Nêu gương là thuộc tính bản chất của đảng cộng sản, là trách nhiệm, đạo lý, gắn với tư cách của người cán bộ, đảng viên (CB, ĐV). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Người đảng viên dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng,... Mà muốn quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo” 69, tr.55. Xuất phát từ văn hóa phương Đông, Người đã đúc kết: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”
Trang 1Tính cấp thiết của đề tài
Nêu gương là thuộc tính bản chất của đảng cộng sản, là trách nhiệm, đạo lý,
gắn với tư cách của người cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) Chủ tịch Hồ Chí Minh đãcăn dặn: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu
cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng, Mà muốn quần chúng hăng hái thihành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắtchước, làm theo” [ 69, tr.55] Xuất phát từ văn hóa phương Đông, Người đã đúc kết:
“Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấmgương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [ 64, tr.284]
Thấm nhuần lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong toàn bộ quá trình lãnh
đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sử dụng nhiều phương thức lãnh đạokhác nhau, trong đó, nêu gương là một phương thức quan trọng, hiệu quả, vừa cógiá trị khoa học và nhân văn, tác động tích cực đến các đối tượng lãnh đạo củaĐảng, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã nêu rõ: “Đảng lãnh đạo xã hội bằngcương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằngcông tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động
gương mẫu của đảng viên” [ 20, tr.151] Lãnh đạo thông qua việc thực hiện trách
nhiệm nêu gương (TNNG) của CB, ĐV tác động tích cực đến các khâu trong quy
trình lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và toàn Đảng, có tầm quan trọng đặcbiệt để Đảng giữ vững vị thế và vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội
Cán bộ huyện (CBH) diện ban thường vụ tỉnh ủy (BTVTU) quản lý là những
người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cấp ủy, chính quyền và tổ chức
chính trị - xã hội (CT-XH) huyện, có vai trò quyết định đến chất lượng lãnh đạo
của huyện ủy, hiệu quả hoạt động của chính quyền và sự phát triển của các tổ chức
trong hệ thống chính trị (HTCT) huyện Thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU
quản lý để nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý của các tổ chức đảng, chính
quyền huyện, để cấp ủy và chính quyền huyện thực sự là nhân tố bảo đảm sự ổn
định và phát triển của địa phương
Trang 2vực phát triển năng động với tốc độ nhanh và ngày càng bền vững Một trong những
yếu tố quan trọng góp phần tạo nên kết quả đó là vai trò, trách nhiệm của cán bộ lãnhđạo, quản lý trong các tổ chức đảng, chính quyền và HTCT các cấp, trong đó có
TNNG Thực hiện Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07-6-2012 của Ban Bí thư vềTNNG của CB, ĐV, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, các tỉnh ủy ở miền ĐNB đã
nghiêm túc quán triệt, triển khai đến các cấp ủy trực thuộc và chủ động, sáng tạo trongquá trình tổ chức thực hiện Đa số CB, ĐV gương mẫu, thực hiện tốt TNNG
Tuy nhiên, kết quả thực hiện TNNG của CB, ĐV nói chung, CBH diện
BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB nói riêng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của
công tác xây dựng Đảng, xây dựng HTCT trong sạch, vững mạnh Hoạt động nêu
gương của cán bộ chủ chốt và người đứng đầu một số cấp ủy, chính quyền các cấpcòn mờ nhạt Một số CBH chưa thực hiện tốt TNNG, thậm chí vi phạm quy định
nêu gương về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm các nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của Đảng, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, Thực tế ở các
tỉnh miền ĐNB cho thấy, vẫn còn tình trạng CBH vi phạm quy định của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, vi phạm những điều đảng viên không được làm như sử
dụng bằng giả (Phó Bí thư huyện ủy huyện Phú Riềng) hoặc thiếu gương mẫu, lợidụng chức vụ, quyền hạn chống người thi hành công vụ (Phó Chủ tịch Hội đồng
nhân dân (HĐND) huyện Hớn Quản), vi phạm về quản lý đất đai (huyện XuyênMộc, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Vi phạm của một số CBH đã làmsuy giảm lòng tin của nhân dân đối với CB, ĐV nói chung, ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, năng lực quản lý, điềuhành của chính quyền các cấp ở các tỉnh miền ĐNB
Do đó, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đánh giá đúngthực trạng việc thực hiện TNNG và đề xuất những giải pháp để thực hiện tốtTNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB giữ vững vai trò lãnh
đạo, quản lý cấp cơ sở của các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền huyện và bảo
đảm sự lãnh đạo thông suốt từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở là một vấn đề quan trọng và
cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Thực
Trang 3lý ở các tỉnh miền Đông Nam bộ giai đoạn hiện nay” để làm luận án tiến sĩ ngànhXây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.
2
.2 Nhiệm vụ của luận án
-Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chỉ rõ
kết quả và xác định những nội dung luận án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện TNNG của CBH
diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB giai đoạn hiện nay
Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện TNNG của CBH diện-
-BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB từ năm 2012 đến năm 2020, chỉ rõ nguyênnhân và đúc rút một số kinh nghiệm
-Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt TNNG
của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB đến năm 2030
3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
.1 Đối tượng nghiên cứu
3
Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc thực hiện TNNG của CBH diện
BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB giai đoạn hiện nay
3
.2 Phạm vi nghiên cứu
-Về thời gian khảo sát: Luận án tập trung khảo sát, đánh giá việc thực hiện
TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB từ năm 2012 đến năm
020, phương hướng và những giải pháp chủ yếu đến năm 2030
Về không gian: Luận án khảo sát việc thực hiện TNNG của CBH diện
2
-BTVTU quản lý ở 5 tỉnh miền ĐNB (Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, BìnhPhước, Đồng Nai, Tây Ninh)
Trang 4Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
.1 Cơ sở lý luận
4
Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ, nêu gương và thực hiện TNNG của CB, ĐV
4
.2 Cơ sở thực tiễn
-Thực tiễn việc thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh
miền ĐNB từ năm 2012 đến năm 2020
-Báo cáo của 5 tỉnh ủy ở miền ĐNB về thực hiện TNNG của CB, ĐV
Kết quả khảo sát, điều tra đối với 3 nhóm: CBH diện BTVTU quản lý;
CB, ĐV trong đảng bộ, chính quyền các huyện và nhân dân các huyện ở 5 tỉnh
miền ĐNB
4
.3 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn của việcthực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý dựa trên những quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vềtrách nhiệm, nêu gương, TNNG của CB, ĐV
Để đánh giá khách quan thực trạng thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU
quản lý ở các tỉnh miền ĐNB, luận án sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
-Phương pháp phân tích và tổng hợp: Trên cơ sở tiếp cận các nguồn tài liệu
là các báo cáo của các địa phương, đơn vị và các công trình nghiên cứu có liên
quan, luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để khai thác các thông tin
và phân tích, khái quát những nội dung có liên quan đến đề tài
-Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này được sử dụng để khảo
sát, đánh giá thực trạng thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở cáctỉnh miền ĐNB Luận án điều tra ở 5 tỉnh miền ĐNB, mỗi tỉnh 100 phiếu Đốitượng khảo sát là CBH diện BTVTU quản lý, cán bộ, công chức cấp dưới và ngườidân ở địa phương), nhằm tìm hiểu việc thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU
ở các tỉnh miền ĐNB trên một số nội dung sau:
Trang 5Trách nhiệm thực hiện các nội dung nêu gương của CBH diện BTVTU
Đánh giá của cán bộ, công chức cấp dưới và người dân ở địa phương về
việc thực hiện TNNG của của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
+
Những gợi ý, đề xuất giải pháp của cấp ủy, đảng viên, người dân để CBH diệnBTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB thực hiện tốt TNNG
Kết quả khảo sát được tác giả xử lý bằng phần mềm SPSS
Bên cạnh đó, tác giả sử dụng một số phương pháp khác: thống kê và so sánh,
lịch sử và logic, tổng kết thực tiễn,…
5
Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
-Luận án đã góp phần luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực
hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB: xác lập khái
niệm, nội dung, phương thức thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ởcác tỉnh miền ĐNB
-Luận án đúc rút một số kinh nghiệm thực hiện tốt TNNG của CBH diện
BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB Đó là, (i) Sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn,quyết liệt của các cấp ủy đảng, BTV cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện ở miền ĐNB cóvai trò quan trọng đối với việc thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý;
(ii) Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp ủy cấp trên đối
với việc thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB là
một giải pháp quan trọng đưa việc thực hiện TNNG trở thành nền nếp, hiệu quả;
(iii) Sự cụ thể hóa nội dung TNNG gắn với các chức danh cán bộ là cơ sở quan
trọng để CBH diện BTVTU ở miền ĐNB quản lý thực hiện tốt TNNG; (iv) Ý thức,trách nhiệm của CBH diện BTVTU quản lý trong thực hiện TNNG là nhân tố bền
vững để TNNG được thực hiện đồng bộ, hiệu quả, lan tỏa và có ý nghĩa trong cảHTCT và ngoài xã hội
-Luận án đề xuất một số giải pháp có tính đột phá để thực hiện tốt TNNG
của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB đến năm 2030 Một là, xâydựng, hoàn thiện quy định của các cấp ủy địa phương về thực hiện trách nhiệm
Trang 6ban thường vụ tỉnh ủy quản lý; Hai là, tăng cường kiểm tra, giám sát của cấp ủy,
ủy ban kiểm tra cấp trên và kịp thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy
định nêu gương; Ba là, phát huy tính tự giác, rèn luyện, tự nêu gương của cán bộ
huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý
-Cung cấp luận cứ khoa học cho các BTVTU ở các tỉnh miền ĐNB nghiên
cứu, tham khảo xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thựchiện tốt TNNG của CBH diện BTVTU quản lý
-Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu cho các
cấp ủy, địa phương trong thực hiện TNNG, làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng
dạy, nghiên cứu môn Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
7
Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án
gồm 4 chương, 9 tiết
Trang 7TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trách nhiệm nêu gương của CB, ĐV, nhất là cán bộ chủ chốt trong HTCT là
một nội dung quan trọng được toàn Đảng quan tâm, xây dựng thành các quy định:Quy định số 101-QĐ/TW; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của BCH
Trung ương “về TNNG của CB, ĐV, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban
Bí thư, Ủy viên BCH Trung ương” Đây là một trong những phương thức lãnh đạoquan trọng của Đảng, được nhiều tác giả nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau
Có tác giả tiếp cận nêu gương về tư tưởng chính trị, có tác giả phân tích nêu gương
về đạo đức gắn với việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, học tập và làm theo tấm gương, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Tuy
nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về thực hiệnTNNG của CBH diện BTVTU quản lý Do đó, để thực hiện luận án, cần thiết phải
nghiên cứu, tổng quan các công trình khoa học có liên quan để kế thừa, luận giải
những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản
lý ở các tỉnh miền ĐNB giai đoạn hiện nay
1
.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NƯỚC NGOÀI
-Oren Harari (2007), Cẩm nang dành cho nhà quản lý: Nguyên tắc Powell =
The Powell principles: 24 bài học rút ra từ cuộc đời nhà lãnh đạo kiệt xuất Colin
Powell, [193 ] Trên cơ sở nghiên cứu về cuộc đời nhà lãnh đạo Colin Powell - một
vị tướng có tài thao lược, một chính khách lịch lãm, đầy phong thái, một nhà ngoạigiao xuất sắc - mềm dẻo về sách lược, cứng rắn về nguyên tắc, tác giả đã chỉ ra các
bài học có giá trị trong hoạt động lãnh đạo của Colin Powell như phải luôn bắt đầu
từ bản thân, thực hành lời nói đi đôi với việc làm, phải biết thay đổi để phát triển,
biết kiềm tỏa cái tôi, biết phá bỏ lề thói, biết để tình huống quyết định chiến lược,
-Đặng Đình Lựu (2008), “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo trung, cao cấp
ở Trung Quốc” [ 57] Trong phạm vi bài viết, tác giả cho rằng cán bộ lãnh đạo
trung, cao cấp là những nhà chính trị giỏi, là một bộ phận trong đội ngũ nhân tài
của Đảng và Nhà nước Trung Quốc Đó là những người có trình độ học vấn ngàycàng cao, trải qua công tác chính trị, trưởng thành từ cơ sở Tác giả cũng đề ra một
Trang 8việc học tập của cán bộ, bồi dưỡng gắn với rèn luyện thử thách trong thực tiễn,
lựa chọn, sàng lọc và thường xuyên kiểm tra, giám sát cán bộ
-Pieke, F N (2009), The Good Communist: Elite Training and State Building
in Today's China: Người cộng sản tốt: đào tạo những người ưu tú và xây dựng nhà
nước ở Trung Quốc hiện nay [191] Tác giả đặt vấn đề về bản chất của chế độ xã
hội ở Trung Quốc, phải chăng đây là một quốc gia tư bản có vỏ ngoài xã hội chủ
nghĩa và Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể giữ địa vị thống trị trong mười năm
hiện đại hóa và toàn cầu hóa tiếp theo không? Từ đó, tác giả đã lý giải thông qua
việc phân tích, xem xét cách thức đào tạo các quan chức chính phủ Trung Quốc
-một quá trình khắt khe, luôn có sự cam kết với Đảng về mặt tư tưởng và chính trị
-Đặng Đình Lựu (2010), “Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo ở Trung Quốc hiện nay” [ 58] Bài viết đã chỉ rõ nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo là trọng điểm của công tác xây dựng Đảng Tác giả đã nêu lên
những tiêu chuẩn cao đối với cán bộ lãnh đạo như: Một là, kiên trì tiêu chuẩn đủ
đức, đủ tài, lấy đức làm đầu Đây là yêu cầu căn bản và là bảo đảm quan trọng đểgiữ vững tính tiên tiến, tính trong sạch của đảng cầm quyền Hai là, cán bộ lãnh
đạo cần được thông qua các môi trường, lĩnh vực công tác khác nhau để tự rènluyện, nâng cao, tự thử thách, tự kiểm nghiệm về cái tâm, tầm trước yêu cầu mới
Trước thực trạng một số cán bộ hủ bại, tác giả cũng nêu lên một số định hướng
giải quyết, trong đó có định hướng về quy định rõ trách nhiệm của cá nhân, cơquan trong từng khâu của công tác cán bộ, cần có cơ chế xử lý trách nhiệm đối với
cán bộ chọn sai, dùng sai như kỷ luật đảng, cho từ chức
-Genovese, M.A (2013) Building Tomorrow's Leaders Today: On
Becoming a Polymath Leader: Xây dựng đội ngũ lãnh đạo hôm nay cho ngày mai:
trở thành một nhà lãnh đạo hiểu biết [189] Tác giả đã luận giải một số vấn đề về
lãnh đạo như: lãnh đạo là gì, hoạt động như thế nào, tính phức tạp, đa chiều và sẽthay đổi như thế nào trong tương lai Từ đó, tác giả phân tích yêu cầu khi xây dựngđội ngũ nhà lãnh đạo trong tương lai, đòi hỏi phải dự đoán về những kỹ năng, nănglực cụ thể sẽ có giá trị cho nhu cầu tương lai, nhất là trước sự thay đổi nhanh chóng
với công nghệ mới, sự đa dạng và vấn đề toàn cầu hóa
Trang 9Thẩm Diệu Diệu (2013) 沈跃跃, Nỗ lực xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo
chủ chốt chất lượng cao [187] Tác giả đã khẳng định cán bộ có vai trò quan trọng,
là nòng cốt cầm quyền của Đảng, là lực lượng trung kiên thúc đẩy sự nghiệp cách
mạng của Đảng Bài viết phân tích nhiệm vụ được nêu tại Đại hội XVIII của Đảng
Cộng sản Trung Quốc: Điều then chốt trong việc kiên trì và phát triển chủ nghĩa xã
hội đặc sắc Trung Quốc là phải xây dựng đội ngũ cầm quyền chủ chốt kiên định chínhtrị, chuyên môn vững vàng, tác phong gương mẫu, có ý chí phấn đấu với các nội dung
cụ thể: Kiên trì tiêu chuẩn tuyển chọn cán bộ, sử dụng cán bộ, bảo đảm đội ngũ cán
bộ tiên tiến, trong sạch; Tăng cường trang bị lý luận và giáo dục tư tưởng, giữ vững
niềm tin, lý tưởng của người cán bộ lãnh đạo; Thường xuyên duy trì mối liên hệ với
quần chúng nhân dân, xây dựng hình ảnh người cán bộ liêm khiết, hết mình phục vụ
nhân dân; Cải cách sâu sắc chế độ tuyển chọn, sử dụng, giám sát cán bộ
đánh giá cán bộ; giúp đỡ cán bộ phạm sai lầm sửa chữa sai lầm; giải quyết các khó
khăn thực tiễn của cán bộ, Đây là những tư tưởng có ý nghĩa quan trọng trongchỉ đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Trung Quốc hiện nay
-Jun, F., Jinzhou, Z., & Zhipping, Z (2017) Leadership Education and
Training in China: Đào tạo và giáo dục lãnh đạo ở Trung Quốc [188] Từ thực tế
công tác đào tạo và giáo dục lãnh đạo ở Trung Quốc với 4.500 cơ sở giáo dục và
đào tạo cho cán bộ và 15 triệu quan chức Trung Quốc được đào tạo mỗi năm, tác
giả đã cung cấp cho độc giả một cái nhìn sâu sắc về cách Trung Quốc giáo dục và
đào tạo cán bộ để điều hành quốc gia Từ khi thành lập Đảng Cộng sản Trung
Quốc (1921) đến nay, công tác đào tạo và giáo dục lãnh đạo ở Trung Quốc trảiqua 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn 1 (1921-1949) từ khi thành lập Đảng Cộng sản
Trung Quốc đến khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, giáo
Trang 10dục thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận Việc đào tạo cán bộ giaiđoạn này tập trung vào việc giảng dạy và phổ biến triết học mác-xít giữa các đảng
viên và cán bộ (2) Giai đoạn 2 (1949-1978) từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa đến khi bắt đầu cải cách và mở cửa, Đảng Cộng sản Trung Quốc
chuyển từ đảng cách mạng sang một đảng cầm quyền, mạng lưới các trường đảngxuất hiện đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội (3) Giai
đoạn 3 (1978-nay) từ khi cải cách và mở cửa cho đến nay, việc giáo dục đào tạo
cán bộ nhằm mục đích tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản TrungQuốc theo định hướng đổi mới sáng tạo
-Lương Bảo Hoa (2017), Đường đến thành công: tiên phong là sức mạnh
[42] Với thực tiễn là Bí thư Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Thường vụ HĐND tỉnh
Giang Tô, tác giả đã ghi lại sự trải nghiệm của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở Giang Tô Trong cuốn sách, tác giả đề cập đến việc xây dựng đội ngũ cán
bộ có tố chất cao đòi hỏi bí thư tỉnh ủy phải nắm được những yêu cầu trong bố trícán bộ lãnh đạo, việc lựa chọn cán bộ phải chính xác, phải lấy đức làm đầu
-Phokham Sanahong (2018), Năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp huyện ở Viêng Khăm, tỉnh Viêng Chăn, Cộng hòa Dân chủ nhân
dân Lào trong giai đoạn hiện nay [84] Tác giả bàn về đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp huyện, những yếu tố cấu thành năng lực của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấphuyện ở Viêng Khăm, trong đó có các nhóm yếu tố: năng lực tư duy lý luận;năng lực nắm bắt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và bối
cảnh địa phương; năng lực tổ chức thực tiễn; năng lực giao tiếp, vận động vàthuyết phục quần chúng nhân dân Nhóm năng lực này đòi hỏi cán bộ phải thựchiện nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần gương mẫu Tác giả cho rằng gươngmẫu là yếu tố tạo nên niềm tin của quần chúng, tạo nên sự bền vững của mối
quan hệ cán bộ - nhân dân
-Hồng Hướng Hoa (2018), Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn hóa, tố chất
cao trong thời đại mới (新时代高素质专业化干部队伍建设/作者: 洪向华; 出
版社:中共党史出版社; 2018年) [190] Từ yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ được
đặt ra tại Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc, tác giả đã phân tích một số nội
Trang 11dung về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ một cách chuyên môn hóa và có phẩm
chất đạo đức cao, từ đó chỉ ra tác dụng, tiêu chí, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ
-Khonesanga Phimmasone (2019), Xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng
ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay [47] Luận án tập trung làm
rõ những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở Cộng hòa
Dân chủ nhân dân Lào, trong đó phân tích lý luận về đội ngũ bí thư - huyện trưởng;làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng
ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Trong các phương thức xây dựng độingũ bí thư - huyện trưởng, tác giả xác định phương thức thông qua phát huy vai
trò gương mẫu, tích cực, tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện của bản thân mỗi bí
thư - huyện trưởng Đây cũng là một phương thức thực hiện TNNG của cán bộ.Luận án đánh giá thực trạng xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở Cộng hòaDân chủ nhân dân Lào và đề xuất các giải pháp để xây dựng đội ngũ bí thư - huyệntrưởng ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
1
.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Các công trình khoa học trong nước liên quan đến đề tài gồm các nhóm sau:
.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ
huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý
1
*
Sách tham khảo, chuyên khảo
-Ngô Kim Ngân, Lâm Quốc Tuấn (2010), Phong cách làm việc của người
bí thư huyện ủy hiện nay - Qua khảo sát vùng đồng bằng sông Hồng [78] Cuốn
sách phân tích một số vấn đề lý luận về phong cách làm việc của bí thư huyện ủy
-chức danh CBH diện BTVTU quản lý, đánh giá thực trạng phong cách làm việc
của bí thư huyện ủy và đề xuất những giải pháp để xây dựng phong cách làm việc
của bí thư huyện ủy
-Nguyễn Văn Côi (2012), Luân chuyển cán bộ diện BTVTU quản lý ở các
tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay [15] Trong cuốn sách, tác giả đã trình
bày những vấn đề lý luận về cán bộ diện BTVTU quản lý và luân chuyển cán bộ
diện BTVTU quản lý Tác giả đã làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của cán bộ
diện BTVTU quản lý, trong đó có CBH diện BTVTU quản lý Đây cũng là khách
Trang 12thể nghiên cứu của đề tài luận án nên có giá trị tham khảo cho tác giả trong quá
trình thực hiện đề tài
-Vũ Văn Phúc (2013), Thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp
ủy, chính quyền trong HTCT hiện nay [88] Cuốn sách là tập hợp các bài viết của
nhiều tác giả Có bài viết bàn về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu
trong các mối quan hệ, trong các lĩnh vực công tác như bài viết Mối quan hệ giữa
bí thư với cấp ủy c ủa tác giả Nguyễn Minh Tuấn; bài viết về Thẩm quyền và trách
nhiệm của bí thư cấp ủy cấp huyện, xã và tương đương của tác giả Bùi Đức Hạnh
đã xác định rõ thẩm quyền của bí thư cấp ủy như chủ trì, đề xuất các chủ trương,nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế chính sách mới, nhất là trên các lĩnh vực kinh tế - xãhội (KT-XH); chủ trì chuẩn bị phương án về công tác tổ chức, cán bộ trình thường
trực và BTV cấp ủy quyết định theo thẩm quyền; chịu trách nhiệm cuối cùng ký
ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định về những vấn đề quan trọng Tuy
nhiên, thẩm quyền chỉ có được khi người đứng đầu cấp ủy là tấm gương sáng vềmọi mặt, được tập thể tin yêu Tác giả Nguyễn Đức Hà với bài viết Vai trò, trách
nhiệm và thẩm quyền người đứng đầu trong công tác cán bộ hiện nay đã chỉ rõ
người đứng đầu tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị có vai trò định hướng, chiphối quan trọng và trong những thời điểm cụ thể, đóng vai trò quyết định đến chiềuhướng phát triển cũng như kết quả hoạt động của tổ chức, địa phương, cơ quan,đơn vị Trong công tác cán bộ, người đứng đầu có thẩm quyền quản lý, theo dõi,
sử dụng cán bộ dưới quyền trực tiếp, có thẩm quyền, trách nhiệm đề xuất, giới
thiệu với cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc quy hoạch, bổ nhiệm, đề
bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ dưới quyền Về trách nhiệm, người đứng đầu phảichịu trách nhiệm liên đới khi cán bộ dưới quyền trực tiếp vi phạm, bị xử lý kỷ luật
-Nguyễn Vĩnh Thanh (2014), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp huyện ở Việt Nam thời kỳ hậu WTO [103 ] Đây là công trình nghiên
cứu riêng về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta Trên cơ sởđánh giá toàn diện thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở ViệtNam, tác giả đã đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp huyện trong giai đoạn hiện nay
Trang 13-Đỗ Ngọc Ninh (2015), Bí thư huyện ủy trong giai đoạn hiện nay [81] Cuốn
sách đã làm rõ vị trí, vai trò của huyện ủy, ban thường vụ (BTV), thường trựchuyện ủy Theo tác giả, BTV huyện ủy là một bộ phận rất quan trọng của huyện
ủy, gồm những người tiêu biểu trong huyện ủy, phụ trách những mặt, lĩnh vực, địabàn trọng yếu của đảng bộ huyện, thay mặt huyện ủy lãnh đạo, chỉ đạo hoạt độngcủa đảng bộ huyện giữa hai kỳ họp BCH Thường trực huyện ủy là bí thư, các phó
bí thư thay mặt BTV huyện ủy chỉ đạo thực hiện những công việc hằng ngày của
đảng bộ huyện Tác giả đã phân tích vị trí, vai trò và đặc điểm hoạt động của bíthư huyện ủy - CBH diện BTVTU quản lý, trong đó chỉ rõ bí thư là người có vaitrò quan trọng hàng đầu, cùng huyện ủy, BTV, thường trực huyện ủy quyết định
thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng, phát triển KT-XH, an
ninh - quốc phòng, xây dựng và hoạt động của HTCT huyện
*
Luận án tiến sĩ
-Phạm Tất Thắng (2011), Đánh giá CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh
Đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn hiện nay [101] Tác giả đã làm rõ quan
niệm về CBH, đặc điểm, vai trò của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh Đồng
bằng sông Hồng; công tác đánh giá CBH diện BTVTU quản lý, đánh giá thựctrạng công tác đánh giá CBH diện BTVTU quán lý, đúc rút một số kinh nghiệm
và đưa ra các giải pháp khả thi để nâng cao hiệu quả công tác này ở các tỉnh Đồngbằng sông Hồng Trong luận án, tác giả quan niệm CBH diện BTVTU quản lý ở
Đồng bằng sông Hồng là những CBH giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, công tác, làm
việc thường xuyên trong các cơ quan thuộc HTCT cấp huyện có vai trò quyết định
sự vận động và phát triển của mỗi tổ chức, cơ quan cũng như cả HTCT cấp huyện,chịu sự quản lý và quyết định của BTVTU theo phân cấp quản lý cán bộ Quan
niệm này cũng là một gợi mở cho tác giả để đưa ra khái niệm về CBH diện BTVTU
quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
-Cao Khoa Bảng (2012), Chất lượng đội ngũ cán bộ diện BTV Thành ủy Hà
Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay [8] Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận
về BTV, chất lượng đội ngũ cán bộ diện BTV Thành ủy quản lý, xác định các chứcdanh cán bộ diện BTV Thành ủy quản lý, chức trách, nhiệm vụ của cán bộ ở các
chức danh này, trong đó có các chức danh cán bộ cấp huyện Tác giả cũng chỉ rõ
Trang 14chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ diện BTV Thành ủy Hà Nội quản lý,
trong đó có trách nhiệm gương mẫu về thực hiện các quy định của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất, đạo đức, lối sống.Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ diện BTV Thành ủy HàNội quản lý, tác giả đưa ra các giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũnày trong giai đoạn hiện nay
-Nguyễn Thành Dũng (2012), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay [17]. Luận án đã bàn
đến các chức danh cán bộ chủ chốt cấp huyện Theo tác giả, cán bộ chủ chốt cấp
huyện ở các tỉnh Tây Nguyên là các cán bộ giữ cương vị bí thư, phó bí thư cấp ủy
cấp huyện; chủ tịch HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND) các huyện, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh, có nhiệm vụ lãnh đạo, giám sát, quản lý và tổ chức thực hiện các
nhiệm vụ trên địa bàn, xây dựng tổ chức, xây dựng huyện các tỉnh Tây Nguyên
vững mạnh Từ lý luận và thực tiễn, luận án đã đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên
trong giai đoạn hiện nay
-Đới Văn Tặng (2015), Bảo đảm tính liên tục và phát triển của đội ngũ cán
bộ diện BTVTU quản lý ở Đồng bằng sông Hồng hiện nay [98] Luận án phân tích
những vấn đề lý luận và thực tiễn về cán bộ diện BTVTU quản lý, nội dung bảo
đảm sự phát triển của đội ngũ cán bộ diện BTVTU quản lý ở Đồng bằng sông
Hồng…, trong đó chỉ rõ “cán bộ diện BTVTU quản lý là những người được các
tổ chức trong HTCT bầu, phê chuẩn, hoặc được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm giữ
các cương vị cấp trưởng và cấp phó các tổ chức, cơ quan trong HTCT tỉnh; cấptrưởng và cấp phó cấp ủy, chính quyền cấp huyện, các ủy viên BTV cấp ủy cấp
huyện và tương đương, đó là những cán bộ lãnh đạo, quản lý mọi hoạt động của
tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi cán bộ công tác, bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ của tổ chức, cơ quan, đơn vị” [ 98, tr.36] Khái niệm trên có giá trị tham khảo
cho tác giả để xây dựng khái niệm CBH diện BTVTU quản lý
-Nguyễn Thái Học (2018), Các tỉnh ủy ở Nam Trung bộ lãnh đạo ngăn chặn
đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ diện
BTVTU quản lý hiện nay [43] Tác giả đã khái quát về đội ngũ cán bộ diện BTVTU
Trang 15quản lý ở Nam Trung bộ, chức trách, nhiệm vụ, vai trò, đặc điểm của đội ngũ này.Trong luận án, tác giả xác định cán bộ diện BTVTU quản lý ở Nam Trung bộ cấp
huyện bao gồm các chức danh bí thư, phó bí thư huyện ủy, thị ủy, thành ủy và
đảng ủy trực thuộc; chủ tịch HĐND, UBND huyện, thị xã, thành phố Tác giả cũng
trình bày nội dung, phương thức các tỉnh ủy ở Nam Trung bộ lãnh đạo ngăn chặn,đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ diệnBTVTU quản lý và các giải pháp đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống trong đội ngũ cán bộ diện BTVTU quản lý giai đoạn hiện nay Các chức danhcán bộ diện BTVTU quản lý được đề cập trong luận án có các chức danh CBH
diện BTVTU quản lý, là nguồn tài liệu tham khảo cho tác giả trong quá trình
nghiên cứu và thực hiện luận án
1
.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về trách nhiệm và thực hiện trách
nhiệm của cán bộ lãnh đạo, quản lý
*
Đề tài khoa học và sách tham khảo, chuyên khảo
-Nguyễn Hữu Đổng (2012), Quyền hạn và trách nhiệm của người đứng
đầu cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay [35 ] Trong đề tài, nhóm
nghiên cứu đã phân tích những vấn đề lý luận về quyền hạn và trách nhiệm của
người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, trong đó chỉ rõ tráchnhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính là trách nhiệm công vụ, thể hiện
cụ thể ở trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm vật chất, trách
nhiệm hình sự Cơ sở để xác định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hànhchính là các hành vi vi phạm pháp luật hành chính gây thiệt hại về vật chất, tinh
thần, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân [35, tr.44] Những
đóng góp của công trình có giá trị tham khảo cho tác giả khi luận giải TNNG của
CBH diện BTVTU quản lý
-Lê Hữu Nghĩa, Bùi Đình Bôn (2013), Thẩm quyền và trách nhiệm của
Đảng cầm quyền và Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân [80]
Các tác giả đã khái quát một số vấn đề về thẩm quyền, trách nhiệm của Đảng và
Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân Trong điều kiện Đảngcầm quyền, một bộ phận đảng viên giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà
nước, do đó, cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm trong
Trang 16việc thực hiện quyền lực của nhân dân cũng chính là thực hiện thẩm quyền, trách
nhiệm của Đảng và Nhà nước
-Bùi Thị Ngọc Mai (2016), Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành
chính nhà nước [60] Tác giả đã trình bày quan niệm về người đứng đầu cơ quan
hành chính nhà nước Đó là những người đứng ở vị trí đầu tiên, cao nhất trong thứbậc quyền lực của tổ chức, có vai trò lãnh đạo, quản lý trong tổ chức Trong cơ
quan hành chính nhà nước, người đứng đầu có vai trò lãnh đạo, quản lý, có nghĩa
vụ và quyền hạn cao nhất đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước,
chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước đó Từ khái luận
về người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, tác giả phân tích trách nhiệm
của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước: Là những việc mà người đứngđầu cơ quan hành chính nhà nước nên làm, phải làm, với kết quả tốt, nếu kết quả
không tốt sẽ phải chịu trách nhiệm Tác giả đưa ra công thức của trách nhiệm là
tổng hợp của nghĩa vụ, quyền và việc chịu trách nhiệm của người đứng đầu Nội
dung trách nhiệm của người đứng đầu cũng được tác giả làm rõ, bao gồm: trách
nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, trong đó sự gương mẫu
của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước là một nội dung trong trách
nhiệm đạo đức Vì vậy, công trình có giá trị tham khảo cho tác giả trong việc phân
tích, luận giải TNNG của CBH diện BTVTU quản lý
-Trần Nghị (2017), Trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ đáp
ứng yêu cầu cải cách nền hành chính [79] Tác giả đã nêu lên những nội dung cơ
bản về trách nhiệm của công chức, cụ thể là trách nhiệm công vụ Theo tác giả,
trách nhiệm công vụ là một dạng trách nhiệm pháp lý được thực hiện trong quá
trình thực thi công vụ, cũng là một dạng cụ thể của trách nhiệm hành chính Trách
nhiệm của công chức được quy định trong các văn bản của pháp luật mà mỗi công
chức phải thực hiện để phục vụ nhân dân Trong cuốn sách, tác giả cũng chỉ rõ
mối quan hệ giữa trách nhiệm công vụ của công chức với các dạng trách nhiệm
khác như trách nhiệm giải trình, trách nhiệm đạo đức Công chức thực hiện trách
nhiệm đạo đức chính là việc thực hiện các quy định của pháp luật về chuẩn mực
đạo đức trong quá trình thực thi công vụ, bao gồm cả đạo đức xã hội và đạo đức
Trang 17công vụ Trách nhiệm đạo đức của công chức là thực hiện chuẩn mực đạo đức củangười cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
-Nâng cao vai trò, trách nhiệm của CB, ĐV và người đứng đầu theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (2018) [77] Cuốn sách là tập hợp các bài viết
về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và vai trò, trách nhiệm của CB,
ĐV và người đứng đầu trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phongcách Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay Có bài viết bàn đến các giải pháp phát huy
vai trò nêu gương về đạo đức của CB, ĐV như cần thực hiện tốt “nói đi đôi vớilàm”, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, nâng cao ý thức tự giáo dục, rèn luyện
đạo đức cách mạng Nâng cao vai trò, trách nhiệm của CB, ĐV trong việc học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là một biện pháp
để thực hiện TNNG
-Đặng Văn Tin, Trần Khắc Việt, (2019), Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách
nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình giai đoạn hiện nay [111]
Công trình đã làm rõ những vấn đề lý luận chủ yếu về việc chịu trách nhiệm trướcnhân dân đối với những quyết định của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay, trong đó chỉ rõ trách nhiệm là những bổn phận, nghĩa vụ phải làm và hậuquả pháp lý bất lợi phải gánh chịu do thực hiện không đầy đủ trách nhiệm và có
hành vi vi phạm Đối với đảng cầm quyền, trách nhiệm gắn liền với thẩm quyền, vị
thế và vai trò của Đảng, đó là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức, tráchnhiệm xã hội và trách nhiệm của từng tổ chức và cá nhân của Đảng trước Nhà nước,trước nhân dân Từ những vấn đề lý luận, các tác giả cũng đánh giá thực trạng ĐảngCộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình
và đưa ra các giải pháp chủ yếu thực hiện tốt việc Đảng Cộng sản Việt Nam chịutrách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình đến năm 2030
*
Bài báo khoa học trên các tạp chí
-Nguyễn Quốc Sửu (2014), “Thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu
trong mối quan hệ với cấp ủy” [94] Bài viết phân tích sự cần thiết, cấp bách phải
xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong
mối quan hệ với cấp ủy, cơ quan, đơn vị, đặc biệt trước thực trạng hệ thống tổ chứccòn nhiều bất cập, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu không được xác
Trang 18định rõ ràng, minh bạch Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để xác địnhthẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với cấp ủy.
-Lê Quang (2016), “Trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu” [ 89] Bài
viết đã chỉ rõ yêu cầu bức thiết về sự nêu gương của người đứng đầu và đề ra các
giải pháp để phát huy TNNG như quán triệt, thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương4
5
khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Chỉ thị số 05-CT/TW ngày
15-2016 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,phong cách Hồ Chí Minh”; người đứng đầu tự giác học tập, nâng cao trình độ;phát huy dân chủ trong tổ chức; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền,
trách nhiệm người đứng đầu và tăng cường kiểm tra, giám sát
-Trần Thị Diệu Oanh (2017), “Thực hiện nghiêm quy định pháp luật về trách
nhiệm người đứng đầu, góp phần đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa”” [ 82] Bài viết chỉ rõ đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một nhiệm vụ bức thiết hiện nay, cần phải có
những giải pháp, trong đó phải thực hiện nghiêm quy định pháp luật về trách nhiệm
của người đứng đầu, đặc biệt là quy định trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũngtrong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý
-Trần Thị Diệu Oanh (2020), “Bàn về trách nhiệm của người đứng đầu
cơ quan nhà nước trong công tác cán bộ” [ 185] Bài viết đã phân tích những
quy định của Đảng, Nhà nước về trách nhiệm tập thể, trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan nhà nước Theo tác giả, trách nhiệm của người đứng đầu cơquan nhà nước là nhiệm vụ phải thực hiện quyền hạn được giao, chịu hậu quả
và trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm, từ đó tác giả nêu lên những giải
pháp để nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nướctrong công tác cán bộ
Ngoài ra, còn một số tác giả bàn về trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, quản lý
đăng trên các tạp chí khoa học như Phạm Văn Định (2014), “Thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ” [ 32] Hồng Văn (2013), “Thẩm
quyền, trách nhiệm của người đứng đầu với cấp ủy, chính quyền” [ 166 ] Ngô Văn
Thạo (2010), “Giải pháp nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ CB, ĐV trong
giai đoạn hiện nay” [ 106 ] …
Trang 19Luận án tiến sĩ
Nguyễn Ngọc Ánh (2016), Thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm của bí thư
-huyện ủy ở Đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay [1] Luận án đã trình bày
chi tiết về bí thư huyện ủy - chức danh CBH diện BTVTU quản lý, khái niệm, vị
trí, vai trò, đặc điểm của bí thư huyện ủy ở Đồng bằng sông Hồng, đồng thời làm
rõ thẩm quyền, trách nhiệm của bí thư huyện ủy, nội dung thẩm quyền, trách nhiệm
của bí thư huyện ủy Trong các nội dung trách nhiệm, có trách nhiệm nêu cao tính
tiên phong, gương mẫu trước đảng bộ, nhân dân với các nội dung nêu gương vềphẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, ý thức
tổ chức kỷ luật, Kết quả của luận án có giá trị tham khảo cho tác giả trong việc
luận giải về TNNG của CBH diện BTVTU ở cá tỉnh miền ĐNB
-gương” [ 161] Bài viết đã bàn về tấm gương của Bác trong tự phê bình và phê
bình Tác giả cũng chỉ rõ để thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh, mỗi CB, ĐV phải thật sự nêu gương
-Ban Tuyên giáo Trung ương (2018), Những tấm gương bình dị mà cao quý
trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2017
7] Cuốn sách giới thiệu khái quát những tấm gương điển hình và thành tích của
[
tập thể, cá nhân trong cả nước nhằm tuyên truyền, giáo dục, khơi dậy lòng tự hào,
tính tích cực trong mỗi CB, ĐV và quần chúng nhân dân
-Vũ Thị Hằng (2019), “Tăng cường phương thức nêu gương theo tư tưởng
Hồ Chí Minh” [ 40] Tác giả phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương trên 3
mặt: đối với bản thân, đối với người và đối với công việc, đồng thời vận dụng vào
thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng, khẳng định nêu gương là một phương thứclãnh đạo của Đảng, là yêu cầu, là trách nhiệm của mỗi CB, ĐV Tác giả cũng chỉ
rõ trong giai đoạn hiện nay, một số hạn chế trong công tác xây dựng Đảng đòi hỏi
Đảng phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu bằng các
phương thức lãnh đạo, trong đó nêu gương là một phương thức lãnh đạo rất hiệu
quả Vì vậy, mỗi tổ chức, CB, ĐV phải thực hiện tốt phương thức nêu gương để
Trang 20góp phần tăng cường hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnhđạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng.
-Lý Việt Quang (2019), “Phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh và
việc thực hiện TNNG của CB, ĐV” [ 90] Bài viết làm rõ phong cách nêu gương của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ đó vận dụng trong thực tiễn công tác xây dựng Đảng để
phát huy vai trò nêu gương của CB, ĐV trong tình hình hiện nay với 4 điểm cần chúý: cụ thể hóa việc học tập, làm theo phong cách nêu gương Hồ Chí Minh bằng những
việc làm cụ thể; phát huy vai trò của HTCT và các đoàn thể nhân dân; đề cao vai trò
tự giáo dục của mỗi cán bộ lãnh đạo, thực hiện tốt việc nói đi đôi với làm; chú trọngcông tác giáo dục chính trị tư tưởng, đặc biệt là các văn bản của Đảng về nêu gương
Nguyễn Trọng Phúc (2019), “Thực hiện Di chúc của Bác gắn với trách
nhiệm nêu gương” [87] Bài viết khẳng định đội ngũ CB, ĐV trung kiên, gương
mẫu là điều kiện bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng Tuy nhiên, trong giai đoạnhiện nay, một bộ phận CB, ĐV không học tập và làm theo những điều Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống, đòi hỏi CB, ĐV phải nhận thức rõ hơn và thực hiện tốt Dichúc Tác giả bài viết đã nêu lên những giải pháp để CB, ĐV đề cao TNNG: (i)nêu gương về trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Nhân dân, với Đảng Cộng
sản Việt Nam, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; (ii) nêu gương
về sꢀn sàng và nỗ lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ khi được phân công, tâm
huyết, tận tụy với công việc; thực hành phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ,
sâu sát thực tiễn, hiệu quả; (iii) nêu gương về đạo đức, lối sống, thật sự cần, kiệm,liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chống tham
nhũng, lãng phí; không ngừng học tập, tu dưỡng, rꢀn luyện về mọi mặt; (iv) nêu
gương về tự phê bình và phê bình, dũng cảm, chân thành nhận khuyết điểm và
quyết tâm sửa chữa
Trần Quốc Vượng (2019), “ Th ự c hi ệ n Di chúc Ch ủ t ị ch H ồ Chí Minh, m ỗ i
cán
b ộ, đả ng viên ph ả i ra s ứ c phát huy vai trò ti ền phong gương mẫ u, nâng cao
đạo
đứ c cách m ạ ng, kiên quy ế t ch ố ng ch ủ nghĩa cá nhân ” [173] Bài viết chỉ rõ
yêu cầu của công tác xây dựng Đảng hiện nay đòi hỏi mỗi CB, ĐV phải thấm
nhuần và đẩy mạnh học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với
Trang 21TNNG với các giải pháp cụ thể như: Một là, nhận thức đầy đủ, sâu sắc TNNG đểmỗi CB, ĐV xứng đáng với vai trò tiền phong, gương mẫu, xây dựng Đảng thật
sự trong sạch, vững mạnh; Hai là, nâng cao trách nhiệm thực hiện quy định nêu
gương của đảng viên gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả; Ba là, tăng cường giáo dục, rèn
luyện, thực hành đạo đức cách mạng phải đi đôi với kiên quyết chống chủ nghĩa
cá nhân, bệnh cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”
Ngoài ra, còn có một số bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí khoa
học đề cập đến việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh như: Trịnh Thị Tân (2013), “Về phương pháp nêu gương của Chủ tịch Hồ
Chí Minh” [ 97] Trần Khắc Việt (2012), “Phong cách làm việc của người đứng
đầu” [ 167] Lê Thị Túy Na (2012), “Nêu gương về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí
Minh” [ 76] Phạm Văn Khánh (2010), “Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và tác
dụng của việc nêu gương trong công tác xây dựng Đảng” [ 44]
1
.2.4 Nhóm công trình nghiên cứu về nêu gương và thực hiện trách
nhiệm nêu gương của cán bộ
*
Sách tham khảo vào kỷ yếu hội thảo khoa học
-Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt (2013), Làm người cộng sản trong giai đoạn
hiện nay [91] Cuốn sách đã bàn về những quan điểm của các nhà kinh điển vềngười cộng sản Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, người cộng sản phải là những ngườitiên phong về lý luận và tiên phong trong hoạt động thực tiễn V.I.Lênin yêu cầu
đảng viên cộng sản phải tiên tiến hơn quần chúng và khác về chất so với đảng viêncủa các đảng khác, các phần tử cơ hội Một trong những tiêu chuẩn của người cộng
sản nói chung, người cộng sản Việt Nam nói riêng được các tác giả xác định làphải tiên phong, gương mẫu về lý luận và thực tiễn
-Ban Tổ chức Trung ương (2017), Cơ sở khoa học về ngăn chặn, đẩy lùi suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”
trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam: Kỷ yếu hội thảo khoa học
cấp quốc gia [3] Cuốn sách gồm các bài tham luận trình bày những vấn đề lý
luận cơ bản, nguyên nhân, yếu tố tác động và vấn đề đặt ra để ngăn chặn, đẩy lùisuy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”
Trang 22trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam hiện nay và một số kinh
nghiệm quốc tế liên quan
*
Bài báo khoa học trên các tạp chí
Chủ đề nêu gương và thực hiện TNNG được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu
với nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học Có thể kể đến các bài viết sau:-
Đinh Ngọc Giang (2012), “Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình,
xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” [33] Tác giả đã chỉ rõ tự phê bình và phê
bình là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đòi hỏi mỗi tổ chức đảng, CB,
ĐV phải thực hiện nghiêm túc, tự giác Đối với người đứng đầu cấp ủy, trong quá
trình lãnh đạo, chỉ đạo phải gương mẫu thực hiện tự phê bình và phê bình, làm
gương cho cấp dưới và CB, ĐV, trong sinh hoạt đảng phải nêu cao tính tự giác,
dũng khí Theo tác giả, cán bộ lãnh đạo, quản lý gương mẫu thực hiện tự phê bình
và phê bình phải nghiêm túc, nêu gương bằng hành động thực tế
-Lê Thị Hường Mai (2016) “Vai trò nêu gương của người đứng đầu” [ 59]
Tác giả đã nêu lên những giải pháp để phát huy vai trò nêu gương của người đứngđầu: lựa chọn cán bộ; hoàn thiện chế tài chặt chẽ, rõ ràng, nghiêm khắc; quản lý
người đứng đầu; đánh giá người đứng đầu bằng tiêu chí nêu gương
-Nguyễn Đức Hà (2018), “Nêu gương để “xây” cán bộ tốt” [ 38] Tác giả chỉ
rõ nêu gương là một trong năm phương thức lãnh đạo của Đảng nên trong quátrình lãnh đạo, CB, ĐV, nhất là cán bộ có chức vụ càng cao, càng phải gương mẫu
vì chức vụ của cán bộ càng lớn thì phạm vi tác động và sự ảnh hưởng càng rộng
Bài viết cũng chỉ rõ trước thực trạng không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý, kể cả cán
bộ cấp cao vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định của Đảng càng đặt ra yêu cầu phải
thực hiện tốt nêu gương, coi đó là một trong những giải pháp để xây dựng đội ngũcán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ
-Hà Sơn Thái (2018), “Phương pháp nêu gương trước quần chúng của người
CB, ĐV” [ 99] Bài viết phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò
của quần chúng nhân dân Để phát huy vai trò của nhân dân, không được dùngphương pháp mệnh lệnh, áp đặt mà phải có phương pháp phù hợp, trong đó nêugương và giúp đỡ là phương pháp đặc biệt có giá trị Tác giả cũng chỉ rõ sự kếthừa và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh về phương pháp nêu
Trang 23gương Người yêu cầu mỗi CB, ĐV phải thực sự làm kiểu mẫu trong công tác, lối
sống mọi lúc, mọi nơi, nói đi đôi với làm Đó chính là dùng tấm gương người tốt,việc tốt để tác động đến quần chúng nhân dân
-Nguyễn Văn Định (2018), “Cơ chế để phát huy nghĩa vụ, trách nhiệm tự giác,
nêu gương của tổ chức đảng và đảng viên trong thực hành đạo đức hiện nay” [ 31]
Bài viết khẳng định vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội, là một bộ phận quan
trọng của nền tảng tinh thần xã hội, có tác dụng điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân
Theo tác giả, mỗi tổ chức đảng, đảng viên phải thực hành đạo đức với tinh thần, trách
nhiệm cao và gương mẫu trong việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước Vì vậy, để phát huy trách nhiệm, tự giác thực hành đạo
đức của các tổ chức đảng, đảng viên, tác giả đề xuất bốn giải pháp có tính khả thi để
phát huy TNNG trong thực hành đạo đức của các tổ chức đảng, đảng viên
-Phan Xuân Sơn, Nguyễn Thị Thanh Dung (2018), “Nêu gương - một phương
thức lãnh đạo của Đảng” [ 92] Trong bài viết, các tác giả đã làm rõ khái niệm,
những giá trị đặc trưng của nêu gương trong đời sống xã hội Nêu gương là mộtcông cụ và thuộc tính của lãnh đạo Chủ thể của nêu gương là CB, ĐV của Đảng
Ở vị trí càng cao, TNNG càng lớn về cả 3 nội dung: đối với mình, đối với người và
đối với việc Các tác giả cũng phân tích các phương thức nêu gương: Nêu gươngthực hành đạo đức, nêu gương bằng xây dựng tấm gương tốt, nêu gương bằng nhữngngười, việc cụ thể và cần đặt nêu gương trong mối quan hệ với các công cụ lãnh
đạo khác để phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện hiện nay
-Nguyễn Đình Phong (2018), “Nêu gương - một trong các phương thức lãnh
đạo” [ 86] Tác giả đã làm rõ khái niệm lãnh đạo và mối quan hệ với nêu gương
Theo tác giả, nêu gương trong lãnh đạo là lấy quyền lực cá nhân làm công cụ lãnh
đạo nên mọi lời nói, hành động của CB, ĐV đều trực tiếp hoặc gián tiếp quy định
lời nói và hành động của các tầng lớp nhân dân Dựa trên những phân tích về nêu
gương theo Quy định số 08-QĐ/TW, tác giả đưa ra 4 giải pháp để tăng cường hiệuquả nêu gương của cán bộ lãnh đạo
-Ngô Sách Thực (2019), “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt
Nam, các tổ chức CT-XH và nhân dân trong giám sát người đứng đầu, cán bộ chủ
chốt các cấp thực hiện quy định nêu gương” [ 109] Bài viết chỉ rõ MTTQ có vai trò
Trang 24quan trọng trong giám sát việc thực hiện quy định nêu gương, giúp cho người đứngđầu rèn luyện phong cách, bản lĩnh lãnh đạo, khắc phục bệnh quan liêu, phòng ngừa
sai phạm và hoàn thành tốt nhiệm vụ Trên cơ sở đó, tác giả đã nêu lên những giảipháp để phát huy vai trò chủ động, tích cực của MTTQ trong giám sát việc thực
hiện quy định nêu gương của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt các cấp
-Nguyễn Minh Tuấn (2019), “Tạo chuyển biến trong công tác xây dựng
Đảng từ việc tăng cường TNNG” [ 164] Tác giả khái quát thực trạng công tác xây
dựng Đảng trong thời gian qua, trong đó vai trò nêu gương của CB, ĐV là nguyênnhân tạo nên những chuyển biến tích cực của công tác xây dựng Đảng
-Nguyễn Minh Tuấn (2019), “Tư tưởng C.Mác về tính tiên phong của đảng
viên và yêu cầu nêu gương của đội ngũ đảng viên hiện nay” [ 165] Bài viết đã
phân tích tư tưởng của C.Mác về tính tiên phong của người đảng viên trên cả mặt
lý luận và thực tiễn Trong điều kiện đảng cầm quyền, Đảng đứng trước nhữngnguy cơ, trong đó nguy cơ về sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sốngcủa một bộ phận không nhỏ CB, ĐV đã làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng,suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng Thực trạng đó đặt ra yêu cầu CB, ĐV
phải nêu gương trong giai đoạn hiện nay
-Đinh Ngọc Giang (2019), “Trách nhiệm nêu gương của CB, ĐV theo tinh
thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XII” [ 34] Bài viết đã chỉ rõ sự cần thiết phải
thực hiện TNNG của CB, ĐV, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền, đồng thờiphân tích thực trạng thực hiện TNNG của CB, ĐV trên các mặt và đưa ra các giải
pháp thực hiện tốt TNNG theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XII
-Đỗ Văn Lược (2019), “Mấy suy nghĩ về vấn đề nêu gương” [ 56] Bài viết
chỉ rõ một thực tế, trong kiểm điểm, đánh giá chất lượng đảng viên hằng năm, hầu
hết đảng viên đều tự nhận đã làm tốt việc nêu gương, song vẫn còn không ít biểuhiện thiếu gương mẫu của CB, ĐV, kể cả cán bộ cấp chiến lược, thậm chí vi phạm
kỷ luật Do đó, CB, ĐV phải tự giác, tự trọng nêu gương trên mọi lĩnh vực, trongmọi hoàn cảnh để nhân dân và cấp dưới noi theo
-Cao Văn Thống (2019), “Trách nhiệm nêu gương - Quyết tâm của Đảng
trong xây dựng đội ngũ CB, ĐV” [ 107] Trong bài viết, tác giả khái quát nhận thức
của Đảng qua các kỳ đại hội về tầm quan trọng của nêu gương và đề ra các nghị
Trang 25quyết, chỉ thị để xây dựng đội ngũ CB, ĐV Đồng thời, tác giả cũng nêu lên 5 giải
pháp để thực hiện tốt TNNG của CB, ĐV, đặc biệt là những cán bộ có chức, có
quyền, trong đó giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện là một giải pháp quan trọng đòi hỏi
mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nghiêm túc thực hiện
-Nguyễn Xuân Thắng (2020), “Đề cao TNNG của CB, ĐV, đẩy mạnh xây
dựng Đảng về đạo đức trong tình hình mới” [ 100] Bài viết khẳng định tính tất
yếu, khách quan của công tác xây dựng Đảng về đạo đức Đó là nhiệm vụ quan
trọng, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó,
phải đề cao TNNG của CB, ĐV để Đảng ta luôn “là đạo đức, là văn minh” Tác
giả đã nêu lên 4 giải pháp để công tác xây dựng Đảng về đạo đức đạt hiệu quả
thiết thực hơn nữa, cụ thể: (1) Nâng cao nhận thức về TNNG của CB, ĐV để mọi
người đều nhận thức rõ nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và đạo lý của người
CB, ĐV; đồng thời chuyển từ nhận thức, thái độ đúng đắn thành những hành động
thiết thực, cụ thể; (2) Tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc; bảo đảm dân
chủ, không độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng; luôn gắn bó
mật thiết với nhân dân ở nơi cư trú cũng như nơi công tác; (3) Kiên quyết chống
chủ nghĩa cá nhân, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực; dũng cảm tự phêbình và phê bình; (4) Mỗi CB, ĐV, cấp ủy, tổ chức đảng tích cực xây dựng Đảngtrong sạch, vững mạnh và thực hành TNNG
-Đoàn Thế Hanh (2020), “Vấn đề nêu gương của CB, ĐV, trước hết là cán
bộ cao cấp - nhận thức và hành xử” [ 36] Tác giả luận giải 2 lý do đòi hỏi CB,
ĐV, nhất là cán bộ cấp cao phải nêu gương Một là, xuất phát từ trọng trách của
Đảng đối với đất nước, với nhân dân Hai là, xuất phát từ tính tiên phong của
Đảng Bài viết cũng chỉ rõ thế nào là những cán bộ nêu gương và các biện pháp
cụ thể để CB, ĐV, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên
BCH Trung ương luôn nêu gương
Ngoài ra, còn có các bài viết của các tác giả khác bàn về nêu gương như:
Nguyễn Hồ Cảnh (2016), “Đảng bộ tỉnh Nghệ An thực hiện các biện pháp nêu cao
tính tiền phong gương mẫu, chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ý lại trong CB, ĐV”
[9] Lê Văn Yên (2018), “Trách nhiệm nêu gương của CB, ĐV, nhất là người đứng
đầu trong giai đoạn hiện nay” [ 169 ] ; Lưu Văn Sùng (2018), “Nâng cao tính nêu
Trang 26gương trong Đảng, phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong
tình hình hiện nay” [ 93 ] …
*
Luận án tiến sĩ
-Nguyễn Văn Hào (2012), Tính tiền phong của đảng viên nông thôn các tỉnh
Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay [39] Tác giả đã làm rõ 6 nội dung tính tiền
phong của đảng viên ở nông thôn các tỉnh Tây Nguyên, bao gồm tính tiền phong
về phẩm chất chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, tính tiền phong về đạo đức, lối sống;
tính tiền phong trong lao động, công tác; tính tiền phong trong học tập, rèn luyện;
tính tiền phong trong xây dựng tổ chức đảng và tính tiền phong trong mối quan hệ
với nhân dân
1
.3 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ
LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1
.3.1 Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan
Những công trình nghiên cứu trên được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau
và đã đạt được một số kết quả nổi bật để tác giả tiếp thu, kế thừa và phát triển
Một là, phân tích những vấn đề lý luận về cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý,
cán bộ chủ chốt, cán bộ diện cấp ủy các cấp quản lý, thẩm quyền, trách nhiệm của
người đứng đầu, cán bộ chủ chốt Tuy nhiên, các công trình trên chưa làm rõ đượctính đặc thù của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB Trên cơ sở kế
thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó, luận án cần tiếp tục nghiên
cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về CBH diện BTVTU quản lý ở các
tỉnh miền ĐNB
Hai là, bàn đến trách nhiệm và việc thực hiện trách nhiệm của cán bộ, các
nội dung thực hiện trách nhiệm của cán bộ như trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm
chính trị, trách nhiệm pháp lý Tuy nhiên, cũng chưa có công trình nào phân tíchđầy đủ, sâu sắc về cơ chế, nội dung, phương thức thực hiện TNNG của CBH diện
BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB, nhất là đặc thù của việc thực hiện TNNG
của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
Ba là, luận giải về nêu gương và TNNG, trong đó có một số nội dung cụ thể
về nêu gương như nêu gương về đạo đức, nêu gương trong công tác cán bộ, nêu
Trang 27gương về tự phê bình, phê bình, nêu gương trong thực hiện các chỉ thị, nghị quyết
của Đảng, nhất là Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tấm
gương, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Tuy nhiên, các công trình đó chưa đề
cập sâu sắc, đầy đủ đến nội dung, phương pháp, biện pháp nêu gương của các chứcdanh CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
Bốn là, nêu lên một số giải pháp phát huy vai trò nêu gương của người đứngđầu như giải pháp về lựa chọn cán bộ, quản lý cán bộ, kiểm tra, giám sát, đánh giá
cán bộ, giải pháp về các quy chế, quy định, song chưa có những giải pháp để thực
hiện tốt TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
Như vậy, ở các phương diện khác nhau, kết quả của những công trình nghiên
cứu trên có đóng góp về nhiều mặt, đối với tổ chức, đối với CB, ĐV, đối với côngtác xây dựng Đảng Đó là nguồn tài liệu quý giá để tác giả tham khảo, kế thừa và
phát triển hướng nghiên cứu của luận án
1
.3.2 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Hiện nay, chủ đề nêu gương tiếp tục sự quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước,
các tổ chức CT-XH và các tầng lớp nhân dân Nêu gương tác động tích cực trực
tiếp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, đến công tác xây dựng Đảng và uy
tín, vị thế, vai trò của Đảng, các cấp ủy đảng, đội ngũ đảng viên Tuy nhiên, chưa
có nhiều công trình nghiên cứu sâu, có hệ thống về TNNG và thực hiện TNNG
của CB, ĐV nói chung, CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB nói riêng,
những ưu điểm và hạn chế cụ thể của việc thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU
quản lý Vì vậy, đây là một khoảng trống cần nghiên cứu Trên cơ sở tham khảo,
kế thừa có chọn lọc những công trình khoa học đã được công bố, luận án tiếp tục
nghiên cứu sâu một số nội dung sau:
Một là, làm rõ khái niệm CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB,
phân tích chức trách, nhiệm vụ, đặc điểm và vai trò của CBH diện BTVTU quản
lý ở các tỉnh miền ĐNB
Hai là, nghiên cứu, làm rõ lý luận về thực hiện TNNG, trong đó xây dựng
khái niệm trung tâm thực hiện TNNG; phân tích nội dung, phương thức thực hiện
TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
Trang 28Ba là, khảo sát, đánh giá kết quả và hạn chế trong thực hiện TNNG của CBH
diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB, trên cơ sở đó phân tích nguyên nhân, kinhnghiệm để CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB thực hiện tốt TNNG
Bốn là, trên cơ sở lý luận và thực tiễn việc thực hiện TNNG của CBH diện
BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB, luận án xác định phương hướng, đề xuấtgiải pháp chủ yếu để CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB thực hiện
tốt TNNG đến năm 2030
Trang 29Chương 2
THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ HUYỆN
DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY QUẢN LÝ Ở CÁC TỈNH
MIỀN ĐÔNG NAM BỘ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2
.1 TỈNH, ĐẢNG BỘ TỈNH, TỈNH ỦY, BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY VÀ
CÁN BỘ HUYỆN DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY QUẢN LÝ Ở CÁC TỈNH
MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
2
.1.1 Các tỉnh, đảng bộ tỉnh, tỉnh ủy và ban thường vụ tỉnh ủy ở miền
Đông Nam bộ
2
.1.1.1 Khái quát về các tỉnh ở miền Đông Nam bộ
Đông Nam bộ là vùng đất mới trong lịch sử hình thành và phát triển của dân
tộc Việt Nam, nằm ở phía Nam của dải đất hình chữ S, có vị trí, vai trò rất quan
trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của
vùng và cả nước Theo Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29-8-2005 của Bộ Chính trị
khóa IX về “phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐNB và vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”; Quyếtđịnh số 123/2006/QĐ-TTg ngày 29-5-2006 của Thủ tướng Chính phủ về “Ban hành
Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết 53-NQ/TW của Bộ
Chính trị về phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐNB và vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” và Quyếtđịnh số 943/QĐ-TTg ngày 20-7-2012 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt Quy
hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng ĐNB đến năm 2020”, ĐNB gồm 01 thành
phố trực thuộc Trung ương và 5 tỉnh: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình
Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh và Bình Phước
Về điều kiện tự nhiên, ĐNB có 23.552,8 km2 diện tích tự nhiên, chiếm 7,1%
diện tích cả nước [157 , tr.98] Phía Đông và Đông Nam của ĐNB giáp Tây
Nguyên và duyên hải Nam Trung bộ; phía Tây và Tây Nam giáp với Campuchia
và Đồng bằng sông Cửu Long, là cầu nối vùng Tây Nguyên và Duyên hải Nam
Trung bộ với Đồng bằng sông Cửu Long, là đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng
của các tỉnh phía Nam với cả nước và quốc tế, tác động lớn đến sự phát triển
kinh tế, xã hội (KT-XH) của vùng nói chung và cả nước nói riêng Đây cũng là
Trang 30vùng đất giàu tài nguyên, có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển các ngành kinh
tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ
Về đơn vị hành chính, ĐNB có 72 đơn vị cấp huyện, gồm: 7 thành phố, 7 thị
xã, 19 quận và 39 huyện trực thuộc tỉnh, thành phố Riêng 5 tỉnh miền ĐNB có 34
huyện, gồm: 4 huyện của tỉnh Bình Dương: Phú Giáo, Bắc Tân Uyên, Bàu Bàng,
Dầu Tiếng; 5 huyện của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Long Điền, Xuyên Mộc, Đất Đỏ,
Châu Đức, Côn Đảo; 9 huyện của tỉnh Đồng Nai: Cẩm Mỹ, Định Quán, Long
Thành, Thống Nhất, Nhơn Trạch, Tân Phú, Trảng Bom, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc; 8
huyện của tỉnh Bình Phước: Lộc Ninh, Bù Đốp, Bù Đăng, Bù Gia Mập, Đồng Phú,Hớn Quản, Chơn Thành, Phú Riềng; 8 huyện của tỉnh Tây Ninh: Hòa Thành, Châu
Thành, Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu, Gò Dầu, Trảng Bàng, Bến Cầu,trong đó, có 8 huyện biên giới, tiếp giáp với Campuchia: Bù Gia Mập, Bù Đốp, Lộc
Ninh (tỉnh Bình Phước), Châu Thành, Trảng Bàng, Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu
(tỉnh Tây Ninh) và 1 huyện đảo - Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) [Phụ lục số 2]
Về kinh tế, ĐNB là địa bàn phát triển kinh tế lớn nhất cả nước, có các trung
tâm kinh tế, thương mại, nơi tập trung các tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diệnnước ngoài, là địa bàn thường xuyên diễn ra các hội nghị, tổ chức các diễn đàn
quốc tế và khu vực, có tiềm năng phát triển nhanh, mạnh, nhất là về kinh tế công
nghiệp, dịch vụ, thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài Cơ cấu kinh tế vùng ĐNB
đa dạng gồm: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, trong đó kinh tế công
nghiệp chiếm vị trí quan trọng Đây cũng là khu vực có tứ giác kinh tế trọng điểm
(Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu), có đóng
góp rất lớn cho cả nước về GDP, với khoảng 45% GDP, 50% tổng giá trị sản xuất
công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu và ngân sách cả nước [184]
Về văn hóa - xã hội, tính đến ngày 31/12/2019, 6 tỉnh, thành phố ở miền ĐNB
có 17.930.300 người [157, tr.98], chiếm 18,5% dân số cả nước, trong đó Bình Phước
là tỉnh có diện tích rộng nhất vùng với số dân ít nhất, chỉ gần 1 triệu dân Là khu
vực năng động, phát triển, ĐNB thu hút lực lượng lao động từ khắp các địa phươngtrong cả nước, tạo nên cơ cấu dân số vùng khá phong phú, đa dạng Đông Nam bộcũng là nơi tập trung nhiều dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, người Hoa, và khoảng
Trang 313 tôn giáo, trong đó Phật giáo chiếm số lượng lớn, tạo nên sự giao thoa văn hóagiữa các dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giữa các địa phương, vùng miền với sắcthái văn hóa đa dạng Các dân tộc sinh sống ở vùng ĐNB có sự gắn kết chặt chẽ
với nhau trong quá trình phát triển, tạo thành khối đoàn kết thống nhất trong khối
đại đoàn kết dân tộc Đây cũng là nơi có sự tiếp thu văn hóa thế giới tạo nên đặctrưng văn hóa vùng ĐNB phong phú, đa dạng, tiến bộ, vừa có đặc trưng văn hóavùng miền, vừa mang tính tiên tiến, hiện đại trong xu thế hội nhập quốc tế
Về quốc phòng, an ninh, ĐNB là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, có
tầm quan trọng về đường không, đường biển, đường biên giới Về đường không, sân
bay quốc tế Tân Sơn Nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí chiến lược quan trọng
trong phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh Về đường biển, ĐNB có
khoảng 320 km đường bờ biển với các huyện, thị xã, thành phố của các địa phương:Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp giáp biển và huyện đảo Côn Đảo
của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Đặc điểm này chi phối rất lớn đến sự phát triển của từng
địa phương nói riêng, vùng ĐNB nói chung Về đường biên giới, đây là vùng có hơn
500 km đường biên giới thuộc hai tỉnh Bình Phước và Tây Ninh tiếp giáp với 5 tỉnh
Tbong Khmum, Kratie, Mundulkiri, Prey Veng, Svay Rieng của Campuchia Với đặc
điểm về đường không, đường biển, đường biên giới, ĐNB có vai trò đặc biệt quantrọng trong bảo đảm quốc phòng, an ninh của khu vực và cả nước
Cùng với quá trình phát triển về KT-XH, trong những năm gần đây, một số
địa phương ở miền ĐNB xuất hiện những vấn đề nóng, nổi cộm như quản lý đấtđai, giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, tham nhũng, lãngphí,… đã ảnh hưởng rất lớn vai trò lãnh đạo, quản lý của cấp ủy và chính quyền
địa phương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của nhân dân đối với sự lãnhđạo của Đảng Chính vì vậy, với đặc thù về văn hóa, xã hội, dân cư tập trung đông
ở các thành phố, thị xã đòi hỏi các cấp ủy, chính quyền địa phương và đội ngũ cán
bộ chủ chốt các cấp phải không ngừng nâng cao năng lực, trình độ, uy tín đáp ứngyêu cầu phát triển của từng địa phương nói riêng và miền ĐNB nói chung
Như vậy, những điều kiện, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội và
quốc phòng, an ninh của miền ĐNB tác động đến toàn bộ quá trình phát triển của
Trang 32từng địa phương, vùng ĐNB và cả nước, đưa ĐNB trở thành địa bàn chiến lượctrong phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh Hiện nay, để tiếp tục phát
triển nhanh, bền vững miền ĐNB, bên cạnh việc nắm bắt các điều kiện, đặc điểmvùng để có hướng phát triển phù hợp, còn đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng độingũ cán bộ để xây dựng, phát triển địa phương, vùng trên các lĩnh vực kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh
2
.1.1.2 Các đảng bộ tỉnh, tỉnh ủy và ban thường vụ tỉnh ủy ở các tỉnh miền
Đông Nam bộ
-Khái quát về các đảng bộ tỉnh ở miền ĐNB
Đảng bộ tỉnh ở miền ĐNB là tổ chức đảng được thành lập tương ứng với tổchức hành chính nhà nước cấp tỉnh ở miền ĐNB, đặt dưới sự lãnh đạo của BanChấp hành (BCH) Trung ương, có các tổ chức đảng trực thuộc là các đảng bộhuyện, thị xã và tương đương và các tổ chức cơ sở đảng
Các đảng bộ tỉnh ở miền ĐNB gồm: Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đảng
bộ tỉnh Bình Dương, Đảng bộ tỉnh Bình Phước, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai và Đảng
bộ tỉnh Tây Ninh Hệ thống tổ chức đảng ở các tỉnh miền ĐNB được thiết kế chặt
chẽ, thống nhất từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở theo quy định của Đảng 5 tỉnh ở miềnĐNB có 83 đảng bộ cấp trên cơ sở và 3470 tổ chức cơ sở đảng với 229.101 đảngviên [Phụ lục số 3]
Hệ thống tổ chức của Đảng ở các tỉnh miền ĐNB là các tổ chức do đại hội
đảng bộ địa phương bầu, các cấp ủy đảng bộ địa phương bầu hoặc chỉ định thànhlập, hoạt động theo những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, gồm: Một
là, các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở địa phương do đại hội cùng cấp bầu hoặcchỉ định thành lập (cấp tỉnh: các tỉnh ủy, BTV tỉnh; đảng đoàn, ban cán sự đảng
trong các cơ quan nhà nước và HTCT ở các tỉnh; cấp huyện: các cấp ủy cấp
huyện, BTV cấp ủy cấp huyện; cấp cơ sở: chi ủy, đảng ủy, BTV đảng ủy cấp cơ
sở); Hai là, các ban tham mưu của các cấp ủy ở các tỉnh miền ĐNB trực tiếp
tham mưu cho các cấp ủy nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng, chính
trị, tổ chức và đạo đức (cấp tỉnh: ban tổ chức; ban tuyên giáo, ban dân vận; ban
nội chính; ủy ban kiểm tra; ban dân vận; cấp huyện: ban tổ chức, ban tuyên giáo,
Trang 33ban dân vận, ủy ban kiểm tra và văn phòng cấp ủy; cấp cơ sở: ban tổ chức, ban
tuyên giáo, ban dân vận, ủy ban kiểm tra, văn phòng cấp ủy); Ba là, các đơn vị
sự nghiệp của Đảng ở các tỉnh miền ĐNB (trường chính trị tỉnh, báo tỉnh, các
trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị xã); Bốn là, các chi bộ, đảng bộ trực
thuộc các cấp ủy đảng địa phương
Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc Cơ
quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên Giữa
hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là BCH Trung ương, ở mỗi
cấp là BCH đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy)” [ 25, tr.17]
Vậy, tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội đại biểuđảng bộ tỉnh do đại hội bầu ra để lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết Đại hội Đạibiểu toàn quốc của Đảng, các nghị quyết của đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh và nghịquyết, chỉ thị của tỉnh ủy, quyết định các vấn đề thuộc phạm vi, quyền hạn theo quyđịnh của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dânchủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, quyết định theo đa số
Các tỉnh ủy ở miền ĐNB bao gồm: Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu, Tỉnh ủy Bình
Dương, Tỉnh ủy Bình Phước, Tỉnh ủy Đồng Nai, Tỉnh ủy Tây Ninh, có tổ chức bộ
máy thống nhất, bao gồm bí thư tỉnh ủy, các phó bí thư tỉnh ủy, ủy viên BTVTU,
ủy viên BCH đảng bộ tỉnh và các ban tham mưu của tỉnh ủy: văn phòng tỉnh ủy,
ban tổ chức, ban tuyên giáo, ban dân vận, ban nội chính, ủy ban kiểm tra và các
đơn vị sự nghiệp của tỉnh ủy (báo tỉnh, trường chính trị tỉnh)
+
Chức năng
Theo Quy định số 10-QĐi/TW ngày 12-12-2018 của BCH Trung ương “về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của cấp ủy, BTV cấp ủytỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, tỉnh ủy có chức năng lãnh đạo và chức
năng xây dựng Đối tượng lãnh đạo của tỉnh ủy là các tổ chức đảng trực thuộc, đội
ngũ đảng viên, chính quyền địa phương, HTCT, các tổ chức kinh tế, các tổ chức
Trang 34xã hội và lãnh đạo các lĩnh vực của đời sống xã hội của địa phương Tỉnh ủy lãnhđạo các mặt công tác: phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, công tác
xây dựng Đảng và HTCT
Chức năng lãnh đạo của tỉnh ủy gồm: (1) Tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức đảngtrực thuộc và đội ngũ đảng viên thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựngĐảng Tỉnh ủy ban hành các nghị quyết về công tác xây dựng Đảng và chỉ đạo các
tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên thực hiện; (2) Tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền địaphương thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo quy định của Hiến pháp vàpháp luật; (3) Tỉnh ủy lãnh đạo HTCT và các tổ chức khác ở địa phương thực hiệnđúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp, pháp luật Tỉnh ủy xâydựng và ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch đối với các tổ chức trongHTCT và các tổ chức khác ở địa phương hoạt động theo đúng quy định và chủtrương của tỉnh ủy; (4) Tỉnh ủy lãnh đạo các mặt công tác và các lĩnh vực của đờisống xã hội của địa phương
Chức năng xây dựng của tỉnh ủy gồm: (1) Tỉnh ủy xây dựng hệ thống tổchức bộ máy tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả Tỉnh ủy sắp xếp, tinh gọn tổchức bộ máy theo phạm vi thẩm quyền được quy định trong các văn bản của Đảng.(2) Tỉnh ủy xây dựng đội ngũ CB, ĐV trong toàn đảng bộ tỉnh Tỉnh ủy thực hiệnquy trình công tác CB, ĐV, xây dựng đội ngũ CB, ĐV có bản lĩnh, phẩm chất,
năng lực đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh (3) Tỉnh ủy thamgia xây dựng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Căn cứvào tình hình phát triển của đất nước nói chung, của vùng và địa phương nói riêng,
tỉnh ủy đề xuất, kiến nghị Đảng, Nhà nước xây dựng chủ trương, đường lối phùhợp với thực tiễn phát triển của vùng, địa phương (4) Tỉnh ủy xây dựng đảng bộtrong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức (5) Tỉnh ủytham gia xây dựng cơ quan lãnh đạo của Đảng cấp Trung ương
+
Nhiệm vụ
Điều 19 Điều lệ Đảng quy định: “Cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương (gọi tắt là tỉnh ủy, thành ủy),… lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đạibiểu; nghị quyết, chỉ thị của cấp trên” [ 25 , tr.33] Căn cứ Điều lệ Đảng và Quyđịnh số 10-QĐi/TW, các tỉnh ủy ở miền ĐNB có các nhiệm vụ sau:
Trang 35Một là, tỉnh ủy quán triệt, chấp hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết đại
hội đại biểu đảng bộ tỉnh, các nghị quyết, chỉ thị của tỉnh ủy
Hai là, tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền địa phương cụ thể hóa và tổ chức thực
hiện các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã
hội, quốc phòng, an ninh của địa phương
Ba là, tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức đảng trực thuộc và đội ngũ đảng viên và
thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức
Bốn là, tỉnh ủy lãnh đạo và thực hiện công tác tổ chức, cán bộ theo thẩm
quyền do Đảng quy định
Năm là, tỉnh ủy thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng trực
thuộc, đội ngũ CB, ĐV theo quy định của Điều lệ Đảng
Sáu là, tỉnh ủy chuẩn bị nhân sự, dự thảo văn kiện và tổ chức đại hội đảng
bộ nhiệm kỳ tới
-Các BTVTU ở các tỉnh miền ĐNB - chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công
tác, vai trò, đặc điểm
Theo khoản 1 Điều 20 Điều lệ Đảng, “Hội nghị tỉnh ủy, thành ủy, huyện ủy,
quận ủy, thị ủy bầu BTV;…” [ 25, tr.34] Vậy, BTVTU là cơ quan lãnh đạo do hội
nghị tỉnh ủy bầu, thay mặt tỉnh ủy lãnh đạo và chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực
hiện các công việc của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ hội nghị BCH đảng bộ tỉnh
+
Chức năng của BTVTU:
Theo khoản 3 Điều 20 Điều lệ Đảng: “Ban thường vụ lãnh đạo và kiểm tra,
giám sát việc thực hiện nghị quyết của đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của
cấp ủy cùng cấp và cấp trên; quyết định những vấn đề về chủ trương, tổ chức,
cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của cấp ủy” [ 25,
tr.34] Chức năng cụ thể của BTVTU được quy định tại Quy định số 10-QĐi/TW,
với các chức năng cơ bản sau:
Một là, BTVTU có chức năng lãnh đạo, thay mặt tỉnh ủy lãnh đạo các mặt
công tác, đồng thời có chức năng xây dựng nội bộ BTVTU Đối tượng lãnh đạo
của BTVTU là các tổ chức đảng trực thuộc (gồm các đảng bộ huyện, thị xã, thànhphố trực thuộc tỉnh, đảng bộ khối các cơ quan tỉnh, đảng bộ khối doanh nghiệp
Trang 36tỉnh, đảng bộ quân sự tỉnh, đảng bộ công an tỉnh), các tổ chức trong HTCT tỉnh(MTTQ Việt Nam tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệpphụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân), các tổ chức trực thuộc khác, đội ngũđảng viên và các tầng lớp nhân dân ở địa phương.
Hoạt động lãnh đạo của BTVTU bao gồm lãnh đạo, chỉ đạo phát triển
KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh và các mặt công tác của địa phương; công tácxây dựng đảng bộ và HTCT tỉnh, lãnh đạo và thực hiện công tác kiểm tra, giámsát theo Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26-7-2016 về “thi hành chương VII và
chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng”
Hai là, BTVTU có chức năng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và
công tác xây dựng Đảng Đó là lãnh đạo các tổ chức, các lực lượng trên địa bàn
tỉnh thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, xây dựng nông thôn mới…; là lãnh đạo bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây
dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, giữ vững an ninh, chính
trị, trật tự an toàn xã hội Lãnh đạo cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của
Đảng, của tỉnh ủy về công tác xây dựng Đảng và HTCT để các tổ chức đảng,
đảng viên thực hiện
Ba là, BTVTU có chức năng quyết định những vấn đề thuộc phạm vi, thẩm
quyền, gồm những vấn đề về công tác tổ chức, công tác cán bộ diện BTVTU quản
lý: quyết định thành lập, hợp nhất, sáp nhập hoặc giải thể, chia tách các tổ chức
trực thuộc theo thẩm quyền hoặc cho chủ trương về công tác tổ chức đối với các
tổ chức trực thuộc; phân công công tác cho các ủy viên BCH đảng bộ tỉnh, ủy viên
BTVTU trong việc phụ trách địa bàn, nội dung công tác; bổ nhiệm, điều động,
luân chuyển cán bộ diện BTVTU quản lý; xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ
cán bộ, công chức ở tỉnh; thực hiện các khâu trong công tác cán bộ như quy hoạch,
phê duyệt quy hoạch cán bộ,
Bốn là, BTVTU có chức năng tham mưu, đề xuất Ban thường vụ tỉnh ủy
tham mưu cho tỉnh ủy những vấn đề quan trọng của tỉnh như chiến lược phát triểnkinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tham mưu về công tác cán bộ Bên cạnh
đó, BTVTU chủ động đề xuất những vấn đề lớn, quan trọng phù hợp với thực tiễncủa địa phương trình cấp ủy xem xét, quyết định
Trang 37Năm là, BTVTU có chức năng phối hợp, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính
trị được giao Ban thường vụ tỉnh ủy phối hợp với các tổ chức có liên quan: (1)
Các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương về công tác cán bộ; (2) Phối hợp
với các cơ quan tham mưu, giúp việc Trung ương; (3) Phối hợp với đảng ủy lực
lượng vũ trang trong thực hiện các vấn đề về công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát
và bảo đảm quốc phòng, an ninh
Như vậy, BTVTU là cơ quan lãnh đạo của Đảng ở cấp tỉnh, có chức năng
lãnh đạo, quyết định những vấn đề thuộc phạm vi, thẩm quyền, đề xuất, kiến nghịvới cơ quan lãnh đạo cấp trên những vấn đề của địa phương và phối hợp, tổ chứcthực hiện nhiệm vụ chính trị được giao
+
Nhiệm vụ của BTVTU
Căn cứ Điều 5 Quy định số 10-QĐi/TW, BTVTU có các nhiệm vụ: (1) Lãnh
đạo cụ thể hóa và xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị
của Đảng, tỉnh ủy; (2) Lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết những vấn đề lớn, phức tạp
về KT-XH, quốc phòng, an ninh nảy sinh trên địa bàn; (3) Định hướng quy
hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực ở địa phương, quyết định hoặc
cho chủ trương, định hướng, biện pháp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh,
đối ngoại; (4) Tham gia xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng,
nhất là những vấn đề có liên quan đến địa phương; (5) Quyết định những vấn đề
quan trọng theo thẩm quyền và thực hiện những nhiệm vụ khác do Trung ương,
tỉnh ủy giao; (6) Thực hiện nhiệm vụ quản lý đội ngũ cán bộ được phân cấp; (7)
Ủy quyền cho thường trực tỉnh ủy một số công việc thuộc thẩm quyền của
BTVTU, trong đó có một số nhiệm vụ trong công tác cán bộ như: quyết định
thẩm tra cán bộ diện BTVTU quản lý khi cần thiết; cho ý kiến đối với các cơ
quan chức năng thực hiện quy trình nhân sự trình BTVTU xem xét, quyết định
đối với các chức danh cán bộ diện BTVTU quản lý, trong đó có các chức danh
CBH diện BTVTU quản lý Bên cạnh đó, BTVTU còn có nhiệm vụ xây dựng
chương trình, kế hoạch công tác của tỉnh ủy; triệu tập và chuẩn bị nội dung các
kỳ họp của tỉnh ủy; chỉ đạo các tổ chức đảng trực thuộc sơ kết, tổng kết việc thực
hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và của tỉnh ủy; quy định chức năng, nhiệm
vụ của các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy
Trang 38Mối quan hệ công tác Trong mối quan hệ công tác với các ban tham mưu
của tỉnh ủy, BTVTU lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ chính trị và
các mặt công tác của đảng bộ Trong mối quan hệ với các cấp ủy đảng trực thuộc,
BTVTU lãnh đạo các cấp ủy đảng trực thuộc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công
tác xây dựng Đảng và chịu trách nhiệm trước tỉnh ủy về hoạt động của các tổ chứcđảng trực thuộc Trong mối quan hệ với chính quyền tỉnh, BTVTU lãnh đạo, chỉ
đạo hoạt động của HĐND thông qua đảng đoàn HĐND tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnhthông qua ban cán sự đảng UBND tỉnh Trong mối quan hệ với MTTQ và các
đoàn thể CT-XH, BTVTU lãnh đạo thông qua đảng đoàn các tổ chức, BTV tỉnhđoàn, các ủy viên BCH là lãnh đạo của Ủy ban MTTQ, các đoàn thể CT-XH
+
Vai trò của BTVTU
Một là, BTVTU trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KT-XH, bảo đảm quốc
phòng, an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng HTCT ở địa phương trong sạch, vững mạnhBan thường vụ tỉnh ủy thay mặt tỉnh ủy trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo việc thựchiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của tỉnh ủy, đồng thời chỉ đạo giải quyết những
vấn đề nảy sinh ở địa phương trên tất cả các lĩnh vực: KT-XH, quốc phòng, anninh, đối ngoại Bên cạnh đó, BTVTU còn có vai trò kiểm tra, giám sát việc tổ
chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của tỉnh ủy bảo đảm các nghị
quyết, chỉ thị được thực hiện có hiệu quả
Hai là, BTVTU quyết định đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ
chiến lược, trọng yếu ở địa phương
Ban thường vụ tỉnh ủy có chức năng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị,công tác xây dựng Đảng và HTCT huyện, có thẩm quyền ra nghị quyết hoặc kết
luận để lãnh đạo những vấn đề chiến lược, trọng yếu của địa phương như: địnhhướng phát triển các ngành, lĩnh vực, chính sách KT-XH, quyết định định hướng
biện pháp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh,… Sự lãnh đạo,chỉ đạo kịp thời, phù hợp với thực tiễn địa phương góp phần thúc đẩy phát triển cácngành, các lĩnh vực KT-XH Chính vì vậy, hoạt động của BTVTU trực tiếp quyếtđịnh đến chất lượng, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi, thẩm quyền
Trang 39Ba là, BTVTU lãnh đạo, quản lý và quyết định đến công tác cán bộ và chất
lượng đội ngũ cán bộ diện BTVTU quản lý
Theo Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19-12-2017 của Bộ Chính trị “về phân
cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”, BTVTU có thẩm
quyền, trách nhiệm lớn trong công tác cán bộ nói chung, CBH diện BTVTU quản
lý nói riêng như: thảo luận và quyết định công tác tuyển chọn, đánh giá, bố trí,
phân công công tác, giới thiệu ứng cử, chỉ định; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng;
điều động, luân chuyển,… đối với các chức danh cán bộ diện BTVTU quản lý,
trong đó có các chức danh CBH Ban thường vụ tỉnh ủy kiểm tra, giám sát các tổ
chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quy chế làm
việc, mối quan hệ công tác; kiểm tra, giám sát cán bộ diện BTVTU quản lý thực
hiện TNNG theo quy định của Đảng, của tỉnh ủy Chính vì vậy, mỗi quyết định và
hoạt động của BTVTU trong công tác cán bộ đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng đội ngũ cán bộ diện BTVTU quản lý
Bốn là, BTVTU có vai trò tiếp nhận sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, các cơ quan tham mưu của BCH Trung ương về các mặt công tác ởđịa phương, đồng thời, trực tiếp đề xuất, kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Bí thư
và các cơ quan tham mưu cấp Trung ương về những vấn đề thực tiễn ở địa phương
+
Đặc điểm của BTVTU ở miền ĐNB
Một là, BTVTU ở miền ĐNB có xu hướng tăng lên về số lượng và chất lượng
Về số lượng, 5 tỉnh miền ĐNB có 75 ủy viên BTV (hơn nhiệm kỳ 2010-2015
1 đồng chí) Cơ cấu giới tính của BTVTU ở 5 tỉnh miền ĐN BTVTU cũng có xu
0
hướng hợp lý hơn với 9 ủy viên nữ, chiếm 12% (8,11% của nhiệm kỳ 2010-2015)
Ban thường vụ tỉnh ủy ở các tỉnh miền ĐNB có xu hướng ngày càng trẻ với 2 ủy
viên dưới 40 tuổi, chiếm 2,67%, 4 ủy viên có độ tuổi từ 40 đến 45 tuổi (nhiệm kỳ
2
010-2015 không có đồng chí nào dưới 40 tuổi) [Phụ lục 4]
Về chất lượng, trình độ chuyên môn của BTVTU ở 5 tỉnh miền ĐNB nhiệm
kỳ 2015-2020 cao hơn so với nhiệm kỳ 2010-2015 với 20 thạc sĩ (chiếm 26,67%)
và 4 tiến sĩ (chiếm 5,33%) (tỉnh Bình Dương: 02 tiến sĩ; tỉnh Đồng Nai: 01 tiến sĩ
Trang 40và tỉnh Tây Ninh: 01 tiến sĩ) Có 01 đồng chí có học hàm Phó Giáo sư (tỉnh Đồng
Nai) [Phụ lục 4]
Hai là, BTVTU ở các tỉnh miền ĐNB là hạt nhân lãnh đạo của tỉnh ủy
Ban thường vụ tỉnh ủy gồm các bí thư và phó bí thư tỉnh ủy, ủy viên BTV là
phó chủ tịch HĐND tỉnh, phó chủ tịch UBND tỉnh; trưởng (phó) các ban: ban
tuyên giáo tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy, ban dân vận tỉnh ủy, chủ nhiệm (phó chủ
nhiệm) ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, trưởng ban nội chính tỉnh ủy, chỉ huy trưởng bộ
chỉ huy quân sự tỉnh, giám đốc (phó giám đốc) công an tỉnh, một số bí thư cấp ủy
cấp huyện, chủ tịch MTTQ Việt Nam tỉnh và một số chức danh khác Với trình độ
chuyên môn, lý luận chính trị cao, có phẩm chất đạo đức, uy tín, được tín nhiệm,
ủy viên BTVTU ở các tỉnh miền ĐNB là những người trực tiếp thực hiện nhiệm
vụ chỉ đạo, điều hành các mặt công tác ở địa phương
Ba là, BTVTU là trung tâm đoàn kết của cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo
phát triển toàn diện các lĩnh vực của địa phương
Ủy viên BTVTU là những người tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, năng lực và
uy tín, giữ vị trí, vai trò lãnh đạo, quản lý trên các lĩnh vực của địa phương Các
mặt hoạt động của BTVTU đều xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ phát triển các lĩnh
vực của địa phương, có sự bàn bạc, dân chủ, đoàn kết, thống nhất trong công tác
chỉ đạo, điều hành Trong số các ủy viên BTVTU ở 5 tỉnh miền ĐNB, có 49,33%
đồng chí công tác trong các cơ quan đảng, 20% đồng chí công tác trong cơ quannhà nước, 4% công tác trong MTTQ, 13,33% công tác trong lực lượng vũ trang,
1
2% công tác ở cấp huyện và 1,33% trong doanh nghiệp [Phụ lục 4]
Bốn là, BTVTU ở các tỉnh miền ĐNB được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau
Trong số 75 ủy viên BTVTU, có những đồng chí được tăng cường, luân
chuyển về (4 đồng chí, chiếm 5,33%), có những đồng chí không phải là người địa
phương (13 đồng chí, chiếm 17,33%) và một số đồng chí là cán bộ nguồn, được
quy hoạch (5 đồng chí, chiếm 6,67%) Đặc điểm này có ảnh hưởng đến hoạt động
lãnh đạo, quản lý, nhất là trong công tác cán bộ, phần nào hạn chế những tiêu cực
trong công tác quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ diện BTVTU quản lý