1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao hiệu quả của giao kết và thực hiên hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty thnn tấn cường

78 417 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Hiệu Quả Của Giao Kết Và Thực Hiện Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hoá Tại Công Ty TNHH Tấn Cường
Tác giả Nguyễn Đức Đạt
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Văn Nam
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh
Thể loại Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 80 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến giai đoạn này, pháp lệnh hợp đồng kinh tế ban hành ngày 25/9/1989 đã trả qua 14 năm tồn tại, nó đã phát huy được những ưu điểm và hữuích, là công cụ để nhà nước có thể kiểm soát được

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Bước sang thế kỷ 21, thế kỷ đem lại cho đất nước ta nhiều cơ hội vàthử thách to lớn Nền kinh tế nước ta thật sự đang phải đối mặt với nhiều vậnhội và thử thách mới Tuy nhiên với sự lãnh đạo tài tình và nhạy bén củaĐảng và chính phủ, mức tăng trưởng kinh tế trong mấy năm gần đây của nước

ta đều xếp vào loại hàng đầu trên thế giới Việt Nam thực sự là điểm đến củacác nhà đầu tư trong nước cũng như quốc tế

Mua bán hàng hoá là một nhân tố quan trọng nhất trong nền kinh tế và

nó đặc biệt quan trong trong nền kinh tế thị trường đầy biến động như ở nước

ta hiện nay

Hợp đồng mua bán hàng hoá là một đề tài đã rất quen thuộc đối vớisinh viên chuyên ngành Luật kinh tế cũng như một vài chuyên ngành kháccủa ĐH - KTQD Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay khi đất nước ta đã thực

sự hội nhập vào nền kinh tế quốc tế (gia nhập WTO), hàng loạt các đạo luậtmới ra đời (trong đó có Luật Thương mại 2005) thì việc tìm hiểu và nghiêncứu các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá là thực sự cần thiết

Em tin rằng với sự cố gắng của bản thân cộng với sự tận tình giúp đỡcủa thầy PGS.TS Trần Văn Nam chuyên đề thực tập tốt nghiệp của em thật

sự hoàn thiện và có ý nghĩa cho thực tiễn

Trang 2

CHƯƠNG I CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ THEO

LUẬT THƯƠNG MẠI 2005.

I KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ

1 Quá trình phát triển các quy định pháp luật về mua bán hàng hoá

1.1 Giai đoạn trước những năm 1990.

Đầu những năm năm mươi, sau khi hoà bình lặp lại, nền kinh tế nước ta

là một nền kinh tế nhiều thành phần để điều chỉnh quan hệ hợp đồng tronghoạt động kinh tế của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khácnhau, Chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh số 735

- TTg này 10/4/1956 Có thể nói rằng ba Điều lệ này đã phản ánh và địnhhướng cho các quan hệ kinh tế thị trường vào những năm đó, trong đó cóquan hệ bán hàng hoá

Đến cuối năm 1959, đặc biệt kinh tế xã hội của nước ta đã có nhữngthay đổi căn bản Nhà nước chủ trương phát triển nền kinh tế theo kế hoạch,đòi hỏi mọi hoạt động kinh tế phải chịu sự điều tiết của Nhà nước Trong điềukiện đó, Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh với nguyên tắc xây dựnghợp đồng hoàn toàn tự nguyện bị coi là không hợp lý nữa Ngày 4/1/1960 ,Thủ tướng chính phủ đã ra nghị định số 004 - TTg ban hành điều lệ tạm thời

về chế độ hợp đồng kinh tế

Cuối thập kỷ 60, Đảng và Nhà nước chủ trương bước đầu cải tiến quản

lý kinh tế Pháp luật hợp đồng kinh tế đã có bước phát triển mới với quyếtđịnh số 113 - TTg ngày 11/9/1965 và chỉ thị số 17 - TTg ngày 20/1/1967 quyđịnh bổ sung và sửa đổi một số vấn đề Qua quá trình tìm hiểu bản Điều lệtạm thời chưa được đưa vào khái niệm hợp đồng kinh tế, Nhà nước chủtrương thu hẹp các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cho nền chủ thể củahợp đồng kinh tế bị thu hẹp, nguyên tắc tương xứng quyền và nghĩa vụ trongquan hệ kinh tế bị phá vỡ bởi lẽ: Việc quản lý kinh tế hoàn toàn bằng cácmệnh lệnh và sự phục tùng

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 3

Sang đến đầu thập kỷ 70, Đảng chủ trương việc quản lý kinh tế phảithực hiện triệt để nguyên tăc kế hạch hoá, hoạch toán kinh tế, bảo đảm quyền

tự chủ kinh doanh, đồng thời tăng cường trách nhiệm của các đơn vị kinh tế

cơ sở, cái tiến kế hoạch hoá, cho các đơn vị kinh tế cơ sở đặt các quan hệ kinh

tế với nhau… Do vậy ba Điều lệ tạm thời ban hành kèm theo nghị định số 004

- TTg tỏ ra không còn phụ hợp nữa với yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tếmới; Hội đồng chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975 vềĐiều lệ chế độ hợp đồng kinh tế Điều lệ này đã tổng kết kinh nghiệm thực tếcủa 15 năm công tác hợp đồng kinh tế, hệ thống lại các quy định đã có, bãi bỏnhững quy định không còn phù hợp, bổ sung nhiều quy định mới và là Điều lệchính thức đầu tiên về hợp đồng kinh tế, Nghiên cứu bản Điều lệ, này ta thấy:Đây là văn bản quy phạm pháp luật về hợp đồng kinh tế dài nhất, có thể điềunhất cho đên lúc đó; các quy phạm của văn bản này thể hiện rõ tính kế hoạch,hành chính, tập trung, bao cấp của cơ chế kinh tế vào những năm đó

Như vậy, trong suốt một thời gian dài, nền kinh tế nước ta quản lý theodõi kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, nặng vè hiện vật Điều kiện đó đã làmcho hợp đồng kinh tế mất đi giá trị đích thức của mình với tính cách là hìnhthức pháp lý chủ yếu của các quan hệ kinh tế

1.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến 1997.

Từ năm 1989, nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá,nhiều thành phần, thị trường tạo ra yếu tố cạnh tranh sản xuất phát triển vànâng cao chất lượng sản phẩm Từ những đặc điểm đó đòi để phải trả lại giátrị định thức hợp đồng kinh tế để đảm bảo cho các hợp đồng kinh tế thực sự là

sự thống nhất ý trí của các bên tham gia ký kết theo nguyên tắc tự do, tựnguyện, bình đẳng và cùng có lợi Trong điều kiện đó, Nhà nước đã ban hànhpháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989, Nghị định số 17 - HĐBT ngày16/1/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành pháp lệnh hợpđồng kinh tế và nhiều văn bản khác để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng theoquan điểm đổi mới

Trang 4

Các quy định của pháp lệnh hợp động kinh tế cho thấy hợp đồng kinh

tế đã thực sự là hình thức pháp lý của các quan hệ kinh doanh, yếu tố tài sản

đã chiếm ưu thế hơn so với yếu tố tổ chức - kế hoạch, quyền tự chủ kinhdoanh của đơn vị kinh tế được pháp luật khẳng định Theo pháp lệnh này, căn

cứ vào nội dung cụ thể của các quan hệ kinh tế thì có thể chia thành nhiều loạihợp đồng kinh tế

độ của hợp đồng mua bán hàng hoá, còn các chủng loại hợp đồng khác đều cóluật chuyển ngành điều chỉnh

1.3 Giai đoạn từ năm 1997 đến 2005.

Đến giai đoạn này, pháp lệnh hợp đồng kinh tế ban hành ngày 25/9/1989 đã trả qua 14 năm tồn tại, nó đã phát huy được những ưu điểm và hữuích, là công cụ để nhà nước có thể kiểm soát được và điều chỉnh sự hoạt độngsản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân.Tuy nhiên trong giai đoạn này, nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ pháttriển và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hơn nữa những quy định về phápluật kinh tế nói chung và pháp luật về mua bán hàng hoá nói riêng lại đượcban hành cách đây hơn 10 năm do đó rõ ràng là sẽ có những hạn chế và bất

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 5

cập, những quy định tỏ ra không còn phù hợp với hiện tại nữa Chính vì vậy

mà ngày 10/5/1997 Quốc hội đã ban hành luật Thương Mại (1997)

Trong luật này, mau bán hàng hoá là một trong 14 loại hành vi thươngmại được quy định ở Điều 45 Mua bán hàng hoá chính là hành vi cơ bản củathương nhân trong hoạt động thương mại Tại khoản 2 Điều 5 - Luật thươngmại (1997) định nghĩa: Hoạt động thương mại là hành ứng dịch vụ thươngmại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặcnhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội

1.4 Giai đoạn từ 2005 đến nay.

Trong một vai năm gần đây, Nhà nước đã thực hiện đường lối đổi mới

cơ chế kinh tế với sự thừa nhận đã hình thức sở hữu, đa hình thức kinh doanh.Quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay đã đạt được những thành tựu nổibật Nhưng quá trình đó càng đi vào chiều sâu và bề rộng thì càng bộc lộ rõnhững vấn đề mới cần giải quyết Tự do, năng động , sáng tạo, nhạy bén làthuộc tính khách quan và là yêu cầu của nền kinh tế thị trường, nhưng gắnliền với nó là nguy cơ tự do về Chính phủ, tuỳ tiện, gian lận kinh doanh,thương mại… Hơn nữa, trong giai đoạn này nước ta đã thực sự hội nhập vàonền kinh tế quốc tế (gia nhập WTO) thì càng cần thiết đòi hỏi Nhà nước phải

có một khung pháp lý Thương mại hoàn chỉnh để điều chỉnh các hoạt động đóđúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật củaNhà nước

Đước trước yêu cầu đó, ngày 14/11/2005 Quốc hội đã ban hành luậtThương mại số 36/ 2005 - QH 11 quy định về hoạt động thương mại (luật này

có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2006, thay thế luật thương mại - 1997)nhằm tạo thành một hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho các thương nhân tronghoạt động thương mại

Cũng giống như luật thương mại - 1997, luật thương mại 2005 cũngquy định khá đầy đủ và chi tiết về mua bán hàng hoá, hợp đồng mua bán hànghoá Tuy nhiên để hoạt động thương mại nói chung và hoạt động mua bán

Trang 6

hàng hoá nói riêng đi vào chiều sâu, đòi hỏi mỗi thành phần kinh tế, mỗi cánhân cần phải tìm hiểu, tiếp cận và nhận thức đúng đắn các hoạt động thươngmại theo đúng luật, nhằm hạn chế những tổn hại kinh tế không đáng có, đểcác quy định của luật thương mại thực sự có ích trong cuộc sống, tạo thuận lợicho mọi chủ thể của hoạt động thương mại

2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng mua bán hoá.

2.1 Khái niệm, đặc điểm

Hợp đồng quyền và nghĩa vụ giữa các bên nhằm làm phát sinh quyền

và nghĩa vụ pháp lý Căn cứ vào đối tượng có thể coi hợp đồng mua bán hànghoá là một thương mại Hợp đồng mua bán hàng hoá là hợp đồng được giaokết giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với bên kháckhông phải là thương nhân trong việc mua bán tất cả các động sản, kể cả độngsản được hình thành tương lai và những vật gắn liền với đất đai

Để tạo điều kiện thuận tiện cho hoạt động kinh doanh của thương nhânViệt Nam khi tham gia các quan hệ mua bán hàng hoá quốc tế, khi ký kết hợpđồng thì pháp luật cho phép các bên có quyền thảo thuận với nhau về việc ápdụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với vớicác nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Khi đó, pháp luật nước ngoài,tập quán thương mại quốc tế sẽ có giá trị bắt buộc đối với các bên tham giahợp đồng

Hợp đồng mua bán qua sở giao dịch hàng hoá lần đầu tiên được quyđịnh trong luật thương mại năm 2005 (Điều 64), bao gần hợp đồng kỳ hạn vàhợp kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn Hợp đồng kỳ hạn là thoả thuận, theo đóbên bán cam kết giao và bên mua cam kết nhận hàng hoá tại một thời điểmtrong tương lai theo hợp đồng Hợp đồng về quyền chọn mua hoặc quyềnchọn bán là thoả thuận, theo đó bên mua quyền có quyền được mua hoặcđược bán một hàng hoá xác định với mức giá định trước (gọi là giá giao kết)

và phải trả một khoản tiền nhất định để được mua quyền này (gọi là giá giaokết) và phải trả một khoản tiền trước (gọi là giao kết) và phải trả một khoản

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 7

tiền nhất định để được mua quyền này (gọi là tiền mua quyền) Bên muaquyền có quyền chọn thực hiện hoặc không thực hiện việc mua bán hoặc bánhàng đó.

2.2 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hoá.

* Căn cứ vào phạm vi của hợp đồng có thể chia ra hai loại đó là:

Hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước và hợp đồng mua bán hànghoá quốc tế Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước thi đương nhiên

sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, cụ thể là luật Thương mại 2005

và các luật chuyên ngành khác Còn đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc

tế thì các bên có thể thoả thuận áp dụng, có thể là luật của Việt Nam hay luậtcủa phía đối tác hay cũng có thể là luật của một nước thứ ba

* Căn cứ vào cách thức thực hiện hợp đồng có thể chia ra hai loại:

Hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá và hợp đồng mua bánhàng hoá không qua sở giao dịch hàng hoá Cần lưu ý đối với loại hợp đồngmua bán qua cơ sở giao dịch hàng hoá rằng: thứ nhất hàng hoá giao dịch tại

cơ sở giao dịch phải thuộc danh mục hàng hoá giao dịch tại sở giao dịch hànghoá do bộ trưởng bộ thương mại quyết định Thứ hai, theo điều 69 của LuậtThương mại năm 2005, thương nhân môi giới qua sở giao dịch về hàng hoáchỉ được phép hoạt động tại sở giao dịch hàng hoá khi đáp ứng đủ các điềukiện theo quy định của pháp luật; thương nhân mua bán qua sở giao dịch hànghoá chỉ được phép thực hiện các hoạt động mua giới mua bán qua sở giaodịch hàng hoá và không được phép là một bên của hợp đồng mua bán hànghoá qua sở giao dịch hàng hoá Thứ ba, điều 70 của luật thương mại, năm

2005, các hành vi bị cấm đối với thương nhân môi giới hàng hoá qua sở giaodịch hàng hoá:

- Lôi kéo khách hàng ký kết hợp đồng bằng cách hứa bồi thường toàn

bộ hoặc một phần thiệt hại phát sinh hoặc đảm bảo lợi nhuận cho khách hàng

- Chào hàng hoặc mua giới mà khôn có hợp đồng với khác hàng

Trang 8

3 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá.

Nội dung của hợp đồng là tất cả những gì mà các bên thoả thuận vàpháp luật quy định đối với một hợp đồng Một hợp đồng mua bán hàng hoá sẽ

có giá trị pháp luật khi thoả mãn tối thiểu những điều kiện về nội dung màpháp luật quy định Khi thiếu một trong những nội dung đó thì hợp đồngkhông thể phát sinh hiệu lực Trong thực tế, hậu quả xấu đã xảy ra xuất phát

từ điểm các bên trong hợp đồng không quy định rõ ràng hoặc đầy đủ nhữngnội dung của hợp đồng dẫn tới có tranh chấp xảy ra các bên sẽ không cóchứng cứ hoặc chứng cứ không rõ ràng và những thiệt hại không cần thiết cóthể xảy ra đối với tất cả các bên và không thể lường trước được

Luật thương mại năm 1997 quy định hợp đồng mua bán hàng hoá, dù làtrong nước hay đối với thương nhân nước ngoài phải có nội dung chủ yếu sauđây: Tên hàng, số lượng hàng, quy cách, chất lượng hàng hoá, giá cả hànghoá, phương thức thanh toán, thời gian và địa điểm giao nhận hàng hoá và cácthoả thuận khác tuy nhiên, đến Luật Thương mại năm 2005 đã không quyđịnh về nội dung hợp hợp mua bán hàng hoá Trên cơ sở việc xác lập mốiquan hệ với bộ luật Dân sự, khi xem xét vấn đề nội dung của hợp đồng muabán hàng hoá chúng ta có thể dựa trên các quy định của bộ luật Dân sự Theo

đó trong hợp đồng mua bán hàng hoá, các bên có thể thoả thuận về những nộidung sau đây:

* Đối tượng của hợp đồng.

Trong mua bán hàng hoá, đối tượng của hợp đồng là một hàng hoá nhấtđịnh đây là điều khoán cơ bản của một hợp đồng mua bán hàng hoá, mà khithiếu nó hợp đồng mua bán hàng hoá không thể hình thành được do người takhông thể hình dung được các bên tham gia hợp đồng nhằm mục đích gì, trao

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 9

đổi cái gì đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá được xác định thôngqua tên gọi của hàng hoá Trong hợp đồng mua bán hàng hoá các bên có thể

gi rõ tên hàng bằng tên thông thường tên thương mại… để tránh có sự hiểu sailệch về đối tượng hợp đồng

* Chất lượng hàng hoá.

Chất lượng hàng hoá giúp xác định chính xác đối tượng của hợp đồng,cái mà người mua biết tường tận với những yêu cầu được tính năng, tác dụng,quy cách, kích thức, công suất, hiệu quả… xác định cụ thể chất lượng của sảnphẩm thường cũng là cơ sở để xác định giá cả một cách tốt nhất Trách nhiệmcủa các bên thường khác nhau tương ứng với mỗi phươn pháp xác định chấtlượng được thoả thuận Thông thường có các biện pháp xác định chất lượngnhư dựa vào mẫu hàng, dựa vào các tiêu chuẩn, dựa vào mô tả tỉ mỷ, dựa vàonhãn hiệu hàng hoá hoặc điều kiện kỹ thuật…

* Giá cả hàng hoá.

Các bên có quyền thoả thuận giá cả và phải được ghi cụ thể trong hợpđồng hoặc nếu không ghi cụ thể thì phải xác định rõ phương hướng xác địnhgiá, vì đây là điều khoản quan trọng trong các cuộc thương lượng để đi đến kýđến hợp đồng Để mang lại lợi ích cho cả hai bên, các bên cũng có thể thoảthuận với nhau lựa chọn hình thức giảm giá phù hợp gi trong hợp đồng nhưgiảm giá như giao hàng sớm, do mua số lượng nhiều và quy định rõ mức giágiảm

* Phương thức thanh toán

Trang 10

Phương thức thanh toán là các cách thức mà bên mua và bên bán thoảthuận, theo đó bên mua phải thanh toán cho bên bên bán tiền hàng đã muatheo một phương thức nhất định Có nhiều phương thức thanh toán nhưngviệc lựa chọn phương thức nào cũng xuất phát từ nhu cầu của người bán làthu tiền nhanh đầy đủ và yêu cầu của người mua là nhận được hàng đúng sốlượng, chất lượng, thời hạn như đã thoả thuận và không có rủi ro trong thanhtoán Việc chọn phương thức thanh toán trong hợp đồng hoàn toàn phụ thuộcvào sự thoả thuận giữa các bên khi tham gia qua lệ hợp đồng mua bán hànghoá Sự lựa chọn phương thức thanh toán cũng căn cứ vào mức độ an toàn củaphương thức thanh toán và phí tổn cho việc thanh toán

* Thời gian và địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng.

Thời gian thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian mà bên bán phảihoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho bên mua theo đúng đối tượng của hợpđồng đúng địa điểm đã thoả thuận trong hợp đồng Bên mua có nghĩa vụ vànhận hàng đúng thời gian và địa điểm và trả tiền cho bên bán Các bên có thểthoả thuận với nhau sao cho hợp lýy căn cứ vào tình hình thực tiễn, khả năngthực hiện của mỗi bên Địa điểm giao hàng có thể do hai bên thoả thuận, phùhợp với điều kiện thực tế, thuận tiện và có lợi cho cả hai bên Khi thoả thuậncần thoả thuận cụ thể địa chỉ giao hàng, đảm bảo nguyên tắc phù hợp với khảnăng đi lại của phương tiện vận chuyển, đảm bảo an toàn cho phương tiện

Trong mua bán hàng hoá, việc giao nhận hàng hoá có thể được thựchiện trực tiếp đối với người mua hoặc thông qua người thứ ba Vì vậy cácbên phải thoả thuận rõ thời hạn và địa điểm, từ đó xác định quyền và nghĩa

vụ mỗi bên cũng như xác định rủi ro mà mỗi bên phải gánh chịu

II CHẾ ĐỘ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

1 Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá

Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá là thương nhân và các tổchức, cá nhân không phải là thương nhân

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 11

Luật thương mại 2005 cũng thừa nhận thương nhận thực tế bằng việckhông đặt điều kiện đăng ký kinh doanh là một trong những điều kiện bắtbuộc để được công nhận nhưng đối với trường hợp chưa đăng kýy kinhdoanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình.Quy định này đã được giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tế là ngườikhông đăng ký kinh doanh nhưng có hành vi kinh doanh thì có được coi làthương nhân không Nhưng quy định nàylại có phần không rõ ràng vì nókhông giới hạn trách nhiệm của thương nhân trong phạm vi hoạt động thươngmại Vì vậy một tổ chức, cá nhân trước khi đăng ký kinh doanh tiến hành cáchành vi không nhằm mục đích sinh lợi vẫn có thể phải chịu trách nhiệm nhưvới thương nhân.

Thương nhân sẽ không bao gồm hộ gia đình, tổ hợp tác vì tuy đượcthừa nhận là chủ thể của luật dân sự, có quyền hoạt động kinh doanh dướihình thức hộ kinh doanh, cá thể song hộ gia đình, tổ hợp tác không phải tổchức kinh tế, cũng chẳng phải là cá nhân Thương nhân gồm có thương nhânViệt Nam và thương nhân nước ngoài có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc chủthể khác việc xác định tư cách thương nhân nước ngoài phải căn cứ nướcngoài phải căn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó mang quốctịch Việc xác định điều kiện để cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ chức trởthành tư nhân phải dựa trên quy đinh của pháp luật Việt Nam Vì vậy, thươngnhân nước ngoài là thương nhân được thành lập hoặc đăng kýy kinh doanhtheo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài côngnhận (khoản 1, điều 16 luật thương mại)

Trang 12

a Thương nhân là cá nhân

Để được công nhận là thương nhân thì một cá nhân phải có năng lựchành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và hoạt động thương mạimột cách độc lập, thường xuyên như một nghề nghiệp Cá nhân cũng có thểtrở thành tư nhân ngay cả khi hoạt động thương mại một cách độc lập thườngxuyên như một nghề nghiệp mà chưa đăng ký kinh doanh

Thương nhân là cá nhân sẽ bao gồm: - cá nhân kinh doanh

- Doanh nghiệp tư nhân

- Công ty hợp doanh

Trong lĩnh vực hoạt động thương mạim do thương nhân phải chịu tráchnhiệm đầy đủ về hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau dây sẽkhông được công nhân là tư nhân: - Người không có năng lực hành vi dân sựđầy đủ, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vidân sự

- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang phải chấpnhận hình phạt tù

- Người đang trong thời gian bị toà án tước quyền nghề vì các tội buônlạu, đầu cơ, buôn bán hàng cấm, làm hàng giả, buôn bán hàng hoá, kinhdoanh trái phép , trốn thuế, lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy địnhcủa pháp luật

b Thương nhân là tổ chức.

Trong thực tiễn hoạt động thương mại, thương nhân là tổ chức, là chủyếu của hợp đồng mua bán hàng hoá Tổ chức kinh tế được thành lập hợppháp nhằm mục đích hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên

và có đăng ký kinh doanh sẽ được coi là thương nhân có thể hiểu tổ chứckinh tế trước hết phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân trong quá trìnhhoạt động thương mại và hoạt động một cách độc lập Một tổ chức được côngnhân là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây (Điều 84 Bộ luật Dân sự):

- Được thành lập hợp pháp

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 13

- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

- Có tài sản độc lập với cá nhân

- Tổ chức và tự chịu trách nhiệm về tài sản đó

- Nhân danh mình tham gia vào quan hệ pháp luật một cách độc lập.Song không phải tất cả những tổ chức được coi là pháp nhân đều có thểtrở thành thương nhân mà chỉ cõn pháp nhân nào là tổ chức kinh doanh đượcthành lập để hoạt động thương mại mới trở thành thương nhân Pháp nhân là

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Các tổ chức kinh tế khác có đủ điều kiện theo quy định là thươngnhân

Điều 17 Lụât Thương mại 1997 quy định hộ gia đình, tổ hợp tác có đủđiều kiện để kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật nếu có yêucầu hoạt động thương mại thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấychứng nhận đăng ký kinh doanh và trở thành thương nhân Theo quy định củaLuật Thương mại 2005 hộ gia đình và tổ hợp tác không được xếp là tổ chứchay cá nhân

1.2 Chủ thể không phải là thương nhân.

Nếu căn cứ vào mục đích sinh lợi, thì trong rất nhiều trường hợp tổchức, cá nhân không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợpđồng thương mại Nghĩa là một bên của hợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạtđộng thương mại độc lập và thường xuyên, còn bên kia là chủ thể không cầnđiều kiện nói trên, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủnăng lực vì hành vi để tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hànghoá theo quy định của pháp luật Đó có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư

Trang 14

cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, cũng có thể là hộ gia đình,

tổ hợp và không hoạt động thương mại độc lập và thường xuyên như mộtnghề

2 Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá.

Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá là hàng hoá Hàng hoá lanhững sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi

để thoả mãn nhu cầu của con người Hàng hoá có thể là vật, là sức lao độngcủa con người, là các quyền tài sản Khoản 3 điều 5 luật thương mại năm

1997 quy định hàng hoá chỉ bao gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệuhàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường nhà ở dướihình thức cho thuê, bán theo đó, nhiều loại tài sản khác không được, coi làhàng hoá như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu vàcác chứng từ có giá trị quyết và các loại tài sản vô hình khác Khoản 2 điều 3Luật Thương mại 2005 đã mở rộng hàng hoá hơn Theo đó hàng hoá bao gồmtất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và các vật gắnliền với đất đai Tuy nhiên, khái niệm về hàng hoá vẫn còn sự hạn chế,chúng ta dễ dàng nhận thấy trong quy định này hàng hoá chỉ bao gồm các loạitài sản hữu hình Như vậy các loại tài sản vô hình khác như quyền sử dụngđất, quyền sở hữu trí tuệ… chưa được thừa nhận là hàng hoá Trong khi đócác văn bản khác như Bộ luật Dân sự, luật Đất đai 2003 quy định người cóquyền dùng đat s được chuyển nhượng, cho thuê, thuế chấp… thậm chí thừanhận trên thực tế sàn giao dịch về quyền sử dụng đất

Như vậy, chúng ta có thể hiểu hàng hoá trong hợp đồng mua bán hànghoá bao gồm tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai

Và các vật gắn liền với đất đai tuy nhiên, khi các chủ thể giam gia vào quan

hệ hợp đồng mua bán hàng hoá cần phải xem hàng hoá mà mình định muahoặc bán là cái gì, nó có thuộc danh mục hàng cấm kinh doanh, hạn chế kinhdoanh hoặc hàng kinh doanh có điều kiện hay không

* Những hàng hoá cầm lưu thông, dịch vụ thương mại cấm thực hiện gồm:

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 15

- Vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng và phương tiện kỹ thuậtchuyên dùng của các lực luợng vũ trang;

- Chất ma tuý

- Một số hoá chất có tính độc hại mạnh

- Các hiện vật thuộc di tích lịch sử, văn hoá, bảo tàng

- Các sản phẩm văn hoá phản động, đồi truỵ, mê tín dị đoan hoặc cóhại tới giáo dục nhân cách

- Thuốc lá điếu, sản xuất tại nước ngoài

- Các loại pháo

- Các loại thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người và gia súc thuốc bảo

vệ thực vật và các trang thiết bị, dụng cụ y tế chưa được phép sử dụng tại ViệtNam

- Thực vật, động vật hoang dã thuộc danh mục công ước quốc tế quyđịnh mà Việt Nam tham gia ký kết và các loại động vật, quý hiếm khác cầnđược bảo vệ

- Một số đồ chơi trẻ em có hại tới giáo dục nhân cách, sức khoẻ của trẻ

em hoặc tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội

- Một số loại hoá chất, phụ gia, chế phẩm sinh học, chất xử lý môitrường, chất tẩy rửa khử trùng sử dụng cho sản xuất giống, nuôi trồng, bảoquản, chế biến thuỷ sản và dịch vụ thuỷ sản không được phép sử dụng tại ViệtNam

* Những hàng hoá, dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh gồm:

- Hàng hoá có chứa chất phóng xạ, và thiết bị phát bức xạ inon hoá

- Vật liệu nổ công nghiệp, vật liệu nổ dùng cho quốc phòng, an ninh;

- Thuốc bảo vệ thực vật thuộc danh mục hạn chế sử dụng tại ViệtNam

- Thuốc lá điếu sản xuất trong nước;

- Rượu các loại từ trên 30 độ cần trở lên

* Những hàng hoá, dịch vụ thương mại kinh doanh có điều kiện gồm:

Trang 16

- Xăng dầu các loại

- Khí đốt các loại

- Hoá chất độc hại và sản phẩm có hoá chất độc hại

- Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người khác, các loại vắc xin, sinhphẩm, trang thiết bị, dụng cụ y tế;

3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá.

Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá là cách thức thể hiện ý chíthoả thuận giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng Nó có thể thực hiện bằnglời nòi, bằng văn bản hoặc được xác định bằng hành vi cụ thể Đối với cácloại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thànhvăn bản thì phải tuân theo các quy định đó Hình thức văn bản bao gồm cảđiện báo, telex, jax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác

Các hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá đó đã tạo điều kiện thuậnlợi giúp cho các bên tham gia quan hệ mua bán hàng hoá có thể lựa chọn hìnhthức phù hợp nhất đảm bảo quyền lợi của mình Những quy định của LụâtThương mại Việt Nam phù hợp với pháp luật quốc tế về mua bán hàng hoá,

đã bước đầu tạo ra những quy định tương thích với không giao pháp lý quốc

tế, tạo điều kiện cho sự hội nhập khi các chủ thể có quan hệ hợp đồng thươngmại quốc tế có thể nói hình thức của hợp đồng mua bán nói trên (trong LuậtThương mại 2005) là phù hợp với công ước viên 1980 bởi Điều 11 công ướcviên 1980 quy định "không yêu cầu hợp đồng mua bán phải được ký hoặc

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 17

phải được xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ mọi yêu cầu nào đó vềmặt hình thức Có thể dùng bất kỳ phương tiện nào, kể cả lời khai nhân chứng

để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng đó" Như vậy luật thương mại 2005 đãvượt ra và khắc phục được hạn chế về hình thức hợp đồng do các văn bảnpháp luật trước đó quy định về vấn đề này, ví dụ như pháp luật Hợp đồngkinh tế

Quy định này cũng khắc phục được hạn chế của Luật thương mại 1997.Luật thương mại 1997 có sự phân biệt về hình thức giữa hợp đồng mau bánhàng hoá trong nước với hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nướcngoài Hình thức hợp đồng bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể chỉ được

áp dụng đối với các hành vi mua bán trong nước Còn hợp đồng mau bán vớithương nhân nước ngoài phải được lập thành văn bản và đó cũng là hình thứcduy nhất đối với hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài Sở

dĩ các làm luật Việt Nam quy định như vậy vì họ quan niệm do tích chất phứctạp của hợp đồng mua bán hàng hoá có sự tham gia của thương nhân nướcngoài, cộng với sự hiểu biết hạn chế của thương nhân Việt Nam đối với các

hệ thống pháp luật quốc tế về mua bán hàng hoá, nên đã cố gắng loại trừ dầnnhững hậu quả bất lợi có thể xảy ra đối với thương nhân Việt Nam khi ký kếthợp đồng Quy định này cũng không gây trở ngại gì cho quá trình ký kết hợpđồng mua bán hàng hoá và thương nhân nước ngoài

Nhưng cũng đã có sự phân biệt, đối xử giữa các quan hệ mua bán hànghoá trong nước và mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài Điều này làm cảntrở quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam Chính vì lẽ đó Luật thương mại

2005 đã quy thống nhất mà không có sự phân biệt nào về hình thức giữa cáchợp đồng mua bán hàng hoá trong nước và quốc tế Điều này có nghĩa là cácbên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước và quốc tế, đều cóthể áp dụng hình thức hợp đồng bằng miệng, bằng văn bản hoặc hành vi cụthể để giao kết hợp đồng, nếu pháp lụât Việt Nam không quy định hợp đồngphải lập dưới một dạng cụ thể là văn bản

Trang 18

Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thoả thuận giữa các bên với nhau,cho nên về mặt nguyên tắc nó không cần đến hình thức tồn tại nhất định.Nhưng dưới góc độ pháp lý việc tuân thủ hình thức của hợp đồng sẽ là bắtbuộc một khi pháp luật có sự ghi nhận về vấn đề đó với mục đích hạn chế cácrủi ro cho các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng

4 Thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá.

4.1 Đề nghị giao kết hợp đồng.

Trong hợp đồng mua bán hàng hoá, đề nghị giao kết hợp đồng chính làchào hàng Chào hàng là một quy định được thừa nhận trong các thông lệquốc tế mua bán hàng hoá theo Điều 14 Công ước Viên 1980, chào hàng là

"Đề nghị về việc ký kết hợp đồng được gửi đích danh cho một hoặc một vàingười được gọi là đơn chào hàng, nếu đề nghị đó đã rõ ràng và thể hiện ý địnhđặt quan hệ trong trường hợp được sự chấp nhận của người chào hàng"

Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng

và chiụ sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xácđịnh cụ thể (khoản 1 - Điều 390 Bộ luật Dân sự) Như vậy đơn chao hàng vềbản chất là một đề nghị giao kết hợp đồng, là việc một bên bày tỏ ý chí củamình muốn giao kết hợp đồng mau bán hàng hoá với một người cụ thể vàchịu sự ràng buộc về đề nghị này đối với bên đã được xác định cụ thể đó.Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếubên đề nghị giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được

đề nghị mà không được giao kết thì phải bồi thường nếu có thiệt hại phát sinh.Như vâỵ, chào hàng là một đề nghị giao kết hợp đồng, có nội dung chủ yếucủa hợp đồng mua bán hàng hoá, được chuyển cho một hoặc nhiều nguời nhấtđịnh, có giá trị trong một thời gian nhất định Tuy khoảng quy định cụ thẻ vềnội dung chủ yếu của đơn chào hàng, nhưng có thể hình dung được rằng bên

đề nghị giao kết hợp đồng phải nêu ra trong đề nghị của mình những nội dungchủ yếu như đối với nội dung của hợp đồng dân sự: đối tượng, giá cả,phương thức thanh toán… và như vậy có thể coi các nội dung chủ yếu của

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 19

hợp đồng mua bán hàng hoá cũng chính là nội dung chủ yếu của đơn chàohàng Những nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng phải rõ ràng để bênđược đề nghị giao kết hợp đồng có thể hình dung được ngay và hiểu đượcmong muốn giao kết hợp đồng của bên đề nghị giao kết hợp đồng Khi đó bên

đề nghị giao kết hợp đồng phải chịu sự ràng buộc bởi những nội dung đã đềnghị và không được thay đổi nội dung đó nếu bên được đề nghị đã đồng ý

đề nghị đến hết thời hạn ghi trong đề nghị giao kết hợp đồng

Tuy nhiên, để tạo mọi khả năng để các bên có thể tiến tới giao kết hợpđồng mua bán hàng hoá các bên có thể tiến hành hành động khác khi nhậnđược chấp nhận đề nghị quá giới hạn Trong trường hợp bên đề nghị giao kếthợp đồng nhận được thông báo chấp nhận đề nghị sau khi hết thời hạn chờ trảlời thì lời đề nghị đó được coi như là đề nghị mới của bên chậm trả lời: Nghĩa

là đã xuất hiện một đề nghị giao kết hợp đồng mới từ phía đối tác của người

đã đề nghị và người đã đề nghị nếu tiếp tục chấp nhận thì trở thành ngườichấp nhận đề nghị Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng

Trang 20

đến chậm vì lý do khách hàng, mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý dokhách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết này vẫn có hiệu lực, trừtrường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bênđược đề nghị giao kết hợp đồng

Trong trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng,nhưng có điều kiện sửa đổi, bổ sung một trong những nội dung của đề nghị thìhành vi đó được coi là từ chối đề nghị và hình thành một đề nghị giao kết hợpđồng mới Như vậy, nếu bên được đề nghị sửa đổi, bổ sung đề nghị khônglàm thay đổi cơ bản nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng thì hành vi đócũng không được coi là chấp nhận đề nghị, mà được coi là đề nghị giao kếthợp đồng mới Nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng được sửa đổi, bổ sung

có thể là điều kiện về giá, thanh toán, chất lượng, số lượng, địa điểm thời giangiao hàng…

III THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

1 Giao nhận hàng hoá.

Bên bán phải giao hàng hoá phù hợp với quy định của hợp đồng; trongcác hợp đồng mua bán hàng hoá, các bên thường có thoả thuận với nhau vềđiều kiện kèm theo việc giao hàng thoả thuận về điều kiện giao nhận hàng hoánhằm mục đích xác trách nhiệm và chi phí giao hàng của các bên như đối vớivận tải, bảo hiểm hàng hoá, thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu, gánh chịurủi ro… Ngoài ra, trong mua bán hàng hoá việc giao hàng còn liên quan đếnviệc giao nhận cả các chứng từ liên quan đến hàng hoá Nếu các bên không có

sự thoả thuận hoặc sự thoả thuận không cụ thể, thì bên bán phải có nghĩa vụgiao hàng và chứng từ liên quan kèm theo

Các bên có thể thoả thuận về địa điểm, thời hạn và phương thức giaohàng tuỳ theo tính chất của các hàng hoá trong hợp đồng khi đã thoả thuận vềđịa điểm giao hàng thì các bên phải tôn trọng thoả thuận và phải thực hiệnđúng thoả thuận đó Bên bán phải có nghĩa vụ giao hàng, bên mua phải cónghĩa vụ nhận hàng đúng địa điểm đã thoả thuận

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 21

Trong trường hợp không thoả thuận về địa điểm giao hàng thì địa điểmgiao hàng được xác định như: như sau: Trường hợp hàng hoá là vật gắn liềnvới đất đai thì bên bán phải giao hàng tại nơi có hàng hoá đó Trường hợptrong hợp đồng có quy định về vấn đề chuyển hàng hoá thì bên ngoài có nghĩa

vụ giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên Trường hợp trong hợp đồngkhông có quy định về vận chuyển hàng hoá, nếu vào thời điểm giao kết hợpđồng, các bên biết được địa điểm kho chứa hàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơisản xuất, chế tạo hàng hoá thì bên bán phải giao hàng tại địa điểm đó, Trongcác trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh củabên bán, nếu không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cứ trúcủa bên bán được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng

Vì giao hàng là một nghĩa vụ chủ yếu của bên bán, nên bên bán phảichịu trách nhiệm về việc hàng không phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng.Hàng hoá được coi là không phù hợp hợp đồng khi hàng hoá đó thuộc mộttrong những trường sau đây (khoản 1 Điều 39 luật thương mại 2005)

- Không phù hợp với mục đích sử dụng của hàng hoá cùng chủng loạivẫn thường được sử dụng

- Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã chobên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời gian giao kết hợp đồng

- Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng mà bên bán

đã giao cho bên mua

- Không được bảo quản đóng gói theo cách thức thông thường với loạihàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trongtrường hợp không có cách thức bảo quản thông thường

Trong trường hợp không phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng, thìbên bán có quyền từ chối nhận hàng, người bán phải chiụ hoàn toàn tráchnhiệm về thiệt hại phát sinh, dù người bán có thể biết hoặc không thể biết vềthiệt hại phát sinh, dù người bán có thể biết hoặc không thể biết về thiệt hạiđó

Trang 22

Trong hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá, việcgiao nhận hàng hoá cũng có những ngoại lệ Nếu các bên không có thoả thuậnnào khác về giao nhận hàng hoá thì việc giao nhận hàng hoá sẽ được thựchiện như đối với sự việc mua bán hàng hoá thông thường Tuy nhiên, tronghợp đồng kỳ hạn, các bên có thể thoả thuận về việc thanh toán bằng tiền củabên mua và không nhận hàng khi đó bên bán không phải giao hàng và bênmua không phải nhận hàng mà bên mua chỉ phải thanh toán cho bên bán mộtkhoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thoả thuận trong hợp đồng và giá thịtrường do sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thựchiện mà thôi Đối với hợp đồng quyền chọn thì nghĩa vụ giao nhận hàng củacác bên chỉ phát sinh khi bên giữa quyền chọn mua thực hiện quyền mua vàbán hàng có hàng để bán, bên giữ quyền bán thực hiện quyền bán mà bên mauđồng ý mua hàng

2 Chất lượng hàng hoá.

Chất lượng hàng hoá là vấn đề quan tâm của các bên khi ký kết hợpđồng mua bán hàng hoá, vì nó là yếu tố quyết định mục đích của hợp đồng vàkhả năng của các bên khi tham gia vào thương trường Khi các bên tham gia

ký kết hợp đồng thì phải thoả thuận về chất lượng của hàng hoá Hàng đúngchất lượng phải đảm bảo khả năng sử dụng, bảo đảm đúng phẩm chất, bao bìđóng gói, quy cách, chủng loại của sản phẩm theo tiêu chuẩn hoặc theo sựthoả thuận của các bên

Để đảm bảo mục đích của hợp đồng được thực hiện một cách tốt nhất,nếu các bên có thoả thuận để bên mua hoặc đại diện của bên mua tiến hànhkiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng thì bên bán phải đảm bảo cho bên muahoặc đại diện cho bên mua có điều kiện tiến hành việc kiểm tra Khi đó, bênmua hoặc đại diện của bên mua trong trường hợp này phải kiểm tra hàng hoátrong một thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép; trường hợp hợpđồng có quy định về việc vận chuyển hàng hoá thì việc kiểm tra hàng hoá có

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 23

thể được hoãn lại cho tới khi hàng hoá được chuyển tới địa điểm, trừ trườnghợp các bên có thoả thuận khác Trong trường hợp bên mua hoặc đại diện bênmua không thực hiện việc kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng theo thoảthuận thì bên bán có quyền giao hàng theo hợp đồng.

Bên bán không phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyến của hànghoá mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã biết hoặc phải biết nhưngkhông thông báo cho bên bán trong thời hạn hợp lý sau khi kiểm tra hàng hoá.Nhưng bên bán phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá

mà bên mua hoặc đại diện bên mua đã kiểm tra nêu các khuyến khuyết củahàng hoá không thể phát hiện được trong qúa trình kiểm tra bằng biện phápthông thường vằ bên bán đã biết hoặc phải biết về các Khiếm khuyết đónhưng không thông báo cho bên mua

3 Thanh toán

Thanh toán tiền hàng được coi là nghĩa vụ quan trọng mà người muaphải thực hiện Người bán và người mua có thể thoả thuận những biện phápràng buộc chặt chẽ nhằm đảm bảo việc thanh toán được đầy đủ và đúng hạntheo thoả thuận trong trường hợp đồng Bên mua phải có nghĩa vụ thanh toán

và nhận hàng theo thoả thuận và các bên có thể thoả thuận về phương thức,thời hạn và thời điểm thanh toán Khi đó bên mua phải tuân thủ các phươngthức thanh toán và thực hiện thanh toán theo đúng trình tự, thủ tục theo thoảthuận và các quy định của pháp luật về thanh toán

Trường hợp người mua vi phạm nghĩa vụ này sẽ dẫn đến việc phảigánh chịu trách nhiệm vật chất Trong trường hợp bên mua hàng vi phạm hợpđồng chậm thanh toán tiền hàng thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả đó theolãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tươngứng với thời gian chậm trả, khi bên vi phạm yêu cầu, trừ trường hợp có thoảthuận khác (Điều 306 Luật Thương mại 2005)

Trang 24

Khi người mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì người bán cũng có thểcăn cứ vào Điều 308, 321 Điều 312 Luật Thương mại để tạm ngừng giaohàng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc huỷ hợp đồng

Về nguyên tắc thanh toán, bên mua có quyền tạm ngừng thanh toántoàn bộ số tiền một phần số tiền mua hàng nếu bên mua có bằng chứng vềviệc bên bán lừa dối, tạm ngừng thanh toán cho đến khi tranh chấp đã đượcgiải quyết khi có bằng chứng về việc hàng hoá đang là đối tượng tranh chấp;tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự không phù hợpcủa hàng hoá trong trường hợp bên mua có bằng chứng về việc bên bán đãgiao hàng không phù hợp với hợp đồng Tuy nhiên, nếu bằng chứng mà bênmua đưa ra trong trường hợp tạm ngừng thanh toán là hàng hoá đang bị tranhchấp hoặc bằng chứng không xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên muaphải bồi thường thiệt hại đó và chiụ các chế tài khác theo quy đinhh của phápluật (Điều 51 Luật Thương mại 2005)

Thời hạn thanh toán cũng có một vai trò quan trọng trong việc bảo đảmquyền lợi của các chủ thể tham gia hợp đồng Thời hạn mà người mua phảithanh toán tiền mua hàng do hai bên thoả thuận căn cứ vào thời gian vàphương thức giao hàng

Các phương thức thanh toán mà các bên tham gia hợp đồng, đặc biệt làhợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài có thể chọn hiệnnay là: phương thức chuyển tiên, phường thức ghi sổ, phương thức nhờ thu,phương thức uỷ thác mua, thử bảo đảm trả tiền, phương thức tín dụng chứng

từ Việc chọn phương thức thanh toán nào để thoả thuận trong hợp đồng hoàntoàn phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng mua bán hànghoá trên cơ sở tình hình thị trường hàng hoá, sự hiểu biết về khả năng tàichính và tín nhiệm thương mại của bạn hàng

4 Chế tài áp dụng đối với vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá.

4.1 Các loại chế tài trong thương mại

- Buộc thực hiện đúng hợp đồng

- Phạt vi phạm

- Buộc bồi thường thiệt hại

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 25

- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng

- Đình chỉ thực hiện hợp đồng

- Huỷ bỏ hợp đồng

- Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc

cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

và tập quán thương mại quốc tế

4.2 Áp dụng các chế tài

Việc áp dụng các chế tài là cần thiết bởi lẽ nó không chỉ tạo ra sự côngbằng cho các bên tham gia quan hệ thương mại mà nó còn có tính răn đe, giúpcác chủ thể có ý thức tuân thủ pháp luật hơn

Tuy nhiên theo Điều 294 Luật thương mại 2005 cũng có sự châm trướckhi quy định của trường hợp miễn trách nhiệm đối với các hành vi vi phạm

- Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận

- Xảy ra sự kiện bất khả kháng

- Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quảnquản lý Nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thờiđiểm giao kết hợp đồng

Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễntrách nhiệm

* Buộc thực hiện đúng hợp đồng.

Là việc bên vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồnghoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạmphải chịu chi phí phát sinh Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng hoặccung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứngdịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng Trường hợp bên vi phạm giaohàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết điểm củahàng hoá, thiết sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch

vụ theo đúng hợp đồng loại dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấpnhận của bên vi phạm Bên vi phạm có thể gia hạn một thời gian hợp lý đểbến vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng

* Phạt vi phạm.

Trang 26

Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoảntiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, t rừ cáctrường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 - Luật thương mại 2005 Như vậy phạt vi phạm chỉ xảy ra nếu có thỏa thuận về vấn đề này trong hợpđồng

Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đốivới nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tạiĐiều 266 - Luật thương mại 2005: là do kết quả giám định sai

* Bồi thường thiệt hại: là việc bên vi phạm bồi thường những tổng thất

do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra co bên bị vi phạm giá trị bồi thường thiệthại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu dobên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ đượchưởng nếu không có hành vi vi phạm

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sauđây: - Có hành vi vi phạm hợp đồng

-Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng

Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực.Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luậtnày

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 27

*Đình chỉ thực hiện hợp đồng.

Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa

vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

-Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đìnhchỉ hợp đồng;

-Một bên vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng

Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểmmột bên nhận được thông báo đình chỉ Các bên không phải tiếp tục thực hiệnnghĩa vụ hợp đồng Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanhtoán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối xứng Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồithường thiệt hại theo quy định của luật này

*Huỷ bỏ hợp đồng

Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm huỷ bỏ toàn bộ hợp đồng và huỷ bỏ mộtphần của hợp đồng Huỷ bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việcthực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng; Huỷ bỏ mộtphần hợp đồng là viịec bãi bo thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, cácphần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực Huỷ bỏ hợp đồng được áp dụngtrong các trường hợp sau đây:

-Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để huỷhợp đồng;

-Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng

Trường hợp có thoả thuận về giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần,nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình trong giao hàng, cung ứngdịch vụ và việc này cấu thành một vi phạm cơ bản đối với lần giao hang,cung ứng dịch vụ đó thì bên kia có quyền tuyên bố huỷ hợp đồng đối với lầngiao hàng, cung ứng dịch vụ Trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụđối với một lần giao hàng cung ứng dịch vụ là cơ sở để bên kia kết luận rằng

vi phạm cơ bản sẽ xảy ra đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau

đó thì bên bị vi phạm có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với những lầngiao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó, với điều kiện là bên đó phải thực hiệnquyền này trong thời hạn hợp lý Trường hợp một bên đã tuyên bố huỷ bỏ hợp

Trang 28

đồng đối với một lần giao hang, cung ứng dịch vụ thì bên đó vẫn có quyềntuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vu đãthực hiện hoặc sẽ thực hiện sau đó nếu mối quan hệ qua lại giữa các lần giaohang dẫn đến việc hàng hoá đã giao, dịch vụ đã cung ứng không thể thể được

sử dụng theo đúng mục đích mà các bên đã dự kiến vào thời điểm giao kếthợp đồng

Sau khi huỷ bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểmgiao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuậntrong hợp đồng, trừ thoả thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợpđồng và về giải quyết tranh chấp Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đãthực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa

vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ được thực hiện đồng thời; trường hợp khôngthể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằngtiền Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định củaluật này

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 29

CHƯƠNG II THỰC TIẾN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN

HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY TNHH TẤN CƯỜNG

I KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH TẤN CƯỜNG

1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Công ty TNHH Tấn Cường được chính thức thành lập từ tháng 3 năm

2000, tuy nhiên trước đó công ty đã được hình thành từ một xưởng sản xuấtbao bì ra đời đầu năm 1990 Từ khi hoạt động sản xuất với tư cách là mộtcông ty trách nhiệm hữu hạn, Tấn Cường đã có những bước tiến vững chắc

Công ty TNHH Tấn Cường có trụ sở chính tại nhà E5 tập thể KimGiang – Thanh Xuân – Hà Nội Hoạt động theo giấy chứng nhận ĐKKD số

0102000103 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 20 tháng

03 năm 2000 ngành nghề kinh doanh chủ yếu là sản xuất và in bao bì các loại.Xưởng sản xuất của công ty đóng tại thôn Kiều Mai – Phú Diễn - Từ Liêm –

Hà Nội với diện tích trên 5000m2, tiếp giáp với đường Cầu Diễn Từ mộtxưởng sản xuất ban đầu thì đến nay 90% sản phẩm của công ty đã được sảnxuất trên dây chuyền máy móc đồng bộ

Với sự yêu cầu mở rộng cả về qui mô lẫn chất lượng của sản phẩm vàcùng với sự phát triển của công ty, đến tháng 8 năm 2006 Công ty TNHH TấnCường đã chuyển trụ sở chính và xưởng sản xuất tới cụm công nghiệp QuốcOai, thị trấn Quốc Oai, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây Tại đây công ty hoạtđộng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0302001626 do sở kếhoạch và đầu tư tỉnh Hà Tây cấp Với diện tích là 12.000m2, cơ sở vật chất, kỹthuật máy móc đã được trang bị mới Công ty TNHH luôn luôn đặt ra phươngchâm: “hướng tới chất lượng cao của sản phẩm và dịch vụ là phương châmcủa Tấn Cường”

Chất lượng cao của sản phẩm được công ty xây dựng dựa trên đòi hỏichất lượng bao bì tốt, mẫu mã đẹp theo yêu cầu của khách hàng Bên cạnh đó

Trang 30

sản phẩm bao bì của Tấn Cường luôn đáp ứng theo yêu cầu khắt khe nhất củakhách hàng trong thiết kế mẫu Công ty luôn khẳng định để có chất lượng caothì việc quản lý sản xuất phải bài bản Đây chính là một trong những lợi thế

so sánh của Tấn Cường so với các đơn vị khách cùng ngành vì đội ngũ cán bộcủa công ty đều là những người có trình độ được đào tạo tại các trường đạihọc kinh tế, kỹ thuật…về tổ chức quản lý đứng đầu là Giám đốc công ty chịutrách nhiệm quản lý chung về hoạt động của công ty Các phòng ban giúpviệc gồm có: phòng tổ chức – hành chính, phòng kế toán tài chính, phòng kếhoạch, phòng vật tư, phòng kinh doanh Về khâu sản xuất, giúp việc cho giámđốc có phó giám đốc và năm quản đốc, từng xưởng được chia thành các tổ sảnxuất theo tính chất các công việc khác nhau

Song song với việc quản lý tốt sản xuất Tấn Cường luôn chú ý đến việcxây dựng hệ thống kiểm tra chất lượng ở tất cả các khâu sản xuất, từ đầu vàođến đầu ra đều phải được kiểm tra gắt gao Các chỉ tiêu chất lượng được cụthể hoá bằng hệ thống các bảng biểu Đối với hàng hoá sản xuất ra nhưng kémchất lượng công ty kiên quyết không giao hàng Cán bộ nhân viên công tyluôn nêu cao khẩu hiệu: “Hàng không tốt không ra khỏi xưởng”

Với cơ cấu tổ chức chặt chẽ, đồng bộ và phương châm kinh doanh nhưtrên công ty Tấn Cường hiện nay đã được sự tín nhiệm của rất nhiều kháchhàng khác nhau không chỉ giới hạn trong phạm vi miền Bắc mà còn được mởrộng vào miền Trung và miền Nam

Với uy tín đã được xây dựng trên sự tín nhiệm của khách hàng, hiệnnay Công ty là nhà sản xuất bao bì chính lâu dài cho công ty sữa Vinamilk HàNội, công ty dầu thực vật Cái Lân (Quảng Ninh), Công ty Chaichareon Việt –Thái (Quảng Trị), công ty Côcacola Hà Nội…Tuy sản lượng được đặt hàng làrất lớn nhưng cán bộ nhân viên trong công ty luôn sản xuất và giao hàng đúnghẹn

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 31

Bên cạnh đó danh sách khách hàng của công ty còn được mở rộng trêntất cả các lĩnh vực khác nhau với ngành nghề kinh doanh khác nhau như công

ty nhựa Hàng Không chuyên sản xuất các sản phẩm nhựa các loại phục vụtrong ngành Hàng không thuộc Tổng cục Hàng không Việt Nam…là thànhviên trong hội doanh nghiệp trẻ công ty TNHH Tấn Cường luôn mong muốngóp một phần mình vào sự phát triển chung của đất ưnớc Trong kinh doanhTấn Cường luôn hoạt động với tinh thần: sự phát triển của khách hàng chính

là sự phát triển của Tấn Cường

2.Các thông tin cơ bản về Công ty

- Công ty TNHH không được phát hành cổ phiếu

- Công ty TNHH có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứngnhận ĐKKD

- Thành viên công ty có thể là tổ chức, cá nhân nhưng tổng số khôngvượt quá 50 thành viên

* Ngành nghề kinh doanh.

- Sản xuất giấy, bao bì giấy các loại

- Sản xuất các sản phẩm nhựa

- Buôn bán lương thực, thực phẩm, hàng công nghệ phẩm

- Bán buôn tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng (chủ yếu máy móc, thiết

bị, vật tư, nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất giấy, bao bì giấy và các sản phẩmnhựa)

- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá

Trang 32

- In bao bì các loại

* Thành viên: Công ty được thành lập bởi tám thành viên sau:

Công ty được thành lập bởi tám thành viên sau:

Bảng số 1: Các thành viên góp vốn vào Công ty

STT Tên thành viên Nơi đăng ký hộ

khẩu thường trú

Số, ngày, nơi cấp CMTND

4.200.347.00 0

2 Vũ Thị Hảo 27/B2 - Cát Linh,

Đống Đa, Hà Nội

Số 010270016 cấp ngày 27/11/1995, do

CA Hà Nội cấp

2.241.921.00 0

3 Đặng Hữu Đạo

Thôn Dẫn Tự, Tân Cương, Vĩnh Tường,Vĩnh Phúc

Số 130751196, cấp ngày 13/06/1980 do CA Vĩnh Phú cấp

526.308.000

4 Nguyễn Nam

Tuấn

Phường Quang Trung, thị xã Uông

Bí, Quảng ninh

Số 100483171, cấp ngày 26/02/2001, do CA Quảng Ninh cấp

321.148.000

5 Dương Việt Anh

Thôn Đáp Cầu, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

số 125149016, cấp ngày 29/06/2001 do

CA Bắc Ninh cấp

135.193.000

6 Phạm Thanh Hải

Thôn Hoà Lạc, xã Tân Cương, Vĩnh Tường,Vĩnh Phúc

Số 135087665, cấp ngày 22/03/2000, do

Trang 33

Công ty phải lập sổ đăng ký thành viên ngay sau khi đăng ký kinhdoanh Sổ đăng ký thành viên phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

(a) Tên, trụ sở của công ty:

(b) Tên, địa chỉ,chữ ký của thành viên hoặc của người đại diện theopháp luật của thành viên

(c) Giá trị vốn góp tại thời điểm góp vốn và phần vốn góp của từngthành viên; thời điểm góp vốn; loại tài sản góp vốn,số lượng, giá trị của từngloại tài sản góp vốn

(d) Sổ và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp của từng thành viên

Sổ đăng ký thành viên được lưu giữ tại trụ sở chính của Công ty hoặcnơi khác, nhưng phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinhdoanh và tất cả thành viên biết

* Quyền và Nghĩa vụ của thành viên

Thành viên công ty có quyền:

(a) Được chia lợi nhuận sau khi Công ty đã nộp thuế và hoàn thành cácnghĩa vụ tài chính khác theo quy định của Pháp Luật tương ứng với phần gópvốn vào công ty

(b) Tham dự họp Hội đồng thành viên, tham gia thảo luận, kiến nghị,biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng Thành viên

(c) Có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp

(d) Xem sổ đăng ký thành viên, sổ kế toán,báo cáo tài chính hàng năm,các tài liệu khác của Công ty và nhận bản trích lục hoặc bản sao các tài liệunày

(e) Được ưu tiên góp thêm vốn vào Công ty tăng vốn điều lệ; đượcchuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp

(f) Khởi kiện Giám đốc tại toàn án khi Giám đốc không thực hiện đúngnghĩa vụ của mình gây thiệt hạiđến lợi ích của thành viên đó

(g)Các quyền khác quy định tại luật doanh nghiệp và điều lệ này

(h) Thành viên hoặc nhóm thành viên sở hữu trên 40% vốn điều lệ cóquyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết những vấn đềthuộc thẩm quyền

Trang 34

Và có nghĩa vụ.

(a) Góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết và chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công ty trong phạm vi số vốn đãcam kết góp vào Công ty

(b) Tuân thủ Điều lệ công ty

(c) Chấp hành quyết định của Hội đồng thành viên

(d) Thực hiện các nghĩa vụ khác quy định tại Luật Doanh nghiệp vàđiều lệ này

3.Tư cách pháp lý của Công ty.

- Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhậnĐKKD

- Công ty có con dấu riêng

- Tên công ty viết bằng tiếng Việt

Công ty TNHH Tấn Cường

Tên công ty viết bằng tiếng nước ngoài

TAN CUONG COMPANY LIMITED

Tên công ty viết tắt: TCCO., LTD

- Người đại diện theo pháp luật của công ty

Chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên

Họ và tên: Nguyễn Vũ Băng Nam

Sinh ngành: 01/08/1965 Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt NamChứng minh nhân dân số: 011133362

Ngày cấp: 22/3/2006 Nơi cấp: Công an TP Hà Nội

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:

Số 27B2 Cát Linh - Phường Cát Linh - Quận Đống Đa – TP Hà Nội.Chỗ ở hiện tại:

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 35

Số 58 Kim Mã Thượng - phường Cống Vị - quận Ba Đình- Hà Nội.

Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty

4.Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trong 3 năm trở lại đây từ năm 2004-2006 công ty sản xuất kinh doanhluôn có lãi, năm 2004 lợi nhuận sau thuế của công ty là 150 triệu, năm 2005

là 200 triệu và năm 2006 theo ước tính là khoảng 270 triệu Ta thấy rằng lợinhuận sau thuế của công ty liên tục tăng qua các năm, cho thấy công ty cóbước phát triển rất nhanh, vững chắc

Cùng với trình độ và kinh nghiệm của các cán bộ công nhân viên cộngvới sức trẻ của ban lãnh đạo, công ty luôn luôn có những giải pháp và ý tưởngmới trong sản xuất, kinh doanh tạo điều kiện cho công ty phát triển sản xuất,

mở rộng qui mô và tăng thị phần trên thị trường Bảng số sau đây thể hiện kếtquả hoạt động kinh doanh của Công ty trong năm 2005

PhòngVận tải,Vật tư

PhòngHànhchính

PhòngTàichính

Kế toán

PhòngKếHoạch

PhòngKinhDoanh

Trang 36

- Các khoản giảm trừ (04+05+06+07) 03 0

+ thuế doanh thu,thuế xuất khẩu phải nộp 07 0

1 Doanh thu thuần về bán hàng và cung

7 Chi phí quản lý doanh nghiệp 25 0 538.855.470 538.855.470

8 Lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất

13 Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp 51 0 74.994.559 74.994.559

14 Lợi nhuận sau thuế (60= 50-51) 60 0 192.843.152 192.843.152

(Nguồn: Phòng tài chính - kế toán)

II THỰC TIỄN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY.

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 37

1 Tổng quan về các khách hàng tiến hành giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty trong những năm gần đây.

Với sự năng động và sáng tạo của ban lãnh đạo Công ty, với tài năngcủa các cán bộ kinh doanh, Công ty đã có được số lượng khách hàng tươngđối lớn Có thể chia ra hai loại khách hàng chủ yếu của Công ty

1.1 Các khách hàng mua bán bao bì Carton

- Công ty Cổ phần sữa Vinamilk Hà Nội

- Công ty Dầu thực vật Cái Lân (Quảng Ninh)

- Công ty TNHH Chaicharean Việt - Thái (Quảng Trị)

- Công ty Cocacola Hà Nội

- Công ty Cổ phần Công nghệ Việt - Mỹ

- Công ty Chế biến Kinh doanh Lương thực - Thực phẩm Hà nội

- Công ty 22 Bộ quốc phòng

- Công ty Cổ phần sữa Việt Nam

- Công ty Cổ phần chế biến Lương thực thực phẩm Đông Nam Á; Công

ty Cổ phần Bibica (Hà nội)

- Công ty TNHH Anh Đào; Công ty TNHH Dịch vụ và XNK TháiDương

- Công ty TNHH Anh Tú

- Công ty TNHH Rượu, Nước giải khát Tây Đô

- Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Lavaco

Trên đây là các khách hàng chính và lâu dài của Công ty trong nhữngnăm gần đây trong việc tiêu thụ các sản phẩm bao bì Carton của Công ty, theocác đơn đặt hàng của từng Công ty

Ngoài ra các khách hàng mua bán bao bì Carton của Công ty là một số

cá nhân dưới hình thức hợp đồng bằng miệng và dựa trên sự tín nhiệm củacác bên Khách hàng của Công ty có cơ cấu khá đa dạng và lớn về số lượng

1.2 Các khách hàng cung cấp giấy

- Công ty Giấy Việt Trì

Trang 38

- Công ty Cổ phần Giấy Sông Lam

- Công ty Cổ phần Giấy Phong Châu

- Công ty Cổ phần Giấy Nam Á

- Công ty Cổ phần Giấy Văn Năng

Để sản phẩm của Công ty đạt chất lượng tốt thì khâu chọn nhà cungcấp NVL Giấy thô luôn được cán bộ Công ty chú trọng Với sự uy tín cũngnhư sự tin tưởng lẫn nhau thì các Công ty trên luôn là nhà cung cấp nguyênvật liệu chính cho Công ty Việc giao kết hợp đồng được thực hiện mỗi giaiđoạn một lần (thường là 1 năm) sau đó là dưới hình thức các đơn đặt hàng

Công ty TNHH Tấn Cường là một doanh nghiệp trẻ, đang nỗ lực hếtmình để vươn lên, tạo thế mạnh trên thị trường bao bì Việt nam nói riêng vàtrên thị trường thế giới nói chung Do đó việc giữ gìn những mối quan hệ sẵn

có với khách hàng và mở rộng các khách hàng mới luôn được ban lãnh đạocủa Công ty thực hiện bởi sự tận tình, chu đáo trong các dịch vụ, bởi chấtlượng hàng hoá và giá cả cạnh tranh

2 Căn cứ giao kết HĐMBHH tại Công ty

Khi tiến hành ký kết các hợp đồng mua bán hàng hoá, các đơn vị kinh

tế phải căn cứ vào những quy định của pháp luật, những yêu cầu khách quan

và khả năng chủ quan để xác lập mối quan hệ kinh tế một cách hợp pháp, cóđây đủ điều kiện để thực hiện nhằm mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực chođơn vị mình và cho xã hội

Đối với các đơn vị kinh tế nói chung, Công ty TNHH Tấn Cường nóiriêng ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạchvừa là công cụ để thực hiện kế hoạch của mình Để đảm bảo tính hợp pháp,hợp lý và hiệu quả trong việc xây dựng nội dung của hợp đồng Hợp đồngmua bán hàng hoá của Công ty được ký kết dựa trên những căn cứ sau:

Căn cứ pháp lý (trước ngày 01/01/2006)

- Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 29/9/1989 do Hội đồng Nhà nướcban hành

Sinh viên: Nguyễn Đức Đạt Lớp: Luật Kinh doanh - K45

Trang 39

- Nghị định số 17 - HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ trường quyđịnh chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế.

Sau khi có Luật Thương Mại 2005 thì căn cứ pháp lý của Hợp đồng là:

- Luật Thương Mại 2005

- Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thương mại năm 2005

3 Chủ thể của Hợp đồng mua bán hàng hoá

Theo quy định của pháp luật, mỗi bên tham gia quan hệ hợp đồng muabán hàng hoá chỉ cần cử một người đại diện ký kết hợp đồng, (Người này cóthể là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinhdoanh hoặc là người do những người trên uỷ quyền) Thực hiện theo quy địnhnày thì thẩm quyền ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá ở Công ty TNHH TấnCường có hai loại:

- Đại diện đương nhiên ký kết: đó là Giám đốc Công ty, đây là ngườiđứng đầu Công ty theo quyết định thành lập và Luật Thương mại năm 2005

Đại diện theo uỷ quyền: đó là Phó Giám đốc kinh doanh của Công ty.Trường hợp này xảy ra khi giám đốc Công ty vắng mặt đi công tác, khi đóGiám đốc sẽ viết giấy uỷ quyền cho Phó Giám đốc kinh doanh (điều này đượcghi rõ trong điều lệ của Công ty Đó chính là hình thức uỷ quyền thườngxuyên) Tuy nhiên, trường hợp này xảy rả không nhiều và thường áp dụng đốivới những hợp đồng có giá trị không lớn và đối với những khách hàng nhỏ lẻ.Với tư tưởng tôn trọng bạn hàng và tạo uy tín của Công ty, Giám đốc Công tythường xuyên thay mặt Công ty tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá

4 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá

Nội dung hợp đồng mua bán hàng hoá tại Công ty bao gồm những nộidung cơ bản về:

- Ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng; tên, địa chỉ, số tài khoản và ngânhàng giao dịch của các bên, mã số thuế; họ tên người đại diện, chức vụ

- Điều khoản đối tượng của hợp đồng:

Ngày đăng: 27/05/2014, 10:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty - nâng cao hiệu quả của giao kết và thực hiên hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty thnn tấn cường
Sơ đồ b ộ máy quản lý của Công ty (Trang 55)
Bảng số 2:  Kết quả HĐKD năm 2005 - nâng cao hiệu quả của giao kết và thực hiên hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty thnn tấn cường
Bảng s ố 2: Kết quả HĐKD năm 2005 (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w