Quyền lập pháp Quyền lập pháp là quyền về toàn thể nhân dân, được trao cho hội nghị đại biểu nhân dân là Quốc hội, quyết định các vấn đề quan trọng, cốt yếu của đất nước.. II/ Tổ chức
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ NGÀNH KINH DOANH THƯƠNG MẠI
Trang 2Phần IV: Sự phân công của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp T13
Phần V: Sự kiểm soát của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp T18
Danh mục tài liệu tham khảo T23
Trang 3PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ 1: Hiến pháp 2013 có quy định: Quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước ta thể hiện nguyên tắc trên như thế nào?
Bài làmPHẦN I: Ba quyền và sơ đồ tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước
I/ Ba quyền
1 Quyền lập pháp
Quyền lập pháp là quyền về toàn thể nhân dân, được trao cho hội nghị đại biểu nhân dân là Quốc hội, quyết định các vấn đề quan trọng, cốt yếu của đất nước
* So sánh với ba quyền ở Hoa Kỳ
Ở các nước tư bản, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể, việc áp dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước không hoàn toàn giống nhau Thực tế cho thấy, có thể có
ba mô hình áp dụng nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản, đó là mô hình phân quyền cứng rắn,thể hiện điển hình ở Mỹ; mô hình phân quyền mềm dẻo, thể hiện điển hình ở Anh, Đức; mô hình phân quyền hỗn hợp (trung gian), thể hiện điển hình ở Pháp, Nga Sự khác nhau giữa ba mô hình này thể hiện ở cơ cấu các
Quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là ba quyền, tạo thành
quyền lực nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc kiểm tra,
giám sát lẫn nhau, taọ ra sự cân bằng giữa các quyền để
đảm bảo quyền lực nhà nước.
Trang 4thiết chế quyền lực tối cao, địa vị của từng thiết chế cũng như mối quan
hệ giữa chúng Ở nước ta hiện nay, nguyên tắc phân quyền không được chính thức thừa nhận, song những hạt nhân hợp lý của nguyên tắc này
đã được thừa nhận và áp dụng trong tổ chức bộ máy nhà nước
1 Quyền lập pháp
Xã hội nào cũng cần luật pháp Tại Hoa Kỳ, quyền làm luật được trao cho Quốc hội
2 Quyền hành pháp
Quyền hành pháp do Tổng thống đứng đầu - người đóng vai trò
là nguyên thủ quốc gia trong quan hệ ngoại giao và là Tổng tư
lệnh cho tất cả các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ Tổng thống chịu trách nhiệm triển khai và thực thi các luật do Quốc hội viết ra
Chính phủ được thiết lập dựa trên “ Chủ nghĩa Liên bang”, là sự chia sẻ quyền lực giữa chính quyền quốc gia và tiểu bang
3 Quyền tư pháp
Đứng đầu là Tòa án tối cao Hoa Kỳ, cấp cao nhất là vị trí chánh
án Hoa Kỳ Thành viên tòa án tối cao được bổ nhiệm bởi tống
thống đương nhiệm khi trống chỗ
II/ Sơ đồ bộ máy các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Việt
Ủy ban thường vụ
Quốc hội Hội đồng dân tộc Ủy ban Quốc hội
Chính phủ Chủ tịch nước: Nguyễn Xuân Phúc
18 bộ 4 cơ quan ngang
bộ
8 cơ quan thuộcChính phủTòa án nhân dân
3 Cơ quan tư pháp
Quyền lực nhà nước được phân chia theo cả chiều ngang ( tam quyền
phân lập) và chiều dọc( giữa liên bang với tiểu bang)
Trang 5PHẦN II: Tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước thể hiện nguyên tắc quyền lực của nhà nước là thống nhất.
“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp, tư pháp” Đây vừa là quan điểm vừa là nguyên tắc chỉđạo công cuộc tiếp tục, xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ mới - Thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới cả
xã hội phải phục tùng mệnh lệnh của mình nhằm đảm bảo an ninh, duy trì trật tự xã hội
Có một số người cho rằng, quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng sự thống nhất đó tập trung vào Quốc hội Do vậy, Quốc hội được Hiến pháp xác nhận là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Và với vị trí pháp lý đó, những người này cho rằng Quốc hội là cơ quan có toàn quyền, là cơ quan cấp trên của các quyền hành pháp và tư pháp Một số khác lại cho rằng, trong nhà nước kiểu mới như nhà nước ta, giai cấp công nhân và Nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của một Đảng, ngày càng thống nhất về lợi ích, trong nội bộ không có sự phân chia thành phe phái đối lập như trong nhà nước tư sản , nên thống nhất quyền lực nhà nước là yếu tố cơ bản, duy nhất giữ vai trò quyết định trong tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước mà không cần thiết phải phân công quyền lực nhà nước
Theo nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực nhà nước thống nhất là ở Nhân dân Quan niệm thống nhất quyền lực nhà
nước là ở Nhân dân thể hiện ở nguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về Nhân dân”. Điều 2 của Hiến pháp ghi rõ: (1) Nhà nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân (2) Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà
Trang 6nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Cũng trong Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên trong các văn bản Hiến
pháp của nước ta, chữ "Nhân dân" được viết hoa Điều này cho thấy,
vai trò của Nhân dân đã được nhìn nhận một cách sát thực hơn Và điểm mới về nhận thức này không chỉ thể hiện qua cách "nhấn" đó, mà còn là quan điểm nền tảng xuyên suốt nội dung của Hiến pháp sửa đổi; chỉ rõ nguồn gốc, bản chất, mục đích, sức mạnh của quyền lực Nhà nước ta là ở Nhân dân, thuộc về Nhân dân, Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước
II/ Tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước
Sự thống nhất ở đây thể hiện ở hai phương diện, về phương diện chính trị, quyền lực nhà nước tập trung thống nhất ở Nhân dân, thể hiện qụa nguyên tắc “Chủ quyền nhân dân” Về phương diện tổ chức thực hiện, quyền lực nhà nước thống nhất ở Quốc hội
Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Quốc hội Việt Nam được
tổ chức theo mô hình là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện ba chức năng: lập hiến, lậppháp; quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Quốc hội bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các thiết chế dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Quốc hội
là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất bởi vì theo quy định của Hiến pháp, ở nước ta, tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước Quốc hội do Nhân dân bầu ra, là cơ quan nhà nước cao nhất thực hiện quyền lực của Nhân dân Quốc hội là cơ quyền lực nhà nước cao nhất còn thể hiện ở chức năng của Quốc hội Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền làmHiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật Bằng việc làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, Quốc hội quy định các vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất về hình thức và bản chất của Nhà nước; ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; quy định các nội dung cơ bản về chế độ kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, bảo vệ Tổ quốc và về tổ chức bộ máy nhà nước Bằng việc làm luật và sửa đổi luật, Quốc hội điều chỉnh các quan hệ xã hội trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội Bên cạnh đó, Quốc hội là cơ quan có quyền quyết định các vấn đề quantrọng của đất nước, đó là những chủ trương lớn, những vấn đề quốc kế dân sinh, những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Không
Trang 7một cơ quan nào đứng trên Quốc hội trong xem xét, đánh giá việc thi hành Hiến pháp, luật - những văn bản mà chỉ Quốc hội mới có quyền ban hành Các cơ quan do Quốc hội thành lập và người giữ các chức vụ
do Quốc hội bầu, phê chuẩn phải chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trước Quốc hội và chịu sự giám sát của Quốc hội
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân được thể hiện ở các mặt sau đây:
- Trước hết về cách thức thành lập, Quốc hội là cơ quan do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếukín Quốc hội đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân cả nước,được Nhân dân tin tưởng uỷ thác quyền lực nhà nước, thay mặt Nhân dân quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước và chịu trách
nhiệm trước Nhân dân cả nước
- Về cơ cấu tổ chức, đại biểu Quốc hội là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất cấu thành Quốc hội Đại biểu Quốc hội là những công dân ưu tú trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội, đại diện cho các tầng lớp Nhân dân và các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam Quốchội là hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân, là biểu trưng sức mạnh trí tuệ của cả dân tộc Việt Nam
- Chức năng và nhiệm vụ của Quốc hội được quy định toàn diện trên các lĩnh vực: lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước, nhằm phục vụ cho lợi ích chung của toàn thể Nhân dân Có thể nói,77 năm hình thành và phát triển của Quốc hội Việt Nam là 77 năm Quốc hội tận tâm cống hiến vì lợi ích quốc gia và dân tộc, nói lên tiếng nói của Nhân dân, hành động theo ý chí và
nguyện vọng của Nhân dân
1 Tổ chức của Quốc hội theo pháp luật hiện hành
Tổ chức của Quốc hội bao gồm cơ cấu bên trong được lập ra để giúp Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình Tổ chức Quốc hội do Hiến pháp và luật tổ chức quy định
Tổ chức của Quốc hội được quy định gồm có : Uỷ ban thường vụ Quốchội ( UBTVQH) , Hội đồng dân tộc (HĐDT) và các uỷ ban (UB) của Quốc hội
Hiến pháp năm 1992 quy định , tách Hội đồng Nhà nước thành 2 chế định : Chủ tịch nước và Uỷ ban thường vụ Quốc hội Chủ tịch nước đảm nhiệm nhiệm vụ nguyên thủ quốc gia còn UBTVQH là cơ quan thường trực của Quốc hội
- UBTVQH gồm có : chủ tịch Quốc hội, phó chủ tịch Quốc hội và các
uỷ viên Chủ tịch Quốc hội làm chủ tịch UBTVQH , phó chủ tịch
Trang 8Quốc hội làm phó chủ tịch UBTVQH ( theo điều 5 Luật tổ chức Quốc hội năm 2003).
- Hội đồng dân tộc gồm : chủ tịch các phó chủ tịch và các uỷ viên do Quốc hội bầu ra trong đại biểu Quốc hội Số phó chủ tịch và số uỷ viên của Hội đồng dân tộc do Quốc hội quyết định Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về các vấn đề dân tộc, thực hiện quyền giám sát thi hành chính sách dân tộc , các chương trình , kế hoạch phát triển kinh tế xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc ítngười
Uỷ ban của Quốc hội được chia thành hai loại : Uỷ ban thường trực và
uỷ ban lâm thời
- Uỷ ban thường trực làm nhiệm vụ nghiên cứu và kiến nghị về luật ,
dự án pháp lệnh và các dự án khác , những báo cáo được Quốc hội hoặc UBTVQH giao, trình Quốc hội UBTVQH ý kiến vè chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật quy định, kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của uỷ ban Theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật tổ chức Quốc hội bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/07/2007 thì Quốc hội có Uỷ ban 9 uỷ ban thường trực đó là : Uỷ ban pháp luật ; Uỷban tư pháp ; Uỷ ban kinh tế ; Uỷ ban tài chính; Uỷ ban ngân sách ;
Uỷ ban quốc phòng và an ninh ; Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường; Uỷban đối ngoại Hiến pháp năm 1992 còn quy định mỗi uỷ ban phải có một số uỷ viên phải làm việc theo chế độ chuyên trách
- Uỷ ban lâm thời là những uỷ ban được Quốc hội thành lập ra khi xét thấy cần thiết để nghiên cứu thẩm tra một dự án hoặc điều tra một vấn
đề nhất định Sau khi hoàn thành nhiệm vụ uỷ ban này sẽ giải thể Ví
dụ : Uỷ ban sửa đổi hiến pháp, Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội Uỷ ban của Quốc hội có chủ nhiệm , các phó chủ nhiệm và các uỷ viên Số phó chủ nhiệm và số uỷ viên do Quốc hội quyết định Thành viên của uỷ ban của Quốc hội do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, số thành viên hoạt động chuyên trách do UBTVQH quyết định
2 Hoạt động của Quốc hội theo pháp luật hiện hành
Xuất phát từ đặc điểm của Quốc hội nói chung , Quốc hội nước ta có phương thức hoạt động chủ yếu : kỳ họp , phiên họp và quyết định theo
đa số Ngoài phương thức hoạt động chủ yếu đó ,Quốc hội còn sử dụng các phương thức hoạt động khác thông qua hoạt động của UBTVQH, của văn phòng Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội- đây là hoạt động thường xuyên của Quốc hội
Trang 9Kỳ họp và các phiên họp của Quốc hội là hình thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội Tại kỳ họp, Quốc hội thảo luận những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và nhân dân; thực hiện quyền giám sát tối cao đối vớihoạt động của các cơ quan nhà nước Quốc hội học thường lệ một năm
2 kỳ, do UBTVQH triệu tập Trong trường hợp chủ tịch nước, thủ
tướng chính phủ, hoặc ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, UBTVQH triệu tập quốc hội họp bất thường ( Điều 86 , hiến định pháp 1992) Kỳ họp thường lệ của Quốc hội được chia thành nhiều phiên họp là các buổi họp toàn thể của Quốc hội tại hội trường Để đảm bảo cho kỳ họp có hiệu quả thực sự, mọi kỳ họp phải được tiến hành theo trình tự bắt buộc Trình tự tiến hành các
kỳ họp của Quốc hội được quy định một số điểm chính trong các điều khoản của Hiến pháp, luật tổ chức Quốc hội Tiến trình kỳ họp được chia thành 3 giai đoạn : chuẩn bị kỳ họp, thảo luận là thông qua các dự
án Ngoài trình tự trên, nội quy kỳ họp có quy định các thức tiến hành
kỳ họp thứ nhất, trình tự tiến hành chất vấn và trình tự lập pháp
Thứ hai là hoạt động của UBTVQH và các cơ quan khác của Quốc hội Trong thời gian giữa hai kì họp Quốc hội, UBTVQH, HDDT và các uỷ ban Quốc hội tiến hành các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của mình Tuỳ theo sự phân công của Quốc hội, có những loại việc thuộc quyền quyết định của mỗi cơ quan : thẩm quyền ban hành pháp lệnh; nghị quyết của UBTVQH ; thẩm quyền giám sát, khảo sát thẩm tra của Hội đồng dân tộc, các uỷ ban Quốc hội … ngoài ra các cơ quan này phải báo cáo trước Quốc hội về công việc mình đã làm để Quốc hộixem xét quyết định
Thứ ba, hoạt động của đoàn đại biểu Quốc hội Trong thời gian Quốc hội không họp , hoạt động của đoàn đại biểu là hiện thân của Quốc hội tại các địa phương Theo quy định của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội thì đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tổ chức để các đại biểu trong đoàn tiếp xúc cử tri ; đôn đốc việc giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân ; tham gia các hoạt động xậy dựng pháp luật , hoạt động giám sát thi hành pháp luật ở địa
phương ; phối hợp hoạt động với UBTVQH, HDDT các uỷ ban của Quốc hội để giữ mối liên hệ của đại biểu với các cơ quan Quốc hội, chính quyền địa phương
PHẦN III: Sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
I/ Khái niệm về sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước:
Theo nghĩa đơn giản, "phối hợp" có nghĩa là tổ chức hoạt động
cho hai hoặc nhiều thành phần cơ quan, tổ chức ban ngành Khác
Trang 10với khái niệm hợp tác, khái niệm phối hợp nhấn mạnh vào một
quá trình kết hợp hoạt động của hai hay nhiều cơ quan, tổ chức một cách hài hòa và đồng bộ để cùng đạt được một mục đích và lợi ích chung
Có thể phân loại phối hợp theo chiều ngang (phối hợp giữa các cơquan cùng một cấp chính quyền) và phối hợp theo chiều dọc (phốihợp giữa các cấp chính quyền) Phối hợp cũng có thể được phân loại theo quy trình quản lý: Phối hợp trong hoạch định chính sách,xây dựng thể chế và phối hợp trong tổ chức thực hiện chính sách,
cơ chế quản lý; phối hợp ở cấp trung ương và phối hợp ở cấp địa phương
⇒ Phối hợp giúp mỗi cơ quan thực hiện nghiêm chỉnh chức
năng, nhiệm vụ để bảo đảm sự thống nhất, nhịp nhàng trong
quá trình thực thi quyền lực nhà nước
1 Sự phối hợp trong các cơ quan tổ chức nhà nước:
Sự phối hợp trong việc thực hiện quyền lập pháp:
- Hiến pháp 2013 quy định Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn:
“Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật’’ Vì vậy, Quốc hội là cơ quan duy nhất có thẩm quyền thông qua các dự
-Như vậy, Hiến pháp cũng quy định sự tham gia và phối hợp của nhiều chủ thể khác nhau trong việc trình các dự án luật, cụ thể ở điều
84 Hiến pháp 2013 đã xác định:
Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc,
Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức
thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội,
Trang 11trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật, pháp lệnh
và dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội
- Ngoài ra, việc sửa đổi hay bổ sung các hiến pháp không thể chỉ dựavào quyết định của duy nhất Quốc hội mà còn dựa trên ý kiến của
“Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội”, cụ thể điều 120 của Hiến pháp 2013 đã quy định:
1 Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành
2 Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội
3 Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp
4 Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đạibiểu Quốc hội biểu quyết tán thành Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định
⇒ Như vậy, Hiến pháp mới đã ghi nhận quyền sáng kiến lập pháp của nhiều chủ thể, đồng thời cũng quy định rõ sự khác nhau về
quyền sáng kiến lập pháp của cá nhân đại biểu Quốc hội với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Sự tham gia của Chính phủ,
Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức khác trong quá trìnhsoạn thảo và trình các dự án luật đã thể hiện rõ sự phối hợp giữa Quốc hội với các cơ quan hành pháp và tư pháp trong việc thực hiện quyền lập pháp
Sự phối hợp trong việc thực hiện quyền hành pháp:
- Hiến pháp năm 2013 khẳng định Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp
Trang 12Chính phủ có quyền ban hành các chính sách, văn bản độc lập để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
- So với Hiến pháp năm 1992 khi quy định Chính phủ chỉ có quyền ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành luật, nghị quyếtcủa Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì hiến pháp mới đã xác định chặt chẽ vai trò và khẳng định sự độc lập của Chính Phủ trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
- Trong việc thực hiện quyền hành pháp, sự phối hợp giữa Quốc hội
và Chính phủ còn được thể hiện ở quyền quyết định và hoạch định chính sách Theo đó, Quốc hội quyết định những chính sách dài hạn,mang tầm định hướng quốc gia còn Chính phủ sẽ quyết định những chính sách ngắn hạn, mang tính chất quản lý và điều hành hầu hết các lĩnh vực của đời sống như kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đảm bảo nền hành chính thống nhất
- Ngoài ra theo Hiến pháp 2013, Quốc hội còn có trách nhiệm tham gia vào việc quy định tổ chức và hoạt động của Chính phủ, cụ thể đã
được quy định rõ qua khoản 7, 8, 9 và 10 của điều 70:
7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường
vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu
cử quốc gia,
Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia
8. Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
9. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành
chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung