1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội

99 567 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm – Hà Nội
Tác giả Trương Thị Bình
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Phúc Thọ
Trường học Trường Đại học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Kinh tế và Phát triển Nông thôn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét trên một khía cạnh nào đó lạm phát không phảikhông có ích, với một tỷ lệ vừa phải sẻ làm cho nền kinh tế phát triển hơn.Nhưng nếu lạm phát ở mức quá cao, cao hơn tốc độ tăng trưởng k

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, toàn bộ số liệu cũng như kết quả nghiên cứu củaluận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài này đềuđược cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ ràngnguồn gốc

Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2008

Tác giả

Trương Thị Bình

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau khi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài “Tác động củalạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm –

Hà Nội”, tôi xin chân thành cảm ơn:

Ban Giám hiệu, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn trường Đại họcNông Nghiêp I đã giúp đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn

Phòng kế hoạch – kinh tế và PTNT huyện Gia Lâm đã tận tình giúp đỡtạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này

Các thầy cô trong bộ môn kinh tế của khoa Kinh tế và PTNT cùng cácthầy cô trong khoa Kinh tế và PTNT trường Đại học Nông Nghiệp I đã giảngdạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Phúc Thọ đã tậntình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Và tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè, người thân đã động viên giúp đỡ tôi

Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2008

Tác giả Trương Thị Bình

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Chỉ số giá tiêu dùng của một số nước……….17

Trang 4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

H

Trang 5

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Lạm phát là một trong những vấn đề nhạy cảm hàng đầu của một nềnkinh tế, là một trong những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng, nó có tác độngrất lớn đến đời sống của người dân trong một nước Lạm phát ảnh hưởng đếntăng trưởng và việc làm trong trung và dài hạn; làm cho môi trường đầu tư vàkinh doanh xấu đi Lạm phát chính là kết quả tổng hòa của các chính sáchkinh tế - xã hội vĩ mô, cũng như các hoạt động kinh tế vi mô với sự tác độngcủa nền kinh tế khu vực và thế giới; nó đã và đang có ảnh hưởng trực tiếphoặc gián tiếp, nhanh hoặc chậm, tích cực hoặc tiêu cực đến toàn bộ nền kinh

tế cũng như hoạt động của chính phủ, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trongnền kinh tế, ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến các quan hệ kinh tế đối ngoạicũng như tình hình kinh tế của khu vực và thế giới

Việt Nam đang là nước phát triển khá nhanh chóng trong khu vực, việclạm phát là không tránh khỏi Sau năm 1986 tiến hành đổi mới, nền kinh tếViệt Nam có sự tăng trưởng cao đặc biệt trong những năm gần đây Chính vìvậy đời sống được nâng cao, giải quyết được nhiều việc làm, thu nhập củangười dân tăng lên rất nhiều Tuy nhiên, mặt trái của tăng trưởng kinh tế cao

là tăng giá hay lạm phát Xét trên một khía cạnh nào đó lạm phát không phảikhông có ích, với một tỷ lệ vừa phải sẻ làm cho nền kinh tế phát triển hơn.Nhưng nếu lạm phát ở mức quá cao, cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thìđiều đó là rất có hại, nó sẻ ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế nóichung và đến từng cá nhân trong nền kinh tế nói riêng

Đặc biệt năm 2007 lạm phát đạt mức kỷ lục trong vòng 11 năm qua.Chưa có năm nào giới truyền thông và người tiêu dùng lại “bận tâm” nhiều vềgiá cả hàng hóa như thời gian qua Nguyên nhân là hầu hết các mặt hàng thiếtyếu đều tăng giá khá cao trong số đó có không ít mặt hàng đã tăng giá gấp

Trang 6

rưỡi, gấp đôi so với cùng kỳ năm 2006 Trong năm 2007, việc lạm phát vớihai con số đã ảnh hưởng lớn đến người dân đặc biệt là những hộ nông dân cả

về sản xuất và đời sống Mục tiêu cuối cùng của tăng trưởng kinh tế là nângcao đời sống cho người dân, hiện chúng ta đang phát triển kinh tế với tốc độcao nhưng trên thực tế đời sống của một bộ phận người dân đang đi xuống vì

“cơn bão giá” Đặc biệt với những người nông dân, những người có thu nhậpthấp, bình thường cuộc sống đã gặp nhiều khó khăn nay giá của các hàng hóa

và dịch vụ tăng cao đã làm đời sống cũng như sản xuất của họ càng khó khănhơn Tuy giá cả các sản phẩm đầu ra của hộ nông dân tăng nhưng tốc độ tăngcủa chúng liệu cao hơn tốc độ tăng giá của các yếu tố đầu vào và các mặthàng khác không?

Với lý do trên và được sự giúp đỡ của thầy cô bộ môn kinh tế chúng tôi

đã chọn đề tài “Tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông

dân trên địa bàn huyện Gia Lâm – Hà Nội”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Xem xét tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trênđịa bàn huyện Gia Lâm – Hà Nội Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếunhằm hạn chế ảnh hưởng của nó đến các hộ nông dân, qua đó góp phần kiềm chếlạm phát

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về lạm phát

- Tìm hiểu tình hình lạm phát của nước ta và giá cả một số mặt hàng trên địa bànhuyện Gia Lâm trong thời gian vừa qua

- Tìm hiểu những tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nôngdân trên địa bàn huyện Gia Lâm

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của lạm phát đến hộnông dân và góp phần kiềm chế lạm phát

Trang 7

1.3 Đối tượng, địa bàn và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về lạm phát

- Nghiên cứu ảnh hưởng của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dântrên địa bàn huyện Gia Lâm

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Số liệu nghiên cứu trong 2 năm 2006 – 2007

- Về không gian: Huyện Gia Lâm, Hà Nội

- Về nội dung: nghiên cứu tác động của lạm phát đến sản xuất và đời sống các

hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm – Hà Nội Vì thời gian có hạn nênchúng tôi chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của lạm phát đến sản xuất của một số câytrồng, vật nuôi chính của hộ

Trang 8

J.M Keynes và trường phái tiền tệ ở Đức và Mỹ cho rằng: lạm phát là

sự vi phạm quá trình tái sản xuất nằm trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ , là

sự phát hành tiền quá mức tạo ra cầu dư thừa thường xuyên

Còn theo G.G.Matrukhin (Liên Xô) : sự mất giá đồng tiền chính là lạmphát Ông cũng đã chỉ rõ: lạm phát là hình thức tràn trề tư bản một cách tiềmtàng (có thể tự phát hoặc có dụng ý), là sự phân phối lại sản phẩm xã hội vàthu nhập quốc dân thông qua giá cả giữa các khu vực của quá trình tái sảnxuất xã hội, các ngành kinh tế và các giai cấp, các nhóm dân cư xã hội

L.V.Chandeler với trường phái lạm phát giá cả lại cho rằng lạm phát là

sự tăng giá hàng bất kể dài hạn hay ngắn hạn, chu kỳ hay đột xuất

Theo R.Jackman, C.Muley và J.Trevithich thì lạm phát có thể đượcđịnh nghĩa đúng nhất là xu hướng duy trì mức giá chung cao nhất Điều đó cónghĩa là lạm phát chỉ xuất hiện khi mức giá cả tăng nhanh và kéo dài

P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus tổng quát hơn khi định nghĩa lạm phátxảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng lên

Ở Việt Nam, nhiều nhà kinh tế của chúng ta cũng đã đưa ra cách hiểukhác nhau, đó là:

Ông Bùi Huy Khoát theo quan điểm của học thuyết “lạm phát cầu kéo”cho là lạm phát nảy sinh so mất cân đối giữa cung và cầu, khi cầu có khảnăng thanh toán tăng vượt quá khả năng cung của nền kinh tế làm giá cả hànghóa tăng lên; lạm phát chính là sự tăng lên tự động của giá cả để lấy lại thếcân bằng đã bị phá vỡ giữa cung và cầu, biểu hiện ra ở hàng và tiền

Trang 9

Còn ông Nguyễn Văn Kỷ theo lý thuyết “lạm phát lưu thông tiền tệ” lại chorằng lạm phát là hiện tượng tiền quá thừa trong lưu thông so với lượng hàng quá ít ỏi.

Có thể nhận thấy rằng tất cả các luận thuyết, các quan niệm về lạm phát đãnêu ở trên, dù tiếp cận ở phương diện nào, dù theo trường phái nào đều thừa nhậnmột đặc tính cơ bản của lạm phát là hiện tượng giá cả chung tăng lên Như vậy có

thể định nghĩa một cách chính xác về lạm phát như sau: “Lạm phát được định nghĩa là sự tăng giá trung bình của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian, tức là mức giá chung tăng lên hoặc là quá trình đồng tiền liên tục giảm giá”

Trong thực tế, dù có bất kỳ sự tăng giá nào của một vài hàng hóa riêng lẻnhưng giá cả của một vài hàng hóa khác lại giảm, lúc đó mức giá chung sẻ khôngtăng và lạm phát sẻ không xảy ra Như vậy có thể kết luận rằng chỉ có lạm phátkhi mức giá chung tăng lên, lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số giá chung về giá

cả của toàn bộ hàng hóa cấu thành tổng sản phẩm quốc dân Khi nói đến lạm phát

là phải nhắc đến sự tăng giá của toàn bộ hàng hóa trong nền kinh tế

2.1.2 Thước đo lạm phát

Vì có nhiều cách hiểu khác nhau về lạm phát nên hiện nay cũng có nhiềucách để đo lường lạm phát của một nền kinh tế Ở mỗi quốc gia, tùy theo đặcđiểm của đất nước mình mà chính phủ nước đó áp dụng phương pháp tính chophù hợp Có một cách hiểu mang tính toàn diện hơn cả và để giải quyết đượcvấn đề trên đó là trong cuốn sách kinh tế học của Samuelson cho rằng: “Lạmphát chính là tỷ lệ GNP danh nghĩa và GNP thực tế” Nhưng trên thực tếngười ta thường sử dụng một trong hai loại chỉ tiêu: Chỉ số giá tiêu dùng vàchỉ số giá cả sản xuất (hay còn gọi là chỉ số giá bán buôn)

- Chỉ số giá tiêu dùng ( ký hiệu là CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh sự biến động giá cả của một giỏ hàng hóa

và dịch vụ tiêu biểu cho cơ cấu tiêu dùng của xã hội Công thức tính như sau

Trong đó : CPIt: Chỉ số tiêu dùng nhóm hàng thời kỳ nghiên cứu

Pt: Giá cả nhóm hàng tiêu dùng thời kỳ nghiên cứu

P0: Giá cả nhóm hàng tiêu dùng thời kỳ so sánh

Trang 10

Hàng tiêu dùng bao gồm nhiều nhóm như: lương thực, quần áo, y tế,nhà cửa… Khi nghiên cứu người ta còn xem xét cơ cấu của từng loại hànghóa trong nhóm hàng.

- Chỉ số giá cả sản xuất ( ký hiệu là PPI)

Khác với chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá bán buôn ( chỉ số giá sản xuất)phản ánh sự biến động giá cả của đầu vào, mà thực chất là biến động giá chiphí sản xuất Xu hướng biến động giá chi phí tất yếu sẻ tác động đến xuhướng giá cả hàng hóa thị trường

Công thức tính như sau: = ∗ 100

o

t

t P

P PPI

Trong đó: PPIt là chỉ số giá cả sản xuất thời kỳ nghiên cứu

Pt: Giá bán buôn lần đầu nhóm hàng thời kỳ nghiên cứu

P0: Giá bán buôn lần đầu nhóm hàng thời kỳ so sánh

Mức độ lạm phát của một nền kinh tế được thể hiện qua tỷ lệ lạm phát

Nó chính là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ Quy mô và sựbiến động của nó phản ánh quy mô và xu hướng của lạm phát Đó chính là tốc

độ tăng mức giá chung của thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ gốc

Tỷ lệ lạm phát được tính như sau: 1 * 100

Trong đó: i là tỷ lệ lạm phát (%)

Ip chỉ số giá cả thời kỳ nghiên cứu

Ip-1 chỉ số giá cả thời kỳ trước đó

Ngoài ra tỷ lệ lạm phát tính toán dựa trên cơ sở chỉ tiêu chỉ số giá cảhàng tiêu dùng:

Trong đó: i là tỷ lệ lạm phát (%)

CPI: chỉ số giá hàng tiêu dùng năm sau

CPI : chỉ số giá hàng tiêu dùng năm trước

Trang 11

Khi nói đến lạm phát người ta còn tính hệ số điều chỉnh (hệ số giảm phát)

100

* (%)

Tuy nhiên trên thực tế việc dùng chỉ số giá để đo lường lạm phátthường không được chính xác, bởi nó luôn có khuynh hướng phóng đại lạmphát, vì vậy giữa lạm phát và chỉ số giá có sự chênh lệch Nguyên nhân là:

+ Một là nó không phản ánh đầy đủ sự cải thiện chất lượng sản phẩm.+ Hai là, nó không phản ánh sự cải tiến kỹ thuật sản xuất

Sự chênh lệch này là có tác hại rất lớn đối với nền kinh tế Bởi lẻ khicông bố chỉ số giá cao ( tức là theo dự kiến), lúc đó sẻ khuyến khích dânchúng mua sắm ngay lúc công bố chỉ số giá chứ không đợi khi giá lên mớimua Còn nếu giá cả hạ thì người tiêu dùng sẻ ít tiêu xài hơn Vì vậy cácchính phủ cần phải xác định chỉ số giá cho chính xác

2.1.3 Quy mô về lạm phát

Mức độ lạm phát đối với mỗi nền kinh tế khác nhau là khác nhau, nóphụ thuộc vào tình hình kinh tế của quốc gia đó như thế nào Quy mô lạmphát thể hiện tình trạng của nền kinh tế đó như thế nào, nếu tốc độ lạm phátlớn điều đó có nghĩa giá cả hàng hóa của nền kinh tế đó tăng cao, nó có ảnhhưởng rất lớn đến đời sống của đại đa số người dân trong đất nước đó

Tùy theo tốc độ lạm phát người ta chia lạm phát ra làm 3 loại sau:

- Lạm phát vừa phải: Còn gọi là lạm phát một con số Là loại lạm phátxảy ra với tốc độ gia tăng giá cả chậm, dưới 10%/ năm (5%, 7%, 8%, ) Đây

là loại lạm phát khá phổ biến và tồn tại một cách thường xuyên trong nền kinh

tế Nó được xem là một “căn bệnh kinh niên” cố hữu của một nền kinh tế

Trang 12

Lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động đáng kể đối với nềnkinh tế.

- Lạm phát phi mã: xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2hoặc 3 con số/năm (ví dụ: 20%, 100%, 150%, ) Loại lạm phát này gây ranhững ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế

- Siêu lạm phát: Xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ caovượt xa lạm phát phi mã Trong lịch sử đã từng có những siêu lạm phát màtốc độ mất giá của đồng tiền cũng như tăng giá hàng năm tới 8 – 10 consố/năm Ví dụ như ở Đức năm 1922 – 1923 là hình ảnh siêu lạm phát điểnhình trong lịch sử lạm phát thế giới, giá cả tăng từ 1 đến 10 triệu lần; rồi ởTrung Quốc và Hungari thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Siêu lạmphát thường gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc đối với nền kinh

tế tuy nhiên chúng cũng ít xảy ra

Qua nghiên cứu lịch sử của lạm phát, các nhà kinh tế cũng đã chỉ rarằng ở các nước đang phát triển lạm phát thường diễn ra trong thời gian khádài, vì thế hậu quả của nó là khá nghiêm trọng Cũng vì thế, nhiều nhà kinh tếdựa vào 3 loại lạm phát trên kết hợp với độ dài thời gian lạm phát để chia lạmphát ở các nước đang phát triển thành 3 loại sau:

- Lạm phát kinh niên thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát đến50%/năm

- Lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm, với tỷ lệ lạm pháttrên 50%/năm

- Siêu lạm phát kéo dài trên 1 năm với tỷ lệ lạm phát trên 200%/năm

2.1.4 Tác động của lạm phát

2.1.4.1 Tác động tiêu cực của lạm phát

Tác haị của lạm phát luôn tỷ lệ thuận với tốc độ lạm phát, với mức độkhông thể dự báo trước và vượt ra khỏi sự điều tiết của chính phủ Những lạmphát không thể tiên đoán được thì hậu quả sẻ rất ghê gớm, điều này được biểuhiện như sau:

Trang 13

- Lạm phát cao sẻ kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế Khi lạm phát xảy ra

nó sẻ làm lệch lạc cơ cấu giá cả, kéo theo là nguồn tài nguyên, vốn và nguồnnhân lực không được phân bổ một cách có hiệu quả, kết cục là làm tăngtrưởng kinh tế chậm lại

- Vì nó làm rối loạn chức năng thước đo giá trị của đồng tiền nên lạmphát thường xuyên tạc, bóp méo, làm biến dạng các yếu tố và tín hiệu thịtrường, làm cho tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là các hoạtđộng sản xuất kinh doanh không thể tiến hành bình thường được Vai tròđiều tiết nền kinh tế của chính phủ thông qua tiền tệ và thuế cũng bị suygiảm, thậm chí bị vô hiệu hóa do mức thuế trở nên vô nghĩa trước tốc độlạm phát quá cao

- Tính không chắc chắn của lạm phát là kẻ thù của tăng trưởng và đầu

tư dài hạn Nếu các nhà đầu tư không biết chắc chắn hoặc không thể dự đoántrước được mức giá cả trong tương lai, kéo theo là không thể biết được lãisuất thực thì không ai trong số họ dám liều lĩnh đầu tư vào các dự án dài hạnmặc dù các điều kiện đầu tư khác là khá ưu đãi và hấp dẫn Tính không chắcchắn của lạm phát sẻ đẩy lãi suất thực lên cao bởi chủ nợ muốn có sự bảo đảmcho mức độ rủi ro lớn Mức lãi suất thực cao này sẻ kìm hãm đầu tư và làmchậm tốc độ tăng trưởng Lạm phát cao làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thịtrường vốn và tín dụng Giá cả trong tương lai không ổn định sẻ làm giảmlòng tin, ảnh hưởng đến các quyết định của người gửi tiền và các thể chế tàichính – tín dụng Lạm phát cao sẻ gây tác động xấu đến các ngân hàng, nhữngngười gửi tiền tiết kiệm, thị trường trái phiếu,…

- Lạm phát cao làm giảm các nguồn thu từ thuế cho NSNN Những tác độnglàm giảm này xét trên cả hai phương diện trực tiếp và gián tiếp Một mặt lạm phátcao dẫn đến sản xuất bị đình đốn làm cho nguồn thu từ thuế bị giảm sút cả về quy

mô và chất lượng Mặt khác lạm phát cao đồng nghĩa với sự mất giá của đồng tiền,

do vậy với cùng một số lượng tiền thu từ thuế thì giá trị nguồn thu thực tế bị giảm

Trang 14

xuống khi có lạm phát cao Ví dụ: ở Mexico lạm phát làm giảm nguồn thu thực tếnăm 1981 là 2,6% GDP và giai đoạn 1983 – 1987 là 1,6% GDP.

- Khi có lạm phát thì vấn đề phân phối thu nhập thường không đồng đều.Một số người năm giữa những hàng hóa có giá cả tăng đột biến trở nên giàu cónhanh chóng và ngược lại những người có các hàng hóa mà giá cả không tănghoặc giảm thì họ sẻ bị nghèo đi Lạm phát cao cũng làm mức lương thực tế củangười có thu nhập thấp và cố định bị sụt giảm Phúc lợi xã hội dành cho tầng lớpnghèo trong xã hội cũng bị suy giảm rõ rệt Hơn nữa việc phân phối lại của chínhphủ từ những người tiêu dùng nhiều đến người tiết kiệm nhiều thông qua tài trợlạm phát chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của lạm phát mà thôi, còn ở giaiđoạn sau do họ đòi tăng lương, tăng trợ cấp,….để có thể theo kịp được lạm phátthì việc này sẻ không còn tác dụng nữa

- Vì lạm phát thường kéo theo việc điều chỉnh nâng tỷ giá và lãi suất đồngnội tệ nên khi kạm phát cao sẻ làm tăng nguy cơ phá sản do vỡ nợ và làm tăng chiphí dịch vụ nợ nước ngoài tính bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp và chính phủ

- Việc giá cả và giá trị đồng tiền trong nước không ổn định sẻ làm rốiloạn thị trường trong nước, ảnh hưởng không tốt đến môi trường kinh doanh.Điều này dẫn đến dòng tiền từ nước ngoài đầu tư vào trong nước bị chững lại

có khi là suy giảm Đồng thời khi lạm phát cao sẻ làm cho giá của các mặthàng nhập khẩu trở nên đắt đỏ vì vậy sẻ hạn chế việc nhập khẩu những hànghóa, vật tư cần thiết

sẻ giảm bớt được thất nghiệp Theo nhà kinh tế học người Mỹ A.W.Phillips

đã cho rằng giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ nghịch và cóquan hệ tỷ lệ thuận với tăng lương

Trang 15

- Bên cạnh đó khi có lạm phát sẻ giúp phân phối lại thu nhập và cácnguồn lực xã hội theo định hướng mục tiêu mà chính phủ đề ra.

2.1.5 Các lý thuyết về lạm phát

2.1.5.1 Lý thuyết “lạm phát lưu thông tiền tệ”

Những người theo lý thuyết này cho rằng lạm phát là đưa nhiều tiềnthừa vào lưu thông làm cho giá cả tăng lên Như M.Friedman cho rằng:

“Lạm phát trong mọi lúc, mọi nơi đều là hiện tượng của lưu thông tiền tệ.Lạm phát xuất hiện và chỉ xuất hiện khi số lượng tiền trong lưu thông tănglên với nhịp độ nhanh hơn so với sản xuất”

Năm 1907, Irving Fisher đưa ra một công thức, và nó được xem là côngthức đặc trưng và phổ biến trong lý thuyết “lạm phát lưu thông tiền tệ”:

M x V = P x T

Trong đó: M: Khối lượng tiền tệ

V: Tốc độ lưu thông tiền tệ

P: Mặt bằng chung của giá cả

T: Khối lượng giao dịch phải đảm bảo

(Tất cả đều được xem xét trong cùng một thời kỳ nào đó)

Theo lý thuyết này muốn kìm hãm lạm phát cần kìm chế sự tăng thêmtiền, và để không có lạm phát thì nhịp độ phát hành tiền vào lưu thông phảicùng với nhịp độ tăng trưởng sản xuất đích thực

2.1.5.2 Lý thuyết “lạm phát cầu kéo”

Theo lý thuyết này, lạm phát là do tổng cầu của người tiêu dùng, ngườikinh doanh và của chính phủ về hàng hóa và dịch vụ vượt quá tổng cung,vượt quá năng lực tạo ra của nền kinh tế, lúc đó sẻ khiến cho giá cả nói chungtăng lên và lạm phát xảy ra Như vậy bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêuquá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn chế về hàng hóa và dịch vụ có thểsản xuất được, trong điều kiện thị trường lao động đã cân bằng

Trang 16

Hình 2.1 Chi tiêu quá khả năng cung ứng

Qua hình trên ta thấy khi sản lượng vượt quá sản lượng tiềm năng,đường tổng cung AS có độ dốc lớn, nên khi cầu tăng mạnh đường cầu AD0

dịch chuyển lên AD1 nên giá tăng từ P0 lên P1

2.1.5.3 Lý thuyết “lạm phát chi phí đẩy”

Lý thuyết này cho rằng do khi một số yếu tố như tiền lương, giá nguyênvật liệu tăng lên trong khi đó công nghệ sản xuất thì cũ kỹ, thể chế quản lý thìlạc hậu,… Chính điều này làm cho chí phí sản xuất kinh doanh tăng nhanhtrong khí đó năng suất lao động thì không tăng có khi còn giảm xuống Khi đócác doanh nghiệp để tồn tại buộc phải tăng giá cả hang hóa và lạm phát xuấthiện mặc dù cầu về hàng hóa và dịch vụ không tăng

Hình 2.2 Chi phí tăng đẩy giá lên cao.

Qua hình ta thấy khi giá các yếu tố đầu vào đặc biệt là các vật tư cơ bảnnhư xăng dầu, điện, … tăng lên sẻ làm đường tổng cung dịch chuyển lên trên

từ ASSR0 lên ASSR1 Khi đó tuy tổng cầu AD không đổi nhưng giá cả tăng lên

từ P0 lên P1 và sản lượng lại giảm xuống (Y0 xuống Y1)

Trang 17

Tỷ lệ lạm phát dự kiến là tỷ lệ lạm phát nằm trong suy đoán của các nhàkinh tế Với tỷ lệ lạm phát này thì giá cả tăng đều với một tỷ lệ tương đối ổnđịnh Vì vậy nó còn được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ.Để đạt được tỷ lệ lạm phátnày, chính phủ sẻ điều chỉnh mọi hoạt động kinh tế sao cho phù hợp (VD:điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, giá cả trong các hợpđồng kinh tế, các khỏan chi tiêu ngân sách,…).

Hình 2.3 Lạm phát dự kiến

Qua hình ta thấy khi đường tổng cầu AD và đường tổng cung AS cùngdich chuyển lên trên cùng một độ dốc Do lạm phát được dự kiến nên chi phísản xuất được điều chỉnh theo sao cho phù hợp với tốc độ lạm phát Khi đósản lượng vẫn giữ nguyên còn giá cả thì tăng lên theo dự kiến

Nếu tỷ lệ lạm phát của một quốc gia mà đúng như dự kiến thì nền kinh

tế sẻ ổn định và tự nó sẻ duy trì trong một khoảng thời gian Tuy nhiên tỷ lệlạm phát này không giữ được bao lâu vì luôn có những tác động có thể từtrong hoặc ngoài nước ảnh hưởng sẻ làm cho lạm phát thay đổi

Trang 18

Khi lạm phát xảy ra đồng nghĩa với việc tăng giá trung bình của cáchàng hóa, điều đó cũng có nghĩa là lượng cung tiền danh nghĩa cũng tăng.Điều này xảy ra khi nền kinh tế gặp phải một cơn sốc nào đó làm cho lượngtiền thực tế nhất thời giảm xuống Khi đó chính phủ phải tăng mức cungtiền danh nghĩa để đảm bảo nhu cầu thực tế Như vậy khi mức giá của cácloại hàng hóa càng tăng cao thì lượng cung tiền danh nghĩa cũng tăng lênvới tỷ lệ tương ứng Hay nói cách khác tỷ lệ lạm phát chính bằng tỷ lệ tăngtiền Trong lịch sử cũng đã chứng minh rằng không có cuộc lạm phát nào

mà không có sự tăng trưởng mạnh về tiền tệ Vì vậy bất kỳ một chính sách

vĩ mô nào giảm được tốc độ tăng tiền cũng dẫn đến giảm tỷ lệ lạm phát vàđiều này đặc biệt phù hợp với thời kỳ ngắn hạn

2.1.5.6 Lạm phát và lãi suất

Vì lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa – lạm phát nên khi lạm pháttăng muốn duy trì lãi suất thực tế ở một mức ổn định thì lãi suất danh nghĩacũng phải tăng theo, khi đó sẻ làm tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, giữtiền càng nhiều thì càng thiệt Nên khi đồng tiền mất giá càng nhanh thì mức

độ gửi tiền vào ngân hàng càng tăng hoặc có thể đẩy tiền ra ngoài thị trường

để mua về mọi hàng hóa để dự trữ, gây thêm mất cân bằng cung cầu trên thịtrường và khi đó tiếp tục đẩy giá lên cao

2.1.6 Nguyên nhân của lạm phát

Lạm phát là kết quả của sự tác động của nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu

tố chủ quan và yếu tố khách quan Cụ thể đó là:

- Sự bất cập và kém hiệu quả của chính sách điều tiết vĩ mô của chínhphủ Ví dụ như: Chính phủ phát hành quá nhiều tiền để đáp ứng nhu cầu chitiêu của chính phủ sẻ làm tăng dư cầu; các chính sách đầu tư thì không hợp lýdẫn đến cơ cấu kinh tế không thích hợp, kinh tế chậm phát triển; … Chính vìvậy sẻ gây ra lạm phát

- Do chi phí quản lý, tiền lương lao động, giá nguyên nhiên vật liệu,…tăng lên làm cho chi phí sản xuất cũng tăng theo Khi đó các doanh nghiệp

Trang 19

phải tăng giá bán để có thể bù đắp được khoản chi phí tăng đó, để thu đượclợi nhuận như mong muốn Vì vậy gây nên hiện tượng lạm phát.

- Gây ra lạm phát không chỉ có các nguyên nhân từ bên trong của bảnthân nền kinh tế mà còn do các nguyên nhân từ bên ngoài gây ra Khi thịtrường bên ngoài có biến động, giá cả trên thị trường quốc tế tăng mạnh sẻdẫn đến tình hình giá cả trong nước có biến động theo và nguy cơ chi phí đẩy

có thể diễn ra Từ đó sẻ tạo ra lạm phát cho nền kinh tế

- Kỳ vọng về lạm phát của chính phủ, doanh nghiệp, người dân cũng lànguyên nhân gây ra lạm phát trong tương lai Chính những dự kiến về lạmphát trong tương lai đã dẫn đến những hành động của mọi người để có thểthích ứng được với những dự đoán đó, do đó làm kéo dài thậm chí tăng mức

độ của lạm phát trong tương lai

- Bên cạnh đó còn một nguyên nhân nữa là do các yếu tố tự nhiên: thiêntai, lũ lụt,… làm cho lượng cung hàng hóa bị giảm đột ngột mà lượng cầu lạikhông đổi Điều đó sẻ khiến giá các loại hàng hóa tăng lên gây ra lạm phát

Các nguyên nhân trên đây chỉ là những nguyên nhân cơ bản, bên cạnh

đó còn rất nhiều nguyên nhân khác Các nguyên nhân này đan xen, kết hợpvới nhau gây nên lạm phát

- Với siêu lạm phát và lạm phát phi mã thì mức cung tiền là rất lớn, thâm hụtngân sách cao, tiền lương danh nghĩa thì tăng nhanh Vì vậy vấn đề cấp bách đặt ra

là giảm mạnh tốc độ tăng cung tiền, cắt giảm các chi tiêu của chính phủ, kiểm soát

có hiệu quả việc tăng lương danh nghĩa,.… Có như vậy mới chặn đứng và đẩy lùi

Trang 20

được lạm phát Muốn vậy cần tạo ra những cú sốc lớn cho nền kinh tế như: giảmcung tiền, tăng lãi suất, giảm thu nhập dẫn tới giảm tiêu dùng, đầu tư và chi tiêu củachính phủ,… Nếu các chính phủ kiên trì và liên tục áp dụng các biện pháp, chínhsách trên thì sau một thời gian tỷ lệ lạm phát sẻ được giảm xuống.

- Đối với lạm phát vừa phải, muốn kiềm chế và đẩy lùi lạm phát cũng cần

áp dụng các giải pháp trên Tuy nhiên với những giải pháp trên sẻ dẫn đến việctăng tỷ lệ thất nghiệp là rất lớn nên việc kiểm soát chính sách tài khóa và chínhsách tiền tệ phải hết sức thận trọng Đặc biệt với các nước đang phát triển thì tăngtrưởng kinh tế với tốc độ cao luôn là mục tiêu hàng đầu vì vậy việc sử dụng chúngcần được tính toán tỉ mỉ hơn Về lâu dài các nước này nên chăm lo mở rộng sảnlượng tiềm năng của mình bằng việc phát huy có hiệu quả nguồn vốn trong vàngoài nước để đảm bảo vừa nâng cao sản lượng, mức sống cho người dân vừa ổnđịnh giá cả các loại hàng hóa

Lạm phát bên cạnh những tác hại mà nó gây ra nó cũng có lợi ích rất lớnđối với mỗi nền kinh tế, vì vậy không nên xóa bỏ hoàn toàn lạm phát Các quốcgia hiện nay thường chấp nhận với một tỷ lệ lạm phát thấp và áp dụng các biệnpháp để ổn định và duy trì chúng Đó là cách tốt nhất để không tránh sự thiệt hại

mà lạm phát gây ra đồng thời vẫn đảm bảo được tăng trưởng kinh tế

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình lạm phát trên thế giới

Chẳng riêng gì các siêu cường quốc kinh tế trên thế giới mà với mọiquốc gia, lạm phát là bóng ma ám ảnh kinh hoàng mọi người Trong lịch sửlạm phát thế giới có nhiều cuộc lạm phát làm cho người ta không thể quênđược Như đầu thập niên 80 (1981 – 1984), mức lạm phát trung bình hàngnăm ở Anh là 7,5%; Canada là 8,4%; Pháp 10,6%; Đức 4,3%; Ý 15,1%;…

Bảng 2.1 Chỉ số giá tiêu dùng của một số nước (lấy năm 2000 là 100%)

Năm

Trang 21

Nguồn: Niêm giám thống kê

Sau đây là tình hình lạm phát ở một số nước trên thế giới

Sau chiến tranh thế giới thứ II, hoàn cảnh đã thay đổi Từ năm 1965 – 1979,một lạm phát trầm trọng đã xảy ra; tổng sản lương quốc gia giảm, mức giá tăngtrung bình hàng năm là 5,9% , mức giá này không chỉ tăng trong một năm chiếntranh ở Việt Nam mà xuyên suốt thời kỳ này Đây là điều không thể chấp nhận, vìthế tháng 10 năm 1979 , ngân hàng trung ương đặt ra những chính sách khắt khehơn về tiền tệ đồng thời đình chỉ những thay đổi đột biến trong ngành cung nên lạmphát đã giảm xuống từ 9,7% năm 1979 xuống còn 3,8% năm 1983 Nhưng vấn đềnảy sinh là nạn thất nghiệp tăng vọt từ 5,8% năm 1979 tới 9,5% năm 1982 và 1983.Bên cạnh đó trong thời gian này chính phủ Mỹ còn chống lạm phát bằng chính sách

về lợi tức; chính sách này nhằm vào sự liên hệ “giá cả - khả năng” Hầu như trongtrận chiến chống lạm phát, đối thủ nào cũng mang tính chất phòng thủ và phảnkháng, người công nhân không muốn bị thiệt hại về lương, các ông chủ thì không

Trang 22

muốn mất đi một phần lợi nhuận Năm 1971 tổng thống Richard Nixon đã triệt để

áp dụng chính sách này; ông mạnh mẽ thúc đẩy thợ - chủ ngồi vào bàn làm việckhông phải để tranh chấp mà để giả quyết có vấn đề trong trách nhiệm và lợi ích xãhội Đồng thời với chính sách trên chính phủ đã rút lại những hợp đồng bất lợi vềgiá cả khỏi các công ty và cắt bỏ hoặc giảm nhẹ những phần thuế trên mức sản xuấtcủa công ty nào thực hiện đúng chính sách lợi tức của chính phủ Sau sự kiện 11/9,nền kinh tế Mỹ có những biểu hiện của sự suy thoái, lạm phát tăng cao từ 2,8%năm 2001 lên 13,4% năm 2005

b Lạm phát ở Lào

Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, nhất là từ năm 1991đến năm 1996, tình hình kinh tế - xã hội của Lào phát triển tương đốinhanh và ổn định Tuy nhiên từ 1997 đến 1999, tình hình kinh tế Lào đã cónhững chuyển biến không lành mạnh, tốc độ tăng trưởng GDP có xu hướngchậm lại và giảm dần, năm 1998 chỉ tăng khoảng 5,6% Lạm phát phi mã

có xu hướng tăng cao không kiềm chế được, năm 1997 lạm phát ở mức26,6% thì năm 1998 lên tới 142%

Trước tình hình đó, chính phủ Lào đã có nhiều biện pháp kiềm chế lạmphát, đặc biệt trong hai năm 1997 – 1999 đã đầu tư tập trung phát triển sảnxuất nông nghiệp và đạt hiệu quả cao, giải quyết vấn đề lương thực Tuynhiên nhìn chung kết quả kiềm chế lạm phát còn hạn chế, bằng chứng là lạmphát trong 8 tháng đầu năm 1999 đã cao gấp 3 lần của năm 1998 Khi đóchính phủ Lào đã áp dụng một số chính sách sau:

- Giảm nhập khẩu và kiểm soát buôn lậu qua biên giới

- Đẩy mạnh buôn bán với Việt Nam và Trung Quốc, nhưng còn gặpnhiều khó khăn về thanh toán

- Chính phủ đã phát hành trái phiếu kho bạc nhưng do lãi suất có 30%trong khi đó lạm phát là 150% nên kết quả rất hạn chế Vì vậy sau đó ngânhàng Nhà nước Lào đã phát hành trái phiếu với lãi suất cao hơn là 60%/năm

Trang 23

và đạt kết quả tốt Chính phủ Lào cũng đã thực hiện biện pháp bán vàngnhưng do số lượng quá ít nên chưa cói tác động gì đáng kể.

- Cố gắng đẩy mạnh tăng thu ngân sách nhưng do các doanh nghiệp còngặp nhiều khó khăn, làm ăn thua lỗ nên việc tăng thu ngân sách qua thuế làkhông dễ dàng

Trong những năm gần đây tình hình kinh tế của Lào không có nhiềubiến động lớn, nền kinh tế ổn định nhưng tốc độ tăng trưởng không cao, tỷ lệlạm phát chỉ ở mức một con số

2.2.2 Tình hình lạm phát ở Việt Nam

a Đặc điểm lạm phát ở Việt Nam

Xét từ năm 1976, sau khi giành được độc lập, tình hình lạm phát ở ViệtNam có thể được chia ra các giai đoạn sau:

- Giai đoạn một, từ năm 1976 đến năm 1980: Theo quan điểm củachúng ta thời đó thì chưa có lạm phát Nhưng trên thực tế nước ta vẫn cólạm phát, hàng hóa thì khan hiếm, giá cả hàng hóa và dịch vụ bán lẻ thìtăng liên tục

Bảng 2.2 Chỉ số tăng giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng từ 1976 đến 1980 (năm trước = 100%)

Nguồn: Niêm giám thống kê.

- Giai đoạn hai, từ năm 1981 đến năm 1988 Đây là thời kỳ mà khái niệmlạm phát đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam nhưng chưa được thừa nhận trong cácvăn kiện chính thức của Nhà nước ta Nó chỉ được nhắc đến ở khía cạnh “ giá –

Trang 24

lương – tiền” Đây là thời kỳ xuất hiện siêu lạm phát với 3 chữ số kéo dài trong 3năm từ 1986 – 1988.

Bảng 2.3 Chỉ số tăng giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng từ 1981 đến 1988 (năm trước = 100%)

Nguồn: Niêm giám thống kê

- Giai đoạn ba, từ tháng 5/1988 đến năm 1991 Đây là giai đoạn mà lạmphát được công nhận bằng nghị quyết số 11 của Ủy ban Trung ương ĐCSVN

về đấu tranh với lạm phát Giai đoạn này rất nhiều các giải pháp chống lạmphát đã được đưa ra nhưng chúng mới ở dạng thử nghiệm, còn chưa thu đượcnhững kết quả như mong muốn Thời kỳ này tỷ lệ lạm phát của Việt Namkhông còn ở mức 3 con số Cụ thể là năm 1989 là 34,7%, năm 1990 là 67,5%,năm 1991 là 67,6%

Trang 25

- Giai đoạn thứ tư, từ năm 1991 đến năm 1999 Đây là thời kỳ màchống lạm phát được xem là mặt trận hàng đầu Tỷ lệ lạm phát ở giai đoạnnày được ghi nhận là thấp nhất từ trước đó đến nay.

Trang 26

Bảng 2.4 Chỉ số tăng giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng từ 1991 đến 1999 (năm trước = 100%)

Nguồn: Niêm giám thống kê

Điểm thấp nhất của lạm phát với mức kỷ lục là vào năm 1997, thậm chí

là người ta còn cảnh báo là có khả năng thiểu phát Nhưng đến năm 1998 thì

tỷ lệ lạm phát có xu hướng tăng trở lại với sự ảnh hưởng của khủng hoảng tàichính – tiền tệ của khu vực Tuy nhiên phải thừa nhận rằng đây là giai đoạn

mà Việt Nam được tổ chức tiền tệ châu Âu và tổ chức tiền tệ châu Á bầu là

“chính phủ quản lý kinh tế đất nước tốt nhất châu Á”

- Giai đoạn năm, từ năm 2000 đến nay Từ những tháng đầu năm 2000,tình hình giá cả trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, giá một

số vật tư và hàng thiết yếu tăng cao ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống.Giai đoạn suốt từ 1999 đến năm 2003 là thời gian dài thiểu phát thì đến giaiđoạn 2004 – 2005 lại lâm vào thời kỳ lạm phát mới đặc biệt là năm 2007 chỉ

số giá tiêu dùng tăng cao kỷ lục trong suốt 10 năm qua

Trong năm 2004 chỉ số giá tiêu dùng tăng liên tục Đặc biệt chỉ số giá 6tháng đầu năm đã tăng tới 7,2% so với tháng 12/2003, cụ thể chỉ số giá tiêudùng của 6 tháng đó là: tháng 1 tăng 1,1%; tháng 2 tăng 3%; tháng 3 tăng0,8%; tháng 4 tăng 0,5% và tháng 6 tăng 0,8% Sau một loạt các biện phápchống lạm phát được áp dụng thì tình hình giá cả đã được cải thiện, giá cả của

6 tháng cuối năm tăng chậm lại và thấp hơn so với 6 tháng đầu năm Chỉ số

Trang 27

giá tiêu dùng tháng 12 năm 2004 so với tháng 12 năm 2003 tăng 9,5% Trong

đó giá lương thực, thực phẩm vẫn là tăng cao nhất (15,6%) Cụ thể là giálương thực tăng 14,3% và giá thực phẩm tăng 17,1% Điều này được lý giải

do năm 2004 chúng ta chịu ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nên tổng cungthực phẩm thấp hơn tổng cầu thực phẩm

Sang năm 2005 thì tình hình giá cả có sự chuyển biến tích cực Theothông báo của tổng cục thống kê, tình hình giá cả 4 tháng đầu năm 2005 tuycòn cao nhưng thấp hơn cùng kỳ năm 2004 Chỉ số giá tiêu dùng của 4 thángđầu năm này là 4,3% thấp hơn hẳn chỉ số này của 4 tháng đầu năm 2004 là5,4% Cụ thể, tháng 2 năm 2004 chỉ số giá tiêu dùng là 3% thì tháng 2 năm

2005 là 2,5% Đến tháng 3 thì chí số giá tiêu dùng chỉ tăng 0,1% (so với tháng2) trong khi đó tháng 3 năm 2004 tăng 0,8%

Bước sang năm 2006 thì giá cả các hàng hóa và dịch vụ có xu hướnggiảm xuống so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ lạm phát trong tháng 3 giảm0,5%, góp phần làm giảm mức tăng giá trong quý I xuống 2,8% thấp hơn sovới cùng kỳ năm trước Có thể nói trong năm 2006 tình hình lạm phát có phầntốt đẹp hơn so với năm trước Giá nhóm lương thực – thực phẩm, yếu tố ảnhhưởng đến CPI mạnh nhất đã giảm đáng kể do thành công trong việc giảiquyết ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm

Bảng 2.5 Mức tăng giá trong quý I năm 2005 và 2006

Trang 28

đã tăng giá gấp rưỡi, gấp đôi so với cùng kỳ năm 2006 Vượt qua dự đoántrước đó của các chuyên gia kinh tế, chỉ số giá cả năm 2007 đã tăng đến12,63% so với tháng 12/2006, chỉ só giá bình quân năm tăng 8,3% so vớibình quân năm 2006 Có thể nói mọi nỗ lực kiềm chế giá đã không đạt đượcnhư mong muốn Trong khi chỉ tiêu phát triển kinh tế mới đạt được gần 8,5%thì chỉ số giá CPI đã tăng đến 12,63%, vượt quá xa so với mức kỳ vọng dướitốc độ phát triển kinh tế

Bước sang năm 2008 này tình hình giá cả các loại hàng hóa tiếp tụctăng cao Những tháng đầu năm này giá cả các hàng hóa và dịch vụ đặc biệt làmặt hàng lương thực – thực phẩm tăng cao

Trang 29

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Gia Lâm là một huyện ngoại thành, nằm tại phía Đông Bắc của thành phố

Hà Nội Năm 2004 là năm đầu tiên huyện Gia Lâm thực hiện các nhiệm vụ theođịa giới hành chính mới Với diện tích đất tự nhiên 114km2 được giới hạn nhưsau:

- Phía Đông, Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang

- Phía Nam, Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên

- Phía Bắc giáp huyện Đông Anh Hà Nội

- Phía Tây giáp quận Long Biên Hà Nội

Gia Lâm có vị trí địa lý – chính trị quan trọng của Thủ đô, có lợi thế vềmặt đối ngoại, là trung tâm của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà nội – HảiPhòng – Quảng Ninh Việc phát triển tam giác kinh tế này sẽ góp phần quantrọng thúc đẩy quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đặcbiệt huyện Gia Lâm nằm trên vị trí hành lang kinh tế phía Bắc nối liền vớiVân Nam và các tình miền Tây Nam của Trung Quốc nên rất thuận lợi vềgiao lưu kinh tế, văn hóa với quốc tế trong tương lai

Gia Lâm là nơi tập trung của nhiều đầu mối giao thông quan trọng Nónằm dọc theo các tuyến giao thông quan trọng (đường không, đường bộ, đườngthủy, đường sắt nối Hà Nội với các tỉnh phía Bắc, với Cảng Hải Phòng, cảngCái Lân) Quan hệ giao lưu giữa Gia Lâm với các quận, huyện trong và ngoàiThủ đô Hà nội rất thuận lợi, thông qua các cây cầu lớn: Cầu Long Biên, CầuChương Dương, Cầu Phù Đổng, Cầu Đuống và sắp tới là cầu Thanh Trì Đây làđiều kiện rất thuận lợi để thúc đẩy sự giao lưu, liên kết mạnh mẽ với các tỉnh và

Trang 30

địa phương khác trong nước Gia Lâm có thế mạnh đặc biệt trong phát triểncông nghiệp, xuất nhập khẩu Đây có thể được coi là lợi thế so sánh to lớn củahuyện Gia Lâm

3.1.1.2 Địa hình

Gia Lâm là huyện nằm ở trung tâm của vùng châu thổ sông Hồng, cóđịa hình khá bằng phẳng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướngchung của địa hình và theo hướng lòng chảy của sông Hồng

Có thể nói rằng địa hình của Gia Lâm so với những khu vực xungquanh là khá đơn giản nhưng không kém phần đa dạng, tạo điều kiện thuậnlợi cho phát triển các loại hình kinh tế, xây dựng các công trình hạ tầng, cáckhu công nghiệp phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống của người dân

3.1.1.3 Khí hậu và thủy văn

Thời tiết khí hậu của huyện Gia Lâm mang sắc thái đặc trưng của vùng khíhậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, với hai mùa rõ rệt Từ tháng 5 đến tháng 10 là mùamưa, với lượng mưa lớn Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa đông lạnh, thời

kỳ đầu thì hanh khô, đến nửa cuối mùa đông thì thời tiết thường ẩm ướt

Nhiệt độ trung bình của huyện là khá cao so với nhiệt độ trung bình củathành phố Hà Nội Nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C – 240C, biên độtrong năm khoảng 120C – 130C, nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch nhaukhông cao lắm, giao động trong khoảng 60C – 70C

Độ ẩm trung bình năm của huyện là 82% ít thay đổi theo các thángthường chỉ giao động trong khoảng 78% – 87% Lượng mưa trung bình hàngnăm khoảng 1600m – 1800m

Chế độ thủy văn của huyện chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ thủy vănsông Hồng, sông Đuống và sông Cầu Bây

Sông Hồng lưu lượng nước trung bình hàng năm mấy năm này là2710m3/s, mực nước mùa lũ thường cao 9m – 12m

Sông Đuống là một nhánh của sông Hồng, hàng năm lượng nước mà từsông Hồng đổ vào sông Đuống là 30%

Trang 31

Nhìn chung khí hậu và thủy văn của huyện rất thuận lợi cho phát triểnsản xuất nông nghiệp, có thể trồng được nhiều loại cây, nuôi được nhiều vậtnuôi có giá trị kinh tế cao.

3.1.1.4 Đặc điểm đất đai

Do nằm bên bờ sông Hồng và sông Đuống nên đất đai của huyện kháphì nhiêu và địa hình khá bằng phẳng với bốn loại đất chính: Đất phù sa đượcbồi hàng năm từ hai con sông Hồng và sông Đuống, đất phù sa không được

bù đắp hàng năm không bị glây, đất phù sa không được bù đắp hàng đắp cóglây và đất phù sa không được bồi đắp có ảnh hưởng của vỡ đê năm 1971.Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế của huyện

Trang 32

Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Gia Lâm qua 3 năm 2005 – 2007

Chỉ tiêu

Giá trị(ha)

Cơ cấu(%)

Giá trị(ha)

Cơ cấu(%)

Giá trị(ha)

Trang 33

3.1.2 Đặc điểm về kinh tế và xã hội

Cơ cấu (%)

SL (người)

Cơ cấu (%)

SL (người)

Cơ cấu (%)

Nguồn: phòng KH – Kinh tế &PTNT huyện Gia Lâm

Qua bảng ta thấy tỷ lệ lao động có việc làm tăng qua 3 năm, điều nàychứng tỏ huyện đã có những chính sách nhằm giải quyết vấn đề thất nghiệp trongđịa bàn huyện Trong tổng lao động có việc làm thì tỷ lệ lao động CN – XDchiếm tỷ lệ cao nhất và tỷ lệ lao động thủy sản chiếm tỷ lệ thấp nhất Qua 3 nămthì tốc độ phát triển bình quân của lao động thủy sản lớn nhất là 11,1%, tiếp theo

là lao động CN – XD và lao động dịch vụ, còn lao động NN – LN thì giảmxuống với tốc độ bình quân là 2,79%

Trang 34

3.1.2.2 Hệ thống cơ sở, vật chất kỹ thuật

Trong những năm gần đây huyện Gia Lâm đã chú ý nhiều hơn đến việc đầu

tư cơ sở vật chất kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện

Về hệ thống giao thông, huyện có đầy đủ các công trình giao thông phục

vụ cho nhu cầu đi lại cũng như nhu cầu chuyên chở hàng hóa của người dân.Trên địa bàn huyện có hai tuyến đường bộ chính là quốc lộ 1A đi các tỉnh phíaBắc và quốc lộ 5 đi các tỉnh phía Đông Bắc như Hải Phòng, Quảng Ninh Đây làđiều kiện rất thuận lợi cho việc trao đổi, giao lưu buôn bán giữa huyện với cáctỉnh Đồng thời còn có các tuyến đường liên xã thuận lợi cho các xã trong huyệnđược trao đổi với nhau Huyện Gia Lâm còn có tuyến đường sắt chính chạy dọctheo quốc lộ 5 đi Hải Phòng, nó giúp cho việc chuyên chở hành khách và hànghóa giữa Hà Nội đi các tỉnh lân cận Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có đườnghàng không và đường thủy Hiện nay huyện có sân bay quân sự Gia Lâm vớidiện tích khoảng 300ha Về đường thủy hiện nay đang được huyện khai thác trênhai tuyến sông Hồng và sông Đuống Trên tuyến sông Hồng có khả năng đápứng đi lại cho tầu thuyền dưới 1000 tấn Tuy nhiên do điều kiện thủy văn nên rấtkhó tổ chức các cảng sông trong địa bàn huyện Gia Lâm, hiện trên sông Đuống

có cảng nhà máy diêm cầu Đuống phục vụ cho tiếp nhận gỗ cho nhà máy diêm

Huyện Gia Lâm hiện tại có hai cầu trực tiếp nối huyện với các tỉnh khác

đó là cầu sông Đuống và cầu Phù Đổng Bên cạnh đó có cây cầu Thanh Trì vàcây cầu Vĩnh Tuy hiện đang thi công nằm trên địa bàn huyện nối liền với HàNội, phục vụ rất tốt cho nhu cầu đi lại của nhân dân trong huyện

Huyện Gia Lâm có hai con sông chảy qua là sông Hồng và sông Đuốngkhông chỉ có nhiệm vụ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp mà còn cónhiệm vụ tiêu nước trên địa bàn huyện Hệ thống tiêu thoát nước trên địa bànhuyện chủ yếu dựa vào hệ thống thủy nông Nước từ các khu đô thị và khu dân

cư được thu gom hoặc xả tự nhiên vào các kênh mương tiêu nước Hiện tại

Trang 35

huyện có 14 trạm bơm và hệ thống kênh dẫn Ngoài ra còn nhiều trạm bơm nhỏkhác Hệ thống tưới tiêu này đảm bảo phục vụ tưới tiêu nước cho hơn 95% diệntích nông nghiệp.

Hệ thống cấp điện của huyện khá hoàn chỉnh và đồng bộ đảm bảo đáp ứngyêu cầu về điện sinh hoạt và điện sản xuất của người dân trên địa bàn huyện

3.1.2.3 Kết quả sản xuất nông nghiệp của huyện

Sản xuất nông nghiệp của huyện Gia Lâm qua 3 năm 2005 – 2007 luôn có

sự tăng trưởng, tốc độ phát triển bình quân qua 3 năm là 104,03% Trong đóngành thủy sản có tốc độ tăng trưởng cao nhất Trồng trọt và chăn nuôi có tăngtrưởng nhưng còn chậm đó là do trong thời gian qua tình trạng rét đậm, rét hạixảy ra và các dịch cúm gà, dịch lợn tai xanh làm cho sản xuất nông nghiệp gặpnhiều khó khăn đặc biệt là ngành trồng trọt và chăn nuôi

Trang 36

Bảng 3.3 Kết quả sản xuất nông nghiệp của huyện Gia Lâm qua 3 năm 2005 – 2007

Trang 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Huyện Gia Lâm là một trong những huyện ngoại thành của thành phố

Hà Nội có nền kinh tế phát triển đặc biệt là trong những năm gần đây Đờisống của người dân ngày càng được nâng cao, số lao động có việc làm củahuyện khá cao Trong cơ cấu lao động có việc làm thì lao động công nghiệp –xây dựng chiếm tỷ lệ cao nhất Tuy nhiên lao động nông nghiệp và lâmnghiệp cũng còn chiếm một tỷ lệ khá cao Đời sống của các hộ nông dân nàycòn gặp nhiều khó khăn Đặc biệt trong thời gian vừa qua, giá cả hàng hóatăng cao ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của các hộ nông dân trên địa bànhuyện Vì vậy chúng tôi đã chọn huyện Gia Lâm làm địa điểm thực tập với đềtài trên

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

3.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Các số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài nghiên cứu này được thu thập

từ công bố của tổng cục thống kê, của các cơ quan Nhà nước, các cơ quan liênquan khác, các báo cáo tổng kết qua các năm của huyện Gia Lâm và một sốnghiên cứu của các tác giả khác

3.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Do huyện có hai tiểu vùng là đất bãi (trồng rau màu) và đất trong bãi(trồng lúa) Vì vậy khi tiến hành nghiên cứu chúng tôi đã chọn nghiên cứu bốn

xã thuộc hai tiểu vùng này, mỗi tiểu vùng 2 xã Cụ thể ở đất bãi là hai xã Đặng

Xá và Đông Dư trồng rau và vùng đất trong bãi là xã Đa Tốn và thị trấn TrầuQuỳ trồng lúa là chính

Tổng số hộ mà chúng tôi tiến hành điều tra là 60 hộ và mỗi xã điều tra 15

hộ, trong đó cơ cấu điều tra ở mỗi xã là 9 hộ kiêm và 6 hộ thuần nông (do cơ cấucủa huyện là 60% hộ kiêm và 40% hộ thuần nông)

Trang 38

Dựa vào tiêu thức phân tổ là ngành nghề mà hộ tiến hành sản xuất kinhdoanh chúng tôi chia làm hai tổ là:

+ Hộ thuần nông: đó là những hộ mà ngành nghề họ tiến hành sản xuất

là những ngành sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi hay nuôi trồngthủy sản

+ Hộ kim: là những hộ ngoài sản xuất nông nghiệp hộ còn có cácngành nghề phụ khác như tiều thủ công nghiệp, thương nghiệp,…

Chi phí trung gian (IC) của ngành nông nghiệp là toàn bộ chi phí vậtchất và dịch vụ thực tế đã chi ra cho ngành nông nghiệp

Trang 39

Tổng chi phí bao gồm chi phí trung gian cộng them công lao động vàKHTSCĐ

+ Kết quả sản xuất của hộ theo thời gian

GTSX (GO) là tổng giá trị bằng tiền của toàn bộ các loại sản phẩm thuhoạch được một vụ hay một năm

Giá trị gia tăng (VA) của ngành nông nghiệp chính là chênh lệch giữaGTSX và chi phí trung gian của ngành nông nghiệp

Thu nhập hỗn hợp (MI) là phần thu nhập thuần túy của người sản xuấtthu được Nó chính là khoản còn lại sau khi lấy giá trị gia tăng trừ điKHTSCĐ và lao động thuê nếu có

- Các chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của lạm phát đến thu nhập hộ nông dân:+ Tổng thu nhập của hộ nông dân và thu nhập từ một số ngành chính củahộ

+ Mức chi tiêu cho đời sống hàng ngày và khả năng tích lũy của hộnông dân

3.2.4.2 Phương pháp phân tích

- Phương pháp thống kê mô tả

Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong đề tài này để phân tíchảnh hưởng của lạm phát đến sản xuất và đời sống các hộ nông dân Trongphương pháp này chúng tôi sử dụng các chỉ tiêu để phân tích là tốc độ pháttriển, tốc độ tăng giảm, tốc độ phát triển bình quân,…

+ Tốc độ phát triển là tỷ lệ so sánh mức độ kỳ trước so với kỳ sau.trong đề tài này chúng tôi sử dụng tốc độ phát triển liên hoàn

Tốc độ phát triển liên hoàn: t =

Trang 40

- Phương pháp hoạch toán kinh tế:

Để hoạch toán chi phí sản xuất các cây trồng cũng như vật nuôi chúngtôi sử dụng phương pháp hoạch toán kinh tế

- Phương pháp so sánh:

Số liệu trong đề tài này được thu thập trong hai năm 2006 và 2007, vìvậy để đưa ra những kết luận của mình chúng tôi sử dụng phương pháp sosánh các chỉ tiêu kinh tế giữa hai năm để thấy được sự biến đổi của các chỉtiêu nghiên cứu

Ngày đăng: 27/05/2014, 10:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Chi tiêu quá khả năng cung ứng - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Hình 2.1 Chi tiêu quá khả năng cung ứng (Trang 16)
Hình 2.2 Chi phí tăng đẩy giá lên cao. - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Hình 2.2 Chi phí tăng đẩy giá lên cao (Trang 16)
Hình 2.3 Lạm phát dự kiến - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Hình 2.3 Lạm phát dự kiến (Trang 17)
Bảng 2.2 Chỉ số tăng giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng từ 1976 đến 1980 (năm trước = 100%) - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Bảng 2.2 Chỉ số tăng giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng từ 1976 đến 1980 (năm trước = 100%) (Trang 23)
Bảng 2.5 Mức tăng giá trong quý I năm 2005 và 2006 - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Bảng 2.5 Mức tăng giá trong quý I năm 2005 và 2006 (Trang 27)
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Gia Lâm qua 3 năm 2005 – 2007 - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Gia Lâm qua 3 năm 2005 – 2007 (Trang 32)
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Gia Lâm qua 3 năm  2005 – 2007 - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Gia Lâm qua 3 năm 2005 – 2007 (Trang 33)
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất nông nghiệp của huyện Gia Lâm qua 3 năm 2005 – 2007 - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất nông nghiệp của huyện Gia Lâm qua 3 năm 2005 – 2007 (Trang 36)
Bảng 4.1 Chỉ số giá tiêu dùng của các tháng trong năm 2007 - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Bảng 4.1 Chỉ số giá tiêu dùng của các tháng trong năm 2007 (Trang 41)
Bảng 4.2 Giá một số loại vật tư đầu vào trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm trong năm 2007 và quý I/2008 - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Bảng 4.2 Giá một số loại vật tư đầu vào trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm trong năm 2007 và quý I/2008 (Trang 52)
Bảng 4.3 Chi phí sản xuất lúa chiêm xuân của hộ nông dân hai năm 2006 –  2007 (tính BQ trên 1 sào Bắc Bộ, theo giá hiện hành) - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Bảng 4.3 Chi phí sản xuất lúa chiêm xuân của hộ nông dân hai năm 2006 – 2007 (tính BQ trên 1 sào Bắc Bộ, theo giá hiện hành) (Trang 56)
Bảng 4.4 Chi phí sản xuất lúa chiêm xuân của hộ nông dân hai năm 2006 –  2007 (tính BQ trên 1 sào Bắc Bộ, theo giá so sánh) - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Bảng 4.4 Chi phí sản xuất lúa chiêm xuân của hộ nông dân hai năm 2006 – 2007 (tính BQ trên 1 sào Bắc Bộ, theo giá so sánh) (Trang 57)
Bảng 4.6 Chi phí sản xuất lúa vụ mùa của hộ nông dân hai năm 2006 – 2007 (tính BQ trên 1 sào Bắc Bộ, theo giá so sánh) - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Bảng 4.6 Chi phí sản xuất lúa vụ mùa của hộ nông dân hai năm 2006 – 2007 (tính BQ trên 1 sào Bắc Bộ, theo giá so sánh) (Trang 59)
Bảng 4.7 Chi phí sản xuất rau bắp cải của hộ nông dân hai năm 2006 – 2007 (tính BQ trên 1 sào Bắc Bộ, theo giá hiện hành) - tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội
Bảng 4.7 Chi phí sản xuất rau bắp cải của hộ nông dân hai năm 2006 – 2007 (tính BQ trên 1 sào Bắc Bộ, theo giá hiện hành) (Trang 60)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w