1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án kỹ thuật dầu khí 1 an toàn môi trƣờng trong các nhà máy lọc dầu, lọc hóa dầu

34 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề An Toàn Môi Trường Trong Các Nhà Máy Lọc Dầu, Lọc Hóa Dầu
Tác giả Nguyễn Lan Anh, Phạm Khắc Duy
Người hướng dẫn TS. Bùi Trọng Vinh
Trường học Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ thuật dầu khí
Thể loại Đồ Án Kỹ Thuật Dầu Khí
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tổng quan về dầu khí Việt Nam (5)
  • 2. Hiện trạng khai thác dầu khí (6)
  • 3. Tiềm năng dầu khí (7)
  • 1. Hóa dầu, lọc hóa dầu và sản phẩm (9)
    • 1.1. Hóa dầu, lọc hóa dầu là gì ? (9)
    • 1.2. Sản phẩm lọc dầu, lọc hóa dầu (11)
  • 2. Hiện trạng và tương lai công nghiệp lọc – hóa dầu tại Việt Nam (13)
  • 3. An toàn môi trường trong các nhà máy lọc dầu, lọc hóa dầu (15)
    • 3.1. Nhà máy Dung Quất (16)
      • 3.1.1. Giới thiệu chung (16)
      • 3.1.2. Quy trình hoạt động (18)
      • 3.1.3. An toàn môi trường trong Nhà máy lọc dầu Dung Quất (19)
    • 3.2. Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn (25)
      • 3.2.1. Giới thiệu chung (25)
      • 3.2.2. Quy trình hoạt động (26)
      • 3.2.3. An toàn môi trường trong Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn (27)
  • KẾT LUẬN (33)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (34)

Nội dung

Sản phẩm lọc dầu được sản xuất từ các nhà máy lọc dầu NMLD với nguyên liệu là dầu thô, loại nhiên liệu hóa thạch được sinh ra từ việc phân hủy trong điều kiện không có không khí của thực

Tổng quan về dầu khí Việt Nam

Việt Nam xếp thứ 28 trong số 52 quốc gia có tài nguyên dầu khí trên thế giới Tính đến cuối năm 2013, trữ lượng dầu thô đã xác minh của Việt Nam đạt khoảng 4,4 tỷ thùng, dẫn đầu khu vực Đông Nam Á Đồng thời, trữ lượng khí đã xác minh của Việt Nam khoảng 0,6 nghìn tỷ m³, đứng thứ ba trong khu vực.

Hình 1: Bản đồ hoạt động dầu khí Việt Nam Nguồn: Tập đoàn Dầu khí quốc gia

Việt Nam đã bắt đầu các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa và vùng biển từ trước năm 1975 Cụ thể, vào năm 1969 - 1970, chính quyền miền Nam Việt Nam đã thực hiện khảo sát khoảng 12.000 km tuyến địa.

Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến các chấn 2D kết hợp khảo sát từ và trọng lực hàng không tại thềm lục địa miền Nam Việt Nam, bao gồm khu vực bể Cửu Long, Nam Côn Sơn, Mã Lai, Thổ Chu và Tư Chính - Vũng Mây, do Công ty Ray Geophysical Mandrel thực hiện Tiếp theo, trong giai đoạn 1973-1974, chính quyền miền Nam Việt Nam đã hợp tác với các công ty Western Geophysical và Geophysical Services Inc (Hoa Kỳ) để tiến hành các khảo sát địa chấn 2D trong khuôn khổ dự án WA74.

HS (3.373 km) đã tiến hành khảo sát khu vực ngoài khơi bờ biển miền Trung, bao gồm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, với các lô dầu khí hiện tại là 141, 142, 143 và 144 Dự án WA74 - PKB (5.328 km) cũng đã thực hiện khảo sát ven biển Phú Yên - Khánh Hòa.

Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, Tổng cục Dầu khí, tiền thân của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, được thành lập vào năm 1975 Kể từ đó, hoạt động dầu khí đã được triển khai mạnh mẽ trên toàn bộ thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, bao gồm các khu vực như Hoàng Sa, Trường Sa, và Tư Chính - Vũng Mây Sau khi Quốc hội Việt Nam phê chuẩn tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 vào năm 1996, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã điều chỉnh phạm vi hoạt động, chỉ tiến hành các hoạt động dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý.

Hiện trạng khai thác dầu khí

Kể từ khi khai thác tấn dầu đầu tiên từ m Bạch Hổ vào năm 1986, PVN đã đạt tổng sản lượng khoảng 506,3 triệu tấn dầu quy đổi từ các mỏ trong và ngoài nước Trong đó, sản lượng khai thác dầu đạt 380,9 triệu tấn và sản lượng khai thác khí đạt 125,4 tỷ m³ Sản lượng khai thác hàng năm luôn được duy trì ổn định và gia tăng theo từng năm.

Hiện nay, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang quản lý và điều hành hoạt động khai thác dầu khí tại nhiều mỏ trong và ngoài nước Các mỏ tiêu biểu bao gồm Hàm Rồng và Thái Bình ở bể trầm tích Sông Hồng, cùng với các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Thỏ Trắng, Gấu Trắng, Phương Đông, Rạng Đông, và cụm mỏ Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng, Sư Tử Nâu, Tê Giác Trắng, và Cá Ngừ.

Trong giai đoạn 2011-2015, sản lượng khai thác dầu khí của PVN đạt 133,52 triệu tấn dầu quy đổi, vượt kế hoạch Chính phủ giao là 128,77 triệu tấn Trong đó, khai thác dầu thô đạt 84,75 triệu tấn, bao gồm 77,65 triệu tấn trong nước và 7,10 triệu tấn ở nước ngoài, cùng với 48,76 tỷ m³ khí được đưa về bờ Sản lượng dầu và khí không ngừng gia tăng hàng năm, đạt đỉnh vào năm 2015 với 18,76 triệu tấn dầu và 10,67 tỷ m³ khí PVN cũng đã đưa vào khai thác 24 m mới, trong đó có 18 m trong nước và 6 m ở nước ngoài.

Các mỏ mới dự kiến sẽ được khai thác và phát triển bao gồm mỏ Cá Tầm, Sao Vàng - Đại Nguyệt, mỏ khí Cá Voi Xanh, dự án khí Tây Nam Bộ (Lô B) và mỏ dầu - khí Condensate Cá Rồng Đ.

Tiềm năng dầu khí

Trong thời gian qua, PVN đã tích cực triển khai Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đến năm 2035 theo định hướng của Bộ Chính trị và Thủ tướng Chính phủ PVN đang đẩy mạnh công tác điều tra và tìm kiếm, thăm dò dầu khí trong nước, đặc biệt ở vùng nước sâu, xa bờ, nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển Mục tiêu đến năm 2035 là đánh giá được trữ lượng dầu khí trên toàn thềm lục địa Việt Nam Đồng thời, PVN cũng chú trọng duy trì và gia tăng sản lượng tại các khu vực đang khai thác, nghiên cứu và thăm dò các bể trầm tích mới cùng các dạng hydrocarbon phi truyền thống.

8 truyền thống (khí than, khí nông, khí đá phiến sét, khí hydrate ) để bổ sung trữ lượng phục vụ khai thác dầu khí

Từ năm 2016 đến nay, PVN đã hoàn thành công tác thu nổ địa chấn 2D và 3D theo chương trình hàng năm của các lô hợp đồng dầu khí, góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông Qua đó, PVN đã xác định tiềm năng dầu khí trong nước với trữ lượng 2P tại chỗ khoảng 4,27 tỷ m³ quy dầu và trữ lượng 2P đã phát hiện khoảng 1,52 tỷ m³ quy dầu, trong đó có 784 tỷ m³ khí.

Hình 2: Nước ta có các vùng biển và thềm lục địa rộng lớn và cũng là nơi có triển vọng dầu khí lớn

Tình hình Biển Đông phức tạp đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động tìm kiếm, thăm dò và phát triển của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Mặc dù khu vực truyền thống và nước nông vẫn có thể triển khai bình thường, nhưng tiềm năng trữ lượng còn lại không nhiều và cấu trúc địa chất phức tạp Thêm vào đó, giá dầu đã giảm kéo dài từ năm 2015 đến 2017 và tiếp tục suy giảm sâu do tác động của đại dịch Covid-19.

Năm 2020, các nhà thầu nước ngoài đã điều chỉnh kế hoạch, dẫn đến việc giảm 40% số lượng giếng khoan thăm dò thẩm lượng so với giai đoạn 2011 - 2015, với trung bình chỉ đạt 12 giếng mỗi năm trong giai đoạn 2016 - 2020 Việc tìm kiếm và thăm dò gặp khó khăn do cơ chế quản lý Quỹ Tìm kiếm thăm dò dầu khí chưa được phê duyệt Hơn nữa, Luật Dầu khí và các điều khoản hợp đồng hiện hành cũng đang gây trở ngại cho hoạt động này.

Chính sách ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ không đủ hấp dẫn so với các nước trong khu vực và không tương xứng với tiềm năng trữ lượng dầu khí hiện tại, dẫn đến việc không thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài.

SƠ LƢỢC VỀ HÓA DẦU, LỌC HÓA DẦU

Hóa dầu, lọc hóa dầu và sản phẩm

Hóa dầu, lọc hóa dầu là gì ?

Dầu thô là loại dầu mới được khai thác và chưa qua chế biến Để trở thành "vàng đen" quý giá, dầu thô cần trải qua quá trình biến đổi, bao gồm lọc dầu và hóa dầu.

Quá trình này gồm hai công đoạn:

Dầu m là hỗn hợp đa dạng các hiđrocacbon Để khai thác tối đa tiềm năng của dầu m, quá trình tách các hiđrocacbon được thực hiện dựa trên sự khác biệt về nhiệt độ sôi Quá trình này diễn ra trong các tháp chưng cất cao hàng chục mét.

- Trên cơ sở nhiệt độ sôi, dầu được chia thành các phân đoạn chủ yếu sau:

+ Dưới 1800C: Phân đoạn xăng được dùng làm nhiên liệu cho động cơ như xe máy, ô tô, máy bay v.v hoặc làm dung môi pha sơn cao su, keo dán

+ Từ 1800C đến 2500C: Phân đoạn dầu lửa (còn gọi là phân đoạn kerosen), được dùng làm dầu h a dân dụng, nhiên liệu cho máy bay phản lực v.v

+ Từ 2500C đêm 3500C: Phân đoạn gasoil nhẹ chủ yếu được dùng để làm nhiên liệu cho động cơ diesel

+ Từ 3500C đến 5000C: Phân đoạn dầu nhờn (còn gọi là phân đoạn gasoil nặng), được dùng làm dầu bôi trơn

+ Trên 5000C: Phân đoạn cặn dùng làm nhựa rải đường, nhiên liệu đốt lò v.v

Hình 3: Quá trình lọc dầu tách các sản phẩm khác nhau từ dầu mỏ dựa trên nhiệt độ sôi

Lọc hóa dầu là quá trình quan trọng để xử lý dầu thô, vốn là một hỗn hợp phức tạp chứa hàng nghìn chất khác nhau Trong quá trình khai thác, dầu thô thường bị lẫn với các tạp chất như nước và muối khoáng, cần được loại bỏ qua các bước khử muối và nước Sau khi xử lý, dầu thô sẽ được đưa vào chưng cất để thu được các sản phẩm khác nhau.

Trong ngành chế biến dầu, dầu thô được chưng cất ở áp suất khí quyển thành 11 phân đoạn với khoảng nhiệt độ sôi khác nhau, bao gồm khí đốt, LPG, Naphtha, Kerosene, Gas Oil và cặn dầu Cặn chưng cất có thể được tiếp tục xử lý bằng phương pháp chưng cất chân không để tách thành các phân đoạn khác Trước khi sử dụng, các phân đoạn này cần được nâng cấp chất lượng thông qua các quá trình chuyển hóa hóa học như reforming, đồng phân hóa, alkyl hóa, cracking nhiệt, cracking xúc tác, hydrocracking, cốc hóa và xử lý bằng hydro Việc lựa chọn quy trình chuyển hóa hóa học hoặc phụ gia phù hợp phụ thuộc vào yêu cầu chất lượng của sản phẩm cuối.

Xúc tác đóng vai trò quan trọng trong công nghệ lọc dầu và hóa dầu, là yếu tố then chốt cho các quy trình công nghệ này Nó không chỉ là chìa khóa cho sự phát triển của các công nghệ mới mà còn thúc đẩy việc tạo ra các sản phẩm mới.

Hình 4: Sơ đồ chưng cất, chế hóa và ứng dụng của dầu mỏ

Sản phẩm lọc dầu, lọc hóa dầu

Sản phẩm lọc dầu bao gồm các loại nhiên liệu như LPG, xăng, dầu hỏa, dầu DO, FO, cùng với các sản phẩm khác như dầu nhờn, nhựa đường, lưu huỳnh, sáp và cốc dầu Những sản phẩm này được sản xuất tại các nhà máy lọc dầu từ dầu thô, một loại nhiên liệu hóa thạch hình thành từ sự phân hủy của thực vật và động vật trong điều kiện không có không khí Dầu thô trải qua quá trình chưng tách để tạo ra các sản phẩm lọc dầu nguyên thủy, và hiện nay, tỷ lệ các thành phần tổng hợp mới trong sản phẩm đã tăng cao nhằm nâng cao chất lượng.

Sản phẩm hóa dầu được sản xuất từ nguyên liệu trung gian của NMLD hoặc khí thiên nhiên, chia thành ba nhóm chính dựa trên cấu trúc hóa học Nhóm đầu tiên là olefin, bao gồm ethylene, propylene, butylene và butadiene, là nguyên liệu cơ bản cho hóa chất công nghiệp, nhựa và cao su tổng hợp Nhóm thứ hai là hợp chất thơm (aromatics) như benzen, toluene và xylene, được sử dụng trong sản xuất thuốc nhuộm, chất tẩy rửa tổng hợp, nhựa và sợi nhân tạo Cuối cùng, khí tổng hợp, hỗn hợp CO và hydro, là nguyên liệu để sản xuất amoniac và methanol, trong đó amoniac là nguyên liệu quan trọng cho phân đạm và methanol là dung môi và nguyên liệu cho các sản phẩm hóa dầu khác.

Hình 5: Sản phẩm từ nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất

Hiện trạng và tương lai công nghiệp lọc – hóa dầu tại Việt Nam

Ngành lọc hóa dầu tại Việt Nam khởi đầu từ năm 1982 với các nhà máy lọc dầu đơn giản như Cát Lái, Phú Mỹ và Cần Thơ Các nhà máy này bao gồm cả sản xuất hóa dầu như PVC và chất hóa dẻo DOP, hỗ trợ cho ngành xây dựng Sự phát triển mạnh mẽ của ngành chỉ thực sự bắt đầu khi Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động vào năm 2009, hoàn thiện chuỗi giá trị từ dầu thô đến sản phẩm hóa dầu cuối cùng là nhựa PP Khi các tổ hợp lọc hóa dầu tiếp tục hoạt động, ngành công nghiệp này sẽ mở rộng từ lọc dầu sang hóa dầu và hóa dầu từ khí thiên nhiên.

Công nghệ và sản phẩm lọc hóa dầu tại Việt Nam sẽ phát triển theo xu hướng toàn cầu, với việc nâng cấp các tổ hợp lọc - hóa dầu như Dung Quất và Nghi Sơn để chế biến dầu thô chất lượng thấp thành sản phẩm sạch và ít ô nhiễm Ngoài xăng dầu, các sản phẩm mới như nhựa đường, dầu nhờn và lưu huỳnh sẽ được sản xuất bằng công nghệ hiện đại, tập trung vào hóa dầu từ khí thiên nhiên, tận dụng lợi thế của Việt Nam với các mỏ khí ngoài khơi Các liên hợp lọc hóa dầu như Dung Quất, Nghi Sơn, Long Sơn, Phú Mỹ, Cà Mau và miền Trung sẽ cung cấp nguyên liệu ổn định cho ngành công nghiệp hóa chất, phụ trợ và dệt may, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế thông qua các hiệp định thương mại như TPP, AFTA và WTO.

Hình 6: Dự án tổ hợp hóa dầu miền Nam

An toàn môi trường trong các nhà máy lọc dầu, lọc hóa dầu

Nhà máy Dung Quất

Nhà máy lọc dầu Dung Quất, tọa lạc tại khu kinh tế Dung Quất, là nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam, nằm ở xã Bình Thuận và Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Đây là một trong những dự án kinh tế lớn và quan trọng quốc gia của Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 21.

Diện tích sử dụng của khu vực này khoảng 956 ha, bao gồm 140 ha mở rộng trong tương lai, với 485 ha mặt đất và 471 ha mặt biển Hiện tại, khu nhà máy chính đang được triển khai trong diện tích này.

Khu vực nhà máy bao gồm 110 ha, với các khu bể chứa dầu thô 42 ha, bể chứa sản phẩm 43,83 ha, và tuyến dẫn dầu thô cùng cấp và xả nước biển 17 ha Tuyến ống dẫn sản phẩm chiếm 77,46 ha, trong khi cảng xuất sản phẩm rộng 135 ha Hệ thống phao nhập dầu không bến, tuyến ống ngầm dưới biển và khu vực vòng quay tàu có diện tích 336 ha Nhà máy có công suất tối đa 6,5 triệu tấn dầu thô mỗi năm, tương đương 148.000 thùng mỗi ngày, dự kiến đáp ứng khoảng 30% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu tại Việt Nam.

Hình 7: Nhà máy lọc dầu Dung Quất

Nhà máy sản xuất khí hóa l ng LPG, propylene, polypropylene, xăng A92 và A95, dầu h a, nhiên liệu phản lực, diesel và dầu nhiên liệu Với 14 phân xưởng chế biến công nghệ, 10 phân xưởng năng lượng phụ trợ và 8 hạng mục ngoại vi, nhà máy đảm bảo quy trình sản xuất hiệu quả và hiện đại Các hạng mục chính của nhà máy đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm năng lượng thiết yếu.

- Khu bể chứa dầu thô

- Các phân xưởng phụ trợ

- Các phân xưởng công nghệ

- Khu bể chứa trung gian

- Đường ống dẫn và khu bể chứa sản phẩm

- Cảng xuất sản phẩm bằng đường biển và trạm xuất bằng đường bộ

- Nhà máy sản xuất polypropylene

Dầu thô được đưa vào nhà máy lọc dầu qua hệ thống phao rót dầu một điểm neo (SPM), có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải từ 80.000 đến 150.000 tấn, và sau khi nâng cấp có thể đạt 300.000 tấn Đường ống dẫn dầu từ phao đến khu bể chứa dài khoảng 4,2 km.

Dầu thô được bơm vào khu bể chứa gồm 08 bể, mỗi bể có dung tích 65.000m³ Sau đó, dầu thô được chuyển đến tháp chưng cất khí quyển với công suất 140.000 thùng mỗi ngày để tách thành các phân đoạn như Gas, Naphtha, Kerosene, Gas oil nặng và nhẹ, cùng với cặn khí quyển.

Khí Gas được chuyển đến phân xưởng chế biến để thu hồi Propylene, từ đó sản xuất khí hóa lỏng Propylene sau đó được đưa đến nhà máy Polypropylene để chế biến thành hạt nhựa.

Naptha được đưa đến các phân xưởng công nghệ để nâng cao chỉ số octan phối trộn xăng

Kerosene được đưa đến phân xưởng xử lý kerosene để cho ra nhiên liệu phản lực Jet A1 và dầu h a

Gas oil nặng và nhẹ được đưa đến các phân đoạn xử lý cho ra dầu diesel

Cặn khí quyển được đưa đến phân xưởng xử lý để cho ra các sản phẩm: xăng, diesel, dầu nhiên liệu

Nhà máy được điều hành từ Nhà điều khiển trung tâm thông qua hệ thống điều khiển phân tán DCS hiện đại, cho phép điều khiển, giám sát, ghi nhận, lưu trữ và hiển thị dữ liệu về quá trình vận hành Để hỗ trợ hoạt động của các phân xưởng công nghệ, Nhà máy lọc dầu (NMLD) có 10 phân xưởng phụ trợ, bao gồm Nhà máy điện, các phân xưởng cung cấp khí nén và khí điều khiển, hóa chất, nước làm mát, nước cứu hỏa, nước sinh hoạt, khí nhiên liệu, dầu nhiên liệu, và phân xưởng xử lý nước thải.

Các sản phẩm công nghệ được chuyển đến khu bể chứa trung gian, nơi chúng được kiểm tra chất lượng và phối trộn với tỉ lệ hợp lý Sau đó, sản phẩm sẽ được chuyển đến khu bể chứa sản phẩm qua một đường ống dài khoảng 7 km.

Nhà máy lưu trữ sản phẩm trong 22 bể chứa thành phẩm, sau đó xuất bán qua đường bộ và cảng biển, đảm bảo cung cấp tất cả các sản phẩm của mình ra thị trường.

Cảng xuất sản phẩm bằng đường biển tại vịnh Dung Quất, cách Khu bể chứa sản phẩm khoảng 3 km, có khả năng xuất hàng qua 6 bến cho tàu có trọng tải từ 1.000 đến 30.000 tấn.

Để bảo vệ khu Cảng xuất sản phẩm của NMLD và các công trình khác trong vịnh Dung Quất khỏi sóng, một Đê chắn sóng đã được xây dựng với tổng chiều dài gần 1.600m, mặt đê rộng 11m và chiều cao từ 10 đến 11m so với mặt nước biển.

3.1.3 An toàn môi trường trong Nhà máy lọc dầu Dung Quất

Nhà máy lọc dầu Dung Quất không chỉ tập trung vào việc vận hành thương mại an toàn mà còn chú trọng bảo vệ môi trường thông qua việc áp dụng công nghệ xử lý nước thải và chất thải hiện đại từ các nước G7 Với tinh thần nỗ lực vì môi trường xanh – sạch – đẹp, Dung Quất xứng đáng được mệnh danh là nhà máy lọc dầu sạch nhất Việt Nam.

Chất thải từ hoạt động của Nhà máy bao gồm nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất, khí thải, bụi, chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường và chất thải nguy hại Tất cả các loại chất thải này đều được xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất

Nhà máy được trang bị hệ thống theo dõi chất lượng môi trường liên tục, giúp cảnh báo sớm các thông số có nguy cơ vượt quá tiêu chuẩn, từ đó cho phép thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời.

Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn

Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, tọa lạc tại khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa, cách Hà Nội 200km, là một dự án lọc hóa dầu quan trọng với tổng mức đầu tư hơn 9 tỷ USD Dự án có công suất 8,4 triệu tấn dầu thô mỗi năm, có khả năng nâng cấp lên 10 triệu tấn, và sản xuất các sản phẩm như LPG, xăng, diesel, và dầu hoả Khu kinh tế Nghi Sơn được xem là trọng điểm phát triển phía Nam của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, kết nối Bắc Bộ với Trung Bộ và thị trường Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan Nhà máy được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 70 năm và nhiều ưu đãi khác, phục vụ chủ yếu cho thị trường trong nước.

Hình 8: Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn

Dự án từng được kỳ vọng sẽ cải thiện nền kinh tế Việt Nam hiện đang đối mặt với nguy cơ thua lỗ khoảng 3.500 tỷ đồng mỗi năm trong 10 năm đầu Hơn nữa, chất lượng đầu ra của dự án không đạt tiêu chuẩn Việt Nam.

Vào đầu tháng 5 năm 2018, nhà máy lọc dầu đã sản xuất thành công dòng xăng dầu thương mại đầu tiên, với hơn 5.000 m³ xăng RON92 được xuất xưởng, và dự kiến sẽ chính thức vận hành thương mại sau 3 tháng.

Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu dầu mỏ từ năm 1991, với sản lượng đạt vài triệu tấn Dầu thô Việt Nam có đặc điểm là ngọt và chứa hàm lượng lưu huỳnh rất thấp (0,041% khối lượng), làm cho nó trở thành nguyên liệu lý tưởng cho các nhà máy lọc dầu Tuy nhiên, dự trữ dầu của Việt Nam còn hạn chế Để đảm bảo hoạt động bền vững cho nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, Việt Nam đã hợp tác và nhập khẩu dầu thô từ Trung Đông, bao gồm hỗn hợp dầu thô từ Kuwait, Murbei và Black Tiger (Việt Nam).

Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng 100% dầu thô Kuwait mang lại hiệu quả tối ưu, dẫn đến quyết định chọn dầu thô Kuwait làm nguyên liệu chính cho nhà máy lọc dầu Nghi Sơn Để đảm bảo nguồn cung ổn định, nguyên liệu Murbei cũng được đưa vào sử dụng.

Các sản phẩm thương mại của Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn là:

- Các sản phẩm năng lượng: khí hóa l ng (LPG), xăng dầu, Kerosene, Jet A 1, diesel, dầu FO (Fuel Oil)

- Các sản phẩm phi năng lượng: benzen, paraxylene, polypropylene và lưu huỳnh

3.2.3 An toàn môi trường trong Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn

Dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn được khởi công vào ngày 23/10/2013 và sau hơn 4 năm xây dựng, vào ngày 28/2/2018, Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn đã tổ chức lễ ký kết khởi động Nhà máy Ngay sau đó, Nhà máy bắt đầu giai đoạn vận hành thử nghiệm, đồng thời thực hiện các công trình bảo vệ môi trường theo cam kết trong Báo cáo Đánh giá tác động môi trường Sau thời gian vận hành thử nghiệm ổn định và đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, vào ngày 5/8/2019, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp Giấy xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường cho dự án "Liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn".

Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn cam kết thực hiện chủ trương "Không đánh đổi môi trường và phát triển kinh tế" bằng cách coi công tác bảo vệ môi trường là ưu tiên hàng đầu Để đạt được điều này, nhà máy đã đầu tư khoảng 300 triệu USD vào việc xây dựng và lắp đặt các công trình bảo vệ môi trường Họ áp dụng công nghệ tiên tiến từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu nhằm giảm thiểu phát thải vào không khí, nước và đất Tất cả các nguồn thải phát sinh đều được xử lý theo tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt.

Thiết kế nhà máy đã được tối ưu hóa để sử dụng năng lượng hiệu quả và thu hồi nhiệt từ các quy trình sản xuất, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và quy định hiện hành của Việt Nam.

Hình 9: Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa), tháng 01/2022

Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn đã thực hiện các biện pháp quản lý chất lượng không khí nhằm giảm thiểu ô nhiễm trong quá trình sản xuất Để đáp ứng tiêu chuẩn khí thải, nhà máy đã lắp đặt các thiết bị và công nghệ xử lý khí thải như ống khói có chiều cao phù hợp, đầu đốt NOx nồng độ thấp cho lò gia nhiệt, và hệ thống khử NOx bằng xúc tác chọn lọc (SCR) Ngoài ra, nhà máy còn sử dụng hệ thống lọc bụi tĩnh điện (ESP), hệ thống khử NOx bằng nước biển cho khí thải nồi hơi, và tháp rửa ướt để khử SOx và bụi trong khí thải lò đốt khí CO Đặc biệt, phân xưởng thu hồi lưu huỳnh được thiết kế để tối đa hóa việc thu hồi lưu huỳnh từ khí chua, cùng với hệ thống thu hồi hơi Hidrocacbon cho khu vực xuất sản phẩm.

Hệ thống giám sát tự động tại Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn theo dõi khí thải ra môi trường, bao gồm các thông số SOx, NOx và bụi, với 20 ống khói được lắp đặt đúng theo yêu cầu trong quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường Điều này đảm bảo rằng các chỉ tiêu khí thải luôn đạt tiêu chuẩn cho phép Bên cạnh đó, nhà máy cũng đã thiết lập 3 trạm giám sát chất lượng không khí xung quanh tại các khu vực khác nhau để tăng cường kiểm soát ô nhiễm.

Hệ thống xử lý nước thải tập trung của Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn được thiết kế với hai dây chuyền xử lý song song, mỗi dây chuyền có công suất 350m³/giờ Tất cả nước thải phát sinh từ quá trình sản xuất và sinh hoạt đều được thu gom và xử lý qua các giai đoạn, bao gồm xử lý bậc 1 - cơ học (tách dầu sơ cấp và thứ cấp) và hóa lý (keo tụ, tuyển nổi).

Hệ thống xử lý nước thải bao gồm các phương pháp sinh học và hóa lý, như oxy hóa bằng ozone và hấp thụ bằng than hoạt tính, cùng với quy trình keo tụ và lắng Ngoài ra, còn có cụm xử lý kiềm thải và cụm oxy hóa bằng xúc tác để xử lý khí thải bay hơi Nước thải sau khi được xử lý sẽ được giám sát liên tục qua hệ thống tự động, theo dõi các thông số quan trọng như lưu lượng, nhiệt độ, pH, COD, TSS, tổng nitơ, tổng photpho, phenol và tổng dầu mỡ khoáng tại hố xả thải.

Nước thải từ phân xưởng khử khoáng, hệ thống FGD và nước biển làm mát được xử lý và giám sát liên tục qua hệ thống quan trắc tự động, đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành trước khi thải ra môi trường Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn cũng định kỳ phối hợp với đơn vị chức năng để kiểm tra chất lượng nước thải sau xử lý, đảm bảo các chỉ tiêu ô nhiễm thấp hơn giới hạn cho phép theo QCVN 40: 2011/BTNMT.

Hình 10: Hệ thống xử lí nước thải tập trung và lò đốt bùn thải

Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn thực hiện quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại theo Thông tư 36/2015/TT-BTNMT, đã đăng ký Sổ chủ nguồn thải mã số QLCTNH: 38000296.T với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa Nhà máy có 18 kho lưu trữ chất thải nguy hại tạm thời và 01 kho tập trung rộng 700 mét vuông để lưu trữ chất thải trước khi chuyển cho Nhà thầu Để đảm bảo xử lý chất thải hiệu quả, Nghi Sơn đã ký hợp đồng với Công ty Cổ phần Môi trường Nghi Sơn - NSEC để thu gom, vận chuyển và xử lý toàn bộ lượng chất thải nguy hại và thông thường phát sinh trong quá trình hoạt động.

Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn đã đầu tư xây dựng lò đốt tầng sôi công nghệ hiện đại của Nhật Bản, đánh dấu lần đầu tiên công nghệ này được áp dụng tại Việt Nam Lò đốt này được thiết kế để xử lý bùn thải phát sinh từ hệ thống xử lý nước thải tập trung và dầu thải từ phân xưởng sản xuất hạt.

Ngày đăng: 28/06/2023, 07:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w