THAM LUẬN VỀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC VIỆN TƯ PHÁP NĂM 2016 Trần Minh Tiến Trưởng phòng Hành chính – Tổng hợp 1 Kết quả hoạt động năm 2015 Năm 2015 là năm thứ hai, năm cuối cùng giai đoạn 1[.]
Trang 1THAM LUẬN VỀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG
CỦA HỌC VIỆN TƯ PHÁP NĂM 2016
Trần Minh Tiến
Trưởng phòng Hành chính – Tổng hợp
1 Kết quả hoạt động năm 2015
Năm 2015 là năm thứ hai, năm cuối cùng giai đoạn 1: 2013 - 2015 thực hiện Quyết định số 2083/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp Kết quả đạt được trong năm qua thể hiện chi tiết trong Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2015 và phương hướng năm 2016 Trong phạm vi hạn chế, tham luận nêu một số kết quả đáng chú ý sau đây:
+ Có 5657 học viên tham gia các lớp đào tạo chức danh tư pháp trong đó
3254 học viên chuyển sang từ năm 2014 và 2.403 học viên theo chỉ tiêu năm 2015
+ Có 3.789 lượt người tham gia các lớp bồi dưỡng tại Học viện Tư pháp + Chương trình đào tạo, bồi dưỡng có nhiều đổi mới về cách thức xây dựng, bước đầu đã tiếp cận với hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ; chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, có chuẩn đầu ra của các chương trình, tăng cường khả năng thực hành, chú trọng vào kỹ năng và khả năng tranh tụng của các chức danh tư pháp Các chương trình bồi dưỡng cũng được chú trọng đầu tư xây dựng tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực làm việc của đội ngũ cán bộ làm công tác pháp luật ở nhiều lĩnh vực khác nhau
+ Thực hiện được 18 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, gồm: 09 đề tài, 09 hội thảo, toạ đàm Trong số các đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu,
có 05 đề tài nghiệm thu đạt kết quả xuất sắc, 03 đề tài nghiệm thu đạt kết quả; nghiệm thu 02 cuốn giáo trình; xây dựng, chỉnh sửa 03 chương trình đào tạo và
đề cương môn học
+ Tổ chức bộ máy cơ bản đã được kiện toàn, sắp xếp lại theo Quyết định
số 2229/QĐ-BTP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Tư pháp
Các kết quả đạt được nêu trên là đáng khích lệ song còn nhiều điều cần phải nghiên cứu, đề cập Quy mô đào tạo chỉ đạt được trên 50% Nếu theo chỉ tiêu được xác định cho năm 2016 trở đi theo Quyết định số 2083 thì Học viện
Tư pháp mới chỉ đạt được khoảng 30% chỉ tiêu, quy mô bồi dưỡng mới chỉ đạt được khoảng 14,36%
Trang 2Bên cạnh những kết quả nêu trên, Học viện Tư pháp tồn tại nhiều điểm hạn chế, cản trở đến sự phát triển Địa vị pháp lý còn hạn chế Thể chế chỉ đạo, quản lý, điều hành chậm được hoàn thiện, chưa có cơ chế đột phá để thúc đẩy phát triển Kỷ luật công vụ, kỷ cương hành chính, kỷ luật học đường, kỷ luật lao động chưa được thực thi, chấp hành nghiêm chỉnh Nhiều công việc chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra về số lượng, tiến độ và chất lượng, đặc biệt liên quan đến hoạt động xây dựng thể chế, tổ chức cán bộ, nghiên cứu khoa học và chứng từ thanh toán Xuất hiện tình trạng nhiều cá nhân không làm hết việc, nhiều cá nhân không làm việc, không làm được việc hoặc không có việc làm Cơ chế đánh giá, phân loại viên chức chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi đặt ra Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhiều mặt còn hạn chế
Nguyên nhân của những hạn chế trên bắt nguồn từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó nguyên nhân chủ quan là cơ bản Học viện Tư pháp đã có nhiều cuộc họp, nhiều diễn đàn trao đổi về những nguyên nhân này Vì vậy, tham luận sẽ không đề cập thêm nữa
2 Bối cảnh Học viện Tư pháp năm 2016
Hoạt động của Học viện Tư pháp năm 2016 sẽ diễn ra trong bối cảnh có nhiều biến động từ bên ngoài khác nhau:
+ Dự thảo Pháp lệnh đào tạo một số chức danh tư pháp điều chỉnh khung pháp lý về đào tạo chức danh tư pháp không nhận được sự đồng thuận của các ngành Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, gặp nhiều khó khăn trong triển khai xây dựng dự án Chương trình đào tạo chung nguồn bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư với tính chất là chương trình tạo nên sự đột phá, mô hình đào tạo mới đối với các chức danh tư pháp không thể triển khai thực hiện do các ngành không nhất trí về cơ chế, chính sách, phương thức và điều kiện sử dụng sản phẩm sau đào tạo
+ Cơ chế tự chủ về tổ chức, biên chế, tài chính, chức năng nhiệm vụ được xác định theo Nghị định số 16/2014/NĐ-CP của Chính phủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập, sắp tới thực hiện theo Nghị định quy định cơ chế hoạt động, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, số người làm việc và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo giảm phần nhiều kinh phí dành cho hoạt động của Học viện
Tư pháp Nguồn ngân sách Nhà nước hỗ trợ và cấp cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và cơ sở vật chất của Học viện Tư pháp ngày càng giảm, đòi hỏi tính tự chủ ngày càng tăng
+ Yêu cầu đào tạo về chất lượng, trình độ, kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ngày càng cao Chính sách của Nhà nước về quản lý, điều tiết, sử dụng sản phẩm sau đào tạo chưa được ban hành và còn bất cập Công tác phối hợp trong triển khai thực
Trang 3hiện các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Tư pháp gặp nhiều khó khăn, cản trở, thiếu hiệu quả, chậm về thời gian và không cao về chất lượng
+ Cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo chức danh tư pháp ngày càng gia tăng Ngành Toà án nhân dân không gửi học viên sang đào tạo Liên đoàn Luật
sư Việt Nam đang khẩn trương xúc tiến thành lập trường Luật sư Việt Nam
+ Mâu thuẫn giữa nhu cầu mở rộng quy mô, phạm vi đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp với yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; nhu cầu
xã hội tham gia các khoá đào tạo nghề luật sư, công chứng viên, đấu giá viên ngày càng giảm,
3 Một số định hướng hoạt động của Học viện Tư pháp năm 2016
Năm 2016 là năm đánh dấu nhiều sự kiện nhiều trọng đại đối với Việt Nam và Học viện Tư pháp Đây là năm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, năm của sự đổi mới, năng động và sáng tạo, đánh dấu sự khởi đầu mới của giai đoạn 2 thực hiện Quyết định số 2083/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp
Trong bối cảnh, biến động nhanh chóng của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp cũng như của Học viện, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, chúng tôi cho rằng, để tồn tại và phát triển, Học viện Tư pháp cần xây dựng lại thương hiệu, khẳng định bằng chất lượng, dựa trên 3 yếu tố cơ bản: (i) chất lượng sản phẩm đào tạo và bồi dưỡng, (ii) các chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải thu hút “khách hàng” là người học và người sử dụng sản phẩm đào tạo, bồi dưỡng và (iii) hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phải tiện dụng, hiện đại, linh hoạt
Trên tinh thần đó, trong lộ trình từ nay đến năm 2020, mục tiêu cơ bản năm 2016 là năm tạo nền tảng hạ tầng, thực hiện 3 đột phá chiến lược gồm (i) xây dựng nền tảng hạ tầng vững chắc đối với hoạt động đào tạo, (ii) cải cách thể chế quản lý và (iii) tạo dựng nguồn nhân lực tốt theo vị trí việc làm
a) Về xây dựng nền tảng hạ tầng
- Đổi mới phương thức tổ chức thực hiện chương trình đào tạo các lớp theo nhu cầu xã hội như luật sư, công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên theo hướng linh hoạt, mềm dẻo nhằm tăng khả năng mở rộng quy mô đào tạo, đáp ứng nhu cầu về thời gian, tiến trình và khả năng của người học, vừa có thể
mở các lớp ban ngày, vừa có thể mở các lớp buổi tối hoặc thứ bảy, chủ nhật
- Chủ động công bố, thông tin mở các lớp đào tạo theo nhu cầu xã hội tại các địa phương để “khách hàng” có nhu cầu trực tiếp đăng ký với Học viện thay
vì trông chờ đề nghị liên kết đào tạo từ các Đoàn Luật sư, Sở Tư pháp hay các trường trung cấp luật ở một số địa phương
Trang 4- Chuyển đổi dần các chương trình đào tạo từ niên chế sang hình thức tín chỉ, trong đó chú trọng tính kết nối, liên thông trong các chương trình đào tạo chức danh tư pháp
- Triển khai thí điểm các lớp có chất lượng cao trong từng chương trình đào tạo, để tạo nên các sản phẩm hạn chế hoặc sản phẩm đặc biệt
- Tăng cường xây dựng các chương trình đào tạo lại, đào tạo ngắn ngày, trung bình 1-2 chương trình đào tạo/năm theo các chuyên đề chuyên sâu cho mọi đối tượng kể cả các chức danh tư pháp, người có bằng cử nhân luật hay không có bằng cử nhân luật miễn là họ có nhu cầu
- Sửa đổi Quyết định số 23/QĐ-TTg về việc thành lập Học viện Tư pháp theo hướng bổ sung thêm chức năng đào tạo cử nhân luật, thạc sỹ luật định hướng ứng dụng và chuẩn bị các điều kiện cần thiết về chương trình, giảng viên, giáo trình, tài liệu; hồ sơ đăng ký mở mã ngành đào tạo cử nhân luật, thạc
sỹ luật định hướng thực hành theo quy định của pháp luật để khi có quyết định mới thay thế hoặc bổ sung Quyết định số 23/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về việc thành lập Học viện Tư pháp, Học viện Tư pháp có thể trình ngay Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo
- Xây dựng hệ thống các phần mềm quản lý, điều hành, thông tin hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
- Chuyển đổi phương thức xây dựng giáo trình, tài liệu của Học viện Tư pháp bằng cách trao quyền và tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc xây dựng giáo trình, tài liệu, hệ thống hồ sơ tình huống, văn bản pháp luật, án lệ cho các khoa, bộ môn, giảng viên Các khoa, bộ môn, giảng viên chủ động xây dựng, chỉnh sửa, biên soạn và phát hành các giáo trình, tài liệu, hồ sơ tình huống phục vụ cho các chương trình, lớp đào tạo, bồi dưỡng Học viện Tư pháp chỉ đóng vai trò là người quản lý, được hưởng lại một phần kinh phí phát hành
ví dụ khoảng 10% Học viện Tư pháp chỉ đầu tư kinh phí để thực hiện đối với một số dự án thật sự cần thiết, theo đơn đặt hàng;
- Chuẩn bị hồ sơ pháp lý, các điều kiện cần thiết, thường xuyên theo dõi, cập nhật các dự án chào hàng đấu thầu khoa học được công bố hàng năm, liên kết và hợp tác với các cơ quan khác để tham gia các dự án đấu thầu khoa học
- Chuẩn bị các điều kiện cần thiết và làm thủ tục để tăng số xuất bản tạp chí Nghề Luật, định kỳ 01 số/tháng, 02 số chuyên đề/năm và đổi mới thêm phương thức xuất bản bằng ấn phẩm điện tử
- Chuẩn bị các điều kiện cần thiết và làm thủ tục để tạp chí Nghề Luật vào Danh mục tạp chí khoa học chuyên ngành Luật, An ninh được tính điểm công trình khoa học quy đổi khi xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo
sư, Phó Giáo sư có hệ số điểm từ 0 – 1;
b) Về cải cách thể chế quản lý
Trang 5- Ban hành quy định sinh hoạt chuyên môn của các tổ bộ môn theo hướng các khoa, cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh phải xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên môn cho cả năm học và được Giám đốc phê duyệt, đảm bảo ít nhất hàng tháng mỗi tổ bộ môn phải sinh hoạt chuyên môn 01 lần và đảm bảo ít nhất 30% giảng viên trong khoa phải tiến hành đi dự giờ giảng, tổ chức các buổi toạ đàm chuyên đề (ngoài chương trình đào tạo) về những vấn đề pháp lý nóng đang đặt
ra trong cuộc sống liên quan đến chức danh đào tạo, trung bình 01 lần/quý/khoa
- Ban hành quy định về hoạt động giảng dạy của giảng viên nhằm đảm bảo tính thống nhất, chuẩn mực trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng như quy định về giáo án, đề cương chi tiết bài giảng, hồ sơ giảng dạy, đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên, nhiệm vụ của giảng viên khi đứng lớp, thao giảng, dự giờ sinh hoạt chuyên môn, chủ thể tham gia quản lý công tác giảng dạy của giảng viên, đánh giá và phân loại chất lượng giảng dạy của giảng viên, khen thưởng và xử lý vi phạm; đảm bảo hàng năm 100% giảng viên đều phải được đánh giá, phân loại, ít nhất 30% giảng viên phải đi tham gia dự giờ; đề cương chi tiết bài giảng, kế hoạch giảng dạy phải được công khai cho học viên biết trước buổi giảng tối thiểu 01 tháng
- Sửa đổi quy định về chế độ làm việc của giảng viên theo hướng quy định rõ trách nhiệm, định mức lao động của từng chức danh giảng viên về chuyên môn giảng dạy, nghiên cứu khoa học và tham gia các công việc khác phù hợp với đặc thù đào tạo, bồi dưỡng nghề của Học viện Tư pháp
- Ban hành Quy chế thỉnh giảng của Học viện Tư pháp, trong đó xác định
rõ đối tượng đủ điều kiện được tham gia thỉnh giảng tại Học viện Tư pháp, quy trình xét duyệt, mời giảng viên thỉnh giảng; chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của giảng viên thỉnh giảng Học viện Tư pháp;
- Ban hành Quy chế đào tạo mới theo hướng tiếp cận hoạt động đào tạo theo tín chỉ để tạo sự linh hoạt, mềm dẻo không bị bó hẹp hoặc hạn chế bởi niên hạn của chương trình đào tạo cho người học được tiếp cận đến nhiều chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Tư pháp
- Hoàn thiện quy chế làm việc của Học viện Tư pháp,
- Ban hành Quy chế thu, chi nội bộ với quan điểm đảm bảo một cơ chế thu, chi thống nhất trong toàn Học viện, đảm bảo được công bằng, bình đẳng cho các vị trí nghề nghiệp, thể hiện được chính sách đãi ngộ, quan tâm của Học viện Tư pháp đối với công chức, viên chức, người lao động và các giảng viên thỉnh giảng của Học viện Tư pháp
- Công khai minh bạch tất cả các mặt hoạt động của Học viện theo quy định pháp luật
c) Tạo dựng nguồn nhân lực
Trang 6- Xây dựng kế hoạch tổng thể để hoạch định nguồn nhân lực của Học viện Tư pháp từ nay đến năm 2020, tầm nhìn 2030, trong đó xác định kế hoạch, chương trình cụ thể cho năm 2016 về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu;
- Ban hành Kế hoạch tuyển dụng, chuyển ngạch công chức, viên chức và người lao động của Học viện Tư pháp cho toàn giai đoạn từ nay đến năm 2020, trong đó xác định rõ chỉ tiêu, ví trí việc làm, nội dung, hình thức cho năm 2016
và những năm tiếp theo
- Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về đào tạo theo hình thức tín chỉ cho các giảng viên cơ hữu của Học viện Tư pháp, các lớp bồi dưỡng, tập huấn
về phương pháp đào tạo hiện đại cho các giảng viên thỉnh giảng
- Xây dựng kế hoạch đưa giảng viên cơ hữu của Học viện tham gia các hoạt động thực tế tại toà án, viện kiểm sát, văn phòng hoặc công ty luật, tổ chức hành nghề công chứng, tham gia Hội thẩm nhân dân./