LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những nguồn vốn quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của hầu khắp các quốc gia Chính sách thu[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những nguồnvốn quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của hầu khắp các quốcgia Chính sách thu hút FDI là một trong những chính sách quan trọngtrong chiến lược phát triển lâu dài của mỗi nước, mỗi vùng lãnh thổ Thờigian qua, có thể đánh giá Việt nam đã có những thành công nhất địnhtrong việc thu hút vốn FDI cho các dự án đầu tư phát triển trong nước Tuynhiên, so với các quốc gia trên thế giới và các quốc gia lân cận trong khuvực ASEAN, có thể thấy lượng vốn FDI Việt Nam thu hút được vẫn cònkhiêm tốn so với bạn bè thế giới Xét trong khu vực ASEAN, ba nước thuhút được FDI nhiều nhất trong những năm qua phải kể đến là Singapore,Thái Lan và Indonesia
Trong những năm qua, Thái Lan đã thực hiện khá thành công việcthu hút đầu tư Chính phủ Thái Lan đã bãi bỏ tất cả những hạn chế đầu tư
và ưu đãi cho những dự án phát triển khoa học và công nghệ, các dự ánnghiên cứu và phát triển Những điều này làm cho môi trường đầu tư củaThái Lan trở nên hấp dẫn bên cạnh sự cạnh tranh gay gắt của Trung Quốc.Mặc dù là một nước chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảngtài chính Đông Á năm 1997-1998 và tình hình chính trị bất ổn, hàng nămđều có các cuộc biểu tình chống đối chính phủ nhưng Thái Lan vẫn là điểmđến được các nhà đầu tư lựa chọn để hợp tác và đất nước này đã thu hútđược nguồn vốn lớn từ đầu tư để phát triển kinh tế và nâng cao đời sống
Trang 2Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài thảoluận
được chia thành ba chương:
Chương 1: Tổng quan về đất nước Thái Lan
Chương 2: Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan
Chương 3: Môi trường đầu tư của Thái Lan
Chương 4: Triển vọng phát triển kinh tế thương mại Việt Nam-TháiLan và đề xuất giải pháp
3 Đối tượng nghiên cứu: đất nước Thái Lan
4 Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tình hình đầu tư của Thái Lan
5 Phương pháp Nghiên cứu: phương pháp định lượng, phương
Thủ đô của Thái Lan là BangKok hay Băng Cốc, (tiếng thái: Krung Thep Maha Nakhon; phiên âm cũ: Vọng Các) là thủ đô và đồng thời là
thành phố đông dân nhất của Thái Lan Bangkok có diện tích 1568,7 km2
và nằm trong châu thổ sông Chao Phraya ở miền trung Thái Lan với dân
số khoảng 8 triệu người
Bangkok hiện là một trung tâm kinh tế và tài chính trong khu vực.Thành phố đóng vai trò một điểm trung chuyển trong giao thông quốc tế và
Trang 3nổi lên như một đầu tàu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, nghệ thuật,thời trang và giải trí Về du lịch, Bangkok nổi tiếng với nhịp sống về đêmsôi động và nhiều di tích lịch sử văn hóa.
1.2 Diện tích, đặc điểm địa lý chính
Với diện tích 514.844 km² (tương đương diện tích Việt Nam cộng vớiLào), Thái Lan xếp thứ 50 trên thế giới về diện tích, rộng thứ ba tại ĐôngNam Á, sau Indonesia và Myanmarr Thái Lan là mái nhà chung của một
số vùng địa lý khác nhau, tương ứng với các vùng kinh tế
Vương quốc Thái Lan nằm ở vị trí trung tâm Đông Nam Á, phía Bắcgiáp Lào và Myanmar, phía Đông giáp Lào và Campuchia, phía Nam giápvịnh Thái Lan và Malaysia, phía Tây giáp Myanmar và biển Andaman TháiLan trải dài từ vĩ tuyến 5 độ đến 21 độ vĩ Bắc, Thái Lan ở múi giờ 7, cùngmúi giờ với Việt Nam Lãnh hải Thái Lan phia Đông Nam giáp với lãnh hảiViệt Nam ở vịnh Thái Lan, phía Tây Nam giáp với lãnh hải Indonesia và Ấn
Độ ở biển Andaman
Nhìn chung, địa thế nước thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sangĐông Những dãy núi kéo dài liên tục từ phía Tây và Tây Bắc tạo thànhxương sống của nước Thái Độ cao trung bình của những quả núi này là1.600m so với mặt nước biển Những đặc trưng về địa hình khác nhau đãphân chia Thái Lan thành 4 khu vực tự nhiên khác biệt: phía Bắc có địahình đồi núi, với điểm cao nhất (2.576 m) là Doi Inthanon Phía Đông Bắc
là cao nguyên Khorat có biên giới tự nhiên về phía Đông là sông MêKoong, đây là vùng trống nhiều sắn nhất của Thái Lan do khí hậu và đấtđai phù hợp với cây sắn Trung tâm của đất nước là vùng đồng bằng miềnTrung, do sông ChaoPhraya đổ ra vịnh Thái Lan bồi đắp nên đây là vùngkinh tế trù phú nhất của Thái Lan Miền Nam là eo đất Kra mở rộng dần vềphía bán đảo Mã Lai Lãnh thổ Thái Lan được chia thành 76 tỉnh Cácthành đô thủ phủ của mỗi tỉnh đều lấy trùng tên với tỉnh đó
1.3 Quy mô dân số, cơ cấu dân số (quốc tịch, tôn giáo)
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, dân số Thái Lan ước tính là69.110.942 người, tăng 173.999 người so với dân số 68.951.229 ngườinăm trước
Trang 4Mật độ dân số của Thái Lan là 135 người trên mỗi kilômét vuôngtính đến 04/2018 Mật độ dân số được tính bằng cách lấy dân số củaThái Lan chia cho tổng diện tích của đất nước Tổng diện tích là tổngdiện tích đất và nước trong ranh giới quốc tế và bờ biển của Thái Lan.Theo Tổng cục Thống kê Liên Hợp Quốc, tổng diện tích của Thái Lan là510.844 km2.
Số liệu dân số theo độ tuổi (ước lượng):
● 13.571.235 thanh thiếu niên dưới 15 tuổi (6.945.569 nam /6.624.983 nữ)
● 48.482.953 người từ 15 đến 64 tuổi (23.983.777 nam /24.499.175 nữ)
● 6.300.979 người trên 64 tuổi (2.846.309 nam / 3.454.670 nữ) Khoảng 75% dân số là dân tộc Thái, 14% là người gốc Hoa và 3%
là người Mã Lai, phần còn lại là những nhóm dân tộc thiểu sốnhư Môn, Khmer và các bộ tộc khác. Có khoảng 2,2 triệu người nhập cưhợp pháp và bất hợp pháp ở Thái Lan. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Thái.Phật giáo Nam Tông được coi là quốc giáo ở Thái Lan với tỉ lệ ngườitheo tôn giáo này là 94,6%, là một trong những quốc gia Phật giáo lớn nhấtthế giới theo tỉ lệ dân số Cũng theo điều tra dân số năm 2000, Hồigiáo chiếm 4,6% dân số và Kitô giáo chiếm 0,7% dân số
1.4 Hệ thống chính trị
Chính trị của Thái Lan hiện đang được tiến hành trong khuôn khổ của một chế độ quân chủ lập hiến, trong đó Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu chính phủ và một vị vua cha truyền con nối là người đứng đầu nhà nước Bộ máy tư pháp độc lập với hành pháp và ngành lập pháp
Kể từ khi cải cách chính trị của chế độ quân chủ tuyệt đối vào năm
1932, Thái Lan đã có 17 hiến pháp và điều lệ Trong suốt thời gian này, hình thức của chính phủ đã thay đổi từ chế độ độc tài quân sự sang dân chủ bầu cử, nhưng tất cả các chính phủ đã thừa nhận một vị vua cha
truyền con nối là người đứng đầu nhà nước
Trang 5Nền chính trị đất nước Thái Lan từng chứng kiến 20 cuộc đảo chính hoặc nỗ lực đảo chính của quân đội từ năm 1932 tới năm 2014 Lệnh thiết quân luật của nước này cho phép quân đội có quyền hạn lớn trong việc ban hành lệnh cấm tụ tập, hạn chế đi lại và bắt giữ người.
Chính trị đất nước Thái Lan bao gồm Hệ thống tư pháp, tòa án hoàng gia chuyên phân xử về các hoạt động lập pháp của quốc hội, sắc lệnh hoàng gia và các vấn đề chính trị
1.5 Kinh tế vĩ mô
1.5.1 GDP và GDP bình quân đầu người:
Kinh tế Thái Lan là một nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào xuất khẩuvới kim ngạch xuất khẩu chiếm 60% GDP Khoảng 60% lực lượng lao động của Thái Lan làm trong ngành nông nghiệp.Lúa là loại cây trồng quantrọng nhất của quốc gia này; Thái Lan là một quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Các sản phẩm nông nghiệp khác có số lượng đáng kể là cá
và các thủy sản, sắn, cao su, ngũ cốc, và đường ăn Kim ngạch xuất khẩu các thực phẩm chế biến như cá ngừ, dứa, đóng hộp và tôm đông lạnh đang gia tăng
Lĩnh vực chế tạo đang ngày càng đa dạng hóa của Thái Lan đã đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng trong thời kỳ bùng nổ kinh tế Các ngành có tốc độ tăng nhanh có: máy tính và đồ điện tử, hàng may mặc và dày da, đồ
gỗ, các sản phẩm gỗ, thực phẩm đóng hộp Đồ chơi, các sản phẩm chất dẻo, đá quý và đồ trang sức Các sản phẩm công nghệ cao như: linh kiện
và mạch tích hợp, đồ điện, xe cơ giới hiện đan dẫn đầu tăng trưởng xuất khẩu của Thái Lan
GDP bình quân đầu người (GDP/người) của Thái Lan là 5.908
USD/người vào năm 2016 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Thái Lan đạt 2% trong năm 2016, với mức tăng 93 USD/người so với con số 5.815 USD/người của năm 2015
Năm 2017, trích số liệu từ Ủy ban Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia Thái Lan cho hay GDP nước này tăng 3,7% trong quý 2/2017 so với
Trang 6cách đây một năm sau khi tăng 3,3% hồi quý 1/2017 Con số này cao hơn
so với ước tính trung bình là 3,2%
1.5.2 Tỷ lệ lạm phát:
Tháng 1/2016, lạm phát của Thái Lan đạt mức âm, đánh dấu tháng giảm phát thứ 13 liên tiếp Nguyên nhân chủ yếu là do giá dầu giảm. Bộ Thương mại Thái Lan cho biết chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1 giảm 0,53% so với cùng kỳ năm trước và 0,26% so với tháng 12/2015 Tính cả năm 2015, chỉ số CPI của đất nước chùa vàng giảm 0,9% sau 12 tháng không vượt được mốc 0%
Theo một cuộc thăm dò của Wall Street Journal, lạm phát tháng 1của Thái Lan được dự báo giảm 0,175% so với tháng 12/2015 và thấp hơn
0,46% so với cùng kỳ năm trước
Biểu đồ 1: Lạm phát Thái Lan từ 12/2015 - 1/2016
Tỷ lệ lạm phát của Thái Lan thấp hợn khá nhiều so với mức mục tiêucủa chính phủ, trong khi thặng dư tài khoản vãng lai ở mức rất cao là 10%GDP, tín dụng tư nhân ở mức khá thấp khi chỉ tăng 5% trong quý I/2016CPI toàn phần của Thái Lan trong tháng 12/2016 tăng 1,13% so với một năm trước đó, trong khi mức tăng của tháng 11/2016 là 0,6% Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát lõi của Thái Lan (không tính giá năng lượng và thực phẩm tươi sống) ở mức 0,74% trong tháng 12/2016
Trang 7Chính sách kiểm soát giá cả, trợ giá của nhà nước và sức tiêu thụ nội địa yếu được cho là các nguyên nhân giữ lạm phát của Thái Lan ở mức thấp
Theo dự báo trung bình của chín nhà kinh tế được khảo sát bởi
Reuters,chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 12 năm 2017 dự báo sẽ tăng 0,99% so với năm ngoái.Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BOT) dự báo lạm phát trong năm 2017 ở mức 0,7% và năm 2018 ở mức 1,1% Ngân hàng trung ương kỳ vọng lạm phát sẽ nằm trong dải mục tiêu 1-4% trong quý hai năm 2018
1.5.4 Cán cân thanh toán
Kim ngạch xuất nhập khẩu của Thái Lan đang theo chiều hướng tích cực trong những năm vừa qua Trong 8 tháng đầu năm 2017, xuất khẩu vànhập khẩu của Thái Lan tăng trưởng lần lượt ở mức 8,9% và 15,4% so vớicùng kỳ năm ngoái
Xuất khẩu đã phục hồi trong năm 2017, tuy nhiên, vẫn chịu nhiều áp lực từ tình hình đồng baht tăng giá 8% so với USD, mức cao nhất so với
Trang 8các đồng tiền của các quốc gia châu Á khác. Xuất khẩu vốn là động lực chủ yếu của nền kinh tế lớn thứ hai khu vực Đông Nam Á này, đã tăng 0,45% trong năm 2016, chấm dứt chuỗi ba năm liên tiếp suy giảm.
Bộ Thương mại Thái Lan dự báo xuất khẩu sẽ tiếp tục tăng trưởng dươngvới con số 2,6-3,6% trong năm 2018
Nhập khẩu đạt mức tăng 14,9%, tương ứng với dự báo 14,75% đã được đưa ra trước đó Nhờ đó cán cân thương mại của nước này đã đạt thặng dư 826 triệu USD trong tháng 1/2017, giảm nhẹ so với con số 938 triệu USD của tháng 12/2016.
Trong đó, kim ngạch nhập khẩu của Thái Lan trong tháng 1/2017 tăng5,17% so với cùng kỳ năm 2016 lên 16,27 tỷ USD Tuy nhiên, tốc độ tăng vẫn thấp hơn nhiều so với mức tăng 10,3% của tháng 12/2016
Thái Lan ghi nhận giá trị thặng dư thương mại 2,09 tỷ USD trong tháng 8/2017, so với mức dự báo 520 triệu USD Rất nhiều vật liệu được nhập khẩu phục vụ mục đích lắp ráp thành phẩn và được tái xuất sau đó.
1.6.Thương mại và đầu tư
1.6.1 Các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu chủ lực
Trong quá trình phát triển kinh tế, Thái Lan đã có sự chuyển hướngmang tính chiến lược từ công nghiệp hóa hướng nội - thay thế nhập khẩusang công nghiệp hóa theo chiến lược hướng ngoại – hướng về xuất khẩuvào những năm 1970 Thực tế, hoạt động xuất khẩu không chỉ góp phầnthúc đẩy tăng trưởng, mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạothêm nhiều việc làm mới và đưa nền kinh tế Thái Lan hội nhập sâu rộngvào đời sống kinh tế quốc tế
Trong 8 tháng đầu năm 2017, xuất khẩu và nhập khẩu của Thái Lantăng trưởng lần lượt ở mức 8,9% và 15,4% so với cùng kỳ năm ngoái.Xuất khẩu đã phục hồi trong năm nay, tuy nhiên, vẫn chịu nhiều áp lực từtình hình đồng bath tăng giá 8% so với USD, mức cao nhất so với cácđồng tiền của các quốc gia châu Á khác.
Nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu có mức tăng lớn nhất bao gồm ô tô và
bộ phận (11,1%), máy tính và linh kiện (7,6%), các sản phẩm cao su
Trang 9(4,3%), các sản phẩm nhựa (3,7%), bảng mạch điện tử (3,5%), máy móc
và bộ phận (3,3%), các sản phẩm hóa học (3,1%), nữ trang và đá quý,không bao gồm vàng (2,9%); dầu đã tinh chế (tăng 2,8%) và cao su thiênnhiên (tăng 2,7%).
Nhập khẩu đạt mức tăng 14,9%, tương ứng với dự báo 14,75% đãđược đưa ra trước đó Do đó, Thái Lan ghi nhận giá trị thặng dư thươngmại 2,09 tỷ USD trong tháng 8, so với mức dự báo 520 triệu USD Rấtnhiều vật liệu được nhập khẩu phục vụ mục đích lắp ráp thành phẩn vàđược tái xuất sau đó
Năm 2015, Kim ngạch nhập khẩu gần đây được dẫn đầu bởi Dầu thô,đại diện cho 9% tổng xuất khẩu Thái Lan, tiếp theo là Mạch tích hợp, đạidiện cho 3,97%
1.6.2 Đối tác thương mại chủ chốt
Những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Thái Lan là Hoa Kỳ ($28,6tỷ), Trung Quốc ($28,5 tỷ), Sơn mài Nhật ($20,3 tỷ), Hồng Kông ($11,6 tỷ)
và Malaysia ($10,6 tỷ) Nguồn gốc nhập khẩu hàng đầu là Trung Quốc($40,9 tỷ), Sơn mài Nhật ($29,6 tỷ), Hoa Kỳ ($12,3 tỷ), Malaysia ($11,8 tỷ)
và Singapore ($7,59 tỷ)
Trong ASEAN, Thái Lan là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam,còn Việt Nam là đối tác xuất khẩu lớn thứ hai của Thái Lan, với tổng kimngạch thương mại hai chiều năm 2016 đạt 12,5 tỷ USD Trong đó, ViệtNam xuất khẩu sang Thái Lan đạt 3,7 tỷ USD Riêng nửa đầu năm nay,tổng kim ngạch thương mại hai chiều đã đạt gần 7 tỷ USD, tăng trên 22%
so với cùng kỳ năm ngoái Hai bên đặt mục tiêu đưa kim ngạch thươngmại hai chiều đạt 20 tỷ USD vào năm 2020
Khá nhiều mặt hàng xuất khẩu của Thái Lan tương đồng với mặt hàngxuất khẩu của Việt Nam, trong đó, gạo là một trong những mặt hàng điển hình
Về thu hút đầu tư, lâu nay, Thái Lan vẫn là một địa điểm đầu tư hàng đầu trong khu vực và Việt Nam đang phải cạnh tranh trực tiếp với thị
trường này, đặc biệt là đầu tư từ Nhật Bản
Trang 101.6.3 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Báo cáo Đầu tư Thế giới năm 2016, dòng FDI vào Thái Lan đãtăng gấp 3 trong năm 2015, lên tới 10,8 tỷ USD Đầu tư FDI đã vượt mụctiêu của Ủy ban Đầu tư Thái Lan trong năm 2016, lên tổng 10,3 tỷ USD.Nhật Bản là nước dẫn đầu về FDI vào Thái Lan, lĩnh vực chính là ngành ô
tô, với Toyota, Isuzu, Nissan và Honda Các nhà đầu tư quan trọng khác làTrung Quốc, Hà Lan và Australia
Trong đó, Thái Lan là một trong những nền kinh tế đứng đầu châu Á vềthu hút vốn FDI sau Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Ấn Độ,Indonesia
Trang 11Công nghiệp nhẹ và dệt may 1.6
Thái Lan có thị trường thu hút đầu tư rất cạnh tranh và hấp dẫn trongkhu vực châu Á Trong các quốc gia, lãnh thổ đầu tư vào Thái Lan, NhậtBản có lượng vốn đầu tư lớn nhất với khoảng 7.000 doanh nghiệp NhậtBản đang đầu tư tại quốc gia này Hàn Quốc, Trung Quốc ngày càngchiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn FDI vào Thái Lan Lượng vốn FDI
từ các nhà đầu tư Singapore chiếm khoảng 80-90% tổng vốn đầu tư củacác nước ASEAN vào Thái Lan
1.6.4 Đầu tư ra nước ngoài
Cổ phần đầu tư trực tiếp nước ngoài – trong nước của Thái Lankhoảng 188,9 tỷ đô la (ước tính vào ngày 31 tháng 12 năm 2015) và 193,5
tỷ đô la (ước tính vào ngày 31 tháng 12 năm 2016), đứng thứ 30 trên thếgiới
Cổ phần đầu tư trực tiếp nước ngoài - nước ngoài của Thái Lankhoảng 75,95 tỷ đô la (dự tính vào ngày 31 tháng 12 năm 2015) và 96,27
tỷ đô la (ước tính vào ngày 31 tháng 12 năm 2016), xếp thứ 35 so sánhcác quốc gia trên thế giới
Chính phủ Thái Lan có ý định ưu đãi cho các dự án đầu tư ra nướcngoài nhằm chủ động hội nhập nền kinh tế toàn cầu, đồng thời nắm vị trí
Trang 12dẫn đầu trong các nền kinh tế thuộc Cộng đồng kinh tế chung ASEAN(AEC) Điều này thể hiện qua việc cung cấp ưu đãi đầu tư cho các công ty
mẹ đóng tại Thái Lan (gọi là Regional Operating Headquarters hay ROH) Nhờ có chính sách thuế đối với ROH, nhiều công ty đa quốc gia chuyên
về sản xuất đang cân nhắc dời trụ sở vùng từ Singapore sang Bangkok.Điều đó cũng sẽ làm tăng số công ty mẹ tại Thái Lan và về lâu dài, tiền sẽquay về nước này để tái đầu tư
CHƯƠNG II: HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM VÀ THÁI LAN 2.1.Tình hình trao đổi Thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan
Thái Lan hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong
ASEAN. Ông Winichai Chaemchaeng, Thứ trưởng Bộ Thương mại Thái Lan cũng khẳng định, Việt Nam là bạn hàng lớn thứ hai của Thái Lan trongASEAN và Thái Lan là bạn hàng thương mại lớn thứ nhất của Việt Nam Hai nước đều ở trên lục địa đất liền, kết nối giao thông thuận tiện Hai nước cũng có những chính sách thông thoáng, thực hiện nhiều biện pháp giảm rào cản, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa lưu thông
Thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1976 nhưng quan hệ Việt Thái Lan bắt đầu khởi sắc từ sau chuyến thăm chính thức Thái Lan tháng 9/1978 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Nam-Từ năm 1991 đến nay, quan hệ hai nước dần được cải thiện và phát triển mạnh, nhất là sau khi Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN.
Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Thái Lan trong nhiều năm qua không ngừng gia tăng, từ 5,78 tỷ USD năm 2009 tăng lên 9,41 tỷ USD năm 2013, 11,5 tỷ USD năm 2015 và 12,5 tỷ USD năm 2016.Trong 8 tháng đầu năm 2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hainước đạt khoảng 9,64 tỷ USD Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sang Thái
Trang 13Lan đạt khoảng 3,07 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu từ Thái Lan đạt 6,57 tỷ USD, Việt Nam nhập siêu từ Thái Lan 3,5 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng
kỳ năm 2016 Hai bên đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 20 tỷ USD vào năm 2020.
Năm nhóm mặt hàng nhập khẩu lớn nhất từ Thái Lan trong 8 tháng đầu năm 2017 là: Hàng điện gia dụng và linh kiện (646 triệu USD), rau quả (618 triệu USD), ô tô nguyên chiếc (432 triệu USD), xăng dầu các loại (406triệu USD), chất dẻo nguyên liệu (403 triệu USD), linh kiện phụ tùng ô tô (340 triệu USD)
Chúng ta vẫn nhập khẩu từ Thái Lan các mặt hàng điện, điện tử gia dụng và linh kiện, rau quả, máy vi tính, sản phẩm nhựa, sắt thép, các sản phẩm gia dụng như chất tẩy rửa, mỹ phẩm, đồ dùng nhà bếp, sản phẩm nội thất… Riêng năm 2016, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng điện gia dụng
và linh kiện, linh kiện phụ tùng ô tô, ô tô nguyên chiếc, rau quả đã chiếm tới 30% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Thái Lan Nhiều mặt hàng nhập khẩu
từ Thái Lan thuộc nhóm cần nhập khẩu để phục vụ sản xuất, tiêu dùng chiếm tới 50% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Thái Lan, gồm có: máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; xăng dầu các loại; chất dẻo nguyên liệu; hóa chất; nguyên phụ liệu dệt may, da giày; vải các loại; giấy các loại; xơ, sợi dệt các loại; thức ăn gia súc và nguyên liệu
Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan dành ngân sách khá lớn cho việc triển khai với quy mô lớn và có hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại tại thị trường Việt Nam trong thời gian qua Hàng năm, có khoảng 12 đến 20 hội chợ hàng Thái được Bộ Thương mại Thái Lan tổ chức tại Hà Nội, TP.HCM và các tỉnh/thành phố khác
2.2 Tình hình đầu tư của Thái Lan vào Việt Nam và từ Việt Nam vào Thái Lan.
Hoạt động thương mại, đầu tư được xem là điểm sáng trong mối quan hệ ngày càng phát triển tốt đẹp giữa hai nước Đối với Thái Lan, một nền kinh tế phát triển mạnh, đứng thứ hai Đông Nam Á, đã có nhiều động thái xâm nhập sâu hơn vào các nền kinh tế mới nổi ở khu vực, trong đó có
Trang 14nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi là Việt Nam Ngược lại, Việt Nam đang thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam đã tập trung đẩy mạnh nội lực, đồng thời kêu gọi đầu tư từ bên ngoài, trong đó có Thái Lan.
Hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan cũng đạt được những kết quả khả quan Chính sách khuyến khích và mở rộng đầu tư của Chính phủhai nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đầu tư giữa hai bên đượcđẩy mạnh
Thái Lan là một trong những quốc gia có quan hệ hợp tác đầu tư với Việt Nam từ rất sớm, ngay sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài Theo đó, Thái Lan và Việt Nam gần về địa lý, tương đồng về văn hóa Chính phủ hai nước cũng đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ hợp tác đầu tư nên đã ký kết Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Do vậy, các nhà đầu tư Thái Lan không gặp nhiều khó khăn khi đầu tư vào Việt Nam và ngược lại
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Thái Lan
Prayuth Chan-ocha
Trang 15Trong chuyến thăm vương quốc Thái Lan của thủ tướng Nguyễn XuânPhúc vào T8/2017 tại Bangkok, Thủ tướng Chan-ocha khẳng định khuyến khích các doanh nghiệp Thái Lan tăng cường đầu tư vào những lĩnh vực thiết yếu cho phát triển của Việt Nam như du lịch, công nghiệp phụ trợ, tài chính, ngân hàng, khoa học - công nghệ, nông thủy sản Các hoạt động
mở rộng đầu tư của doanh nghiệp Thái Lan tại Việt Nam cũng dẫn tới việc tăng nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam
Các nhà đầu tư Thái Lan đã rót vốn vào khá nhiều lĩnh vực kinh tế củaViệt Nam, từ công nghiệp chế biến, đến nông nghiệp, bán buôn, bánlẻ Hiện Thái Lan đứng thứ 10/116 quốc gia, vùng lãnh thổ có đầu tư tạiViệt Nam với 458 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạtgần 8,2 tỷ USD, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo,thương nghiệp và nông, lâm nghiệp, thủy sản
Tính đến cuối năm 2017, các dự án đầu tư của Thái Lan đã có mặt tại 41/63 tỉnh, thành phố của Việt Nam Một số dự án đầu tư lớn của Thái Lan vào Việt Nam như: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hóa dầu Long Sơn, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Chăn nuôi CP Việt Nam và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giấy Kraft Vina Việt Nam có 11 dự án đầu tư tại Thái Lan, chủ yếu trong các lĩnh vực bất động sản, đồ dùng gia đình, du lịch, phần mềm máy tính…
Người Việt Nam cũng không quá khó để nhận ra vai trò của C.P đốivới thị trường thức ăn chăn nuôi, thực phẩm của Việt Nam Trứng gà, cácsản phẩm gia cầm chế biến của C.P có mặt ở hầu khắp các cửa hàng, siêuthị lớn nhỏ ở Việt Nam
Và cũng không quá khó để biết rằng, Tập đoàn SCG của Thái Lan đãhiện diện sâu rộng trong các ngành kinh tế của Việt Nam như thế nào.SCG đã có 22 công ty hoạt động tại Việt Nam, với doanh thu bán hàngtrong nửa đầu năm 2017 vừa được ông Roongrote Rangiyopash, Chủ tịchkiêm Tổng giám đốc điều hành Tập đoàn SCG công bố ở mức 12.300 tỷđồng (tương đương 532 triệu USD), tăng 17% so với cùng kỳ năm trước
Trang 16Cách đây 4 năm, SCG đã mua Prime Group và đầu năm nay, tập đoànnày lại mua 100% cổ phần (tương đương 156 triệu USD) của Công ty cổphần Vật liệu xây dựng Việt Nam (VCM), đồng thời chính thức thông quakhoản đầu tư lên tới 71% cổ phần tại Tổ hợp Lọc hóa dầu Long Sơn(LSP), có vốn đầu tư dự kiến lên tới 5,4 tỷ USD.
Ngoài các tên tuổi lớn kể trên, không thể không nhắc tới các thương
vụ M&A“khủng” mà các đại gia Thái Lan đã thực hiện tại Việt Nam trongthời gian gần đây Từ chuyện Berli Jucker mua 64,55% cổ phần của PhúThái Group, rồi mua lại hệ thống Metro Cash & Carry Việt Nam từ Tậpđoàn Metro của Đức, với trị giá 655 triệu euro, đến chuyện Central mua lạiBig C Việt Nam, cũng như mua lại 49% cổ phần của hệ thống siêu thụ điệnmáy Nguyễn Kim
Ngoài ra, Central còn sở hữu chuỗi siêu thị Lan Chi và tập đoàn quản
lý khách sạn nghỉ dưỡng Centara.Còn BJC muốn tham gia lĩnh vực bia,nước giải khát khi từng đánh tiếng mua 40% cổ phần của Sabeco thôngqua ThaiBev
Như vậy, sau hơn 25 năm có mặt tại Việt Nam, người Thái đã âmthầm thâu tóm BigC, Metro, Nguyễn Kim, Vinamilk, Prime Chuỗi cửahàng bán buôn, bán lẻ của người Thái đã trải rộng khắp Việt Nam Hiếm cónhà đầu tư nước ngoài nào tại Việt Nam làm được như vậy
Ngược lại, vốn đầu tư của DN Việt Nam vào thị trường Thái Lan lại tương đối ít, các doanh nghiệp đầu tư nhỏ lẻ, không có điểm nổi bật Thái Lan là địa điểm thu hút vốn đầu tư rất lớn nhờ môi trường đầu tư hấp dẫn Các công ty lớn từ Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đầu tư khá mạnh tại thị
trường Thái Lan, vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần khuyến khích hơn nữa các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Thái Lan và đồng thời cũng đẩy mạnh thu hút đầu tư từ Thái Lan vào Việt Nam hơn nữa
2.3 Tình hình xuất khẩu lao động giữa Việt Nam và Thái Lan
Hiện nay, Thái Lan mới chỉ có chính sách tiếp nhận lao động từ Lào, Campuchia và Myanma Tuy nhiên, có rất nhiều lao động Việt Nam đang
Trang 17làm việc tại Thái Lan Phần lớn đều qua Thái Lan theo hộ chiếu du lịch sau
đó ở lại Thái Lan làm việc bất hợp pháp Điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý lao động nước ngoài của các cơ quan chức năng phía Thái Lan.Thời gian vừa qua, chính phủ hai nước đã có những động thái tăng cường hợp tác trong việc Thái Lan tiếp nhận lao động Việt Nam sang làm việc một cách hợp pháp, trong đó có việc đẩy mạnh triển khai Biên bản ghi nhớ hợp tác lao động giữa hai nước
Cho đến hiện tại Chính phủ Thái Lan đã đồng ý tiếp nhận lao động Việt Nam trong bốn lĩnh vực là: xây dựng, đánh cá, chế tạo và dịch vụ Tuynhiên, việc triển khai các thỏa thuận hợp tác về lao động giữa hai nước vẫn còn rất nhiều hạn chế.Tại hội thảo, Cục trưởng Cục tuyển dụng lao động Thái Lan, Tiến sỹ Arug Phromnee đã trình bày về thực trạng sử dụng lao động Việt Nam tại Thái Lan, những khó khăn trong công tác quản lý và kiểm soát tình hình nhập khẩu lao động Việt Nam tại đất nước này.Ông Arug Phromnee cũng đánh giá nhu cầu thực tế nguồn lao động của Thái Lan trong các ngành nghề hợp tác mà hai bên đã ký kết và đề ra mục tiêu bắt đầu tiếp nhận lao động Việt Nam vào đầu tháng 9 tới
Trên cơ sở đó, các nhà quản lý, doanh nghiệp tuyển dụng và sử dụng lao động hai nước đã đặt ra nhiều câu hỏi và đề xuất ý kiến, biện pháp nhằm giải quyết tình trạng lao động bất hợp pháp tại Thái Lan, sử dụng hiệu quả nguồn lao động nước ngoài, trong đó có lao động Việt Nam.Bên cạnh đó, các chuyên gia về di trú lao động quốc tế cũng đưa ra nhiều giải pháp, trong đó chú trọng việc xây dựng quy chế tuyển dụng lao động; đào tạo và sử dụng nguồn lao động; các quy định đảm bảo quyền lợi cho ngườilao động, giúp các doanh nghiệp Thái Lan sử dụng hiệu quả nguồn lao động nước ngoài
Bắt đầu từ 1/12/2015, Thái Lan tiến hành cấp phép cho lao động ViệtNam Đây là bước đi cụ thể đầu tiên trong quá trình Thái Lan mở cửa thịtrường cho lao động Việt Nam với quy mô lớn
Ngày 19/4/2016, ông Tống Hải Nam- Phó Cục trưởng cục Quản lí lao động ngoài nước đã chủ trì làm việc với Đoàn cán bộ của Thái Lan, trao
Trang 18đổi nội dung liên quan đến triển khai thỏa thuận phái cử và tiếp nhận lao động, thống nhất quy trình thủ tục đưa lao động Việt nam sang làm việc tại Thái lan, các chi phí dự kiến người lao động phải chi trả, danh sách các đơn vị phái cử lao động của Việt Nam.
Có 4 trung tâm và 5 doanh nghiệp được cấp phép đưa lao động ViệtNam sang Thái Lan, gồm: Trung tâm Lao động ngoài nước, Trung tâm dịch
vụ việc làm tỉnh Nghệ An, Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Hà Tĩnh, Trungtâm dịch vụ việc làm tỉnh Quảng Bình và các công ty SONA, TTLC, ThinhLong Corp, Hoang Long Huresu, VIHATICO Đây là những đơn vị có kinhnghiệm trong xuất khẩu lao động, có đối tác Thái Lan để hợp tác cung ứnglao động và thuận lợi về địa lý, vùng miền khi có nhiều lao động thạo việcđánh bắt cá, xây dựng
Chính vì tỷ lệ thất nghiệp rất thấp, chỉ có 0.8%, nên số người xuấtkhẩu lao động từ Thái Lan sang Việt Nam là vô cùng ít ỏi, thậm chí làkhông có Ta chỉ xét được tình hình xuất khẩu lao động từ Việt Nam sangThái Lan mà không có chiều ngược lại
Ngày 19/4/2016, ông Tống Hải Nam- Phó Cục trưởng cục Quản lí lao động ngoài nước đã chủ trì làm việc với Đoàn cán bộ của Thái Lan, trao đổi nội dung liên quan đến triển khai thỏa thuận phái cử và tiếp nhận lao động, thống nhất quy trình thủ tục đưa lao động Việt nam sang làm việc tại Thái lan, các chi phí dự kiến người lao động phải chi trả, danh sách các đơn vị phái cử lao động của Việt Nam
CHƯƠNG III: MÔI TRƯỜNG PHÁP LÍ 3.1 Các vấn đề pháp lý
a Vê chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài
Thái Lan có cơ quan chuyên trách về ưu đãi đầu tư là ủy ban đầu tưThái Lan (BOI), cơ quan này chuyên xem xét ưu đãi cho từng dự án vàphân loại dự án đầu tư theo tác động của dự án đó đến nền kinh tế cảnước, chứ không phải chỉ một vùng miền nào đó