Thấy được tầm quan trọng của thuỷ lợitrong sản xuất nông nghiệp nên trong những năm qua Nhà nước ta đã cấp vốnngân sách cho các tỉnh, các địa phương xây dựng các công trình đê, kè, hồchứ
Trang 1Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh chị làm việc tại
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện rất tốtgiúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tìm hiểu địa phương
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tới gia đình cùng bạn bè – những người luônđộng viên, sát cánh bên tôi cả về vật chất và tinh thần trong suốt quá trình họctập và nghiên cứu đề tài
Do thời gian và kiến thức có hạn, đề tài của tôi không tránh khỏi nhữnghạn chế, thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp củacác thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008 Sinh viên
Đinh Thị Hường
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan những số liệu trong bài báo cáo này hoàn toàn trungthực và kết quả nghiên cứu chưa từng được sử dụng
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho quá trình thực hiện báo cáo đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn trong báo cáo này được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008
Sinh viên Đinh Thị Hường
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tác động của thuỷ lợi góp phần phát triển sản xuất lúa ở Việt Nam (1976- 1990)
20
Bảng 2.2: Thống kê các yếu tố tác động đến thâm canh tăng sản lượng lúa của một số nước trên thế giới (1995) 20
Bảng 2.3: Năng suất chè vụ đông có tưới và không được tưới (1998) 21
Bảng 2.4: Thống kê hệ số GINI của các địa phương có công trình trạm bơm thuộc huyện Bố Trạch, Quảng Bình 22
Bảng 3.1: Tình hình phân bố đất đai của xã trong ba năm 2005 -2007 30
Bảng 3.2: Tình hình dân số của xã trong 3 măm 2005-2007 32
Bảng 3.3: Kết quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã trong 3 năm qua 35
Bảng 3.4: Phân loại hộ điều tra theo thu nhập trên địa bàn thôn Dền 40
Bảng 4.1: Thống kê các khoản chi tiêu thực hiện dự án 46
Bảng 4.2: Tình hình cơ sở hạ tầng thuỷ lợi của xã Cảnh Hưng 49
Bảng 4.3: Thống kê diện tích năng suất của cây ngô trước và sau khi có dự án 50
Bảng 4.4: Tổng hợp chi phí thuỷ lợi của xã trong 2 năm 2005-2007 50
Bảng 4.5: Mức giá tưới tiêu các vụ gieo trồng trong năm 52
Bảng 4.6: Chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng kinh tế của xã trước và sau khi có dự án 58
Bảng 4.7: Tình hình ruộng đất của hộ nông dân trước và sau khi có dự án 61
Trang 5Biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp.Kiên cố hoá kênh mương
Kế hoạch đầu tưKhai thác thuỷ nôngKilovon AmpeKilo vôn
Lao độngNông nghiệp & Phát triển nông thônTuyến kênh T1, T2
Vữa xi măngLao động nông nghiệpNông nghiệp
Nuôi trồng thuỷ sản
Trang 6PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Nông nghiệp nông thôn có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tếcũng như an ninh xã hội của đất nước Nông nghiệp không chỉ cung cấplương thực thực phẩm đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người mà còn cungcấp các nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹrất quan trọng phục vụ cho đời sống, sản xuất và xuất khẩu Mặt khác sảnxuất nông nghiệp chiếm đại đa số về diện tích đất đai và số dân, đó là nơi giảiquyết việc làm cũng như cung cấp lao động cho các ngành kinh tế khác Đặcbiệt đối với nước ta với 70% dân số sống ở nông thôn, trên 65% số dân làmnông nghiệp thì vấn đề tạo việc làm và thu nhập cho người dân ở nông thôn làrất quan trọng trong việc phát triển nền nông nghiệp bền vững, đảm bảo nềnkinh tế phát triển, trật tự an ninh xã hội được ổn định
Nhưng sản xuất nông nghiệp nước ta có đặc điểm phụ thuộc rất lớnvào điều kiện tự nhiên Từ kinh nghiệm trồng lúa nước ông cha ta đã rút rakinh nghiệm rất quý báu “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Nước cóvai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là trong trồng trọtnước giúp cho cây trồng phân giải và hấp thu các chất dinh dưỡng để sinhtrưởng và phát triển Nhưng nước cũng là một loại thiên địch rất đáng sợ, nó
có thể nhấn chìm hay cuốn đi tất cả những gì mà người nông dân phải mộtnắng hai sương mới có được Vì vậy các công trình thuỷ lợi không chỉ cungcấp nước tưới mà còn có vai trò tiêu nước mỗi khi lụt lội để đảm bảo điều hoànguồn nước cho sản xuất nông nghiệp Thấy được tầm quan trọng của thuỷ lợitrong sản xuất nông nghiệp nên trong những năm qua Nhà nước ta đã cấp vốnngân sách cho các tỉnh, các địa phương xây dựng các công trình đê, kè, hồchứa, cống, đập giúp cho ngành nông nghiệp sản xuất có hiệu quả Đặc biệttrong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay thì sản xuất nông nghiệp ngày
Trang 7càng kém xa so với các ngành kinh tế khác thể hiện qua giá trị sản xuất ra rấtthấp, sản xuất dễ gặp rủi ro dẫn đến năng suất lao động thấp, thu nhập vàmức sống của người nông dân thấp hơn các tầng lớp khác trong xã hội Vì vậyviệc đầu tư các công trình thuỷ lợi một mặt thúc đẩy nông nghiệp nông thônphát triển, mặt khác đó là một trong những chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước trong xây dựng cơ sở hạ tầng cho quá trình CNH- HĐH Đặcbiệt trong điều kiện gia nhập WTO như hiện nay thì đầu tư cho thuỷ lợi là mộttrong những chính sách thuộc chính sách hộp xanh cho phép hỗ trợ nôngnghiệp phát triển nên ta phải tăng cường đầu tư để nông nghiệp phát triển hiệuquả và bền vững
Bắc Ninh là một tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, địahình có nhiều vùng trũng, có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều hay xảy rahạn hán gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp Đồng thời tỉnh năm trongvùng hạ lưu của các con sông lớn chảy qua như sông Cầu, sông Thái Bình,sông Đuống… nên rất dễ bị ngập úng Việc đầu tư xây dựng các công trìnhthuỷ lợi có vai trò quan trọng trong khai thác hiệu quả sản xuất của vốn, laođộng đặc biệt là đất đai ở những vùng trũng hay đất ven đồi, núi để sản xuấtnông nghiệp Trong những năm qua tỉnh đã tiến hành xây dựng mới và cải tạocác công trình thuỷ lợi cũ như Nam Đuống, Bắc Đuống và thực hiện chươngtrình KCHKM… bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp Chương trìnhKCHKM đã được tỉnh phê duyệt thực hiện từ năm 2000 và đến nay đã đạtđược một số kết quả nhất định nhằm giúp cho sản xuất nông nghiệp phát triển
và chuyển đổi được cơ cấu cây trồng phù hợp theo hướng sản xuất hàng hoá
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, được sự phân công của khoa Kinh tế vàPhát triển nông thôn trường Đại học Nông nghiệp Hà nội và sự đồng ý của sởNông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh, chúng tôi tiến hànhnghiên cứu đề tài:
“Đánh giá tác động của dự án thuỷ lợi đến phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn ở xã Cảnh Hưng- huyện Tiên Du- tỉnh Bắc Ninh”.
Trang 81.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
1.2.1 Mục tiêu chung:
Đánh giá tác động của dự án thuỷ lợi đến phát triển sản xuất nôngnghiệp, nông thôn ở xã Cảnh Hưng, từ đó đưa ra những khuyến nghị giúp choviệc nâng cao hiệu quả hoạt động và tính bền vững của công trình thuỷ lợi
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng đầu tư xây dựng dự án “Trạm bơm thôn Dền”theo chương trình KCHKM của Nhà nước
- Đánh giá các kết quả đạt được của dự án theo 5 tiêu chí: hiệu lực,hiệu quả, hợp lý, tác động và bền vững
- Đưa ra những khuyến nghị giúp cho việc nâng cao hiệu quả hoạtđộng và tính bền vững của công trình thuỷ lợi
1.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài.
• Phạm vi về nội dung:
Tỉnh Bắc Ninh đã triển khai thực hiện chương trình KCHKM trên địabàn toàn tỉnh nhưng trong đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu đề tài trongphạm vi xã Cảnh Hưng- huyện Tiên Du với các hoạt động đã thực hiện trongthời gian qua
• Về không gian:
Đề tài được tìm hiểu nghiên cứu tại xã Cảnh Hưng – huyện Tiên Dutỉnh Bắc Ninh với các số liệu thu thập được từ xã, sở nông nghiệp và pháttriển nông thôn tỉnh và nhiều nguồn số liệu khác
• Về thời gian: Đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 23/5/2008 với các số liệu được thu thập từ năm 2005-2007
18/1/2008-1.4 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng chương trình KCHKM của xã trong thời gian qua và xemxét tác động của các công trình khi đi vào hoạt động tới sản xuất nông nghiệpcủa địa phương
Trang 9PHẦN II
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Hệ thống công trình thuỷ lợi: là một tập hợp công trình có liên quan
chặt chẽ với nhau, bao gồm một hoặc một số công trình đầu mối, một mạnglưới kênh mương các cấp và những công trình trên kênh, qua kênh làm nhiệm
vụ tưới tiêu cho một lưu vực đất nông nghiệp nhất định Công trình thuỷ lợigắn liền giữa nguồn nước với đồng ruộng Nó là hệ thống liên hoàn bao gồm:
hồ chứa nước, đập dâng, cống lấy nước, trạm bơm và hệ thống kênh dẫnnước.[ ]8
- Công trình thuỷ lợi nhỏ là công trình thuộc kết cấu hạ tầng có quy mô
nhỏ Hệ thống công trình thuỷ lợi nhỏ bao gồm các công trình thuỷ lợi nhỏ cóliên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vựcnhất định Hệ thống bao gồm: hồ chứa nước, cống, đập, trạm bơm, kênh, côngtrình trên kênh, đường vào công trình thuỷ lợi và bờ bao các loại Các hệthống công trình thuỷ lợi nhỏ này có quy mô phục vụ trong phạm vi xã hoặcthôn, bản Diện tích tưới tiêu nhỏ hơn 150 ha Hệ thống công trình thuỷ lợinhỏ góp phần: khai thác mặt lợi của nước; phòng chống các tác hại do nướcgây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái.[ ]8
- Kênh và hệ thống kênh tưới tiêu nhỏ là loại công trình dẫn nước tưới từ
công trình đâu mối, công trình tưới tiêu cấp cuối cùng nhỏ nhất trực tiếp đưanước đến hoặc tiêu nước từ các khoảnh ruộng của hộ nông dân Hiện naynhiều địa phương đã được Nhà nước hỗ trợ kinh phí thực hiện chương trìnhKCHKM nội đồng Việc này đã tạo hiệu quả thuận lợi nâng cao hiệu quả tướitiêu nước, tiết kiệm nước và đất, giảm chi phí quản lý.[ ]8
Trang 102.1.2 Vai trò của công tác thuỷ nông với sự phát triển nông nghiệp, dân sinh và kinh tế xã hội.
Cho đến nay, Việt Nam cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp, trong khi
đó, nông nghiệp là khu vực sản xuất chủ yếu thu hút tới 70,5% lực lượng laođộng xã hội và làm ra khoảng 23,6% GDP Nông nghiệp theo nghĩa rộng baogồm trồng trọt, chăn nuôi chế biến, lâm nghiệp, ngư nghiệp …Tất cả các hoạtđộng này đều rất cần có nước Vì vậy công tác thuỷ lợi có ý nghĩa hết sứcquan trọng trong việc phát triển kinh tế, cũng như phát triển xã hội, ổn địnhdân cư, bảo vệ môi trường sinh thái Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm vàcoi trọng công tác phát triển thuỷ lợi Trong đường lối và chiến lược pháttriển kinh tế xã hội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định “Tăngcường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâmnghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng tiến bộ khoa học kĩ thuật nhất
là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thuỷ lợi hoá” Từ đó Đảng, Nhà nước vànhân dân ta đã đầu tư xây dựng hàng ngàn công trình thuỷ lợi các loại Đếnnay các hệ thống công trình thuỷ lợi đã đủ năng lực tưới cho hơn 3 triệu hađất canh tác, tiêu cho 1,4 triệu ha đất tự nhiên ở các tỉnh bắc bộ, ngăn mặncho 70 vạn ha và cải tạo 1,6 triệu ha đất chua phèn ở đồng bằng sông CửuLong.[ ]7
Nhờ có hệ thông thuỷ nông phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp mà năngsuất, sản lượng lương thực không ngừng tăng lên Theo thống kê trong vòng
10 năm từ 1990 đến năm 2000 năng suất lúa tăng lên 33,64% Nếu như năm
1944 cả nước chỉ sản xuất được 6,2 triệu tấn thóc, đến năm 1975 tăng lên 14,5triệu tấn, năm 1990 tăng lên 21,5 triệu tấn thì đến năm 2001 đã đạt được34,093 triệu tấn Sản lượng lương thực tăng nhanh, lượng gạo xuất khẩu ngàycàng tăng (Việt Nam được xếp thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo)
Trang 11Hệ thống thuỷ lợi còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phòngchống và giảm nhẹ các thiệt hại do lũ lụt gây ra Nhiều vùng dân cư, khu côngnghiệp, nhà máy và các công trình cơ sở hạ tầng khác được bảo vệ, đảm bảo
an toàn tính mạng và đời sống vật chất của nhân dân trong khu vực, ổn địnhsản xuất, đặc biệt là các vùng trọng điểm về kinh tế chính trị của cả nước
Hệ thống thuỷ nông là tiền đề để ứng dụng các thành tựu khoa học kĩthuật trong nông nghiệp, nhất là cách mạng cơ cấu mùa vụ và cơ cấu giốngcây trồng, nhờ đó nền nông nghiệp nước ta không còn độc canh cây lúa mà đãphát triển nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao… Các hệ thống thuỷ lợicũng là tiền đề để thâm canh tăng vụ, mở rộng diện tích, cải tạo đất đai, ổnđịnh sản xuất nông nghịêp Đến nay nhiều địa phương đã thâm canh ba bốn
vụ trong một năm, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng
Thuỷ lợi nói chung và các hệ thống thuỷ nông nói riêng đã đóng gópđáng kể vào việc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, nhất là miền núi, vùng sâu,vùng xa Ở một số khu vực, nhờ xây dựng hệ thống thuỷ nông mà đã thúc đẩyhình thành nhiều vùng kinh tế mới, mở mang đất đai tạo điều kiện cho đồngbào các dân tộc ít người định canh định cư, góp phần ngăn cản nạn phá rừnglàm nương rẫy như ở Tây Nguyên và vùng núi phía Bắc Ở vùng đồng bằngsông Cửu Long khi có hệ thống kênh mương thuỷ nông, nước ngọt đi đến đâu
là có dân cư đến làm ăn sinh sống đến đấy, thúc đẩy phát triển các cộng đồngdân cư ở nông thôn
Các hệ thống thuỷ nông không chỉ có tác dụng to lớn đối với phát triểnnông nghiệp mà còn thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác trong khu vựccùng phát triển Hàng năm các hệ thống thuỷ nông đã cung cấp hơn 5 tỷ m3khối nước cho nông nghiệp và dân sinh, tiêu thoát nước cho làng mạc, đường
xá, cung cấp cho điện lưới quốc gia trên 10 tỷ kwh/năm, tạo môi trường vàđiều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản Phát triển hệ thống thuỷ nông kết
Trang 12hợp với các công trình kết cấu hạ tầng khác như giao thông bộ, giao thôngthuỷ là tiền đề để phát triển nông nghịêp nông thôn theo hướng công nghiệphoá và hiện đại hoá, tạo nền tảng để phát triển một nền kinh tế tổng hợp.
Hệ thống thuỷ nông ở nước ta được hình thành và phát huy hiệu quả tolớn như nêu trên đã khẳng định vai trò của thuỷ lợi, công tác thuỷ lợi nóichung và thuỷ nông nói riêng Thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu trên mặt trậnsản xuất nông nghiệp và công trình thuỷ lợi là cơ sở hạ tầng quan trọng đểphát triển bền vững kinh tế đất nước Đầu tư cho thuỷ lợi có nhiều đặc điểmriêng của ngành, do vậy nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc đầu tư pháttriển kinh tế nông nghiệp và kinh tế nói chung Vai trò và tầm quan trọngđược thể hiện ở khía cạnh khi đầu tư cho thuỷ lợi có thể thực hiện được nhiềumục tiêu, đáp ứng cho nhu cầu phát triển nông nghiệp nông thôn, vừa lợidụng tác động tổng hợp của nguồn nước vừa xây dựng cơ sở hạ tầng nên đầu
tư cho thuỷ lợi có tác động mọi mặt đến đời sống cũng như đến môi trường
Đối với các địa phương có công trình thuỷ lợi được xây dựng thì có tác động đến sản xuất nông nghiệp và nông thôn như sau:
Thứ nhất: Tác động trực tiếp đến nông nghiệp nhằm tăng năng suất và
sản lượng do tăng diện tích được tưới tiêu Đây là tác động chính của cáccông trình thuỷ lợi tới sản xuất nông nghiệp Trong sản xuất nông nghiệp sảnlượng là chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá kết quả sản xuất nông nghiệp của mộtkhu vực hay một vùng Để cấu thành nên sản lượng gồm hai yếu tố là năngsuất và diện tích gieo trồng Năng suất cây trồng là kết quả tác động tổng hợpcủa các yếu tố nước, phân bón, lao động, giống Để có được năng suất caotrên một đơn vị diện tích thì cần kết hợp đầy đủ và hợp lí giữa các yếu tố đầuvào đó, đặc biệt là khâu tưới tiêu khoa học theo chế độ dinh dưỡng sinhtrưởng của cây để khai thác được năng suất tiềm năng của cây trồng cũng nhưcủa đất
Trang 13Trong nông nghiệp mỗi loại cây có một đặc điểm sinh lí khác nhaunên có nhu cầu sử dụng nước khác nhau Vì thế, việc chủ động tưới tiêu cònlàm cho nông nghiệp thực hiện tốt và linh hoạt thời vụ gieo trồng, từ đó chophép địa phương bố trí cây trồng tốt hơn, tạo điều kiện để đa dạng hoá câytrồng Từ đó làm đa dạng hoá nguồn thu nhập cho bà con nông dân góp phầnxoá đói giảm nghèo.
Thứ hai: Xây dựng các công trình thuỷ lợi còn là phát triển cơ sở hạ
tầng cho nông thôn Hiện nay cơ sở hạ tầng của nông thôn còn yếu kém Việcthực hiện các công trình thuỷ lợi cũng là thực hiện xây dựng cơ sở vật chấtcho nông thôn Các công trình thuỷ lợi được xây dựng sẽ đóng góp vào tiếntrình CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn
Thứ ba: Góp phần cải thiện môi trường sinh thái.
Nước là một tài nguyên thiên nhiên nhưng không phải là nguồn tàinguyên vô tận Do vậy hoạt động của các công trình thuỷ lợi tận dụng và bảo
vệ tài nguyên nước, đất một cách hợp lí, góp phần tạo ra một môi trường sinhthái ổn định, bền vững
2.1.3 Đặc điểm trong xây dựng các công trình thuỷ lợi
Trong đầu tư mỗi quá trình đầu tư đều đặt ra những mục tiêu chínhnhất định Quá trình đầu tư phát triển thuỷ lợi đặt ra chủ yếu phục vụ pháttriển nông nghiệp nông thôn Trong đầu tư cho các công trình có thể là đầu tưxây mới hoàn toàn, sửa chữa nâng cấp hoặc lắp đặt thêm máy móc thiết bị.Một đặc điểm lớn đối với các dự án xây dựng công trình thuỷ lợi là loại hìnhđầu tư xây dựng cơ bản nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của một công trìnhxây dựng: thời gian đầu tư dài, lợi ích kinh tế xã hội kéo dài trong nhiều năm
Vì thế số tiền chi phí đầu tư thường khá lớn và phải nằm khê đọng và dễ gâythất thoát vốn trong suốt quá trình đầu tư
Trang 14Một quá trình đầu tư được coi là thành công chỉ khi nào nó đạt đượcnhững mục tiêu đề ra Chính vì vậy tuổi thọ của các công trình cũng như hiệuquả của các công trình mang lại sẽ được sử dụng trong nhiều năm đủ để cáclợi ích thu được tương ứng và lớn hơn chi phí bỏ ra trong suốt quá trình đầu
tư của công trình
Phạm vi và quy mô ảnh hưởng của các công trình thuỷ lợi là rất lớn.Công trình ra đời và đi vào vận hành sẽ không chỉ ảnh hưởng đến vùng đượcđầu tư mà còn ảnh hưởng đến môi trường, ảnh hưởng sâu rộng tới các vùnglân cận Chính vì vậy việc xác định hiệu quả của các công trình, đặc biệt làhiệu quả kinh tế tương đối khó khăn và phức tạp, nhiều khi chỉ mang tínhtương đối
Trong tình hình đất nước còn khó khăn ngân sách dành cho đầu tưphát triển còn hạn hẹp thì nguồn vốn đầu tư cho thuỷ lợi của nước ta chủ yếu
là nguồn vốn vay của nước ngoài và một phần ngân sách nhà nước Ngoài ra
có một phần vốn của các công ty thuỷ nông và vốn huy động trong nhân dân
2.1.4 Quá trình đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi.
Dự án thuỷ lợi là dự án đầu tư xây dựng một hệ thống công trình thuỷ lợingăn chặn những thiên tai do nguồn nước gây nên, biến nó trở thành tác nhân
có lợi cho con người Nó bao gồm: đê sông, đê biển, cống điều hoà nước, hệthống thuỷ nông, hệ thống cung cấp nước sinh hoạt…Đây là một loại dự ánđầu tư cơ sở hạ tầng phát triển nông thôn Thông thường các dự án này thựchiện trong sự phối hợp giữa Nhà nước và nhân dân cùng hưởng lợi Các Nhàđầu tư các công trình đầu mối hay tạo nguồn, còn cộng đồng hưởng lợi tự tổchức xây dựng kênh mương đưa nước tưới vào ruộng của mình đó là hệ thốngkênh cấp II, cấp III
Chương trình KCHKM phải được hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt theoCăn cứ luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ngày 21/6/1994, Căn cứ quyết
Trang 15định số 66/2000/QĐ-TTg ngày 13/6/2000 của thủ tướng chính phủ về một sốchính sách và cơ chế tài chính thực hiện chương trình KCHKM và Căn cứthông tư số 134/1999/TT-BNN-QLN ngày 25/9/1999 của bộ Nông nghiệp
&PTNT v/v hướng dẫn tổ chức thực hiện KCHKM
Đối tượng và mục tiêu của việc KCHKM:
Thứ nhất: Về mục tiêu của chương trình KCHKM nhằm đảm bảo cho
các kênh chuyển đủ lưu lượng thiết kế và nâng cao công suất tưới, tiết kiệmnước tưới, tiết kiệm đất xây dựng, tiết kiệm điện, giảm chi phí quản lí khaithác và kéo dài tuổi thọ của các công trình
Thứ hai: Đối tượng thực hiện
Tập trung vào kiên cố hoá các kênh ở vùng khan hiếm nước, công trìnhđầu mối là trạm bơm, hồ chứa, đập dâng các tuyến kênh mương dẫn nước tưới
và tiêu nước Các tuyến kênh nổi, đất cát thấm lớn, kênh qua vùng địa chất xấukhông ổn định, vùng ven đê, vùng bán sơn địa, vùng núi có địa hình phức tạp
Thứ ba: Chính sách huy động vốn để KCHKM theo phân loại kênh:
+ Phân loại kênh:
- Kênh loại I: Kênh trục chính của những hệ thống lớn ở đồng bằng vàmột số hệ thống lớn ở miền núi
- Kênh loại II: Kênh liên huyện, liên xã
-Kênh loại III: Kênh mương liên thôn, kênh mương nội đồng
+ Nguồn vốn đầu tư được xác định theo phân loại kênh:
- Kênh loại I: Ngân sách Nhà nước đầu tư
- Kênh loại II: Ngân sách tỉnh và vốn vay ưu đãi để đầu tư
- Kênh loại III: Đối với vùng đồng bằng: Ngân sách tỉnh hỗ trợ 60%,
nhân dân vùng hưởng lợi đóng góp 40% giá thành xây dựng Đối với miềnnúi: Ngân sách tỉnh đầu tư 90%, nhân dân vùng hưởng lợi đóng góp 10% Để
Trang 16rút ngắn thời gian hoàn thành chương trình có thể vay vốn ưu đãi (không lãisuất) của Nhà nước.
Thứ tư: Nguyên tắc chung về các hộ dùng nước trong xây dựng và
sử dụng công trình thuỷ lợi
Thực hiện đúng theo quy chế dân chủ ở cơ sở, mức đóng góp vốn chủyếu tính trên đơn vị diện tích được hưởng lợi Tuy vậy việc KCHKM cũngđem lại nhiều lợi ích khác cho cộng đồng Vì vậy mỗi người dân địa phươngcần có mức đóng góp phù hợp Các xã, HTX…hàng năm phải xây dựng kếhoạch báo cáo trước dân mức huy động đóng góp vốn và kế hoạch thực hiệnKCHKM trên địa bàn của mình thông qua HĐND xã để quyết nghị huy động,công khai kết quả thu chi và quyết toán công trình trước dân
Thứ năm: Cơ chế quản lí:
+ Quản lí kế hoạch và vốn: Hàng Năm trên cơ sở kế hoạch KCHKM,
các công ty KTTN và UBND các huyện, thị xã và sở nông nghiệp & PTNT,
Sở KHĐT và sở tài chính – vật giá thống nhất danh mục kế hoạch thực hiệntrong năm Sở nông nghiệp & PTNT, Sở tài chính – Vật giá, Sở kế hoạch đầu
tư thống nhất nguồn kinh phí đầu tư hỗ trợ để đưa vào kế hoạch Ngân sáchtrình UBND tỉnh phê duyệt và cấp phát thẳng cho các UBND các huyện, thị
xã Đối với các hạng mục do công ty KTTN quản lí thì UBND giao các công
ty làm chủ đầu tư và cấp vốn qua công ty
+ Lập kế hoạch xây dựng KCHKM:
Công trình do các công ty KTTN quản lí: huyện, thị xã hưởng lợi cùngcông ty KTTN tổ chức rà soát lại quy hoạch và lập kế hoạch xây dựng cáccông trình kiên cố hoá trong năm Công trình do xã, HTX quản lí: UBNDhuyện, thị xã lập kế hoạch xây dựng các công trình kiên cố hoá trong năm Kếhoạch phải thể hiện được: Tên tuyến thực hiện, khối lượng chủ yếu, chiều dàituyến và vốn đầu tư (Phải phân rõ vốn ngân sách và vốn do dân đóng góp)
Trang 17Kế hoạch này được gửi cho Sở nông nghiệp &PTNT để trình UBND tỉnh lập
kế hoạch KCHKM trong năm
+ Thủ tục cấp phát vốn:
Hàng năm Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và đầu
tư, Sở Tài chính- Vật giá, thống nhất nhiệm vụ kế hoạch và nguồn kinh phíđầu tư hỗ trợ để đưa vào kế hoạch trình UBND tỉnh bố trí ngân sách hỗ trợtheo tỷ lệ (chính sách huy động vốn để KCHKM) Giao UBND các huyện thị
xã chủ động cân đối phần vốn đóng góp của nhân dân vùng hưởng lợi để chỉđạo thực hiện theo kế hoạch được UBND tỉnh bố trí Kế hoạch vốn được nghivào kế hoạch của ngân sách các huyện, thị xã ngay từ đầu năm
+ Quản lí kĩ thuật: Trên cơ sở hệ thống kênh mương đã có, các đơn vị
cần rà roát lại quy hoạch, nắm lại diện tích tưới, tiêu của hệ thống để tronggiai đoạn thiết kế xác định mặt cắt kênh phù hợp với diện tích tưới Vì kênhnhỏ bằng đất có thể điều chỉnh, nhưng khi kiên cố hoá thì không thể tuỳ tiệnđiều chỉnh
Quy hoạch phải phù hợp với quy hoạch chung lâu dài của hệ thốngcông trình thuỷ lợi, phải gắn với phương hướng sản xuất lâu dài và khả năngcung cấp nguồn nước tưới, kết hợp chặt chẽ với giao thông nông thôn, cũngnhư quan tâm đúng mức kết hợp cải tạo đồng ruộng và các mặt khác Tránhtình trạng diện tích ít nhưng xây dựng kênh lớn gây tốn kém lãng phí vàngược lại, diện tích nhiều, sông kênh nhỏ gây thiếu nước Đồng thời đây cũng
là dịp nắm lại diện tích tưới từng vùng, từng hệ thống một cách chính xác trên
cơ sở diện thích đất nông nghiệp theo nghị định 64/CP
+ Lập dự án đầu tư và hồ sơ thiết kế kĩ thuật:
Đối với kênh loại II, chủ đầu tư phải lập báo cáo đầu tư hoặc dự án khảthi Kênh loại III không phải lập báo cáo đầu tư mà chỉ lập thiết kế kĩ thuật và
dự toán
Trang 18+ Công tác thiêt kế lập bản vẽ thi công:
Công trình thuộc công ty KTTN quản lí do công ty (hoặc kí kết với cácđơn vị tư vấn xây dựng thuỷ lợi) lập Công trình thuộc xã, HTX quản lí doPhòng nông nghiệp & PTNT huyện thị xã lập (hoặc hợp đồng với các đơn vị
tư vấn xây dựng thuỷ lợi lập), áp dụng thiết kế định hình để giảm chi phí thiết
kế Nguồn kinh phí đầu tư cho việc lập dự án và khảo sát thiết kế trích từ vốnKCHKM đó bố trí hàng năm
+ Duyệt dự án, thiết kế kĩ thuật thi công và dự toán:
Đối với kênh loại II trở lên do UBND tỉnh phê duyệt dự án khả thi Sởnông nghiệp và phát triển nông thôn thẩm định, phê duyệt thiết kế kĩ thuật thicông và dự toán đối với hạng mục công trình nhỏ hơn 1 tỷ đồng; Hạng mụccông trình có mức vốn 1 tỷ đồng trở lên thì Sở nông nghiệp và phát triển nôngthôn thẩm định thiết kế kĩ thuật thi công và dự toán trình UBND tỉnh phê duyệt.Kênh loại III trong hệ thống công trình do công ty KTTN quản lí thuộcnguồn vốn KCHKM phân cấp cho các huyện, thị xã, Sở nông nghiệp và pháttriển nông thôn thẩm định, UBND các huyện, thị xã phê duyệt Kênh thuộccác hệ thống thuỷ lợi nhỏ giao cho Phòng nông nghiệp và phát triển nôngthôn (hoặc phòng chức năng được UBND huyện thị xã phân công) thẩm địnhtrình chủ tịch UBND các huyện thị xã ra quyết định phê duyệt theo quy địnhhiện hành của Nhà nước (các Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn cáchuyện thị xã nào thấy không đủ năng lực thẩm định thì phải có công văn đềnghị sở nông nghiệp và phát triển nông thôn thẩm định)
+ Thi công: Thi công đồng bộ, dứt điểm từng hạng mục để đưa vào phục
vụ sản xuất
+ Công tác quản lí chất lượng:
Những cấp kênh: Thuộc công ty KTTN quản lí công ty cử cán bộ kĩthuật hướng dẫn và giám sát kĩ thuật thi công Công trình thuộc các xã, HTX
Trang 19quản lí: Giao Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, thị xã cử cán
bộ kĩ thuật chuyên ngành hướng dẫn và giám sát kĩ thuật thi công, hoặc thuê
tư vấn giám sát có đủ tư cách pháp nhân theo quy định của Nhà nước
2.1.5 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới quá trình đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi
Dự án thuỷ lợi phục vụ cho đối tượng là cộng đồng những người nôngdân sản xuất và sinh hoạt tại các vùng nông thôn Công trình dự án được xâydựng chủ yếu ở ngoài trời nên phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của vùng dự
án Dự án công trình thuỷ lợi cũng như các dự án khác đều phải đảm bảo 3yếu tố cơ bản của quá trình đầu tư là: vốn đầu tư, thời gian thực hiện, yêu cầuchất lượng của công trình phải đảm bảo mục tiêu của công trình cả về kinh tếlẫn các mục tiêu xã hội
Nguồn vốn đầu tư bao gồm vốn từ rất nhiều nguồn như: vốn huy động,
vốn của công ty thuỷ nông, vốn Nhà nước đi vay nước ngoài, vốn ngân sáchNhà nước Nhưng bao giờ cũng có một phần vốn ngân sách Nhà nước Cấptỉnh đầu tư có ngân sách Nhà nước với các dự án thuỷ lợi từ 180 triệu trở lênhoặc các công trình có tính phức tạp, còn dưới mức đó do cấp huyện chịutrách nhiệm Quá trình đầu tư được thực hiện theo các kế hoạch chặt chẽ củaNhà nước, các ngành và địa phương Các nguồn lực của dự án đầu tư là cácđầu vào như nguyên vật liệu, nhân công Khi tiến hành thực hiện dự án thì cáckhoản này được tính vào chi phí của dự án
Thời gian thực hiện dự án là khoảng thời gian từ khi bắt đầu thực hiện
cho đến khi công trình được hoàn thành Trong điều kiện các nguồn lực vềnguyên liệu, nhân lực và các điều kiện tự nhiên đảm bảo cung cấp kịp thời thìthời gian thực hiện công trình sẽ đảm bảo tiến độ theo kế hoạch đã đề ra.Nhưng thông thường các công trình khi thi công thường chịu các tác động
Trang 20như nguyên vật liệu lên giá, thời tiết khí hậu không thuận lợi nên thời gian đôikhi bị chậm hơn so với kế hoạch
Mục tiêu về chất lượng của công trình phụ thộc vào 2 yếu tố trên là thời
gian và vốn đầu tư Khi hai yếu tố trên đảm bảo cung cấp kịp thời thì chấtlượng của công trình sẽ được đảm bảo đúng theo các thông số kĩ thuật Nhiềutrường hợp công trình vì phải đảm bảo theo tiến độ nên chất lượng công trìnhkhông đáp ứng đúng theo các tiêu chuẩn hoặc đôi khi do tác động của giá vậtliệu, nguồn nhân lực làm cho các nhà thầu phải thay thế các nguồn nguyênliệu khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng của công trình
Vậy mục tiêu của đầu tư là những kết quả và lợi ích mà đầu tư manglại cho nhà đầu tư và cho xã hội Các hoạt động của đầu tư bao gồm các giảipháp về tổ chức, kinh tế, kĩ thuật để thực hiện mục tiêu của dự án Cũng nhưcác công trình xây dựng khác thì các công trình thuỷ lợi cũng phải đảm bảothời gian đó là đảm bảo hoàn thành để công trình phục vụ cho việc tưới tiêukhi mùa vụ đến hay khi đến mùa lũ lụt Với các công trình thuỷ lợi thì địađiểm thực hiện thường là trên địa điểm của các công trình có từ trước đó Trừkhi thi công các công trình lớn như hồ đập mới phải giải phóng mặt bằng
2.1.6 Vai trò của việc đánh giá tác động của dự án thuỷ lợi đến phát triển nông thôn
Dự án thuỷ lợi có nhiều tác động đến phát triển nông thôn trên cácphương diện kinh tế, xã hội, môi trường Vậy việc đánh giá tác động của dự
án thuỷ lợi là xem xét mức độ của các tác động đó như thế nào đến sự pháttriển nông thôn vùng dự án Theo giáo sư Đỗ Kim Chung: “ Mục đích củaviệc đánh giá tác động của dự án phát triển nông thôn là biết được những bàihọc từ thực hiện dự án tìm ra những cơ hội để thực hiện các dự án tiếp theo”.[ ]1 Việc đánh giá tác động của dự án thường được tiến hành sau một năm Khi
đó, dự án thuỷ lợi mới thể hiện được những tác động một cách rõ ràng cả về
Trang 21tác động kinh tế, xã hội và môi trường Việc xây dựng các công trình thuỷ lợiphục vụ cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn đã được Đảng vàNhà nước ta xác định là lĩnh vực được ưu tiên trong đầu tư phát triển cơ sở hạtầng vùng nông thôn nhằm thực hiện tiến trình CNH- HĐH của đất nước.Những tác động của dự án thuỷ lợi đến phát triển nông thôn bao gồm:
* Tác động về kinh tế: Dự án thuỷ lợi trực tiếp tác động đến sản xuất
nông nghiệp mà thể hiện rõ nhất là trong ngành trồng trọt Nước là một yếu tốđầu vào quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nó giúp sinh vật phân giải hấpthu các chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển Nhưng ngược lại nướccũng là một thiên địch đáng sở đối với sản xuất nông nghiệp nói chung vàsinh hoạt của con người nói riêng Hàng năm nước ta thường xuyên xuất hiệncác trận bão, lũ lụt cuốn đi tất cả những thành quả sản xuất của bà con Cónăm lên tới 7-8 trận bão, các khu ven đồi núi thường xuyên xuất hiện các trận
lũ quét làm sập các khu nhà cửa làng mạc hay nhấn chìm tất cả trong biểnnước như năm 2005 và năm 2007 vừa qua Tác nhân làm hài hoà giữa nước
và con người hạn chế những tác hại, mang lại lợi ích của nước cho con ngườichính là những dự án thuỷ lợi vừa mang lại hiệu quả cao hơn trong sản xuấtvừa ngăn được những thiệt hại do thiên nhiên gây ra
* Tác động về xã hội: Dự án thuỷ lợi được thực hiện chính là thực hiện
được một dự án phát triển nông thôn Việc thực hiện một dự án thường cónhững tác động đáng kể đến những vấn đề xã hội nông thôn Những tác động
đó thường là:
• Mức cải thiện về đời sống của dân cư nông thôn thể hiên bằng sự tăng lên
về thu nhập bình quân đầu người và bình quân lương thực thực phẩm đầu người
• Mức cải thiện về điều kiện sống của dân cư nông thôn như hoàn thiệnhơn về hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng phúc lợi công cộng như trường học,trạm y tế, khu vui chơi giải trí…
Trang 22• Tác động đến sự công bằng xã hội trong nông thôn thể hiên trong quátrình tiến hành xây dựng công trình có sự tham gia đóng góp sức người, củacải của dân theo hướng dân biết, dân bàn, dân kiểm tra.
• Tác động làm nâng cao tính độc lập của cộng đồng cư dân nông thôntrong các hoạt động sản xuất, sinh hoạt
* Tác động về môi trường: Một dự án thuỷ lợi được xây dựng thường có
tác động đến hệ thống cây trồng và đất đai trong vùng dự án Có thể nó cònlàm biến đổi thay thế hẳn một hệ thống cây trồng hoàn toàn mới, cũng có thể
nó tạo ra một bước đột phá làm tăng năng suất của một số cây trồng đã có ởđịa phương Ở những vùng có hệ thống thuỷ lợi tốt, việc tưới tiêu chủ động sẽlàm tăng độ phì nhiêu của đất đồng thời tránh được sự rửa trôi mùn và cácchất vi lượng, tránh sự bào mòn đất hay sự sa mạc hoá, mặn hoá của đất Đấtđai màu mỡ hơn giúp đa dạng các loại cây trồng là cơ sở để tạo nên sự đadạng sinh học trong hệ sinh thái nông nghiệp
2.2 Cơ sở thực tiễn về tình hình KCHKM trên thế giới và trong nước ta.
2.2.1 Tình hình xây dựng các công trình thuỷ lợi ở Viêt Nam.
Nước ta thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm mưa nhiều có điềukiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Song cũng có mặt không thuận lợi
là lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng, các mùa trong năm nên gây
ra nhiều lũ lụt, hạn hán và diện tích chủ động tưới tiêu kém Thấy được tầmquan trọng của các công trình thuỷ lợi đối với sự phát triển của nông nghiệpnông thôn, trong những năm qua Nhà nước và nhân dân đã đầu tư khá lớn choviệc xây dựng các công trình thuỷ lợi mới, hoàn thiện và nâng cấp công trìnhthuỷ lợi đã được xây dựng từ trước
Theo thống kê tính đến ngày 10/01/1996 cả nước đã có 20.644 côngtrình thuỷ lợi lớn nhỏ, trong đó có 20.502 công trình thuỷ nông (6.726 hồ, đậpchứa nước, 5899 cống, 2383 trạm bơm điện, 116 trạm bơm dầu, 4.842 côngtrình phụ thuộc, 162 trạm thuỷ điện kết hợp với thuỷ nông), các công trình
Trang 23này đảm bảo tưới cho ba triệu ha diện tích đất canh tác (chiếm 53%), tiêu chotrên 2 triệu ha So với những năm 1990 thì số lượng công trình và năng lựcthiết kế tăng lên đáng kể, đặc biệt là năng lực tuới
Bằng việc phát triển hệ thống, chủ yếu xây dựng hệ thống hồ đập chứanước kết hợp với các công trình tự chảy, đã làm giảm khó khăn cho việc cungcấp nước tưới và tiêu nước cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là vùng núi.Đồng bằng sông Cửu Long là vùng được đầu tư mạnh nhất so với cácvùng trong cả nước, nên các công trình và năng lực tưới tiêu thuỷ lợi tăngnhanh Kể từ sau ngày giải phóng đến nay, Nhà nước đã đầu tư trên 1000 tỷđồng cho các công trình thuỷ lợi, chưa kể hàng trăm tỷ đồng của nhân dânlàm kênh mương nội đồng Đến năm 1996 toàn vùng đã có 1.185 công trìnhthuỷ lợi, trong đó có 163 trạm bơm điện và hệ thống dẫn nước ngọt sôngTiền, sông Hậu để tưới tiêu cho các vùng lúa hàng hoá, phục vụ khai hoangtăng vụ, chuyển vụ và thâm canh Riêng vùng Đồng Tháp Mười chỉ tính riêngnăm 1987 đến năm 1996 vốn đầu tư cho thuỷ lợi của Nhà nước và nhân dân
đã lên tới 180,68 tỷ đồng, đưa nước ngọt để tăng diện tích hai vụ từ26.806ha/năm lên 86.400 ha/năm dùng nước ngọt để áp phèn, đưa giống lúamới vào sản xuất và đến năm 1996 riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long đãsản xuất được 1,3 triệu tấn thóc và trở thành vùng sản xuất hàng hoá lớn nhấttrong cả nước
Vùng miền Đông Nam bộ vốn là vùng khô cằn thiếu nước ngọt trướcđây, sau 22 năm giải phóng Nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng được
103 công trình thuỷ lợi Toàn vùng có 486 công trình độc lập công suất tưới200.000ha, nhiều nhất Tây Ninh 175.000ha nhờ hồ Dầu Tiếng
2.2.2 Tình hình đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi ở một số nước trên thế giới
Trang 24Các nước và các vùng xung quanh lãnh thổ Việt Nam như TrungQuốc, Đài Loan, các nước Malaixia và Thái Lan đã có chính sách đầu tưmạnh vào cơ sở hạ tầng, nhất là thuỷ lợi hỗ trợ nông nghiệp phát triển.
Tại Trung Quốc những năm cải cách và mở cửa, Nhà nước đã tập trungxây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nhiều hơn số lượng vốn mà Nhà nước cóđược kể từ ngày giải phóng (năm 1949) đến năm 1978 Ở Malaixia chính phủ
đã đầu tư xây dựng toàn bộ các công trình thuỷ lợi tưới tiêu và không thu thuỷlợi phí
Ở Thái Lan – nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, chính phủ chorằng muốn duy trì tốc độ tăng trưởng như hiện nay về xuất khẩu gạo thì vấn
đề thuỷ lợi phải đặt lên hàng đầu Từ những năm 1956 đến 1985 Thái Lan đãtiến hành 482 dự án thuỷ lợi với tổng chi phí đạt 5.371 tỷ Bat, riêng năm1988
đã tiến hành 604 công trình thuỷ lợi với quy mô vừa và lớn, 4.988 dự án quy
mô nhỏ
Như vậy xu hướng chung của các nước hiện nay đối với chính sáchđầu tư phát triển thuỷ lợi là giảm dần xây dựng các công trình có quy mô lớnthay vào đó chính phủ quan tâm tao điều kiện thuận lợi để phát triển các dự ánnhỏ có quy mô nhằm phát huy nguồn nước tại chỗ, giải quyết nhu cầu vềnước cho nhân dân
Tóm lại đối với tất cả các nước muốn phát triển ngành nông nghiệpsản xuất theo hướng hàng hóa hay muốn thúc đẩy nền nông nghiệp phát triểnthì phải quan tâm đến vấn đề thuỷ lợi Thuỷ lợi phải được đi trước tạo tiền đềcũng như các điều kiện thuận lợi để nông nghiệp phát huy, khai thác được hếtcác tiềm năng
2.2.3 Các nghiên cứu về tác động của của dự án thuỷ lợi đến sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
* Tác động của dự án thuỷ lợi đến sản xuất lúa ở Việt Nam.
Trang 25Năm 1991 Bộ thuỷ lợi kết hợp với Tổng cục thống kê đã tiến hành thống
kê 15 năm xây dựng và phát triển thuỷ lợi (1976-1990) Trong báo cáo có tácđộng của các dự án thuỷ lợi đến năng suất lúa ở Việt Nam Tác động của dự
án thuỷ lợi đã làm cho diện tích gieo trồng lúa tăng lên 13.78%, năng suất lúabình quân cả năm tăng 43.04% và sản lượng lúa tăng lên 62.55%
Bảng 2.1: Tác động của thuỷ lợi góp phần phát triển sản xuất lúa ở Việt Nam
Nguồn: Số liêu thống kê 15 năm xây dựng và phát triển thuỷ lợi 1976-1990
Bảng 2.2: Thống kê các yếu tố tác động đến thâm canh tăng sản lượng
lúa của một số nước trên thế giới (1995).
Trang 26Nguồn: Đặng Văn Thạch – thông tin khuyến nông số 2, 1996
* Tác động của dự án thuỷ lợi đến sản xuất chè ở Việt Nam
Qua kết quả nghiên cứu các mô hình chè ở 3 tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ,Tuyên Quang đã cho thấy việc tưới có tác động làm tăng năng suất, sản lượngchè rất cao từ đó làm tăng nhanh hiệu quả sản xuất chè búp tươi Đồng thờicòn tạo ra sự ổn định về sản lượng chè các tháng trong năm Thông thườngcác tháng cuối năm sản lượng chè thấp hơn so với các tháng đầu năm nhưngkhi có công trình thuỷ lợi đã nâng cao sản lượng chè
Bảng 2.3: Năng suất chè vụ đông có tưới và không được tưới (1998)
(tấn/ha)
Tháng 11 (tấn/ha)
Tháng 12 ( tấn)
Tổng (tấn /ha)
Tỷ lệ (%)
Nguồn: Hà Văn thái, 1999 Mô hình tưới chè ở Thái Nguyên, Phú thọ, Tuyên Quang, Kỉ yếu khoa học 40 năm Viện kinh tế thuỷ lợi
* Tác động của dự án thuỷ lợi đến công bằng xã hội
Ngoài các nghiên cứu tác động của dự án thuỷ lợi đến năng suất và sảnlượng lúa, chè còn có rất nhiều nghiên cứu tác động của dự án thuỷ lợi đến xãhội như vấn đề công bằng trong xã hội Năm 2000 Giáo sư Đỗ Kim Chung vàHoàng Hùng nghiên cứu: Tác động của dự án thuỷ lợi đến công bằng xã hội
Trang 27trong nông thôn, Tạp chí Kinh tế nông nghiệp số 9/2000 Dự án được nghiêncứu với 3 công trình là đập dâng Hoa Sen thuộc huyện Minh hoá, công trìnhđập dâng Cây Bún thuộc huyện tuyên hoá, công trình Trốc Vực thuộc huyện
Bố Trạch của tỉnh Quảng Bình Chỉ tiêu được nghiên cứu trong đề tài là chỉ sốGini và mức chênh lệch giàu nghèo trong xã hội
Bảng 2.4: Thống kê hệ số GINI của các địa phương có công trình trạm
bơm thuộc huyện Bố Trạch, Quảng Bình
Chỉ tiêu
Trước khi có D/A
Sau khi có D/A
Trước khi có D/A
Sau khi có D/A
Trước khi có D/A
Sau khi có D/A
Chênh lệch giàu nghèo (lần) 6,80 6,28 7,40 7,37 9,95 9,23
Nguồn: Đỗ Kim Chung, Hoàng Hùng – Tác động của dự án thuỷ lợi đến công bằng
xã hội trong nông thôn, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế 9/2000
Qua bảng trên ta thấy khi có công trình thuỷ lợi đã giúp thúc đẩy sảnxuất phát triển Tác động đến sản xuất nông nghiệp giúp cho thu nhập củanông dân trong nông thôn tăng lên Từ đó làm cho khoảng cách về thu nhậpgiữa hộ giàu với hộ nghèo, hệ số Gini trong xã hội giảm trên cả 3 địa bànnghiên cứu Như vậy hệ thống thuỷ lợi có tác động tích cực cải thiện mức độcông bằng trong xã hội rất lớn
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lí, địa hình
Xã Cảnh Hưng nằm ở khu vực phía nam của huyện Tiên Du có địa hìnhdốc từ bắc xuống nam Phía bắc giáp với xã Phật Tích, phía đông giáp với xãMinh Đạo, phía tây giáp với xã Tri Phương và phía nam giáp với sông Đuống
Xã Cảnh Hưng là xã nằm ngoài đê có diện tích đất bãi bồi rất lớn Trên địabàn xã có đê sông Đuống là đê Đại Hà bên ngòi Tào Khê năm bao quanh phía
Trang 28trong và một đê bối bên ngoài Cảnh Hưng cách trung tâm huyện Tiên Du7km, cách trung tâm thành phố Bắc Ninh 15km và cách thủ đô Hà Nội 16
km đây là 3 thị trường lớn tiêu thụ nông sản của xã cũng như khu vực khitiến hành sản xuất hàng hoá Xã cách quốc lộ 1A 3km là trục đường giaothông nối liền Hà Nội với Lạng Sơn nên rất thuận tiện trong việc buônbán, đi lại giao lưu kinh tế của xã với các vùng khác Ngoài ra xã có mộtmặt là ven sông Đuống là sông lớn có rất nhiều tàu, thuyền đi lại vớitrọng tải lên tới hàng trăm tấn là hình thức vận chuyển có chi phí thấp vàrất thuận tiện Đồng thời đó là tuyến giao thông thuỷ nối liền với huyệnThuận Thành, Gia Bình, Hà Nội và các vùng khác ven sông Đuống bằngđường sông Xã Cảnh Hưng có ba thôn là thôn Thượng nằm ở phía tâybắc, thôn Trung nằm ở giữa và thôn Dền ở phía nam theo hướng từ bắcxuống nam Trụ sở UBND xã, các trường học, trạm y tế nằm trên địa bànthôn Thượng của xã ngay đê Đại Hà đi xuống
3.1.1.2 Điều kiện khí hậu và thời tiết
Đặc điểm khí hậu: Cảnh Hưng nằm trong vùng trung du thuộc khu vực
phía nam của huyện Tiên Du mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới giómùa có mùa đông lạnh và khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4năm sau Điều kiện khí hậu nóng ẩm thích hợp cho phát triển nôngnghiệp, độ ẩm lớn thường tập trung vào mùa đông cùng với nhiệt độxuống thấp làm cho mùa đông rất lạnh Đây là điều kiện thuận lợi chophát triển trồng các loại rau màu vụ đông có giá trị kinh tế cao như: dưachuột, các loại rau cải, hành, tỏi… phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trongdịp tết của người dân địa phương và các vùng lân cận Từ đó góp phần
Trang 29làm tăng thêm thu nhập cho bà con trong những tháng nông nhàn Thờitiết khí hậu có mùa hè nắng nóng nên gặp rất nhiều khó khăn trong gieocấy vì đồng đất của xã là đất cát nhanh thấm nước cũng nhanh ráo nước.Trong một năm lượng mưa phân bố không đều mùa hè nắng nóng mưanhiều bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 Mưa vụ mùa chiếm 85% lượngmưa cả năm, bình quân mưa vụ mùa là 1160mm, riêng tháng 7 và tháng 8chiếm 35 - 40% lượng mưa cả năm (khoảng 650mm); Ngày mưa bìnhquân nhiều trong năm là 102 ngày Mưa vụ chiêm chiếm 15% lượng mưa
cả năm Tháng 1 và 2 thường không mưa rất bất lợi cho cho sản xuất nôngnghiệp, thường xẩy ra tình trạng úng về vụ mùa và hạn trong vụ chiêm (từtháng 11 đến tháng 4 năm sau)
Hàng năm lượng mưa phân phối không đều
Mưa năm cao nhất: 1900mm
Mưa năm bình quân: 1500mm
Trang 30Số giờ nắng (h)
Tr.bình 83,0 44,4 41,6 85,8 204 176 214 180 186 187 157 130 1691
Số ngày mưa, lượng mưa trung bình tháng và lượng mưa ngày lớn nhất
Số ngày 6,5 10,3 13,9 11,6 11,8 13,6 13,0 15,3 12,8 8,4 5,8 4,2 127,2 X(mm) 13,1 21,1 34,0 99,5 156,3 225,5 209,5 268,3 200,4 128,1 46,2 12,6 1409,5 X1 max 64,8 57,5 65,0 121,3 202,3 231,0 288,0 250,0 191,3 270,0 238,7 83,3 288,0
Nguồn: Báo cáo thuyết minh KTKT trạm bơm thôn Dền
Nhiệt độ không khí trong các tháng của xã ta thấy trung bình nhiệt độ củacác tháng trong năm được tăng dần từ tháng 1 đến tháng 7 và lại tiếp tục giảmdần cho đến tháng 12 So sánh nhiệt độ trung bình của các tháng có tháng 7 làtháng có nhiệt độ cao nhất trung bình của tháng là 29,2 độ và nhiệt độ cao điểmnhất trong tháng là 38,2 độ Các tháng như tháng 5, 6, 7, 8 là những tháng nóngnhất trong năm đây chính là lúc miền Bắc bước vào mùa hè Tháng có nhiệt độthấp nhất trong năm là các tháng cuối của năm trước và các tháng đầu của năm
Trang 31sau Cụ thể đó là vào tháng 12, tháng 1, tháng 2 có nhiệt độ trung bình của thángđạt 16 độ và nhiệt độ thấp nhất trong tháng xuống tới 3,2 độ Đây là thời gianmiền bắc bước vào mùa đông Với kiểu phân bố nhiệt độ như trên đã tạo chomiền bắc nói chung và xã Cảnh Hưng nói riêng rất đa dạng các loại cây trồng có
cả cây trồng nhiệt đới và cây trồng ôn đới Đây chính là điều kiện thuận lợi để bàcon tiến hành gieo trồng các loại rau vụ đông cung cấp ra các thị trường lân cận.Nhưng khi mùa đông đến nhiệt độ xuống thấp làm cho rét đậm rét hại ảnh hưởngđến việc chăm sóc cho các loại cây trồng vật nuôi nên nó ảnh hưởng đến năngsuất và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp rất nhiều Với trồng trọt khi nhiệt độxuống quá thấp làm cho cây trồng chết nhất là đối với mạ non bà con gieo đểchuẩn bị cho gieo cấy vụ chiêm xuân làm ảnh hưởng đến thời vụ gieo cấy khôngkịp tiến độ Một thực tế cho thấy năm 2007 vừa qua khi nhiệt độ xuống thấp còn
có 10 độ và mùa đông rét kéo dài đã là cho mạ chết nên Nhà nước phải hỗ trợcho bà con nông dân tiền mua thóc giống, nhiều phần diện tích do không có mạ
để cấy nên phải tiến hành trồng thay thế các loại cây trồng khác như lạc, đậutương Còn đối với chăn nuôi thì mùa đông rét kéo dài làm cho gia súc gia cầmphải tốn nhiều năng lượng hơn cho sưởi ấm nên tốc độ sinh trưởng phát triển củagia súc, gia cầm bị hạn chế đôi khi gia súc gia cầm còn bị chết nên ảnh hưởng rấtlớn đến hiệu quả chăn nuôi Ngược lại khi mùa hè nắng nóng lại cũng ảnh hưởngđến sản xuất nông nghiệp của người dân Vào mùa hè nắng nóng cũng là lúc bàcon tiến hành gieo cấy vụ mùa Nắng nóng làm hạn chế hiệu quả làm việcthường phải đi sớm do thời gian từ 10h đến 2h chiều không thể làm việc được.Các loại cây trồng khi gieo cấy xuống bà con phải tưới nhiều hơn do đất trên địabàn xã là đất pha cát nhanh thấm nước nhưng cũng nhanh ráo nước gặp nắngnóng nhiệt độ trong đất cao làm cho cây chết héo nhất là đối với việc trồng raumàu bà con phải gánh gồng nước để tưới cho cây trồng
Trang 32Tình hình phân bố lượng mưa, độ ẩm của xã Qua bảng thống kê lượngmưa ta thấy tháng có số ngày mưa nhiều nhất là tháng 8 lên tới 15 ngày và sốngày mưa ít nhất là 4 ngày vào tháng 12 Khi nhiệt độ trong không khí tăng lênthì tương ứng vào các thời gian đó có lượng mưa cũng tăng lên Trung bình khinhiệt độ lên cao vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 8 thì vào thời điểm này cólượng mưa trung bình của tháng lên tới 225,5 mm vào tháng 5 và đạt cao nhấtvào tháng 8 là 268,3 mm Lượng mưa lớn làm cho độ ẩm trong không khí lớncác tháng đều trên 80%, tháng cao nhất lên tới 89% vào tháng 4 và tháng thấpnhất vào tháng 11 và tháng 12 là 80% từ đó góp phần làm giảm bớt được nắngnóng vào mùa hè và khô hanh vào mùa đông
Qua phân tích về nhiệt độ trong không khí, độ ẩm lượng mưa của xã tathấy điều kiện khí hầu thời tiết của xã có nhiều thuận lợi cho sản xuất nôngnghiệp nhưng nó cũng tạo ra rất nhiều khó khăn Từ những thuận lợi mà thờitiết tạo nên ta phải có biện pháp tận dụng nhằm thúc đẩy phát triển sản xuấtnhư tận dụng mùa đông lạnh kéo dài để phát triển trồng các loại rau màu tạothêm thu nhập vào các tháng nông nhàn Hay bên cạnh đó phải có các biệnpháp để khắc phục hạn chế tác động của thời tiết khí hậu đến sản xuất như cócác biện pháp phòng trừ dịch bệnh cho gia xúc gia cầm để sản xuất đạt hiệuquả cao Chính vì thế trong năm 2006 được sự đầu tư của nhà nước xã CảnhHưng đã tiến hành xây dựng trạm bơm thôn Dền nhằm khắc phục tình trạngthiếu nước tưới cho khu vực đất bãi Công trình đã được người dân địaphương rất hưởng ứng đóng góp công sức và tiền bạc để thực hiện nên đãhoàn thành đúng tiến độ và đã đưa vào sử dụng trong năm 2007 vừa qua
Tình hình thuỷ lợi: Phần diện tích canh tác nằm trong đê bối nhìn
chung về tưới tiêu đã được chủ động Về tưới có trạm bơm Tri Phương, vềtiêu có cống Xộp tiêu vào ngòi Tào Khê qua công Tân Hưng chảy ra sông Đuống
3.1.1.3 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai
Trang 33Qua bảng trên ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của xã không có sựthay đổi Trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn lên tới gần 60% vàdiện tích đất vườn tạp chiếm tỉ lệ nhỏ nhất và ngày càng giảm mạnh Trên địabàn xã không có đất lâm nghiệp.
Bình quân mỗi năm đất nông nghiệp giảm 0,157% do xã đang cónhững chủ trương chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp sang các mục đích sửdụng khác như đất ở, đất chuyên dùng Trong đất nông nghiệp thì đất vườntạp giảm mạnh nhất bình quân mỗi năm giảm 28,73%, đất trồng cây hàng nămgiảm 0,418% Số lượng đất dành cho sản xuất nông nghiệp năm 2006 đã giảm
so 2005 là 1 ha do đã dành 1 ha đó cho xây dựng làm nhà ở trên địa bàn thônDền và một phần đầu Xóm Đồng Mai của thôn Thượng Sang năm 2007 diệntích đất nuôi trông thuỷ sản của xã đã tăng lên 2,22 ha do xã có chủ trươngchuyển đổi các vùng đất trũng sản xuất cho hiệu quả thấp sang nuôi trồng thuỷ sảnnên bình quân mỗi năm đất nuuôi trồng thuỷ sản của xã tăng lên 8,12%
Xã Cảnh Hưng có bình quân diện tích đất nông nghiệp/khẩu nôngnghiệp là 1,6 sào/khẩu như vậy khi một hộ có bình quân 4 nhân khẩu thì mộtgia đình có diện tích canh tác là 6-7 sào Với diện tích đó có thể đảm bảocung cấp đủ lương thực thực phẩm cho người dân địa phương Nhưng xét hệ
số sử dụng đất của xã ta thấy năm 2005 là 2,4 lần, năm 2006 là 2,4 và năm
2007 là 2,42 lần còn tương đối thấp Đây là do trên địa bàn xã sản xuất chủyếu là thuần nông, độc canh cây lúa là chủ yếu Người dân chưa mạnh dạnthay đổi cơ cấu cây trồng trong sản xuất mà mang nặng tâm lí ăn chắc cấy lúa
dễ chăm sóc đầu tư ít Chỉ có một phần diện tích đồng cao thôn Dền và thônThượng người dân trồng màu như ngô, rau, lạc… một số hộ chăn nuôi bò sữathay một phần nhỏ diện tích cấy lúa để trồng có voi cho bò Mặt khác do phầndiện tích của thôn Thượng và bãi thôn Dền năm 2005 và 2006 chưa có hệthống tưới tiêu sản xuất chủ yếu dựa vào tự nhiên nên sản xuất không ăn chắc
Trang 34hay mất mùa Đến năm 2007 khi trạm bơm thôn Dền đưa vào hoạt động đảmbảo tưới cho hai khu vực trên đã làm tăng diện tích gieo trồng của xã và chokết quả cao hơn trong sản xuất nên hệ số sử dụng đất đã tăng lên được 2,42lần.
Trang 35Bảng 3.1: Tình hình phân bố đất đai của xã trong ba năm 2005 -2007
Chỉ tiêu ĐVT SLNăm 2005CC(%) SLNăm 2006CC(%) SLNăm 2007CC(%) 06/05 07/06 BQ(07/05)So Sánh
Trang 36Xã Cảnh Hưng có tổng số hộ lên tới hơn 1000 hộ trong đó số hộ sảnxuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn lên tới gấn 80% năm 2005 và giảm dầntrong 2 năm sau Trong xã đã có hộ chuyển đổi sản xuất từ sản xuất nôngnghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ nhưng số lượng rất ít chiếmdưới 10% Bình quân 3 năm tăng 16,64% cho thấy bà con đã biết tận dụngthời gian nông nhàn để làm thêm các công việc tạo thêm thu nhập nhưng cònrất ít chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số lao động của xã.
Xét về bình quân lao động trên hộ ta có bình quân mỗi hộ gia đình cóbình quân 4 người đây là số lượng lao động rất lớn trong nông thôn trong khimỗi hộ chỉ có bình quân 6- 7 sào ruộng Điều này cho thấy sản xuất nôngnghiệp của xã vẫn chưa được cơ giới hoá trong sản xuất để giảm bớt lao độngthủ công
Qua tính toán lấy số người trong độ tuổi lao động/ tổng số người trên
độ tưổi lao động và số người dưới độ tuối lao động ta tính ra được số nguời ăntheo trong gia đình Tỷ lệ này là 2,72 năm 2005 và 2,89 năm 2006 và 2,91năm 2007 Như vậy bình quân cứ gần 3 người thì phải nuôi 1 người Đây làmột tỷ lệ tương đối tốt để đảm bảo phúc lợi xã hội Nhưng xét tỷ lệ gia tăngdân số của xã ta thấy tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của xã vẫn còn cao so với
cả nước năm 2005 là 1,2%, năm 2006 là 0,95% và đến năm 2007 có xu hướngtăng lên 1,25%
Trang 37Bảng 3.2: Tình hình dân số của xã trong 3 măm 2005-2007
Chỉ tiêu ĐVT SL Năm 2005 CC(%) SL Năm 2006 CC(%) SL Năm 2007 CC(%) 06/05 So sánh 07/06 BQ
A Tổng số nhân khẩu Người 541 4 100 549 1 100 550 7 100 101,4 2 100,2 9 100,86
I- Số người trong độ tuổi LĐ Người 3960 73,14 4078 74,27 4100 74,45 102,98 100,54 101,75
1 Số LĐ trong nông nghiệp Người 3843 97,06 3893 95,46 3895 95,00 101,30 100,05 100,67
2 Số LĐ trong CN-DV Người 42 2,45 108 2,64 115 2,80 257,14 106,48 165,47
3 Số lao đông trong Dv Người 75 1,89 77 1,92 90 2,20 102,67 116,88 109,54II- Số người ngoài độ tuổi LĐ Người 524 9,68 528 9,62 521 9,46 100,76 98,67 99,71II- Số người dưới độ tuổi LĐ Người 930 17,18 885 16,12 886 16,09 95,16 100,11 97,61
2 77,63 983 75,04 106,41 92,56 99,25
Trang 393.1.3 Tình hình sản xuất và phát triển kinh tế
Do trình độ của cán bộ xã còn hạn chế nên hàng năm trong báo cáo tìnhhình kinh tế xã hội của xã không thống kê được tổng doanh thu và cơ cấudoanh thu của xã mà chúng tôi chỉ thu thập được số liệu kết quả sản xuấtnông nghiệp của xã Qua quá trình điều tra thực tế từ phỏng vấn chủ tịch xãcho biết cơ cấu kinh tế của xã hiện nay nông nghiệp chiếm 97% còn lại côngnghiệp và dịch vụ chiếm 3% trong tổng giá trị sản phẩm Tổng diện tích đấtcanh tác của xã không thay đổi qua ba năm Điều này cho ta thấy trong banăm qua xã không có hoạt động thu hồi đất nông nghiệp để chuyển thành cáckhu công nghiệp Diện tích lúa xuân, lúa mùa gieo cấy cũng không thay đổivới lúa xuân là 135 ha và lúa mùa là 141,7 ha Các cây trồng khác có sự biếnđổi nhiều về diện tích gieo trồng như ngô xuân hè giảm từ 128 ha năm 2005xuống còn 115 ha năm 2006 Diện tích gieo trồng đỗ tương xuân hè giảmmạnh từ 35 ha năm 2005 xuống còn 16,3 ha năm 2006 giảm 18,7 ha Nguyênnhân diện tích các loại cây trồng trên giảm là do khi đến vụ gieo trồng các câytrồng này cũng là lúc đến mùa hè nắng nóng xảy ra hạn hán trong khi điềukiện tưới tiêu chưa đáp ứng kịp thời trong năm 2005 và năm 2006
Trang 40Bảng 3.3: Kết quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã trong 3 năm qua