MỞ ĐẦU1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng đã và đang trở thành nhu cầuthiết thực của nhiều địa phương bởi nó không những mang lại hiệu q
Trang 1Trờng đại học nông nghiệp hà nội KHOA KINH Tế Và PHáT TRIểN NÔNG THÔN
NGUYễN THị HIÊN
ĐáNH GIá HIệU QUả KINH Tế CủA VIệC CHUYểN Đổi ruộng trũnG sang nuôI trồng thuỷ sản ở xã bình
dơng, huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Luận văn tốt nghiệp đại học
Hà NộI, NĂM 2008
Trang 2Trờng đại học nông nghiệp hà nội KHOA KINH Tế Và PHáT TRIểN NÔNG THÔN
Luận văn tốt nghiệp đại học
ĐáNH GIá HIệU QUả KINH Tế CủA VIệC CHUYểN Đổi ruộng trũnG sang nuôI trồng thuỷ sản ở xã bình dơng,
huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
: 2004 – 2008 2008 : GS.TS Phạm Vân Đình
Hà NộI, NĂM 2008
Trang 3Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và cha hề đợc sử dụng để bảo vệ trong một khoá luận nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đợc ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008 Sinh viên
Nguyễn Thị Hiên
Trang 4LờI CảM ƠN
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, để hoàn thành đợc luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận đợc rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể, các cá nhân trong và ngoài trờng.
Trớc hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa KT & PTNT – Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo GS.TS Phạm Vân
Đình đã tận tình hớng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ban lãnh đạo cùng toàn thể nhân viên sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Nình, Ban lãnh đạo cùng toàn thể nhân dân xã Bình Dơng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã khích lệ, cổ
vũ tôi hoàn thành luận văn thực tập tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008
Sinh viên Nguyễn Thị Hiên
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh sách các bảng biểu vi
Danh sách các biểu đồ vii
Danh mục chữ viết tắt viii
Phần1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN ĐỔI RUỘNG TRŨNG SANG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Đặc điểm của đất trũng 4
2.1.2 Ý nghĩa, sự cần thiết của việc chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản 8
2.1.3 Hiệu quả kinh tế trong NTTS trên đất trũng chuyển đổi 10
2.2 Cơ sở thực tiễn của việc chuyển đổi ruộng trũng sang NTTS 14
2.2.1 Tình hình NTTS ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm 14
2.2.2 Tình hình NTTS trên đất trũng ở Việt Nam 21
2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 26
Trang 6Phần 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của xã Bình Dương, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 27
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 27
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 29
3.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 39
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 40
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 40
3.2.4 Phương pháp phân tích 40
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41
3.3.1 Các chỉ tiêu xác định kết quả 41
3.3.2 Các chỉ tiêu xác định hiệu quả 41
Phần 4 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ NTTS TRÊN ĐẤT TRŨNG Ở XÃ BÌNH DƯƠNG, HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH 42
4.1 Thực trạng NTTS trên đất trũng chuyển đổi 42
4.1.1 Sự hình thành và phát triển các hình thức NTTS trên đất trũng chuyển đổi 42
4.1.2 Tình hình chung về NTTS trên đất trũng của xã 43
4.1.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế NTTS trên đất trũng ở xã 58
4.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong NTTS trên đất trũng của xã 72
4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế NTTS trên đất trũng chuyển đổi 77
4.2.1 Quan điểm 77
4.2.2 Phương hướng và mục tiêu 78
Trang 74.2.3 Giải pháp 79
Phần 5 KẾT LUẬN 85
5.1 Kết luận 85
5.2 Kiến nghị 86
Tài liệu tham khảo 88
Phụ lục 1: Phiếu điều tra hộ nông dân 91
Phụ lục 2: Một số thông tin về kỹ thuật NTTS 95
Phụ lục 3: Một số quyết định về hỗ trợ phát triển nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh uỷ Bắc Ninh 97
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Sản lượng và giá trị của một số loài cá năm 2000 15
Bảng 2.2: Cơ cấu sản lượng NTTS thế giới năm 2000 16
Bảng 2.3: Mười nước nuôi trồng thuỷ sản hàng đầu thế giới năm 2000 16
Bảng 2.4 : Mười nước NTTS đứng đầu của châu Á năm 2000 17
Bảng 2.5: Sản lượng NTTS của Mỹ giai đoạn 1990-1999 19
Bảng 3.1 Tình hình phân bố đất đai của xã Bình Dương qua 3 năm 2005-2007 31
Bảng 3.2 : Dân số và lao động của xã Bình Dương qua 3 năm 2005 – 2007 33 Bảng 3.3: Cơ sở hạ tầng của xã Bình Dương qua 3 năm 2005 - 2007 35
Bảng 3.4: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Bình Dương qua 3 năm 2005-2007 38
Bảng 4.1: Tổng diện tích mặt nước NTTS của xã giai đoạn 2005-2007 44
Bảng 4.2 Tình hình phân bố diện tích NTTS chuyển đổi theo đầm nuôi 46
Bảng 4.3: Tổng diện tích - hộ - lao động NTTS của xã Bình Dương năm 2007.46 Bảng 4.4: Năng suất, sản lượng NTTS theo loại hình mặt nước 48
Bảng 4.5: Phân loại các hộ NTTS của xã Bình Dương năm 2007 50
Bảng 4.6: Cơ cấu chủng loại cá giống được nuôi trong 1ha mặt nước của các hộ chuyển đổi 53
Bảng 4.7: Cơ cấu nguồn vốn của các hộ NTTS 57
Bảng 4.8: Cơ cấu chi phí cho 1 ha NTTS theo loại hình nuôi 58
Bảng 4.9: Cơ cấu giống cá nuôi cho 1 ha theo mô hình chuyên cá 59
Bảng 4.10: Cơ cấu giống cá nuôi cho 1 ha theo mô hình VAC 60
Bảng 4.11: Kết quả NTTS theo mô hình chuyên cá 62
Bảng 4.12: Kết quả NTTS theo mô hình VAC trên đất trũng chuyển đổi .63
Bảng 4.13: Cơ cấu doanh thu NTTS theo loại hình nuôi 64
Bảng 4.14: Kết quả và hiệu quả kinh tế NTTS theo loại hình nuôi 66
Trang 9Bảng 4.15 Kết quả và hiệu quả kinh tế NTTS theo quy mô nuôi 69
Trang 10DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒBiểu đồ 4.1: Cơ cấu sản lượng thuỷ sản theo hình thức nuôi 49 Biểu đồ 4.2 Cơ cấu diện tích mô hình VAC theo quy mô nuôi 51
Biểu đồ 4.3: Cơ cấu các nhóm cá nuôi của xã Bình Dương năm 2007 54
Trang 11DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BCH
Cơ cấuDiện tíchĐơn vị tính
Tổ chức lương thực và nông nghiệp của liên hợp quốcGiá trị sản xuất
Giá trị sản xuất ngành trồng trọtNông nghiệp
Nghị quyết – Chính phủNghị quyết – Trung ươngNuôi trồng thủy sảnNhà xuất bản
Quyết định - ủy banQuyết định của Thủ TướngSản xuất nông nghiệp
Số lượngTrung QuốcTriệu đồngThủ Tướng Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Ủy ban nhân dânđồng Đô la MỹVườn - aoVườn - ao - chuồng
Trang 12Phần1 MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng đã và đang trở thành nhu cầuthiết thực của nhiều địa phương bởi nó không những mang lại hiệu quả kinh tếcao hơn cấy lúa mà còn giải quyết tốt vấn đề lao động nông nhàn trong nôngthôn, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân, đóng gópquan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, làm thay đổi bộ mặtnông thôn Việt Nam Mặt khác nó còn góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa sựtăng lên của nhu cầu về sản phẩm thuỷ sản và sự giảm đi của diện tích đất nôngnghiệp Vì vậy, mà việc chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản ngàycàng phát triển với quy mô và tốc độ cao, đặc biệt là sau khi có chính sáchchuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn
Mặt khác, những vùng đất trũng thường phân bố ở nơi có địa hình thấp,đất chua, ít mùn nên khi trồng lúa trên những vùng đất này năng suất rất thấp.Hơn nữa, vào vụ mùa vùng đất này hay bị ngập úng dẫn đến thất thu nên hiệuquả kinh tế không cao Tuy nhiên, từ khi Nhà nước cho phép chuyển đổi sangphát triển thuỷ sản trên những vùng đất này thì thu nhập trên một đơn vị diệntịch canh tác tăng lên rõ rệt, gấp 2-3 lần so với độc canh cây lúa
Là một xã trong huyện chiêm trũng thuộc tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương cónhiều lợi thế trong phát triển thuỷ sản Trong những năm qua thực hiện chủtrương chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Bình Dương khuyến khích việcchuyển đổi sản xuất từ cấy lúa một vụ không ăn chắc trên những vùng ruộngtrũng sang phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên phạm vi toàn huyện và đã thu đượcnhiều kết quả khả quan Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản mỗi năm đạt 642,43 tấn,năng suất thực thu đạt 5,76 tạ/ha, giá trị thu được trên một ha đạt khoảng 70-80triệu đồng do đó mỗi năm mang lại thu nhập khoảng 35-40 triệu đồng cho các hộchuyển đổi, trong khi đó độc canh cây lúa trên những vùng đất này chỉ đạt
Trang 13khoảng 1,3 tạ thóc/sào/vụ Nếu năm nào mưa thuận gió hoà, hai vụ đều được thuthì năng suất đạt 72 tạ/ha/năm tương ứng với 32-33 triệu đồng/ha Như vậy, việcchuyển đổi đã mang lại thu nhập cao hơn độc canh cấy lúa từ 2-3 lần Vì vậynhiều hộ nông dân trong huyện đã mạnh dạn thực hiện chuyển đổi, hình thànhnhững vùng sản xuất tập trung với quy mô tương đối lớn và mang lại hiệu quảkinh tế cao hơn rất nhiều so với cấy lúa.
Tuy nhiên, việc phát nuôi trồng thuỷ sản còn nhiều khó khăn, vướngmắc Trình độ kỹ thuật của người nuôi trồng còn hạn chế, dịch bệnh thườngxuyên sảy ra làm thiệt hại lớn về kinh tế, vốn đầu tư cho việc chuyển đổitương đối lớn do đó các hộ không đầu tư nhiều vào chăn nuôi, chủ yếu chỉ tậndụng những nguồn thức ăn sẵn có, dư thừa chưa đầu tư thâm canh cao nênhiệu quả kinh tế không cao
Trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý trong nuôi trồng thuỷ sản còn thấpkém, chưa đáp ứng được sản xuất quy mô lớn, do đó làm hạn chế đến việc sửdụng hiệu quả các nguồn lực và tài nguyên
Bên cạnh đó tình trạng manh mún của ruộng đất cũng gây khó khăn choviệc chuyển đổi dẫn đến quy mô chuyển đổi nhỏ nên không phát huy một cáchtối đa các lợi thế về lao động, vật tư, đầu vào cho chăn nuôi
Vì vậy, để đánh giá hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng chuyểnđổi và thấy rõ hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi này, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản ở xã Bình Dương, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trang 14- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong NTTS trên đấttrũng tại xã Bình Dương, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề hiệu quả kinh tế NTTS trênruộng trũng chuyển đổi với chủ thể là những người thực hiện việc chuyển đổi,những người đang trực tiếp sử dụng ruộng trũng cho mục đích nuôi trồng thuỷsản ở xã Bình Dương, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh như các hộ nông dân, cáctrang trại, hợp tác xã, nhóm hộ chuyển đổi
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: số liệu thứ cấp về thực trạng nuôi trồng thuỷ sảncủa xã Bình Dương, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh trong 3 năm từ 2005-2007.Khảo sát năm 2007, các định hướng giải pháp từ nay đến 2010
- Phạm vi về không gian: nghiên cứu tại xã Bình Dương, huyện Gia Bình,tỉnh Bắc Ninh
Trang 15Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN ĐỔI
RUỘNG TRŨNG SANG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
Do những đặc điểm trên, nên khi sử đất trũng để trồng lúa thì năng suấtthu được thấp, đặc biệt là vào mùa mưa (vụ mùa) những vùng đất trũng thường
bị mất mùa do ngập úng Để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất trũng cầnchuyển dịch sang mô hình sản xuất khác phù hợp hơn như nuôi trồng thuỷ sảnkết hợp với trồng lúa theo hình thức luân canh lúa cá hoặc chuyển đổi sangNTTS theo mô hình VAC
Các sản phẩm có thể sản xuất trên đất trũng
Đất trũng là những vùng đất có địa hình thấp hay bị ngập úng vào mùamưa do đó nó có đặc điểm là chua nên không phù hợp với các loại cây trồng nhưlúa, ngô, khoai canh tác lúa trên vùng đất này hay bị mất mùa do lúa là câytrồng không chịu được ngập úng do vậy nên sử dụng để trồng một số cây ưanước như sen, rau cần hoặc dùng để NTTS vì ở những vùng đất trũng này cácloài động thực vật phát triển mạnh như các loại rong rêu, tảo, giáp xác, nhuyễn
Trang 16thể, côn trùng… Mặt khác các đối tượng thuỷ sản là động vật thuỷ sinh, môitrường sống là nước, thức ăn chủ yếu là động thực vật phù du trong nước nênchuyển đổi những chân ruộng trũng sang NTTS là rất phù hợp.
* Đặc điểm của nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng
- Một số khái niệm về NTTS
Theo định nghĩa của FAO thì nuôi trồng thuỷ sản là các hoạt động canhtác trên đối tượng sinh vật thuỷ sinh như cá, nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thuỷsinh…[15] Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc, nuôi lớn cho tới khithu hoạch xong Có thể nuôi từng cá thể hay quần thể với nhiều hình thức nuôitheo các mức độ thâm canh khác nhau như quảng canh, bán thâm canh và thâmcanh [phụ lục 2]
Bên cạnh đó người ta cũng áp dụng nhiều phương thức chăn nuôi khácnhau như nuôi tổng hợp (nuôi ghép), nuôi chuyên canh (nuôi đơn), nuôi kết hợp,nuôi luân canh…[phụ lục 2] để tận dụng tối đa các điều kiện tự nhiên, mặt nước,vốn và nhân lực trong nuôi thả thuỷ sản
- Đặc điểm sinh học của một số loài cá nước ngọt
Các đối tượng NTTS được chia thành 5 nhóm chính là thuỷ sản nướcngọt, cá di cư hai chiều, cá biển, giáp xác, nhuyễn thể và rong tảo, trong đó thuỷsản nước ngọt chiếm 44.3% tổng sản lượng thuỷ sản thế giới [5] Trong số trên
100 loài các nước ngọt được nuôi thì có một số loài có nhiều ưu điểm như nhanhlớn, dễ nuôi, thức ăn đơn giản và đặc biệt là dễ thích nghi với điều kiện nước tanên được nuôi phổ biến
Cá Mè trắng và cá Mè Hoa là những loài cá dễ nuôi, môi trường sốngthích hợp là tầng trên và giữa vì tầng nước này giàu ôxi Loài cá này lớn nhanhnhưng chất lượng thấp [17]
Trang 17Cá Trôi Ấn, Mrigan, cá Chép lại thích sống ở tầng giữa và tầng đáy, thức
ăn ưa thích là các loại mầm củ, hạt ngũ cốc Cá Trắm cỏ cũng sống ở tầng nướcnày nhưng lại thích ăn các loại rong rêu trên cạn và dưới nước.[17]
Cá Rô phi và cá Chim trắng là các đối tượng mới được đưa vào nuôi, loài
cá này có năng suất, chất lượng cao nhưng chịu rét kém [17]
Vì vậy, căn cứ vào đặc điểm sinh học của các loài cá nuôi này người tathả ghép chúng với nhau với tỷ lệ hợp lý nhằm tận dụng tối đa mặt nước và thức
ăn để có hiệu quả cao nhất
- Đặc điểm của nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng
Đối tượng NTTS là động vật thuỷ sinh, nó là nguồn tài nguyên hết sứcnhạy cảm, có khả năng tái tạo cao nhưng lại rất dễ bị huỷ diệt và có nhiều loại cógiá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao
NTTS được tiến hành rộng khắp trên các vùng địa lý những nơi có diệntích mặt nước, bao gồm cả đất và nước, nó vừa là đối tượng lao động vừa là tưliệu lao động và không thể thay thế được
Quá trình NTTS là tác động tự nhiên xen kẽ tác động nhân tạo nên thờìgian sản xuất và thời gian lao động là không trùng nhau Do đó, NTTS mang tínhmùa vụ cao
Điều kiện sống của thuỷ sinh dựa vào tự nhiên nên yêu cầu lao độngNTTS phải am hiểu điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, thuỷ văn để ứng dụngkhoa học kỹ thuật cho phù hợp
NTTS đòi hỏi các dịch vụ hỗ trợ lớn đặc biệt là giống, thức ăn, tín dụngkhuyến ngư và thị trường tiêu thụ Sản phẩm của thuỷ sản tươi sống, dễ hư hại,mau hỏng nên phải có kế hoạch thu hoạch và tiêu thụ hợp lý
- Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của NTTS trên đất trũng
Cá là loài vật dễ nuôi, dễ chăm sóc, nếu nuôi với mật độ thích hợp có thểkhông cung cấp thức ăn cá vẫn cho thu hoạch với năng suất khá Tuy nhiên, để
Trang 18cho năng suất cao thì việc cung cấp thức ăn cho cá là rất quan trọng Bên cạnh đóviệc quản lí dịch bệnh đối với đàn cá nuôi cũng rất cần thiết vì việc điều trị bệnhcho cá là vô cùng khó khăn Do đó, trong chăn nuôi phải đặc biệt chú ý đến việcphòng bệnh cho cá.
Đối với những vùng đất trũng mới chuyển đổi để việc nuôi trồng mang lạihiệu quả kinh tế cao thì cần đặc biệt quan tâm đến việc tạo màu nước và bổ sungthức ăn cho cá vì đây là những vùng nước mới hình thành nên thực, động vật phù
du trong nước rất ít
Hiện nay, người ta vẫn nuôi ghép nhiều loài cá trong một ao, mỗi loài cótính ăn khác nhau phù hợp với sự phát triển của thức ăn tự nhiên hoặc nguồn phụphế phẩm nông nghiệp sẵn có của địa phương
Để tận dụng hết các nguồn thức ăn có trong ao hồ, tránh các hiện tượngcạnh tranh về thức ăn giữa các loài cá nuôi người ta thường thả ghép Mè trắng,
cá Trắm cỏ, cá Trôi, cá Rô phi và cá Chép với nhau Hiện nay có nhiều côngthức nuôi ghép được áp dụng như: [16]
Cá Trắm cỏ là chính ghép với cá Mè trắng, Mè hoa, Trôi ấn, Mrigan,Chép, Rô phi
Cá Trắm cỏ và Trôi là chính ghép với cá Mè, Chép lai, Chim trắng
Cá Rô phi là chính ghép với Trắm cỏ, Trôi, Mè
Cá Chép là chính ghép với cá Trắm cỏ, Mè hoa, Mè trắng
Trắm đen, Trắm cỏ là chính ghép với cá Trôi, Mè, Chép
Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể về đất đai, môi trường sinh thái vùng nuôi
và mục đích kinh doanh của người NTTS mà lựa chọn công thức nuôi ghép hợp
lý để bảo đảm kết quả và hiệu quả cao nhất
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động NTTS trên đất trũng
Có 3 nhóm yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động NTTS là các yếu tố
tự nhiên, các yếu tố về kinh tế và các yếu tố về xã hội
Trang 19Nhóm các yếu tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu, môi trường sống… cóảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của đàn cá Trong các yếu tố tựnhiên thì nước có vai trò hết sức quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triểncủa đàn cá Nước là môi trường sống của cá và nhiều loại sinh vật thuỷ sinhkhác Nước có khả năng hoà tan rất lớn các chất hữu cơ và các chất vô cơ; nhiệt
độ của nước thường ổn định và điều hòa hơn nhiệt độ ở trên cạn (mùa đôngthường ấm hơn, mùa hè thường mát hơn ở trên cạn) thuận lợi cho sự sinh trưởng
và phát triển của đàn cá
Bên cạnh các yếu tố tự nhiên, các yếu tố về kinh tế xã hội như vốn đầu tư,trình độ kỹ thuật, tập quán canh tác, thị trường tiêu thụ là những yếu tố ảnhhưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế của việc NTTS Để mở rộng phát triển NTTS
và nâng cao trình độ thâm canh, cần phải có đầy đủ vốn, trang thiết bị kỹ thuật,diện tích đất đai và có thị trường tiêu thụ thuận lợi Có được những điều kiệnthuận lợi này không những NTTS sẽ phát triển về quy mô mà năng suất, sảnlượng nuôi cũng được cải thiện qua đó hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tíchcanh tác được nâng lên, tăng hiệu quả sử dụng đất đai
2.1.2 Ý nghĩa, sự cần thiết của việc chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản
2.1.2.1 Ý nghĩa, điều kiện chuyển đổi ruộng trũng sang NTTS
* Ý nghĩa của việc chuyển đổi ruộng trũng sang NTTS
Việc chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản không những đápứng được mâu thuẫn giữa sự gia tăng của nhu cầu về sản phẩm thuỷ sản và sựgiảm đi của nguồn lợi tự nhiên mà còn góp phần mang lại lợi ích và thu nhập caohơn hẳn độc canh cây lúa và một số cây trồng khác, góp phần cải thiện đời sốngcho người dân vùng chuyển đổi, thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, xoá đói giảmnghèo…
Trang 20Chuyển đổi ruộng trũng sang NTTS góp phần thay đổi cơ cấu kinh tếnông nghiệp nông thôn theo hướng tích cực, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trũngthông qua việc chuyển đổi phương thức sản xuất phù hợp
Chuyển đổi ruộng trũng sang phát triển NTTS sẽ góp phần tận dụng tối đadiện tích mặt nước hiện có, tận dụng được các phế phẩm nông nghiệp, giảm ônhiễm môi trường, tạo nên sự phát triển cân đối bền vững và ổn định trong sảnxuất nông nghiệp
* Điều kiện chuyển đổi ruộng trũng sang NTTS
Điều kiện trước tiên là phải có cơ chế chính sách của Nhà nước cho phépchuyển đổi cơ cấu kinh tế, cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất và đốitượng canh tác trên từng loại đất
Mặt khác vùng đất chuyển đổi phải là những vùng có hiệu quả kinh tếthấp, có khó khăn khi sản xuất và việc chuyển đổi phải phù hợp với điều kiệnvùng sản xuất đó
Do nhu cầu của xã hội về sản phẩm thuỷ sản ngày càng tăng trong khinguồn lợi thuỷ sản tự nhiên của địa phương không đáp ứng được nhu cầu, hay cóthị trường tiêu thụ sản phẩm thuận lợi cho việc phát triển thuỷ sản tại địaphương
Ngoài ra người dân vùng chuyển đổi cũng cần nắm bắt được kỹ thuậtNTTS, vùng chuyển đổi là vùng có truyền thống về phát triển NTTS
2.1.2.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản
Phát triển thuỷ sản trên diện tích ruộng trũng là yêu cầu tất yếu để giảiquyết mâu thuẫn giữa sự gia tăng của nhu cầu và sự suy giảm của nguồn lợi thuỷsản tự nhiên, bù đắp lượng nhu cầu thiếu hụt, khắc phục tình trạng cạn kiệtnguồn thuỷ sản hiện nay
Từ trước đến nay chân ruộng trũng thường chỉ sử dụng để cấy lúa, do đấtchua và hay bị ngập úng nên năng suất lúa rất thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế trên
Trang 21một đơn vị diện tích thấp Trong khi đó NTTS trên những diện tích này lại rấtphù hợp vì môi trường sống của các loài thuỷ sản là nước, thức ăn ưa thích làđộng thực vật phù du Vì vậy, thay đổi đối tượng canh tác cho phù hợp với đặcđiểm của đất trũng và tận dụng tối đa lợi thế trên vùng đất này là rất cần thiết
Mặt khác đất nông nghiệp ngày càng giảm do nhu cầu đô thị hoá và xâydựng các khu công nghiệp nên nâng cao hiệu quả sử dụng đất là việc làm cầnthiết Trong khi việc chuyển đổi ruộng trũng sang NTTS không những giúp sửdụng hiệu quả và hợp lý nguồn tài nguyên mà còn giúp nâng cao hiệu quả sửdụng đất đai, bảo đảm nhu cầu về thực phẩm cho con người
Chuyển đổi giúp sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực đặc biệt là lao động.Trong nông nghiệp do đặc thù của quá trình sản xuất nên quỹ thời gian lao động
dư thừa là rất lớn, việc chuyển đổi không những tận dụng được thời gian lúcnông nhàn này mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động khác
Phát triển NTTS sẽ kéo theo các dịch vụ cho NTTS phát triển nhanhqua đó góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Thayđổi cơ cấu canh tác, thay đổi quan niệm sản xuất, phá thế độc canh cây lúa từbao đời nay
Bên cạnh việc giải quyết việc làm chuyển đổi còn giúp nâng cao hiệu quảkinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác Tăng thu nhập và cải thiện đời sốngcho các hộ nông dân đặc biệt là nông dân vùng chuyển đổi, qua đó thay đổi diệnmạo nông thôn
2.1.3 Hiệu quả kinh tế trong NTTS trên đất trũng chuyển đổi
2.1.3.1 Các chỉ tiêu xác định kết quả và hiệu quả trong NTTS
- Chỉ tiêu xác định chi phí
Chi phí trung gian IC: là toàn bộ các khoản chi phí thường xuyên để mua,thuê các yếu tố đầu vào và chi phí dịch vụ cho quá trình nuôi thả thuỷ sản
Trang 22Chi phí vật chất (CPVC): là toàn bộ toàn bộ các khoản chi phí vật chấttính bằng tiền, gồm chi phí trung gian cộng với các khoản chi phí khấu hao tàisản cố định (A) và khoản tiền thuế (T) cho quá trình sản xuất sản phẩm
CPVC = IC + A + TTổng chi phí sản xuất (CPSX): là tổng hao phí tính bằng tiền của cácnguồn tài nguyên và các chi phí dịch vụ vật chất khác tham gia vào quá trình sảnxuất ra tổng sản phẩm đó Hay tổng chi phí sản xuất được bao gồm tổng chi phívật chất và chi phí tính bằng tiền của lao động gia đình
CPSX = CPVC + tiền công lao động gia đình
MI = VA – (A+T)
- Chỉ tiêu xác định hiệu quả sản xuất:
Giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp tính trên một đơn vịdiện tích mặt nước
Giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp tính trên một đồng vốnđầu tư
Giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp tính trên một công laođộng
2.1.3.2 Công thức tính hiệu quả kinh tế
Công thức 1: Hiệu quả = Kết quả thu được/Chi phí bỏ ra
Trang 23hay H = Q/CTrong đó: Q là kết quả thu được như GO, VA, MI
C là chi phí bỏ ra như IC, CPVCCông thức 2: So sánh mức chênh lệch của kết quả sản xuất với mức chênhlệch của chi phí bỏ ra
H = Q/CCách xác định kết quả sản xuất thu được và chi phí sản xuất bỏ ra cũngđược hiểu tương tự như đối với công thức thứ nhất
Như vậy, khi xem xét hiệu quả kinh tế trong NTTS chúng ta phải xét kếtquả thu được và chi phí bỏ ra trong mối quan hệ hữu cơ với nhau Nếu chỉ quantâm đến kết quả mà bỏ qua chi phí thì có thể quá trình sản xuất đó cho kết quảcao nhưng chi phí lớn nên hiệu quả lại không cao bằng mô hình sản xuất khác cókết quả thấp hơn nhưng chi phí nhỏ Vì vậy, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể củamình mà các hộ có thể chọn tối đa kết quả thu được hay tối thiểu chi phí bỏ ra để
có hiệu quả cao nhất
2.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong NTTS
Theo công thức xác định hiệu quả kinh tế như trên thì có hai nhóm yếu tốlàm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế là: Nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởngđến kết quả sản xuất (Q) và nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến chi phí đầu
tư (C)
- Nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (Q)
Kết quả sản xuất là chỉ tiêu thể hiện giá trị sản phẩm của một quá trình sảnxuất như GO, VA, MI nó phụ thuộc vào hai yếu tố đó là giá bán các loại thuỷsản, sản lượng thuỷ sản và các sản phẩm phụ thu được
Các loại thuỷ sản khác nhau thì có giá bán khác nhau và có sự chênh lệchrất lớn về giá bán giữa các đối tượng thuỷ sản nuôi Các đối tượng nuôi có giáthành cao như Trắm đen, Trắm cỏ, Chim trắng, Chép lai… ngược lại cá Mè lại
Trang 24có giá thành thấp, do có sự khác nhau này nên cơ cấu giống thả có ảnh hưởng rấtlớn đến kết quả thu được Bên cạnh đó chất lượng sản phẩm, thời điểm bán sảnphẩm, kênh tiêu thụ sản phẩm, thị trường tiêu thụ, thị hiếu của người tiêu dùng,chính sách phát triển của đất nước cũng có ảnh hưởng lớn đến giá bán thuỷsản Vì vậy, để nâng cao hiệu quả kinh tế trong NTTS các đơn vị nuôi thả thuỷsản có thể xem xét, tác động vào các yếu tố trên để tăng giá bán và tăng kết quảthu được.
Cơ cấu giống nuôi thả, hình thức nuôi cũng quyết định sản lượng thuỷ sảnthu hoạch Nếu đầu tư thâm canh cao với các đối tượng nuôi cho năng suất caothì sẽ thu được khối lượng sản phẩm lớn và ngược lại Ngoài ra các yếu tố nhưdiện tích nuôi, năng suất, điều kiện tự nhiên, trình độ sản xuất, tiến bộ kỹ thuật
áp dụng, hình thức nuôi thả… đều có ảnh hưởng lớn đến khối lượng sản phẩmthuỷ sản thu được Các yếu tố này làm tăng khối lượng sản phẩm đầu ra nếu cógiá bán cao thì kết quả thu được sẽ lớn
- Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất (C)
Trong quá trình nuôi thả thuỷ sản, C là tập hợp tất cả các chi phí về nguồnlực, đầu vào cho sản xuất như giống, thức ăn, vốn, lao động, trang thiết bị phục
vụ NTTS… các yếu tố chi phí này chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau,
cụ thể là:
Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí cho giống thuỷ sản như giá mua congiống, chất lượng con giống, điều kiện tự nhiên của vùng thu mua, thời gian thờiđiểm thu mua, các loại giống, hình thức vận chuyển…
Các yếu tố ảnh hưởng đến khấu hao tài sản cố định như đặc điểm vùngsinh thái, giá thành công nghệ áp dụng, thời gian sử dụng,
Chi phí lao động phục vụ sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như sứclao động, trình độ lao động…
Trang 25Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong NTTS.Tuy nhiên, mỗi yếu tố đều có mức độ ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả kinh tếtùy thuộc vào điều kiện cụ thể của hộ Ngoài ra, ngành nuôi trồng thủy sản cònchịu sự chi phối nhiều của điều kiện tự nhiên, chính sách và cơ chế quản lý củaNhà nước, trình độ năng lực của nhà sản xuất, tập quán tiêu dùng
Do có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong NTTS nên việcđánh giá hiệu quả kinh tế một cách chính xác cũng như xác định các biện pháptác động để nâng cao hiệu quả kinh tế là rất khó khăn Vì vậy, trước hết phảiđánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các yếu tố qua đóbiết được yếu tố nào có ảnh hưởng lớn nhất, có tính chất quyết định nhất đếnhiệu quả kinh tế để có biện pháp tác động hiệu quả nhất
2.2 Cơ sở thực tiễn của việc chuyển đổi ruộng trũng sang NTTS
2.2.1 Tình hình NTTS ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm
2.2.1.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở một số nước trên thế giới
Có thể nói nhu cầu về sản phẩm thuỷ sản trên thị trường ngày một tănglên trong khi nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên lại giảm đi Mức thiếu hụt này phảiđược bù đắp thông qua việc đẩy mạnh hoạt động NTTS Vì vậy, mà NTTS đãđược phát triển hầu như ở tất cả các vùng miền trên thế giới đặc biệt là các nướcđang phát triển Hiện nay, NTTS đang phát triển mạnh ở các nước đang pháttriển, các nước này đã cung cấp khoảng 3/4 tổng sản lượng NTTS của thế giới
Theo thống kê của FAO, có khoảng 210 loài thuỷ sản, kể cả thực vật thuỷsinh được nuôi trồng ở các nước trên thế giới, trong đó có 131 loài cá, 42 loàinhuyễn thể, 27 loài giáp xác, 8 loài thực vật thuỷ sinh, 2 loài động vật lưỡng cư
và rùa biển Các con số trên chứng tỏ đối tượng NTTS rất phong phú và đa dạng
Trang 26Các đối tượng này được nuôi ở biển và nước lợ ven biển là chủ yếu chiếm54,9%, nuôi nước ngọt chiếm 45,1% [10]
Trong số các loài thuỷ sản được nuôi thì các loài cá nước ngọt vẫn chiếm
ưu thế Sản lượng năm 2001 đạt 20,80 triệu tấn, chiếm 85,2% tổng sản lượng cánuôi đạt giá trị 22,122 tỷ USD Trong đó đứng đầu là nhóm cá Chép, chiếm trênmột nửa sản lượng cá nuôi trên toàn cầu, trong đó sản lượng 2 loài cá Mè trắng
và cá Mè hoa giảm đáng kể so với các loài khác trong nhóm do giá trị của chúngthấp hơn nên nhu cầu tiêu thụ giảm Tiếp theo là các nhóm cá hồi, cá Rô phi, cábiển và cá măng Cá Rô phi đang trở thành một đối tượng nuôi chính, nhất là ởchâu Á Cụ thể trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Sản lượng và giá trị của một số loài cá năm 2000
Nguồn: Bộ Thuỷ sản – theo tính toán của FAO
NTTS ở các khu vực và các quốc gia
Theo thống kê của FAO, các nước đang phát triển sản xuất tới 91,2%lượng NTTS, đặc biệt trong thời gian từ 1970 đến nay, sản lượng đã tăng nhanhhơn các nước phát triển tới 7 lần Nếu tính về khu vực, số liệu thống kê năm
2000 của FAO cụ thể như sau:
Trang 27Bảng 2.2: Cơ cấu sản lượng NTTS thế giới năm 2000
Nguồn: Bộ Thuỷ sản – theo tính toán của FAO
Năm 2000 trong số 10 nước đứng đầu về NTTS của thế giới thì có tới 9nước thuộc châu Á
Bảng 2.3: Mười nước nuôi trồng thuỷ sản hàng đầu thế giới năm 2000
(tấn)
Tỷ lệ (%)
Giá trị (1000 USD)
Trang 28Nếu chỉ tính trong khu vực châu Á thì thứ tự 10 nước NTTS đứng đầunăm 2000 như bảng 2.4
Bảng 2.4 : Mười nước NTTS đứng đầu của châu Á năm 2000
Nguồn: Bộ Thuỷ sản – theo tính toán của FAO
Châu Á có tới 42 nước phát triển nghề NTTS So với năm 1970, sảnlượng NTTS năm 2000 của châu Á đã tăng gấp 14 lần (từ 2.811.549 tấn lên41.724.469 tấn) Số loài nuôi cũng tăng lên, từ 55 loài năm 1970 tới 107 loài vàonăm 2000
Đông Nam Á là một trong những khu vực có ngành thuỷ sản nói chung,nghề NTTS nói riêng phát triển mạnh mẽ trên thế giới Tổng sản lượng thuỷ sản
ở khu vực này năm 1999 đạt trên 15 triệu tấn, chiếm 12% tổng sản lượng thủysản thế giới So với năm 1990 thì sản lượng thuỷ sản khu vực này đã tăng 39%
và vẫn đang có chiều hướng gia tăng mạnh Ở khu vực này có khoảng 10 triệungười tham gia nghề cá và mức tiêu thụ bình quân cá đầu người cũng khá cao,nhất là đối với các nước ven biển Đông Nam Á Khu vực này cũng là khu vực
Trang 29xuất khẩu thuỷ sản rất mạnh, năm 1999 đã đạt 7,8 tỷ USD (với 2,5 triệu tấn sảnphẩm), chiếm 14,7% tổng giá trị sản phẩm xuất khẩu trên thế giới Bốn nước cósản lượng thủy sản lớn nhất khu vực là: Inđônêxia, Thái Lan, Việt Nam vàPhilipin
2.2.1.2 Kinh nghiệm nuôi trồng thuỷ sản ở một số nước trên thế giới
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Trung Quốc
Nói đến NTTS của thế giới, không thể bỏ qua Trung Quốc bởi sản lượngNTTS của họ chiếm phần lớn và vượt xa các nước khác Sự phát triển vượt bậc củathuỷ sản Trung Quốc đã khiến nhiều tổ chức và cá nhân quan tâm nghiên cứu, và họ đãcho rằng đó là kết quả của một chính sách đúng đắn và có hiệu quả
Từ khi Trung Quốc (TQ) thực hiện cải cách và mở cửa, cùng với tiến bộkhoa học, ngành nuôi trồng thuỷ sản của TQ đã có những thay đổi to lớn Tổngsản phẩm thuỷ sản tăng từ 12.370.000 tấn năm 1990 lên 28.130.000 tấn năm
1997, tăng trung bình hàng năm 2.251.429 tấn Sản lượng đánh bắt cá biển ướcđạt 11.220.000 tấn hay 39,8% tổng sản lượng; nuôi trồng hải sản đạt 4.380.000tấn hay 15,5%; đánh bắt nội thuỷ 1.600.000 tấn hay 5,7% và NTTS nội thuỷ10.930.000 tấn hay 38,9% Năm 2001, sản lượng thủy sản đạt 32.029.551 tấn,chiếm 71,0% thế giới Giá trị đạt 30,3 tỷ USD, chiếm 60,7% thế giới
Trong những năm gần đây, các sản phẩm thuỷ sản ở Trung Quốc rất đadạng và phong phú như tảo, trai, sò, tôm, cua, động vật giáp xác, động vật đa gai,
cá, động vật lưỡng cư và các loài khác, trong đó có nhiều loài mới nhập từ cácnước Tổng số các loài nuôi trồng thủy sản cộng lại có tới trên 100 loài
Trung Quốc thường xuyên mở rộng diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷsản Năm 1990, tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản của Trung Quốc đạt 4.264.000
ha Diện tích nuôi trồng trên biển phát triển nhanh nhất, từ 429.000 ha năm 1990đến 822.000 ha, tăng gần gấp 2 lần Cơ sở hạ tầng công nghiệp và các phươngpháp quản lý đang được hoàn thiện nhanh chóng Trung Quốc bắt đầu pháttriển nhanh nuôi trồng thuỷ sản từ giữa những năm 80 của thế kỷ trước và
Trang 30nhanh nhất vào năm 1989 Đến năm 1997, Trung Quốc đạt sản lượng 19,3triệu tấn sản phẩm Trung Quốc là thị trường lớn hàng đầu châu Á với đặcđiểm vừa tiêu thụ, vừa tái chế xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu của TrungQuốc đã vượt mức 3 tỷ USD/ năm Nhưng nhập khẩu cũng tăng rất nhanh vàvượt qua 2 tỷ USD năm 1996.
Để khuyến khích nghề NTTS của mình phát triển Chính phủ Trung Quốcluôn lấy nuôi làm chính, tiến hành đồng thời nuôi trồng, khai thác chế biến vàchiến lược phát triển “Khoa học công nghệ chấn hưng nghề cá”
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Mỹ
Về sản lượng, tuy không thể so sánh được với Trung Quốc, Ấn Độ vàNhật Bản, nhưng Mỹ vẫn đứng trong danh sách các nước hàng đầu thế giới vềnuôi trồng thuỷ sản
Nghề NTTS ở Mỹ mới bắt đầu khoảng 30 năm trở lại đây và đang pháttriển nhanh NTTS ở Mỹ chủ yếu là nuôi cá nước ngọt Sản lượng nuôi trồngtăng nhanh, từ 150 nghìn tấn năm 1980 lên 315 nghìn tấn năm 1990 và 413nghìn tấn năm 1995, đứng hàng thứ 6 trên thế giới và đứng hàng đầu Châu Mỹ.Chất lượng sản phẩm NTTS của Mỹ khá cao
Diễn biến sản lượng như sau :
Bảng 2.5: Sản lượng NTTS của Mỹ giai đoạn 1990-1999
Năm Sản lượng (1000 tấn) Giá trị (triệu USD)
Trang 31Nuôi trồng thuỷ sản của Mỹ mang đậm tính thương mại Mỹ chỉ nuôinhững loài quý có nhu cầu cao và có lãi Vì vậy tuy sản lượng khá cao nhưng lạichỉ tập trung vào một số loài như cá nheo, cá hồi, Rô phi và hàu.
Những năm gần đây, thị trường Mỹ hướng vào cá Rô phi, thúc đẩy nghềnuôi Rô phi phát triển rất nhanh và lan ra nhiều Bang ở Mỹ Sản lượng cá Rô phi
từ 2000 tấn năm 1990 tăng lên 10.000 tấn năm 1999 Do nhu cầu tăng quá nhanhnên Mỹ phải nhập khẩu rất nhiều sản phẩm Rô phi mới đáp ứng được thị trường
Một điều đáng chú ý là nghề nuôi tôm càng nước ngọt của Mỹ hiện đangdẫn đầu thế giới với sản lượng 32 nghìn tấn năm 1990, nay chỉ còn 18 nghìn tấn Ngoài ra Mỹ còn là cường quốc nuôi cá hồi ở Tây bán cầu với sản lượng 62nghìn tấn (1999)
Xu thế chung của tổng sản lượng thuỷ sản của Mỹ hiện nay là giảm dầnsản lượng khai thác và tăng dần sản lượng nuôi trồng
Chính phủ Mỹ đã đẩy mạnh công nghiệp chế biến Mặt khác, việc đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật được nhà nước bảo hộ nên tăng rất nhanhtrong quá trình CNH - HĐH ngành NTTS phát triển nhanh chóng
NTTS ở Mỹ đang phát triển theo hướng hàng hoá với quy mô, diện tíchlớn Thường mỗi trại nuôi cá có diện tích hàng trăm đến hàng nghìn ha Phần lớncác công việc đều được cơ giới hoá, tự động hoá, kể cả việc chăm sóc và thuhoạch Phương thức nuôi thường là nuôi đơn, không chạy theo sản lượng mà chú
ý đến chất lượng Đó là nét riêng biệt trong NTTS của Mỹ
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Thái Lan
Thái Lan luôn là nước xuất khẩu thuỷ sản số 1 thế giới, hàng năm xuấtkhẩu từ 4-6 tỷ USD Năm 1994, Thái Lan là nước đứng thứ 5 trên thế giới về sảnxuất cá và nhuyễn thể Nói chung, sản lượng tăng theo hàng năm với các đốitượng nuôi đa dạng Thái Lan giữ vững thứ hạng với sản lượng cá và các loài
Trang 32nhuyễn thể là khoảng trên dưới 600 nghìn tấn, trong đó có từ 250–300 nghìn tấn
cá cũng được nhà nước quan tâm đào tạo
* Nuôi trồng thủy sản ở Philipin
Philipin là nước đứng thứ 7 trên thế giới về sản xuất cá và nhuyễn thể vàonăm 1994, nhưng sau đó tụt xuống thứ 11 vào năm 1997 với tổng sản lượng cá
và nhuyễn thể là 330.443 tấn Năm 1993, Philippin trở thành nước sản xuất cá
Rô phi lớn nhất khu vực Nhưng đến năm 1995 sản lượng cá Rô phi giảm đáng
kể và đến năm 1997 lại giảm một lần nữa Philipin cũng đã từng là nước đứngđầu khu vực về nuôi cá măng Nhưng sản lượng cá măng giảm khi sản lượngtôm sú tăng vào năm 1992 do việc sử dụng các ao nước lợ cho nuôi tôm
Trong những năm gần đây, chăn nuôi cá trên thế giới được phát triểnmạnh mẽ, với trình độ thâm canh cao, hình thức thâm canh phong phú và đadạng, nhất là các nước Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Bănglađét,… Ở một sốnước phát triển và nước có tiềm năng thuỷ sản phong phú đã bắt đầu chuyểnsang nuôi với quy mô lớn
2.2.2 Tình hình NTTS trên đất trũng ở Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình chung về NTTS trên đất trũng chuyển đổi
Dẫu ra đời từ rất sớm, nghề cá Việt Nam cho đến những năm giữa thế kỷtrước vẫn mang đậm dấu ấn của một loại hình hoạt động kinh tế tự nhiên theokiểu “hái, lượm”, tự cấp tự túc với trình độ hết sức lạc hậu Hoạt động nghề cáđược xem như một nghề phụ trong sản xuất nông nghiệp
Trang 33Từ sau những năm 1950, thấy được vị trí quan trọng và sự đóng góp đáng
kể mà nghề cá mang lại cho nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đã bắt đầu quantâm phát triển nghề cá thể hiện ở sự ra đời của các cơ quan quản lý Nhà nướctrong lĩnh vực này Từ đó, nghề cá - ngành Thuỷ sản - đã dần hình thành vàphát triển như một ngành kinh tế - kỹ thuật có vai trò và đóng góp ngày cànglớn cho đất nước
Thời kỳ trước năm 1945: Nửa đầu thế kỷ XX, NTTS ở Việt Nam mới chỉphát triển và phổ biến ở miền Bắc, nhưng do nguồn cá tự nhiên bị hạn chế trongkhi nhu cầu về sản phẩm thuỷ sản ngày càng tăng theo nhịp độ phát triển của dân
số Đến đầu những năm 30 nuôi cá nước ngọt mới thực sự phát triển trên diệnrộng Không chỉ ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng mà lan rộng ra cả cáctỉnh miền núi phía Bắc và Tây Bắc
Thời kỳ hợp tác hoá: thời kỳ này NTTS phát triển trên diện rộng Nhiềuthành phần kinh tế tham gia vào hoạt động nuôi trồng thuỷ sản như các xí nghiệpquốc doanh, các hợp tác xã và các hộ gia đình Tuy nhiên ở thời kỳ này phongtrào nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu mang tính chất tự phát, trình độ khoa học kỹthuật trong nuôi trồng hạn chế nên năng suất thấp, sản xuất chủ yếu cho mụcđích tiêu dùng, tự cấp, tự túc Chỉ có một số ít các xí nghiệp quốc doanh sản xuấtmang tính chất kinh doanh nhưng trình độ sản xuất vẫn ở mức thấp, sản xuấttheo hình thức quảng canh, thả là chính chứ chưa đầu tư thâm canh
Thời kỳ từ khi đổi mới: NTTS được nhân rộng ra cả 3 miền Bắc, Trung,Nam Trình độ sản xuất cũng được nâng lên, khoa học kỹ thuật dần được ápdụng vào sản xuất Sản xuất chuyển từ tự cấp tự túc sang nền sản xuất hàng hoá.Những năm gần đây ngành nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển thành một ngànhkinh tế quan trọng của đất nước
Đến nay, nghề nuôi trồng thuỷ sản từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mangtính chất tự cấp tự túc đã trở thành một ngành sản xuất hàng hoá tập trung với
Trang 34trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các thuỷ vực nước ngọt, nước lợ,nước mặn theo hướng bền vững Diện tích nuôi trồng thuỷ sản liên tục tăng từ
230 nghìn hecta năm 1981 lên 384,6 nghìn hecta năm 1986, đến nay đã đạt hơn 1triệu hecta Từ những năm 80 của thế kỷ trước NTTS đã trở thành một ngành sảnxuất hàng hoá chủ lực, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng và đang tiếnđến xây dựng các vùng sản xuất tập trung Các đối tượng có giá trị cao có khảnăng xuất khẩu đã được tập trung đầu tư, khuyến khích phát triển, phát huy đượctiềm năng tự nhiên, nguồn vốn và sự năng động sáng tạo trong doanh nghiệp vàngư dân, đồng thời góp phần hết sức quan trọng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tếtrong nông nghiệp cũng như cho xoá đói giảm nghèo
Hiện nay, NTTS nước ngọt đang được Nhà nước khuyến khích phát triểnnên NTTS nước ngọt cũng có bước chuyển biến mạnh mẽ từ sản xuất nhỏ tự túcsang sản xuất hàng hoá nhất là việc phát triển sản xuất cá tra, cá basa một vàinăm gần đây đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, giá trị xuất khẩu lớn
NTTS cũng đã phát triển tới cả vùng sâu, vùng xa không những bảo đảmđược nguồn thực phẩm có giá trị dinh dường mà còn có đóng góp quan trọng vàoviệc xoá đói giảm nghèo
Để khuyến khích NTTS phát triển, Nhà nước cho phép nông dân chuyểnđổi ruộng trũng cấy lúa đạt hiệu quả thấp sang NTTS Kết quả thu được từ việcthực hiện chủ trương này là rất khả quan Không những mang lại thu nhập caocho các hộ chuyển đổi, giải quyết công ăn việc làm cho người dân mà còn gópphần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn
Có thể nói NTTS của Việt Nam trong thời gian qua tăng nhanh cả về diệntích nuôi, năng suất và sản lượng Mặt khác chất lượng và giá trị sản phẩm thuỷsản cũng dần được cải thiện Tuy nhiên, trong quá trình phát triển NTTS cũngcòn những tồn tại như vấn đề quy hoạch sử dụng hợp lý mặt nước NTTS chưađược quan tâm đúng mức, thiếu quy hoạch tổng thể; cơ sở hạ tầng phục vụ
Trang 35NTTS còn nhiều hạn chế, tình trạng đầu tư dàn trải còn diễn ra phổ biến; pháttriển thuỷ sản chủ yếu vẫn mang tính tự phát, ảnh hưởng đến môi trường sinhthái, việc ban hành chính sách chưa kịp thời, thiếu tính đồng bộ nên chưa pháthuy được thế mạnh của ngành; công tác tổ chức sản xuất và quản lý chất lượnggiống thuỷ sản còn lỏng lẻo, tình trạng nơi thừa nơi thiếu giống phục vụ sản xuấtvẫn còn diễn ra; môi trường sinh thái một số vùng NTTS chưa được quan tâmgây ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững
2.2.2.2 Chủ trương, chính sách chuyển đổi ruộng trũng sang NTTS
Hiện nay nghề nuôi trồng thuỷ sản đang được Đảng, Chính phủ và các Bộ,Ngành quan tâm thể hiện qua các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển sảnxuất như:
Quyết định số 224-TTg ngày 8/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt “Chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 1999-2010” đã tạođiều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh mẽ rộng khắp ở cáctỉnh trong toàn quốc
Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một sốchủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nôngnghiệp đã tạo đà thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản trong tương lai
Nghị quyết số 103/2000/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chínhphủ về một số chính sách khhuyến khích phát triển giống thuỷ sản
Chủ trương chính sách trong phát triển thuỷ sản của tỉnh Bắc Ninh: [phụlục 3]
Nghị quyết 06/NQ ngày 28 tháng 6 năm 2001 của UBND tỉnh Bắc Ninh
về định hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2001-2005 vớichủ trương “Đẩy mạnh thâm canh số diện tích nuôi trồng thủy sản hiện có, từngbước chuyển 2.450 ha ruộng trũng cấy lúa một vụ không ăn chắc sang phát triểnNTTS, quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung”
Trang 36Quyết định số 108/2002/QĐ - UB của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc banhành quy định hỗ trợ phát triển nông nghiệp giai đoạn 2002–2005 trên địa bàntỉnh Bắc Ninh.
Quyết định số 106/2005/QĐ – UB của uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh vềviệc hỗ trợ phát triển nông nghiệp, hỗ trợ đầu tư chương trình nước sạch vệ sinhmôi trường nông thôn giai đoạn 2006-2010 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
2.2.2.3 Một số kết quả đạt được từ việc chuyển đổi ruộng trũng sang NTTS
Hiện nay nuôi trồng thủy sản đã và đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt làphong trào chuyển đổi ruộng trũng cấy lúa một vụ không ăn chắc sang NTTS kếthợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm và trồng cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh tếthiết thực, góp phần không nhỏ vào việc giải quyết công ăn việc làm cho ngườilao động, nâng cao đời sống người dân, phát triển kinh tế xã hội và từng bướclàm thay đổi bộ mặt nông thôn
Thực hiện Nghị quyết số 06/NQ – TU, ngày 28/6/2001 của Ban chấp hànhĐảng bộ tỉnh Bắc Ninh về định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,các huyện, thành phố đã quy hoạch và chuyển đổi một số diện tích ruộng trũngcấy lúa hiệu quả thấp sang NTTS, hình thành các vùng nuôi trồng tập trung.Toàn tỉnh có 97 vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung với diện tích từ 5 ha trở lên,trong đó Lương Tài 58 vùng, Gia Bình 11 vùng, Quế Võ 10 vùng, Yên Phong 7vùng, Tiên Du 6 vùng, Thuận Thành 3 vùng, Từ Sơn 1 vùng, TP Bắc Ninh 1vùng Một số vùng có diện tích chuyển đổi tiêu biểu như Thọ Đức - Tam Đa(thuộc Yên Phong) 55ha, Gia Phó – Bình Dương (Gia Bình) 63ha, Phương Độ,Đìa – Bình Dương 60ha, Phú Hoà, An Thịnh (Lương Tài)… [11]
Từ khi thực hiện chuyển đổi không những diện tích NTTS tăng nhanh
mà năng suất nuôi cũng được cải thiện rõ rệt do các tiến bộ khoa học kỹ thuậtđược đưa vào sản xuất ngày càng nhiều, trình độ của các hộ chăn nuôi đượcnâng nên Năng suất, diện tích tăng kéo theo sản lượng thuỷ sản tăng đáng
Trang 37kể Thu nhập trên một đơn vị diện tích chuyển đổi tăng, đời sống người dânđược cải thiện.
2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan
Vấn đề NTTS đã được nhiều tác giả nghiên cứu như
Tác giả Nguyễn Thị Thảo với đề tài ‘đánh giá thực trạng nuôi trồng thuỷsản trên diện tích đất trũng của huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh’ đề tài này đánhgiá hiện trạng NTTS, tình hình phát triển NTTS ở huyện Gia Bình, chưa đi sâuvào nghiên cứu vào hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi ruộng trũng sangNTTS Các kết luận và giải pháp đưa ra chưa thật cụ thể, đặc biệt là với điềukiện cụ thể của Bình Dương
Tác giả Vương Khả Khanh cũng có đề tài nghiên cứu về NTTS trên đấttrũng với đề tài: ‘Đánh giá, so sánh hiệu quả kinh tế mô hình NTTS trên đấttrũng ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh’ tuy nhiên công trình nghiên cứu củatác giả lại đi sâu vào nghiên cứu các loại mô hình nuôi, ương cá và nuôi tômcàng xanh, các kết luận và giải pháp cũng đưa ra cho từng mô hình cụ thể
Tác giả Nguyễn Đình Dương với đề tài: ‘thực trạng và giải pháp pháttriển kinh tế trang trại ở Quỳnh Lưu- Nghệ An’ tác giả đi sâu nghiên cứu NTTS
ở quy mô trang trại, với quy mô nuôi và quy mô đầu tư lớn được hạch toán chiphí cụ thể
Như vậy đánh giá hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi ruộng trũng sangNTTS ở Bình Dương là một vấn đề mới cần nghiên cứu bởi nó có ý nghĩa quantrọng đối với việc phát triển NTTS ở xã Bình Dương
Trang 38Phần 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của xã Bình Dương, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Là một xã thuần nông thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằm cách thànhphố Bắc Ninh và Thủ đô Hà Nội không xa nên Bình Dương có nhiều thuận lợitrong việc chuyển giao công nghệ, kĩ thuật tiên tiến và cung cấp thông tin nhanhnhạy… Đặc biệt đây là hai thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm nông sản nóichung và sản phẩm thuỷ sản nói riêng
Bình Dương giáp danh với thị trấn Ngụ và xã Phú Hoà thuộc huyệnLương Tài về phía Nam đây là xã có truyền thống trong phát triển NTTS và cũng
là một trong những xã đi đầu trong phong trào chuyển đổi ruộng trũng sangNTTS với diện tích chuyển đổi lớn
` Phía Đông giáp xã Cao Đức, phía Tây giáp xã Nhân Thắng và xã TháiBảo, Phía Bắc giáp xã Vạn Ninh Đây đều là các xã có nhiều diện tích ruộngtrũng chuyển đổi sang phát triển thuỷ sản như xã Vạn Ninh có 50,78 ha, Nhânthắng có 39,72 ha [5] Giáp danh với nhiều xã thị trấn trong và ngoài huyện giúpBình Dương có điều kiện thuận lợi trong việc tiêu thụ các sản phẩm và giao lưuhọc hỏi kinh nghiệm trong nuôi thả thuỷ sản
Về đất đai, địa hình của xã: Bình Dương có đặc điểm chung của các xãthuộc lưu vực sông Hồng là đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho phát triển nôngnghiệp Đặc biệt là xã có địa hình tương đối bằng phẳng hơi dốc về theo hướngTây sang Đông nên thôn Phương Độ và Gia Phú có địa hình thấp hơn, vì vậy màdiện tích đất có địa hình trũng của xã chủ yếu thuộc hai thôn này Diện tíchruộng trũng là 165,4 ha chiếm 24,04% trong tổng diện tích đất tự nhiên Trong
đó có 110ha đã được chuyển đổi sang NTTS theo các dự án của huyện và tỉnh
Trang 393.1.1.2 Đặc điểm thời tiết, khí hậu và thuỷ văn
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều với bốnmùa rõ rệt trong năm tạo điều kiện thuận lợi cho xã phát triển đa dạng hoá cácloại cây trồng đặc biệt là cây trồng nhiệt đới
Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23,7oC, chênh lệch nhiệt độgiữa các tháng trong năm tương đối lớn khoảng 20-30oC, với độ ẩm trung bìnhnăm là 84%, độ ẩm cao nhất trong năm là 98%, thấp nhất khoảng 70%
Lượng mưa ở mức trung bình 1200-1800 mm/năm phân bố không đềuvào các tháng trong năm Mùa mưa thường kéo dài 6 tháng từ tháng 4, tháng 5đến tháng 10 chiếm 84,8 % tổng lượng mưa trong năm Vào mùa mưa thời tiếtnóng ẩm, lượng mưa lớn thường tập trung vào tháng 6, tháng 7, tháng 8 trong khitháng 11, 12 và tháng 1 rất ít có mưa do đó thường xảy ra ngập úng cục bộ ởnhững vùng đất trũng về mùa mưa và hạn hán về mùa khô Đặc điểm này khôngnhững gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là vùng đất trũng mà còngây khó khăn cho sản xuất thuỷ sản trên những vùng đất trũng đã được chuyểnđổi này vì thường thiếu nước cho cá sinh trưởng phát triển vào mùa khô, mựcnước trong các ao nuôi cá chỉ đạt khoảng 2-2,5m
Về gió bão: hướng gió chính trong mùa hè là hướng Nam và Đông Nam,mùa đông thường có gió Bắc và Đông Bắc Vào các tháng 7, 8, 9 có nhiều bãonhất, các cơn bão đổ bộ vào vùng này thường gây ra mưa lớn trong nhiều ngàycùng với gió mạnh làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân Vàotháng 2 lại hay có mưa phùn, lượng mưa không đáng kể nhưng lại có ý nghĩa rấtquan trọng đối với sản xuất nông nghiệp vì nó có khả năng duy trì độ ẩm cho đất
Nguồn nước cho NTTS: nguồn nước chính cung cấp cho các vùng NTTScủa xã là nguồn nước mưa tích tụ và nguồn nước từ thuỷ lợi của sản xuất nôngnghiệp Nguồn nước mưa được tích tụ lâu ngày trong ao hồ nên động, thực vậtphù du phát triển rất mạnh nên rất thuận lợi cho NTTS
Trang 403.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất
Bình Dương nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất đai màu mỡthuận lợi cho phát triển kinh tế Là một xã thuần nông nên diện tích đất nôngnghiệp là chủ yếu (528,84 ha) chiếm 76,85% tổng diện tích đất tự nhiên, đất phinông nghiệp chiếm 22,41%, đất chưa sử dụng chiếm khoảng 0,74% tương ứngvới 5,06 ha (2005) Sự biến động về đất đai được thể hiện qua bảng 3.1
Tổng diện tích đất tự nhiên không có sự thay đổi qua 3 năm do không có
sự phân chia lại danh giới hành chính Đất nông nghiệp chiếm 74,51% trong tổngdiện tích đất tự nhiên và biến động không đáng Trong đó đất sản xuất nôngnghiệp có xu hướng giảm xuống từ 406,03ha năm 2005 giảm xuống còn386,37ha năm 2007 (74,51%) bình quân 1 năm giảm 1,45% Đất sản xuất nôngnghiệp giảm là do đất trồng lúa giảm 2,45% /năm Tuy nhiên, diện tích đất trồnglúa vẫn chiếm đa số trong diện tích đất sản xuất nông nghiệp (75,36 % năm 2007
Đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong cơ cấu diện tích đất
tự nhiên của xã (154,21 ha, chiếm 22,41%) và đang có xu hướng gia tăng(5,46%/năm) Nguyên nhân của sự gia tăng này là do đất ở và đất chuyên dùngđều tăng lên Tuy nhiên, diện tích đất ở tăng lên về số tuyệt đối nhưng về sốtương đối thì lại giảm đi Diện tích đất chuyên dùng của xã có xu hướng tăng lên
do diện tích đất cho giao thông và thuỷ lợi liên tục tăng vì sau khi hoàn thành dự
án đầu tư khai thác vùng trũng vào năm 2005 xã tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở
hạ tầng cho vùng chuyển đổi nói riêng và toàn xã nói chung