Đề cương chi tiết môn Chính trị học đại cương bao gồm lý thuyết chi tiết và phần liên hệ thực tiễn (các vấn đề xã hội như: Vai trò của văn hoá từ chức, Những hạn chế của văn hoá chính trị ở Việt Nam và biện pháp khắc phục, Phân tích mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, Đoàn viên, thanh niên cần làm gì để xây dựng hệ thống chính trị, ... và liên hệ bản thân)
Trang 1HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ PHẦN I: HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
I Các quan niệm về hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là khái niệm của khoa học chính trị đương đại - là một trong những khái niệm phản ánh đặc trưng của những quan hệ quyền lực chính trị cũng như các bộ phận, các nhân tố tham gia vào các quá trình, quy trình chính trị trong thể chế chính trị dân chủ hiện đại (dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ tư bản chủ nghĩa) Liên quan đến vấn
đề này có nhiều quan niệm khác nhau:
Quan niệm thứ nhất, hệ thống chính trị là tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội được chính thức thừa nhận về mặt pháp lý nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hội đó Hệ thống này bao gồm nhà nước, các chính đảng, các nghiệp đoàn và các tổ chức chính trị khác - trong đó nhà nước là yếu tố cơ bản trung tâm
Quan niệm thứ hai, hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội
Quan niệm thứ ba, hệ thống chính trị là một cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành (hệ thống pháp luật đó được chế định theo tư tưởng và lợi ích giai cấp cầm quyền) nhằm duy trì, bảo vệ, và phát triển xã hội đó
Quan niệm thứ tư, hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội Hệ thống chính trị là một cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành (hệ thống pháp luật đó được chế định theo
tư tưởng và lợi ích giai cấp cầm quyền) nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển xã hội đó
Quan niệm thứ năm, hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm nhà nước, các đảng chính trị, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau nhằm tác động vào mọi mặt của đời sống xã hội để củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể cầm quyền
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về hệ thống chính trị nhưng về cơ bản có hai cách hiểu: Hiểu theo nghĩa hẹp: đồng nhất hệ thống chính trị với các yếu tố thực thể (tổ chức) của hệ thống chính trị của giai cấp cầm quyền
Theo quan niệm này hệ thống chính trị có nội dung trùng khớp với nội dung hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm
quyền Hiểu theo nghĩa rộng: ngoài các yếu tố thực thể người ta còn tính tới cả yếu tố tinh thần của hệ thống chính
trị bao gồm các quan điểm lý luận chính trị, hoạt động chính trị, quan hệ chính trị, tư tưởng chính trị, văn hóa chính trị, các chuẩn mực chính trị và pháp luật… tức là tất cả những gì có nội dung liên quan đến chính trị
Trên quan điểm hệ thống cấu trúc như trên có thể xem hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chính thể bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp; với những quan hệ tác động qua lại của các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lượng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội
II Các yếu tố cấu thành nên hệ thống chính trị
Bất kì một chế độ chính trị nào cũng tồn tại một hệ thống chính trị, hệ thống tập hợp các thiết chế thực thi quyền lực chính trị và có kết cấu riêng của nó
Trang 2
Hệ thống chính trị được tạo thành bởi nhiều bộ phận chức năng khác nhau, bao gồm: Đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội (hợp pháp) và các nhóm lợi ích
1 Đảng chính trị
Đảng chính trị, hay còn gọi là đảng cầm quyền, được coi là yếu tố cơ bản của hệ thống chính trị Đảng chính trị là một tổ chức xã hội tự nguyện, là liên minh của những người cùng tư tưởng, theo đuổi những mục đích chính trị nhất định, ra sức giành, giữ, sử dụng quyền lực nhà nước và định hướng chính trị cho phát triển xã hội
Hiện nay trên thế giới có 2 nhóm nước với 2 hệ thống chính trị khác nhau:
Các nước tư bản chủ nghĩa hiện đại với hệ thống “đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị”
Hệ thống nhiều đảng không có sự độc quyền của đảng tư sản thống trị - các Đảng phái liên minh để lập ra chính phủ liên hiệp (Italia, Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch…); hệ thống đa đảng có đảng tư sản độc quyền - số ghế đa số trong Nghị viện thuộc về một đảng và đảng này lập ra chính phủ một đảng (Pháp, Nhật Bản…); Hệ thống 2 đảng - bao gồm hai đảng thuần tuý là đảng của giai cấp tư sản thay nhau cầm quyền (Hoa Kỳ)…
Đặc trưng cơ bản ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện đại là hệ thống “đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị” Dưới chế
độ tư bản chủ nghĩa chế độ “đa nguyên chính trị” bề ngoài thì có vẻ dân chủ - các đảng đều có quyền tự do tranh cử, liên minh… nhưng về thực chất thì đều là “nhất nguyên chính trị” Ngay cả trường hợp có một số đảng liên minh cầm quyền; trong thực tế vẫn chỉ có đảng lớn nhất, có thế lực nhất nắm quyền quyết định, và suy đến cùng là bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ tư bản chủ nghĩa
Ví dụ như ở nước Anh, nước có nhiều Đảng; trong đó Đảng Lao động (LP) trên danh nghĩa bảo vệ quyền lợi cho quần chúng lao động; đại diện cho giai cấp công nhân, tầng lớp trung lưu dưới - Đảng Lao động thường đề ra mục tiêu đòi mở rộng chương trình phúc lợi xã hội, quan tâm đến người nghèo và giai cấp công nhân, đòi thu thuế cao đối với người giàu Tuy nhiên, trên thực tế Đảng Lao động thực chất là Đảng tư sản, họ vẫn đặt lợi ích của giai cấp tư sản lên hàng đầu và bảo vệ chế độ Tư bản chủ nghĩa
Các nước Xã hội chủ nghĩa với chủ trương “nhất nguyên chính trị”
“Nhất nguyên chính trị” có thể hiểu là thừa nhận một hệ tư tưởng, một đường lối của một đảng phái đại diện cho một giai cấp về thể chế chính trị Gắn liền với “nhất nguyên chính trị” là một đảng, một nhà nước giữ vai trò lãnh đạo, quản lý xã hội Đây là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản chống lại giai cấp tư sản
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản là tổ chức tiên phong, là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân và cũng là lực lượng lãnh đạo, thực hiện quyền thống trị về chính trị của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động
Hiện nay, ở một số quốc gia xã hội chủ nghĩa, tùy theo điều kiện đặc thù của mình đã thực hiện chế độ đa đảng, nhưng vẫn do Đảng Cộng sản lãnh đạo và chế độ “nhất nguyên chính trị”
Ví dụ như hệ thống hợp tác đa đảng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo là: Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng cầm quyền duy nhất của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và tám đảng dân chủ, dưới tiền đề chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc Trung Quốc, có tư cách là bên tham gia, hợp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc
và tham gia quản trị.1
1 Theo 中国的政治制度- Hệ thống chính trị nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Trang 3a) Thể chế quân chủ tuyệt đối: Thể chế chính trị mà toàn bộ quyền lực đều thuộc về nhà vua và được chuyển giao
theo nguyên tắc thừa kế “cha truyền - con nối” Trong xã hội ngày nay, thể chế này hầu như không còn tổn tại
b) Thể chế quân chủ lập hiến: Loại hình thể chế mà vẫn còn tồn tại ngôi vua nhưng nhà nước vận hành theo hiến
pháp do nghị viện ban hành Hình thức này tồn tại ở những nước mà cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống phong kiến kết thúc bằng sự thỏa hiệp; hình thức chính thể quân chủ lập hiến vẫn còn tồn tại đến ngày nay, song dần dần thích ứng với lợi ích của giai cấp tư sản nắm quyền
Thể chế Quân chủ lập hiến được chia thành hai loại hình Quân chủ nhị nguyên và Quân chủ đại nghị
+ Thể chế quân chủ nhị nguyên (Dualistic monarchy): Là thể chế chính trị mà quyền lực được chia đều cho Vua và
Nghị viện - tuy nhiên có khi quyền lực nhà Vua thường lấn át Nghị viện và trong nhiều trường hợp nhà Vua có thể giải tán Nghị viện vô thời hạn Hình thức thể chế này hiện nay chỉ còn tồn tại ở một số ít nước như Brunei, Arập Xêút, Tiểu Vương quốc Ả Rập, Jordan…
+ Thể chế quân chủ đại nghị (Parliamentary Monarchy): Là thể chế mà ở đó vua đứng đầu nhà nước nhưng quyền
lực tập trung trong tay nghị viện, quyền lực nhà vua chủ yếu chỉ mang tính hình thức Vua là biểu tượng của sự thống nhất phi chính trị và không thiên vị; nhưng trên thực tế thì vua vẫn chịu ảnh hưởng của Đảng cầm quyền
Nghị viện là cơ quan quyền lực tối cao do nhân dân bầu, nghị viện có quyền thành lập và giải tán chính phủ Quyền lực chủ yếu tập trung vào người đứng đầu cơ quan hành pháp là thủ tướng Tiêu biểu cho hình thức thể chế này là Vương quốc Anh, Nhật Bản, Úc, Thái Lan, Campuchia…
2.2 Thể chế cộng hòa
Ở các nước tư bản chủ nghĩa và một số nước đang phát triển, hình thức thể chế này có ba loại: Cộng hòa Tổng thống, Cộng hòa Đại nghị, Cộng hòa hỗn hợp Ở các nước xã hội chủ nghĩa phổ biến là mô hình Cộng hòa Xô Viết; Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
+ Thể chế Cộng hòa Tổng thống (Presidentic Republic): Thể chế mà tổng thống là nguyên thủ quốc gia và là người
đứng đầu cơ quan hành pháp với quyền hạn vô cùng lớn Tổng thống lập ra chính phủ, các thành viên Chính phủ do Tổng thống cử ra và chịu trách nhiệm trước Tổng thống Một số quốc gia theo thể chế này hiện nay điển hình là Mỹ, các nước Châu Mỹ La-tinh, Liên Bang Nga…
+ Thể chế Cộng hòa đại nghị (Parliamentary Republic): Đây được xem là mô hình dân chủ nhất trong mô hình chính
thể tư sản với đặc trưng tiêu biểu là quyền lực tập trung vào Nghị viện
+ Thể chế Cộng hòa hỗn hợp (Republic of mixtures): Đặc điểm của thể chế này là Tổng thống và Nghị viện đều do
nhân dân bầu ra Một số quốc gia theo thể chế này tiêu biểu là Pháp, Phần Lan, Hàn Quốc, Mông Cổ…
Trang 4+ Thể chế chính trị Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (Socialist Republic): Quyền lực nhà nước là thống nhất, thuộc về
nhân dân nhưng vẫn có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Quyền lực tối cao thuộc về Quốc hội Khác với thể chế cộng hòa, trong hệ thống tư pháp của thể chế chính trị Cộng hòa xã hội chủ nghĩa có cơ quan Viện Kiểm sát
3 Các tổ chức chính trị xã hội (hợp pháp) và các Nhóm lợi ích
Các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm các tổ chức mà hoạt động của chúng vừa mang tính chính trị, vừa mang tính
xã hội Đây là các tổ chức của công dân, vì bảo vệ lợi ích của tổ chức và lợi ích của các thành viên mà tìm cách gây tác động, ảnh hưởng đối với chính quyền và đảng phái chính trị
Ở các nước tư bản chủ nghĩa, trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị bên cạnh Đảng cầm quyền, Nhà nước, còn
có các Nhóm lợi ích chính trị Các nhóm này tác động vào việc hoạch định chính sách của các đảng chính trị và chính quyền Các nhóm lợi ích chính trị, ở một khía cạnh nào đó có thể hiểu là các đoàn thể nhân dân (các tổ chức chính trị
- xã hội) Tuy nhiên, các đoàn thể nhân dân (các tổ chức chính trị - xã hội) là các tổ chức nằm ngoài nhà nước; còn Nhóm lợi ích chính trị thì có thể tồn tại ngay bên trong nhà nước
Các Nhóm lợi ích chính trị là một loại thể chế chính trị (tổ chức) không thể thiếu trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở các nước tư bản Về mặt lý thuyết, các nhóm lợi ích chính trị có vai trò trong việc đấu tranh để đảm bảo lợi ích của quần chúng; nhưng trên thực tế nó cũng chỉ là thiết chế của tầng lớp thượng lưu và trung lưu có xu hướng thỏa hiệp với nhà nước vì lợi ích của giới thượng lưu và nội bộ giai cấp tư sản Do đó, xét đến cùng, nó cũng chỉ là công cụ để giai cấp tư sản thực hiện quyền lực chính trị của mình
Một số nhóm lợi ích chính trị tiêu biểu ở các nước tư bản chủ nghĩa:
Ở Anh: Nhóm lợi ích có tính thể chế (như Hội những quan chức thủ đô, Hội của những người đồng tỉnh ở Nghị
viện); Các tổ chức quốc gia (như Hiệp hội thương mại; Các tổ chức công đoàn Anh (Liên đoàn công nghiệp Anh; Liên hiệp công nhân Anh, Liên hiệp công đoàn, Hội các thành viên thương mại Anh)
Ở Mỹ: Các nhóm thảo luận chính sách (Hội thống đốc toàn quốc, Hiệp hội toàn quốc các chủ xưởng , Liên
hiệp dân sự toàn quốc, Uỷ ban Đại hội, Ban Hội thảo; Uỷ ban phát triển kinh tế; Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia, Phòng Thương mại Hoa kỳ, Viện Doanh nghiệp Mỹ); Các tổ chức Công đoàn (Liên đoàn lao động và đại hội các tổ chức công nghiệp Mỹ, gọi tắt là AFL - CIO); Các tổ chức phi chính phủ (NGO - hoạt động vì mục đích nhân đạo,
cứu trợ, từ thiện, trao đổi văn hoá - kỹ thuật)
Ở nước ta có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị- xã hội của nhân dân lao động: Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam là “tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.”2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân
2 Điều 9 - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Trang 5III Chức năng, vai trò của hệ thống chính trị
1 Chức năng của hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị chính là cơ chế thực thi quyền lực thống trị của giai cấp cầm quyền; là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội
Quyền làm chủ của nhân dân lao đô ̣ng được thực hiện thông qua hệ thống chính trị Xét theo khía ca ̣nh này,
hệ thống chính tri ̣, dân chủ xã hội chủ nghĩa về bản chất là thống nhất.Trong hệ thống chính trị ở nước ta: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân
tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Đảng Cộng sản
Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục
lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước3
2 Vai trò của hệ thống chính trị
Đầu tiên, hệ thống chính trị nắm vai trò duy trì, bảo vệ và phát triển xã hội Thông qua hệ thống chính trị, giai cấp
thống trị duy trì an ninh chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội Đồng thời qua hệ thống các cơ quan an ninh, tổ chức và phối hợp với hệ thống quân sự từ trung ương đến địa phương, vấn đề an ninh quốc gia được đảm bảo Từ chỗ an ninh chính trị được đảm bảo, hệ thống chính trị điều khiển nền sản xuất xã hội thông qua quan hệ sản xuất
do giai cấp thống trị thiết lập với các giai cấp, giai tầng khác Bên cạnh đó, đời sống xã hội bao gồm rất nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau chẳng hạn như: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, Mỗi ngành, lĩnh vực đó đều phải được quản lý để duy trì sự ổn định, trật tự trong vòng kiềm tỏa do giai cấp thống trị đặt ra Vì vậy vai trò quản lý xã hội của hệ thống chính trị được thiết lập trên các mặt của đời sống xã hội thông qua các thiết chế hành pháp
Thứ hai, hệ thống chính trị giúp giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội Quyền lực chính trị là
công cụ, phương tiện để giai cấp thống trị sử dụng nhằm đạt mục đích thống trị của mình Muốn sử dụng quyền lực
đó, giai cấp thống trị phải lập ra các thiết chế sử dụng đó là hệ thống chính trị Mỗi một bộ phận cấu thành hệ thống
có sự phân chia quyền lực khác nhau để cùng thực hiện mục tiêu thống trị của giai cấp nắm quyền Đảng chính trị
sử dụng quyền lực chính trị thông qua các biện pháp định hướng, lãnh đạo Nghị viện sử dụng quyền lập pháp, Chính phủ sử dụng quyền hành pháp và các cơ quan Tòa án, công tố, kiểm sát thì sử dụng quyền tư pháp
Thứ ba, hệ thống chính trị giúp củng cố, duy trì, phát triển chế độ xã hội đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể
cầm quyền Bất cứ một hệ thống chính trị nào cũng mang bản chất của giai cấp thống trị lập ra hệ thống đó Đồng thời, quá trình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị không nhằm mục đích nào khác là bảo vệ quyền lợi, bảo
vệ sự thống trị của giai cấp nắm quyền Hệ thống chính trị chính là hiện hữu của sự thống trị mà giai cấp nắm quyền đặt ra, và đến lượt mình hệ thống chính trị đó bảo vệ và đem lại lợi ích cho chính giai cấp đặt ra nó
3 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Nxb CTQG Hà Nội 2011, tr 84,85,86
Trang 6IV Giới thiệu hệ thống chính trị Việt Nam
1 Khái quát về hệ thống chính trị ở Việt Nam
1.1.Cấu trúc hệ thống chính trị ở Việt Nam
Hệ thống chính trị của chúng ta gồm ba “tiểu hệ thống”:4
Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: Công đoàn Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp khác của nhân dân được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân
Ba “tiểu hệ thống” ấy gắn bó chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống chính trị thống nhất, vận hành theo quan hệ chức năng có tính nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ
Hệ thống chính trị nước ta nắm giữ toàn bộ hệ thống các quyền lực xã hội trên thực tế, từ quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước đến các quyền lực khác trong xã hội, trong đó có các quyền lực về xây dựng, hoàn thiện, tổ chức thực thi, kiểm sát việc thực thi hệ thống thể chế phát triển Chính vì thế, việc hoàn thiện và thực thi có hiệu quả thể chế phát triển chỉ có thể xảy ra khi có một tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tốt, hợp lý, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là một tổ chức thành viên của Mặt trận, vừa là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là hạt nhân của hệ thống chính trị; Nhà nước là trung tâm của hệ thống chính trị Thuật ngữ “hệ thống chính trị” được chính thức sử dụng ở Việt Nam từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (1989) Việc chuyển từ “hệ thống chuyên chính vô sản” sang “hệ thống chính trị”
có ý nghĩa nhấn mạnh đến sự tương tác, hợp tác của các chủ thể trong đời sống chính trị - xã hội, nhằm tạo nên sức mạnh hợp lực của toàn hệ thống và khả năng thích nghi của hệ thống với những thay đổi của môi trường xã hội
1.2 Bản chất và đặc điểm ở hệ thống chính trị Việt Nam
1.2.1 Bản chất
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy quyền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình Vì vậy, hệ thống chính trị ở nước ta có những bản chất sau:
Một là, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân, nghĩa là các tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên lập trường quan điểm của giai cấp công nhân Từ đó đã quy định chức năng, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
4 Tổ chức bộ máy hệ thống chính trị - vấn đề trung tâm trong xây dựng thể chế phát triển nhanh, bền vững ở Việt Nam (Bộ Nội vụ)
Trang 7Hai là, bản chất dân chủ của hệ thống chính trị ở nước ta thể hiện trước hết ở chỗ: Quyền lực thuộc về nhân dân với việc Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đa số nhân dân với thiểu số bóc lột
Ba là, bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở nước ta Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc
1.2.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
Một là, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong hoạt động của từng tổ chức
Hai là, hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng là một tổ chức trong
hệ thống chính trị nhưng có vai trò lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị Trong điều kiện cụ thể ở nước ta,
do những phẩm chất của mình - Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích thống nhất của các dân tộc; do truyền thống lịch
sử mang lại và do những thành tựu rất to lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nhất có khả năng tập hợp quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân tự nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tế Đây là đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta
Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Nguyên tắc này
được tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta thực hiện Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản đảm bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị
Bốn là, hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi
Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
2 Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
2.1 Đảng Cộng Sản
Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị, đồng thời là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị
Ðảng Cộng sản Việt Nam là Ðảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Chức năng lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau:
Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, chủ trương phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời Đảng là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng
Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thể quần chúng Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước tiếp nhận, thể chế hóa cụ thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch,
Trang 8chương trình cụ thể Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểm tra việc Nhà nước thực hiện các Nghị quyết của Đảng
Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việc xác định đường lối, chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị
Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ…
Quá trình Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo:
Thực tế, từ khi thành lập năm 1930 đến nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tổ chức và lãnh đạo xã hội thực hiện mọi thắng lợi của dân tộc Việt Nam Năm 1945, Đảng Cộng Sản lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc Cách mạng tháng 8 chấm dứt ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (là nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay)
Năm 1954, sau 9 năm lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp thắng lợi, Đảng đã giành sự kiểm soát hành chính trên một nửa nước Việt Nam Từ năm 1954 đến 1975 Đảng Cộng Sản đã lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chế độ mới ở miền Bắc, thực hiện cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ trên cả nước và giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975, thống nhất đất nước năm 1976
Năm 1986 Đảng Cộng Sản đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc Đổi mới đạt được nhiều thắng lợi to lớn, sau 10 năm đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội, bước vào thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Đảng Cộng Sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ Cơ quan quyền lực cao nhất là Đại hội toàn quốc 5 năm một lần Đại hội bầu ra Ban chấp hành Trung ương Ban chỉ huy Trung ương bầu ra Bộ chính trị và Tổng Bí thư Trước đây chức vụ cao nhất trong Đảng là Chủ tịch Đảng (do Hồ Chí Minh đảm nhận) Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam là ông Trần Phú Tổng Bí thư hiện nay là ông Nông Đức Mạnh Mọi công dân Việt Nam nếu tự nguyện gia nhập Đảng Cộng Sản và nếu tổ chức Đảng thấy có đủ tiêu chuẩn thì sẽ làm lễ kết nạp Tuy nhiên, người Đảng viên mới đó phải trải qua một thời kỳ thử thách, ít nhất là một năm, mới có quyền biểu quyết, bầu cử và ứng cử trong Đảng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã trải qua 10 lần đại hội Đại hội lần thứ X diễn ra vào tháng 4/2006 Hiện nay Đảng có hơn hai triệu đảng viên
2.2 Nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Nhà nước chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của Đảng Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện
và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nhà nước gồm các có các cơ quan trung ương như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương.5
5 Tổ chức bộ máy hệ thống chính trị - vấn đề trung tâm trong xây dựng thể chế phát triển nhanh, bền vững ở Việt Nam (Bộ Nội vụ)
Trang 9Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
2.2.1 Quốc hội
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.6
Nhiệm vụ: Lập hiến, lập pháp; giám sát, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, những nguyên tắc chủ yếu của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân
Nhiệm kỳ của Quốc hội: 5 năm, hoạt động thông qua kỳ họp 1 năm 2 lần Ngoài ra, nếu ủy ban Thường vụ Quốc hội xét thấy cần thiết hoặc do yêu cầu của Chủ tịch nước, Thủ tướng hoặc 1/3 tổng số đại biểu thì Quốc hội sẽ họp đột xuất
Đại biểu Quốc hội: Là công dân Việt Nam, từ 21 tuổi trở lên, có phẩm chất, trình độ, năng lực, được cử tri tín nhiệm bầu ra
Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các kỳ họp Quốc hội, có quyền trình dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri
Chủ tịch và Phó Chủ tịch Quốc hội: Là đại biểu Quốc hội do Quốc hội bầu ra vào kỳ họp đầu tiên của mỗi khóa Quốc hội Các Phó Chủ tịch Quốc hội là người giúp việc cho Chủ tịch theo sự phân công của Chủ tịch
Ủy ban thường vụ Quốc hội: Là cơ quan thường trực giữa hai kỳ họp của Quốc hội, có quyền về hoạt động giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án Tối cao, Viện Kiểm sát tối cao; chuyên ban hành Pháp lệnh, giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh
Hai hội đồng của Quốc hội là:
1 Hội đồng Quốc phòng - An ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch, Thủ tướng làm Phó chủ tịch và o4 ủy viên
2 Hội đồng Dân tộc gồm 1 Chủ tịch và 38 thành viên
Ủy ban chức năng của Quốc hội: Gồm các ủy ban Pháp luật; ủy ban Kinh tế và Ngân sách; ủy ban Quốc phòng và
An ninh; ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; ủy ban Các vấn đề xã hội; ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; ủy ban Đối ngoại
Chủ tịch nước: Là người đứng đầu Nhà nước, được Quốc hội bầu từ các đại biểu Quốc hội để thay mặt nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về mặt đối nội và đối ngoại
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam ghi rõ Chủ tịch nước có 12 quyền hạn, trong đó quan trọng nhất là:
1 Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh
2 Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh
6 Political system, vietnam.gov.vn
Trang 103 Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Phó chủ tịch nước, Thủ tướng, Chánh án Tòa án tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao.Giúp việc Chủ tịch nước có: Phó Chủ tịch nước, Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Văn phòng Chủ tịch nước
Phó Chủ tịch nước: Do Chủ tịch đề nghị, Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội; Phó Chủ tịch giúp Chủ tịch nước làm nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch ủy quyền làm một số nhiệm vụ hoặc làm quyền Chủ tịch
Hội đồng Quốc phòng và An ninh: Có nhiệm vụ động viên mọi lực lượng và khả năng của nước nhà để bảo vệ Tổ quốc Hội đồng Quốc phòng và An ninh do Chủ tịch nước đứng đầu gồm Phó Chủ tịch nước và các thành viên do Chủ tịch nước giới thiệu và Quốc hội bỏ phiếu phê chuẩn
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước
Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơ quan lập pháp Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.2.2 Chính Phủ
Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước Chính phủ là cơ quan chấp hành, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tác với Quốc hội Trên ý nghĩa đó, Chính phủ được gọi là cơ quan hành pháp
Chính phủ thực hiện chức năng hành pháp, “tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước”, thống nhất quản lý về các lĩnh vực, ngành và nền hành chính quốc gia
Chính phủ chịu sự giám sát và thực hiện chế độ báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước
Chính phủ bao gồm: Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ
Thủ tướng do Chủ tịch nước giới thiệu, Quốc hội bầu ra và bãi miễn trong số các đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ 5 năm Các Phó Thủ tướng do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, là người giúp việc cho Thủ tướng và được Thủ tướng
ủy nhiệm khi Thủ tướng vắng mặt Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang B9ộ do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, đảm nhiệm chức năng quản lý Nhà Nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác được giao
2.2.3 Tòa án
Toà án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ý chí của Nhà nước trước các vụ án thông qua hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Toà án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự, không ai
bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật
Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, hội thẩm, thư ký toà án
Cơ cấu của tòa án gồm: Hội đồng Thẩm phán, Ủy ban Thẩm phán, Toà án Quân sự Trung ương và các tòa Hình sự, toà Dân sự, tòa Phúc thẩm, bộ máy giúp việc Tòa án có nhiệm kỳ là 5 năm
Chánh án Toà án Nhân dân tối cao do Quốc hội bầu và bãi miễn; Phó Chánh án, Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, bãi miễn theo đề nghị của Chánh án Hội thẩm nhân dân Tòa án tối cao do Ủy ban Thường vụ Quốc hội cử theo sự giới thiệu của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Tòa án xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
Trang 112.2.4 Viện Kiểm sát
Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo việc xét xử đúng người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tập trung thống nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quan khác của Nhà nước Thực hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố Với ý nghĩa đó,các
tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát được gọi là cơ quan tư pháp
Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao gồm:
Viện trưởng: do Chủ tịch nước đề nghị, Quốc hội bầu và bãi miễn
Các Viện phó, các kiểm sát viên và các điều tra viên: do Chủ tịch nước bổ nhiệm và bãi miễn theo đề nghị của Viện trưởng
2.2.5 Tổ chức bộ máy cấp địa phương
Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo luật định
Hội đồng nhân dân:
“Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân là 05 năm
Hội đồng nhân dân có hai chức năng cơ bản là: (1) quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; (2) giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân:
“Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”[3]
Ủy ban nhân dân có 3 chức năng chính: (1) Tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; (2) Tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân; (3) Thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao
2.3 Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Đây là những tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị, tùy theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ của nhân dân
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có tên gọi ban đầu là Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, được thành lập ngày 18/11/1930
Từ khi được thành lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và cùng trải qua các thời kỳ hoạt động cách mạng với những tên gọi khác nhau, Mặt trận là tổ chức tập hợp, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc của Việt Nam - một nhân tố quan trọng góp phần quyết định vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên
Trang 12hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ
Kế tục và phát huy vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam các thời kỳ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay vẫn tiếp tục đại diện cho lợi ích, tiếng nói rộng rãi của các nhóm xã hội, các giai cấp, tầng lớp nhân dân, tạo sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, huy động nguồn lực, sức mạnh của toàn thể nhân dân vào xây dựng đảng, chính quyền, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò tập hợp, thu hút các tầng lớp Nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội; tuyên truyền động viên Nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật; phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tập hợp ý kiến, kiến nghị của Nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền với lợi ích chính đáng của Nhân dân; tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa Nhân dân Việt Nam với Nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới
Các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm: “Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên, tổ chức của mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”[4]
Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên Ðảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là tổ chức lãnh đạo Mặt trận
2.4 Công đoàn
Công đoàn Việt Nam được thành lập ngày 28/7/1929 Trải qua quá trình hình thành và phát triển, tổ chức Công đoàn Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng giai cấp, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Hiến pháp 2013 quy định: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người dân lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội: tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có quan hệ hợp tác với Nhà nước và phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 132.5 Các tổ chức chính trị - xã hội khác
Ngoài Mặt trận Tổ quốc và Công đoàn, ở Việt Nam hiện đang tồn tại một số tổ chức chính trị, xã hội khác như: Hội Liên hiệp Phụ Nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, các hiệp hội theo ngành nghề Các tổ chức này đã đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giải phóng đất nước Trong công cuộc Đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các tổ chức xã hội này đang góp phần quan trọng đưa các chính sách của Đảng và Chính phủ Việt Nam vào cuộc sống
Câu hỏi cho Chương 1: HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Câu hỏi 1: Vì sao phải tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị nước ta?
Trả lời:
Hệ thống chính trị ở nước ta đã có những thành tựu đáng kể, Đảng đã được củng cố cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội ngày càng tăng; Nhà nước tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-
xã hội từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đem lại hiệu quả thiết thực; quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởng được phát huy
Bên cạnh đó, hệ thống chính trị ở nước ta còn bộc lộ nhiều nhược điểm: Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị-xã hội chưa nâng lên kịp với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ mới Bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp lại cho tinh giản và nâng cao chất lượng, còn nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân Công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, thay thế, trẻ hoá, chuẩn bị cán bộ kế cận còn lúng túng, chậm trễ Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hoá về phẩm chất đạo đức, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa cao
Do đó cần phải có những chính sách cải cách hệ thống chính trị Việt Nam để đáp ứng những nhu cầu phát triển của đất nước
Câu hỏi 2: Đoàn viên, thanh niên cần làm gì để xây dựng hệ thống chính trị?
Thanh niên là lực lượng dự bị tin cậy, cánh tay đắc lực của Đảng và của hệ thống chính trị Vì vậy, thanh niên cần nhận thức đầy đủ trách nhiệm, góp phần xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh Cụ thể:
- Tham gia tích cực vào cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh
- Thực hiện một cách có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
- Tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, mạnh dạn đấu tranh với những hành động sai trái, bảo
vệ lợi ích thiết thực, hợp pháp và chính đáng của nhân dân
- Tích cực tham gia và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, hăng hái đi đầu trong mọi lĩnh vực học tập và công tác
Trang 14- Tích cực hưởng ứng và tham gia hoạt động trong phong trào của các tổ chức chính trị – xã hội phát động; trực tiếp
là xây dựng tổ chức Đoàn và phong trào của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Câu hỏi 3: Vai trò của ĐCS VN trong hệ thống chính trị và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị?
Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận cấu thành và là hạt nhân chính trị lãnh đạo của hệ thống chính trị, là đảng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội Trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và hệ thống chính trị luôn được thể hiện trong các bản Hiến pháp
Điều 4 Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị
- Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền Đó là sự lựa chọn của dân tộc ta,
là một tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan Sự lãnh đạo ấy vừa có cơ sở đạo lý, vừa có cơ sở pháp lý
- Khi trở thành một Đảng duy nhất cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện trong mối quan hệ khá phức tạp và nhạy cảm với cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước pháp quyền và trong các điều kiện xây dựng, phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước, mà biểu hiện tập trung nhất là bộ máy nhà nước, đòi hỏi phải phân định sự lãnh đạo của Đảng đối với vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước
- Trong tổ chức của hệ thống chính trị, Đảng ta vừa là lực lượng lãnh đạo toàn bộ hệ thống, vừa là thành viên trong
hệ thống chính trị Điều đó cũng đòi hỏi phải xác định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, tư cách thành viên của Đảng và khả năng độc lập của mỗi thành viên thuộc hệ thống chính trị trong các mối quan hệ chính trị và sinh hoạt dân chủ
- Trong thực tiễn, vai trò và sự lãnh đạo của Đảng luôn luôn được xác định trong từng mối quan hệ với từng thiết chế, tổ chức cụ thể trong hệ thống chính trị Vai trò cầm quyền và sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước khác với
sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc hoặc đối với các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân Sự mơ hồ, thiếu cụ thể nào đó đều có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chính trị của đất nước, hoặc là Đảng sẽ bao biện, làm thay tất cả, hình thức hóa Nhà nước và hệ thống chính trị, hoặc là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho địa vị cầm quyền của Đảng chỉ tồn tại trên danh nghĩa
- Sự lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị hiện nay đặt trong điều kiện mới, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phát huy mạnh mẽ nền dân chủ trong cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị, Đảng phải tự đổi mới và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng Tăng cường mối quan hệ của Đảng với các thành
tố của hệ thống chính trị là một nội dung quan trọng của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị
- Phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền là hệ thống những phương pháp, hình thức, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác mà Đảng vận dụng để tác động vào các lực lượng xã hội, các tổ chức, cá nhân nhằm
Trang 15biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành nhận thức và hành động của đối tượng lãnh đạo, qua đó thực hiện được các nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra
- Nội dung cơ bản của phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh năm 1991 của Đảng, gồm:
+ Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác
+ Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên
+ Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể
+ Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị
+ Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
- Ngoài những điểm nêu trên, Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân từ uy tín của Đảng, từ sự đề cao và tôn trọng vai trò của Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn
xã hội Sự lãnh đạo thật sự của Đảng không chỉ thông qua các quyết định, các chỉ thị mà còn bằng uy tín, bằng khả năng thuyết phục trong lời nói, trong hành động, trong phong cách công tác của các tổ chức đảng và của từng cá nhân cán bộ lãnh đạo, đảng viên của Đảng
- Giống như nội dung sự lãnh đạo của Đảng, phương thức lãnh đạo của Đảng có sự thay đổi phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng luôn là một yêu cầu có tính khách quan, một nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Yêu cầu khách quan này luôn được Đảng ta quán triệt
và nhấn mạnh trong các văn kiện Đại hội và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
Câu 4: Chính trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật
- Phân tích CT là khoa học:
CT là một khoa học có đối tượng phương pháp nghiên cứu riêng:
– Chính trị là một hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội loài người, xuất hiện cùng với giai cấp và nhà nước, gắn liền với quyền lực, với đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc
– Chính trị là lĩnh vực tương đối độc lập trong đời sống xã hội, có logic phát triển nội tại, có quy luật phát triển khách quan
– Chính trị là một hệ thống tri thức, từ những tri thức kinh nghiệm đến tri thức lý luận hoàn chỉnh, phản ánh quy luật vận động khách quan của chính trị
– Do hạn chế lịch sử và bị chi phối bởi lợi ích giai cấp, nên chính trị trở thành đặc quyền của giai cấp thống trị Nó chỉ trở thành khoa học đích thực khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời
– Ngày nay, chính trị thực sự trở thành một khoa học với đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng
– Chính trị là một khoa học, nên phải đối xử với nó như một khoa học
Trang 16– Cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập cũng như trong xây dựng CNXH luôn xác định chính trị (đường lối, chính sách và tổ chức thực tiễn) là một khoa học.
2 Chính trị là nghệ thuật
– Chính trị là hoạt động của con người liên quan đến tranh giành quyền lực, quyết liệt một mất một còn, nên các chủ thể chính trị (trước hết là giai cấp) không thể không sử dụng mọi biện pháp, thủ đoạn để đạt mục tiêu chính trị.– Hoạt động chính trị luôn sáng tạo, linh hoạt, khôn khéo, mềm dẻo, phù hợp với thực tiễn để đạt hiệu quả cao nhất.– Chính trị là phạm vi hoạt động hấp dẫn, nhưng phức tạp, “giống đại số hơn số học” Nó đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo cao, đòi hỏi tầm trí tuệ tương ứng của các nhà chính trị
– Chính trị là nghệ thuật của những bước đi (biết tiến, biết lùi đúng lúc), những giải pháp, thỏa hiệp trong những thời điểm lịch sử quan trọng
– Đó là nghệ thuật vận dụng tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn để xử lý các tính huống chính trị phức tạp, vận dụng đúng đắn phép biện chứng giữa khách quan và chủ quan trong hoạt động, đấu tranh chính trị
– Chính trị là nghệ thuật của các khả năng: khả năng nắm bắt sự vận động của xã hội, dự báo chính xác tình thế và thời cơ cách mạng
– Chính trị là nghệ thuật tổ chức lực lượng, sử dụng con người, nghệ thuật vận động quần chúng, nghệ thuật tiến hành chiến tranh cách mạng
– Chính trị là “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”
3 Mối quan hệ biện chứng
– Bản thân chính trị là một khoa học cũng đã phản ánh tính nghệ thuật của nó, bởi khoa học và nghệ thuật luôn gắn
bó hữu cơ
– Là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan đến vận mệnh của con người, của hàng triệu người, chính trị, hoạt động chính trị đòi hỏi sự chuẩn xác gắn với thực tiễn, tuân theo quy luật khách quan, tránh chủ quan, duy ý chí; đồng thời nó đòi hỏi sự nhạy cảm, tinh tế, mưu lược đạt trình độ nghệ thuật cao
– Trong hoạt động chính trị thực tiễn, tính khoa học và nghệ thuật kết hợp, bổ sung cho nhau Nếu tuyệt đối hóa tính khoa học của chính trị dễ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, máy móc; nếu tuyệt đối hóa tính nghệ thuật không tuân theo khoa học thì chính trị chỉ còn lại là những mánh khóe lừa đảo , mị dân, sớm muộn cũng bị vạch trần
Câu 6: Phân tích mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ?
- Định nghĩa:
Nhà nước là một tổ chức quyền lực công của một quốc gia Nhờ có pháp luật và các phương tiện cưỡng chế, nhà nước có khả năng tổ chức và quản lý dân cư sống trong phạm vi lãnh thổ của nó nhằm thực hiện mục đích, bảo vệ lợi ích của lực lượng cầm quyền hay giai cấp thống trị và nhằm thiết lập, giữ gìn trật tự xã hội Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước là một bộ phận quan trọng, một mắt xích đặc biệt và được xem là trung tâm của hệ thống chính trị Theo hiến pháp, pháp luật và các quy phạm pháp luật, nhà nước dưới hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển cũng giống như các nhà nước hiện đại khác.Tuy nhiên, nhà nước xã hội chủ nghĩa lại là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực nhân dân và cũng là công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện quyền lực nhân dân Đảng cộng sản (đảng của giai cấp công nhân) là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc
2 Mối quan hệ giữa nhà nước với đảng cộng sản trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
Trang 17a/ Tác động của đảng cộng sản tới nhà nước
Trong hệ thống chính trị của các nước xã hội chủ nghĩa có thể có nhiều đảng phái chính trị cùng tồn tại và hoạt động Mỗi đảng phái đóng vai trò nhất định trong đời sống xã hội và giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động luôn giữ vai trò lãnh đạo Là một bộ phận của hệ thống chính trị, đảng cộng sản giữ vai trò lãnh đạo cả hệ thống chính trị, trong đó nhà nước là trực tiếp và chủ yếu nhất Sở dĩ đảng cộng sản có khả năng lãnh đạo được nhà nước là vì: đảng cộng sản là lực lượng tiên tiến nhất, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác-Lênin (ở Việt Nam Đảng cộng sản còn được vũ trang bằng chủ nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh)- kim chỉ nam hành động cho đảng cộng sản và cả xã hội; đảng cộng sản chiếm được lòng tin sâu sắc, tình cảm thân thiết của nhân dân bằng thực tiễn đấu tranh cách mạng đầy hi sinh, gian khổ của mình vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội; đảng cộng sản đã tạo được uy tín lớn trên trường quốc tế, đặc biệt là
sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ quý báu của các đảng cộng sản và đảng công nhân ở nhiều nước trên thế giới Đảng lãnh đạo nhà nước dưới nhiều hình thức, phương pháp khác nhau tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm của mỗi lĩnh vực đời sống xã hội hay hoạt động của nhà nước mà Đảng quan tâm Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước được thực hiện dưới những hình thức chủ yếu sau:
- Đảng hoạch định chiến lược và những mục tiêu cơ bản, những đường lối chính sách phát triển kinh tế, chính trị cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Việc hoạch định đường lối chiến lược, đường lối phát triển kinh tế, chính trị, xã hội là hình thức lãnh đạo quan trọng nhất, thể hiện rõ nhất vai trò lãnh đạo của Đảng Uy tín của Đảng phụ thuộc rất nhiều vào hình thức này
- Đảng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, có năng lực để giới thiệu vào các cương vị quan trọng của nhà nước Việc giới thiệu cán bộ của Đảng vào các vị trí như vậy phải được tiến hành thông qua sự tín nhiệm của nhà nước, của quần chúng Đảng không áp đặt các tổ chức, cơ quan nhà nước phải chấp nhận người mình giới thiệu Chỉ trên cơ sở đó Đảng mới thực sự lãnh đạo được hệ thống chính trị thông qua công tác cán bộ
- Đảng kiểm tra việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng thông qua các biện pháp và phương tiện khác nhau Thông qua công tác kiểm tra Đảng kịp thời phát hiện những sai lầm, những thiếu sót trong các chủ trương, chính sách do mình đề ra, khắc phục chúng để hoàn thiện hơn nữa vai trò lãnh đạo Công tác kiểm tra của Đảng phải được tiến hành theo những nguyên tắc của tổ chức Đảng trên cơ sở tôn trọng quyền hạn và chức năng quản lý của nhà nước Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước được thực hiện thông qua các tổ chức cơ sở của Đảng được thành lập trong các cơ quan nhà nước, đặc biệt là những đảng viên đang giữ những cương vị quan trọng đó Một nét đặc trưng trong vai trò lãnh đạo của Đảng là phương pháp lãnh đạo Đảng là tổ chức chính trị, phương pháp lãnh đạo của Đảng không phải là phương pháp hành chính mà là tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục và nêu gương Tuy nhiên cần phải nhận thực đúng đắn vai trò vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị một cách toàn diện tuy nhiên tính đổi mới và hoàn thiện mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu dân chủ hóa, xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội công dân, đáp ứng yeu cầu hội nhập
🡪 Bằng thực tiễn đấu tranh kiên cường của mình, bằng những hy sinh, cống hiến lớn lao cho dân tộc, ĐCS VN đac chiếm đc lòng tin của đa số quần chúng nhân dân, tạo được uy tín quốc tế lớn cũng như tình đoàn kết và giúp đỡ từ phía phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế Điều này có tác dụng to lớn đối với việc khẳng định vai trò lãnh đạo của ĐCS VN đối với hệ thống chính trị trong nước Chủ tịch HCM khi nói về vai trò lãnh đạo của
Trang 18Đảng đã chỉ rõ: “ Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rỗng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng thì Đảng mới giàng dược vị trí lãnh đạo”
Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo hệ thống chính trị một cách toàn diện nhưng không có nghĩa là Đảng đứng trên tất cả Là một tổ chức hoạt động trong xã hội, là một đối tượng của quản lý nhà nước, Đảng phải chịu sự tác động của pháp luật, bình đẳng với các bộ phận cấu thành khác của hệ thống chính trị Hiến pháp 1992 khẳng định: Đảng
và các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Cương lĩnh của Đảng cộng sản Việt Nam, điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam đều nhấn mạnh: Đảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị, xã hội; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
b Quan hệ giữa nhà nước với Đảng cộng sản
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn ghi nhận sự lãnh đạo của Đảng, điều đó đã được thể hiện rõ trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Nhà nước đã thể chế hóa các đường lối chính sách của Đảng thành pháp luật Như trong công tác thanh niên, nghị quyết trung ương 7 khóa X về công tác thanh niên đã khẳng định quan điểm của Đảng: thanh niên là chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người Chăm lo và phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước
Quản lý nhà nước tốt tức là thành tích của Đảng tốt Đảng lãnh đạo nhà nước bằng nghị quyết, sau khi có nghị quyết, người thực hiện là nhà nước, cụ thể hóa Nhà nước có mạnh thì mới đạt đc mục tiêu mà Đảng đề ra” - Ngoài
ra nhà nước cũng chính là lực lượng bảo vệ cho sự tồn tại của Đảng Các hành vi tuyên truyền, kích động chống phá Đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ bị trừng trị nghiêm minh trước pháp luật
Trang 19Các chính khách có vai trò trong việc xây dựng, điều phối và quyết định chính sách phát triển của một quốc gia, phải có trách nhiệm đưa ra các chính sách mới khác hẳn so với những người đảm nhiệm kỳ trước, hay chí ít cũng là chỉnh sửa lại những gì thái quá hay lệch lạc của nhiệm kỳ trước Bằng những chính sách mới kế tiếp nhau như vậy
sẽ giúp các tổ chức nói riêng, các cơ quan nhà nước và nhà nước nói chung đi đúng hướng hơn
Chính khách hiện nay của các nước trên thế giới chủ yếu có hai loại cơ bản những người hiện đang làm việc cho các cơ quan dân cử cơ quan lập pháp ở trung ương và các cơ quan dân cư ở địa phương và những người hiện đang đảm đương các chức vụ trong cơ quan hành pháp ở trung ương – hành pháp chính trị Họ đều phải có trách nhiệm thể hiện ý chí nguyên vọng và quyền lợi của đại đa số quần chúng nhân dân nhưng với hình thức và biện pháp khác nhau Các chính khách của cơ quan hành pháp - hành pháp chính trị thể hiện ý chí nguyên vọng thông qua con đường của đảng mà họ là thành viên bằng những chủ trương đường lối của đảng, một khi đường lối này đã được nhân dân bỏ phiếu thông qua các cuộc bầu cử quốc hội nếu nhà nước tổ chức theo mô hình của chế độ đại nghị, cuộc bầu cử tổng thống của các nhà nước được tổ chức theo mô hình nhà nước cộng hòa
Có những chính sách mà việc quyết định phải có sự đồng ý của hai cơ quan nổi trên Trong trường hợp không có sự đồng ý của nhau thì một trong hai cơ quan phải rút chủ trương chính sách đề xuất của mình, hoặc bằng cách giải quyết lại đổ và giải tán lẫn nhau Trường hợp này nếu có sự mâu thuẫn giữa lập pháp và hành pháp vì thế cần phải
có sự quyết định bằng cuộc bầu cử của người dân Có những chính sách mà sự quyết định chỉ do một cơ quan quyết định hoặc là của lập pháp hoặc là của hành pháp Trong mọi trường hợp đều phải có người lãnh đạo đứng đầu các chính khách Uy tin, tính cách của những nhà lãnh đạo có rất ảnh hưởng đến sự phát triển của quốc gia
Ngay cả trong cùng một điều kiện, nhưng phong cách lãnh đạo của chính khách trong chế độ dân chủ đòi hỏi phải khác với của chính khách trong chế độ độc tài Sự lãnh đạo của chế độ dân chủ khác với chế độ phi dân chủ ở phương pháp thủ đắc quyền lực sử dụng quyền lực Vẻ nguyên tắc khi thực thi quyền lãnh đạo luôn luôn có chiều hướng gắn kết với sự tập trung quyền lực cho một cá nhân cho một nhóm Sự lãnh đạo như là một nhu cầu tất yếu của mọi tổ chức trong đó có cả cho một nhà nước rộng lớn và đông đảo dân cư Công việc của chính quyền đều phải được thi hành; chính quyền đòi hỏi phải có tổ chức lãnh đạo Ngành lập pháp mặc dù là một tập thể bao gồm các đại biểu được nhân dân bầu ra, có quyền thảo luận thông qua luật, nhưng vẫn cần phải có người điều khiển phiên họp và nhất là phải có người đề xuất Trong một chính phủ hành pháp cho dù là một tập thể hợp thành Nội
Trang 20các như Anh quốc hay một Tổng thống và các thư ký giúp cho Tổng thống các lĩnh vực nhà nước khác nhau như của Mỹ quốc, thì vẫn cần một người làm công việc chỉ đạo và các vấn đề bàn bạc phải được đề xuất ra
Vị trí và vai trò của công chức
Công chức có trách nhiệm tập trung sức lực của mình cho việc thực thi chính sách theo quy định của pháp luật Đảm nhiệm các công việc hành chính là công chức bao gồm các viên chức hành chính từ hàm thứ trưởng trở xuống cho đến các chuyên viên như các nhà kinh tế có trách nhiệm cung cấp các dữ kiện để làm các quyết định lập pháp hay hành pháp, các nha khoa học điều khiển các công tác sưu tầm trong các phong thí nghiệm của chính phủ các kế toán gia được công chúng sử dụng, những người làm công tác thư ký, và nhiều công chức có chuyên môn hay không có chuyên môn như cảnh sát viên, người đưa thư, và nhiều công nhân làm việc bằng chân tay trong các cơ quan xí nghiệp nhà nước Các công chức phải có chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện các nhiệm vụ đa dạng rất khác nhau theo đòi hỏi của chính khách
Khác với chính khách công chức không có hạn định phải ở lại tạo thành bộ máy công chức chuyên nghiệp của mỗi
bộ ngành Sự tinh thông nghiệp vụ của công chức tạo không ít thuận lợi cho bộ máy nhà nước hoàn thành nhiệm vụ phục vụ nhu cầu của người dân theo quy định của pháp luật
Những chính sách lớn đều được hoạch định tại nội các nhưng chi tiết các chính sách ấy và một hệ thống các hệ quả kèm theo không do cấp chính phủ (nội các) ổn định Các quyết định này xuất phát từ các công chức hạ tầng hay trung tầng của các ngạch hành chính, rồi dẫn đưa lên cấp cao hơn, vừa lên vừa bị gạt bớt những tiểu tiết, lên đến cấp tổng thư ký (thư trưởng) chỉ còn những vấn đề quan trọng nhất, cao hơn nữa đến cấp nội các thì chỉ còn những vấn đề tối quan trọng mang nặng vấn đề chính trị, chính sách quốc gia
Như vậy cán bộ công chức là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của bất kỳ nền hành chính nào Đội ngũ này
có vai trò thực thi pháp luật đề quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm hiệu lực của đường lối thể chế của giai cấp cầm quyền Tuy nhiên mục đích thực thi pháp luật ở mỗi nền hành chính khác nhau là không hoàn toàn giống nhau mà tùy thuộc vào chế độ chính trị, tính dân chủ Khác với các nước tư sản công chức trong các nhà nước XHCN trước đây và ở nước ta hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc duy trị trật tự, kỷ cương Nhà nước
và bảo vệ lợi ích của quần chúng lao động Đội ngũ công chức có nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống quân lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội phù hợp với mục tiêu dân chủ xã hội chủ nghĩa
Để khẳng định được vai trò quản lý của minh, đội ngũ công chức phải tự xác định được nhiệm vụ nâng cao tri thức
để đảm nhận công việc phục vụ sự nghiệp cách mạng, quản lý Nhà nước và phục vụ nhân dân Theo Lên hiệu quả của bộ máy phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn đội ngũ cán bộ công
chức, ông thường nhắc nhở rằng: “ Muốn quản lý được thì cần phải am hiểu công việc và phải là một cán bộ quản
lý giỏi và “ không thể quản lý được nếu không có kiến thức đầy đủ nếu không tinh thông khoa học quản lý”
Trang 21Để thực hiện được vai trò của minh mỗi công chức cần phải đấu tranh chống những biểu hiện thờ ơ, coi thưởng lơ
là trước những đòi hỏi của nhân dân chống phương pháp làm việc bản giấy hình thức làm việc hoàn toàn không phù hợp với bản chất nhà nước XHCN Đội ngũ công chức cần phải thể hiện vai trò của mình thông qua làm việc một cách cụ thể, chu đáo, trung thực và giải quyết nhiệm vụ chuyên môn một cách khẩn trương nhanh chóng Tuyệt đối không được để xảy ra tình trạng giải quyết công việc tắc trách, vô tổ chức mà phải được tổ chức là việc có uy tín, điều hành, giải quyết kịp thời, chính xác mọi yêu cầu chính đáng của nhân dân Ở mỗi cơ quan tổ chức công chức phải “ xúc tiến tiến trinh chung của công việc, không được làm cho nó trì trệ"
Trong hoạt động hành chính công chức phải chủ động hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao và chống lại sự quan liêu, đùn đẩy trách nhiệm, phải giữ vững mối quan hệ với quan chung, thu hút quần chúng tham gia ngày càng đông đảo vào công tác quản lý Theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh thì người cán bộ công chức không chỉ có tài mà còn phải có đức Người quan niệm rằng người cán bộ, công chức có tài mà không có đức thì như cây không rễ và thưởng gây ra những tai hại không nhỏ Ngược lại nếu chỉ có đức mà không có tài thì chẳng khác nào ông bụt ngồi ở trong chùa Đạo đức luôn giữ vị trí hàng đầu, cơ bản, quyết định nhân của người cán bộ, công chức Trong bất cứ hoàn cảnh nào người cán bộ, công chức cũng phải đặt của nhân dân, của Đảng và nhà nước lên trên hết
Với tiêu chí đạo đức đó, người công chức muốn thực hiện được tốt vai trò của mình thì không được quan liều xa rời dân vì vậy phải biết lắng nghe ý kiến quần chúng, thành tâm học hỏi quần chủng, biết tổ chức, biết lãnh đạo, lời nói phải đi đối với việc làm
Kể tục những tư tưởng lớn lao về vai trò của đội ngũ công chức trong nền hành chính từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng của đội ngũ công chức Để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính trên các lĩnh vực thi nhất thiết phải xây dựng được đội ngũ công chức giỏi về chuyên môn, kinh nghiệm, có phẩm chất chính trị và cách mạng hiểu biết về quản lý hành chính Nắm vững được yêu cầu này sẽ giúp chúng ta xây dựng được đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở nước ta hiện nay
II Trách nhiệm chính trị của chính khách và công chức
Người đứng đầu hành pháp
Người đứng đầu hành pháp của mỗi quốc gia là: Thủ tướng chính phủ (Nhà nước theo mô hình chính thể đại nghị)
và Tổng thống (mô hình nhà nước tổng thống cộng hòa) Tuy khác nhau về cơ cấu tổ chức chính phủ-hành pháp nhưng trên thực tế, cách thức điều hành chính phủ đều phụ thuộc vào cá nhân người lãnh đạo - người đứng đầu hành pháp
Trách nhiệm chính trị của những người này là vô cùng to lớn và nặng nề vì họ chính là nhà làm luật chính, tư lệnh
tối cao quân đội, cũng là người chịu trách nhiệm chính về mối quan hệ với các quốc gia khác Khởi đầu nguồn
quyền uy của người đứng đầu hành pháp được tạo nên từ: đức tính khác biệt của chính khách và thực lực của Đảng
mà chính khách phục vụ.Những người đứng đầu hành pháp cần có trách nhiệm chứng minh hoặc thể hiện rằng, họ
có khả năng đại diện quyền lợi cho Đảng và cho cả những người ủng hộ Đảng, có thể tạo nên cơ sở thành công của Đảng trong bầu cử
Trong quá trinh thực hiện nhiệm vụ của mình, họ cần tập trung vào 2 phẩm chất đó là tài điều khiển quốc hội và thành công trong việc hợp tác với nước ngoài.Ngày nay, nhiệm vụ và trách nhiệm của người đứng đầu hành pháp ngày càng trở nên phức tạp và khó khăn, hiếm ai có thể làm được tất cả các trách nhiệm Từ cuối thế kỷ 20 đến đầu thế kỷ 21, càng ngày người đứng đầu hành pháp càng can thiệp sâu vào quá trình lập pháp của cơ quan nghị viện
b Nội dung tính chịu trách nhiệm
Trang 22Thứ nhất, sự độc lập của hành pháp trước lập pháp: Trong chính thể hiện đại, nhiều vấn đề thuộc thẩm quyền quốc
gia nói chung đều phải do hai cơ quan lập pháp và hành pháp cùng quyết định Ngành hành pháp nên can đảm và cương quyết hành động theo ý của mình, ví dụ điển hình cho điều này là việc Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh cùng có quyết định đánh Iraq trong khi dân chúng và Nghị viện phản đối gay gắt
Thứ hai, quyền hành pháp tối cao chỉ được giao cho một người đảm nhiệm (với một nhiệm kỳ và người đó phải
chịu trách nhiệm trước nhân dân hoặc trước Nghị viện do dân bầu ra) Bởi khi nhiều người cùng điều hành, sẽ dẫn đến tình trạng ngưng trệ và tê liệt, làm mất tác dụng phần lớn các biện pháp của chính quyển, nhất là trong các trường hợp khẩn cấp của đất nước Điểu thứ hai này đã lý giải tại sao quyền hành pháp phải thi hành theo chế độ một thủ trưởng, ví dụ như Tổng thống ở các nước theo mô hình chế độ Tổng thống, hay Thủ tướng theo mô hình chế độ đại nghị - Bản tính quyết đoán luôn đi kèm theo với bản lĩnh dám chịu trách nhiệm, cho dù có tổ chức ra một nhân vật thứ hai giúp việc cho người đứng đầu hành pháp thì người chịu trách nhiệm vẫn là người hành pháp -
Ở chế độ đại nghị, hành pháp được chia làm hai phần: Hành pháp tượng trưng và hành pháp thực quyền Hành pháp tượng trưng do nhà vua nằm giữ và hành pháp thực quyền do Thủ tướng đảm nhận
Sự cương quyết của hành pháp phải được bảo đảm bằng nhiệm kỳ vừa đủ để hành pháp có đủ thời gian thực hiện chính sách Ví dụ như ở Mỹ nhiệm kỳ của Tổng thống 4 năm là vừa đủ cho việc Tổng thống thực hiện một chính
sách tốt, đồng thời cũng là không đủ để lợi dụng nhiệm kỳ này xâm phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân Thứ ba, thủ lĩnh của Đảng cầm quyền luôn luôn là người đứng đầu hành pháp
Trong chế độ đại nghị: (cả quân chủ lẫn cộng hòa) Đảng chiếm số đông trong cuộc bầu cử Hạ nghị viện luôn luôn là Thủ tướng chính phủ Mất thủ tướng cũng đồng nghĩa với mất thủ lĩnh của đảng cầm quyền, và ngược lại
Trong chế độ Tổng thống: Qua các đợt tranh cử Tổng thống, ứng cử viên nào trúng cử được xác định là nhân vật số một của Đảng, và Đảng đó sẽ trở thành Đảng cầm quyền, chứ không phải Đảng chiếm đa số trong hạ nghị viện Đảng cầm quyền là Đảng nắm được quyền hành pháp
Thứ tư, chế độ chịu trách nhiệm cá nhân của các vị bộ trưởng trước người đứng đầu hành pháp
Ở Mỹ: Hiến pháp của Mỹ không quy định việc tổ chức chính phủ và các thành viên chính phủ, nhưng trên thực tế các bộ trưởng vẫn được hình thành và chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống, mà không phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội → Đặc điểm quan trọng của chế độ Tổng thống Cộng hòa
- Ở Anh với chế độ đại nghị điển hình, các bộ trưởng phải chịu trách nhiệm trước Hạ nghị viện, nhưng trên thực tế trước khi chịu trách nhiệm trước nghị viện phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng, vì các bộ trưởng do Thủ tướng đề
cử
=> Tất cả những đảm bảo trên được hình thành dần dần trong thực tế, phần nhiều không được quy định trong Hiến pháp của các nước phát triển, nhưng đều có tác dụng tạo nên tính quyết đoán và dám chịu trách nhiệm của hành pháp – bộ phận quan trọng nhất có tính nền tảng và cơ sở cho sự phát triển của Nhà nước
2 Liên hệ trách nhiệm chính trị: Hồ Chí Minh - nhà cách mạng và chính khách Việt Nam
Không phải đợi đến hôm nay mà trong quá khứ, trong những trang sử hào hùng của chúng ta đã chứng minh rằng một chính khách tài ba phải hội tụ đủ năng lực điều hành công việc đối nội đồng thời đề ra những đường lối đối ngoại sáng suốt, thoả đáng để đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc không bị tổn hại Và nhà chính khách vĩ đại, thiên tài, đầy cao quý đó chính là chủ tịch Hồ Chí Minh Chính Hồ Chủ tịch đã tận hiến cuộc đời Người để thực hiện vẹn toàn trách nhiệm chính trị của một chính khách mẫu mực của dân tộc Việt Nam
Vào những năm 1945-1946, hoạt động đối ngoại nhân dân của người đầy sáng tạo và sôi nổi được khái quát bằng những điểm sau: Xây dựng và củng cố Nhà nước cách mạng, xây dựng và mở rộng khối đoàn kết toàn dân; thi hành chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc: tranh thủ các nhân sĩ, trí thức, quan lại cũ (kể cả Bảo Đại và hoàng tộc) để họ tin tưởng và hợp tác với chính quyền mới; chủ tọa Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Để từ đó, xây dựng thành công khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp chuẩn bị bước vào kháng chiến
Trang 23Trong sự nghiệp Cách mạng tháng Tám 1945 thành công do sự lãnh đạo tài tình của Đảng đã giành được chính quyền về tay nhân dân sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp xâm lược chiếm đóng và cai trị đất nước ta Nhưng liền sau đó, thực dân Pháp với sự giúp sức của quân Anh đã quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, vào giữa đêm 23-9-1945 chỉ sau Tổng khởi nghĩa chưa đầy một tháng Rồi, chưa đầy nửa năm sau, chúng chuyển thêm quân từ Trung Quốc sang đánh Lạng Sơn, đổ bộ Hải Phòng rồi tấn công thủ đô Hà Nội vào đêm 19-12-1946, đúng như tiên đoán của Trung ương Đảng ta trong Chỉ thị toàn dân kháng chiến (ngày 12-12-1946) Ngay lúc này đây, tài năng đối ngoại nhân dân của Người đã phát huy toàn lực, kịp thời và hợp lòng dân qua Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12 Cuộc kháng chiến toàn quốc là một nghệ thuật vận động kháng chiến tài tình, khéo léo và có chính nghĩa thể hiện ý chí sắt đá quyết tâm bảo vệ Tổ quốc và tư tưởng kháng chiến toàn dân, toàn diện Khi đã đến giới hạn mà chúng ta không thể “nhân nhượng” được nữa, bởi vì kẻ thù càng ngày càng “lấn tới”, thì chúng ta buộc phải cầm súng và sẵn sàng đương đầu chống xâm lược, quyết bảo vệ độc lập tự do và cuộc sống của mình Hồ Chủ tịch tuyên cáo: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Rõ ràng, Bác phải là một chính khách nhạy bén trong công tác đối nội Chắc chắn là người thấu rõ tường tận tâm thế của người dân một nước đang đứng trước nguy cơ làm nô
lệ, bị tước đoạt độc lập tự do mới có thể kịp thời nắm bắt và khơi dậy lòng cương quyết đấu tranh đến cháy bỏng bảo vệ hòa bình, độc lập dân tộc "quyết không sợ", quyết đứng lên chiến đấu đến cùng, dù biết rằng chiến tranh là
có tổn thất, là có mất mát, hy sinh, là tàn phá
Trước vô vàn khó khăn, thách thức đó, lại là cơ hội để Người tỏa sáng phẩm cách của một nhà lãnh đạo có đường lối ngoại giao sáng suốt, hoà bình và đầy nhân văn Vì yêu chuộng hòa bình, không muốn chiến tranh nên Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị “Hòa để tiến” Nổi bật trong những hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ này là việc ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 giữa Chính phủ Việt Nam với đại diện Pháp ở Hà Nội và chuyến đi thăm chính thức nước Pháp nhân dịp Hội nghị Fontainebleau nhóm họp, nhằm giương cao ngọn
cờ độc lập và thiện chí hoà bình của nước Việt Nam mới Để có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Người đã kí với Pháp bản Tạm ước 14-9-1946 Chính phủ ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ đầu đã cố gắng xúc tiến và tham dự nhiều hội nghị với thực dân Pháp khi nhận ra dã tâm gây hấn âm mưu chiếm lại Việt Nam Hơn thế nữa, Người cũng đã viết hàng loạt bức thư cho nhân dân Pháp, cho chính Phủ và Quốc hội Pháp, thư gửi Tổng thống Pháp Vincent Auriol hay cả tướng Leclerc đang cầm đầu chiến tranh ở Nam bộ Thậm chí, một tuần trước khi nổ ra sự kiện Toàn quốc kháng chiến, trong lá thư gửi Chính phủ Pháp, Người viết: "Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình Chúng tôi không muốn chiến tranh Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách…Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm"7 Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà cách mạng và chính khách vĩ đại của dân tộc Phong cách ứng xử nhân văn ấy còn được nhà nghiên cứu
Mỹ David Halberstam ghi nhận: “Toàn thể con người của Ông toát lên một phong thái bình dị và tế nhị bẩm sinh Ông là tiêu biểu cho một nền văn hóa, không phải là nền văn hóa châu Âu mà có lẽ tiêu biểu cho nền văn hóa tương lai”8 Với tư tưởng Ngoại giao hoà hiếu, nhân văn cùng với tài năng đối nội sâu sắc và thấu hiểu nhân dân, Người
đã thực sự là một chính khách hoàn thành trọn vẹn trách nhiệm chính trị của mình
7 Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Chính phủ Pháp
8 Đặng Xuân Kỳ: Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2010, tr.223
Trang 24III Bộ máy công chức
1 Bộ máy công chức
Những người làm việc trong bộ máy hành pháp, bộ máy tư pháp của nhà nước đều được gọi là bộ máy công chức
Họ đảm nhiệm các chức năng hành chính và tư pháp (xét xử) của nhà nước, vì vậy phải có chuyên môn Về nguyên tắc họ phải thực hiện các quyết định của chính khách trong khuôn khổ đã được quy định từ trước của hệ thống pháp luật quốc gia
Cái mới về mặt thể chế của các quốc gia dân chủ không nằm ở chế độ bầu cử hoặc lập pháp, mà là sự mở rộng quyền hành pháp làm xuất hiện “chế độ quan liêu" hiện đại khoảng từ thế kỷ XIX trở đi, và đến thế kỷ XX chiếm một vị trí quan trọng trong xã hội phương Tây
Quá trình mở rộng chức năng của nhà nước dẫn tới hai chức năng chủ yếu của hành pháp xuất hiện: chức năng lập quy và chức năng thi hành Nhằm khống chế quyền lực ngày càng gia tăng của ngành công nghiệp, phải áp dụng các đạo luật bảo vệ, kiểm soát giao thông, ngăn cấm việc xây dựng một cách tuỳ tiện; đồng thời với ý thức tổ chức rất nhiều phương diện khác nhau của đời sống xã hội, Nhà nước đã phải quy định rất nhiều luật lệ và thành lập bộ máy hành chính có trách nhiệm thi hành những luật lệ ấy Chính vì tầm quan trọng đó của bộ máy hành chính, mà nhiều người đã cho rằng: Trách nhiệm của chính quyền - tức là nghĩa vụ của các công chức phải báo cáo về các hoạt động của mình cho các công dân, và quyền của các công dân được hành động chống lại các quan chức có các hành vi mà các công dân coi là không chuẩn mực - là một yếu tố thiết yếu của dân chủ
Một trong những kết quả của vấn đề trên là quyền hành chính trở nên rất quan trọng trong hoạt động của bộ máy nhà nước Cho dù là thu thuế nông nghiệp hay thuế thu nhập, thể lệ xây dựng, kiểm soát hối đoái, phụ cấp bảo hiểm xã hội, trợ giúp kinh tế hay cầu cứu các cơ quan nhà nước, mọi người dân đều phải đối mặt với những quyết định của các viên chức vô danh của các cơ quan nhà nước Những người này áp đặt thủ tục, cách lý giải sự việc và pháp luật theo cách hiểu của riêng họ và giải quyết công việc với một quyền lực gần như của các thẩm phán toà án, mà không cần phải tôn trọng theo một thủ tục nào hết
Các công chức thường được làm việc cho các cơ quan bộ và ngang bộ dưới sự lãnh đạo của bộ trưởng Chính khách
- bộ trưởng chỉ là chức vụ “tạm thời" thường thay đổi theo nhiệm kỳ của nội các Vì vậy các bộ trưởng phải dựa vào
ý kiến và trợ lực của các công chức - những người hoạt động thường xuyên trong bộ, đặc biệt là các quan chức cao cấp để điều hành bộ và hoạch định chính sách Ở các nước trên thế giới, những bộ máy công chức hoạt động tốt có thể thúc đẩy sự tăng trưởng và giảm đói nghèo Nếu có bộ máy công chức tốt lành nghề, thì chính bộ máy viên chức này có thể cung cấp những đầu vào tốt về chính sách và cung cấp những hàng hoá dịch vụ công cộng với giá thấp nhất
Xây dựng bộ máy viên chức chuyên nghiệp dựa vào các quy tắc phải tốn rất nhiều thời gian và sức lực Trong khi đó
có thể thi hành một số biện pháp khác một cách nhanh chóng hơn và đưa lại điều có ích Sử dụng thị trường cung cấp những dịch vụ có cạnh tranh, giảm bớt các dịch vụ chính phủ hiện đang nắm độc quyền để có thể giảm bớt chi phí
và cải tiến chất lượng dịch vụ; ký hợp đồng về các hoạt động có thể xác định rõ ràng thông qua đấu thầu có cạnh tranh giảm bớt gánh nặng đối với khả năng quá tải của nhà nước và xây dựng mối quan hệ hợp tác với các thị trường
và các tổ chức phi chính phủ để tăng hiệu quả phục vụ
Tuy nhiên, cũng có trường hợp “công chức làm hư chính sách" Những khích lệ cho tham nhũng phát sinh ở bất cứ nơi nào mà các công chức có nhiều quyền tự quyết định rộng rãi, mà ít hoặc không phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình Các công chức có thể bị lôi kéo vào việc sử dụng vị trí quyền hạn của họ để kiếm lợi riêng bằng cách nhận hối lộ; ngược lại các cá nhân muốn thanh toán một cách bất hợp pháp để có được những điều mà họ mong muốn ở nhà nước Bất kỳ một chính sách nào tạo ra khoảng cách giả tạo giữa cung và cầu cũng tạo ra cơ hội cho
Trang 25người trung gian lợi dụng, làm phát sinh ra nạn tham nhũng của quan chức nhà nước Tham nhũng có thể dai dẳng tồn tại nếu trong nhà nước ít có những quyết định độc lập của tư pháp (toà án) Tham nhũng cũng có thể phát triển mạnh khi những hậu quả của việc xét xử thấp hơn so với lợi lộc mà tham nhũng đem lại
Việc kiềm chế tham nhũng đòi hỏi phải có sự hiểu biết về những lợi ích và chi phí dưới sự kiểm soát của công chức
Về phương diện này thì ở ngành hành pháp cũng có những đòi hỏi tương tự, các công chức đảm nhiệm các công việc cho hành pháp phải đặt trên căn bản của sự bổ nhiệm và thăng thưởng của các ngạch bậc Sự phức tạp của công việc hành chính, tính chất rộng lớn, nội dung kỹ thuật, và thủ tục rắc rối, các cơ hội làm việc chuyên nghiệp, và hệ thống tuyển chọn dựa trên tài năng,
Công chức có ba loại:
1 Công chức nghị viện: công chức giúp việc cho quốc hội/nghị viện
2 Công chức hành chính: làm việc ở các cơ quan hành chính
3 Công chức tư pháp: làm việc ở các toà án xét xử
Tổ chức hoạt động của nhà nước thông qua hoạt động của các cá nhân thực hiện công việc của nhà nước gồm hai hoạt động của hai cơ cấu thành tạo nên là: chính khách và công chức Chính khách - bộ trưởng là chức vụ “tạm thời' thường thay đổi theo nhiệm kỳ Công chức hành chính cao cấp phải có trách nhiệm làm cho bộ trưởng hiểu về quan niệm chính sách của bộ trưởng trước đây và hiện nay
Công chức ngạch hành chính có những nhiệm vụ sau:
1 Giám sát đôn đốc công việc thường nhật của ngành, giải quyết các công việc khó khăn do cấp dưới trệ đình,
và phải biết khi nào đặc biệt khó khăn không thuộc thẩm quyền cần đưa lên cấp trên giải quyết Để giải quyết vấn đề thuộc nhiệm vụ quyền hạn của mình phải có trách nhiệm trao đổi với các đồng sự trong bộ, với bộ khác, với chức trách địa phương, với nhóm quyền lợi có liên quan,
2 Phát biểu quan điểm riêng của mình để đề cao chính sách của bộ Ngoài việc tính toán chính xác đến chi phí, nhân lực và vật lực, phải còn tiên liệu trước các phản ứng của quốc hội, báo chí và các nhóm áp lực quyền lợi
3 Giúp bộ trưởng soạn thảo các luật lệ và các văn bản pháp quy thuộc lĩnh vực hoạt động của bộ, nhất là việc soạn thảo các văn bản chi tiết để thi hành các đạo luật thuộc trách nhiệm của bộ
4 Giúp bộ trưởng giải trình trước quốc hội
Qua những công việc này giúp công chức tham dự vào việc hoạch định chính sách Địa vị pháp lý của công chức là phải bảo vệ và thi hành các chính sách của bộ
Hành pháp kiểm soát trực tiếp các hoạt động và phương pháp hành chính; phối hợp vô số các hoạt động hành chính
và chỉ thị hành chính cách thức thực thi luật, bổ nhiệm các cá nhân vào các chức vụ hành chính chính yếu Đồng thời, hành pháp có trách nhiệm duy trì kỷ luật và đòi hỏi sự cộng tác của các công chức trong công vụ và nâng cao tinh thần, lòng tự hào trong nghề nghiệp của hành chính
Hành pháp không đơn thuần chỉ là bộ phận được tổ chức ra để thực thi một cách thụ động các quyết định luật của luật pháp, theo cách đề xướng của học thuyết phân quyền, cũng như được ghi nhận lại trong các văn bản hiến pháp - luật căn bản của mỗi quốc gia, là cơ quan hành chính cao nhất, là nền tảng cho sự phát triển và hoàn thành các chức năng lập pháp và tư pháp Hành pháp là nơi ban hành các văn bản pháp quy, là nơi soạn thảo ra các văn bản luật, lập
ra chính sách huy động nguồn nhân lực, vật lực của xã hội
Trang 262 Bộ máy công chức Việt Nam
Là tổ chức các cơ quan, đơn vị và nhân viên làm việc trong lĩnh vực công vụ nhà nước Cụ thể, bộ máy công chức Việt Nam bao gồm các cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp, cơ quan kiểm toán, cơ quan quản lý nhà nước về thuế,
bộ ngành địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập và các cơ quan đơn vị khác thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
Các nhân viên công chức được tuyển dụng và bổ nhiệm theo quy định của pháp luật và phải tuân thủ các quy định và nguyên tắc về đạo đức, kỉ luật, công tác, năng lực và trách nhiệm công vụ Các nhân viên công chức được hưởng các quyền và nghĩa vụ được quy định bởi pháp luật và đảm bảo về mặt lương bổng, chế độ đãi ngộ và an sinh xã hội
Bộ máy công chức là một phần quan trọng của hệ thống chính trị và quản lý của một quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển của đất nước
Bộ máy công chức ở Việt Nam mang những đặc điểm sau:
1 Quy trình tuyển dụng khá phức tạp: Để trở thành công chức, người ta phải tham gia kỳ thi tuyển dụng, kiểm tra sức khoẻ và thực tập Thậm chí có những ngành nghề yêu cầu tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, tiến sỹ,
2 Cơ cấu tổ chức hệ thống bộ máy công chức: Hệ thống bộ máy công chức ở Việt Nam được chia thành các cấp quản lý từ trung ương, địa phương cho đến các đơn vị cơ sở
Nhược điểm:
1 Chế độ lương thưởng và phúc lợi chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân viên công chức: Ở Việt Nam còn thấp so với nhiều nước khác đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển
2 Thái độ làm việc của nhân viên công chức chưa đáp ứng được yêu cầu của người dân: Có nhiều phản ánh
về thái độ làm việc của nhân viên công chức ở Việt Nam, chủ yếu là chậm chạp, lãng phí thời gian và thờ ơ đối với người dân
3 Độ tuổi và kinh nghiệm làm việc của nhân viên công chức còn trẻ và chưa đủ: Một số đơn vị có nhiều nhân viên công chức còn trẻ, chưa tích lũy đủ kinh nghiệm làm việc và chưa có đủ kiến thức chuyên môn để giải quyết các vấn đề phức tạp của công việc
Ưu điểm:
Trang 271 Có số lượng lớn nhân viên công chức: Số lượng nhân viên công chức ở Việt Nam đáp ứng nhu cầu quản lý
và cung cấp dịch vụ cho người dân
2 Được đào tạo chuyên môn tốt: Nhân viên công chức ở Việt Nam được đào tạo chuyên môn để giải quyết liên quan
3 Có cơ chế đánh giá, kiểm tra và phân công việc rõ ràng, đảm bảo tính minh bạch của bộ máy công chức
4 Thực hiện công tác phát triển kinh tế - xã hội tốt: tham gia rất tích cực vào việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế
3 So sánh bộ máy công chức của các nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa
1 Tổ chức của Việt Nam và Mỹ khác nhau Trong khi Mỹ có chính phủ liên bang và các bang độc lập có quyền
tự trị cao thì Việt Nam có chính phủ đơn nguyên và các tỉnh thành phố thuộc trung ương
2 Điều kiện và quy trình tuyển dụng nhân viên công chức cũng khác nhau
Trong khi Mỹ có nhiều cơ hội cho người dân ứng cử và làm việc trong chính phủ thì tuyển dụng nhân viên công chức ở Việt Nam thường có nhiều thủ tục hơn.Quy định về lương, phúc lợi và quyền lợi của nhân viên công chức cũng khác nhau giữa các nước
3 Lương của nhân viên công chức ở Mỹ thường cao hơn so với Việt Nam trong khi các quyền lợi và chế độ phúc lợi khác nhau Bộ máy công chức ở Mỹ thường có tính chất dân chủ hơn và người dân tham gia nhiều hơn vào quá trình đưa ra quyết định của chính phủ Trong khi đó bộ máy công chức ở Việt Nam có tính chất quyết định từ trên xuống hơn và người dân có ít cơ hội tham gia vào quá trình ra quyết định của chính phủ
4 So sánh bộ máy công chức trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa (Việt Nam - Trung Quốc)
Giống nhau:
1 Cả hai đều là bộ máy nhà nước quan trọng trong việc quản lý và thực hiện chính sách của chính phủ
2 Cả hai đều có cơ cấu tổ chức tương tự với các cấp quản lý tương đương, bao gồm trung ương, địa phương
và các cơ quan thuộc các ban ngành khác
Khác nhau:
1 Cơ cấu tổ chức khác nhau: Trung Quốc có bộ máy phức tạp hơn và nhiều hơn các cơ quan tư pháp và các
cơ quan quản lý nhà nước khác nhau, trong khi đó bộ máy công chức Việt Nam tập trung hơn vào các cơ quan hành chính và quản lý địa phương
2 Thực hiện chính sách khác nhau: Cả hai quốc gia đều có chính sách khác nhau về phát triển kinh tế, xã hội
do bộ máy công chức của từng nước có những nhiệm vụ và chức năng khác nhau
3 Quy định và nguyên tắc khác nhau: Cả hai nước có các quy định và nguyên tắc khác nhau về đạo đức, kỷ luật, năng lực công và đối với các nhân viên công chức
Trang 284 Các vấn đề đang đối mặt khác nhau: Hiện nay Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều hình thức tham nhũng, lãng phí, thừa nhân viên trong khi Trung Quốc đang đối mặt với các vấn đề như quy mô bộ máy công chức quá lớn và việc giảm bớt biên chế nhân viên công chức
Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau:
Sự khác nhau trong bộ máy công chức của các nước có thể phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như lịch sử, văn hoá, chính trị, kinh tế và xã hội của từng quốc gia Các yếu tố này ảnh hưởng đến cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, vai trò của các cơ quan và nhân viên công chức, quy trình tuyển dụng và bổ nhiệm, chế độ phúc lợi và các quy trình đạo đức, kỷ luật
Ví dụ: Một số quốc gia có bộ máy công chức lớn hơn do đối phó với các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội phức tạp hơn Những quốc gia này có thể có nhiều cơ quan quản lý nhà nước, đòi hỏi có sự phân cấp chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả và quản lý tốt nhất Trong khi một số quốc gia khác có bộ máy công chức đơn giản vì chính phủ của họ đang thực hiện chính sách đơn giản hoá hoặc có nền kinh tế phát triển hơn
Ngoài ra yếu tố văn hoá địa lý cũng có thể ảnh hưởng đến cách tổ chức bộ máy công chức của các quốc gia
Ví dụ: Ở một số quốc gia, tuyển dụng và bổ nhiệm nhân viên công chức thể chế dựa vào mối quan hệ cá nhân và gia đình trong khi ở các quốc gia khác quá trình này phải tuân thủ nghiêm khắc bảo đảm tính công bằng, minh bạch
Do đó, sự khác nhau trong bộ máy công chức phụ thuộc vào các yếu tố và được quy định bởi các tình huống cụ thể của mỗi quốc gia
CÂU HỎI CHƯƠNG CHÍNH KHÁCH VÀ CÔNG CHỨC Câu 1: Phân tích quyền và nghĩa vụ của công chức ở VN?
1 Quyền của công chức
Quyền của công chức bao gồm quyền lực pháp lý được Nhà nước trao cho để thực thi công vụ và quyền lợi của công chức được hưởng khi làm việc cho Nhà nước
Bản chất quyền lực pháp lý của công chức có được khi thực thi công vụ là:
- Được trao tương xứng với nhiệm vụ
- Không gắn liền với công chức mà gắn liền với vị trí công chức đảm nhiệm
- Không phục vụ công chức mà nhằm thực hiện công vụ mà công chức đảm nhận
2 Nghĩa vụ của công chức
Những quy định chung
Nghĩa vụ của người làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và công chức nói riêng là những gì nhà nước bắt buộc người làm việc cho mình phải tuân thủ và đó cũng chính là những gì người làm việc cho nhà nước cam kết phải thực hịên khi họ trở thành thành viên của các cơ quan nhà nước Đó là những nghĩa vụ này mang tính đơn phương,
do nhà nước quy định và người lao động phải cam kết tuân theo Những nghĩa vụ đó mang tính pháp lý và không phải là một sự thoả thuận giữa nhà nước và người làm việc cho nhà nước Nếu như với các tổ chức, bên cạnh những quy định mang tính chất chung của pháp luật, người sử dụng lao động và người lao động có thể đi đến thoả thuận một số nội dung mang tính quy chế lao động, trong khi đó đối với cơ quan nhà nước những quy chế đó đã hình thành
từ trước và người lao động muốn tham gia làm việc phải cam kết thực hiện
Ở các quốc gia khác nhau, do thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế, điều kiện văn hóa, xã hội khác nhau mà có quy định khác nhau về nghĩa vụ của công chức Nhưng nhìn chung các nghĩa vụ đó thường bao gồm các nghĩa vụ trung thành đối với Nhà nước, nghĩa vụ trong thực thi công vụ, trong mối quan hệ với cấp trên, nghĩa vụ trong mối quan hệ với nhân dân Trong văn bản pháp luật, các nước đều xác định khá chi tiết và cụ thể các nghĩa vụ này Một
số nước công chức còn có nghĩa vụ đọc lời thề khi gia nhập công vụ Nếu công chức từ chối đọc thì sẽ bị thải hồi Ở Việt Nam, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã xác định rõ nghĩa vụ của cán bộ công chức bao gồm các nhóm nghĩa vụ: trung thành với Đảng, với nhà nước với nhân dân; nghĩa vụ trong thực thi công vụ; nghĩa vụ của người đứng đầu
cơ quan tổ chức Ngoài ra công chức còn phải thực hiện nghiêm những điều không được làm Điều 8, 9 và 10 của Luật quy định cụ thể các nhóm nghĩa vụ của cán bộ, công chức như sau như sau:
Trang 29Nghĩa vụ của công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân
-Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc
và lợi ích quốc gia
-Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân
-Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân
-Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Nghĩa vụ của công chức trong thi hành công vụ
-Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao
-Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước -Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị
-Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao
-Chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình
-Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Nghĩa vụ của công chức là người đứng đầu
Ngoài việc thực hiện quy định những nghĩa vụ trên, cán bộ, công chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị còn phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
-Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
-Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức;
-Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;
-Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử
lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân;
-Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức;
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Những điều công chức không được làm
Ngoài ra công chức phải thực hiện nghiêm những việc không được làm liên quan đến đạo đức công vụ, đến bí mật nhà nước; những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền
Câu 2: Hãy phân tích những quyền lợi của công chức
Quyền lợi của người làm việc cho tổ chức hành chính nhà nước nói chung và công chức nói riêng thường được xác định trong các văn bản pháp luật của các quốc gia thể hiện thái độ, sự quan tâm đến việc xây dựng được một nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính nhà nước và xây dựng phát triển đất nước Quyền lợi là cơ sở bảo đảm, là điều kiện và phương tiện để cán bộ, công chức thực thi công việc có hiệu quả Nhìn chung, các nước đều
cố gắng để đảm bảo được quyền lợi và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức sao cho họ có thể yên tâm thực hiện được công việc được giao, tận tâm với công việc mà không bị chi phối bởi cuộc sống thường nhật Quyền lợi của cán
bộ, công chức còn là cơ sở để đảm bảo cho người cán bộ, công chức có cơ hội và điều kiện thăng tiến, tạo ra sự yên tâm, tận tình làm việc và ý chí phấn đấu vươn lên trong công việc
Trang 30Quyền lợi của người làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước là những gì mà người làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước được hưởng từ Nhà nước Do người làm việc cho tổ chức hành chính nhà nước trước hết, là người lao động theo quy định của pháp luật lao động nên họ cũng được hưởng những quyền lợi của người lao động do pháp luật quy định Ngoài Bộ luật Lao động, ở nhiều nước đều có Luật riêng về công vụ, công chức để quy định những vấn đề liên quan đến công chức, trong đó có vấn về về quyền lợi của công chức Ở Việt Nam, các quyền lợi cụ thể của người làm việc cho tổ chức hành chính nhà nước được quy định cụ thể trong Luật Cán bộ, công chức
Quyền lợi của người làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước được hưởng không chỉ bao gồm các quyền lợi về vật chất (tiền lương, phụ cấp ) mà còn bao gồm các quyền lợi về tinh thần (quyền nghỉ ngơi, nghiên cứu khoa học, tham gia các tổ chức công đoàn )
Quyền lợi của người làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước không giống nhau ở các quốc gia do ảnh hưởng bởi các điều kiện phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó Trong xu thế hội nhập quốc tế, với quan điểm đầu tư vào nguồn lực con người và thực hiện được mục tiêu xây dựng một nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của cải cách hành chính, nhiều nước đang rất quan tâm đến việc cam kết thực hiện ngày càng tốt các quyền lợi cho người làm việc trong hệ thống hành chính nhà nước
Ở Việt Nam, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến cải cách tiền lương, cải thiện chế độ và điều kiện làm việc, thực hiện chế độ nhà ở công vụ, hoàn thiện các quy định về quản lý cán bộ công chức cũng chính là nhằm đảm bảo cho quyền lợi của cán bộ, công chức được đảm bảo và được thực hiện trong thực tiễn Như vậy, quyền của công chức có thể được quy định thông qua quyền lực pháp lý để thực thi công vụ của công chức
và quyền lợi của công chức với tư cách là người làm việc cho nhà nước Tuy nhiên, theo Luật Cán bộ, công chức, quyền của cán bộ, công chức được tiếp cận chung theo 4 nhóm sau đây:
* Quyền của cán bộ, công chức được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ
- Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ
- Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật
- Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao
- Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ
- Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ
* Quyền của cán bộ, công chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương:
Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội của đất nước Cán bộ, công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu
số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật
Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật
* Quyền của cán bộ, công chức về nghỉ ngơi:
Cán bộ, công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ
* Các quyền khác của cán bộ, công chức:
Cán bộ, công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sĩ và các quyền khác theo quy định của pháp luật
Câu 3: Việc đánh giá công chức được căn cứ vào các nội dung nào?
Tại khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 quy định:
1 Công chức được đánh giá theo các nội dung sau đây:
- Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc;
- Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
Trang 31- Kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao; tiến độ và chất lượng thực hiện nhiệm vụ Việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phải gắn với vị trí việc làm, thể hiện thông qua công việc, sản phẩm cụ thể;
- Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ;
- Thái độ phục vụ nhân dân, doanh nghiệp đối với những vị trí tiếp xúc trực tiếp hoặc trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp
2 Ngoài các nội dung nêu trên, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nội dung sau đây:
- Kế hoạch làm việc và kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của cá nhân phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp phụ trách Mức xếp loại chất lượng của cá nhân không cao hơn mức xếp loại chất lượng của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp phụ trách;
- Tiến độ, chất lượng các công việc được giao;
- Năng lực lãnh đạo, quản lý;
- Năng lực tập hợp, đoàn kết
3 Thời điểm đánh giá công chức được thực hiện như sau:
- Đánh giá hàng năm; đánh giá trước khi thực hiện xét nâng ngạch, nâng lương trước thời hạn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, quy hoạch, điều động; đánh giá trước khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái;
- Căn cứ vào yêu cầu quản lý của cơ quan, tổ chức, đơn vị, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức quy định đánh giá công chức theo quý, tháng hoặc tuần phù hợp với đặc thù công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình, bảo đảm công khai, dân chủ, khách quan, định lượng bằng kết quả, sản phẩm cụ thể; kết quả đánh giá
là căn cứ để thực hiện đánh giá công chức quy định tại điểm a khoản này
4 Căn cứ vào các nội dung được nêu trên, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức ban hành quy chế đánh giá công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình
Câu 4: Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1 Về ưu điểm
Hội nghị Trung ương 7, khóa XII đánh giá khái quát: Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khoá VIII về Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn; nguồn cán bộ quy hoạch khá dồi dào, cơ bản bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín…
Trên cơ sở đánh giá của Đảng, có thể khái quát những ưu điểm chính về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có những ưu điểm sau:
Thứ nhất, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được nâng lên, cơ cấu hợp lý hơn
Hội nghị Trung ương 4, khóa XI đánh giá đánh giá tổng quát: Thành tựu 25 năm đổi mới là thành quả của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên Đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng
Hội nghị Trung ương 7, khóa XII đánh giá về cán bộ: Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khoá VIII về Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn; nguồn cán bộ quy hoạch khá dồi dào, cơ bản bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện
Trên thực tế, đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại các bộ, ngành, cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân từng bước được nâng lên về trình độ chuyên môn, chất lượng và hiệu quả công tác Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được các bộ, ngành, địa phương quan tâm thực hiện tốt theo kế hoạch hằng năm Việc tổ chức các kỳ thi nâng ngạch cho đội ngũ công chức, viên chức được thực hiện thường xuyên hơn; qua đó số lượng chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính làm việc tại các bộ, ngành và cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh
đã được tăng lên Công tác tổ chức cán bộ, tuyển dụng, bổ nhiệm, quy hoạch, đề bạt, luân chuyển đội ngũ cán bộ,
Trang 32công chức phù hợp với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đào tạo và năng lực sở trường công tác được quan tâm, chú trọng gắn với đổi mới cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Thứ hai, việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bộ máy hành chính nhà nước ngày càng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn
Đại hội XII khẳng định: Tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -
xã hội tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn theo yêu cầu, nhiệm vụ mới Chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các tổ chức trong hệ thống chính trị được phân định, điều chỉnh phù hợp hơn Chỉ đạo việc thực hiện thí điểm một số mô hình đổi mới về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
Hội nghị Trung ương 6, khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đánh giá: Công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp và đạt được những kết quả quan trọng Đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, quy chế để tổ chức thực hiện Các quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khoa học và dân chủ hơn Công tác đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức mới được quan tâm, từng bước gắn với chức danh, với quy hoạch và sử dụng cán bộ Chủ trương luân chuyển kết hợp với bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa phương đạt được kết quả bước đầu Công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm thực hiện có hiệu quả hơn; kỷ cương, kỷ luật được tăng cường Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức, cá nhân vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và ngăn chặn tiêu cực, làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước
Thứ ba, công tác quản lý cán bộ, công chức có nhiều đổi mới, tiến bộ
Trong giai đoạn 2011 - 2016, việc quản lý biên chế công chức, viên chức được thực hiện thống nhất trên cả nước theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, Luật Tổ chức Chính phủ năm
2001, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003; Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật
Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, bảo đảm thống nhất, đồng bộ giữa quản lý biên chế công chức với tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; kết hợp giữa quản lý biên chế công chức với tiêu chuẩn chức danh, vị trí
việc làm của công chức là cơ bản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đơn vị Tổng biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước từ Trung ương đến cấp huyện trong giai đoạn
2011 - 2016 có xu hướng giảm, đặc biệt là trong giai đoạn 2014 - 2016 với số lượng giảm trung bình mỗi năm khoảng hơn 4.000 biên chế và tiếp tục giảm trong năm 2017 Đa số các bộ, ngành, địa phương chấp hành tốt các
quy định của pháp luật, thực hiện quản lý và sử dụng đúng, thậm chí ít hơn số biên chế được giao Cụ thể: có 12/15
bộ, cơ quan ngang bộ sử dụng đúng hoặc không sử dụng hết biên chế được giao tại các tổng cục trực thuộc; 13/15
bộ, cơ quan ngang bộ dư biên chế tại các vụ, cục trực thuộc, trong đó có một số bộ, cơ quan ngang bộ còn dư biên chế với số lượng khá lớn
Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội , trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi Mặc dù việc tuyển dụng, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức đã được thực hiện trên cơ sở yêu cầu vị trí việc làm, nhưng cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại nhiều bộ, ngành, cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân tỉnh chưa hợp lý, vẫn còn tình trạng bị động, hụt hẫng giữa các thế hệ cán bộ Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế; số lượng chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp và tương đương trong một số ngành, lĩnh vực còn chiếm tỷ lệ thấp; đội ngũ chuyên gia đầu ngành còn ít, chưa có nhiều chuyên gia đủ khả năng tham mưu cho Đảng
và Nhà nước hoạch định chính sách pháp luật và giải quyết những vấn đề pháp lý đặt ra trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ, công chức vẫn còn tư tưởng làm việc theo kiểu bao cấp trước đây, không có tính cạnh tranh, thiếu động lực để làm việc, suy giảm đạo đức, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham nhũng, lãng phí
Hai là, cải cách hành chính còn chậm, thiếu đồng bộ; tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
Đại hội XII xác định: cải cách hành chính còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu; thủ tục hành chính còn phức tạp, phiền hà, đang là rào cản lớn đối với việc tạo lập môi trường xã hội, môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch, hiệu quả cho sự phát triển Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương chậm đổi mới; hiệu lực,
Trang 33hiệu quả ở nhiều nơi chưa cao Trách nhiệm giải trình của các cấp chính quyền chưa được quy định rõ ràng Việc triển khai một số nhiệm vụ cải cách tư pháp còn chậm; vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, oan, sai, bỏ lọt tội phạm Việc kiện toàn tổ chức, bộ máy các cơ quan, tổ chức nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức kết quả còn thấp Số lượng cán bộ, công chức không những không giảm mà lại tăng, nhất là ở các đơn vị sự nghiệp công lập và công chức, cán bộ chuyên trách, không chuyên trách xã, phường, thị trấn Việc đổi mới công tác cán bộ chưa có đột phá lớn Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất qua nhiều nhiệm kỳ nhưng chưa có những tiêu chí cụ thể và giải pháp khoa học để khắc phục Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi Đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, cấp chiến lược chưa được tập trung xây dựng…
Hội nghị Trung ương 6 khóa XII khẳng định: Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ của một số cơ quan, tổ chức chưa thật rõ, còn chồng chéo, trùng lắp Việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa các ngành, các cấp và trong từng cơ quan, tổ chức chưa hợp lý, mạnh mẽ và đồng
bộ; còn tình trạng bao biện, làm thay hoặc bỏ sót nhiệm vụ Kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đạt kết quả thấp; tỉ lệ người phục vụ cao, nhất là ở khối văn phòng; số lãnh đạo cấp phó nhiều; việc bổ nhiệm cấp "hàm" ở một số cơ quan Trung ương chưa hợp lý Cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả chưa cao; việc công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình còn hạn chế Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính chuyển biến chậm, không đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu Tuy đã quan tâm đầu tư nhiều cho kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ quản lý nhưng hiệu quả tác động vào việc tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động và tinh giản biên chế chưa tương xứng Số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước rất lớn, nhất là ở các đơn vị sự nghiệp công lập, người hoạt động không chuyên trách cấp xã và ở thôn, tổ dân phố; chính sách tiền lương còn bất cập…
Ba là, công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, việc thực hiện một số nội dung còn hình thức
Trong công tác cán bộ, dánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; còn dàn trải, khép kín, chưa bảo đảm phương châm "động"
và "mở" Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh Luân chuyển cán bộ và thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh không
là người địa phương, trong đó có bí thư cấp uỷ các cấp còn bất cập, chưa đạt yêu cầu Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, "cánh hẩu" xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực Chủ trương thu hút nhân tài chậm được cụ thể hoá bằng các cơ chế, chính sách phù hợp; kết quả thu hút trí thức trẻ và người có trình độ cao chưa đạt yêu cầu Chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ; chính sách tiền lương, nhà ở và việc xem xét thi đua, khen thưởng chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc…
Việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế chưa đi vào thực chất, không theo đúng quy định và chưa đạt mục tiêu
đề ra
Chủ trương tinh giản biên chế là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được Chính phủ quan tâm chỉ đạo thực hiện thống nhất, đồng bộ trên cả nước, tạo cơ sở quan trọng cho việc xác định và quản lý biên chế Tất cả các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức triển khai quán triệt nội dung tinh giản biên chế theo Nghị quyết của nhà; đã tiến hành việc rà soát, đánh giá, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hiện có để xác định được số lượng người cần giữ lại làm việc lâu dài, ổn định và những người không đáp ứng được yêu cầu cần tinh giản, tuy nhiên mới chỉ đạt được những kết quả bước đầu, chưa thực chất và chưa đạt mục tiêu đề ra Cụ thể, từ khi triển khai thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP đến hết năm 2016, đa số các
bộ, ngành, địa phương vẫn chưa phê duyệt kế hoạch tinh giản biên chế của bộ, ngành, địa phương từ năm 2015 -
2021 và của từng năm, dẫn đến tình trạng đề xuất tinh giản biên chế không theo quy định (định kỳ 2 lần/năm)…
Việc thực hiện quy định về quản lý biên chế ở một số bộ, ngành, địa phương chưa nghiêm
Việc xây dựng kế hoạch biên chế hằng năm ở các bộ, ngành, địa phương chưa được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định Bên cạnh nhiều bộ, ngành, địa phương sử dụng đúng hoặc ít hơn số biên chế được giao thì vẫn còn có bộ, ngành, địa phương sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao Theo Báo cáo của Chính phủ, tính đến hết năm 2016, vẫn còn có 3/15 bộ có tổng cục sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao và 2/15 bộ có sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao tại các vụ, cục trực thuộc Ở các địa phương, việc sử dụng vượt quá số biên chế được giao vẫn còn xảy ra ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Việc quản lý cán bộ, công chức ở một số bộ ngành, địa phương thiếu thống nhất, thiếu tập trung
Việc xây dựng kế hoạch biên chế hằng năm ở các bộ, ngành, địa phương chưa được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định Bên cạnh nhiều bộ, ngành, địa phương sử dụng đúng hoặc ít hơn số biên chế được giao thì vẫn còn có bộ, ngành, địa phương sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao Theo Báo cáo của Chính phủ, tính đến hết năm 2016, vẫn còn có 3/15 bộ có tổng cục sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao và 2/15 bộ có sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao tại các vụ, cục trực thuộc Ở các địa phương, việc sử dụng vượt quá số biên chế được giao vẫn còn xảy ra ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 343 Về nguyên nhân hạn chế
Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên do nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân khách quan và chủ quan
Về nguyên nhân khách quan:
Hội nghị Trung ương 4 khóa XI xác định:
Một là, do việc thực hiện đổi mới kinh tế phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, chưa lường hết được những tác động
của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, chưa có sự chuẩn bị thật kỹ về lập trường, tư tưởng và cả cách thức tiếp cận mới cho cán bộ, đảng viên Đặc biệt, còn thiếu những cơ chế, chính sách đồng bộ, khoa học để chủ động ngăn ngừa những vi phạm;
Hai là, đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng, phát
triển với quy mô ngày càng lớn, một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý nắm giữ khối lượng tài sản, nguồn vốn lớn của tập thể, của Nhà nước, đó là môi trường để chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, thực dụng phát triển;
Ba là, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu và hoạt động "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự
chuyển hóa", tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng
Đại hội XII chỉ ra việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là vấn đề mới đối với nước ta, khó tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm
Về nguyên nhân chủ quan:
Hội nghị Trung ương 4 khóa XI xác định:
Một là, cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước
Đảng, trước nhân dân
Hai là, việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về
xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ;
Ba là, các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa
chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát
Bốn là, việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật thích ứng với quá trình vận hành của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể
Năm là, đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ, chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thật sự để trọng
dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém
Sáu là, công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống nhiều khi còn hình thức, chưa đủ sức
động viên và thường xuyên nâng cao ý chí cách mạng của cán bộ, đảng viên; một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm không được phê phán, xử lý nghiêm minh;
Bảy là, công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, ráo riết;
đấu tranh với những vi phạm còn nể nang, không nghiêm túc Vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được phát huy, hiệu quả chưa cao
Hội nghị Trung ương7 khóa XII chỉ rõ:
Một là, nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng
viên, nhất là người đứng đầu, về cán bộ và công tác cán bộ chưa thật sự đầy đủ, sâu sắc, toàn diện Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức
Hai là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nội dung nêu trong các nghị quyết, kết luận của Trung
ương về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ còn thiếu quyết liệt, chưa thường xuyên, nghiêm túc; chậm thể chế hoá, cụ thể hoá; ít kiểm tra đôn đốc và chưa có chế tài xử lý nghiêm
Ba là, một số nội dung trong công tác cán bộ chậm được đổi mới Chưa có tiêu chí, cơ chế hiệu quả để đánh giá
đúng cán bộ, tạo động lực, bảo vệ cán bộ và thu hút, trọng dụng nhân tài; chính sách cán bộ còn bất cập, chưa phát huy tốt tiềm năng của cán bộ Công tác quản lý cán bộ có nơi, có lúc bị buông lỏng; chưa có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người yếu kém, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ
Bốn là, phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và
chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực Chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ Thiếu chặt chẽ, hiệu quả trong phối hợp kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được đầu tư, quan tâm đúng mức
Năm là, chưa phát huy đầy đủ vai trò giám sát của cơ quan dân cử; giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ
quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; thiếu cơ chế phù hợp để cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân; chưa phát huy có hiệu quả vai trò, trách nhiệm của các cơ quan truyền thông, báo chí
Sáu là, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ còn chồng chéo, chậm được đổi mới
Chưa quan tâm đúng mức xây dựng đội ngũ làm công tác cán bộ; năng lực, phẩm chất, uy tín của một số cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Còn coi nhẹ công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát triển lý luận về cán bộ và công tác cán bộ
Trang 35Câu 5: Nguyên nhân xảy ra tình trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ của một số công chức Việt Nam hiện nay
và đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề này
Tình trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay chịu tác động của một
số nhân tố cơ bản sau:
Thứ nhất, do tác động của mặt trái của nền kinh tế thị trường Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan
liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước ở nước ta đã tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó có đạo đức công vụ Nền kinh tế thị trường một mặt giải phóng các nguồn lực phát triển…, nhưng mặt khác cũng làm nảy sinh nhiều tiêu cực xã hội, nhất là tâm
lý sùng bái đồng tiền, đề cao cá nhân chủ nghĩa, xem nhẹ những giá trị đạo đức, nhân phẩm…, từ đó làm suy giảm những chuẩn mực, quy tắc, nguyên tắc, hành vi trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, viên chức
Thứ hai, do tác động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu thế tất
yếu của thời đại, giúp đội ngũ cán bộ, công chức có điều kiện học hỏi, tiếp thu những thành tựu khoa học - công nghệ, những kinh nghiệm quý trong vận hành nền công vụ của các nước trên thế giới, những chuẩn mực và giá trị đạo đức công vụ…, từ đó góp phần xây dựng nền công vụ hiện đại, chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ… Nhưng mặt khác, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng tạo ra thách thức lớn cho các quốc gia trong việc duy trì, bảo vệ, củng cố và giữ gìn bản sắc văn hóa, đạo đức, truyền thống dân tộc Thực tế cho thấy, trong quá trình toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế, một bộ phận cán bộ, công chức ở nước ta đã không giữ được bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, sa vào những cám dỗ vật chất, tha hóa đạo đức,
Thứ ba, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật
của nước ta ngày càng được hoàn thiện; vai trò của pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, trong quản
lý xã hội được đề cao Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống pháp luật cũng tồn tại một số những hạn chế, yếu kém, như:
“Một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách còn chồng chéo, thiếu chặt chẽ, chưa ổn định”(1), “Một số quy định pháp luật còn chưa đồng bộ, thống nhất, khả thi, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn”(2) Trên thực tế, không ít cán bộ, công chức đã lợi dụng sự chưa hoàn chỉnh và thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật để trục lợi, tham ô, tham nhũng, chạy theo lợi ích nhóm hay lợi ích cá nhân, vi phạm nghiêm trọng đạo đức công vụ, cũng như quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức
Thứ tư, do ảnh hưởng của tâm lý sản xuất nhỏ Chính tư tưởng tư lợi, thu vén cá nhân nảy sinh trong nền sản xuất
nhỏ là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng “tham nhũng trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp với những biểu hiện ngày càng tinh vi”(3), ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, đi ngược lại chuẩn mực đạo đức “cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư”, lối sống lành mạnh, mẫu mực của người cán
bộ, công chức Tư tưởng gia trưởng, cục bộ, địa phương chủ nghĩa hình thành trong nền sản xuất nhỏ đã ảnh hưởng lớn đến không ít cán bộ, công chức, làm quá trình thực thi công vụ thiếu chuyên nghiệp, tác phong làm việc tùy tiện, không chịu khó học hỏi, hách dịch, cửa quyền Tầm nhìn còn hạn chế và lối làm việc nặng về kinh nghiệm chủ nghĩa của không ít cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu ở một số cơ quan, đơn vị cũng là lực cản lớn đối với
sự phát triển của nền công vụ nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng
là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ Chúng ta lại không thể trấn áp nó, mà phải cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài”(4)
Thứ năm, hệ thống nội quy, quy định của cơ quan, đơn vị về trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi công
vụ chưa chặt chẽ, cụ thể Bất kỳ công việc nào, khi phân cấp, phân quyền, phân công công việc thì quy định trách
nhiệm càng cụ thể, việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức của cá nhân sẽ càng mang tính tự giác Trong hoạt động công vụ, nếu cơ quan, đơn vị xây dựng hệ thống nội quy, quy định cụ thể, chặt chẽ thì sẽ góp phần nâng cao ý thức đạo đức
và hành vi đạo đức công vụ của cán bộ, công chức Ngược lại, nếu hệ thống nội quy, quy định của cơ quan, đơn vị
về trách nhiệm công vụ còn chung chung, thiếu chặt chẽ, cụ thể thì việc lệch chuẩn đạo đức công vụ dễ xảy ra Cùng với đó, việc đề ra nội quy, quy định nhưng không có cơ chế kiểm tra, giám sát, kỷ luật nghiêm thì cũng khó siết chặt
kỷ luật công vụ Đại hội XIII của Đảng thẳng thắn đánh giá thực trạng trên: “Thực hiện đổi mới lề lối làm việc, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan nhà nước chưa đi vào thực chất”(5); “Hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra còn chồng chéo”(6); “Công tác kiểm tra, giám sát, theo dõi, đôn đốc thực hiện trong thực thi công vụ một số cơ quan, đơn vị còn chưa nghiêm, nhất là ở cấp cơ sở”(7)
Thứ sáu, công tác giáo dục đạo đức công vụ chưa được coi trọng đúng mức Hiện nay, tại nhiều cơ sở giáo dục, đào
tạo nghề nghiệp nói chung, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức nói riêng còn nặng về đào tạo nghiệp
vụ, kỹ năng, chưa chú trọng đúng mức đến giáo dục và thực hành đạo đức công vụ “Chưa chú trọng đúng mức đến phát triển phẩm chất và kỹ năng người học Giáo dục “làm người”, đạo đức, lối sống còn bị xem nhẹ”(8) Bên cạnh
đó, “nội dung, chương trình giáo dục và đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành”(9) cũng khiến cho việc giáo dục đạo đức cho người học chưa hiệu quả
Thứ bảy, ý thức rèn luyện đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức chưa cao “Nhìn chung, đội ngũ cán
bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”(10) Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một bộ phận cán bộ, công chức do ý thức rèn luyện đạo đức công vụ chưa cao, dẫn đến lệch chuẩn đạo đức công vụ Biểu hiện của lệch chuẩn đạo đức công vụ là thái độ không đúng chuẩn mực trong công việc, như quan liêu, nhũng nhiễu, lạm quyền, tham nhũng, lãng phí… Những biểu hiện đó có thể do nhiều nguyên nhân về động cơ, mục đích, về nhận thức , trong đó có nguyên nhân từ việc thiếu ý thức rèn luyện đạo đức công vụ
Trang 36Để khắc phục những tác động tiêu cực của các nhân tố trên đến đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, cần tập trung thực hiện một số giải pháp:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Xây dựng thể chế kinh tế thị trường đồng bộ, hiện đại trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các
quy luật của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng
và thi hành nghiêm pháp luật, bảo đảm tiến độ, chất lượng, đầy đủ, đồng bộ, khả thi, chi phí tuân thủ thấp, hiện đại, hội nhập, có sức cạnh tranh quốc tế”(11) Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, đổi mới phương thức quản lý nhà nước về kinh tế, đổi mới việc phân cấp, phân quyền… Chế độ sở hữu minh bạch, quản lý hiện đại, phân phối hợp lý góp phần khắc phục những lệch chuẩn đạo đức của cán bộ, công chức trong việc chỉ đạo, tổ chức, thực hiện công vụ, nhất là các vấn đề liên quan đến phân bổ ngân sách, quản lý vốn nhà nước, quản lý đất đai, sử dụng vốn và tài sản nhà nước của các doanh nghiệp nhà nước…, vốn hay xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí, tiêu cực Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch…
Hai là, xây dựng kế hoạch, lộ trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trong hoạt động công vụ Chủ động, tích
cực hội nhập quốc tế trong hoạt động công vụ là kế thừa, chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại, trong đó có giá trị đạo đức để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam vừa “hồng”, vừa “chuyên” trong thực hiện nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân Theo đó, Nhà nước cần có những chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức những giá trị, tinh hoa đạo đức công vụ của các nền hành chính mẫu mực trên thế giới, trên nền tảng có năng lực, ý thức trách nhiệm về đạo đức nghề nghiệp, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Đội ngũ cán bộ, công chức phải là những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức được vai trò, vị trí, bổn phận và trách nhiệm của mình trong hoạt động công vụ, xác định được các chuẩn mực đạo đức công vụ và các giới hạn hành vi
Ba là, đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tiêu chuẩn, nguyên tắc pháp quyền hiện đại Việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách là một trong những giải pháp ngăn ngừa, khắc phục từ gốc sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay Hệ thống pháp luật thống nhất, đồng
bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, công bằng, không thiên vị, dễ tiếp cận với chi phí tuân thủ thấp… sẽ là
cơ sở quan trọng để hạn chế những vi phạm, sai phạm đạo đức công vụ do lợi dụng những “kẽ hở” của pháp luật Nghiên cứu luật hóa các chuẩn mực đạo đức công vụ để tăng cường tính kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ,
bằng xây dựng Luật Đạo đức công vụ Bên cạnh đó, cần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm tăng cường
vai trò giám sát và phản biện xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư và của người dân
Bốn là, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, khắc phục tâm lý tiểu nông, sự thiếu chuyên nghiệp trong thực thi công
vụ Cần xây dựng một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, khắc phục tư duy kinh nghiệm, tâm lý tiểu nông, bệnh
hình thức, quan liêu trong tư duy, tác phong, lối sống, tính cách của cán bộ, công chức ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của nền công vụ
Năm là, các cơ quan, đơn vị cần xây dựng hệ thống nội quy, quy định về trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ một cách chặt chẽ, cụ thể Thường xuyên bổ sung, đổi mới hệ thống nội quy, quy định của cơ quan,
đơn vị về trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ nhằm phù hợp với tình hình, điều kiện xã hội ở những giai đoạn cụ thể Đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ của cán bộ, công chức
để nâng cao ý thức kỷ luật, ngăn ngừa, khắc phục các tư tưởng, hành vi vi phạm trong hoạt động công vụ Phát huy vai trò của người dân, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp trong tham gia xây dựng, phản biện
xã hội và giám sát quá trình thực thi công vụ của cán bộ, công chức “Chủ động, kịp thời cung cấp thông tin thiết yếu
và tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, các thông tin về tham nhũng, lãng phí, quan liêu…” và “tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và của cán bộ, công chức, viên chức”
Sáu là, nâng cao chất lượng việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức công vụ Bên cạnh việc trang bị kiến thức chuyên
môn, nghiệp vụ cho người học, cần chú trọng giáo dục các chuẩn mực đạo đức công vụ, các yêu cầu đạo đức nghề nghiệp Cùng với việc giảng dạy lý thuyết cơ bản, cần áp dụng những phương pháp giảng dạy mang tính thực hành, như thảo luận, trao đổi, ứng xử các tình huống nghề nghiệp nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, công chức Cùng với quá trình được đào tạo, bồi dưỡng, cần nâng cao ý thức tự rèn luyện đạo đức công vụ của cán bộ, công chức Xây dựng cơ chế, chính sách khen thưởng kịp thời đối với những cán bộ, công chức thực hiện tốt các nguyên tắc, quy tắc đạo đức công vụ; đồng thời xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với những cán bộ, công chức có ý thức, hành vi lệch chuẩn đạo đức công vụ
Trang 37MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ- CHÍNH TRỊ THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC-LÊNIN
I Mối quan hệ giữa kinh tế-chính trị theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 Khái niệm kinh tế
Kinh tế theo gốc tiếng hy lạp là “Oikonomike” nghĩa là sự tiết kiệm là sự lựa chọn để đem lại lợi nhuận và hiệu quả tối đa
Kinh tế, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế độ xã hội Như vậy, kinh tế là một phạm trù khoa học, cần được hiểu với đầy đủ những nội dung sau:
Kinh tế là tổng thể các quan hệ sản xuất dựa trên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, tạo thành
cơ sở kinh tế của một chế độ xã hội nhất định (Nền tảng kinh tế được tạo bởi các quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ phân phối)
Kinh tế, trong mỗi một chế độ xã hội, là toàn bộ các ngành hay bộ phận của nền kinh tế quốc dân (với toàn
bộ các nội dung của nó: cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế)
Kinh tế còn có thể hiểu là giải quyết vấn đề lợi ích kinh tế của các tập đoàn, giai cấp và các nhóm xã hội
Nghiên cứu và tìm hiểu về kinh tế còn là tìm cách để tăng hiệu quả phát triển kinh tế và sự phát triển lực lượng sản xuất gắn liền với mỗi thành viên tham gia các quá trình sản xuất và tái sản xuất
1.2 Khái niệm về chính trị
“Chính trị”, nguyên gốc tiếng Latinh làPolitic(là nghệ thuật quản lý, là công việc của nhà nước hay xã hội).Tổng
hợp từ những nghiên cứu của các nhà kinh điển mác xít, có thể rút ra cách hiểu về chính trị như sau:
Thứ nhất,chính trị là một quan hệ xã hội đặc biệt giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia -trong đó quan hệ giữa các giai cấp đóng vai trò cơ bản Trung tâm của các quan hệ chính trị là công việc nhà nước, là quá trình đấu tranh để xác lập thể chế, thiết chế quyền lực nhà nước hợp lý, có hiệu quả vì sự ổn định và phát triển xã hội; là hoạt động của các chính đảng, các tổ chức đại diện nhóm lợi ích xã hội trong việc giành; chia sẻ (gây áp lực) và thực thi quyền
lực nhà nước vì lợi ích khách quan của các lực lượng chính trị, của quốc gia, dân tộc
Thứ hai, chính trị là một loại quan hệ của kinh tế được “cô đọng lại”
Thứ ba,chính trị là một loại hình, là một phương diện hợp thành của văn hóa trong xã hội có giai cấp và nhà nước
-đó là văn hóa chính trị, văn hóa dân chủ, văn hóa ứng xử,
Thứ tư,giải quyết các vấn đề chính trị vừa là khoahọc, vừa là nghệ thuật Tính khoa học của chính trị nằm ở tính lôgic khách quan của nó -nó phải luôn đảm bảo sự phù hợp giữa mục tiêu chính trị với quy luật, xu hướng vân động phát triển của xã hội loài người và lợi ích của giai cấp, của quảng đại quần chúng nhân dân Tính nghệ thuật nằm ở chỗ sự vận động của chính trị có sự tác động qua lại của nhiều mối quan hệ phức tạp và tồn tại nhiều khả năng Người làm chính trị phải kiên định với mục tiêu lý tưởng chính trị; nhưng mềm dẻo và linh hoạt về sách lược,phương
pháp cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, với điều kiện cụ thể
2 Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị theo quan điểm của chủ nghĩa mác - lênin
Quan hệ kinh tế và chính trị là mối quan hệ cơ bản nhất của đời sống xã hội, là quan hệ giữa quyền lực chính trị đối với kinh tế với tư cách là cơ sở nền tảng của quyền lực chính trị và của toàn xã hội Thực chất là quan hệ giữa quyền lực nhà nước với kinh tế, hướng tới sự phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng nhưng vẫn đảm bảo sự công bằng và tiến bộ xã hội; nhằm bảo vệ chế độ chính trị và lợi ích của giai cấp cầm quyền
Trang 38C Mác và Ph Ăngghen xem quan hệ giữa chính trị với kinh tế là quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng Trong đó cơ sở hạ tầng (kinh tế) giữ vai trò quyết định Đồng thời, kiến trúc thượng tầng (chính trị) cũng có tính độc lập tương đối, tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng nhưng không quyết định cơ sở hạ tầng
Phát triển quan điểm của Mác - Ăngghen về mối quan hệ giữa chính trị với kinh tế, nhất quán với quan điểm cho rằng kinh tế là nhân tố quyết định toàn bộ lịch sử chính trị, từ lịch sử hình thành giai cấp, đấu tranh giai cấp đến tiêu vong nhà nước và giai cấp, Lênin đã khái quát bản chất của quan hệ chính trị với kinh tế như sau:
2.1 Kinh tế quyết định chính trị:
Dù đã nắm trong tay chính quyền nhà nước, giai cấp vô sản vẫn phải căn cứ vào nhu cầu khách quan của kinh tế để xác định phương hướng hoạt động của bộ máy chính trị, của cả hệ thống chính trị và lúc này kinh tế cũng quyết định tính chất, quy mô, mức độ và khả năng ảnh hưởng của bộ máy chính trị đối với sự phát triển tiếp theo của kinh tế
Sự phát triển của kinh tế trong một xã hội nhất định cuối cùng sẽ dẫn đến sự xuất hiện của chế độ chính trị - xã hội mới trong lòng xã hội cũ ( VD: Nước Nga)
Lực lượng nào, giai cấp nào nắm kinh tế thù lực lượng đó, giai cấp đó nắm quyền lực, chi phối đời sống xã hội Ngược lại nếu một giai cấp, lực lượng nào làm chủ về quyền lực chính trị nếu không xây dựng được và giữ được địa vị làm chủ về kinh tế thì sớm muộn cũng không thể duy trì được quyền lực chính trị ấy
2.2 Chính trị là biểu hiện tập trung nhất của kinh tế
Chính trị có nguồn gốc từ kinh tế, tương ứng với một trình độ phát triển nhất định về kinh tế có một trình độ phát triển nhất định về chính trị, cơ sở kinh tế như thế nào thì cơ cấu, thể chế chính trị thích ứng như thế ấy Mọi sự biến đổi chính trị đều xuất phát từ căn nguyên kinh tế Kinh tế là gốc của chính trị, là thước đo tính hợp lý của chính trị Chính trị tiến bộ thì kinh tế phát triển, ngược lại chính trị không hợp lý sẽ làm hạn chế sự phát triển của kinh tế, ngăn cản sự phát triển có thể dẫn tới khủng hoảng kinh tế và sau đó là kéo theo khủng hoảng chính trị Do vậy, ở thời đại nào cũng vậy nếu chính trị không hướng vào việc giải quyết thỏa đáng các quan hệ lợi ích nhằm phát triển kinh tế thì chính trị không có cơ sở để tồn tại, sớm muộn cũng phải thay thế bằng nền chính trị mới tiến bộ hơn, phù hợp hơn với kinh tế Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế còn thể hiện trong các đường lối, chính sách của đảng cầm quyền nhằm phát triển kinh tế - xã hội trong đó tính đúng đắn của đường lối chính sách kinh tế giữ vai trò quyết định
2.3 Chính trị tác động trở lại kinh tế: “chính trị không thể chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế”
Ăngghen đã nhấn mạnh vai trò của những quan hệ kinh tế là cái cuối cùng quyết định sự phát triển của lịch sử chính trị-xã hội, sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học…không chỉ đều dựa trên sự phát triển của kinh tế mà tất cả
sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau và cùng tác động tới cơ sở kinh tế
Thứ nhất, “ tính độc lập tương đối” của chính trị so với kinh tế thể hiện ở chỗ chính trị tác động lại kinh tế theo
Thứ hai, hệ thống các quan hệ kinh tế do chính trị thiết lập ra là cơ sở cho sự tồn tại, ổn định, bền vững của chính trị
do đó chính trị trước hết phải bảo vệ những thành quả kinh tế mà chính trị đã đạt được nhằm duy trì địa vị của giai cấp thống trị
Thứ ba, thông qua tổ chức, chức năng và những năng lực vật chất và tinh thần, chính trị có thể nhận thức vượt trước
so với kinh tế có thể tiên đoán tương lai vận động của kinh tế
Thứ tư, sự cần thiết “ ưu tiên” chính trị so với kinh tế trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định nào đó là muốn
nhấn mạnh tính nghệ thuật, sáng tạo, linh hoạt của chính trị
2.4 Việt Nam vận dụng quan điểm của Mác – Lênin trong việc phát triển kinh tế và chính trị
Đảng luôn nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau giữa kinh tế và chính trị hợp thành cơ
sở kinh tế - chính trị - xã hội của một quốc gia, trong đó kinh tế luôn giữ vị trí ưu tiên hàng đầu Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, song song với việc lấy “ đối mới kinh tế làm trọng tâm”, Đảng ta luôn xác định
“đồng thời từng bước phải đổi mới chính trị”
Trang 39Đại hội VI (1986) Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin Đại hội xác định: Muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, vùng, thành phần kinh tế, loại hình sản xuất phù hợp , có quy mô và trình độ kỹ thuật cao
Trang 40MỐI QUAN HỆ KINH TẾ-CHÍNH TRỊ THỜI CẬN HIỆN ĐẠI
II Mối quan hệ kinh tế - chính trị ở các nước tư bản thời cận và hiện đại
(nêu khái niệm định nghĩa ở phần I)
1 Giai đoạn chính trị tối đa - thế kỉ XV-XVII
Bước ra khỏi thời kỳ trung cổ, thế kỷ 15 ở châu Âu là kỉ nguyên ra khơi và khám phá những vùng đất mới Ngành hàng hải phát triển vượt bậc, giao thương với thế giới dần vượt qua nền nông nghiệp, trở thành hình thức kinh tế chủ đạo Ở châu Âu bây giờ, chủ nghĩa trọng thương đang chiếm ưu thế
Chủ nghĩa trọng thương - Mercantilism, là một học thuyết kinh tế phổ biến ở châu Âu thế kỉ 16-18 Học thuyết này cho rằng, sự giàu có của một quốc gia được tính bằng số lượng kim loại quý giá như vàng, bạc Và nếu một quốc gia không có nhiều mỏ quý thì có thể gia tăng vàng, bạc bằng việc bán hàng hóa cho các nước khác Vì có quan điểm như vậy nên các nước châu Âu giai đoạn này chú trọng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu Điều này cho phép nhà nước (chính trị) can thiệp sâu và tối đa vào kinh tế, ban hành các chính sách, đạo luật để hạn chế hàng nhập khẩu và bảo
vệ các ngành sản xuất nội địa
Một số quốc gia với lợi thế hải quân đã xâm chiếm thuộc địa, mở rộng thị trường, mở rộng nguồn nhiên liệu thô, nguồn nhân công lớn ở các vùng thuộc địa
Nhà nước sử dụng sức mạnh quân đội bảo vệ các đoàn thuyền buôn bán của các thương đoàn, công ty lớn Ví dụ như chính phủ Anh cho hải quân bảo vệ tuyến đường vận chuyển các chuyến tàu buôn của công ty Đông Ấn Hơn 250 năm, công ty Đông Ấn được hoàng gia Anh bảo hộ, thực hiện buôn bán với Ấn độ và Trung Quốc Các chính sách bảo hộ mậu dịch cũng được một số nước hoặc một nhóm nước thực hiện tạo ra những hàng rào giao thương, đặt thuế quan nặng cho mặt hàng nhập khẩu, đặt ra hạn ngạch về số lượng hàng hóa nhập khẩu hoặc các chính sách kiểm soát
tỷ giá trao đổi hàng hóa, tất cả nhằm đảm bảo giá trị xuất khẩu để thu về số lượng lớn vàng bạc, nâng cao sức mạnh quốc gia Ngoài các chính sách hạn chế tự do mậu dịch, nhà nước cũng thực hiện các chính sách giúp thúc đẩy sản xuất hàng hóa nội địa, triển khai các loại thuế quan chống lại việc bán phá giá hàng xuất khẩu ở thị trường nước ngoài,
Chủ nghĩa trọng thương cũng gây ra nhiều mâu thuẫn giữa các nước muốn giữ thế độc quyền hàng hóa của mình, nhiều cuộc tranh giành thuộc địa cũng nổ ra giữa các nước châu Âu bấy giờ
Những lập luận trên được chứng minh bằng các ví dụ như chủ nghĩa bảo hộ thương mại của các nhà nước với những tập đoàn thương buôn ngoài công ty Đông Ấn của Anh còn có Công ty Đông Ấn của Hà Lan Mô hình của chủ nghĩa trọng thương thời hiện đại: mặc dù bị coi là một tư tưởng kinh tế lỗi thời nhưng ngày nay nó vẫn được áp dụng dưới hình thức các mức thuế quan hàng nhập khẩu, thao túng tỷ giá trao đổi tiền tệ để thúc đẩy xuất khẩu (như Trung Quốc chẳng hạn) Các chính sách chủ nghĩa trọng thương cũng được áp dụng trong cuộc chiến thương mại của Mỹ và Trung Quốc Mô hình kinh tế - chính trị thời hiện đại vừa thúc đẩy tự do thương mại, hạn chế nhà nước trong kinh
tế, nhưng cũng không thể xóa bỏ hoàn toàn sự hiện diện của chính trị trong kinh tế
Tựu chung lại, trong thời kì này, chính trị có vai trò lớn, tác động can thiệp tối đa vào nền kinh tế Mô hình này (không phải tư sản cầm quyền) phù hợp khi mà lực lượng sản xuất chưa thực sự phát triển, giai cấp tư sản chưa nắm trọn quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước và nó cũng tạo điều kiện để giai cấp tư sản từng bước xác lập, củng
cố phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
2 Giai đoạn chính trị tối thiểu cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII
Khi mà chủ nghĩa bảo hộ, trọng thương dần lộ ra những mặt tối của nó, các nhà tư tưởng, kinh tế đã dần ngả sang một học thuyết kinh tế mới, tự do thương mại Một số nhà tư tưởng ủng hộ tự do thương mại có thể kể đến:
Boisguilbert - người Pháp, Adam Smith và cuốn sách The Wealth of Nations, Sallustio Bandini - mục sư người
Ý, Giữa những năm 1700, các lệnh hạn chế với hàng nhập khẩu và xuất khẩu dần được gỡ bỏ, bắt đầu ở Ý (vùng Tuscany - 1737, sau khi Đại Công tước Francis đọc bài viết của Bandini) và phải mất đến 100 năm nữa để thuyết phục các nhà nước ở châu Âu gỡ bỏ những chính sách hạn chế hàng nhập khẩu và hạ thấp thuế quan Lúc này, sự