PHẦN IICƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN 2.1.1 Cơ sở lý luận về rủi ro 2.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản Một trong những thách thức lớn nhất đối với các hộ nông dân l
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học hàm, học vị nào
Tôi cam đoan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày 18 tháng 05 năm 2008
Người cam đoan
Nguyễn Thị Tâm
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới UBND xã An Bình đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và những người than đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học và thực hiện đề tài.
Do thời gian nghiên cứu hạn chế và bản thân còn ít kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự động viên, đóng góp ý kiến của thầy cô, gia đình, bạn bè.
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2008.
Sinh viên
Nguyễn Thị Tâm
Trang 3MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
iv
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Trang 5Hình 2.1: Các quyết định sản xuất trong điều kiện có rủi ro Error: Referencesource not found
Hình 2.2: Sự lựa chọn liên quan đến rủi ro Error: Reference source not foundHình 2.3: Các đường bàng quan về rủi ro và thu nhập kỳ vọng Error:Reference source not found
Hình 4.1: Rủi ro xuất hiện trên địa bàn Error: Reference source not found
v
Trang 7PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghề nông từ xa xưa vốn là nghề mang lại sinh kế ổn định cho phầnlớn dân cư nông nghiệp song nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro làm giảmkhả năng sinh lời, thậm chí tước đoạt hoàn toàn nguồn thu từ sản xuất nôngnghiệp Trong những năm gần đây, trên thế giới cũng như ở Việt Nam liêntiếp xảy ra những thiên tai, dịch bệnh để lại hậu quả nặng nề, bất ổn như dịchcúm gia cầm, dịch lợn tai xanh, tình hình bão lũ, sâu bệnh hại cây trồng… đãgây ra những thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp Người nông dân là đốitượng trực tiếp phải đối mặt với những rủi ro trong nông nghiệp Vì vậy họcần có những quyết định để ứng xử với những rủi ro đó Qua thực tế lâu đời,người nông dân đã có biện pháp phòng tránh và hạn chế thiệt hại do rủi ro gây
ra Họ là người đưa ra quyết định, kế hoạch sản xuất của mình trong khikhông có thông tin để biết kết quả của những quyết định ấy do họ thường làmviệc trong hoàn cảnh năng suất và giá cả bấp bênh Ứng xử của nông hộ có sựkhác nhau với mỗi loại rủi ro, với mỗi địa phương
Xã An Bình là một xã thuần nông của tỉnh Bắc Ninh Trong những nămgần đây, kinh tế của xã có phần khởi sắc, nhiều hộ trong xã thực hiện chuyểnđổi cơ cấu sản xuất tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, giảm dần tỷ trọng ngànhtrồng trọt trong cơ cấu kinh tế Xu hướng chuyển đổi đó góp phần đẩy mạnhsản xuất hàng hoá, tiêu thụ thực phẩm, nâng cao thu nhập của các hộ giađình.Tuy nhiên trong điều kiện thời tiết, dịch bệnh khá phức tạp hiện nayngười chăn nuôi trong xã đang gặp phải nhiều rủi ro xảy ra đặc biệt là rủi rodịch bệnh, do thị trường khiến cho các hộ khó khăn trong việc ra quyết địnhsản xuất Xuất phát từ thực tiễn này câu hỏi đặt ra cho các nhà khoa học vàquản lý là nông hộ đã và đang ứng xử như thế nào với các rủi ro đặc biệt rủi
Trang 8ro trong chăn nuôi Họ đã phòng tránh và khắc phục chúng ra sao Hộ cóquyết định như thế nào trong sản xuất khi có rủi ro
Để trả lời các câu hỏi trên đề tài của chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu hành vi ứng xử của nông hộ đối với rủi ro trong chăn nuôi tại xã An Bình, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
• Tìm hiểu thực trạng rủi ro trong chăn nuôi xảy ra trên địa bàn xã
• Phân tích các biện pháp để thích ứng, đối phó với rủi ro trong chănnuôi của nông hộ trên địa bàn xã
• Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong chăn nuôi ở các nônghộ
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Từ 10/1/2008 đến 10/5/2008
Không gian: Điạ bàn xã An Bình- huyện Thuận Thành- tỉnh Bắc Ninh
Trang 9PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN
2.1.1 Cơ sở lý luận về rủi ro
2.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Một trong những thách thức lớn nhất đối với các hộ nông dân là thườngxuyên gặp rủi ro trong sản xuất cũng như trong đời sống Rủi ro sẽ tác độngtrực tiếp đến quyết định của người nông dân, nó ảnh hưởng đến lợi ích củangười nông dân Vì thế, vấn đề rủi ro ngày càng trở thành một vấn đề đángquan tâm của tất cả các ngành và phần lớn nông hộ Từ rủi ro trong phân tíchkinh tế được dùng để đề cập tới tình trạng một quyết định có thể có nhiều kếtquả với các khả năng khác nhau Nhưng trước tiên cần phân biệt hai kháiniệm rủi ro và không chắc chắn
Không chắc chắn (Uncertainty)
Trong môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội của người nông dân có rấtnhiều điều không chắc chắn xảy ra gây bất lợi đối với mỗi nông dân nhưthiên tai, giảm giá nông sản, tăng giá đầu vào, bệnh tật… Các sự kiện đó xảy
ra với những xác suất mà không biết trước được
Theo Phạm Thị Mỹ Dung (2002) có thể hiểu sự không chắc chắn là cáctình trạng không thể gắn xác suất với việc xảy ra các sự kiện Sự không chắcchắn đề cập theo ý nghĩa mô tả đặc điểm môi trường kinh tế mà các nông hộphải đương đầu Sự không chắc chắn chỉ được xem như là một vấn đề đối vớisản xuất nông nghiệp hơn là các ngành khác và được thể hiện trên các dạngchủ yếu sau:
Sự không chắc chắn về sản lượng.
Nguyên nhân gây ra sự không chắc chắn này là do gặp phải thiên tai.Thiên tai là những tác động có hại đối với sản xuất nông nghiệp mà khó có
Trang 10thể dự đoán được như sâu bệnh, lũ lụt, nắng hạn… Thiên tai cũng có thể được
mô tả như là sự không chắc chắn về năng suất và sản lượng cây trồng Khảnăng chống lại thiên tai phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kinh nghiệm, kiếnthức, nguồn lực, sự hợp tác trong cộng đồng Điều này dẫn đến ảnh hưởngcủa cùng một loại thiên tai đến các vùng là khác nhau, hay ảnh hưởng đến các
hộ khác nhau cũng khác nhau Mức độ ảnh hưởng này là một trong nhữngnguyên nhân gây nên sự khác biệt về sản lượng trong sản suất
Sự không chắc chắn về giá cả.
Do chu kỳ của sản xuất nông nghiệp kéo dài nên khi lựa chọn một loạicây trồng hoặc một loại gia súc nào đó tại thời điểm ra quyết định người takhó xác định được giá thị trường vào lúc có sản phẩm để bán trên thị trường
là bao nhiêu Điều này đặc biệt khó khăn đối với cây trồng lâu năm như càphê, chè cao su, tiêu , những cây này phải mất một thời gian kiến thiết cơ bảnnhất định sau đó mới cho thu hoạch sản phẩm Vấn đề càng trầm trọng hơnđối với các nước chậm phát triển, nơi có thị trường không hoàn thiện và thiếuthông tin Với thời gian như vậy đủ để tác động đến các yếu tố quyết địnhcung và cầu của sản phẩm này trên thị trường Ảnh hưởng này đến nông hộthể hiện qua việc giá cả sản phẩm khi bán trên thị trường với giá cả được kỳvọng trước khi sản xuất là rất khác biệt
Hậu quả của nó có thể được mùa nhưng doanh thu từ sản phẩm thấp dosản lượng tăng nhưng giá giảm lớn hơn mức tăng của sản lượng, hoặc sảnlượng thấp nhưng giá cả lại cao đủ để làm cho doanh thu tăng lên Điều đặcbiệt quan trọng thể hiện đa số thị trường nông sản là thị trường cạnh tranhhoàn hảo, giá cả là một biến ngoại sinh trong việc ra quyết định của nông hộ.Chính vì điều này, sự can thiệp của Nhà nước thông qua lượng cầu, can thiệpgiá đối với thị trường nông sản khi có sự biến động quá lớn là cần thiết nhằm
ổn định đời sống và sản xuất đối với ngành này
Trang 11Sự không chắc chắn về xã hội
Sự không chắc chắn về xã hội liên quan đến việc kiểm soát các nguồnlực sản xuất và sự lệ thuộc của một số nông dân vào những người khác Điềunày xảy ra khi không có sự công bằng trong quyền sở hữu đất đai và cácnguồn lực khác Sự không chắc chắn về xã hội do tính chất của xã hội quyếtđịnh nên nó có mức độ khác nhau giữa các vùng hoặc các nước khác nhau
Sự không chắc chắn về con người
Không ai có thể biết trước được sức khoẻ của mình cũng như các thànhviên trong gia đình trong tương lai Vì vậy, điều này cũng được coi là sựkhông chắc chắn về con người
Những sự không chắc chắn như trên dẫn đến người nông dân khôngtình nguyện chấp nhận sự đổi mới kỹ thuật, ngại đầu tư cho sản xuất hoặc tiếpnhận một cách chậm chạp để tăng sự thích nghi với những điều không chắcchắn Điều đó cũng làm tăng thêm sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội nôngthôn
Rủi ro (risk)
Trong các tình trạng không chắc chắn trên, các biến cố có thể xảy ravới một xác suất ước đoán chủ quan được gọi là rủi ro Trong cuộc sống sinhhoạt cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh mặc dù đã luôn chú ýngăn ngừa và đề phòng nhưng vẫn có thể gặp rất nhiều rủi ro bất ngờ xảy ra.Rủi ro có thể xảy ra mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực
Việc ra quyết định trong các hoạt động kinh tế đều gặp phải rủi ro bởi
vì việc ra quyết định được tiến hành trước khi biết được kết quả của quyếtđịnh đó Mức độ rủi ro phụ thuộc vào sự tác động của các yếu tố và khả năngkiểm soát các yếu tố trong giai đoạn từ quyết định đến kết quả Trong khi đó,
từ quyết định đến kết quả là một quá trình bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong
đó rất nhiều yếu tố nằm ngoài dự đoán và khả năng kiểm soát của người raquyết định nên mức độ rủi ro là rất lớn
Trang 12Thế nào là rủi ro ?
Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về rủi ro, nhữngtrường phái khác nhau, tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa về rủi rokhác nhau:
Theo các trường phái truyền thống có các đĩnh nghĩa về rủi ro như sau:
Thứ nhất, theo Từ điển Tiếng Việt (1995), NXB Từ điển học cho rằng
rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến
Thứ hai, theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam (1998), NXB Chính trị quốc
gia thì cho rằng rủi ro là sự không may
Đoàn Thị Hồng Vân (2002) cho rằng rủi ro là sự bất trắc, gây ra mấtmát hư hại, đó là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắcchắn… hay là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợinhuận dự kiến Trong lĩnh vực hoạt động tài chính nông thôn thì coi việc nông dânđầu tư từ các khoản tiền vay cho chăn nuôi mà gia súc chết cũng là rủi ro
Theo các đĩnh nghĩa truyền thống thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát,nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điềukhông chắc chắn có thể xảy ra cho con người
Xã hội càng phát triển, hoạt động con người ngày càng đa dạng, phongphú và phức tạp thì rủi ro ngày càng nhiều và đa dạng, mỗi ngày lại xuất hiệnnhững rủi ro mới, chưa từng có trong quá khứ Con người cũng quan tâm đếnviệc nghiên cứu rủi ro và quá trình nghiên cứu đó nhận thức về rủi ro đã thayđổi và trở nên trung hoà hơn
Đào Thế Tuấn (1997) đã nhận định về rủi ro theo cách trung hòa hơn.Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, nó liên quan đến việc xuất hiệnnhững biến cố không mong đợi Đó là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả.Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi
ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi
Trang 13ro gây nên sự bất định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành độngdẫn đến khả năng được hoặc mất không thể dự đoán trước.
Phạm Văn Minh (2007) đã đưa ra định nghĩa về rủi ro đó là một tìnhhuống trong đó một quyết định có thể có nhiều hơn một kết quả, người raquyết định biết tất cả các kết quả và xác suất xảy ra các kết quả đó
Như vậy theo các quan điểm này thì rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được
Từ các quan điểm trên cho thấy có sự khác nhau khi nhìn nhận về rủi ro, điềunày có thể hiểu là do cách đánh giá ở từng khía cạnh, từng lĩnh vực của sảnxuất và đời sống ở mỗi thời điểm xảy ra rủi ro Bên cạnh đó, do rủi ro xảy ranhiều lần trong đời sống của con người cho nên những bất trắc xảy ra thì cóthể đo lường được chúng
Rủi ro xảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng bất kể nguyên nhân gì, khixảy ra rủi ro thường gây cho con người những khó khăn trong cuộc sống nhưmất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngừng trệ sản xuất và ảnhhưởng đến đời sống kinh tế xã hội nói chung Trong nghiên cứu của chúng tôichủ yếu là nhìn nhận rủi ro theo trường phái truyền thống, bởi vì với nông hộ thì
họ quan niệm rủi ro tức là sự không may, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của họ.Hơn nữa với nông dân cũng không có những ghi chép liên tục về các sự kiện đãxảy ra nên khó có thể tính ra xác suất chính xác
Phân biệt giữa rủi ro và không chắc chắn
Từ những khái niệm trên ta nhận thấy rằng, rủi ro là khách quan và nếu
có đầy đủ thông tin thì có thể tính được xác suất của các sự kiện xảy ra Cònkhông chắc chắn đề cập đến tình trạng mất mát không thể gắn xác suất vớiviệc xảy ra các sự kiện, nó không còn là khách quan như ý nghĩa ban đầu màgắn với chủ quan của người ra quyết định Có nghĩa là con người có thể tácđộng để giảm bớt sự thua thiệt cho người sản xuất Đó cũng là nguyên tắc choviệc ra quyết định trong quản lý rủi ro phải dựa vào suy nghĩ chủ quan củatừng người
Trang 14Rủi ro đề cập đến nhiều kết quả, mỗi kết quả có thể xảy ra với các khảnăng khác nhau Khả năng của một kết quả nào đó hiểu theo nghĩa là tần suẩttrung bình xảy ra kết quả đó Trong khi đó, không chắc chắn đề cập đến tìnhtrạng có nhiều kết quả có thể xảy ra trong một quyết định nhưng chưa biết khảnăng sẽ xảy ra của từng kết quả Như vậy, rủi ro và không chắc chắn chỉ khácnhau ở việc có đánh giá được hay không khả năng (hay còn là xác suất) xảy racác kết quả khác nhau.
Sự phân biệt giữa rủi ro và không chắc chắn rất có ý nghĩa trong trườnghợp chúng ta không biết hết tất cả những biến cố sẽ xảy ra của một quyếtđịnh, hoặc biết đến mức độ nào về sự rủi ro Cần có sự phân biệt trên là đểgiúp cho nông hộ định hướng được quyết định trong sản xuất, nếu nông hộđịnh lượng được các rủi ro xảy ra sẽ giúp tránh được những mất mát lớn, cònvới những điều không chắc chắn thì nông hộ rất khó để có thể đo lường vànhận dạng giúp cho việc ra quyết định
2.1.1.2 Nguyên nhân và đặc điểm rủi ro của nông hộ
Nguyên nhân gây ra rủi ro
Nông dân là đối tượng trực tiếp tham gia vào sản xuất nông nghiệp, chonên khi có bất cứ bất trắc nào xảy ra liên quan đến sản xuất hay đời sống thì
họ đều chịu tổn thất lớn nhất và cũng chính do ngành nông nghiệp có nguy cơtiềm ẩn rất nhiều rủi ro bởi đặc thù của ngành gây nên Từ những điều nàycộng thêm sự bấp bênh trong đời sống mà có nhiều nguyên nhân gây ra rủi
ro cho người nông dân
Phạm Thị Mỹ Dung (2002) nhìn nhận rủi ro trong sản xuất nôngnghiệp ở các khía cạnh, bao gồm:
Rủi ro xảy ra do thiên nhiên: Các nguyên nhân có nguồn gốc thiên nhiên
bao gồm các yếu tố liên quan đến thời tiết khí hậu như hạn hán, lũ lụt; các loạidịch bệnh, sâu bệnh Nhóm nguyên nhân này gây ra do tự nhiên tạo ra là chủyếu Do sự tác động của điều kiện tự nhiên đã gây ra sự biến động về sản
Trang 15lượng của các hộ nông dân Sự biến động về sản lượng là nguyên nhân chủyếu dẫn đến sự không ổn định trong thu nhập của người nông dân.
Rủi ro do thị trường tiêu thụ sản phẩm: Nguyên nhân của tình trạng rủi ro này
chủ yếu do sự biến động của giá cả Sản xuất nông nghiệp có đặc thù là tính thời vụnên giá cả thường có xu hướng biến động Giá cả nông sản vào vụ thu hoạch rộthường giảm làm cho thu nhập của người sản xuất giảm theo, hay những nămđược mùa thì giá lại thấp đi, hoặc có một dạng khác là sản xuất quá nhiều làmcung vượt quá cầu Giá cả thay đổi cũng làm cho người nông dân gặp nhiềurủi ro Trước khi họ bắt đầu sản xuất thì người nông dân thường kỳ vọng sảnphẩm sản xuất ra sẽ bán được với mức giá cao nhưng do nhiều yếu tố tácđộng như chu kỳ của sản phẩm nông nghiệp kéo dài, cung sản phẩm có tínhchậm muộn hay các vấn đề về chất lượng sản phẩm không đảm bảo , từ đólàm giá sản phẩm có xu hướng giảm so với dự kiến Điều đó gây ra cho các
hộ tâm lý chung là rất sợ đầu tư lớn vào nông nghiệp, bởi ngoài rủi ro do thiênnhiên thì loại rủi ro này mang đến cho các hộ không ít những khó khăn về mặttài chính
Rủi ro do chính sách của nhà nước: Nguyên nhân này xuất phát từ việc
thay đổi quy hoạch xây dựng vùng, diện tích đất của nông hộ bị chuyển đổimục đích sử dụng để xây dựng nhà máy, khu đô thị làm cho nhiều nông dânmất đất nông nghiệp, nên nhiều vùng dân phải thu non sản phẩm hoặc có khikhông được thu hoạch Rủi ro trong trường hợp này nếu không có sự quản lý,hoạch định chặt chẽ về mặt xã hội sẽ dễ dẫn tới những hậu quả liên quan đếnvấn đề chính trị xã hội như tranh chấp, tình trạng nông dân không đất, nạnthất nghiệp ở nông thôn nó tác động lớn đến tâm lý suy nghĩ của người nôngdân để có thể duy trì sinh kế
Rủi ro về con người: Do ốm đau, bệnh tật, qua đời, ly hôn, mắc phải các tệ
nạn xã hội Loại rủi ro này xảy ra làm cho đời sống của nông hộ đã khó khănlại càng khó khăn hơn do khả năng tài chính của các nông hộ rất thấp
Trang 16Ngoài những rủi ro chung của tất cả các hộ nông dân trên thế giới, hộ nôngdân Việt Nam còn gặp phải một số rủi ro sau.
Rủi ro do không có thị trường chắc chắn để tiêu thụ sản phẩm: Một số
nông sản có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nhưng việc thực hiện và xử lý hợpđồng không nghiêm minh làm cho người nông dân bị thua thiệt Một số nôngsản hàng hoá đã được các nhà máy hứa hẹn giá từ đầu vụ nhưng khi có sảnphẩm thì họ không mua hoặc mua với giá rẻ
Rủi ro do thiếu hiểu biết kỹ thuật và thiếu thông tin Trong nông
nghiệp nếu làm sai mùa vụ, sai giống, sai kỹ thuật cũng dễ dẫn đến mất trắng
Rủi ro do tuyên truyền, quảng cáo sai hoặc lừa đảo của một số cá nhân (thông tin không hoàn hảo) nên nông dân dễ mua phải hàng giả và cả
dịch vụ giả
Như vậy, rủi ro xảy ra trên địa bàn nông thôn có ảnh hưởng trực tiếp đếnđời sống và sản xuất của người nông dân Tình trạng có nhiều rủi ro làm chonông dân không có động cơ đầu tư vào lĩnh vực sản xuất đòi hỏi đầu tư caohoặc áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến Vì thế, việc nghiên cứu và tìm
ra các biện pháp phòng tránh và giảm bớt các tác hại của rủi ro sẽ có các ảnhhưởng tích cực đến sản xuất và vấn đề nghèo đói ở nông thôn
Những đặc điểm rủi ro của nông dân
Nông dân gắn với khu vực nông thôn và sản xuất nông nghịêp, đặc biệt
là nông dân vùng núi, vùng kém phát triển cho nên đặc điểm của nông nghiệp,nông thôn quyết định nhiều đến đặc điểm rủi ro của nông dân Sản xuất nôngnghiệp có nhiều đặc điểm khác hẳn so với các ngành kinh tế khác Sự khácnhau ở đây xuất phát từ những đặc điểm riêng có của sản xuất nông nghiệp vànông dân Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng, cung cấplương thực và thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho ngành công nghiệpchế biến và là hàng hoá để xuất khẩu Nông nghiệp cũng là ngành thu hút
Trang 17là một ngành đóng góp không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Mộttrong những khó khăn, thách thức lớn nhất đối với sản phẩm nông nghiệp làvấn đề rủi ro Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nên đã làm cho mức độrủi ro trong nông nghiệp thường cao hơn so với các hoạt động trong các lĩnhvực khác Bao gồm những đặc điểm sau:
+ Sản xuất nông nghiệp thường trải trên một phạm vi rộng lớn và hầuhết lại tiến hành ngoài trời, vì thế nó chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tựnhiên Mặc dù trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến và hiện đại, conngười ngày càng chế ngự được nhiều những ảnh hưởng xấu của tự nhiênnhưng mâu thuẫn giữa con người với lực lượng tự nhiên vẫn tồn tại trong sảnxuất nông nghiệp Hàng năm điều kiện tự nhiên vẫn luôn đe doạ và gây tổnthất lớn cho quá trình sản xuất nông nghiệp
+ Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống như câytrồng, vật nuôi Chúng không chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, màcòn chịu sự tác động của các quy luật sinh học Đó là các quy luật: Đồng hoá,
dị hoá, biến dị, di truyền, quy luật về thời gian sinh trưởng và cho sản phẩm
Vì vậy, xác suất rủi ro trong nông nghiệp đã lớn lại càng lớn hơn so với nhiềungành sản xuất khác
+ Chu kỳ sản xuất của nông nghiệp thường kéo dài, thời gian lao động
và thời gian sản xuất lại không trùng nhau, do đó việc đánh giá, kiểm soátviệc phòng ngừa và quản lý rủi ro là khó thực hiện
+ Trong nông nghiệp có nhiều loại cây trồng vật nuôi khác nhau, mỗiloại thường gặp những rủi ro khác nhau Thậm chí có những loại rủi ro màhậu quả của chúng mang tính chất thảm hoạ Từ đó đã ảnh hưởng rất lớn đếntâm lý người sản xuất Mặc dù có lao động, có đất đai nhưng muốn mở rộngquy mô sản xuất, muốn đầu tư thâm canh, muốn sản xuất hàng hoá với quy
mô lớn, họ cũng không dám mạnh dạn vay vốn để đầu tư Bởi vì tài sản thếchấp vốn vay không có, mà rủi ro lại luôn rình rập
Trang 18Trong điều kiện rủi ro cao, người nông dân thường giảm quy mô sảnxuất và do đó thu nhập của họ sẽ giảm Lý do rất đơn giản là rủi ro sẽ đòi hỏisản xuất phải có lãi cao hơn trong trường hợp sản xuất không có rủi ro Trongtrường hợp hiệu quả giảm dần theo quy mô như ngành nông nghiệp, điều nàydẫn đến người nông dân phải giảm sản xuất để tăng sản phẩm cận biên saocho bằng với chi phí cận biên mà chi phí này cao hơn rủi ro, làm tăng chi phí
cơ hội của các nguồn lực (vốn và lao động)
Đối với nông dân ngoài gặp rủi ro trong sản xuất họ còn gặp rủi rotrong cuộc sống do điều kiện sinh hoạt khó khăn hơn các tầng lớp khác trong
xã hội, cơ sở hạ tầng kém phát triển, môi trường sống không vệ sinh… Nhữngrủi ro về con người đã làm cho nông dân càng nhiều khó khăn hơn và phátsinh thêm nhiều rủi ro khác Mỗi loại rủi ro có những tác động rất khác nhauđến kết quả, hiệu quả sản xuất và cuộc sống của hộ nông dân
2.1.1.3Phân loại rủi ro trong các hộ nông dân
Phân loại theo lĩnh vực rủi ro:
+ Rủi ro trong quá trình sản xuất: Là những rủi ro liên quan trực tiếpđến quá trình sản xuất của hộ nông dân
+ Rủi ro ngoài sản xuất: Là những rủi ro liên quan đến cuộc sống củangười nông dân Đó là rủi ro như ốm đau, bệnh tật, sự mất mát tài sản Những rủi ro trên thường ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và thu nhập của hộnông dân
Phân loại rủi ro theo nguồn gốc rủi ro:
+ Rủi ro tự nhiên: Đây là nhóm rủi ro do các hiện tượng thiên nhiênnhư: Lũ lụt, mưa đá, hạn hán,đất lở, sương muối, dịch bệnh, sâu bệnh gây
ra Những rủi ro này thường dẫn đến những thiệt hại to lớn về người và của
Nó có thể tác động đến năng suất mùa màng (rủi ro trong sản xuất) và cả sảnphẩm cất trữ trong kho (rủi ro trong bảo quản)
Trang 19+ Rủi ro xã hội: Sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi con người,cấu trúc xã hội, các định chế là một nguồn rủi ro rất lớn Nếu không nắmđược điều này sẽ có thể gánh chịu những thiệt hại nặng nề.
+ Rủi ro kinh tế: Là những rủi ro do môi trường kinh tế gây ra như: Tốc
độ phát triển kinh tế, khủng hoảng, suy thoái kinh tế, lạm phát
Phân loại theo mức độ rủi ro
+ Rủi ro cá nhân: Rủi ro chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân nào đó
+ Rủi ro cộng đồng: Rủi ro ảnh hưởng đến cả cộng đồng
Phân loại theo mức độ xuất hiện của rủi ro:
+ Rủi ro riêng rẽ: Chỉ xuất hiện một rủi ro
+ Rủi ro dây chuyền: Rủi ro này xuất hiện kéo theo những rủi ro khác.+ Rủi ro kết hợp: Đó là sự kểt hợp nhiều loại rủi ro với nhau
Phạm Sỹ An (2005) chia rủi ro trong nông nghiệp gồm 2 loại đó là:
+ Rủi ro công nghệ: Rủi ro này xảy ra khi triển khai áp dụng thất bạigiống mới hay kỹ thuật mới vào sản xuất Loại rủi ro này thường làm giảmsản lượng trong nông nghiệp thậm chí gây mất trắng
+ Rủi ro giá cả: Do giá cả thay đổi thất thường trên thị trường quốc tế.Giá cả được quyết định bởi cung và cầu trên thị trường
2.1.1.4Ứng xử của nông dân với rủi ro
Trước tiên cần hiểu ứng xử là gì? để từ đó thấy được sự cần thiết đốivới người nông dân là phải ứng xử với những rủi ro xảy ra Theo từ điểnTiếng Việt (2000) ứng xử là có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trongviệc xử sự Còn trong từ điển tâm lý, các soạn giả lại cho rằng hai từ ứng xử
và hành vi thường thay thế cho nhau Từ ứng xử chỉ mọi phản ứng của conngười khi một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích các yếu tố bên ngoài
và tình trạng bên trong gộp thành một tình huống và tiến trình ứng xử để kíchthích có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh Khi nhấnmạnh về tính khách quan, tức là các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như
Trang 20phản ứng đều là những hiện tượng có thể quan sát được thì gọi là ứng xử Cònkhi nhấn mạnh mặt định hướng, mục tiêu thì gọi là hành vi.
Lê Thị Bừng và Hải Vang (2002) cho rằng ứng xử là sự phản ứng củacon người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống
cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động giao tiếp màchủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán thể hiện qua thái độ,hành vi, cử chỉ, tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách mỗi người
để nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất
Trên đây là một số quan điểm về ứng xử của con người Tuy nhiên, cácquan điểm đó thiên về cách ứng xử giữa con người với con người qua giaotiếp Còn các tác động bên ngoài đối với sản xuất và đời sống của nông hộnhư rủi ro thì họ cũng có những quyết định, lựa chọn tính toán qua hành vicủa mình để đạt kết quả mong đợi
Đỗ Văn Viện và Đặng Văn Tiến (2000) thì nếu có rủi ro xảy ra với giảđịnh giá cả là yếu tố cố định, khi đó hộ sẽ có quyết định như thu hẹp sản xuất,hoặc sản xuất ở quy mô hợp lý, hoặc tối thiểu hoá sự thiệt hại Giả định nông
hộ sử dụng một yếu tố đầu vào (X) để sản xuất, khi đó họ sẽ kỳ vọng đạt đượcmức doanh thu là E(TR) Nhưng trong sản xuất nông nghiệp có nhiều yếu tốrủi ro và không chắc chắn cho nên kết quả sản xuất của nông hộ có thể thayđổi so với dự kiến Nếu quá trình sản xuất gặp thuận lợi và có nhiều yếu tốtích cực làm tăng doanh thu, khi đó nông hộ sẽ thu được mức doanh thu TR1cao hơn mức doanh thu dự kiến Ngược lại, nếu nông hộ sản xuất gặp điềukiện bất lợi, rủi ro trong sản xuất thì doanh thu họ thu được trong trường hợpnày chỉ đạt mức TR2 thấp hơn mức dự kiến Hình 2.1 biểu thị quyết định của
hộ đầu tư như thế nào và lãi lỗ ra sao khi mà rủi ro xảy ra và khi không có rủi
ro Ở mức đầu vào X1, giả định nông hộ sản xuất gặp điều kiện thuận lợi, họthu được sản lượng cao coi như được mùa khi đó phần lãi thu được tương ứng
Trang 21khoảng (ab), phần lỗ do rủi ro tương ứng khoảng (bj) Trong trường hợp nàynông hộ đưa ra quyết định chấp nhận rủi ro để thu được phần lãi nhiều hơn.
Ở mức đầu vào X2 , nông hộ sản xuất trong điều kiện có rủi ro và không
có rủi ro đều thu được lãi tương ứng hai khoảng đó là (ce) và (de) và không bị
lỗ Nhưng trong trường hợp này tổng doanh thu hộ thu được thấp nhất, do vậynông hộ có hướng ứng xử chống lại rủi ro để tăng doanh thu
Ở mức đầu vào XE, nông hộ sản xuất với tổng chi phí TC, trong điềukiện không có rủi ro, hộ thu được phần lãi tương ứng khoảng (fh), khoảng nàythấp hơn khoảng lãi (ab) ở mức đầu vào X1 Trong điều kiện có rủi ro, hộ sảnxuất chịu khoản lỗ (hi) thấp hơn phần lỗ (bj) Trường hợp này nông hộ có thái
độ bàng quan với rủi ro
Các ứng xử của nông hộ
X3 Lãi = fh<ab Lỗ hi< bj Trung tính
Trang 22Hình 2.1: CÁC QUYẾT ĐỊNH SẢN XUẤT TRONG ĐIỀU KIỆN CÓ RỦI RO
Trang 23Khi ra quyết định nông dân quan tâm đến độ thoả dụng trông đợi E(U).
I : Năng suất khi mất mùa
Hình 2.2: SỰ LỰA CHỌN LIÊN QUAN ĐẾN RỦI RO
`
Nguồn: Phạm Văn Minh(2007)
Từ hình 2.2 trên cho thấy nếu cân nhắc mối hệ giữa ích lợi và thu nhập
có thể cho phép đánh giá các quyết định trong tình huống có rủi ro, hình 2.2minh họa 3 mối quan hệ giữa mức thu nhập của một các nhân và ích lợi của
Trang 24người đó khi có mức thu nhập đó Mỗi phần biểu thị một thái độ đối với rủi rocủa một cá nhân nào đó.
Xét đường cong ứng với mối quan hệ giữa ích lợi và thu nhập kỳ vọngcủa nhóm người chống rủi ro Người chống (ghét) rủi ro đó là nhóm ngườithích hoạt động có thu nhập chắc chắn hơn hoạt động có thu nhập kỳ vọngbằng như thế nhưng có rủi ro.Vì thế tổng ích lợi tăng khi thu nhập tăng nhưngích lợi cận biên của thu nhập thì giảm dần
Xét đường tuyến tính ở chính giữa biểu thị mối quan hệ giữa ích lợi vàthu nhập kỳ vọng của người trung lập với rủi ro Họ là nhóm người đánh giámột mức thu nhập chắc chắn và mức thu nhập không chắc chắn mà có giá trị
kỳ vọng cùng giá trị như nhau Khi đó tổng thu nhập tăng làm tăng tổng lợiích của cá nhân này nhưng ích lợi cận biên là không đổi
Còn đối với đường cong thể hiện mối quan hệ giữa ích lợi và thu nhập
kỳ vọng của người thích rủi ro (thích mạo hiểm) Nhóm này đánh giá mức thunhập kỳ vọng cao hơn mức thu nhập chắc chắn mặc dù về giá trị chúng bằngnhau Khi đó tổng lợi ích tăng khi thu nhập tăng, nhưng ích lợi cận biên sẽtăng dần
2.1.2 Các kỹ thuật ra quyết định trong điều kiện rủi ro
2.1.2.1 Sử dụng giá trị bằng tiền kỳ vọng
Vũ Kim Dũng và Cao Thúy Xiêm (2003) cho rằng các kỹ thuật raquyết định trong điều kiện có rủi ro nói chung thông qua các kỹ thuật đượcđưa ra áp dụng trong nhiều trường hợp trong đó tùy từng ngành, lĩnh vực sảnxuất mà có kỹ thuật ra quyết định phù hợp Nếu người ra quyết định biết cáckết quả có thể xảy ra của một quyết định và có thể gán cho chúng trong việclựa chọn các hành động khác nhau, giá trị bằng tiền kỳ vọng có thể được thaybằng những giá trị chắc chắn Giá trị bằng tiền kỳ của một hành động cụ thểEMV (Expected Money Value) có thể được định nghĩa là:
Trang 25EMV bằng tổng của các tích của các kết quả và xác suất xảy ra củachúng và tất cả các kết quả có thể xảy ra đều được tính đến:
EMV = ∑PiVi Trong đó :
P i- Xác suất của kết quả thứ i
V i- Giá trị của kết quả thứ iViệc sử dụng giá trị kỳ vọng tồn tại những hạn chế: Nếu giá trị bằngtiền kỳ vọng sử dụng làm tiêu thức ra quyết định thì người ra quyết định hợp
lý luôn luôn chọn được hành động đem lại giá trị dự kiến cao nhất Mặc dù vềmặt cảm tính ta có thể thấy đây là một cách có ý nghĩa để ra quyết định nhưngviệc vận dụng nó có kết luận vô nghĩa
2.1.2.2 Ích lợi và thái độ với rủi ro
Nếu thay tiêu thức giá trị kỳ vọng bằng ích lợi kỳ vọng( EU), lúc đómgười ra quyết định sẽ chọn hành động nào đem lại EU cao nhất
EU = ∑p i U i
Trong đó :
p i: là xác suất của kết quả thứ i
U i : là ích lợi của kết quả thứ i
Áp dụng tiêu thức ích lợi kỳ vọng cho phép đưa ra các thái độ khácnhau đối với rủi ro vào việc mô hình hoá việc ra quyết định Nhưng việc sửdụng nó theo cách chuẩn tắc sẽ gặp khó khăn vì phải ước lượng mối quan hệgiữa ích lợi và thu nhập đối với một người ra quyết định cụ thể
2.1.2.3 Các đường bàng quan và thái độ đối với rủi ro
Trang 26Hình 2.3: CÁC ĐƯỜNG BÀNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ THU NHẬP KỲ VỌNG
(Người ghét rủi ro)
Nguồn : Phạm Văn Minh(2007)
Qua đồ thị cho thấy trong trường hợp nhóm người ghét rủi ro thì càngnhiều rủi ro thì họ càng bàng quan với, các đường bàng quan giảm dần, độthỏa dụng giảm vì khi rủi ro cao thì thu nhập sẽ thấp Cũng với những phântích trên đây cho thấy cách thức phản ánh thái độ đối với rủi ro trong mốiquan hệ giữa ích lợi và thu nhập Nhưng nó lại không đưa ra một thước đotrực tiếp cho mức độ rủi ro của một hành động cụ thể Thước đo phổ biến nhấtcủa mức độ rủi ro của một hành động là độ lệch chuẩn của kết quả Độ lệchchuẩn của một phân bố xác suất biểu thị giá trị trung bình của chênh lệchtuyệt đối của tất cả các kết quả so với giá trị kỳ vọng của phân bố xác suất đó.Chênh lệch giữa mỗi kết quả có thể và giá trị dự kiến được gán cho trong cáctrọng số là xác suất xảy ra của nó Ta lấy giá trị tuyệt đối, trước hết lấy bìnhphương các phương sai số rồi sau đó khai căn hai
Rủi ro
Thu nhập
Trang 27( ) i n
Trong đó : X i là giá trị của kết quả thứ i
EPV : Giá trị trung bình của tất cả các kết quả
n : Số các kết quảKhi cân nhắc để ra quyết định, người ra quyết định phải cân nhắc các kếthợp khác nhau giữa giá trị kỳ vọng của kết quả và rủi ro của kết quả đó, đo bằng
độ lệch chuẩn Trong trường hợp này các đường bàng quan biểu thị những kếthợp kết quả và rủi ro khác nhau đem lại cho người ra quyết định cùng một mứcthoả mãn Nếu cá nhân này ghét rủi ro thì các đường bàng quan sẽ dốc lên, cáckết hợp được ưa thích hơn biểu thị theo chiều mũi tên Độ dốc của các đườngbàng quan biểu thị mức độ ghét rủi ro của cá nhân này
2.1.2.3 Tương đương chắc chắn
Tương đương chắc chắn của một hành động rủi ro là lượng tiền sẵn cóchắc chắn làm cho người ra quyết định thoả mãn như khi tiến hành một hànhđộng có rủi ro Đó chính là điểm cắt trục tung của đường bàng quan liên quanđến hành động có rủi ro đang xem xét Trong hình 3 thì A là tương đươngchắc chắn của việc thực hiện hành động có rủi ro và thu nhập ở đường U1
2.1.2.4 Cây quyết định
Các quyết định quản lý có rủi ro thường được thực hiện theo từng giaiđoạn, các quyết định và các sự kiện sau phụ thuộc vào các kết quả của cácquyết định trước Cây ra quyết định biểu thị trình tự của các quyết định quản
lý có thể đưa ra và kết quả kỳ vọng trong mỗi hoàn cảnh Nếu một cây màthân cây được chia thành hai hoặc ba nhánh chính, ở mức cao hơn, mỗi nhánhchính lại chia thành hai hoặc ba nhánh nhỏ hơn Các nhánh chính ở lớp thứnhất biểu thị các quyết định khác nhau có thể đưa ra để giải quyết vấn đề Khikhông có sự chắc chắn thì có thể có nhiều hơn một kịch bản, mỗi nhánh cómột sự phân chia thành nhiều nhánh hơn biểu thị một kịch bản có thể có Đối
Trang 28với các quyết định có lợi nhuận ở năm thứ hai và các năm sau, mỗi một trongcác nhánh này sẽ chia thành các nhánh cao hơn biểu thị các kịch bản có thể có
ở năm thứ hai, bằng một tập hợp các nhánh mới ta biểu thị năm thứ ba Cácnhánh cuối cùng của cây biểu thị các kết quả của năm cuối cùng của thời kỳxem xét
2.1.2.5 Các loại xác suất
Có nhiều loại xác suất khác nhau Phân biệt quan trọng nhất là xác suấtbiết trước và xác suất biết sau Xác suất biết trước là xác suất có thể tínhbằng kiến thức có trước Cả xác suất biết trước và biết sau đều có thể được
mô tả là xác suất khách quan vì chúng phát sinh từ một phân tích thống nhất
về các nguyên lý cơ bản hoặc từ sự quan sát các sự kiện trong quá khứ Nếumôi trường thay đổi thì xác suất rút ra từ những sự kiện trong quá khứ làkhông áp dụng được Trong trường hợp đó phải dùng xác suất chủ quan dựatrên kỳ vọng, kinh nghiệm và sự đánh giá về tương lai của người ra quyếtđịnh Những sở thích như vậy có thể lượng hoá bằng cách đề nghị người raquyết định so sánh một vấn đề thực cần xem xét với một tình huống giả thiết
mà xác suất khách quan đã biết
2.1.2.6 Giá trị dự kiến của thông tin
Có hai loại thông tin có thể nhận được đối với người ra quyết định.Thông tin thứ nhất là có thể được thông tin hoàn hảo về tình hình tương lai.Thông tin thứ hai là trường hợp tổng quát hơn chỉ có thể có được thông tinkhông hoàn hảo về tình hình tương lai Nếu có được thông tin hoàn hảo vềtình hình tương lai thì giá trị kỳ vọng của thông tin hoàn hảo có thể được đobằng chênh lệch giữa giá trị kỳ vọng của hành động tương lai đã cho thông tinhoàn hảo Thực tế các tình huống trong đó có thông tin hoàn hảo về tương lai
là rất hiếm và việc mua thông tin bổ sung sẽ không cung cấp sự thể hiện trướcmột cách tuyệt đối chắc chắn về tình huống trong tương lai Việc tính giá trị
Trang 29dự kiến của thông tin vẫn là công cụ hữu ích trong các tình huống đó vì nó tạo
ra giới hạn trên cho giá trị của thông tin bổ sung có thể thu thập được.[2]
2.1.3 Các kỹ thuật đối phó với sự không chắc chắn
Các vấn đề xem xét trên đây đều liên quan đến những tình huống rủi ro,xác suất của tất cả các kết quả đều đã biết Nếu xác suất mà không mà khôngbiết thì đó là tình huống không chắc chắn, chứ không phải là rủi ro và các kỹthuật đã nêu trên không thể áp dụng được Tuy vậy, có nhiều chiến lược cóthể áp dụng để ra quyết định trên cơ sở các tiêu thức hợp lý
2.1.3.1Tiêu thức maximin
Người ra quyết định có thể phải lựa chọn một trong hai phương án màkết quả của các phương án đó lại phụ thuộc vào tình thế xảy ra khi thực hiệnhành động đó Trong trường hợp không chắc chắn xác suất của các tình khácnhau là không biết
Maximin là thuật ngữ biểu thị kết quả lớn nhất (maximum) trong cáckết quả bé nhất (minimum) gắn liền với mỗi quyết định
Nếu áp dụng tiêu thức maximin thì người ra quyết định nghiên cứu kếtquả xấu nhất của mỗi hành động và sau đó chọn hành động mà kết quả xấunhất là cao nhất Qui tắc maximin đảm bảo tránh được kết quả xấu nhất và cóthể gọi là chiến lược bi quan, bảo thủ, hoặc ghét rủi ro ở mức độ cao Nhưngnhược điểm của nó là bỏ qua kết quả có giá trị lớn nhất
2.1.3.2 Tiêu thức điều đáng tiếc minimax
Áp dụng quy tắc này người ra quyết định cân nhắc mức độ phải hy sinhnếu một tình huống cụ thể xảy ra nhưng hành động tốt nhất cho tình huống đólại không được chọn Chiến lược này đảm bảo rằng không phải chịu điềuđáng tiếc cực đại và đó cũng là một cơ sở tương đối bi quan để ra quyết định
Cũng giống như trường hợp tiêu thức maximin trường hợp này cũng bị phêphán là sử dụng một lượng thông tin hạn chế sẵn có mà bỏ qua mọi thứ khác
2.1.3.3 Tiêu thức maximax
Trang 30Tiêu thức này đối lập với tiêu thức maximin ở chỗ xác định tất cả cáckết quả tốt nhất của mỗi hành động và chọn hành động nào có kết quả tốt nhấtlớn nhất Đây là một tiêu thức « lạc quan » vì nó chọn ra hành động có kếtquả cao nhất Nhược điểm của nó cũng là sử dụng một lượng hữu hạn thôngtin hiện có.
Trang 312.1.3.4 Tiêu thức hệ số biến thiên
Hệ số biến thiên ở đây được định nghĩa là tỷ số giữa độ lệch chuẩn (σ )
và giá trị hiện tại kỳ vọng (EPV) Như vậy hệ số biến thiên đối với một sốphân bố xác suất - σ /EPV - biểu thị lượng rủi ro trên một đồng lợi nhuận kỳ
vọng Người ra quyết định ghét rủi ro nên chọn phương án có hệ số biến thiênthấp nhất (nhưng có giá trị dương)
Phương pháp của Hurwicz cố gắng sử dụng nhiều thông tin hiện có hơnbằng việc xây dựng chỉ số alpha cho mỗi hành động, có tính đến việc người raquyết định muốn sử dụng quan điểm bi quan hay lạc quan Chỉ số này đượcxác định theo cách sau :
L i - Kết quả cao nhất của hành động i
Hành động nào có chỉ số alpha cao nhất sẽ được chọn Chỉ số lạc quan/
bi quan có thể lấy những giá trị từ 0 đến 1
2.1.4 Biện pháp hạn chế rủi ro cho nông dân
Đỗ Văn Viện (2000) đã đưa ra một số biện pháp để hạn chế rủi ro chonông dân nhằm mục tiêu tăng khả năng của nông dân chống lại rủi ro, tạo môitrường bền vững cho nông hộ, tạo môi trường kinh tế xã hội thích hợp Một sốbiện pháp để hạn chế rủi ro cho nông hộ như đối với thiên tai thực hiện hoànthiện, kiên cố thuỷ lợi tưới, tiêu, giữ nước Hoàn thiện giống cây, con có khảnăng chịu hạn, úng, chống chọi tốt với điều kiện khắc nhiệt, dịch bệnh Triển khaibảo hiểm nông nghiệp trong nông hộ để từ đó đảm bảo cho người nông dân có thểsản xuất một cách an toàn, đầu tư lớn vào phát triển nền nông nghiệp mang tính
Trang 32hàng hóa cao, tạo nên một hệ thống đa dạng hóa về sản phẩm, và có thể giảmthiểu tối đa những thiệt hại do rủi ro gây ra cho ngành này.
2.1.5 Quản lý rủi ro (Risk management)
Giữa hai khái niệm quản lý rủi ro và khắc phục rủi ro (Coping with risk)
có sự khác nhau cơ bản Quản lý rủi ro đề cập đến việc điều chỉnh trong sảnxuất và sử dụng nguồn lực trước khi xảy ra các biến cố về sản xuất, tức làtrước khi rủi ro xảy ra Còn quản lý rủi ro không chỉ bao hàm chống rủi ro màcòn bao hàm cả ý về lập kế hoạch nhằm thích ứng với rủi ro
Phạm Sỹ An (2005) cho rằng một vấn đề thường xảy ra trong nôngnghiệp là khi được mùa thì người dân có lợi nhuận thấp, còn khi được mùa thìngược lại lợi nhuận cao hơn Đối với đa phần sản phẩm nông nghiệp, cầu nóichung thuộc loại không co dãn theo giá, do đó những mùa vụ bội thu dẫn đến
sự sụt giảm tổng thu nhập của nông dân…nếu thiếu chính sách can thiệp củachính phủ Nhưng khi gia nhập WTO theo quy tắc chính phủ không đượchoặc hạn chế tối đa những can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất buôn bánnông sản, rủi ro nông dân không thể đẩy vào tay chính phủ Tuy nhiên có 2cách giảm thiểu rủi ro cho người nông dân: (1) San sẻ rủi ro; (2) đẩy rủi ro rathị trường thế giới trong trường hợp giảm rủi ro trong giá cả nông nghiệp.Theo cách thứ nhất có thể được thực hiện thông qua trợ cấp của chính phủ,chính phủ trợ cấp bằng ngân sách và do đó rủi ro được san sẻ cho tất cả mọingười thông qua đóng thuế Tuy vậy nhưng cách này tỏ ra kém hiệu lực trongtrường hợp Việt Nam đã gia nhập WTO
Cách thứ hai được xem như hiệu quả hơn khi có đủ những điều kiện cần thiết.Các biện pháp đưa ra để giảm rủi ro gồm:
Công cụ dẫn xuất: Dẫn xuất tài chính là những công cụ nhằm giảm
thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro Các công cụ thường được sử dụng là: Hợpđồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn và hợp đồng đánh đổi
Trang 33Đối với hợp đồng kỳ hạn: Đó là những thoả thuận giữa hai bên nhằm
mục đích trao đổi hàng hoá tại một thời điểm trong tương lai Hợp đồng kỳhạn xảy ra khi bên bán kỳ vọng giá sản phẩm sẽ giảm trong tương lai và bênmua kỳ vọng giá sẽ tăng trong tương lai Nếu giá hàng hoá nông nghiệp tạithời điểm xác định thấp hơn giá đặt trước tại một thời điểm mua và bán hợpđồng, bên bán được coi là thu lợi nhuận Còn nếu vào thời điểm trong tươnglai, giá thị trường quốc tế cao hơn giá đã đặt tại thời điểm mua và bán hợpđồng, bên bán được coi là mất lợi nhuận Như vậy hợp đồng kỳ hạn được thiếtlập do hai bên có kỳ vọng khác nhau
Hợp đồng tương lai: Cũng tương tự hợp đồng kỳ hạn song nó làm cho
các bên tham gia giảm bớt sự lo lắng về tính lỏng và rủi ro vỡ nợ
Hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai còn làm giảm bớt hoặc loại bỏ rủi ro
tỷ giá hối đoái
Quyền chọn: Đó là những hợp đồng đưa cho người mua quyền, quyền
mua hoặc bán một loại hàng hoá nào đó tại giá cả chỉ định gọi là giá thực hiệntrong một khoảng thời gian đến ngày đáo hạn Có hai loại quyền chọn: Quyềnchọn theo kiểu Mỹ có thể thực hiện tại bất kỳ thời điểm nào cho tới ngày đáohạn của hợp đồng; quyền chọn theo kiểu Châu Âu chỉ thực hiện hợp đồng tạingày đáo hạn
Trong trường hợp hàng hoá Việt Nam quyền chọn bán theo kiểu Mỹ làphù hợp trong việc phòng ngừa rủi ro hơn là việc chọn bán kiểu Châu Âu Bởi
vì thu hoạch nông sản thường có mùa vụ và giá cả thay đổi nhanh chóng tronggiai đoạn từ khi sản xuất đến khi bán biên độ dao động có thể do đó quyềnchọn bán kiểu Mỹ có thể tạo thuận lợi cho Việt Nam khi thực hiện quyền tạithời điểm phù hợp với quy trình sản xuất và chế biến hàng nông sản
Một công cụ khác để ngăn cản rủi ro có thể được sử dụng trong thịtrường hàng hoá quốc tế là sự hoán đổi hàng hoá được gọi tắt là SWAPS
Trang 34Chống rủi ro là những bịên pháp những ứng xử nhằm tránh rủi ro Ứng xử củanông dân với rủi ro thể hiện qua 3 trạng thái sau :
• Chấp nhận rủi ro để có thể thu được thu nhập cao nhất, mặc dù họbiết rằng cơ hội cho khả năng này chỉ có một xác suất nhất định
• Chống hoặc không chấp nhận rủi ro để đảm bảo an toàn các hoạtđộng của mình trong trường hợp khả năng xấu có thể xảy ra, mặc dùkhả năng này cũng chỉ xảy ra có một xác suất nhất định
• Thái độ trung hoà với rủi ro với mong muốn đạt được thu nhậptrung bình giữa sự kiện có rủi ro và thuận lợi
Trên đây là lý luận về quản lý rủi ro còn khắc phục rủi ro là các hành độnghay phản ứng sau khi rủi ro đã xảy ra nhằm tối thiểu hoá tác hại Các loạiphản ứng thuộc loại này dựa trên cơ sở lý thuyết phân chia rủi ro, có hai loại
Bùi Thị Minh Nguyệt (2004) đưa ra các bước để tiến hành quản lý rủi
ro gồm nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro:
Nhận dạng rủi ro: Đó là quá trình liên tục và có hệ thống các rủi ro
trong hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm pháttriển các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm hoạ, đối
Trang 35dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt độngnhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ rủi ro đã và đang xảy ra màcòn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện, trên cơ sở đó đềxuất các giải pháp kiếm soát và tài trợ rủi ro thích hợp.
Phương pháp nhận dạng rủi ro:
Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra Các câuhỏi có thể sắp xếp theo nguồn gốc rủi ro hoặc môi trường tác động Các câuhỏi thường xoay quanh vấn đề:
• Các hộ đã gặp những rủi ro nào?
• Tổn thất là bao nhiêu?
• Số lần xuất hiện các rủi ro đó trong một khoảng thời gian nhấtđịnh?
• Những biện pháp phòng ngừa, kết quả đạt được?
• Những rủi ro chưa xảy ra nhưng có thể xuất hiện? Lý do?
Phân tích rủi ro: Sau khi nhận dạng và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro
có thể đã và sẽ xảy ra là công việc đầu tiên để quản lý được rủi ro, tiếp theo làphải tiến hành phân tích rủi ro, phải xác định được các nguyên nhân gây ra rủi
ro, trên cơ sở đó mới tìm ra biện pháp phòng ngừa
Đo lường rủi ro: Là công việc xác định tần suất xuất hiện rủi ro trong 1
khoảng thời gian nhất định và xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ro Có 2cách tiếp cận chính về việc đo lường mức độ rủi ro:
Cách tiếp cận phương sai- thu nhập và phòng tránh thảm hoạ hay còngọi là cách tiếp cận an toàn trước tiên Theo cách này dùng độ phân tán củakết quả, như phương sai hay hệ số sai lệch làm thước đo rủi ro Hệ số sai lệchcàng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại
Trong cách tiếp cận thứ hai, rủi ro được đo bằng xác suất để các kết quảcủa một hành động nào đó giá trị nhỏ hơn một giá trị định trước Nói cách
Trang 36khác làm xác suất để một hành động tạo ra kết quả nhỏ hơn một giá trị lựachọn nào đó.
Trong việc nghiên cứu hành vi ra quyết định, mô hình thông dụng vàđược công nhận hiện nay là mô hình được xây dựng theo giả thuyết về độthoả dụng mong đợi Nội dung cơ bản của mô hình này là các cá nhân sẽ raquyết định lựa chọn các phương án khác nhau sao cho có thể tối đa hoá được
độ thoả dụng mong đợi Việc ra quyết định dựa trên các tiêu thức kỳ vọng vàphương sai phù hợp với giả thuyết về độ thoả dụng mong đợi, do vậy cáchtiếp cận phương sai – thu nhập thường được sử dụng
Đối với quản lý rủi ro thì công việc trọng tâm là kiểm soát được rủi ro,kiểm soát – đó là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược
để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởngkhông mong đợi có thể đến
+ Các biện pháp né tránh rủi ro : Là các biện pháp né tránh những hoạt
động hoặc những nguyên nhân làn phát sinh tổn thất, mất mát có thể có Đây
là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống Né tránh rủi ro chỉvới những rủi ro có thể né tránh được
+ Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất : Là các biện pháp giảm thiểu số lần
xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại
+ Các biện pháp giảm thiểu tổn thất : Là những biện pháp cứu vớt
những tài sản còn lại, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro,lập quỹ dự phòng, phân tán rủi ro
+ Các biện pháp chuyển giao rủi ro : Là việc chuyển rủi ro đến cho
người khác thông qua con đường ký hợp đồng
+ Các biện pháp đa dạng rủi ro : Bao gồm đa dạng hoá mặt hàng,
khách hàng, thị trường để phòng chống rủi ro
Rủi ro có rất nhiều loại, rủi ro có thể xuất hiện mọi nơi, mọi lúc, nó có
Trang 37kiểm soát rủi ro có chặt chẽ đến đâu thì cũng không thể ngăn chặn, hay né tránhđược mọi tổn thất Vì vậy khi rủi ro xảy ra cần phải có biện pháp để tài trợ rủi rothích hợp Biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm chấp nhận rủi ro và bảo hiểm.
Chấp nhận rủi ro : Đây là hình thức mà người gặp phải rủi ro tự chấp
nhận khoản tổn thất và tự khắc phục rủi ro Một trường hợp điển hình củachấp nhận rủi ro là tự bảo hiểm Có hai nhóm là chấp nhận rủi ro thụ động vàchấp nhận rủi ro chủ động Trong chấp nhận rủi ro thụ động người ta gặp rủi
ro mà không có sự chuẩn bị trước và có thể vay mượn để khắc phục hậu quảtổn thất Đối với chấp nhận rủi ro chủ động người ta lập quỹ dự phòng và quỹnày chỉ được sử dụng để bù đắp tổn thất do rủi ro gây ra Tuy nhiên việc nàythường dẫn đến nguồn vốn không được sử dụng một cách tối ưu hoặc nếu đivay sẽ bị động và còn gặp phải các vấn đề gia tăng về lãi suất
Bảo hiểm: Trong cuộc sống dù muốn hay không, thì nhiều loại rủi ro đã
xuất hiện vẫn tồn tại và sẽ còn chi phối đến cuộc sống của mỗi người, mỗi giađình và toàn xã hội Rủi ro xẩy ra và nhu cầu cần được bảo hiểm phát sinh.Bảo hiểm là một phần quan trọng của chương trình quản lý rủi ro
Thực chất của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm giữanhững người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi rủi ro bấtngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm Phân phối trong bảohiểm là phân phối không đều, không bằng nhau nghĩa là không phải ai thamgia bảo hiểm cũng được phân phối và phân phối số tiền như nhau Hoạt độngbảo hiểm dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít Bảo hiểm có rất nhiều tácdụng đối với người tham gia trong đó quan trọng nhất là góp phẩn ổn định tàichính cho người tham gia trước tổn thất rủi ro xảy ra
2.2 THỰC TIỄN QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
2.2.1 Biện pháp đa dạng hoá sản xuất
Để giải quyết rủi ro trong nông nghiệp, người nông dân đã áp dụng một
Trang 38xuất cây trồng vật nuôi Đa dạng hoá có thể được hiểu là sự gia tăng về sốlượng nguồn thu nhập và cân đối giữa các nguồn khác nhau Đối với hộ nôngdân đa dạng hoá là một chiến lược giảm rủi ro Khi đa dạng hoá được thúcđẩy để giảm rủi ro thì nhìn chung hộ phải hy sinh giác độ thu nhập bình quân.Cho nên đa dạng hoá thường xuất hiện ở các hộ khi nguồn thu nhập biến độngmạnh và đặc biệt khi hộ không thích rủi ro Nông dân thường có xu hướng đadạng hoá trong chăn nuôi để tối thiểu hoá mức thiệt hại do gặp phải biến cố.Mặt khác đa dạng hoá còn giúp các hộ tiết kiệm được nguồn thức ăn, gópphần đa dạng nguồn thu nhập
Trên thực tế các hộ thường kết hợp nhiều loại vật nuôi theo các môhình VAC, VACR Hầu hết các trang trại ở Việt Nam cũng như trên thế giớiđều có sự đa dạng hoá trong trồng trọt và chăn nuôi, không đơn thuần là độccanh một loại vật nuôi Tuy rằng đa dạng hoá là có lợi song theo các nghiêncứu thực tế cho thấy việc đa dạng hoá làm giảm tính hiệu quả của sản xuất,làm giảm thu nhập trung bình Ví như đa dạng hoá cây trồng sẽ làm hạn chếlợi ích nhờ quy mô Sự không hiệu quả của phương pháp này đòi hỏi phải cóhình thức thay thế bổ sung Biện pháp được áp dụng phổ biến hiện nay ở cácnước phát triển và đang phát triển là bảo hiểm nông nghiệp
2.2.2 Bảo hiểm nông nghiệp
Nhiều nước trên thế giới đã tiến hành bảo hiểm nông nghiệp theohướng bảo hiểm mọi rủi ro hoặc một số loại rủi ro Đây là hình thức đã vàđang phát triển mạnh ở mọi quốc gia Trên thế giới trong thời gian vừa quabảo hiểm nông nghiệp mới chỉ thực hiện trên các loại cây trồng còn đối vớivật nuôi thì đây vẫn là hình thức còn bỏ ngỏ Tuy vậy, tình hình thiên tai,thảm hoạ, dịch bệnh hiện nay diễn biến phức tạp, xảy ra liên tiếp làm cho nhucầu bảo hiểm vật nuôi ngày càng cao
Điển hình trong đại dịch cúm gia cầm H5N1 vừa qua thì ở một quốc
Trang 39Chính phủ Thái liên tục có biện pháp hỗ trợ cho người chăn nuôi gia cầm như
3 ngân hàng là: ngân hàng Dự trữ Nhà nước, ngân hàng nông nghiệp và ngânhàng SME sẽ cung cấp một khoản tín dụng tới 25- 30 tỷ bath để hỗ trợ cácchủ trang trại gà Nguồn vốn vay này dùng để tái tạo đàn gà, nâng cấp trangtrại, dây chuyền công nghệ Ngoài ra, những người nuôi gia cầm bị thiệt hại
sẽ được ngân hàng gia hạn thời gian trả nợ
Bảo hiểm gia cầm cũng là vấn đề đang quan tâm tại Thái Lan Theo bàPotjanee Thanaravanit- Tổng thư ký Hiệp hội bảo hiểm Thái Lan, nhữngngười chăn nuôi gia cầm cần phải mua bảo hiểm để giảm bớt nguy cơ rủi ro.Mức phí bảo hiểm khá cao nhưng dự đoán người chăn nuôi Thái Lan sẽ thamgia tích cực hơn Cũng theo bà, Thái Lan hiện đã có loại hình bảo hiểm chongười nuôi gia cầm và khách du lịch Theo đó mức phí bảo hiểm 100 bath/năm người chăn nuôi gia cầm sẽ được chi trả tới 100.000 bath nếu chẳng may
bị nhiễm bệnh và chết Còn đối với khách du lịch, nếu bị nhiễm bệnh từ giacầm và chết trong vòng 90 ngày khi đi du lịch tại đây sẽ được chi trả bảohiểm 100.000 USD
Đây có thể là coi là chính sách xác đáng của Chính phủ Thái Lan vừađảm bảo sự yên tâm của người dân vừa tránh được thảm hoạ của dịch cúm giacầm, giữ được số lượng khách du lịch trên đất nước đồng thời nhanh chóngkhôi phục ngành gia cầm của mình trong khi đó các nước cùng đại dịch thìkhả năng khắc phục còn nhiều bất cập
Một kinh nghiệm khác trong quản lý rủi ro đối với chăn nuôi gia cầm làcủa New Zealand Theo báo cáo của AM Gibbins (2006) tại Hội nghị chănnuôi gia cầm quốc tế đã đề cập tới kế hoạch quản lý rủi ro từ ngành sản xuấttrứng gia cầm ở New Zealand Cơ sở pháp lý của kế hoạch là Luật sản phẩm
từ động vật Điều đó có nghĩa là chúng phải đáp ứng những tiêu chuẩn về sảnphẩm động vật của New Zealand Hệ thống quản lý rủi ro áp dụng một cáchtiềm năng ở bất cứ khâu nào trong chuỗi giá trị sản xuất, qua chế biến cho tới
Trang 40thị trường Các chương trình quản lý rủi ro bảo đảm được thiết kế bởi việckinh doanh từng sản phẩm động vật để quản lý rủi ro đã biết về mặt sinh học,hoá học, vật lý Chương trình này áp dụng các nguyên tắc về phân tích rủi ro
và Điểm kiểm soát tới hạn (HACCP)
Các chương trình quản lý rủi ro đòi hỏi :
• Xác định tên ngành kinh doanh và tên của người chịu trách nhiệmcuối cùng về chương trình này
• Định nghĩa phạm vi của ngành kinh doanh và xác định sản phẩm và
Ở Việt Nam lĩnh vực bảo hiểm vật nuôi còn khá mới Trên thực tế thì
đã có bảo hiểm nông nghiệp ngay từ đầu năm 1980, xuất hiện bảo hiểm câylúa ở hai huyện Vụ Bản và Nam Ninh tỉnh Hà Nam Tuy nhiên, nhiều lý dohoạt động bảo hiểm gặp nhiều khó khăn dẫn đến doanh thu bảo hiểm giảmdần trong khi tỷ lệ bồi thường thiệt hại lại ở mức cao
Theo Vụ bảo hiểm - Bộ tài chính, tỷ trọng tham gia bảo hiểm nôngnghiệp ở Việt Nam đứng ở mức thấp, chỉ chiếm chưa hết 1 % tổng diện tíchcây trồng, số vật nuôi Tính đến hết năm 2001 chỉ có 0,19% diện tích câytrồng, 0,24% số trâu bò, 0,1 % đàn lợn, và 0,04% số gia cầm được bảo hiểm.Trong khi đó, theo Hội nông dân Việt Nam tổng giá trị thiệt hại trong sản xuấtnông nghiệp hàng năm lại rất lớn, tương ứng 8,2% GDP (1994), 10,5% GDP(1997), 4,8% GDP (1999), và 4,57% GDP (2000) Có thể nói bảo hiểm nôngnghiệp là cực kỳ cần thiết đối với người nông dân Trong đợt cúm gia cầm