1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng nhằm phát triển kinh tế xã hội ở các thành phố du lịch việt nam

53 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng nhằm phát triển kinh tế xã hội ở các thành phố du lịch Việt Nam
Tác giả Hồ Đức Phớc
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý nhà nước, phát triển hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội, thành phố du lịch
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 49,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Việc phát triển cơ sở hạ tầng trong thời gian qua chưa tương xứng với yêu cầuphát triển của các thành phố du lịch vì thế gây nhiều khó khăn trong thu hút đầu tư, công tác quy hoạch đền

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN LÝ NHÀ NƯỚC

TRONG LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ DU LỊCH VIỆT NAM

Hà Nội- 2008

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu

Phần thứ nhất: MỘT SÔ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ SỎ

HẠ TẦNG Ỏ CÁC THÀNH PHỐ DU LỊCH

1.1 Khái niệm và phân lọai cơ sở hạ tầng

1.2 Thành phố du lịch, đặc điểm và vai trò của

cơ sở hạ tầng thành phố du lịch.

Phần thứ hai : SỰ CẦN THIẾT PHẢI HÒAN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ

NƯỚCTRONG LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG NHẰM PHÁT TRIỂN KINHTẾ_XÃ HỘI

2.4 Do yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp CNH,HĐH, bảo vệ môi trường và phát triên mạmh ngành du lịch hiện nay 2.5 Do yêu cầu phải nâng cao hiệu quả và chất lượng CSHT,nhanh chóng khắc phục có hiệu quả tình trạng lảng phí, thất thoát và tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng CSHT ở các thành phố du lịch

2.6 Do yêu cầu nhanh chóng hòan thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ động HNKTQT.

Trang 3

Phần thứ ba: NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ NỘI DUNG HÒAN THIỆN QUẢN LÝ NHA NƯỚCTRONG LĨNH VỰC CƠ SỔ HẠ TẦNG Ỏ CÁC THÀNH PHỐ DU LỊCH 3.1 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ

Trang 4

Thời gian qua, vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng đãđược Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm và đang là hướng ưu tiên của cải cáchquản lý để hoàn thiện Bộ máy quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bảntrong đó có đầu tư cơ sở hạ tầng đã được hình thành từ Trung ương đến cơ sở, sựphối hợp giữa các cơ quan quản lý ngày càng chặt chẽ, hệ thống văn bản pháp lý

để quản lý xây dựng cơ bản ngày càng đầy đủ hơn, hiệu lực và hòan thiện hơn.Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động quản lý Nhà nướctrong lĩnh vực cơ sở hạ tầng còn nhiều vấn đề bất cập, yếu kém cần phải khắcphục, đó là:

- Quản lý nhà nước trong lĩnh vựcc cơ sở hạ tầng thông qua bộ máy hành chínhcòn cồng kềnh kém hiệu quả, gây nhiều thất thoát, lãng phí Chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của các cơ quan này còn chồng chéo, nhân lực vừa thiếu vừa yếu,chưa phát huy tác dụng quản lý một cách hiệu quả cao

- Hệ thống văn bản pháp quy trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực cơ sở hạtầng chưa chặt chẽ, thường xuyên thay đổi trùng lặp mâu thuẫn giữa các văn bảndẫn đến khó thực hiện và do đó hạn chế đến việc phát triển cơ sở hạ tầng và thuhút đầu tư

Trang 5

- Quản lý chương trình dự án còn nhiều bất cập, chưa có quy hoạch tổng thể, dàihạn chủ yếu vẫn chỉ là manh mún, tuỳ tiện.

- Trình độ quản lý của đội ngũ công chức còn nhiều hạn chế kể cả về lý luận cũngnhư thực tiễn quản lý Nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng

- Việc phát triển cơ sở hạ tầng trong thời gian qua chưa tương xứng với yêu cầuphát triển của các thành phố du lịch vì thế gây nhiều khó khăn trong thu hút đầu

tư, công tác quy hoạch đền bù giải phóng mặt bằng, lập dự án, quản lý chất lượngcông trình, giải ngân và thanh quyết toán

Những hạn chế, bất cập nói trên đã và đang đòi hỏi cần được giải quyết vềmặt lý luận quản lý nhà nước lĩnh vực cơ sở hạ tầng nhằmphát triển kinh tế-xãhội ở các thành phố du lịch nước ta trong thời gian tới Đề tài: “ Cơ sở lý luận về

quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng nhằm phát triển kinh tế- xã hội ở các thành phố du lịch Việt Nam”, đựợc chọn làm chuyên đề chuyên sâu cấp tiến

sỹ là nhằm mục đich và ý nghĩa đó

Chuyên đề, ngoài mở đầu và kết luận, về nội dung được chia thành 3 phần: Phần thứ nhất: Một số vấn đề lý luận chung về cơ sở hạ tầng ở các thành phố du

lịch

Phần thứ hai: Sự cần thiết phải hòan thiện quản lý nhà nước trong linh vực cơ sở

hạ tầng nhằm phát triển kinh tế- xã hội ở các thành phố du lịch nước ta

Phần thư ba: Nhân tố ảnh hưởng và nội dung hòan thiện quản lý nhà nước trong

lĩnh vực cơ sở hạ tầng ở các thành phố du lịch

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHUYÊN ĐỀ

Trang 6

Phần thứ nhất

MỘT SÔ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ CƠ SỎ HẠ TẦNG Ỏ CÁC THÀNH PHỐ DU LỊCH

1.1 Khái niệm và phân lọai cơ sở hạ tầng

1.1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng.

Bất cứ quốc gia nào muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội cao vàbền vững, quốc gia đó phải tạo dựng cho mình một cơ sở vật chất nhất địnhtrong đó, có cơ sở hạ tầng tương ứng

Theo từ điển Bách khoa tòan thưViệt Nam- năm 2005, thuật ngữ cơ sở hạ tầng

có nhiều cách gọi như ; kết cấu hạ tầng, cấu trúc hạ tầng, kiến trúc hạ tầng Ởnước ta đã sử dụng thuật ngữ kết cấu hạ tầng Ví dụ: Tại văn kiện Đại hội Đảngtòan quốc lần IX, trong Chiến lược 10 năm 2001-2010 đã viết : “Tiếp tục tăngcường kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình thành một buớc quan trọng thể chếkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Giữ vững ổn định chính trị vàtrật tự an tòan xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, tòan vẹn lãnh thổ và

an ninh quốc gia” [ 20 ;trg 90] , Và Đại hội X, cũng sử dụng thuật ngữ này khi “

cổ vũ nhân dân ta vươn lên với tinh thần tự tôn dân tộc và quyết tâm cao để đưađất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, không chỉ ở mức thu nhập bìnhquân đầu người thấp mà còn ở những lĩnh vực khác như kết cấu hạ tầng kinh tế-

xã hội, chỉ số phát triển con người,…”[ 21 ; trg 24]

Như đã nói ở trên, thuật ngữ này mặc dù có nhiều cách gọi, song theo chúngtôi xét ở góc đô nội dung và cơ cấu về cơ bản giữa các tên gọi đó là giống nhau

Vì vậy, tên gọi trong chuyên đề này được chọn làm đề tài chuyên đề cấp tiến sỹ

là “Cơ sở hạ tầng” Tuy nhiên, về mặt lý luận, chúng tôi đặc biệt lưu ý cần phân

Trang 7

biệt khái niện “cơ sở hạ tầng” trong chuyên đề này với khái niệm “cơ sở kinh tế

hạ tầng” theo nghiã triết học mà CMác đề cập trong lời nói đầu của tác phẩm

“Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” ,với tính cách là hệ thống quan hệsản xuất xã hội làm cơ sở kinh tế hạ tầng để trên đó xây dựng một kiến trúcthượng tầng tương ứng cho một hình tháí kinh tế- xã hội nhất định Vậy cơ sở hạtầng là gì?

Theo Từ điển Bách khoa tòan thư Việt Nam, khái niệm cơ sở hạ tầng là

“tổng thể các ngành vật chất- kỹ thuật, các loại hình họat động phục vụ sản xuất

và đời sống xã hội.” Như vậy cơ sở hạ tầng được hiểu là toàn bộ các côngtrình giao thông vận tải, bưu điện, thông tin liên lạc, dịch vụ xã hội như: Đường

sá, kênh mương dẫn nước, cấp thoát nước, sân bay, nhà ga xe lửa, ô tô, cảngsông, cảng biển, cơ sở năng lượng, hệ thống mạng điện, đường ống dẫn xăng,dầu, dẫn khí ga, hơi đốt, kho tàng, giao thông vận tải, giáo dục phổ thông vàchuyên nghiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi du lịch, vui chơi giảitrí, rác thải môi trường đô thị v v

Tư khái niệm trên, xét về mặt nội dung cơ sở hạ tầng có thể được thể hiệntrên 4 góc độ khác nhau nhưng có quan hệ thống nhất với nhau:

Một là, tiện ích công cộng gồm: năng lượng (điện), viễn thông, nước sạch

cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khi đốt truyền tải qua ống, hệ thống thu gom và

xử lý các chất thải trong thành phố

Hai là, công chính gồm: đường sá, các công trình xây dựng, đập, kênh

phục vụ tưới tiêu

Ba là, giao thông gồm: các trục và tuyến đường bộ, đường sắt chính quy,

đường sắt vận chuyển nhanh, cảng cho tầu và máy bay, đường thuỷ

Bốn là, hạ tầng xã hội gồm: trường học, bệnh viện., thương mại

Trang 8

Tóm lại, cơ sở hạ tầng là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng liên

quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư trong sản xuất và đời sống ; là tiều chuẩn cơ bản là nền tảng liện quan đển trình độ phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nưỡc, mỗi vùng, miền ,thành thị và nông thôn trong từng thời kỳ nhất định.

1.1.2 Phân loại cơ sở hạ tầng

Dựa trên những tiêu chí khác nhau, có thể phân chia cơ sở hạ tầng thànhnhiều loại khác nhau

- Theo tính chất,chức năng phục vụ của các ngành cơ bản, Từ điển

Bách khoa Việt Nam phân cơ sở hạ tầng thành 2 loại: Cơ sở hạ tầng sản xuất (kỹthuật)) bao gồm: đường giao thông vận tải ( đường bộ, đường sắt, đườngthủy,đường hàng không) hồ chứa nước, cảng , cầu ,cống, sân bay, kho tàng,phương tiện vận tải, thông tin bưu điện, các cơ sở sản xuất và cung ứng điệnnước, khí…bảo đảm điều kiện sản xuất của xã hội Và cơ sở hạ tầng xã hội baogồm các cơ sở giáo dục, khoa học, thông tin, bảo vệ sức khoẻ., thể thao thể dụcthương mại ,du lịch v.v

-Theo phạm vi và chức năng mà ngành cơ bản phục vụ có thể phân thành 2loại: Cơ sở hạ tầng đô thị và cơ sở hạ tầng nông thôn

Tương ứng với mỗi loại cơ sở hạ tầng đều có 2 bộ phận CSHT sản xuất vàCSHT xã hội hợp thành

- Theo trình độ, CSHT đô thị có thể phân thành: Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển cao; cơ sở hạ tầng đô thị phát triển trung bình.; cơ sở hạ tầng đô thịphát triển thấp

- Theo quy mô đô thị , CSHT đô thị có thể phân thành: Cơ sở hạ tầng

Trang 9

siêu đô thị; cơ sở hạ tầng đô thị lớn; cơ sở hạ tầng đô thị trung bình; cơ sở hạ tầng

đô thị nhỏ

Tuy vậy, trong số các tiêu chí được đưa ra để phân loại như trên, và xuấtphát từ đối tượng nghiên cứu của chuên đề này,theo chúng tôi cách phân loại căn

cứ vào tính chất ngành, trình độ và phạm vi phục vụ là thông dụng nhất và có ýnghĩa nhiều nhất đối với quản lý nhà nước trong công tác quy hoạch và phát triểnCSHT đô thị Vì vậy, cần đi sâu và kết hợp 3 tiêu chí phân loại này để nhận dạng

và phân tích về lý luận

Thứ nhất, cơ sở hạ tầng sản xuất ( kỹ thuật) đô thị

Đây là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển của cácngành, các lĩnh vực kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, bao gồm tiện ích côngcộng, công chính, giao thông Cụ thể là: hệ thống giao thông vận tải, cầu cống,sân bay, bến cảng Hệ thống cung ứng vật tư kỹ thuật nguyên, nhiên liệu phục

vụ sản xuất và đời sống Mạng lưới vận tải và phân phối năng lượng (bao gồmcác trạm biến áp trung chuyển, hạ thế, các thiết bị an toàn và bảo vệ) Hệ thốngthiết bị công trình và phương tiện thông tin liên lạc, bưu điện, lưu trữ và xử lýthông tin; Hệ thống thuỷ lợi, thuỷ nông phục vụ việc tưới tiêu và phục vụ chochăn nuôi; Cơ sở hạ tầng môi trường phục vụ cho việc bảo vệ, giữ gìn và cải tạomôi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người Hệ thốngnày thường bao gồm các công trình chống thiên tai; các công trình bảo vệ đấtrừng, biển và các tài nguyên khác; nhà xưởng, kho bãi, trụ sở làm việc… ,hệthống cung cấp, xử lý và tiêu nước sinh hoạt; hệ thống xử lý rác thải công nghiệp

Thứ hai, cơ sở hạ tầng đô thị xã hội

Đó là toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho các hoạt độngvăn hoá xã hội, bảo đảm cho việc thoả mãn và nâng cao trình độ lao động của xã

Trang 10

hội, hệ thống này bao gồm: các cơ sở thiết bị và công trình phục vụ cho giáo dục

và đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và triển khai công nghệ; Các cơ sở y

tế, bảo vệ sức khoẻ, bảo hiểm xã hội, ăn ,ở ,nghỉ ngơi và các công trình phục vụhoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao

1.2 Thành phố du lịch, đặc điểm và vai trò của cơ sở hạ tầng thành phố du lịch.

1.2.1 - Thành phố du lịch

Chuyên đề tiếp cận kháí niệm thành phố du lịch cần đi từ các khái niệm thànhphố, khái niệm đô thị, du lịch và điểm du lịch

-Theo Từ điển Bách khoa tòan thư Việt nam, Thành phố là “đơn vị hành

chính, điểm quần cư đô thị có số dân tương đối lớn,tỷ lệ dân số sản xuất phi nôngnghiệp cao,là trung tâm công nghiệp thương mại dịch vụ ,văn hóa, khoa học côngnghệ của một vùng, một địa phương Thành phố có quần thể kiến trúc tồng hợp,đồng bộ, kiên cố, giao thông liên lạc thuận lợi, có nhiều thiết bị kỹthuật phục vutốt lối sống tập trung với mật độ dân cao Thông thường số dân của thành phố từ

hàng chục nghìn đến hàng triệu dân.” - Đô thị hóa: Để trở thành các thành phố,

tất yếu phải đô thị hóa Đô thị hóa là quá trình biến đổi về phân bố các lực lượngsản xuất, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị trở thành đô thị Tiền đề cơbản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vu…,thu hútnhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống làm việc, làm cho tỷ trọng dân cư ởcác đô thị tăng nhanh

-Du lịch, một khái niệm mà trên thế giới và trong nước có nhiều cách định

nghĩa, điều dó cũng là bình thường và đễ hiểu Vì mọi sự vật và hiện tượng, dulịch cũng vậy luôn biến đổi và phát triển; hơn nữa nhận thức của xã hội về du lịch

là một quá trình đi tư thấp đến cao, tất yếu nhận thức có những chổ giống và khác

Trang 11

nhau để đi đến chân lý Theo chúng tôi khi thu nhập và đời sống xã hội gia tăng,lại diễn ra trong điều kiện kinh tế thị trường và HNKTQT việc tiếp cận kháiniệm du lịch theo 2 nghĩa như trong Từ điển Bách khoa tòan thư Việt Nam là có

thể chấp nhân được Du lịch theo nghĩa thứ nhất, là “ một dạng nghỉ dưởng sức

tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích; nghỉ ngơI, giảItrí,xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ

thuậtv.v.Theo nghĩa thứ hai, du lịch được coi là “một ngành kinh doanh tổng hợp

có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch

sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối vớingười nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch làlĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩuhàng hóa và dịch vụ tại chổ” [ Sách đã dẫn Tập 1, năm 1996 ]

- Điểm du lịch, theo nghĩa rộng và chung nhất là những chổ hoặc cơ sở mà

khách du lịch hướng đến và lưu trú, điểm du lịch có thể là những chổ không códân cư Theo nghĩa hẹp trong kinh tế du lịch là một nơi, một vùng một địaphương hay một nước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với dân ngoài địa phương và

có những thay đổi nhất định trong kinh tế do họat động du lịch gây nên Theonghiã này, điểm du lịch có thể là điểm có quy mô lớn hay nhỏ có tài nguyên dulịch (tài nguyên tự nhiên, nhân văn…) và du lịch đã phát triển Cần phân biệt khániệm điểm du lịch với điểm tài nguyên, Điểm tài nguyên là điểm mà ở đó cónhiều tài nguyên du lịch nhưng chưa được tổ chức khai thác và sử dụng trong dulịch Điểm du lịch là điểm tài nguyên du lịch đã được tổ chức khai thác và sửdụng trong thực tiễn du lịch

Từ các khái niệm trên, chúng tôi đưa ra quan niệm: Thành phố du lịch là

đơn vị hành chính, quần cư đô thi có dân số tương đối lớn; là trung tâm công

Trang 12

nghiệp, thương mại dịch vụ, văn hóa, khoa học công nghệ của một địa phương;

có quần thể kiến trúc tồng hợp, đồng bộ, kiên cố, giao thông liên lạc thuận lợi,

có nhiều thiết bị kỹ thuật phục vụ tốt lối sống tập trung với mật độ dân cao; có tiềm năng du lịch được hội tụ bởi nhiều điểm du lịch có sức hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế đem lại hiệu quả kinh tế, văn hóa, xã hội cao.

1.2.2 Đặc điểm của cơ sở hạ tâng thành phố du lịch

Với tư cách là một phạm trù thuộc về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầngnói chung và CSHT thành phố du lịch nói riêng là những cơ sở vật chất có mốiquan hệ với nhau theo cấu trúc nhất định Sản phẩm của nó thuộc loại hình dịch

vụ công cộng ,có những đặc điểm chủ yếu như sau:

- Cơ sở hạ tầng của thành phố du lịch thuộc loại dịch vụ công cộng, song vì dịch vụ là hàng hóa nên sản phẩm của cơ sở hạ tầng cũng là hàng hoá công cộng,

Dịch vụ công cộng là một bộ phận của dịch vụ công Nó là tổng thể các

hoạt động phục vụ các lợi ích chung tối cần thiết của cả cộng đồng, do Nhà nướctrực tiếp đảm nhận hay uỷ nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằmbảo đảm trật tự và công bằng xã hội Dịch vụ công cộng nhằm thoả mãn các nhucầu thiết yếu và quyền cơ bản của người dân trong việc hưởng thụ các của cải vậtchất và của cải tinh thần của xã hội

Xét trên giác độ kinh tế học, dịch vụ công cộng là các hoạt động cung ứngcho xã hội những hàng hoá công cộng (public goods), bao gồm hàng hoá côngcộng thuần tuý và hàng hoá công cộng không thuần tuý Hàng hoá công cộngthuần tuý là loại hàng hoá mà khi nó được tạo ra thì khó có thể loại trừ ai ra khỏiviệc sử dụng nó ;và việc tiêu dùng của mỗi người không làm giảm lượng tiêudùng của người khác Hàng hoá công cộng không thuần tuý là những hàng hoáthoả mãn một trong hai đặc trưng trên Dịch vụ công cộng là những hoạt động

Trang 13

cung ứng các hàng hoá công cộng thuần tuý và không thuần tuý, bao gồm cảnhững hàng hoá công cộng có tính cá nhân thiết yếu được nhà nước bảo đảmcung ứng như điện, nước sinh hoạt…

Với tư cách là hàng hóa công cộng mà nhà nước có chức năng cung ứngđược sử dụng mang tính chung, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao mà trong

đó ngành du lịch có tỷ trọng đóng góp đáng kể trong GDP và nguồn thu của ngânsách tỉnh, thành phố du lịch

- Cơ sở hạ tầng của thành phố du lịch mang tính vùng và lãnh thổ Việc xây

dựng và phát trỉên cơ sở hạ tầng đòi hỏi phải xem xét tới các yếu tố địa lý, địa hình

và sự phát triển kinh tế - xã hội, sao cho hình thành, quy mô xây dựng phù hợp vớiphong tục tập quán văn hoá, kiến trúc của cộng đồng dân cư trong vùng Cơ sở hạtầng vừa phản ánh yếu tố kinh tế kỹ thuật, vừa phản ánh kiến trúc văn hoá địaphương Như vậy việc xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị phải thoả mãn nhu cầu vậtchất và tinh thần của con người tạo ra tâm lý lao động và yêu quê hương mình

- Cơ sở hạ tầng của thành phố du lịch có tính thích ứng trong một khoảng thời

gian dài, vì vậy phải có chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng thích hợp ngay từ đầu.

Nghĩa là cơ sở hạ tầng không những đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà cả trongtương lai Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch phải được xem xét trong mối quan hệ biếnchứng với các ngành khác và tổng thể kinh tế xã hội trong khu vực mà nó phục vụ

- Mật độ và chất lượng cơ sở hạ tầng nhiều và có trình độ cao

Sở dĩ như vậy bởi lẽ, các đô thị thường có quy mô dân số và mật độ dân sốcao Vì thế để tạo nên một điểm đến an toàn và hấp dẫn thì mật độ của các côngtrình như khách sạn, nhà hàng, các công trình nhằm đáp ứng các nhu cầu văn hoá,vui chơi, giải trí, đi lại, an ninh lại phải ở mức cao hơn so với các đô thị bìnhthường Các hoạt động dịch vụ phải đạt đến mức độ tiện ích, văn minh, hoàn hảo

Trang 14

Hệ số khai thác, sử dụng của các công trình du lịch có thể phải theo thời vụ

Vì vậy đòi hỏi các cơ quan quản lý Nhà nước ở các đô thị du lịch phải có quyhoạch, quản lý vừa chặt chẽ, vừa năng động để phát huy tính hiệu quả, tính kinh

tế của các công trình Các công tác bảo trì, bảo dưỡng và nâng cấp phải được tiếnhành thường xuyên song lại phải đúng thời điểm

1.2.3 Vai trò quan trọng đặc biệt của cơ sở hạ tầng

Thứ nhất: Giữ vai trò là nền tảng vật chất- kỹ thuật đối với sự phát triển kinh

tế - xã hội nói chung và các thành phố du lịch nói riêng

Như đã phân tích ở 1.1.2.1.Thành phố du lịch là điểm tập trung dân cư vớimật độ cao, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp làtrung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vài trò thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã họi của cả nước, của một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hay mộtvùng trong tỉnh, trong huyện Như vậy, trong các tiêu chí của thành phố, cơ sở hạtầng là một tiêu chí quan trọng đặc biệt Nó phản ánh trình độ phát triển, mức tiệnnghi sinh hoạt của người dân đô thị và được xác định theo các tiêu chí cơ bản nhưchỉ tiêu cấp nước sinh hoạt, mật độ đường phố, đặc điểm hệ thống giao thông, tỷ

lệ tầng cao trung bình trong thành phố

Hơn thế nữa, cơ sở hạ tầng thành phố du lịch còn phản ánh trình độ pháttriển cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Sở dĩ như vậy vì đô thị là trung tâmkinh tế, chính trị, văn hoá của một nước, một vũng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện,

có vai trò chủ đạo trong sự phát triển Vì thế việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật

đô thị luôn được ưu tiên phát triển, điều đó làm cho cơ sở vật chất kỹ thuật củacác đô thị thường ở trình độ cao hơn so với các vùng nông thôn

Sự phát triển các ngành trong phạm vi cơ sở hạ tầng đô thị có ảnh hưởngtrực tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất xã hội, dịch vụ xã hội và việc nâng

Trang 15

cao hiệu quả của nó Hiện nay cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, xuhướng đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ thì vai trò của cơ sở hạ tầng đô thị khôngngừng tăng lên Nó trở thành một trong những nhân tố quyết định cho sự hoạtđộng, vận hành của thành phố với tính cách là một đô thị có trình độ phát triểnkinh tế- xội cao so với các vùng miền khác.

Thứ hai:Tạo điều kiện tiền đề vật chất cho mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Hiện nay, để đáp ứng các nhu cầu về hội nhập kinh tế và giao lưu quốc tế, cáchình thức mới về giao thông vận tải và thông tin liên lạc xuất hiện và phát triểnkhông những trong khuôn khổ từng nước, mà còn trên phạm vi quốc tế Do đó,hình thành cơ sở hạ tầng vật chất phải có sự hợp tác quốc tế mới, trước hết làtoàn bộ hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc nhằm phục vụ cho hệthống kinh tế đối ngoại, cũng như các công trình và đối tượng phối hợp với nhau,đảm bảo cho việc bảo vệ môi trường xung quanh, sử dụng hợp lý các nguồn nước

và các nguồn tài nguyên khác, đảm bảo thông tin liên lạc của các cơ quan khítượng thuỷ văn, quản lý nhà nước, các cơ quan phục vụ xã hội và an ninh quốcphòng, nhằm mục đích phát triển dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủvăn minh

Đối với các đô thị du lịch, muốn thu hút được nhiều khách tham quan cầnthiết phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ và ngày càng văn minh, hiệnđại Những tiện ích công cộng như năng lượng viễn thống nước sạch cung cấpqua hệ thống ống dẫn, khi đốt truyền tải qua ống đựơc cung cấp đầy đủ; hệ thốngcông trình như đường sá, xây dựng, đập, kênh phục vụ tưới tiêu, đảm bảo hoạtđộng tốt; hệ thống giao thông các trụ và tuyến đường bộ, đường sắt chuẩn, đườngsắt vận chuyển nhanh, hệ thống cảng cho tầu và máy bay, tầu thuỷ hoạt động

Trang 16

thuận lợi; hệ thống thu gom và xử lý các chất thải trong thành phố hoạt động liêntục đảm bảo môi trường trong lành, các điểm vui chơi giải trí như công viên, rạp hát,sân thể thao tất cả những điều đó một mặt làm cho đô thị du lịch phát triển, mặtkhác sẽ là điều kiện hàng đầu thu hút khách tới tham quan, nghỉ ngơi.

Phần thứ hai

SỰ CẦN THIẾT PHẢI HÒAN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚCTRONG

LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ_XÃ HỘI

Trong lịch sử, Nhà nước xuất hiện và tồn tại từ đầu xã hội Chiếm hữu Nô

lệ, đến xã hội Phong kiến, xã hội Tư bản và xã hội XHCN cho đến nay Bất cứnhà nước nào cũng có vai trò cai trị quản lý xã hội Tuy nhiên, vai trò quản lýtrực tiếp và gián tiếp về kinh tế đối với xã hội không phải hòan tòan giống nhaugiữa các chế độ xã hội và giữa các thời kỳ Lô gíc và lịch sử cho thấy ở các thời

kỳ khác nhau tư tưởng và quan điểm về vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước có

sự khác nhau nhất định Tư tưởng và quan điểm đó đã đựơc các nhà kinh tế đềcập đí từ thấp đến cao từ chổ chưa hòan thiện đến hoàn thiện Trong các tư tưởng

và quan điểm về về vai trò quản lý nhà nước, đáng chú ý là tư tưởng và quanđiêm của các nhà Kinh tế trọng thương; Kinh tế chinh trị tư sản cổ điển; Kinh têchính trị Mác-Lênin, các nhà Kinh tế học hiện đại

Trang 17

- Như đã biết, để tích lũy tiền tệ cho sự ra đời của phương thức sản xuất tư

bản chủ nghĩa, trong buổi đầu giai cấp tư sản và theo đó các nhà kinh tế trọng

thương của giai cấp này đã đưa ra cái mà Mác gọi là “ Tích lũy nguyên thủy tư

bản”, nhấn mạnh vào vai trò của thương mại, coi ngoại thương là “máy bơm” vànội thương là “ống dẫn” để tích lũy tiền tệ dựa trên nguyên tắc “ để minh có lợi

ắt phải làm cho lợi ích người khác bị thiệt” và sự phản kháng của người bi thiệt,được Nhà nước sử dụng vai trò can thiệp của mình -vai trò “bà đỡ” cho xã hội cũthai nghén xã hội mới- xã hội tư bản - bất chấp quy luật kinh tế Như vậy lần đầutiên trong lịch sử Nhà nước tư sản trong buổi bình minh của nó đã thực hiện vaitrò can thiệp của Nhà nước về kinh tế Song rất tiếc là lý thuyết về sự can thiêpnày của Nhà nước tư sản không dựa trên các quy luật kinh tế khách quan mà dựatrên “bạo lực tuớt đọat”, nên nó không được coi là lý thuyết có tính phổ biến.Chính vì thế mà các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh ( Pétty, A đSmít và

Dv Ricảrdo ) đã kịch liệt phế phán

- A.Smith - nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh, với lý thuyết “ Bàn tay vô

hình” Xuất phát từ nhân tố “Con người kinh tế” ông cho rằng xã hội là một liên

minh trao đổi, thiên hướng trao đổi là đặc tính vốn có của con người, nó tồn tạivĩnh viễn, cũng như chính con người Trong khi trao đổi sản phẩm và lao độngcho nhau, phục vụ lẫn nhau thì con người bị chi phối bởi lợi ích cá nhân Mỗingười chỉ biết tư lợi, chỉ thấy tư lợi, làm theo tư lợi Song, khi chạy theo tư lợi,

thì có một “Bàn tay vô hình” buộc các “kinh tế nhân” đồng thời thực hiện một

nhiệm vụ không nằm trong dự kiến, là đáp ứng lợi ích xã hội và đôi khi, họ còn

đáp ứng lợi ích xã hội tốt hơn, ngay cả khi họ có ý định làm điều đó “Bàn tay vô

hình” đó chính là các quy luật kinh tế khách quan tự phát hoạt động, chi phối

hành động của con người, ông gọi hệ thống các quy luật kinh tế khách quan đó là

Trang 18

“trật tự tự nhiên” Ông chỉ ra các điều kiện cần thiết để cho các quy luật kinh tế

khách quan hoạt động là: phải có sự tồn tại và phát triển trên cơ sở tự do kinh tế,

tự do mậu dịch Ông đánh giá rất cao vai trò của “Bàn tay vô hình”- vai trò của

“Tự do kinh tế “, phản đối sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế bất chấp cácquy luật kinh tế khách quan của trật tự tự nhiên

- Quan điểm của Mác và Lê nin về vai trò nhà nước

Theo quan điểm duy vật lịch sử, nhà nước là bộ phận của kiến trúc thượngtầng, có mối quan hệ với cơ sở kinh tế và được xây dựng trên cơ sở kinh tế nhấtđịnh, phản ảnh một trình độ kinh tế nhất định Song nhà nước không chỉ là sựphản ảnh mang tính thụ động mà có tác động trở lại đối với cơ sở kinh tế, thúcđẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của cơ sở kinh tế

Theo Mác mỗi hình thái kinh tế-xã hội có một kiểu nhà nước và pháp luậttương ứng Vì vậy khi nghiên cứu Nhà nước phải xuất phát trừ quan điểm lịch sửphù hợp với sự phát triển của cơ sở kinh tê, gắn với yêu cầu của quy luật về sựphù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để xem xét và giải thích vaitrò nhà nước trong tiến trình phát triển lịch sử nhà nước Mác và Âng ghen có

nhận xét xác đáng rằng, nếu như trong giai đọan chủ nghĩa tư bản tự do cạnh

tranh, nền kinh tế thị trường còn ở trình độ phát triển chưa cao, cơ chế cạnh tranh

cung cầu và giá cả thị trường tự nó tạo nên “vẻ đẹp” cho quy luật giá trị - tạo nên

cơ chế thị trường (theo cách nói của kinh tế học hiện đại)– tự nó điều tiết lấy nó hay“bàn tay vô hình” theo cách nói của A,đSmít , mà chưa cần có sự can thiệp

-của vai trò nhà nước- nên lúc này Nhà nước còn ở bên ngoài bên trên quá trình

kinh tế.

Khi CNTB chuyển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh lên giai đọan cao- giaiđọan chủ nghĩa tư bản độc quyền hay chủ nghĩa đế quốc và theo đó là cách mạng

Trang 19

vô sản, VI Lênin là người đã phát triển học thuyết của Mác-PhĂng ghen về Nhà

nước vào thực tiễn cách mạng nước Nga năm 1917, gắn với tác phẩm nỏi tiếngcủa nguời là “Nhà nước và cách mạng” VI Lênin đã tìm ra hình thức nhà nướcđầu tiên phù hợp với nước Nga lúc bấy giờ là Công hòa Xô Viết, đã khởi thảonhững vấn đề liên quan đến tổ chức và họat động của Nhà nước Xô Viết- Nhànước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới Trong tác phẩm” Những nhiệm

vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết”, V.I Lênin đả trình bày khá rõ những luậnđiểm cơ bản về củng cố, xây d\ựng Nhà nước kiểu mới từ nguyên tắc tổ chức,

họat động và quản lý đến đào tạo bồi dưỡng cán bộ cho bộ máy nhà nước

-Quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại

P.Samuelson với lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp được coi là tư tưởng trung tâmcủa kinh tế học trường phái chính Theo Paul A.Samuelson , nếu các nhà kinh tếkinh tế học cổ điển và cổ điển mới say sưa với”bàn tay vô hình” và “thăng bằngtổng quát”, trường phái Keynes và Keynes mới say sưa với “bàn tay nhà nước”,thì Paul A.Samuelson lại chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả “hai bàntay” là cơ chế thị trương và nhà nước , Cơ chế thị trường– “Bàn tay vô hình”-mặc dù có nhiều ưu điểm song do tính tự phát của nó, nên không tránh đượcnhững khuyết tật dẫn đến làm cho thị trường có lúc bị thất bại Để khắc phục cầnphải có sự quản lý vĩ mô của Chính phủ-phải có “Bàn tay hữu hình” tham giađiều tiết Theo ông , vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường hiện đại

có 4 chức năng chính: (1)Thiết lập khuôn khổ luật pháp; (2) sửa chữa những thấtbại của thị trường để thị trường họat động có hiệu quả (do đầu cơ tích trữ dẫn đếnđộc quyền, tác động bên ngoài,đảm nhận sản xuất các hàng hóa công cộng, thuếkhóa- nguồn thi và chi của Chính phủ.);(3) đảm bảo sự công bằng; (4) ổn địnhkinh tế vĩ mô (suy thóai, khủng hỏang, lạm phát , thất nghiệp )

Trang 20

2.2 Do yêu cầu thực hiện việc sản xuất và cung ứng hàng hóa công cộng công cho dân cư của Nhà nước

Khi đưa lý thuyết về bàn tay vô hình, A.Smith không hoàn toàn phủ nhậnvai trò của nhà nước đối với xã hội, nhưng theo ông nhà nước là người đại diệncho xã hội do đó chỉ nên can thiệp vào những việc có tính xã hội-tính cộng đồng.Đoạn trích dưới đây thể hiện rõ quan điểm của A.Smith về vai trò của nhà nướctrong việc can tiệp về mặt xã hội.“Căn cứ theo hệ thống tự nhiên, Nhà nước chỉ

có ba nhiệm vụ phải chăm lo> Ba nhiệm vụ này hết sức quan trọng, thật rõ ràng

và dễ hiểu đối với nhận thức phổ thông: thứ nhất, nhiệm vụ bảo vệ xã hội thoát khỏi bạo lực và sự xâm lược của các xã hội độc lập khác, thứ hai nhiệm vụ bảo

vệ mọi thanh viên trong xã hội thoát khỏi sự bất công, hay nhiệm vụ thiết lập sự

thi hành công lý chính xác, và thứ ba nhiệm vụ xây dựng và duy trì những công

việc công cộng nhất định và những đính chế công cộng nhất định mà không baogiờ được xây dựng và duy trì vì lợi ích của một cá nhân hay của một số ít cá nhânbất kỳ, bởi vì đối với một cá nhân, hay một số ít cá nhân nào đó, lợi nhuận khôngbao giờ có thể bồi hoàn được cho các chi phí, nhưng đối với toàn thể xã hội thì lợiích đó thường có giá trị lớn lao hơn nhiều so với chi phí”

Như vậy, theo A Smith, trong điều kiện kinh doanh bình thường có thể đểcho “Bàn tay vô hình” hay các quy luật khách quan tự phát chi phối song đối với

“các công việc công cộng” hay “Những định chế công cộng”gắn với hàng hoácông cộng thì không thể thiếu đươc vai trò của nhà nước

Khi nói về chức năng của nhà nước đối với xã hội, các nha kinh điển củachủ nghĩa Mác-Lênin rất coi trọng vai trò cung ứng dịch vụ công cộng cho cácthành viên trong xã hội

Trang 21

Trong giáo trình kinh tế học công cộng, khi đề cập đến việc sản xuất vàcung cấp hàng hóa công cộng, các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng: Các doanhnghiệp tự nhân được kích thích bởi lợi nhuận và vì thế mọi thứ họ cung cấp phảiđược tính một mức giá đủ để bù đắp chi phí cùng với một khoản lợi nhuận hợp

lý Tuy nhiên, có một loại hàng hoá đặc biệt – hàng hoá công cộng – mà khicung cấp những hàng hoá này, các nhà cung cấp không thể nhận được từ ngườitiêu dùng tiền trả cho hàng hoá đó, hoặc nhận được một cách không như mongđợi Khu vực tư nhân không cung ứng những hàng hoá này, hoặc nếu có họthường tính mức giá cao, hoặc cung ứng một số lượng quá ít không thể thoả mãnnhu cầu

Sự thât bại của thị trường trong việc cung cấp hàng hoá công cộng xuấtphát từ hai đặc điểm then chốt của hàng hóa công cộng “tính không loại trừ” và

“tính không tranh giành”

-Về tính không loại trừ: Thông thường hàng hoá cá nhân, những hàng hoá

mà thị trường có xu hứơng cung ứng đầy đủ, thì có tính loại trừ Nghĩa là, nếungười tiêu dùng không trả tiền cho món hàng này thì họ sẽ bị loại trừ ra khỏi việctiều dùng hàng hoá đó Tuy nhiên, những hàng hoá công cộng lại rất khó hoặckhông thể loại việc tiêu dùng, ngay cả khi người tiêu dùng không chịu trả chi phícung ứng món hàng Ví dụ: đường sá, thật khó mà có thể thu hồi được tất cả chiphí xây dựng đường từ những người đi đường (mặc dù có một số con đường cóthu lệ phí), mặt khác cũng khó có thể loại trừ được những người không nộp lệ phíđường đi trên tất cả các con đường Do đó thị trường sẽ không cung cấp nhữnghàng hoá này, cho dù lợi tích xã hội có thể vượt chi phí xã hội Vì vậy Nhà nước

sẽ phải đóng vai trò cung cấp những hàng hoá công cộng

Trang 22

- Về tính không tranh giành: Hàng hoá cá nhân là những hàng hoá tranhgiành, tức là việc tiêu dùng của người này sẽ loại trừ việc tiêu dùng của người kia

vì vậy chi phí tiều dùng cận biên cao Tuy nhiên, những hàng hoá công cộng lại

có chi phí tiêu dùng cận biên rất thấp, hoặc bằng 0 Người ta không thể trôngmong thị trường, hay thông qua hệ thống giá để phân bổ những mặt hàng có tínhkhông tranh giành trong việc tiêu dùng Nếu để cho thị trường vận hành, số lượnghàng hoá công cộng sẽ ít hơn số lượng tối ưu Do tình trạng khó thu phí hoặc dokhông muốn tính chi phí cho việc sử dụng hàng hoá công cộng nên nhà nướcdùng ngân sách để tài trợ cho việc cung cấp hàng hoá công cộng Chúng ta biếtrằng, để trở thành một đô thị, việc xây dựng cơ sở hạ tầng phải theo một quy hoạch.,

kế hoạch định trước Không thể để cho tình trạng tự do vô chính phủ trong việc xâydựng nhà cửa, đường sá, cầu cống, điện nước trong một đô thị Bởi lẽ để cho tự doxây dựng không thể theo một quy hoạch kế hoạch, một sự tính toán chung thốngnhất từ trước, sẽ không thể có một đô thị hiện đại Kinh nghiệm các nước đã chỉ rõđiều này Hầu hết các đô thị lớn đều phải được xây dựng theo một quy hoạch, kếhoạch dự tính chung Người đảm nhận việc quy hoạch này chỉ có thể là nhà nước

2.3 Do yêu cầu cuộc cải cách hành chính công theo hướng xã hội hóa và đa dạng hóa việc cung ứng dịch vụ công cộng đối với CSHT các thành phố du lịch.

Như đã biết CSHT thuộc loại hình dịch vụ công cộng hàng hóa công cộng

-do nhà nước cung ứng và thực hiện quản lý trực tiếp lĩnh vực CSHT– quản lý

sản xuất và cung ứng Nhưng trong điều kiện KTTT và theo kinh nghiệm quốc tế

về cải cách dịch vụ công cộng, bên cạnh chức năng nhà nước quản lý trực tiếpcòn có chức năng quan lý vĩ mô, khi tư nhân và các tố chức xã hội khác đảmnhận việc cung ứng một phần CSHT thuộc loại hình dịch vụ công cộng Trongbối cảnh đó, việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực CSHT theo kiểu cũ cần được

Trang 23

đổi mới đê hòan thiện Hơn nửa thiện quản lý nhà nước theo hướng xã hội hóa và

đa dạng hóa nói trên còn phù hợp với cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần và chủtương cải cách nền hành chính công với khả năng hạn hẹp của ngân sách nhànước ở các nước đang phát triển trong đó có nước ta hiện nay ( Sẽ được trìnhbày đầy đu hơn ở tiểu tiết 1.2.3- nội dung hòan thiện quản lý nhà nước lĩnh vựcCSHT của chương này và phương hướng và giải pháp hòan thiện ở chương 3).Xất phát từ vai trò nền tảng vật chất của CSHT, việc hòan thiện quản lý và

sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư xây dựng CSHT chính là để tạo điều kiện thúcđẩy tăng trưởng phát triển kinh tế xã hội và ngược lại, quản lý kém hiệu quả,hiệulực của nhà nước lĩnh vực đầu tư xây dựng CSHT sẽ là mặt đối lập với tiết kiệm

và đầu tư, cản trở tăng tưởng và phát tiển kinh tế -xã hội

Trong đầu tư xây dựng CSHT, mọi việc làm tăng chi phí đầu tư so với mứccần thiết dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư được coi là sự lãng phi, thất thoátvốn và đều làm cho nhịp độ và chất lượng của tăng trưởng và phát triển kinh tế-

xã hội.suy giảm Cần ý thức rằng đầu tư nói chung và đầu tư xây dựng CSHT nóiriêng tác động đến tổng tổng cung và tổng cầu của xã hội Đầu tư thường chiếm

tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế Đầu tư tăng làm cho tổng cầutăng theo Chính vì thế mà Chính phủ thường sư dụng đầu tư làm một trong biệnpháp kích cầu Tổng cầu, tổng cung tăng sẽ kéo theo sản lượng cân bằng của nềnkinh tế tăng Do đó, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng (GDP tăng) Đầu tư tăngthúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, giảm tỉ lệ thất nghiệp Tuy nhiên, cần phải lưu ý

là nếu đầu tư tăng quá cao làm tăng tổng cầu, trong khi tổng cung chưa kịp tănglên, sẽ kéo theo giá cả tăng, lạm phát cao, ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triểnnền kinh tế và đời sống của nhân dân- một hiện tượng đầu tư tăng trưởng “nóng

và chưa bền vững” đang xuất hiện ở nước ta hiện nay cần được tính đến Khi đầu

tư có kết quả sẽ làm tăng năng lực sản xuất, dịch vụ, do đó, làm tăng tổng cung

Trang 24

tê-xã hội trong nền kinh tế quốc dân,đó là một mặt Mặt khác, khi mức tăngtrưởng không đổi, nếu việc quản lý và sử dụng kết quả của tăng trưởng không tốt

sẽ kìm hảm phát triển sản xuất, chậm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngCNH,HĐH gắn với kinh tế tri thức; việc làm, thu nhập giảm, tỷ lệ thất nghiệp giatăng và đời sống nhân dân chậm được cải thiện, công bằng xã hội dễ bi doãn ra,

xã hội kém ổn dịnh, làm suy giảm tính ưu việt của thể chế XHCN mà nước tađang hướng tới Trong tiến trình CNH,HĐH, việc tạo vốn đầu tư xay dựng bằngnhiều nguồn trong đó nguồn vốn đầu tư xây dựng CSHT chiếm tỷ trọng lớn,muốn lựa chọn CNH,HĐH theo con đường phát triển rút ngắn, đòi hỏi phải ứngdụng ngày càng nhiều thiết bị kỹ thuật và công nghệ theo hướng hiện đại và phùhợp với nó là phải là một CSHT kinh tế và xã hội theo hướng hiện đại Cả 2 nộidung này đều cần nhiều đến vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và vốn đầu tưxây dựng CSHT nói riêng, nhất là vốn đầu tư tư nguồn vốn của ngân sách nhànước Đặc điểm của lọai vốn này có độ rủi ro lớn, chi không hoàn lại nên dễ dẫnđến lãng phi và thất thoát lớn, đó là một mặt Mặt khác, tạo vốn đẫ khó song việcquản lý và sử dụng vốn có hiệu quả là điều kiện có ý nghĩa quyết định đến nhịp

độ phát triển và sự thành công của CNH,HĐH, tăng trưởng và phát triển kinh

tế-xã hội trong các ngành của nền kinh tế quốc dân, trong đó có ngành du lịch –ngành “kinh tế mũi nhọn”hay ngành “công nghiệp không khói” như người tathường gọi - bởi hiệu ích đóng góp của nó trong GDP và trong ngân sách nhànước

Hòan tiện quản lý nhà nước đtrong lĩnh vực CSHT còn do yêu cầu của bảo vệtài nguyên môi trường trong quy hoạch xây dựng đô thị đòi hỏi có sự tham giacủa nhà nước Chúng ta biết rằng, quá trình phát triển chính là quá trình sử dụngtài nguyên và nguồn lực xã hội Nếu việc sử dụng tài nguyên và nguồn lực khôngđựơc kiểm soát chặt chẽ sẽ gây những tác hại môi trường, làm suy giảm nguồn tài

Trang 25

nguyên, môi trường ô nhiễm Đối với các đô thị du lịch điều này càng rõ Nếukhông có sự kiểm soát của một lực lượng nhân danh xã hội, việc sử dụng bừa bãinguồn tài nguyên sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái môi trường đô thị Để khắc phụctình trạng này, đòi hỏi nhà nước phải có sự can thiệp, thông các các quy định, hạnché có tính chất bắt buộc mọi người sử dụng nguồn lực phải tuân thủ.

Như vậy, việc quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng đô thị một cách khoa học

và hợp lý có một ý nghĩa đảm bảo quan trọng cho sự phát triển đô thị Vì cơ sở hạtầng là nền tảng đảm bảo sự phát triển bền vững của cả một hệ thống đô thị quốcgia nói riêng và sự phát triển bền vững của một quốc gia nói chung Một quốc giagiàu mạnh, hiện đại và văn minh phải có một cơ sở hạ tầng đô thị vững mạnh,tiện lợi, hiện đại và đầy đủ Do đặc điểm của việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,

do yêu cầu của quá trình xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng đô thị, đòi hỏi phảităng cường vai trò quản lý của nhà nước Vì thế, vai trò nhà nước trong pháttriển cơ sở hạ tầng đô thị là một tất yếu đối với mọi đô thị nói chung, đối với đôthị du lịch nói riêng

2.5 Do yêu cầu phải nâng cao hiệu quả và chất lượng CSHT,nhanh chóng khắc phục có hiệu quả tình trạng lảng phí, thất thoát và tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng CSHT ở các thành phố du lịch

Theo tư duy và cách quản lý nhà nước lĩnh vực CSHT gắn liền với vốn đầu

tư từ ngân sách nhà nước theo kiểu cũ đã làm cho việc sử dụng nguồn vốn NSNNtrong đầu tư CSHT đạt hiệu quả chưa cao, hai căn bệnh lãng phí và thất thoát vốnmang tính phổ biến thường xãy ra Vì vậy, đổi mới đê hòan thiện quản lý nhànước đối với CSHT từ nguồn vốn NSNN là vô cùng quan trọng và không thểthiếu được Như đã biết hiệu quả vốn đầu tư CSHT thể hiện cuối cùng ở kết quả

Trang 26

TỔN THẤT NGUỒN VỐN NHÀ NƯỚC

gắn liền với năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư CSHT Trongnhững năm qua, nguồn vốn đầu tư - phát triển của Nhà nước ngày càng tăng, đẫgóp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,HĐH, pháttriển CSHT kinh tế, xã hội, tăng đáng kể năng lực sản xuất mới, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm mới, cải thiện và nâng caođời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, việc quản lý nhà nướctrong lĩnh vực này tồn tại nhiều vấn đề bức xúc: một số quyết định chủ trươngđầu tư thiếu chính xác; tinh trạng đầu tư dàn trải diễn ra phổ biến thể hiện trongtất cả các khâu của quá trỡnh đầu tư, từ chủ trương đầu tư, quy hoạch, lập, thẩmđịnh dự án, khảo sát thiết kế đến thực hiện đầu tư đấu thầu, nghiệm thu, điềuchỉnh tăng dự toán, thanh quyết toán và đưa công trình vào khai thác sử dụngkém chất lượng; nợ tồn đọng còn ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng.Những thất thoát, lãng phí trong xâyy dựng công trình làm giảm sút chất lượngcủa công trình, ảnh hưởng đến tuổi thọ của công trình so với thiết kế Đây cũng làmột thất thoát vốn cần phải tính đến, bởi lẽ công trình chỉ phục vụ được trong một sốnăm ít hơn số năm trong dự án được duyệt Hai căn bệnh nói trên , mà tác hại của nókhông chỉ về mặt kinh tế - chất lượng tăng trưởng kém, lạm phát gia tăng, chi phí đầuvào quá cao…, mà còn làm cho đời sống của nhân dân , nhất là những người làm công

ăn lương, nhân dân nông thôn,vùng sâu, vùng xa, đời sống còn nhiều khó khăn, châmđược cải thiên Đặc biệt làm cho một bộ phận cán bộ viên chức không giữ được phẩmchất, gây bất binh trong xã hội, làm xói mòn lòng tin của dân đôi với Đảng và Nhànước Những bức xúc này có nguyên nhân từ quản lý nhà nước, đòi hỏi cần hàon thiệntong thời gian tới Có thể nhận dạng hai căn bệnh lãng phí và thất thoát vốn đầu

tư xây dựng CSHT qua sơ đồ 1.1 ở trang sau

Sơ đồ 1.1: Tổn thất vốn Nhà nước trong lĩnh vực CSHT [ ]

Ngày đăng: 27/06/2023, 21:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Anh Ba (2001), “Thủ tục hành chính qua một số gói thầu”, Báo Nhân dân, 28/5/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục hành chính qua một số gói thầu
Tác giả: Lê Anh Ba
Nhà XB: Báo Nhân dân
Năm: 2001
2. Ban kết cấu hạ tầng và đô thị, Viện chiến lược phát triển (9/1999), Một số vấn đề về chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng đô thị lớn ở Việt Nam đến năm 2010, Đề tài khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng đô thị lớn ở Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Viện chiến lược phát triển
Năm: 1999
3. Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (1999), Quản lý hành chính Nhà nước ở đô thị, Tài liệu hội nghị công bố và triển khai định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị và định hướng phát triển cấp nước đô thị Việt Nam đến năm 2020, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hành chính Nhà nước ở đô thị
Tác giả: Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1999
4. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2000), Tài liệu hướng dẫn nghiên cứu các văn kiện (dự thảo) trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn nghiên cứu các văn kiện (dự thảo) trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
5. Báo lao động (29/12/2001), “Cưỡng chế giao thông”, Sự kiện và Bình luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cưỡng chế giao thông
Nhà XB: Báo lao động
Năm: 2001
6. Bộ Giao thông vận tải (1999), Một số vấn đề trong giao thông đô thị ở các THàNH PHẩM và định hướng phỏt triển, Tài liệu hội nghị cụng bố và triển khai địnhh hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị và định hướng phát triển cấp nước đô thị Việt Nam đến năm 2020, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề trong giao thông đô thị ở các THàNH PHẩM và định hướng phỏt triển
Tác giả: Bộ Giao thông vận tải
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1999
7. Bộ Kế hoạch và đầu tư (1999), Phát triển đô thị Việt Nam và một số vấn đề về đầu tư phát triển CSHTĐT, Tài liệu hội nghị công bố và triển khai định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị và định hướng phát triển cấp nước đô thị Việt Nam đến nay 2020, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đô thị Việt Nam và một số vấn đề về đầu tư phát triển CSHTĐT
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tư
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1999
8. Bộ Kế hoạch và đầu tư (1999), Báo cáo quốc gia về sự tham gia của khu vực tư nhân và lĩnh vực hạ tầng cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia về sự tham gia của khu vực tư nhân và lĩnh vực hạ tầng cơ sở
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tư
Năm: 1999
9. Bộ Xây dựng (2008)- Chiến lựợc nâng cấp đô thị quốc gia do Bộ Xây dựng trình bày tạ Hội thao Quốc gia tháng 4 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lựợc nâng cấp đô thị quốc gia
Tác giả: Bộ Xây dựng
Năm: 2008
10.Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường (2000), Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu “Chiến lược phát triển và các giải pháp hiện đại hóa trong giao thông đô thị ở các thành phố lớn Việt Nam”, Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước “Công nghiệp hóa và hiện đại hóa giao thông vận tải” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu “Chiến lược phát triển và các giải pháp hiện đại hóa trong giao thông đô thị ở các thành phố lớn Việt Nam”
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường
Nhà XB: Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước “Công nghiệp hóa và hiện đại hóa giao thông vận tải”
Năm: 2000
11.Bộ Tài chính (1996), Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tài chính phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tài chính phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 1996
12.Bộ Tài chính (2001), Báo cáo tổng kết tình hình thí điểm quỹ đầu tư phát triển. Tài liệu hội nghị tổng kết Quỹ đầu tư phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thí điểm quỹ đầu tư phát triển
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Tài liệu hội nghị tổng kết Quỹ đầu tư phát triển
Năm: 2001
13.Bộ tài chính (2001), Giải pháp Tài chính phát triển thị trường Bất động sản - Tài liệu hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp Tài chính phát triển thị trường Bất động sản - Tài liệu hội thảo khoa học
Tác giả: Bộ tài chính
Năm: 2001
15.Nguyễn Việt Cường (2000), Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường ĐH Tài chính Kế toán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Tác giả: Nguyễn Việt Cường
Nhà XB: Trường ĐH Tài chính Kế toán
Năm: 2000
16.Trần Đức Dục (2000), Một số vấn đề cơ bản về kinh tế đầu tư quy hoạch và quản lý đô thị, NXB Xây dựng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về kinh tế đầu tư quy hoạch và quản lý đô thị
Tác giả: Trần Đức Dục
Nhà XB: NXB Xây dựng Hà Nội
Năm: 2000
17.Đinh Tiến Dũng (1/2001), Thực trạng và tình hình thực hiện giá tiêu thụ nước sạch hiện nay, Báo cáo tham luận tại Hội nghị cấp nước đô thị toàn quốc lần thứ IV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và tình hình thực hiện giá tiêu thụ nước sạch hiện nay
Tác giả: Đinh Tiến Dũng
Nhà XB: Báo cáo tham luận tại Hội nghị cấp nước đô thị toàn quốc lần thứ IV
Năm: 2001
18.Phạm Phan Dũng (2000), “Quỹ đầu tư phát triển địa phương – Một mô hình về huy động các nguồn lực tài chính”, Tài chính (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỹ đầu tư phát triển địa phương – Một mô hình về huy động các nguồn lực tài chính
Tác giả: Phạm Phan Dũng
Nhà XB: Tài chính
Năm: 2000
19.Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
20.Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
21.- Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w