển
2.1.2.1 Nhân tố nội tại
Có thể xem xét các nguyên nhân cơ bản sau đây:
* Khâu dự trữ và sản xuất sản phẩm hàng hoá
Kế hoạch tổ chức sản xuất rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp, để ra được kế hoạch sản xuất thì doanh nghiệp phải dự đoán được tình hình
dự trữ đầu kỳ
+
Khối lượng sảnphẩm hàng hoásản xuất (thumua) trong kỳ
-Khối lượng sảnphẩm hàng hoá
dự trữ cuối kỳ
Trang 14thị trường hiện tạivà tương lai cũng như trong ngắn hạn và dài hạn Đây cũng là cơ sở để có kếhoạch tiêu thụ và dự trữ sản phẩm.
* Chất lượng, chủng loại và uy tín của sản phẩm
Chất lượng của sản phẩm là tổng hợp những tính chất của sản phẩm hàng hoá, xác địnhthích ứng của nó để sử dụng nó theo công dụng có tính đến các chi phí xã hội cần thiết để tạo ra vàvận hành sản phẩm đó Chất lượng sản phẩm hàng hoá thể hiện mặt chất của sản phẩm là quá trìnhtạo ra những vật dụng có ích, nó gắn với giá trị sử dụng và có liên quan đến nhu cầu cá nhân củamọi tầng lớp nhân dân
Trong cơ chế thị trường, vấn đề chất lượng sản phẩm được các doanh nghiệp đưa lên hàngđầu vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề tiêu thụ, lợi nhuận hay ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp Để chất lượng sản phẩm được tốt cần nghiên cứu và thực hiện cácchính sách sản phẩm của doanh nghiệp Chiến lược sản phẩm rất quan trọng trong chiến lượcmarketing và nó là vũ khí sắc bén nhất trong cạnh tranh Thực hiện chiến lược sản phẩm của doanhnghiệp sẽ đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm giúp doanh nghiệp đứng vững trên thị trường Để thấy
rõ ảnh hưởng của chiến lược sản phẩm ta cần đề cập tới một số vấn đề sau:
Vấn đề chủng loại và đổi mới chủng loại: Ở các doanh nghiệp phát triển thì hiếm thấy doanhnghiệp chỉ có sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm duy nhất vì như vậy, độ rủi ro sẽ cao do thịtrường luôn biến đổi và nhu cầu của người tiêu dùng thay đổi theo thời gian, không gian, giới tính,thu nhập,.… Đổi mới sản phẩm giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro và hướng tới chiếm lĩnh thịtrường tiềm năng
Vấn đề hoàn thiện và nâng cao đặc tính sử dụng của sản phẩm ứng với nhu cầu ngày càngcao của người tiêu dùng bắt buộc các nhà sản xuất phải hoàn thiện cấu trúc, kỹ thuật,… khôngnhững thế, người tiêu dùng hiện nay rất quan tâm đến hình thức sản phẩm do trên bao bì phải nóinên được ngày sản xuất, hạn sử dụng, nơi sản xuất, hãng, công dụng sản phẩm,…là căn cứ để xácminh một phần độ tin tưởng cho sử dụng Vì vậy, bao gói, nhãn mác, kiểu dáng cũng có ý nghĩa vôcùng quan trọng trong việc thúc đẩy nhanh khả năng tiêu thụ
Uy tín của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiêu thụ sản phẩm Doanhnghiệp có thể tự nâng cao uy tín của mình bằng cách đặt ra một số yêu cầu sau: Chất lượng sảnphẩm cao, giá cả tương đối ổn định, luôn đủ lượng hàng cung cấp và thực hiện tồt các dịch vụ trước
Trang 15Khi giá bán một sản phẩm nào đó tăng từ P3 đến P2 (P1) thì lượng tiêu dùng giảm tươngứng từ Q3 đến Q2 (Q1) do người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thay thế hoặc mức thu nhập khôngđáp ứng đủ cho tiêu dùng hàng hoá đó lại có nhiều thành phần tham gia vào sản xuất kinh doanh.Ngược lại, nếu giá giảm thì mức tiêu dùng của người dân lại tăng lên.
Giá cả của một hàng hóa hay dịch vụ nào đó được chi phối bởi 3 yếu tố:
+ Giá thành
+ Nhu cầu
+ Sự canh tranh
Chính sách giá của một doanh nghiệp không phụ thuộc hoàn toàn vào những phân tích marketing
mà nó được quyết định dựa trên tổng quát của doanh nghiệp bao gồm các khía cạnh kỹ thuật, tàichính, nhân sự
Sơ đồ 2: Sự thay đổi của giá ảnh hưởng tới lượng tiêu thụ
Nếu doanh nghiệp chủ trương thống lĩnh thị trường bằng chi phí, họ sẽ tìm cách tăng tối đakhối lượng hàng bán được với chính sách giá hạ Ngược lại, nếu doanh nghiệp áp dụng chiến lượcphân biệt giá, họ sẽ tìm cách làm cho người mua phải trả giá mua cao hơn cho sự khác biệt mà sảnphẩm đem lại Cách ấn định giá của các sản phẩm mới là một phần trong chiến lược tổng quát nhằmtạo ra hay duy trì một lợi thế cạnh tranh
Trong thực tế, cạnh tranh bằng việc sử dụng chiến lược giá cả được coi là biện pháp nghèonàn nhất vì khi gặp đối thủ có tiềm lực lớn thì cạnh tranh bằng giá cả sẽ không phát huy tác dụng.Trong nhiều trường hợp, sự cạnh tranh này chỉ đưa đến việc giảm bớt lợi nhuận của những ngườibán và đem lại lợi ích cho phía người mua Tuy nhiên cạnh tranh bằng chiến lựơc giá cả có thể ápdụng thành công và có ưu thế trong việc xâm nhập thị trường mới
Đối với thị trường Việt Nam, thu nhập của người dân chưa cao đồng thời trong những năm gầnđây giá cả hàng hoá liên tục tăng nên cạnh tranh bằng chiến lựơc giá cả vẫn đựơc coi là vũ khí lợi hạiđối với các doanh nghiệp
* Tổ chức quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp
P1P2P3
QQ3
Q2Q1
o
Q: Lượng tiêu thụ
P: Giá bán
Trang 16Trong nền kinh tế thị trường, việc tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng nhiều cách, nhiềuphương thức khác nhau, theo đó các sản phẩm được bán ra và vận động từ các doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng.
Trong quá trình tiêu thụ, doanh nghiệp thường dùng hai phương pháp tiêu thụ chủ yếu:
- Tiêu thụ trực tiếp: Là hình thức người sản xuất bán sản phẩm của cho người tiêu dùng màkhông qua trung gian
- Tiêu thụ gián tiếp: Là hình thức người sản xuất bán sản phẩm của mình cho người tiêudùng cuối cùng thông qua các trung gian như người bán buôn, người bán lẻ, đại lý,…
Phương thức tiêu thụ đi đôi vứa phương thức thanh toán Do đó nó ảnh hưởng tới vòng quaycủa vốn trong sản xuất kinh doanh Trong đó, quảng cáo, chính sách hỗ trợ cho khách hàng khi muacũng ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ sản phẩm
2.1.2.3 Nhân tố ngoài doanh nghiệp
Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, khách hàng có thể coi đó là
bà hoàng của sản xuất kinh doanh, khách hàng là thượng đế Vì vậy, nếu không tiêu thụ được sảnphẩm thì không thể có quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo Vậy, khách hàng có thể tác động đếnquá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp dưới góc độ nào? Khách hàng có thể tácđộng đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp dưới góc độ sau đây:
- Nhu cầu: (tự nhiên hay mong muốn) Sản phẩm hàng hoá mà doanh nghiệp cung cấp trênthị trường đã đáp ứng được những đối tượng khách hàng (người tiêu dùng) nào? Và đây là nhu cầu
tự nhiên hay mong muốn
- Mức thu nhập: đây là một yếu tố hết sức quan trọng Bởi vì sự thoả mãn nhu cầu là hoàntoàn phụ thuộc vào mức thu nhập
- Phong tục tập quán, thói quen của người tiêu dùng: Sản phẩm hàng hoá mà doanh nghiệpcung cấp trên thị trường có thể không phù hợp với đối tượng người tiêu dùng ở địa phương này,vùng này nhưng lại đáp ứng phù hợp nhu cầu tiêu dùng của người vùng kia, địa phương khác
Trong ba yếu tố trên, mức thu nhập là yếu tố có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự thoảmãn nhu cầu hàng hoá Nhu cầu chỉ tăng lên khi thu nhập tăng lên
* Cạnh tranh
Trước sức ép cạnh tranh, doanh nghiệp có thể dùng biện pháp đương
đầu nếu đủ mạnh hay né tránh nếu không thể chống trọi được Để giành thắng lợi trước đối thủ cạnhtranh, doanh nghiệp cần tìm hiểu và nắm bắt các thông tin về họ Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào
số lượng doanh nghiệp tham gia vào sản xuất mặt hàng đó, mức độ tăng trưởng của ngành, mức độ
Trang 17đa dạng hoá sản phẩm, cơ cấu chi phí Với mong muốn chủ doanh nghiệp là bảo vệ thị phần củamình trên thị trường, các doanh nghiệp phải nắm bắt được điểm mạnh, điểm yếu của mình, của đốithủ cạnh tranh và các thủ pháp của họ để đưa ra các đối sách phù hợp cho sự phát triển của doanhnghiệp mình.
Tuy nhiên, cạnh tranh có cả lợi và hại cho doanh nghiệp trong quá trình tiêu thụ Thông quacạnh tranh doanh nghiệp có thể bổ sung phần khiếm khuyết của mình, hiểu rõ sản phẩm của đối thủ
để hoàn thiện sản phẩm của mình, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng tiềm năng Từ đó, có chiến lượccho sản xuất và nâng cao sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng đồng thời đứng vững và giành thịphần để tồn tại và phát triển hơn nữa Ngược lại, doanh nghiệp sẽ bị giảm đi thị phần hay mức tiêuthụ, tăng thêm tính rủi ro trong quá trình tiêu thụ sản phẩm
* Chính sách của Nhà nước
Với công cụ để quản lý nền kinh tế có sự tác động mạnh mẽ đến quá trình sản xuất và tiêuthụ hàng hoá Nhà nước sử dụng các chính sách của mình để điều tiết nền kinh tế với các tác độnghạn chế hoặc thúc đẩy quá trình sản xuất hay tiêu thụ, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của nềnkinh tế đất nước Các chính sách đó nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp buộc doanh nghiệpnắm rõ để thích ứng Mỗi chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ cũng ảnhhưởng rất lớn đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp như: chính sách tiềnlương, chính sách về trợ giá, chính sách về xuất nhập khẩu,…
2.1.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế
Trong đó: SLTT: Số lượng tiêu thụ
SLTĐK: Số lượng tồn kho đầu năm
SLSX: Số lượng sản xuất trong năm
SLTCK: Số lượng tồn kho cuối năm
Số lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất để tiêu thụ có thể biểu hiện dưới hình thức giá trị, nóphản ánh bằng tiền của khối lượng sản phẩm hàng hoá mà doanh nghiệp bán ra ngoài phạm vi củamình trong năm
Chỉ tiêu này xác định sau khi đã xuất kho để bán và doanh nghiệp nhận được tiền, giấy báocủa ngân hàng Để tính toán chỉ tiêu này, doanh nghiệp sản xuất thường giá bán buôn, còn doanhnghiệp thương mại thường dùng giá bán thực tế trên thị trường
Giá trị hàng hoá thực hiện được xác định theo công thức:
TRT= Qi Pi (i = 1 n)
Trang 18Trong đó: TRT: Giá trị hàng hoá
Q i: Lượng hàng hoá tiêu thụ được
P i: Giá bán của hàng hoá i
Hệ số này càng gần 1 thì quá trình tiêu thụ càng có hiệu quả
* Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tiêu thụ sản phẩm
Doanh thu
Hệ số sử dụng vốn CĐ
Giá trị tổng sản lượngVốn lưu động bình quân
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Tình hình tiêu thụ thuỷ sản trên thế giới
Năm 2006 so 2005, mức tiêu thụ thuỷ sản nguyên liệu, tươi, rã đông và thuỷ sản nước ngọtđều tăng, nhất là cá hồi nước ngọt (11%), cá hồi biển (20%), trong khi đó tiêu thụ cá chình giảm10,6% Tiêu thụ vẹm tăng khoảng 5%, bạch tuộc trên 7% và mực ống 13%
Nhìn chung tiêu thụ thuỷ sản năm 2006 ổn định so với năm 2004 Riêng thuỷ sản có vỏgiảm khoảng 5%, chủ yếu do giảm tiêu thụ tôm (-3,4%) và tôm càng (-26,8%) Tiêu thụ các sảnphẩm đông lạnh chế biến sẵn tăng 7%, chủ yếu mặt hàng cá philê và cá thanh, cá ngừ đồ hộp tăngtrên 6%, cá ngừ xông khói tăng trên 11%
Theo dự báo của Trung tâm Thuỷ sản Thế giới, đến năm 2020, các nước đang phát triển sẽchiếm tới 79% tổng sản lượng thuỷ sản thế giới.Từ năm 1997 đến năm 2020, tiêu thụ thuỷ sản ở cácnước đang phát triển sẽ tăng từ 62,7 triệu tấn lên 98,6 triệu tấn (57%); trong khi các nước phát triểnchỉ tăng 4%, từ 28,1 triệu tấn lên 29,2 triệu tấn
Thị phần sản
phẩm (%) =
Tổng sản lượng tiêu thụ của hãng trên thị trường
* 100Tổng sản lượng tiêu thụ trên thị trường
Trang 19Các công trình nghiên cứu cũng dự báo đến 2020, do nghề khai thác thuỷ sản tự nhiên nay
đã hoạt động hết hoặc vượt công suất nên mức gia tăng trong cung cấp thuỷ sản sẽ chủ yếu trôngchờ vào mức tăng sản lượng NTTS trong hai thập kỷ tới sẽ tăng gấp đôi, từ 28,6 triệu tấn năm 1997lên 53,6 triệu tấn năm 2020 để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ Mức tiêu thụ thuỷ sản của thị trường ViệtNam cũng sẽ tăng, đặc biệt là những hàng chế biến sẵn Nếu năm 2010, mức tiêu thụ thuỷ sản là 26kg/đầu người thì lượng tiêu thụ thuỷ sản trong nước năm 2010 sẽ là 2,18 triệu tấn
Bảng 1: Dự báo tiêu thụ thuỷ sản trên thế giới đến 2010
Nguồn: Dự báo thương mại thuỷ sản
2.2.2 Tình hình tiêu thụ thuỷ sản trong nước
Sản lượng thuỷ sản trong nước được cung ứng cho tiêu dùng trực tiếp trong nước (dân cư)
và làm nguyên liệu trực tiếp cho các cơ sở chế biến Trong những năm vừa qua, tỷ lệ tiêu dùng trựctiếp cho dân cư đang có xu hướng giảm xuống, ngược lại tiêu thụ của các cơ sở chế biến (từ các cơ
sở hộ đến các cơ sở công nghiệp) tăng lên Nếu như năm 1998 tỷ lệ tiêu dùng trực tiếp của dân cưchiếm 50,2% và tỷ lệ tiêu thụ của các cơ sở chế biến là 49,8% tổng sản lượng tiêu thụ, thì đến năm
2003 là 41,3% và 58,7% và đến năm 2006 là 37,3% và 62,7% Sự suy giảm tỷ lệ tiêu thụ trực tiếpkhông có nghĩa là tiêu thụ thuỷ sản bình quân đầu người trong nước giảm xuống, mà chỉ có nghĩa làthuỷ sản tăng thêm hàng năm được sử dụng nhiều hơn cho các cơ sở chế biến
Hiện nay, ở nước ta, các nguồn cung cấp thuỷ sản cho tiêu dùng trực tiếp của dân cư baogồm: trực tiếp từ sản lượng đánh bắt và nuôi trồng, một phần từ các cơ sở chế biến trong nước vàmột phần nhập khẩu Nếu quy tất cả các loại thuỷ sản tiêu thụ trong nước thành thuỷ sản tươi sống,thì mức tiêu thụ của dân cư Việt Nam tăng từ 1,77 triệu tấn (2003) lên 1,87 triệu tấn (2004), 1,91triệu tấn (2005) và 2,02 triệu tấn (2006) Tương đương với mức tiêu thụ bình quân đầu người/nămtăng từ 22 kg (2003) lên 23 kg (2004), 23,4 kg (2005) và 24,6 kg (2006) Mức tăng tiêu thụ thuỷ sảncủa dân cư trong nước là kết quả tất yếu của quá trình tăng thu nhập bình quân đầu người và quátrình gia tăng sản lượng thuỷ sản khai thác, nuôi trồng [2]
Tuy nhiên nếu so sánh mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân đầu người của Việt Nam với nhiềunước khác trong khu vực Đông Nam Á, thì mức tiêu thụ này của Việt Nam còn khá thấp Chặng
Trang 20hạn, năm 2000, mức tiêu thụ bình quân đầu người của Việt Nam là 19 kg thì của Trung Quốc là25,5 kg, của Thái Lan là 32,4 kg, Singapo là 32,5 kg, Philipin là 31 kg Nhiều nước trong khu vựccoi chỉ tiêu về mức tiêu thụ trung bình thuỷ sản bình quân đầu người hàng năm là mục tiêu quan trọngtrong chương trình an ninh lương thực và cải thiện chế độ dinh dưỡng cho dân tộc Chính vì vậy, sản xuấtthuỷ sản của các nước này chủ yếu là đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước, sau mới đến xuất khẩu Nếu sảnxuất chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước thì cấn phải nhập khẩu.
Những đặc điểm chủ yếu trong tiêu thụ và tiêu dùng thuỷ sản của người tiêu dùng Việt Namhiện nay là:
Phần lớn người tiêu dùng Việt Nam rất ưa chuộng các món ăn thuỷ sản, chiếm khoảng 80%dân số Nếu xét về cơ cấu tiêu thụ protein, khoảng 70% số người có khối lượng tiêu thụ thuỷ sảnchiếm trên 50% trong tổng khối lượng tiêu thụ các loại thịt và thuỷ sản
Thuỷ sản tươi sống được người tiêu dùng ưa chuộng hơn thuỷ sản khô Các sản phẩm đónghộp ít được tiêu thụ, đặc biệt ở nông thôn người tiêu dùng không quan tâm đến sản phẩm này
Người tiêu dùng ở thành thị quan tâm đến chất lượng thuỷ sản nhiều nhất, sau đó đến giá cả.Còn ở nông thôn người tiêu dùng trước tiên quan tâm
đến giá cả, sau đó đến chất lượng
Kích cỡ của sản phẩm cũng ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt trong tiêuthụ của các hộ gia đình Thông thường, nếu trọng lượng thuỷ sản (cả con, hay đóng gói) khoảngdưới 1 kg dễ bán hơn
Số tiền chi cho mua thuỷ sản của một hộ ở thành thị cao hơn ở nông thôn Người tiêu dùng
có thể mua thuỷ sản từ nhiều nhà cung cấp Các hộ gia đình chủ yếu mua thuỷ sản tại các điểm bán
lẻ Các cơ sở tiêu dùng lớn (nhà hàng, nhà ăn, nhà hàng bình dân, …) sử dụng dịch vụ giao sảnphẩm tại nhà chiếm 1/2 khối lượng thuỷ sản mua kể cả từ bán buôn và bán lẻ
2.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
2.3.1 Chính sách của chính phủ đối với tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản
Các tổ chức quốc tế, khu vực, tổ chức phi chính phủ: Việc hợp tác với các tổ chức bắt đầu
từ những năm 1980 thông qua việc thực hiện các dự án viện trợ kỹ thuật đã tạo điều kiện bước đầucho ngành thuỷ sản Việt Nam phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng và sản lượng, đẩy mạnh xuấtkhẩu thuỷ sản Nhiều dự án trọng điểm được triển khai trong lĩnh vực NTTS nước ngọt, sản xuấtrau câu, bảo vệ môi trường NTTS ven biển, cơ điện lạnh, tăng cường năng lực điều phối các nguồntài trợ,… đã góp phần đưa thuỷ sản trở thành ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam Hiện nay,Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức nghề cá thế giới như FAO với vị trí ngày càngđược nâng cao
Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 25/5/1996 về vay vốn dài hạn với lãi suất ưuđãi đối với ngành thuỷ sản
Chương trình phát triển NTTS thời kỳ 1999 đến 2010 được Thủ tướng chính phủ phê duyệttại QĐ số 224/1999/ QĐ- TTg ngày 8/12/1999 Với các mục tiêu: tạo nguồn nguyên liệu, tạo việclàm, cung cấp đầu vào,…
Trang 21Quan điểm định hướng phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2020: xây dựng thuỷ sản thànhngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần NQ Đại hội IX ĐCS Việt Nam, coi mở rộng thị trường trong
và ngoài nước là mũi nhọn trong nhiều năm tới, phát huy rộng rãi sự tham gia của các thành phầnkinh tế, chủ động hội nhập Quốc tế và khu vực Đông Nam Á
Chỉ thị 07/2002/CT- TTg ngày 25/2/2002 về việc tăng cường quản lý việc sử dụng khángsinh, hoá chất trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản
2.3.2 Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài trên địa bàn Hà Nội
Những năm qua có nhiều nghiên cứu về tiêu thụ thuỷ sản trên địa bàn Hà Nội Một số nhữngnghiên cứu có liên quan là:
Các bài thời báo kinh tế, tin tức, thời sự, thị trường thuỷ sản,… Với mục đích thông báo sựbiến động của giá cả cho người tiêu dùng và nhà sản xuất kinh doanh Từ đó, đối với người tiêudùng mùa đúng giá còn đối với nhà sản xuất có chiến lược giá, sản xuất,… cho phù hợp
Hay ngay chính cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuỷ sản đông lạnh như Công tythương mại và đầu tư phát triển Miền Bắc, Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô,… nghiêncứu thị trường với mục đích tìm hiểu tình hình giá, các loại sản phẩm, thị phần,… của đối thủ cạnhtranh Qua tìm hiểu doanh nghiệp có giải pháp trong quảng cáo, chiến lược thu mua nguyên liệu vàchế biến sản phẩm cho phù hợp,…
Các nghiên cứu chủ yếu nghiêng về cung cấp thông tin kinh tế cho sản xuất kinh doanh,cung ứng và tiêu thụ Nên chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu thị trường, tình hình cungứng và những yếu tố ảnh hưởng tới tiêu thụ thuỷ sản đông lạnh của Công ty TNHH chế biến thựcphẩm Đông Đô
Trang 22PHẦN III:
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Hà Nội có vị trí địa lý ưu thế đặc biệt khác với các vùng khác, là đầu não chính trị của đấtnước, là đầu mối giao thông quan trọng bậc nhất nước ta Từ Thủ đô đi đến các thành phố, thị xãthuộc đồng bằng Bắc bộ cũng như tất cả các vùng khác bằng đường bộ, đường không, đường sắt,đường thuỷ đều thuận lợi và dễ dàng Đây chính là vùng điều kiện kiên quyết cho việc giao lưu,thông thương hàng hoá để phát triển một cơ cấu kinh tế toàn diện, và cũng là yếu tố gắn bó chặt chẽthủ đô với các trung tâm kinh tế khác của cả nước, tạo điệu kiện thuận lợi để Hà Nội tiếp cận cácthông tin, thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới
* Khí hậu
Với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa Hè nóng, mưa nhiều và mùa Đông lạnh,
ít mưa Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 23,6oC Do ảnh hưởng của biển, Hà Nội có độ
ẩm và lượng mưa khá lớn Độ ẩm trung bình hàng năm là 79% Lượng mưa trung bình hàng năm là1245mm và mỗi năm có khoảng 144 ngày mưa Đặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi
và khác biệt của hai mùa nóng lạnh, từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa; từ tháng 11 đếntháng 3 năm sau là mùa đông khô ráo Giữa 2 mùa đó có thời kì chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10)cho nên có thể nói rằng Hà Nội có đủ 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông Bốn mùa thay đổi như vậy làmcho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng Mùa tham quan tốt nhất ở Hà Nội là mùa thu, rấtthích hợp với khách vùng hàn đới
Trang 23tươi sống (cá, thịt, trứng, sữa) phục vụ cho nhu cầu đô thị hoá ngày một cao của thủ đô Hà Nội vàdành một phần cho xuất khẩu.
* Đất đai, sông ngòi
Dãy Sóc Sơn nằm trong hệ thống mạch núi Tam Đảo chạy xuống, dãy núi này nằm trên haihuyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và Sóc Sơn tạo thành ranh giới thiên nhiên giữa Hà Nội với các tỉnhVĩnh Phúc, Thái Nguyên Ngọn Hàm Lợn còn gọi là núi Chân Chim là ngọn cao nhất 462 m PhiáĐông ngọn núi Hàm Lợn có núi Don cao 327 m, phía Bắc có núi Thanh Lanh cao 427 m
Hà Nội là thành phố gắn liền với những dòng sông, trong đó sông Hồng là lớn nhất SôngHồng bắt nguồn từ dãy núi Nguỵ Sơn huyện Nhi Đô, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, chạy theo hướngTây Bắc- Đông Nam vào Việt Nam từ Hồ Khẩu (Lào Cai) và chảy ra vịnh Bắc Bộ ở cửa Ba Lạt(Nam Định) Dòng chính của sông Hồng dài khoảng 556 km Sông Hồng chảy vào Hà Nội từ xãThượng Cát, huyện Từ Liêm đến Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, dài khoảng 30 km, có lượng nướcbình quân hàng năm rất lớn, tới 2640 m3/s với lượng nước chảy qua tới 83,5 triệu mét khối Độ caomặt đê tại Hà Nội là 14 mét Sông Hồng góp phần quan trọng trong sinh hoạt đời sống cũng nhưtrong sản xuất Phù xa giúp cho ruộng đồng thêm mầu mỡ, đồng thới bồi đắp và mở rộng vùng châuthổ Nguồn cá bắt ở sông Hồng và cung cấp các tỉnh lân cận chủ yếu là cá nước ngọt Ngoài ra còn
có sông Tô Lịch, sông Kim Ngư, sông Nhuệ và sông Cà Lồ
* Đặc điểm KT- XH
Theo cuộc điều tra dân số do cơ quan Công an Hà Nội tiến hành gần đây, cuối năm 2007, sốdân Thủ đô là 3,4 triệu người Tỷ lệ tăng dân số ở Hà Nội năm 2007 là 3,7%, một con số kỷ lục.Mật độ trung bình là 3.490 người/km2
Tính đến ngày 5/11/2007, Hà Nội có 784.000 gia đình với tổng 3,4 triệu người, nhiều hơn
2006 là 46.500 gia đình và 138.000 người Trong số đó: có 2,17 triệu người trong độ tuổi lao động,bao gồm 1,94 triệu người làm thuê, khoảng 0,54 triệu người làm việc trong cơ quan nhà nước, cổphân và công ty tư nhân, khoảng 0,34 triệu người làm việc trong cơ quan nhà nước và lực lượngquân đội
Có 188 trường Đại học, Cao Đẳng và trường dạy nghề trong thành phố, bao gồm 23 họcviện, 38 Đại học, 31 Cao đẳng, 50 trường dạy nghề và 45 trường trung học với 180.000 sinh viên.Đây là một nguồn động lao có đào tạo chuyên môn tạo điều kiện cho công ty bổ sung và thay thếvào bộ máy ngày càng hoàn thiện, phù hợp với phát triển KT- XH đất nước Trên địa bàn còn có rấtnhiều cơ quan đầu não của Trung ương, các cơ quan nước ngoài, Đại sứ quán các nước, nhà hàng,siêu thị, khác sạn,…khiến lượng dân cư sinh sống không chính thức khá lớn làm cho sức tiêu thụhàng hoá của thành phố tăng lên rất nhiều Hơn thế, Hà Nội là vùng kinh tế phát triển, các dịch vụ
cơ bản và hạ tầng cơ sở hiện đại là mảnh đất đầy hứa hẹn cho dân cư các tỉnh khác về sinh sống [3]
Với tốc độ đô thị hoá như hiện nay ở Hà Nội thì dân số phi nông nghiệp tăng lên rất nhiều,diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp Trong khi sức mua của người dân ngày càng tăng lên với sức
Trang 24gia tăng dân số, thì việc cung cấp đủ lượng lương thực thực phẩm cho người tiêu dùng cũng là bàitoán khó cho những người làm nông nghiệp ven đô và ngoại thành.
Trong những năm gần đây, thu nhập nội của thành phố không ngừng tăng lên GDP bìnhquân đầu người năm 2007 của Hà Nội là 31,8 triệu đồng/người/năm so với mức bình quân toànquốc là 13,4 triệu đồng/người
Với dân số đông và thu nhập của dân cư khá cao nên Hà Nội là thị trường tiêu thụ tiềm nănglớn về hàng hoá và dịch vụ nói chung, hàng hoá nông sản nói riêng Tuy nhiên, thị trường hàng hoá
ở Hà Nội yêu cầu chất lượng khá cao
Hà Nội được chia thành 14 quận huyện như sau:
- Có 9 quận nội thành: Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy,Thanh Xuân, Long Biên, Hoàng Mai
- Có 5 huyện ngoại thành: Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm
Các trung tâm tập trung dân cư đông đúc và các khu công nghiệp lớn đều nằm trong cácquận nội thành Hà Nội Đây là khu vực có mức tiêu thụ lớn các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt làcác sản phẩm sơ chế và chế biến từ nông sản từ các đơn vị sản xuất kinh doanh trong và ngoạithành
3.1.2 Đặc điểm công ty
3.1.2.1 Vị trí địa lý của công ty
Trụ sở của Công ty đặt tại xã Trâu Quỳ- Gia Lâm- Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng
11 km về hướng Tây Cơ sở sản xuất của công ty ở Ngõ 14 Bùi Xương Trạch- Thanh Xuân- Hà Nội
là địa điểm thuận lợi cho việc tiêu thụ thuỷ sản Vì đây là khu vực đầu mối giao thông của các tỉnhphía Bắc, kinh tế phát triển cũng như có thu nhập tính trên đầu người cao, tập trung dân số đông đúcphù hợp với tiêu thụ thuỷ sản đông lạnh Mặt khác, vị trí này nằm gần với các tỉnh Hà Tây, HưngYên, Bắc Ninh, Hải Dương, …là những thị trường có tiềm năng tiêu thụ thuỷ sản cao nhưng chưađược khai thác ở các huyện, xã, vùng nông thôn xa trung tâm của tỉnh
3.1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô là Công ty TNHH có 2 thành viên, có tên giaodịch là: Dong Do Process- Food company Limited, tên viết tắt là Dong Do Profoco LTD, có trụ sởchính tại số nhà 18 phố Mới, thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội Công ty được Sở Kếhoạch & Đầu tư thành phố Hà Nội cấp giấy phép hoạt động ngày 26/07/2001
Là một Công ty với ngành nghề là chế biến, buôn bán nguyên liệu sản xuất, môi giới thươngmại Ngành nghề sản xuất kinh doanh chính là chế biến thực phẩm, nhất là thực phẩm đông lạnh,với nhiều sản phẩm như tôm sú, cá nục, cá thu, cá diêu hồng, cá basa,…; các sản phẩm từ gia súcnhư bò viên, mọc viên, nem thịt lợn, nem thịt bò Các sản phẩm của công ty có mặt ở hầu hết cácsiêu thị, trung tâm thương mại, đại lý miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Bắc Ninh, vàmột số các tỉnh miền Trung như Thanh Hoá, Nghệ An nhưng thị phần ở các tỉnh này vẫn chưa cao
do cách xa về mặt địa lý và đây là mặt hàng cần được bảo quản đông lạnh trong quá trình tiêu thụ
Do đây là mặt hàng thuộc mặt hàng cao cấp và giá bán cao trên thị trường nên vẫn chủ yếu phục vụ
Trang 25cho các khách hàng có thu nhập cao, đây là một hạn chế rất lớn cho tiêu thụ sản phẩm vì phần lớnngười dân trong nước có thu nhập thấp cũng như nền kinh tế trong giai đoạn đang phát triển Mụctiêu của Công ty là ngày càng hoàn thiện sản phẩm hướng đến nhóm các sản phẩm được người tiêudùng ưa thích, có giá thành phù hợp với người tiêu dùng để ngày càng phụ vụ được nhiều ngườitiêu dùng hơn.
Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô có nguồn cung cấp nguyên liệu khá ổn định,chủ yếu là các nhà cung cấp ở miền Trung như: Thanh Hoá, Nghệ An; miền Nam như: TP Hồ ChíMinh, An Giang,…với nguồn đầu vào dồi dào kết hợp với vị trí thuận lợi cho tiêu thụ là khu vực HàNội nên công ty có điều kiện để mở rộng quy mô, tăng số lượng và chất lượng sản phẩm
Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô được thành lập với số vốn điều lệ ban đầu là200.000.000 VNĐ, sau một thời gian hoạt động và đi vào ổn định cho đến nay số vốn của công tytăng lên đáp ứng đủ cho việc thay đổi công nghệ sản xuất và ngày càng đáp ứng kịp nhu cầu ngườitiêu dùng trong nước, mở rộng xuất khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài
Hiện nay, Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô là một trong những Công ty hàngđầu về thực phẩm đông lạnh tại miền Bắc với thương hiệu “Đôi đũa vàng”, rất có uy tín trên thịtrường, được nhiều người tiêu dùng biết đến qua các sản phẩm của Công ty
3.1.2.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Là một Công ty còn non trẻ trên thị trường, Công ty chế biến thực phẩm Đông Đô có cơ cấukhá gọn nhẹ, lại có địa điểm sản xuất thuận lợi cho thông tin thuận chiều và ngược chiều được cậpnhật kịp thời qua các cấp quản trị để đưa ra các quyết định đúng đắn và kịp thời với mọi biến độngtrong quá trình sản xuất, kinh doanh
Sơ đồ 3: Hệ thống tổ chức bộ máy của Công ty
kế toán
Bộ phận
kỹ thuật
Bộ phận văn phòng
Bộ phận điều hành sx
Phân xưởng sản xuất
Trang 26Bộ phận kế toán bao gồm: kế toán trưởng, kế toán giá thành và thanh toán, kế toán khoxưởng sản xuất, kế toán bán hàng có nhiệm vụ theo dõi và hạch toán các hoạt động tài chính củaCông ty, kế toán tiền lương.
Bộ phận kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra, phụ trách các vấn đề về kỹ thuật cơ khí, kỹthuật điện, vận hành sửa chữa thiết bị máy móc sử dụng trong sản xuất kinh doanh
Bộ phận văn phòng có nhiệm vụ tổ chức, bố trí các hoạt động lễ tân, văn thư, lưu trữ soạnthảo văn bản, giấy tờ sử dụng trong nội bộ công ty và giao dịch với bên ngoài
Bộ phận điều hành sản xuất của công nhân, phụ trách các vấn đề về chất lượng hàng hoá sảnphẩm, chất lượng nguyên vật liệu, đảm bảo mọi tiến độ sản xuất trong Công ty
Phân xưởng sản xuất của Công ty gồm 4 tổ sản xuất chủ yếu, mỗi tổ độc lập với nhau, vừa
có quan hệ chặt chẽ tạo thành một chu trình sản xuất khép kín
3.1.2.4 Các nguồn lực của Công ty
* Nguồn lực lao động
Tính đến 30/04/2008 thì tổng số lao động của công ty là 114 người, trong đó độ tuổi khoảng
20 đến 35 là chủ yếu Qua 3 năm từ 2005 đến 2007, lao động của Công ty liên tục tăng bình quân là8,41%, thể hiện bảng 2, trong đó:
Bảng 2: Tình hình lao động của Công ty trong 3 năm (2005- 2007)
Trang 27Phân lao động theo giới tính thì nam tăng bình quân là 17,47% còn nữ giới giảm bình quân
là 4,17%, giảm cao nhất trong 3 năm là năm 2007 với mức 4,26%, tức là 8 người Do tính chất côngviệc không phù hợp với nữ giới thể hiện: thường xuyên phải vào trong kho lạnh ở nhiệt độ -18 đến -
20oC, đi giao hàng bán các siêu thị trong nội thành và ở một số tỉnh lẻ,…
Phân lao động theo tính chất công việc thì cả lao động trực tiếp tăng bình quân là 9,54% vàgián tiếp tăng 6,07% qua ba năm Vì trong những năm gần đây Công ty mở rộng thị trường tiêu thụ
ra các tỉnh lân cận như: Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên,… và cơ cấu tổ chức từng bước đi vàohoàn thiện để xâm nhập thị trường tiêu thụ, cạnh tranh với các đối thủ trong và ngoài nước
Phân lao động theo trình độ học vấn thì lao động đều tăng ở các trình độ qua các năm, tốc độtăng không của Đại học cao nhất là 12,82%, của Cao Đẳng là thấp nhất là 3,28% Trong đó, Đại họctăng cao nhất vào năm 2006 với 18%; lao động phổ thông vẫn chiếm một tỷ lệ cao trong tổng số laođộng, cao nhất vào năm 2005 là 51,55% tức 50 người và thấp nhất vào năm 2006 là 54 người, tứcchiếm 50% trong tổng số lao động Nguyên nhân là do lượng tiêu thụ qua các năm đều tăng, tuyểndụng lao động vào các phòng như kế toán, kinh doanh,… để bổ sung và thay thế những ngườikhông có năng lực và trình độ giúp cho doanh nghiệp ngày một tăng về chất lượng và số lượng tiêuthụ sản phẩm Từ đó, đạt chỉ tiêu đề ra và đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách kịp thời
* Nguồn lực vốn của Công ty
Đối với tất cả doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nguồn vốn có vai trò chủ chốt quyết địnhđến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Bảng 3: Tình hình vốn của Công ty Chỉ tiêu
Tốc độ PTBQ
SL(Tr.đ)
CC(%)
SL(Tr.đ)
CC(%)
SL(Tr.đ)
CC(%)
Nguồn: Phòng kế toán của Cty Đông Đô
Sự biến động của nguồn vốn thể hiện được hoạt động của Công ty kinh doanh có lãi hay lỗ
Từ đó, doanh nghiệp tìm biện pháp và giải quyết những vấn đề chiến lược cho sản xuất kinh doanhcủa mình, đặc biệt đối với những doanh nghiệp TNHH không có hình thức công ty mẹ con thì
Trang 28không có sự san sẻ nguồn vốn và chia sẻ rủi ro trong sản xuất kinh doanh Trong 3 năm nguồn vốncủa Công ty biến động lên xuống như bảng 3.
Tổng nguồn vốn qua 3 năm tăng bình quân là 5,3%, trong đó:
Năm 2006 nguồn vốn giảm so với năm 2005 là 11,56 triệu VNĐ, tức là 0,3% nhưng đến năm 2007vốn tăng là 544,07 triệu VNĐ tức tăng 11,2% Nguyên nhân là do năm 2006 doanh nghiệp vốn vaygiảm là 2,2%, năm nay doanh nghiệp mua được nguyên liệu sản xuất rẻ hơn và lượng hàng hoá tồnkho giảm so với năm 2005 Bình quân nguồn vốn qua 3 năm tăng: Nếu phân theo tính chất sử dụngthì vốn CĐ tăng 16,5% và vốn LĐ 2,7% Nếu phân theo hình thức sở hữu thì nguồn vốn vay tăng7,2% và nguồn vốn tự có là 4,2%
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Phương pháp duy vật biện chứng
Đề tài áp dụng phương pháp duy vật biện chứng nhằm xem xét, phân tích đánh giá vấn đềmột cách khách quan khoa học Nhìn nhận sự vật hiện tượng trong quá trình vận động và phát triển,luôn có liên quan tác động qua lại lẫn nhau để tìm ra bản chất, quy luật của chúng Trong luận văncủa mình chúng tôi đã dùng phương pháp này để phân tích thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng tới tiêuthụ thuỷ sản, từ đó có những biện pháp tác động thích hợp hoàn thiện phát triển thị trường tiêu thụthuỷ sản
3.2.2 Phương pháp duy vật lịch sử
Nghiên cứu sự phát triển của thị trường tiêu thụ thuỷ sản dựa trên quan điểm duy vật lịch sử
về các quy luật kinh tế trong quá trình tổ chức khâu tiêu thụ Sự kết hợp giữa các yếu tố trong tiêuthụ như: chính sách của nhà nước, các đối tượng trong kênh phân phối, bản thân doanh nghiệp Từ
đó, có các chiến lược trong tiêu thụ phù hợp, đặc biệt khai thác được tiềm năng nội tại doanh nghiệp
và bên ngoài doanh nghiệp
Áp dụng phương pháp duy vật lịch sử để thấy được nhu cầu thay đổi của người tiêu dùngngày càng cao về chất lượng và sự quan tâm trong dịch vụ Thầy được trước và sau mở cửa, sựkhuyến khích của nhà nước về phát triển doanh nghiệp tư nhân, tạo ra sự cạnh tranh công bằngtrong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
3.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu:
Thu thập số liệu là việc làm không thể thiếu của một đề tài nghiên cứu, bởi vì số liệu là yếu
tố phản ánh thực tế nhất các hiện tượng kinh tế xã hội Số liệu cần thiết cho quá trình phân tích,đánh giá bao gồm số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp Mỗi loại số liệu có cách thu thập khác nhau:
- Đối với số liệu thứ cấp: Đó là nguồn số liệu đã được tổng hợp, nó có thể phản ánh một góc
độ nào đó của vấn đề Nguồn số liệu này được thu thập từ các sách báo, các báo cáo, các tạp chí cóliên quan, các báo cáo tổng kết cũng như các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp, của chính phủ
- Đối với số liệu sơ cấp: Là nguồn số liệu không có sẵn, muốn thu thập được nhất thiết phảiqua điều tra thực tế
Trang 293.2.4 Phương pháp phân tích thống kê kinh tế:
* Chọn điểm nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên chúng tôi tiến hành chọn điểm điều tra sao cho phù hợpvới địa bàn nghiên cứu, mà đánh giá được hiện trạng tiêu thụ thuỷ sản của khu vực Hà Nội, để đảmbảo phản ánh chính xác chúng tôi tiến hành điều tra 2 hệ thống siêu thị: Fivi mart, Hapro mart vàđiều tra một số đại lý bán lẻ tư nhân
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung vào các hệ thống trên với các nội dungnghiên cứu chủ yếu là:
- Thực trạng tiêu thụ thuỷ sản của các hệ thống tiêu thụ từ đó suy rộng ra cho toàn xã hội
- Tính kết quả và hiệu quả kinh tế của các hệ thống phân phối, tiêu thụ của các loại thuỷsản
- Các điều kiện thuận lợi và khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và trong hộinhập kinh tế
* Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
Số liệu sau khi điều tra, thu thập lại chúng ta phải tổng hợp lại, trên cơ sở phân tổ thống kênhững số liệu nào cần cho đề tài và những số liệu nào không liên quan đế đề tài và để biết từng loại
số liệu Thông qua tổng hợp số liệu ta có thể dễ dàng lựa chọn các phương pháp để phân tích và xử
lý số liệu sao cho sát thực và hiệu quả nhất
Phân tích số liệu là giai đoạn cuối của quá trình nghiên cứu, nó biểu hiện sự tập trung kếtquả của toàn bộ quá trình nghiên cứu Chủ yếu dựa vào phân tích thống kê
Các số liệu đã thu thập được sẽ được xử lý bằng Excel và phân tích, cùng với việc sử dụngmáy tính cầm tay để xử lý và phân tích số liệu
+ Sự phát triển kinh tế xã hội có những thuận lợi và khó khăn gì cho việc tiêu thụ trongnước;
+ Mở rộng quy mô tiêu thụ trong nước, xu hướng xuất khẩu;
+ Quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển công nghiệp chế biến và thị trường tiêuthụ ảnh hưởng như thế nào đến việc phát triển của doanh nghiệp
3.2.5 Phương pháp chuyên gia chuyên khảo
Khi nghiên cứu một vấn đề gì đó thì việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia có ý nghĩa vôcùng quan trọng Do đó, khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã tham khảo ý kiến của các chuyêngia về thị trường, đảm bảo chất lượng thực phẩm, tạp chí thuỷ sản, sách báo về chất lượng sản
Trang 30phẩm, của các thầy cô giáo trong trường,… Trên cơ sở đó để phân tích, đánh giá quá trình phát triểntiêu thụ thuỷ sản trong nước Từ đó, đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy mở rộng quy
mô tiêu thụ và không ngừng làm vừa lòng khách hàng
3.2.6 Phương pháp phân tích SWOT:
* Phân tích SWOT là một công cụ để đánh giá một tổ chức, một dự án và môi trường của nó
* Phân tích SWOT là một cách hữu hiệu để xác định điểm mạnh, điểm yếu ở bên trong và kiểm tracác cơ hội và các thách thức, các mối đe doạ từ bên ngoài
3.2.7 Phương pháp điều tra nhanh
Phương pháp PRA: Thông qua việc nghiên cứu tổng quan về địa bàn nghiên cứu, kết hợpvới các tài liệu thu thập từ các ban quản lý xã để có được cái nhìn tổng quát, sâu sát hơn về tìnhhình KT- XH và tình hình tiêu thụ thuỷ sản đông lạnh của Hà Nội Để phản ánh tình hình KT- XHnói chung và tình hình tiêu thụ thuỷ sản đông lạnh nói riêng, chúng tôi tiến hành đánh giá nhanh
Trang 31PHẦN IV:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
4.1.1 Tình hình cung ứng và tiêu thụ của Công ty
Công ty sản xuất sản phẩm và tiêu thụ theo các quý trong năm, trong mỗi quý thì lại có cácsản phẩm tồn kho Mức độ sản xuất, tiêu thụ và tồn kho theo các quý được thể hiện qua bảng 4
+ Tổng sản lượng sản xuất qua 3 năm tăng bình quân là 42,3% tức tăng 34.971 kg; năm
2005 sản xuất 127.275 kg, năm 2006 sản xuất là 145.753 kg do doanh nghiệp mua được vùngnguyên liệu rẻ hơn năm 2005 là nguyên nhân dẫn tới mức tồn kho tăng kỷ lục với tỷ lệ là 167,4%,đồng thời trong thời gian này doanh nghiệp mới xâm nhập được thị trường một số tỉnh quanh HàNội và miền Trung, năm 2007 sản xuất là 197.216 kg và năm 2007 doanh nghiệp đã ký kết thêmđược vùng nguyên liệu ở Thành phố Hồ Chí Minh chắc chắn cho kế hoạch tăng sản xuất đáp ứngcho việc mở rộng thị trường trong nước như: Bắc Ninh, Hải Dương, và Vĩnh Phúc và chuẩn bị choxuất khẩu ra nước ngoài vào
+ Sản lượng tiêu thụ thụ theo quý tập trung vào quý I và quý IV là quý diễn ra ngày tết, lễ vàmùa cưới xin Nên người tiêu dùng đi mua nhiều hơn, đông đám cưới tổ chức vào cuối năm và giữanăm Bình quân quý I qua 3 năm tiêu thụ tăng là 31,4%, quý II là 21,1%, quý IV là 24,6% tứctương ứng đạt 6.038 kg, 15.075 kg và 7.151 kg Do mức thu nhập trong mấy năm gần đây củangười dân đều tăng, xu hướng tiêu dùng đang từng bước hưởng thụ theo nhu cầu và chất lượngkhông còn theo số lượng như ngày xưa Cùng với sự xác định được sự phù hợp về nhu cầu, thịnhhiếu của người tiêu dùng ngày nay họ thường mua đồ ăn sẵn và được chế biến sẵn để tiết kiệm thờigian cho việc chính đem lại nguồn thu nhập cho họ, nuôi sống gia đình; họ vào khuôn khổ giờcông nghiệp
+ Hàng tồn kho vào cuối quý cao nhất thường vào quý IV với tỷ lệ bình quân là 85%, tứcvới 28.506 kg, vào quý IV tất cả các doanh nghiệp đều dự trữ và tăng sản xuất để tiêu thụ vào ngàytết và dịp lễ hội thường diễn ra vào tháng riêng
Năm 2007 sản lượng tiêu thụ đạt 178.147,07 kg là một mở đầu cho việc tiếp cận thị trườngmới của doanh nghiệp Không chỉ xoay quanh các đại lý nội thành và ngoại thành Hà Nội mà doanhnghiệp cần phải tìm kiếm thị trường tiềm năng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, giảmcạnh tranh của các doanh nghiệp miền Nam có uy tín với người tiêu dùng quen hay chính là người
Hà Nội
Trang 32Bảng 4: Tình hình cung ứng và tiêu thụ của Công ty
Trang 33Hàng tồn kho của doanh nghiệp từ các quý trước được chuyển sang tiêu thụ các quý sau đểtránh tình trạng bán những sản phẩm quá hạn sử dụng Kế hoạch đặt ra cho sản xuất đều dựa vàocác đơn đạt hàng của khách hàng, (khách hàng chủ yếu là các siêu thị, đại lý luôn có kế hoạch tiêuthụ theo quý) Những sản phẩm khi bị long chân không các đại lý được quyền đem trả lại và có thểtrao đổi lấy hàng khác của Công ty.
4.1.2 Nghiên cứu thực trạng thị trường tiêu thụ của Công ty
4.1.2.1 Kênh phân phối sản phẩm và phương thức thanh toán trong các kênh
Sơ đồ 4: Kênh phân phối sản phẩm của Công ty
Qua kênh phân phối cho ta thấy tỷ lệ tiêu thụ qua từng kênh, kênh nào
là chủ yếu, các kênh có ảnh hưởng tới nhau không, Công ty tác động đến từng kênh và hay cáctrung gian tác động lẫn nhau và các thành phân này tác động lên người tiêu dùng như thế nào, bằngcách gì? Từ việc phân tích này Công ty tìm ra những kênh có hiệu quả nhất và những trung gian cókhả năng kinh doanh tốt nhất, đồng thời lựa chọn được khách hàng mục tiêu của Công ty trên từngthị trường Việc phân tích thể hiện qua bảng 5 như sau:
Kênh I: Là kênh phân phối chủ đạo và hiệu quả nhất của doanh nghiệp, đặc biệt là hai hệ
thống bán lẻ là Fivi mark và Hapro mark và một số siêu thị lớn như VinCom, PigC, … Các đại lýcấp I trên thị trường ở các tỉnh đến ký kết hợp đồng lấy sản phẩm trực tiếp của Công ty, hợp đồng
về sản lượng sản phẩm, thanh toán chủ yếu bằng chuyển khoản, một số đại lý của hộ gia đình thìthanh toán bằng tiền mặt
Đối với hộ gia đình thì họ nhập hàng do quyết định của họ nên việc vận chuyển và giaohàng được nhanh rút ngắn được thời gian cho Công ty hơn Nhưng vốn của họ thường thấp và họthường thanh toán sau khi bán được hàng, thường là sau khi nhập tiếp hàng làm vốn doanh nghiệp
bị ứ đọng, vòng quay của vốn thấp Lượng bán sản phẩm của Công ty cho các đại lý này thấp
Đối với các đại lý nằm trong hệ thống thì thủ tục giao hàng khá phức tạp khi tại các bộ phânbán hàng thông báo hàng bàn ra hết hoặc gần hết báo lên phòng kinh doanh của siêu thị Sau đó,
Trang 34phòng kinh doanh báo lên tổng rồi tổng đưa ra quyết định nhập hàng của hãng nào, số lượng baonhiêu, chủng loại và kích cỡ hàng hoá Quyết định này gửi cho doanh nghiệp rồi hai bên thoả thuậnviết phiếu chuyển và nhận hàng hoặc hoá đơn giao hàng mới được giao hàng, lúc này doanh nghiệpmới được phép chuyển hàng và nhận được giấy chuyển khoản qua ngân hàng thanh toán tiền hàng.
Hàng năm kênh này tiêu thụ một khối lượng sản phẩm rất lớn chiếm bình quân khoảng 85% trong tổng khối lượng tiêu thụ toàn Công ty Qua 3 năm tốc độ tiêu thụ tăng bình quân củamực là cao nhất với 84,5%/năm do mực có giá rẻ hơn các mặt hàng còn lại , giá là 16.800 đ/500gphù hợp với bữa ăn hàng ngày thường ăn kem cho vào lẩu, chế biến khác và có giá rẻ hơn so vớicác hãng khác như APT, GiDiCo, Bình quân qua 3 năm tỷ lệ tôm giảm 3,8% do tôm là mặt hàngđắt nhất trong tất cả các mặt hàng của doanh nghiệp, loại tôm thịt tươi đông lạnh không được nhiềungười tiêu dùng lựa chọn nhiều, nó có mầu sắc không được cho là tươi so với tôm sống bán ở ngoàichợ, giá đắt, khách hàng thích tôm có nguồn gốc của các doanh nghiệp miền Nam hơn vì họ cónhận xét là tôm có độ thơm và ngọt thịt hơn của doanh nghiệp miền Bắc, cho rằng tôm được đánhbắt ở biển Sản phẩm khác gồm có lẩu hải sản, chả cá, thịt cua,… năm 2006 so với 2005 giảm11,6%, tức là 3.099 kg nhưng năm 2007 so với 2006 tăng 67,1%, tức tăng 21.311 kg
70-Kênh II: là kênh tiêu thụ trực tiếp, khách hàng ở kênh này chủ yếu là các hộ gia đình có
công việc mua hàng của công ty với số lượng tương đối lớn Doanh nghiệp đứng ra trở hàng chokhác hàng và thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản tuy theo lựa chọn của khách hàng Kênhnày ngày càng thu hút khách hàng vì giá cả rẻ hơn khi phải mua tại các đại lý, được chiết khấu theophần trăm nếu mua với lượng lớn Kênh phân phối này, mức tiêu thụ bình quân các mặt hàng đềutăng là 43% tức là đạt 520 kg
Tôm tăng 43%, tức tăng là 78 kg, do kênh trực tiếp mới được mở rộng ra cả các tỉnh lân cận
Hà Nội Số lượng người mua lẻ ngày càng tăng vì họ mua tại gốc thì giá rẻ hơn khoảng 25.000đ/kg
10.000-Mực bình quân 3 năm tăng cao nhất là 114,5%, tức tăng 143 kg Trong đó năm 2006 so với
2005 và 2007 so với 2006 đều đạt trên 100% Mực là mặt hàng có tiềm năng trên tất cả các khúc thịtrường, phù hợp vời người tiêu dùng trong nước
Trong kênh I năm 2007, phân phối sản phẩm ở các trung gian mức tiêu thụ không đều, chủyếu là Hà Nội chiếm 34% trong tổng tiêu thụ, tức 59.878 kg trong 176.111 kg Do Hà Nội là nơi tậptrung dân số, là nơi đầu mối giao thông, thông tin, các siêu thị lớn, phân phối hàng đi các nơi … và
là nơi có mức thu nhập cao nhất của khu vực phía Bắc Thể hiện bảng 6: Tình hình tiêu thụ của cáctrung gian qua các kênh trên thị trường mục tiêu
Hưng Yên và Hải Phòng là hai tỉnh có nhiều siêu thị bán sản phẩm của Công ty nhưng đâycũng không phải là thị trường tiêu thụ tiềm năng vì: Hưng Yên sát Hà Nội nên có nhiều hãng tìmđến không chỉ có các hãng khu vực phía Bắc mà cả các hãng phía Nam, người dân ở đây họ có thểvào Hà Nội để mua sắm những đồ cần thiết Hà Nội là nơi tập trung các mặt hàng đa dạng và chất
Trang 35lượng cao nên thu hút người tiêu dùng các tỉnh lân cận vào mua sắm Hải Phòng lại gần biển nênngười dân thích mua đồ biển tươi sống hơn và giá lại rẻ hơn mua thuỷ sản đông lạnh.
Doanh nghiệp nên tập trung vào khai thác các thị trường như Bắc Ninh, Hưng Yên, HảiDương, Bắc Giang, Hà Tây mặc dù tỷ lệ trong các trung gian thấp tương ứng là 3,2% , 3,9%, 3,1%,2,2%, 2,8%,tức đạt tương ứng là 5.636, 6.868, 5.459, 3.874, 4.931 kg Hiện nay, tất cả các mặt hàngthực phẩm trên thị trường đều tăng giá, thịt gà công nghiệp 50- 55 nghìn đồng/kg, giò lụa 135.000đồng/kg, gạo trên 95 nghìn đồng/kg nên xâm nhập hàng thuỷ sản đông lạnh vào các tỉnh lẻ khôngcòn là những mặt hàng xa xỉ, thậm chí có một số mặt hàng rẻ và phù hợp với mức thu nhập củangười dân tỉnh lẻ như cá, mực,…Khai thác các tỉnh lẻ mới ở trung tâm của các tỉnh nên vẫn còn làmột thị trường rộng lớn chưa được đáp ứng
Các thị trường tiêu thụ Thanh Hoà và Nghệ An mức thị phần tiêu thụ không cao là 3,4% và2,7% nhưng nó giúp cho doanh nghiệp tiếp cận được với nhiều loại thị trường về phong tục tậpquán, khai thác và cạnh tranh với doanh nghiệp miền Trung và miền Nam, tạo uy trong giới kinhdoanh từ đó, thuận lợi cho việc mua bán nguyên liệu
Trang 36Bảng 5: Kết quả tiêu thụ trên các kênh phân phối qua 3 năm (2005- 2007)