Bảng 5.7: Tình hình một số tài sản và tư liệu sản xuất ở nhóm hộ điều tra 40 hộBảng 5.8: Tình hình tài chính của xã Xuân Thành năm 2007Bảng 5.9: Tình hình tài chính ở nhóm hộ điều tra B
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I HÀ NỘI
-LUËN V¡N TèT NGHIÖP §¹I HäC
đề tài:
“Hoạt động du lịch biển và sinh kế của người dân xã Xuân
Thành - huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh”
Trang 2Tôi xin cam đoan những số liệu trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực và kết quả nghiên cứu chưa từng được sử dụng.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho quá trình thực hiện báo cáo đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong báo cáo này được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008
Sinh viên
L ê th ị Dung
Lời cảm ơn
Trang 3Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa kinh tế và phát triển nông thôn – trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã hết lòng giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo ThS Nguyễn Trọng Đắc giảng viên bộ môn phát triển nông thôn - khoa Kinh tế và phát triển nông thôn – trường Đại học nông nghiệp Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bác, chú lãnh đạo UBND xã Xuân Thành đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tới gia đình cùng bạn bè – những người luôn độngviên, sát cánh bên tôi cả về vật chất và tinh thần trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Do thời gian và kiến thức có hạn, đề tài của tôi không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cácthầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008 Sinh viên
Lê Thị Dung
MỤC LỤC
2.4.1 Tiềm năng 302.4.2 Hiện trạng phát triển 31
Trang 42.4.3 Những vấn đề đặt ra cho phát triển DL biển 34
3.1.1 Vị trí địa lý 35
3.1.2 Khí hậu 35
3.1.3 Hải văn 36
3.2.1 Tình hình đất đai 36
3.2.2 Dân cư và lao động 36
3.2.3 Văn hóa – xã hội 37
3.2.4 Kinh tế 37
3.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 38
3.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 39
5.1.1.3 Nguồn lực vật chất, TLSX 56
5.4.1.2 Giải pháp với các hoạt động sinh kế 97
5.4.2.4 Giải pháp xã hội hoá hoạt động DL và sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức và quản lý hoạt động DL biển bền vững 100
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 5.1: Nguồn lực đất đai Xuân Thành qua 3 năm 2005 – 2007
Bảng 5.2: Tình hình đất đai ở nhóm hộ điều tra (40 hộ)
Bảng 5.3: Nguồn lực lao động xã Xuân Thành năm 2007
Bảng 5.4: Tình hình dân số và lao động ở nhóm hộ điều tra (40 hộ)
Bảng 5.5: Nguồn lực vật chất xã Xuân Thành (2007)
Bảng 5.6: Cơ sở lưu trú tại xã Xuân Thành qua 3 năm 2005 - 2007
Trang 5Bảng 5.7: Tình hình một số tài sản và tư liệu sản xuất ở nhóm hộ điều tra ( 40 hộ)Bảng 5.8: Tình hình tài chính của xã Xuân Thành năm 2007
Bảng 5.9: Tình hình tài chính ở nhóm hộ điều tra
Bảng 5.10: Kết quả sản xuât kinh doanh xã Xuân Thành qua 3 năm
Bảng 5.11: Cơ cấu khách du lịch và thời gian lưu trú của du khách của XuânThành trong thời gian qua
Bảng 5.12: Doanh thu và cơ cấu doanh thu hoạt động kinh doanh dịch vụ du lichthời gian qua
Bảng 5.13: So sánh giữa có và không có hoạt động DL trong kinh tế hộ
Bảng 5.14: Tác động về văn hoá xã hội của hoạt động DL tại địa phương
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Sơ đồ 1: Khung sinh kế bền vững
Biểu đồ 1: Doanh thu và cơ cấu doanh thu hoạt động king doanh dịch
vụ du lich thời gian qua
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thiên nhiên đã ban tặng cho con người những tài nguyên hết sức quý giá,một trong những tài nguyên đó là tài nguyên cảnh quan thiên nhiên và môi trườngbiển, con người không những được chiêm ngưỡng, sử dụng mà còn có thể tận dụngtài nguyên này để phát triển DL, tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất, tăng đáng kểnguồn thu nhập, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển KT- XH
Trang 6Cùng với quá trình phát triển về kinh tế, thì nhu cầu vui chơi, giải trí,giao lưu của con người cũng ngày càng phát triển DL trở thành một lựa chọnhàng đầu của con người vì trong hoạt động này con người có thể thoả mãn đồngthời các nhu cầu trên Sự xuất hiện của ngành kinh tế DL đã và đang tạo ranhững bước phát triển đột phá mới cho nền kinh tế của nhân loại Tạo điều kiệncho con người xích lại gần nhau và giao thoa văn hoá DL biển đ ã và đang trởthành một chiến lược phát triển được ngành DL chú trọng nhằm tận dụng cáccảnh quan và sinh thái vùng ven biển để phát triển kinh tế, tăng thu nhập chongười dân cũng như tăng nguồn thu ngân sách cho trung ương và địa phương
Việt Nam là một đất nước có tài nguyên DL khá phong phú và đa dạng.Mặc dù ngành DL chỉ ra đời cách đây 40 năm và phải đối mặt với nhiều khókhăn trở ngại nhưng DL Việt Nam vẫn thực sự chiếm được vị trí xứng đángtrong nền kinh tế của đất nước DL biển cũng đóng vai trò hết sực quan trọng,với chiều dài hơn 3260km đường bờ biển và 125 bãi tắm lớn nhỏ, có đầy đủ cáctài nguyên DL cả về thiên nhiên lẫn nhân văn, chính điều này tạo khả năng và cơhội cho việc hình thành các điểm, cụm, tuyến, trung tâm DL biển và tổ chức xâydựng một số khu DL biển lớn làm đòn bẩy cho phát triển DL biển Việt Nam nóiriêng và DL cả nước nói chung [7]
Hiện nay DL là ngành được Đảng và Nhà nước quan tâm, vì đây là ngànhkinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành,liên vùng và xã hội hoá cao, phát triển DL là một hướng chiến lược quan trọngtrong đường lối phát triển kinh tế xã hội nhằm góp phần thực hiện CNH – HĐHđất nước, phát triển DL thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn
Xuân Thành là một xã ven biển thuộc huyện Nghi Xuân cuả tỉnh Hà Tĩnh,nơi có hoạt động DL ra đời từ sớm và tương đối phát triển trong tỉnh Nhữngnăm vừa qua hoạt động DL biển đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn nơi đây và cótác động rất lớn đến cuộc sống người dân địa phương Sự phát triển của nó góp
Trang 7phần to lớn vào việc giải quyết công ăn việc làm tại địa phương Tận dụng vàphát huy được các nguồn lực của địa phương, huy động nguồn vốn nhàn rỗitrong dân đưa vào đầu tư tăng thu nhập cho các hộ gia đình Bên cạnh những mặtđược, hoạt động DL hiện tại ở địa phương vẫn còn có một số tồn tại như: sựphân hoá giàu nghèo, các vấn đề xã hội, vấn đề ô nhiễm môi trường… gây ảnhhưởng không nhỏ đến cuộc sống cộng đồng dân cư nơi đây
Đây là những thách thức đang đặt ra không chỉ với người dân mà cả vớichính quyền địa phương Vì thế việc tìm ra giải pháp để hoạt động DL phát triển
ổn định lâu dài và trở thành hoạt động sinh kế bền vững cho người dân nơi đâytrở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Xuất phát từ thực tế khách quan của địa phương chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Hoạt động du lịch biển và sinh kế của người dân xã Xuân Thành - huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
a Mục tiêu chung
Đề tài nhằm tìm hiểu hoạt động du lịch biển và sinh kế của người dân xãXuân Thành, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy và phát triển dulịch biển ở xã Xuân Thành trong thời gian tới theo hướng bền vững
b Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa CSLL về sinh kế, về hoạt động du lịch biển và các tácđộng của hoạt động du lịch biển
Trang 8- Tìm hiểu hoạt động du lịch biển và sinh kế của người dân xã Xuân Thành
- Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh pháttriển nghành du lịch biển ở xã Xuân Thành qua đó góp phần tạo việc làm, nângcao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân nơi đây
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạtđộng du lịch biển, sinh kế của những hộ thuần nông, hộ nông - ngư kiêm dịch vụ
du lịch, hộ chuyên làm dịch vụ du lịch và cộng đồng dân cư xã Xuân Thành
Đề tài thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2008
- Về không gian: Đề tài được thực hiện tại xã Xuân Thành – huyện NghiXuân – tỉnh Hà Tĩnh
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về sinh kế
2.2.1 Khái niệm về sinh kế
Ý tưởng sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào những năm
80 (sau đó phát triển hơn nữa bởi Chamber, G.Conway, N.Singh và những người
Trang 9khác vào đầu những năm 1990) Từ đó có một số cơ quan phát triển đã tiếp nhậnkhái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện.
* Định nghĩa sinh kế:
Sau đây là một số định nghĩa về sinh kế đã được chấp nhận:
- Các sinh kế có thể bao gồm mức độ sung túc, con đường vận chuyểnthức ăn và tiền mặt phục vụ cho các phúc lợi về thể chất và xã hội Điều này baogồm sự đảm bảo chống lại bệnh tật, tử vong sớm và trở nên nghèo hơn(Chamber, 1993) [3]
- Các sinh kế là các phương tiện, các hạt động và các quyền dựa vào đócon người tạo ra cuộc sống (N.Singh, 1996) [3]
Sinh kế thường được bao gồm sinh kế thay thế, sinh kế bổ sung và sinh kếbền vững Trong nhiều cách dùng thuật ngữ, sinh kế chủ yếu nhằm vào lĩnh vựckinh tế, tuy nhiên nó có thể được xem xét vượt quá các hoạt động kinh tế và baogồm chất lượng các tiêu chuẩn của cuộc sống, các chuẩn thức ăn, nơi cư trú, sứckhoẻ và sự toại nguyện
* Nội dung sinh kế bền vững:
- Sinh kế bền vững là sự cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, tính toàn vẹn vềsinh thái và phúc lợi loài người, cũng bao gồm cả mối quan tâm về tính côngbằng Các sinh kế bền vững được phát triển từ khả năng của con người để tiếpcân với những lựa chọn và tài nguyên và sử dụng chúng để tạo ra cuộc sống theocách không làm tổn hại đến quyền sống của những người khác dù ngay bây giờhoặc mai sau (N.Singh, 1996).[3]
- Một sinh kế bền vững là có phần dự trữ để dùng khi gặp những bất trắcnhư ốm đau, tai nạn, mất mát, những nhu cầu xã hội bất ngờ hoặc thiết yếu, v.v (Chambers, 1993).[3]
Như vậy một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực
và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động
Trang 10mà họ thực thi nhằm kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ướcnguyện của họ Một sinh kế bền vững khi con người có thể đối phó và phục hồi
từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nậng cao khả năng vàtài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở cácnguồn tài nguyên thiên nhiên
2.1.2 Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững (SLA)
Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững được đề cập đầu tiên vào năm
1992 bởi Robert Chambers Nó nhanh chóng được chấp nhận bởi Oxfam (1993),
và gần đây là CARE, UNDP (1995) và DFID (1997), đa số những quan tâm gầnđây trong cách tiếp cận là kết quả nhiệt tình của DFID, và hội thảo đưa chủ yếuvào những tài liệu tập huấn của DFID
Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững đặt con người làm tâm điểm củacông tác phát triển, các đặc điểm của phương pháp náy là: [3 ]
- Bắt đầu bằng việc phân tích các chiến lược, sự kiện của con người vànhững chiến lược đó thay đổi như thế nào qua thời gian
- Lôi cuốn mọi người tham gia một cách đầy đủ và tôn trọng ý kiến của họđồng thời đưa ra nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ nhười dân đạt được các mục đíchsinh kế của mình
- Phân biệt giữa các nhóm khác nhau chịu ảnh hưởng của các chương trìnhphát triển và xây dựng những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của họ trongchương trình đó nêu bật các tác động của chính sách và cơ cấu thể chế đối vớingười dân cũng như hộ gia đình
- Nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc tác động đến chính sách và cơ cấuthể chế nói trên để chúng hỗ trợ các vấn đề của người dân
Áp dụng phương pháp tiếp cận này có nghĩa là sử dụng một cách nhìn rộng,không bị bó buộc bởi bất kỳ một tư tưởng nào ở hiện tại về cái gì là quan trọng đốivới con người, với những gì con người thực hiện hoặc cố gắng đạt được
Trang 11Mặc dù phương pháp tiếp cận sinh kế bền vữngcủa DFID đề xuất là tậptrung vào mục tiêu thúc đẩy các chính sách và hành động nhằm phát triển sinh kếbền vững, nhưng nó cũng nhằm tới các mục tiêu khác như có nền giáo dục tốthơn, sức khoẻ và cơ hội cho người nghèo; bảo vệ và quản lý tốt hơn nguồn tàinguyên thiên nhiên
Phương pháp tiệp cận sinh kế của DFID nhấn mạnh tới việc giảm sự dễ bịtổn thương và khả năng phục hồi, nói rộng hơn là về tài sản, năng lực và nhữnghoạt động (hơn là chỉ nhấn mạnh tới những cơ hội việc làm của người dân) vàquan tâm rõ ràng tới chính bản thân nó gắn với hiện trạng nguồn tài nguyên Nóimột cách cụ thể DFID mong đợi tiếp cận sinh kế bền vững sẽ:
Cung cấp hiẻu biết tốt hơn về mọi mặt của nghèo đói
Cung cấp những ngữ cảnh cho việc thảo luận và thuyết trình về XĐGN.Giúp DFID và những thành viên của nó giải đáp những quan điểm củangười nghèo
Giúp đỡ việc xây dựng những ưu tiên cho hoạt động giúp đỡ tìm ra phương pháp
đo lường sự thành công cho các công trình và dự án XĐGN
2.2.2 Khung sinh kế bền vững của DFID
Phân tích có sự tham gia
S Tác động
và tiếp cận
Tài sản sinh kế
Các quy trình
Luật pháp Văn hoá Chính sách
Các cấp chính quyền Khu vực
Các chính sách, các cơ cấu tổ chức và các quy
trình
Trang 12Sơ đồ 1: Khung sinh kế bền vững
Khung sinh kế bền vững là một công cụ trực quan hoá được Bộ phát triểnquốc tế Anh (Department for International Development – DFID) xây dựng từnhững năm 80 của thế kỷ XX nhằm tìm hiểu các loại hình sinh kế Mục đích của
nó là giúp người sử dụng nắm được những khía cạnh khác nhau của các loại hìnhsinh kế, đặc biệt là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề hoặc những yếu tố tạo cơhội Một số tổ chức khác cũng đã phát triển những khung sinh kế tương tự và cónghĩa là sử dụng một cách nhìn rộng, không bị bó buộc bởi bất cứ một tư tưởngnào ở hiện tại về vấn đề cái gí là quan trọng đối với con người
(Nguồn: http://www.livehoods.org/info./guidance_sheets_rtfs/sectz.rtf )
Các chiến lược sinh kế
- Giảm nghèo thông qua công nghệ và
hạ tầng bền vững
-Nâng cao cơ hội tạo thu nhập và việc làm thông qua các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp, tài chính vi mô và đào tạo kỹ năng
- Cải thiện tình trạng hiện nay cả về vật chất lẫn tinh thần của người dân dễ bị tổn thương
Các kết quả bền vững
Phát triển thể chế
H: đại diện cho vốn con người: các ký năng kỹ xảo, kiến thức, năng lực lao động và sức khoẻ co vai trò quan trọng, giúp tiến hành được các chiến lược sinh kế khác nhau.
P: Đại diện cho vốn vật chất: hạ tầng cơ bản (đường sá, nhà cửa, nước, năng lượng
và thông tin) và các phương tiện, trang thiết bị phục vụ sản xuất giúp sinh sống.
S: Đại diện cho vốn xã hội: nguồn lực xã hội (các mạng lưới, thành viên của các nhóm, mối quan hệ tin cậy, khả năng tiếp cận với các tổ chức thể chế rộng lớn của xã hội) để trên cơ sơ đó con người có thể tiến hành sinh kế của mình.
F: Đại diện cho vốn tài chính: các nguồn lực tài chính sẵn có cho con người (có thể là tiết kiệm, các cung cấp về tín dụng hoặc các khoản chuyển tiền đều dặn hoặc tiền trợ cấp) và những thứ đem đên những lựa chon sinh kế khác nhau.
N: Đại diện cho vốn tự nhiên: tài nguyên thiên nhiên tích trữ có ích để tạo ra các sinh kế (ví dụ tài nguyên đất, nước, động vật hoang dã, đa dạng sinh học, môi trường
Trang 13* Các thành phần cơ bản của khung sinh kế bền vững
- Phạm vi dễ bị tổn thương:
Định nghĩa: Phạm vi dễ bị tổn thương là môi trường sống bên ngoài củacon người Sinh kế và tài sản sẵn có của con người bị ảnh hưởng cơ bản bởinhững xu hướng chủ yếu, cũng như bởi những cú sốc và tính thời vụ Chính điềunày khiến sinh kế và tài sản trở nên bị giới hạn và không kiểm soát được
Một đặc điểm quan trọng trong phạm vi bị tổn thương là con người không thể
dễ dàng kiểm soát những yếu tố trước mắt hoặc lâu dài phạm vi bị tổn thương hoặc
sự bấp bênh của sinh kế tạo ra từ những yếu tố này là một thực tế thường trực cho rấtnhiều hộ nghèo Điều này chủ yếu là do họ không có những khả năng tiếp cận vớinhững nguồn lực có thể giúp họ bảo vệ mình khỏi những tác động xấu
- Những tài sản sinh kế (nguồn vốn sinh kế - nguồn lực sinh kế)
Giới thiệu các loại tài sản:
Tiếp cận sinh kế thì cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người Nó
cố gắng đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về sức mạnh của con người(tài sản hoặc tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh
Trang 14Hình dạng của ngũ giác diễn tả khả năng tiếp cận của người dân với cácloại tài sản Như vậy những ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ chonhững cộng đồng khác nhau hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau trong cộngđồng đó Quan trọng là một tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích Nếu mộtngười có thể tiếp cận chắc chắn với đất đai (tài sản tự nhiên) họ cũng có thể cóđược nguồn tài chính vì họ có thể sử dụng đất đai cho những hoạt động trực tiếp
mà còn có thể cho thuê Tương tự như vây, vật nuôi (tài sản hữu hình) có thể tạo
ra nguồn vốn xã hội (uy tín và sự liên hệ với cộng đồng cho người sở hữuchúng)… Phẩm chất của tài sản thay đổi thường xuyên vì vậy ngũ giác cũng thayđổi liên tục theo thời gian Sơ đồ hình ngũ giác rất hữu ích cho việc tìm ra điểmnào thích hợp, những tài sản nào sẽ phục vụ cho nhu cầu của nhóm xã hội khácnhau và cân bằng giữa những tài sản đó như thế nào?
Đây là chìa khoá để xem xét chung nhất sức mạnh gì mà người dân có vàcần có Nó lôi kéo sự chú ý khỏi sự tiếp cận tài sản đơn lẻ, nơi mà những dự ánsinh lợi quan tâm đến tình hình tài chính của con người, hoặc những dự án tàinguyên thiên nhiên, ưu tiên cho sự cải thiện nguồn vốn tự nhiên mà không quantâm đến lợi ích của nó tới sinh kế
- Cấu trúc và quá trình biến đổi
Các chính sách thể chế bao gồm một loạt những yếu tố liên quan đến bối cảnh
có tác động mạnh lên mọi khía cạnh của sinh kế Rất nhiều trong số những yếu tố này
có liên quan đến môi trường, quyết định, chính sách và các dịch vụ do Nhà nước thựchiện Tuy nhiên những vấn đề dó cũng bao gồm cả các cấp chính quyền địa phương,các tổ chức dựa vào cộng đồng và những hoạt động của khu vực tư nhân [2 ]
- Các chiến lược sinh kế
Các chiến lược sinh kế bao gồm những lựa chọn và quyết định của người dân vềnhững việc như :
+ Họ đầu tư vào nguồn vốn và sự kết hợp tài sản sinh kế như thế nào?
Trang 15+ Quy mô các hoạt động tạo thu nhập mà họ theo đuổi?
+ Cách thức họ quản lý như thế nào để bảo tồn các tài sản sinh kế và thunhập?
+ Cách thức họ thu nhận và phát triển như thế nào những kiến thức và kỹ năngcần thiết để kiếm sống?
+ Họ đối phó như thế nào với những rủi ro, những cú sốc?
+ Những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau?
+ Họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ có được như thế nào đểlàm được những điều trên?
- Kết quả sinh kế
Mục đích của việc sử dụng khung sinh kế là để tìm hiểu những công thức màcon người kết hợp và sử dụng các nguồn lực, khả năng nhằm kiếm sống cũng như đạtđược các mục tiêu và ước nguyện của họ Những mục tiêu và ước nguyện này có thểgọi là kết quả sinh kế, đó là những thứ mà con người muốn đạt được trong cuộc sống
cả về trước mắt lẫn lâu dài Kết quả sinh kế có thể là: [3 ]
+ Hưng thịnh hơn: Thu nhập cao và ổn định hơn, cơ hội làn việc tốt hơn, kếtquả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượngtiền của hộ gia đình thu được tăng
+ Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền,người ta còn đánh giá đời sống bằng giá trị của những hàng hoá phi vật chất khác, sựđánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, ví dụ nhưcăn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình được đảm bảo, cácđiều kiện sống tốt, sự an toàn đời sống vật chất
+ khả năng tổn thương giảm: Giảm khả năng tổn thương có trong ổn dịnh giá
cả thị trường, an toàn sau các thảm hoạ, khả năng kiểm soát dịch bệnh gia súc
Trang 16+ An ninh lương thực được củng cố: Tăng cường khả năng an ninh lương thực
có thể được thể hiện thông qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên dất,nâng cao và ổn định thu hoạch mùa màng, đa dạng hoá các loại hình cây lương thực
* Mối quan hệ trong khung
- Mối quan hệ giữa các tài sản
Những tài sản sinh kế nối kết với nhau theo vô số cách để tạo ra kết quảsinh kế có lợi Hai loại quan hệ quan trọng là:
+ Sự tuần tự: Việc sở hữu một loại tài sản giúp người dân từ đó tạo thêmcác loại tài sản khác Ví dụ: người dân dùng tiền (nguồn vốn tài chính) để muasắm vật dụng sản xuất và tiêu dùng (nguồn vốn vật thể)
+ Sự thay thế: Trong mối quan hệ này chúng ta cần tìm hiểu xem một loại tàisản có thể thay thế cho nhiều loại tài sản không? Ví dụ: sự gia tăng nguồn vốn conngười có đủ để đền bù sự thiếu hụt nguồn vốn tài chính không? nếu có, điều này cóthể dựa vào mở rộng lựa chọn cho cung cấp
- Mối quan hệ trong khung:
+ Tài sản và hoàn cảnh dễ bị tổn thương: Tài sản có thể vừa bị phá huỷ,vừa được tạo ra thông qua các biến động của hoàn cảnh
+ Tài sản và sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế: Thể chế, chínhsách và sự chuyển dịch cơ cấu, quy trình sản xuất có ảnh hưởng sâu sắc đến khảnăng tiếp cận tài sản
Tạo ra tài sản: Chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản (nguồnvốn hữu hình) hoặc phát minh kỹ thuật (nguồn vốn con người) hoặc sự tồn tạinhững thể chế địa phương làm mạnh lên nguồn vốn xã hội
Xác định cách tiếp cận tài sản: quyền sở hữu, những thể chế điều chỉnhcách tiếp cận với những nguồn tài nguyên phổ biến
Ảnh hưởng tỷ lệ tích luỹ tài sản: Ví dụ: chính sách thuế ảnh hưởng đếndoanh thu của những chiến lược sinh kế…
Trang 17Tuy nhiên, đây không phải là mối quan hệ đơn giản những cá nhân vànhóm cũng ảnh hưởng lên sự tái cấu trúc và sự thay đổi quy trình thể chế Nóichung tài sản càng được cung ứng cho người dân thì họ sẽ sử dụng càng nhiều.
Vì vậy, một cách để đạt được sự trao quyền có thể là hỗ trợ cho người dân xâydựng những tài sản của họ
+ Tài sản và những chiến lược sinh kế: Những ai có nhiều tài sản cókhuynh hướng có nhiều lựa chọn lớn hơn và khả năng chuyển đổi giữa nhiềuchiến lược để đảm bảo sinh kế của hộ
+ Tài sản và những kết quả sinh kế: Khả năng người dân thoát nghèo phụthuộc vào sự tiếp cận của họ đối với những tài sản Những tài sản khác nhau cầnđạt được những kết quả sinh kế khác nhau Ví dụ: thu nhập nông hội phụ thuộcvào đầu tư các yếu tố sản xuất chính như: diện tích đất đang sử dụng, số lao độngtrong gia đình, giá trị tài sản cố định ngoài đất đai, có điều kiện tiếp cận thuỷ lợithuận lợi và áp dụng giống lúa mới Tất cả các yếu tố trên đóng góp vào tăngnăng suất đất đai và thu nhập của nông hộ Sự gia tăng năng suất nông nghiệp cóthể gián tiếp ảnh hưởng lên lĩnh vực phi nông nghiệp bằng sự gia tăng thặng dưtương tự lúa gạo và như vậy tạo cơ hội việc làm trong lĩnh vực chế biến ở nôngthôn, thương mại và các hoạt động vận chuyển (Mellor, 1976) Từ đó có thểđóng góp trực tiếp làm thu nhập nông nghiệp lớn hơn Sự tăng tài nguyên nhânlực tuỳ thuộc cấp lớp đã đến trường của chủ hộ có thể góp phần làm tăng năngsuất lao động các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó thu nhập nông hộ gia tăng.Giáo dục cũng tạo cơ hội nghề nghiệp cho thành phần lao động gia đình thủcông, năng suất thấp (chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và các hoạt động xâydựng) chuyển sang các hoạt động ngoài nông nghiệp như: thương mại và dịch
vụ Tình trạng của cơ sở hạ tầng cũng đóng góp tích cực vào thu nhập thông quagiá cả của đầu vào, đầu ra trong lĩnh vực thương mại và qua việc gia tăng cơ hộilao động làm tăng thu nhập trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn Ngoài
Trang 18nguồn vốn tiết kiệm của gia đình, tiết kiệm tín dụng làm tăng thêm vốn cũng làmtăng thêm thu nhập của nông hộ.
*Cách sử dụng khung:
Khung sinh kế như thể hiện ở sơ đồ 1 bao gồm những nhân tố chính ảnhhưởng đến sinh kế của con người và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng Nó cóthể được sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá
sự đóng góp vào sinh kế bền vững của những hoạt động hiện tại Cụ thể là:
- Cung cấp bảng liệt kê những vấn đề quan trọng nhất và phác hoạ mối liên
hệ giưa những thành phần này
- Tập trung sự chú ý vào các tác động và các quy trình quan trọng
- Nhấn mạnh sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố khác nhau, làm ảnhhưởng đến sinh kế
Do hoàn cảnh thời gian khác nhau, khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độnghiên cứu khác nhau, mỗi người, mỗi khu vực, mỗi tổ chức có một cách hiểu về
DL khác nhau Đúng như một chuyên gia về DL đã nhận định: “đối với DL, cóbao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu quan niệm” [5]
- Quan niệm cũ về DL
Trang 19+ Theo Ausher, DL là nghệ thuật đi chơi và sự mở rộng không gian vănhoá của con người [5]
+ Theo Azar, DL là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ mộtvùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác không gắnvới sự thay đổi nơi cư trú và nơi làm việc [5]
Theo các quan điểm này thì DL được đề cập đơn thuần tới sự di chuyểncủa con người rời khỏi nơi cư trú của họ để thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết
về không gian xung quanh chứ chưa đề cập tới những mối quan hệ phát sinhtrong quá trình di chuyển đó Vì thế các quan điểm này chưa phản ánh đầy đủhiện tượng du lịch, nhưng cũng phải thấy rằng đây chính là cơ sở tiền đề cho sự
ra đời của các khái niệm về DL sau này
- DL theo ý nghĩa hiện đại
Theo thời gian cùng với sự phát triển của khoa học và các điều kiện KT – XHkhác Do việc phải đảm bảo nhu cầu ăn, ngủ, mua sắm và các nhu cầu khác của dukhách đã làm cho du lịch mang thêm một nội dung nũa là nội dung kinh tế
+ Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) thì DL là họat động của con người
có liên quan đến đi lại, đi ra khỏi vùng và trong vùng nhằm các mục tiêu nghỉngơi, kinh doanh và các mục tiêu khác, thời gian dưới một năm [7]
+ Năm 1963 với mục đích quốc tế hoá, tại hội nghị liên hợp quốc tế về DLhọp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra khái niệm về DL như sau: “DL là tổng hợpcác mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các hoạt độngcủa cá nhân của tập thể bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hoặc ngoài nước họvới mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải nơi làm việc của họ” [7]
+ Ở Việt Nam, theo pháp lệnh DL, tháng 2 năm 1999: “DL là một ngànhkinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên vùng và
xã hội hoá cao” [10]
Trang 20Như vậy, rõ ràng là trong các quan niệm mới về DL thì phạm vi về nội dungcủa DL đã được mở rộng ra từ chỗ chỉ là hoạt động liên quan đến đi lại, bây giờ
đã xuất hiện thêm yếu tố kinh tế Chính yếu tố kinh tế trong DL đã chi phối cácmối quan hệ khác trong chuyến đi của khách DL Cho nên có thể coi DL là mộtngành kinh tế tổng hợp, cho đến nay thì trong hầu hết các quan niệm về DL, yếu
tố kinh tế không những không mất đi mà vai trò của nó trong khái niệm về DLngày càng được nâng lên ở tầm quan trọng hơn, là trung tâm phát sinh mối quan
hệ giữa khách DL, người cung cấp dịch vụ DL, chính phủ, cộng đồng dân cư,làm hấp dẫn và lôi cuốn khách DL
Do DL là tổng thể những mối quan hệ phát sinh trong chuyến đi của dukhách liên quan tới tất cả các lĩnh vực xã hội nên có thể nói rằng DL là mộtngành kinh tế tổng hợp có qua hệ mật thiết với các ngành kinh tế khác Vì thế sựphát triển của DL cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngành khác
* Du khách
Du khách là người từ nơi khác đến vào thời gian rảnh rỗi của họ với mụcđích thoả mãn tại nơi đến, nhu cầu nâng cao hiểu biết, phục hồi sức khoẻ, xâydựng hoặc tăng cường tình cảm của con người với nhau hoặc với thiên nhiên, thưgiãn, giải trí hoặc thể hiện mình kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tinh thần,vật chất và các dịch vụ do các cơ sở của ngành DL cung ứng [5]
Như vậy, có thể thấy du khách là những người từ nơi khác đến, họ đến địaphương để ngắm nhìn nhằm nâng cao hiểu biết Tuy nhiên trong giai đoạn hiệnnay thì du khách cũng có thể được cụ thể hoá bằng tiêu chí về thời gian vàkhoảng cách từ nơi đi, chẳng hạn:
+ Mỹ quy định du khách là những người đi ra khỏi nhà 50 dặm và đi vềtrong ngày [5]
+ Anh quy định du khách là những người đi ra khỏi nhà ít nhất một đêm [5]
Trang 21+ Úc quy định du khách là người đi ra khỏi nhà trong phạm vi 40 km, thờigian ít nhất là 24 giờ và không quá 1 tháng [5]
+ Ở Việt Nam thì du khách là những người từ nơi khác đến và nghỉ quađêm tại một cơ sở lưu trú của ngành DL [10]
Đối với du khách, người ta thường phân ra 2 loại khác nhau đó là dukhách thuần tuý và du khách kết hợp Du khách thuần tuý là những người màchuyến đi của họ có mục đích chính là nâng cao hiểu bíêt tại nơi đến về các điềukiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá…Du khách kết hợp là những người kết hợpchuyến đi của mình ngoài nâng cao hiểu biết tại nơi đến còn kèm theo nhữngmục đích khác như đi công tác, hội họp, tìm kiếm cơ hội làm ăn…Những ngườinày sắp xếp được thời gian cho việc tham quan, nghỉ ngơi của mình [5]
2.2.2 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch
Với tư cách là một ngành kinh tế, để phát triển DL cần thiết phải xuất hiện
và tồn tại hai yếu tố cơ bản là “cung” và “cầu” DL
* Điều kiện hình thành “cung” du lịch
- Tài nguyên DL: DL là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách
rõ rệt Vì vậy tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm DL, khu
DL nhằm tạo ra sự hấp dẫn DL
- CSHT và cơ sở vật chất kỹ thuật DL: Đây là điều kiện quan trọng để tiếpcận khai thác các tiềm năng tài nguyên DL và tổ chức các dịch vụ DL
Trang 22- Đội ngũ lao động: Là yếu tố quản lý, vận hành hoạt động DL Chất lượngcủa đội ngũ lao động trong hoạt động nghiệp vụ còn quyết định chất lượng sảnphẩm DL.
- Cơ chế chính sách: Là môi trường pháp lý để tạo sự tăng trưởng của
“cung” trong hoạt động DL Trong DL đây cũng được xem là yếu tố quan trọng
để tạo điều kiện cho khách đến [12]
* Điều kiện hình thành “cầu” du lịch
- Thị trường khách DL: DL không thể tồn tại và phát triển nếu không cókhách DL Chính vì vậy đây là điều kiện tiên quyết để hình thành “cầu” DL
- Tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến DL: Được xem là yếu tố tăng “cầu”; yếu
tố “cầu” nối giữa “cung” và “cầu” trong DL
Bên cạnh những yếu tố cơ bản để có thể hình thành thị trường (mua - bán)
và phát triển DL, hoạt động DL có thể phát triển tốt trong điều kiện:
- Có môi trường lành mạnh về tự nhiên, xã hội và không có dịch bệnh: DL
là ngành kinh tế rất nhạy cảm và gắn liền với các yếu tố môi trường Sự suy giảmđột ngột của DL bởi dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS) gần đây ở một số nướctrên thế giới, trong đó có Việt Nam là một minh chứng cụ thể cho vấn đề này
- Đảm bảo an ninh, không có khủng bố, sung đột vũ trang: Tình hình bất ổnđịnh ở Indonesia, Phillippine; khủng bố ở Mỹ; chiến tranh ở Trung Đông v.v đềuđược xem là nguyên nhân chính làm giảm lượng khách du lịch đến khu này [11]
1.2.3 Các ảnh hưởng của hoạt động du lịch
“DL là hoạt động của con người ngoài nơi cư thú thường xuyên của mìnhnhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thờigian nhất định” [11]
Hoạt động phát triển DL có tác động ảnh hưởng đến nhiều mặt của kinh
tế, văn hoá xã hội và tài nguyên môi trường
Đối với KT – XH, tác động của hoạt động DL thể hiện ở các mặt chủ yếu:
Trang 23- Góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ; đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu tại chỗ.
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ
- Góp phần tạo công ăn việc làm cho xã hội, nâng cao mức sống của ngườidân nơi có DL phát triển
- Góp phần thúc đẩy phát triển CSHT xã hội, đổi mới “bộ mặt” đô thị
- Góp phần phát huy các giá trị văn hoá dân tộc
- Góp phần tăng cường giao lưu quốc tế
Bên cạnh những tác động tích cực, một số ảnh hưởng tiêu cực có thể nảysinh trong quá trình hoạt động phát triển DL bao gồm:
- Một số giá trị văn hoá có thể bị biến đổi do thương mại hoá
- Tạo sự cách biệt về kinh tế, sự thay đổi trong nếp sống truyền thống củacộng đồng
- Tệ nạn xã hội gia tăng
Đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường bên cạnh những tác độngtích cực như góp phần làm tăng giá trị sử dụng đất; phục hồi, tôn tạo cảnh quanđối với những không gian được quy hoạch xây dựng các khu DL; bảo vệ và pháttriển một số loài sinh vật quý hiếm, bản địa để phục vụ tham quan DL; v.v hoạtđộng DL có thể có những ảnh hưởng chính bao gồm:
- Góp phần làm mất đi nơi cư trú (habitat) của nhiều loài sinh vật do việcsan lấp tạo mặt bằng xây dựng các công trình DVDL
- Kích thích việc săn bắt, khai thác các loài sinh vật quý hiếm, hoang dã
- Khai thác quá mức tài nguyên nước ngầm, đặc biệt khu vực ven biển
- Tăng lượng chất thải ra môi trường, góp phần làm suy giảm tài nguyên
và gây ô nhiễm môi trường
- Tăng khả năng ô nhiễm không khí cục bộ
- Tăng khả năng lây truyền dịch bệnh
Trang 24Các môi trường chủ yếu chịu ảnh hưởng của hoạt động phát triển DL là:Môi trường đất, môi trường nước, môi trường sinh thái, môi trường không khí(cục bộ) [11]
2.2.4 Quản lý DL để hạn chế tác động đến tài nguyên, môi truờng.
- Quản lý về “sức chứa”
Phân tích sức chứa là phương pháp được sử dụng nhằm xác định giới hạnphát triển DL trên giới hạn cao nhất có thể khai thác sử dụng tài nguyên DL ởmột điểm DL nào đó Mathieson và Wall (1982) định nghĩa: “sức chứa” là sốlượng người tối đa có thể tham quan điểm DL mà không gây ra sự thay đổikhông thể chấp nhận được về những gì du khách cảm nhận được ở một điểm DL.Innskeep (1991) đã bổ sung thêm là “không gây tác động xấu tới xã hội, kinh tế,văn hóa của điểm DL tới mức không thể chấp nhận được” [11]
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa dukhách mà khu vực có thể chấp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩntối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạtcủa họ
Công thức chung để tính sức chứa của một điểm DL như sau: [11]
CPI = AR/ a
Trong đó:
CPI: Sức chứa thường xuyên (Instantaneous carrying capacity)
AR: Diện tích của khu vực (Size of area)
a: Tiêu chuẩn không gian (diện tích cần cho một người)
CPD = CPI * TR = TR/ a
Trong đó:
CPD: Sức chứa hàng ngày (Daily capacity)
TR: Công suất sử dụng mỗi ngày (Turnover rate of users per day)
Trang 25CPY = CPD/ PR = AR*TR/a*PR
Trong đó:
CPY: Sức chứa hàng năm (Yearly capacity)
PR: Ngày sử dụng (tỷ lệ ngày sử dụng liên tục trong năm, sử dụng cả đêm1/365*OR)
OR: Công suất sử dụng giường (Occupancy rate)
Công thức trên có thể áp dụng cho các hoạt động có yêu cầu sử dụng diện tích Đứng dưới góc độ sinh học, sức chứa được hiểu là khả năng tối đa mà nếulớn hơn sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tácđộng sinh thái do hoạt động của du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng bắt đầu
có những ảnh hưởng tới tập tục sinh hoạt của các loài thú hoang dã và làm cho
hệ sinh thái xuống cấp
Đứng dưới góc độ tâm lý: Sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mànếu vượt quá bản thân du khách sẽ bắt đầu cảm thấy khó chịu vì sự “đông đúc”
và hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của các du khách khác Nói mộtcách khác mức độ thoả mãn của du khách giảm xuống dưới mức bình thường dotình trạng quá đông đúc Sức chứa này đạt tới ngưỡng khi có quá nhiều du kháchtới điểm tham quan làm du khách phải chịu nhiều tác động do du khách khác gây
ra (ví dụ khó quan sát được các loài thú hoang dã, đi lại khó khăn hơn, sự khóchịu nảy sinh do rác thải…) Những tác động này làm giảm đáng kể sự hài lòngcủa du khách
Đứng dưới góc độ xã hội: Sức chứa là gới hạn về lượng du khách mà tại
độ bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sốngvăn hoá – xã hội, KT – XH của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồngđịa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập
Đứng dưới góc độ quản lý: sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa màkhu lịch có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này năng lực
Trang 26quản lý (lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý…) của khu DL sẽkhông đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý kiểm soáthoạt động của khách và kết quả sẽ ảnh hưởng đến môi trường và xã hội [11]
Do khái niệm về sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng vì vậy khó
có thể xác định một con số chính xác về sức chứa cho một khu vực Mặt khácmỗi khu vực khác nhau sẽ chỉ có số sức chứa khác nhau Các chỉ số này chỉ cóthể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm
Tuy nhiên phải thừa nhận rằng việc xác định sức chứa của một điểm DL làmột công việc phức tạp và thường không thể có được một số định lượng chínhxác Phân tích sức chứa không thể thay thế công tác đánh giá chi tiết tác động
KT – XH và môi trường của hoạt động phát triển DL
sự đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn từ những lợi ích về vật chất mà DL thu được.Điều này càng trở nên quan trọng đối với công tác bảo tồn và phát triển các vườnquốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, nơi DL khai thác, trong điều kiện đầu tư chocông tác bảo tồn từ ngân sách chính phủ rất hạn chế [11]
- Sự tham gia của cộng đồng
Một điều phải thừa nhận cuộc sống cộng đồng dân cư ven biển vẫn cònnhiều khó khăn do thiếu việc làm Điều này tạo sức ép không nhỏ đến sự phát
Trang 27triển ở những khu vực này DL được xem là một trong những ngành kinh tế cókhả năng tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội Chính vì vậy việc quản lý cáchoạt động DL sao cho việc tham gia của cộng động vào các hoạt động DL càngrộng rãi sẽ càng có lợi cho công tác phát triển KT – XH tại địa phương [11]
Để hướng tới phát triển ngành DL bễn vững, trong những năm qua DLcộng đồng (CBI) ngày càng lôi kéo được sự quan tâm chú ý từ nhiều đối tượngkhác nhau bao gồm các tổ chức phát triển địa phương và quốc tế, và khu vựcdoanh nghiệp (các công ty DL, các viện nghiên cứu, và các cấp chính quyền ở tất
cả các cấp từ Trung ương - xã) Các tổ chức GD – ĐT và cộng đồng địa phương
xã tham gia vào ngành DL hoặc đang quan tâm theo đuổi DL cộng đồng Vậy
DL cộng đồng là gì? Ngày nay DL cộng đồng được hiểu là một cộng đồng dân
cư tham gia làm DL bắt đầu là tự phát tại nơi có các danh lam thắng cảnh, di tíchlịch sử, đặc điểm vùng miền mà dân cư tại chỗ tham gia vào các dịch vụ phục vụcho nhu cầu của du khách Các Tou, tuyến DL tổ chức cho du khách đến phầnlớn là khai thác tiềm năng của địa phương chứ chưa chú trọng đến kêt hợp đểcộng đồng cùng làm DL, đôi khi quyền lợi giữa các bên tổ chức (lữ hành) vàcộng đồng lại không thống nhất đem đến nhiều bất trắc và du khách không hàilòng Từ chỗ phát triển tự phát tiến tới nhu cầu phát triển trên quy mô lớn,chuyên nghiệp hơn thì cần có sự đàu tư hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức hộiđoàn trong và ngoài nước từ nguồn vốn cho đến nhân lực và phương hướng hoạtđộng DL cộng đồng.Việc xã hội hoá phát triển DL thông qua phát triển DLccộng đồng cũng được đẩy mạnh vào năm tới Phát triển DL cộng đồng sẽ gópphần xoá đói giảm nghèo thực tế cho thấy, từ những cù lao, sông nước, bãi bồi,vườn cây ăn trái, các doanh nghiệp có vài ha đất cũng có thể đầu tư vào đây mởcửa đón khách góp phàn tạo công ăn việc làm cho người dân
2.3 Tổng quan về tình hình phát triển du lịch
2.3.1 Trên thế giới
Trang 28Sau chiến tranh thế giới thứ hai, DL trên phạm vi toàn cầu đã phát triểnnhanh với tốc độ tăng trưởng bình quân về khách 6,93%/ năm, về thu nhập 11,8% /năm và trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu trong nền kinh tế thếgiới Lượng khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới ngày một tăng thu nhập từ hoạtđộng DL cũng từ đó tăng theo DL trở thành một ngành tạo thêm nhiều việc làm,tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, là tiền đề thúc đẩy các ngành kinh tếkhác cùng phát triển Tổ chức DL thế giới Liên Hợp Quốc (UNWTO) cho biết năm
2007 lượng du khách thế giới lên đến con số kỷ lục 898 triệu người, tương đươngmức tăng trưởng 6,2% so với năm 2006 UNWTO khẳng định thành tích này xuấtphát từ mức tăng trưởng kinh tế ổn định của thế giới trong những năm gần đây Báo cáo hằng năm của UNWTO cho biết khu vực Trung Đông chiếm tỉ lệ tăngtrưởng cao nhất với 46 triệu du khách, tăng 13% Đứng sau là châu Á - TháiBình Dương với 10% và châu Phi 8% Trong khu vực châu Á - Thái BìnhDương, Malaysia (20%), Campuchia (19%), VN (16%) và Indonesia (15%) làcác nước có mức tăng mạnh nhất [6]
2.3.2 Trong nước
Ở Việt Nam, mặc dù ngành DL được hình thành và phát triển đã hơn 40năm, song hoạt động DL chỉ thực sự diễn ra sôi động từ thập kỷ 90 gắn liền với
chính sách mở cửa hội nhập của Đảng và Nhà nước Du lịch Việt Nam ngày
càng tạo ấn tượng mạnh mẽ với du khách, vị thế của du lịch Việt Nam đã được
cải thiện đáng kể trên bản đồ du lịch thế giới Những con số thống kê ngành DL
năm 2007 như sau: Lượng khách quốc tế đạt 4,2 triệu lượt (tăng 17,2% so với2006), khách nội địa 19,2 triệu lượt (tăng 9,7%), thu nhập xã hội về DL đạt56.000 tỷ đồng (tăng 9,8%) Trên đà đó, mục tiêu đến năm 2010, Việt Nam sẽthu hút được 5,5-6,0 triệu lượt khách quốc tế, 25 triệu lượt khách nội địa, thunhập xã hội về DL đạt 4,5 tỷ USD [6]
Trang 29Để đáp ứng nhu cầu du lịch ngày càng tăng, cơ sở vật chất kỹ thuật DL,đặc biệt là khu vực lưu trú, cũng phát triển nhanh Tính đến hết năm 2007, cảnước có khoảng 9.343 cơ sở lưu trú du lịch với tổng số 184.831 buồng Cùng với
sự phát triển về số lượng, hệ thống khách sạn Việt Nam cũng đã có nhữngchuyển biến cơ bản về mặt chất lượng Cả nước đã có 45 tỉnh, thành phố có 270khách sạn được xếp hạng 3-5 sao, gồm 29.098 buồng trong đó 25 khách sạn 5sao với 7.167 buồng; 82 khách sạn 4 sao với 10.104 buồng, 163 khách sạn 3 saovới 11.827 buồng, 645 khách sạn 2 sao với 25.610 buồng, 745 khách sạn 1 saovới 16.973 buồng và 3.042 khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu với 45.942 buồng.Một số khu DL, cơ sở vui chơi giải trí, thể thao, sân gôn đã được đưa vào hoạtđộng, đáp ứng một phần nhu cầu của khách DL và nhân dân địa phương Songsong với việc nâng cấp, phát triển hệ thống giao thông đường bộ, đường không,đường sắt và đường biển trên phạm vi cả nước, phương tiện vận chuyển khách
DL chuyên ngành gồm khoảng 6.000 xe, tàu, thuyền các loại đã góp phần nângcao năng lực vận chuyển khách [6]
DL là ngành thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài.Trong năm 2007, có 47 dự án FDI đầu tư vào du lịch được cấp phép với tổng sốvốn đăng ký lên đến 1.863 triệu USD, tăng 195,7% so với năm 2006 - Tính từnăm 1988 đến tháng 12/2007, số dự án đầu tư FDI đăng ký trong lĩnh vực du lịch
là 235 dự án với số vốn là 6.163 triệu USD.[6]
DL phát triển đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế, xã hội phát triển,tăng tỷ trọng dịch vụ trong tổng thu nhập quốc dân; khôi phục nhiều nghề, lễ hộitruyền thống… ở một số nơi, DL đã làm thay đổi cơ bản diện mạo đô thị, nôngthôn và đời sống cộng đồng dân cư Những hiệu quả trên lại tác động tích cựcthúc đẩy toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển DL, tạo nhiều việc làm
Trang 30mới, góp phần tăng trưởng kinh tế, hạn chế tác động của xã hội đến môi trường
Lệ, Cửa Tùng, Cảnh Dương, Lăng Cô, Non Nước, Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Quy Nhơn,Đại Lãnh, Văn Phong, Nha Trang, Ninh Chữ,Cà Ná, Mũi Né, Long Hải, Vũng Tàu,
Hà Tiên… Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để xây dựng nên khu DL biển có sứccạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới Cùng với đường bờ biển dài nước ta
có hệ thống đảo và quần đảo phong phú với 2.773 đảo ven bờ (cách xa bờ khoảng100km) với tổng diện tích đảo ven bờ vào khoảng 1.700 km2 trải dài từ vùng biểnQuảng Ninh đến Kiên Giang, trong đó có 3 đảo có diên tích trên 100 km2 là PhúQuốc, Cái Bầu và Cát Bà Hệ thống biển đảo nước ta có giá trị lớn về kinh tế, chínhtrị, an ninh quốc phòng, trong đó có DL Ngoài các cảnh quan thiên nhiên hoang sơ,không khí trong lành, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới ven bờ còn giữ được tính đadạng sinh học cao Các bãi tắm trải dài và rất đẹp, bãi cát mịn, nước trong xanh,bêncạnh đó trong khoảng 100 lễ hội tiêu biểu của Việt Nam, vùng ven biển có 35 lễhội.Với nguồn nước khoáng ở vùng ven biển Việt Nam khá phong phú có thể khaithác phục vụ DL nghỉ dưỡng - chữa bệnh, đây là sản phẩm DL được nhiều thịtrường DL quan tâm như Nhật Bản, Tây Âu… Bên cạnh đó chúng ta còn có một tàinguyên sinh vật vùng ven biển phong phú và hàng ngàn di tích lịch sử, đáng chú ý
là 3 di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận đều nằm ở các tỉnh ven biển.Các đặc điểm trên là điều kiện thích hợp để phát triển nghành DL biển đặc biệt lànghành DL nghỉ dưỡng [9]
Trang 31Như vậy tài nguyên DL ở vùng ven biển Việt Nam rất phong phú và đa dạng,bao gồm cả tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn có giá trị cao với hoạt động
DL, tạo tiền đề cho việc phát triển nhiều loại hình DL như tắm biển, nghỉ dưỡng,thể thao - mạo hiểm, tham quan, sinh thái,… Tài nguyên DL ở vùng ven biển cómức độ tập trung cao, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển DL biển Mỗi khu vực
có thế mạnh, có khả năng liên kết các loại hình DL tạo ra những sản phẩm DL độcđáo Điều này tạo khả năng và cơ hội cho việc hình thành các điểm, cụm, tuyến,trung tâm DL biển và tổ chức xây dựng một số khu DL biển lớn làm đòn bẩy chophát triển DL biển Việt Nam nói riêng và DL cả nước nói chung
2.4.2 Hiện trạng phát triển
- Theo nghành:
Trong xu thế phát triển chung của DL Việt Nam, từng bước khẳng định vaitrò là nghành kinh tế mũi nhọn của đất nước, trong những năm qua hoạt động DLbiển chiếm tỷ trọng lớn, đóng góp quan trọng cho sự phát triển chung của toànnghành DL Việt Nam nói riêng và kinh tế xã hội vùng biển nói riêng Cụ thể: làbình quân trong cả nước số khách DL quốc tế đến vùng ven biển đạt trên 73%lượng khách DL quốc tế đến Việt Nam
- Các loại hình DL:
WTO đã phân loại các loại hình DL chính theo các mục đích cơ bản củathị trường khách: Nghỉ dưỡng, tiêu khiển giải trí, nghỉ mát; tham người thân, bạnbè; thương mại, công vụ; chữa bệnh; tín ngưỡng và các mục đích khác Tất cảnhững mục đích này đều hoặc là đi DL ví ý thích (nghỉ dưỡng, tiêu khiển giải trí,nghỉ mát) hoặc là đi DL vì nghĩa vụ (thương mại, công vụ, chữa bệnh) [9]
Cũng như vậy, có thể chia các loại hình DL thành hai nhóm chính là đi DL
vì ý thích và đi DL vì nghĩa vụ Trong nhom đi DL vì ý thích có hai loại: Đi DL
vì những sở thích chung và đi DL vì sở thích đặc biệt Thị trường khách đi DL
có sở thích chung thường là những thị trường chính trong khi đi DL và sở thíchdặc biệt là thị trường nhỏ, đặc biệt (niche market) [9]
Trang 32Sơ đồ 2: Phân loại DL biển
Mặc dù tiềm năng DL biển ở Việt Nam là khá phong phú và đa dạng, tuynhiên vì nhiều lý do, các sản phẩm DL nói chung, các sản phẩm DL biển nóiriêng hiện còn tương đối đơn điệu và trùng lặp Phổ biến nhất hiện nay ở các khu
DL biển vẫn chỉ là nghỉ dưỡng và tắm biển Các sản phẩm DL biển cao cấp cònhạn chế Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản hạn chế khả năng chi tiêu
và kéo dài ngày lưu trú của khách DL, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh vàmức tăng trưởng của DL biển nói riêng, DL nói chung ở Việt Nam [9]
- Những ảnh hưởng chính của DL biển:
Sinh thái biển
Tìm hiểu cộng đồng
Lễ hội biển
Văn hoá, nghệ thuậtSinh thái biển
Trang 33DL biển là hoạt động DL được tổ chức tổ chức phát triển ở vùng địa lý đặcthù là vùng ven biển và hải đảo trên cơ sở khai thác các đặc điểm tiềm năng tàinguyên, môi trường DL biển Chính vì vậy, ảnh hưởng của DL biển hoàn toàngiống với những ảnh hưởng của DL nói chung đến kinh tế, văn hoá – xã hội vàtài nguyên môi trường Tuy nhiên do vùng biển là vùng địa lý với các hệ sinhthái tự nhiên rất nhạy cảm, dễ biến đối bởi các tác động phát triển KT – XH vàthiên tai, chính vì vậy một số ảnh hưởng chính của hoạt động DL ở khu vực nàycần lưu ý bao gồm:
+Khai thác quá mức nước ngầm phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt, đặc biệt
là vào mùa DL: kết quả sẽ làm tăng khả năng ô nhiễm mặn các bể nước ngầm,làm giảm chất lượng nước
+ Nước thải từ các cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch không qua xử lý: Làmtăng mức độ ô nhiễm hữu cơ vùng nước biển ven bờ, ảnh hưởng đến NTTS, bảotồn tự nhiên và chính bản thân hoạt động DL
+ Ô nhiễm dầu nước biến ven bờ do các phương tiện tàu, thuyền vận tảikhách du lịch, phương tiện vui chơi giải trí, thể thao nước gây ra
+ Ô nhiễm hữu cơ do mật độ người tắm tập trung, đặc biệt vào thời giannghỉ cuối tuần, mùa du lịch
+ Khai thác san hô phục vụ nhu cầu làm hàng lưu niệm, làm suy thoái hệsinh thái nhiệt đới điển hình này
+ Đánh bắt quá mức các loài sinh vật quý hiếm trong tự nhiên phục vụ nhucầu ẩm thực và làm hàng lưu niệm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học biển
+ Xây dựng các công trình lưu trú, dịch vụ du lịch trên các đảo không theoquy hoạch, chiếm nhiều diện tích các khu rừng ngập mặn hoặc quá gần đường bờbiển làm tăng nguy cơ xói lở đường bờ biển, làm thay đổi hệ sinh thái biển - đảovốn rất nhạy cảm [9]
Trang 342.4.3 Những vấn đề đặt ra cho phát triển DL biển
Qua phân tích thực trạng phát triển DL biển, đối chiếu với những yêu cầu
cơ bản của phát triển DL, có thể thấy một số vấn đề chính đặt ra cho phát triển
DL biển bền vững ở Việt Nam bao gồm:
- Hiện nay DL biển chưa xây dựng được những sản phẩm DL đặc sắc, cósức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế để thu hút khách từ những thịtrường trọng điểm như: Nhật Bản, Đức, Mỹ…
- CSHT DL, đặc biệt là hệ thống cảng DL có khả năng tiếp nhận các tàu DL biểnquốc tế, các nước trong khu vực, chưa phát triển để đáp ứng được yêu cầu phát triển
- Môi trường biển, đặc biệt ở một số khu vực trọng điểm phát triển du lịchbiển như: Hạ Long – Cát Bà, Huế - Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu… đã có sựsuy thoái do các hoạt động phát triển KT – XH Nguy cơ ô nhiễm dầu do sự cố
có chiều hướng gia tăng
- Việc khai thác tài nguyên DL còn thiếu bền vững do tình trạng chồng chéotrong quản lý
- Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển DL còn hạn chế vàmang tính tự phát, thiếu sự hướng dẫn, tạo điều kiện từ phía ngành và chínhquyền địa phương
- Công tác bảo tồn, tôn tạo tài nguyên và bảo vệ môi trường còn nhiều bấtcập, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững
Trang 35PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Xã Xuân Thành - huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh nằm trên bờ biển đôngcách trung tâm huyện Nghi Xuân 5km về phía Đông Nam, cách thành phố HàTĩnh 50km về phía Bắc – Tây Bắc Xã Xuân Thành có bãi biển chạy dọc theo bờbiển với chiều dài hơn 5km và có độ dốc thoai thoải, du khách có thể lội bộ ra xatới vài trăm mét Phía Nam giáp với xã Cổ Đạm, phía Bắc giáp xã Xuân Yên,phía Tây giáp với xã Xuân Mỹ gần với cảng Cửa Hội nơi dòng sông Lam đổ rabiển và giáp với thành Vinh – trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị, giáo dục củatỉnh Nghệ An Phía Đông giáp với biển Đông trông ra vịnh Bắc Bộ, hướng mắt
ra xa là những hòn đảo Ngư, đảo Mắt
Với vị trí địa lý như vậy, là điều kiện thuận lợi cho phép xã Xuân Thànhphát triển kinh tế, thông thương với các địa bàn trong tỉnh và cũng là điều kiện
để Xuân Thành có thể giao lưu kinh tế, chính trị, xã hội với các xã và các tỉnhkhác….tạo điều kiện phát triển DL
Trang 3620,3oC; chính vì vậy không thích hợp cho việc tắm biển và vui chơi với biển nênmùa này lượng du khách rất ít.
3.1.3 Hải văn
Hàng năm vùng biển Xuân Thành chịu ảnh hưởng của hai hệ thống giómùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Ngoài ra còn chịu quy luật hoàn lưu chungcủa vịnh Bắc Bộ Nhiệt độ nước biển trung bình từ 25 – 27oC; nhiệt độ cao nhất
là 29 – 31oC; nhiệt độ thấp nhất là 18 – 23oC Qua đó ta thấy nhiệt độ rất lýtưởng cho du khách song vẫn có sự biến động giữa hai mùa nên việc duy trì hoạtđộng DL quanh năm gắn liền với biển là một khó khăn của vùng
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Tình hình đất đai
Xuân Thành có tổng diện tích đất tự nhiên là 930,71ha, trong các loại đấtthì đất nông nghiệp vẫn chiếm diện tích lớn nhất với 35,26% trong tổng diện tíchđất tự nhiên đạt 328,21ha, xếp thứ 2 là diện tích đất chuyên dùng chiếm 22,81%đạt 212,25ha, tiếp đến là diện tích đất NTTS chiếm 17,90% đạt 166,6ha, diệntích đất chưa sử dụng chiếm 12,3% đạt 114,44ha, diện tích đất lâm nghiệp chiếm8,62% đạt 80,26ha và đất thổ cư là chiếm diện tích ít nhất chỉ chiếm 3,11% đạt28,95ha (số liệu thống kê năm 2007) Theo số liệu trên chúng ta thấy rằng tiềmnăng đất đai của xã không còn nhiều vì vậy chính quyền và người dân ở đây cần
có kế hoạch sử dụng hợp lý diện tích đất hiện có đồng thời cải tạo diện tích đấtcòn lại để khai thác có hiệu quả hơn
3.2.2 Dân cư và lao động
Xuân Thành là một xã có dân số khá đông với tổng số nhân khẩu là 4696người, số nhân khẩu nông nghiệp trên toàn xã là 2643 người chiếm tỷ lệ tươngđối lớn trong tổng nhân khẩu Có thể nói rằng đây vẫn là một xã thuần nông thunhập vẫn chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp Cả xã có 1130 hộ, với tốc độ tăngdân số tương đối cao vì thế lực lượng lao động của địa phương rất dồi dào, tình
Trang 37trạng lao động thiếu việc làm tương đối cao (số liệu thống kê 2007) Bởi vậy giảiquyết việc làm cho lực lượng lao động này như thế nào là một vấn đề đang đượcđịa phương hết sức quan tâm và tìm cách để chuyển đổi cơ cấu kinh tế hợp lýtheo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ là một hướng giải quyết cho địa phương
3.2.3 Văn hóa – xã hội
Xuất phát điểm là một vùng đi lên chủ yếu là từ kinh tế nông nghiệp, trình
độ canh tác lạc hậu, mức độ tiếp cận tất cả các lĩnh vực của người dân còn thấp.Cùng với sự phát triển của xã người dân Xuân Thành ngày càng nâng cao dân trítrong giao tiếp cộng đồng, trong văn hóa ứng xử đến hoạt động kinh doanh dulịch Nguồn lao động phục vụ DL được trang bị kiến thức phục vụ nhu cầu của
du khách ngày một chu đáo và lịch sự hơn
Nằm trên đất học Nghi Xuân nên sự nghiệp GD - ĐT luôn được quan tâm,công tác giáo dục được phối hợp với huyện, tỉnh chặt chẽ, toàn xã đã hoàn thànhchương trình phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sỏ Tỷ lệ học sinh đỗ tốtnghiệp hàng năm đều đạt khá Xã có một trạm y tế và mạng lưới thông tin tuyêntruyền rộng khắp đến tận từng thôn Từ năm 1997 xã Xuân Thành đã được bộvăn hoá thông tin - bảo tồn, bảo tàng công nhận bằng di tích văn hóa, đến nayXuân Thành vẫn là xã có truyền thống sản xuất, an ninh quốc phòng và pháttriển KT – XH của huyện
Năm 2007, trong tổng giá trị sản xuất đạt 23076 triệu đồng, ngành nôngnghiệp chiếm 31,64% đạt giá trị 7453,55 triệu đồng, đứng thứ hai là ngành
Trang 38TTCN – TMDV - DL chiếm 46,55% đạt giá trị 10741,88 triệu đồng Với tốc độtăng trưởng bình quân 3 năm từ 2005 - 2007 tương đối cao đạt 14,78% Cácngành khác cũng đang được chú trọng phát triển
Những kết quả đạt được cho thấy ngành TMDV nói chung và hoạt độngDVDL nói riêng đang nổi lên trở thành một hướng đi mới của địa phương nhưngnhìn chung sự phát triển của nó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có Vìvậy trong những năm tới chính quyền và nhân dân xã phải có giải pháp để sớmđưa ngành TMDV đi lên trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương
3.3 Tiềm năng du lịch tại xã Xuân Thành
3.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Xã Xuân Thành chạy dọc theo bờ biển từ xã Xuân Yên đến xã Cổ Đạm kéodài hơn 5km, bờ biển Xuân Thành thuộc loại thấp, bằng phẳng có bãi cát dài trắngmịn, không gian bãi biển thoáng rộng, nước biển trong xanh ít tạp chất và sét,không có bùn, môi trường trong sạch, không gian tự nhiên gần như còn giữ được vẻnguyên sơ chưa bị phá vỡ bởi những kiến trúc bê tông của các khách sạn như nhiềubãi biển đang bị đô thị hoá Phần lớn cơ sở lưu trú, nhà nghỉ, nhà hàng có quy mônhỏ và độ cao chỉ khoảng vài ba tầng, chính vì vậy tầm nhìn không bị che chắn giúp
du khách có cảm giác được hoà mình vào thiên nhiên và có một sự thư giãn dễ chịu
Ở giữa có rặng phi lao xanh ngút ngàn là nơi tránh nắng cho du khách tắm biển,phía sau bãi có dòng lạch nhỏ chạy men theo đường vào làm tăng vẻ trữ tình chokhu vực Độ mặn trung bình của nước biển nơi đây là 27 – 30%o, vào mùa hè độmặn thường đạt 30%o, nhiệt độ nước trung bình từ 18 – 20oC vào mùa đông vàkhoảng 25oC vào mùa hè nên rất thích hợp cho việc tắm biển Không chỉ có thế dọcchiều dài bãi biển còn có dòng sông nước ngọt Mỹ Dương từ núi Hồng Lĩnh chảy
về chạy song song, sông không sâu nhưng nước không bao giờ cạn, đôi bờ sông lànhững tán cây xanh mát rượi Vượt qua cây cầu bê tông kiên cố bắt ngang sông, cóthể bắt gặp một dải rừng cây phòng hộ ngăn gió bảo vệ cho khu dân cư phía trong
Trang 39bờ, trải qua dải rừng này là có thể đến bãi tắm biển, một không gian xanh của mặtbiển bao la và bờ cát trắng trải dài bất ngờ mở ra cuối con đường mang lại cho dukhách sự hứng khởi đầy thú vị
Đến đây du khách không những được thưởng thức vẻ huy hoàng của cảnhbình minh lên hay khi hoàng hôn buông xuống mặt biển mà còn được chiêmngưỡng vẻ đẹp lao động biển cả của các ngư dân vạn chài Xuân Thành, những conngười “ăn sóng – nói gió”, bản tính cứng cỏi, cần cù và giàu lòng mến khách
Phóng tầm mắt ra xa, cách bờ biển khoảng 4km du khách sẽ bắt gặp con cákhổng lồ che chắn bão to, gió lớn cho Cửa Hội đó là hòn đảo Ngư Màu xanh bốnmùa của nước biển trải dài ra thì gặp màu mây pha sắc hung hung đỏ của nách đảolúc trời rạng sáng tạo nên một màu sắc thật huyền ảo Ngoài việc tắm biển ngắmđảo hưởng không khí trong lành, du khách còn có thể leo núi, lặn biển, du ngoạnbằng thuyền quanh đảo thăm nuôi cá ở đảo Ngư Không chỉ có thế đảo Ngư còn lànơi sinh sống của các hệ động thực vật phong phú gồm các loài như: khỉ, dê, cácloài chim… du khách có thể đến đây để du lịch sinh thái Đi xa hơn, cách đất liềnchừng 15km là núi Quỳnh Nhai gồm hai hòn lớn và hòn bé nối với nhau mà từ đấtliền nhìn ra như hai cặp mắt nên người dân quen gọi là đảo Mắt Phía Đông Namcủa đảo Mắt có một cụm đá lô nhô chất đống tạo nên những hang động kỳ thú gọi
là đảo Tiên Ngoài ra xung quanh điểm du lịch này là những danh thắng nổi tiếngnhư: Sông Lam, núi Hồng, núi Quyết, đền Củi, chùa Hương Tích… mà du khách cóthể kết hợp tham quan trong chuyến du lịch của mình
3.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Một điều làm nên sức hấp dẫn của bãi biển Xuân Thành với du khách là sựphong phú của ẩm thực miền biển Sau mỗi lần ngâm mình trong sóng nước vàngắm nhìn đảo Ngư, đảo Mắt du khách được “nhâm nhi” những món hải sản tươinhư: cua, ghẹ, tôm, sò huyết, mực và các món cá luộc, cá nướng đủ loại với giá
cả vừa phải, thậm chí khách có thể tự đi mua, tự mình lựa chọn các loại hải sản
Trang 40ngay từ thuyền đánh cá của ngư dân mới cập bờ neo đậu trên bãi biển và đưa vàocác nhà hàng để đầu bếp chế biến, nấu nướng theo yêu cầu.
Thời gian nghỉ tại đây du khách có thể đi thăm những điểm du lịch khánổi tiếng trong vùng như: khu lưu niệm đại thi hào Nguyễn Du tại làng TiênĐiền, khu di tích về nhà thờ Nguyễn Công Trứ tại làng Uy Viễn và thăm làng catrù Cổ Đạm cách đó 3km để được lắng nghe những làn điệu ca trù cổ từ các nghệnhân của làng
Với hệ thống khách sạn, nhà nghỉ cùng các dịch vụ đang được đầu tư xâydựng và mở rộng hướng tới tính chuyên nghiệp, Xuân Thành đang nổi lên trởthành một điểm đến hấp dẫn của Hà Tĩnh Bên cạnh đó Xuân Thành còn tổ chức
lễ hội Trọ Kiều Sỹ - Nông – Công – Thương, đây là một ngày lễ lớn thu hút rấtnhiều khách du lịch đến tham quan và thi đấu Lễ hội được tổ chức vào hai ngày30/4 và 1/5 hàng năm với hoạt động chủ yếu là đua thuyền rồng được tổ chức ởbãi tắm Trong lễ hội có rước các vị thần linh nhằm cầu mong mưa thuận gió hoà
và thể hiện truyền thống của địa phương
Sự đa dang và phong phú của tài nguyên DL cả tự nhiên và nhân văn đã tạođiều kiện cho DL Xuân Thành phát triển nhiều loại hình hoạt động DL trong năm