ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN MAI THỊ NHUNG TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI VỀ LÊ LỢI Ở THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Văn học dân gian Việt Nam Hà Nội 2014 Heade[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3Sự giúp đỡ của thầy cô khoa Sau đại học, Khoa Văn học – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội
Sự giúp đỡ của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thanh Hóa; Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thanh Hóa; Thư viện tỉnh Thanh Hóa; Phòng văn hóa huyện Thọ Xuân – Thanh Hóa; Ban quản lý khu di tích Lam Kinh; Nhân dân địa phương các xã thuộc huyện Thọ Xuân: TT Lam Kinh, Xuân Lam, Xuân Lập, Xuân Lai, Xuân Trường
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đặng Thị Diệu Trang cùng toàn thể các thầy cô trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội; Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thanh Hóa; Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thanh Hóa; Thư viện tỉnh Thanh Hóa; Phòng văn hóa huyện Thọ Xuân –Thanh Hóa; Ban quản lý khu di tích Lam Kinh; Nhân dân địa phương các xã thuộc huyện Thọ Xuân: TT Lam Kinh, Xuân Lam, Xuân Lập, Xuân Lai, Xuân Trường
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2014
Học viên
Mai Thị Nhung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài “Truyền thuyết và lễ hội về Lê Lợi ở
Thanh Hóa” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Tất cả các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác Các kết luận khoa học chưa công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2014
Học viên
Mai Thị Nhung
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của khóa luận 12
7 Cấu trúc luận văn 13
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT THANH HÓA VÀ BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRUYỀN THUYẾT LÊ LỢI 14
1.1 Khái quát về vùng đất Thanh Hóa 14
1.1.1 Sơ lược về lịch sử vùng đất Thanh Hóa 14
1.1.2 Văn hóa dân gian 15
1.2 Đặc trưng của thể loại truyền thuyết Việt 19
1.2.1 Chức năng làm sử 19
1.2.2 Cảm hứng tôn vinh, ngợi ca 22
1.3 Bối cảnh ra đời truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa 25
1.3.1 Anh hùng Lê Lợi 25
1.3.2 Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn 28
CHƯƠNG 2 TRUYỀN THUYẾT VỀ LÊ LỢI Ở THANH HÓA 32
2.1 Truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa trong kho tàng văn học dân gian 32
2.1.1 Đặc điểm nội dung trong truyền thuyết Lê Lợi ở Thanh Hóa 41
2.1.2 Đặc điểm thi pháp trong truyền thuyết về Lê Lợi 46
2.2 Khảo sát truyền thuyết về Lê Lợi trong đời sống nhân dân địa phương hiện nay 54
Trang 6CHƯƠNG 3 LỄ HỘI GẮN VỚI TRUYỀN THUYẾT VỀ LÊ LỢI Ở
THANH HÓA 65
3.1.Khái niệm lễ và hội 65
3.2 Lễ hội Lam Kinh 66
3.2.1 Khái quát về khu di tích Lam Kinh 66
3.2.2 Quy trình lễ hội 79
3.3 Lễ hội làng Xuân Phả 86
3.4 Lễ hội lễ hội Căm Mương và lễ hội Đền Thi 92
3.4.1 Lễ Hội Căm Mương 92
3.4.2 Lễ hội Đền Thi 94
3.5 Ý nghĩa của lễ hội 96
PHẦN KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 109
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Thanh Hóa là miền đất có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời và
có nhiều di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong cả nước Những danh lam, thắng cảnh này là tài sản vô giá, là niềm tự hào không chỉ riêng của đất
và người xứ Thanh mà còn của chung toàn dân tộc Nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Mã, đây là vùng đất trù phú, cảnh quan đa dạng có nhiều
di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng Từ xa xưa xứ Thanh đã được coi là
vùng đất: “ Địa linh nhân kiệt” Nơi đây gắn liền với những lịch sử truyền
thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc và lưu giữ những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống Trong số đó không thể không nói tới cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược do người anh hùng Lê Lợi khởi xướng và lãnh đạo Trong thiên anh hùng ca chống giặc ngoại xâm của dân tộc, Lam Sơn – mảnh đất thiêng, quê hương của anh hùng Lê Lợi, được ghi vào lịch sử như một dấu son chói lọi Lam Sơn là căn cứ đầu tiên của một cuộc khởi nghĩa lớn chống lại ách đô hộ tàn bạo của phong kiến nhà Minh, giành thắng lợi, mở ra thời kỳ độc lập, thịnh trị cho đất nước nhà Hơn năm mươi thế kỷ đã trôi qua, thời gian cùng với sự thăng trầm của lịch sử đã làm nhòa đi những vết tích vật chất về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Những hào lũy, đồn trại, kho lương, cách dàn binh bố trận, những cuộc chiến đấu vô cùng quả cảm của nghĩa quân…Tất cả chỉ còn tàn tích là dấu vết của một thời oanh liệt hào hùng Nhưng trong ký ức của người dân tỉnh Thanh vẫn còn nguyên vẹn hình ảnh của người anh hùng dân tộc Lê Lợi cùng vời cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo Lê Lợi- Lam Sơn, tên đất, tên người đó như quyện chặt vào nhau và
từ lâu đã đi vào truyền thuyết, đi vào lòng nhân dân như một biểu tượng anh hùng của người dân xứ Thanh và của cả dân tộc ta Đi vào tìm hiểu truyền thuyết về Lê Lợi góp phần ngợi ca người anh hùng Lê Lợi, cuộc khởi nghĩa
Trang 8Lam Sơn và tái hiện một thời kỳ hào hùng của dân tộc ta dưới thời Lam Sơn khởi nghĩa
Việc nghiên cứu về truyền thuyết Lê Lợi ở Thanh Hóa là vấn đề hết sức quan trọng trong hành trình tìm về lịch sử và văn học dân gian Đồng thời giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn truyền thống văn hóa của dân tộc , thêm
tự hào về đất nước con người Việt Nam, nhất là những vị anh hùng đã làm rạng danh cho quê hương đất nước Từ chuyên ngành văn học dân gian, nghiên cứu truyền thuyết gắn với việc tìm hiểu tín ngưỡng và lễ hội tưởng niệm các danh nhân văn hóa để làm sáng rõ hơn đặc trưng của của thể loại
1.2 Truyền thuyết gắn liền với lễ hội tôn vinh các anh hùng dân tộc, các địa danh lịch sử đã ăn sâu vào đời sống tâm linh của nhân dân và được thể hiện qua các phong tục, nghi lễ Môi trường diễn xướng các hoạt động văn hóa dân gian ấy gắn liền với các địa danh có trong tác phẩm Chỉ trong không khí đó tác phẩm dân gian mới bộc lộ hết giá trị thẩm mĩ của nó Truyền thuyết
và lễ hội có mối quan hệ biện chứng với nhau Nhờ truyền thuyết, lễ hội bám chặt gốc rễ vào mảnh đất đời sống, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tâm linh của nhân dân Truyền thuyết là cầu nối giữa cảm xúc, niềm tin và cộng đồng với tín ngưỡng, phong tục tập quán Niềm tin trong truyền thuyết được hiện thực hóa trong lễ hội Lễ hội giúp truyền thuyết được lưu giữ và có sức lan tỏa trong đời sống Đi vào tìm hiểu truyền thuyết và lễ hội
về Lê Lợi ở Thanh Hóa góp phần thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa truyền thuyết và lễ hội
1.3 Đời sống đích thực của truyền thuyết là môi trường diễn xướng mà hoạt động diễn xướng của văn học dân gian là lễ hội Các hoạt động lễ hội luôn tổ chức trong môi trường có ở truyền thuyết Tuy nhiên do điều kiện lịch
sử dân tộc, địa phương mà lễ hội bị gián đoạn Việc nghiên cứu tìm hiểu lễ hội về Lê Lợi ở Thanh Hóa góp phần vào việc khôi phục phát triển lễ hội
Trang 9cũng như các loại hình văn hóa dân gian Đồng thời góp phần xây dựng phát triển kinh tế xã hội tại đại phương
Với những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu đề tài:
“Truyền thuyết và lễ hội về Lê Lợi ở Thanh Hóa”
2.Lịch sử vấn đề
2.1 Vấn đề nghiên cứu truyền thuyết dân gian ở Việt Nam về góc độ đặc trưng thể loại
Truyền thuyết là một trong những loại truyện tiêu biểu của loại hình tự
sự dân gian Vấn đề nghiên cứu thể loại truyền thuyết ở nước ta đã đặt ra nhiều vấn đề, ý kiến khác nhau về thể loại này
Giáo sư Nguyễn Đổng Chi trong lời tựa cho cuốn: Kho tàng truyện cổ
tích Việt Nam (NXB Sử học, 1961) đã chỉ ra đặc điểm của truyền thuyết so với
thể loại cổ tích và thần thoại: “Truyền thuyết thường dùng để chỉ những câu chuyện cũ, những sự việc lịch sử còn được quần chúng truyền lại nhưng không đảm bảo về mặt chính xác có thể do truyền rộng mà sai lạc, cũng có thể
do sự tưởng tượng của quần chúng phụ hoạ thêu dệt mà càng sai lạc hơn Và truyền thuyết phần nhiều chưa được xây dựng thành truyện Nó mới là những mẩu chuyện Nếu nó phát triển đến mức hoàn chỉnh thì tuỳ theo nội dung nó
có thể trở thành cổ tích hay thần thoại Còn xét về mặt nghệ thuật và ý nghĩa thì hoàn toàn giống cổ tích hay thần thoại Hiện nay truyền thuyết Việt Nam tìm được còn rất ít ỏi, đượm khí vị cổ tích nhiều hơn thần thoại Vì vậy khi sưu tầm thì xếp lẫn vào cổ tích và coi như truyện cổ tích” [4, tr 20]
Phó giáo sư Đỗ Bình Trị trong cuốn Văn học dân gian (NXB ĐHSP Hà Nội I, 1978), có đưa truyền thuyết vào cơ cấu các thể loại văn học dân gian
nhưng lại đặt bên cạnh thần thoại Tuy cách sắp xếp truyền thuyết trong hệ thống các thể loại văn học dân gian có khác nhau nhưng xác định bản chất của thể loại truyền thuyết thì có sự tương đồng giữa ý kiến bản chất của nó Các
Trang 10nhà khoa học khi nghiên cứu truyền thuyết bao giờ cũng đặt nó trong mối quan hệ với thần thoại và cổ tích
Ông Tầm Vu khi nghiên cứu: “Tư tưởng chủ yếu của người Việt thời cổ
qua những truyện đứng đầu trong thần thoại và truyền thuyết” trong tạp chí
văn học nghệ thuật, số ra ngày 25/3/1995) có nhận xét: “ Xã hội công xã nguyên thuỷ tan rã thì truyền thuyết trở nên thịnh so với thần thoại Truyền thuyết nặng về đề tài về lịch sử hơn là thần thoại vì một phần cuộc đấu tranh trong xã hội gay gắt thu hút sự chú ý của con người Phần khác vì dân số, công cụ và tri thức đã phát triển khá đến mức đối với thiên nhiên con người ít nhiều được bảo vệ Bây giờ người anh hùng hay nhân dân anh hùng được thuần hoá trong truyền thuyết Truyện thường thường không giản dị như trong thần thoại mà ngày càng phức tạp hơn Mặt khác, vì nhìn chung trí tưởng tượng trong truyền thuyết cũng không bay bổng bằng trong thần thoại Càng
về sau “thần” trong truyền thuyết càng không được phóng khoáng vô tư như
“thần” trong thần thoại có lẽ và ảnh hưởng ý thức hệ giai cấp bóc lột”
Cũng trong số báo này, ông Phan Trần có bài: “Tinh thần dân tộc qua
các truyền thuyết lịch sử”, ở đó tác giả đã nêu định nghĩa về truyền thuyết:
“truyền thuyết là những truyện truyền tụng trong dân gian về những sự việc
và nhân vật có liên quan đến lịch sử Những nhân vật và sự việc đó thường được phản ánh qua trí tưởng tượng của con người, qua sự hư cấu của nhân dân”
Phó Giáo sư Đỗ Bình Trị khi chấp bút phần truyền thuyết trong Giáo
trình văn học dân gian cũng nêu ra định nghĩa: “Truyền thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kỳ diệu – là lịch sử hoang đường – hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử” [25; tr.59]
Tác giả Kiều Thu Hoạch trong cuốn Tổng tập văn học dân gian người
Việt (NXB Khoa học xã hội, 2004) cũng viết về truyền thuyết: “Truyền thuyết
là một thể tài truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian Nội
Trang 11dung cốt truyện kể lại truyện các nhân vật lịch sử hoặc giải thích các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân Biện pháp nghệ thuật phổ biến
là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo thần kỳ như cổ tích và thần thoại Nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận các nhân mà phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia dân tộc rộng lớn Nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” [16; tr 40]
Giáo sư Hoàng Tiến Tựu trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam ( NXB Giáo Dục, 1990) đã khẳng định: “Trong nền văn học dân gian Việt,
truyền thuyết xuất hiện, tồn tại và diễn biến trước hết như là sự thay thế, sự hoá thân của thể loại sử thi hay anh hùng ca cổ đại Nó là các mắt xích nối liền truyền thuyết Việt với các loại truyện dân gian khác đảm bảo tính liên tục hoàn chỉnh và hợp lý trong cơ cấu thể loại cũng như trong tiến trình lịch sử của loại hình tự sự dân gian” [52; tr 45] Ý kiến này nhấn mạnh vai trò của
truyền thuyết trong nền văn học dân gian
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng tuy không nhằm định nghĩa truyền thuyết nhưng đã giúp ích rất nhiều cho các ngành nghiên cứu văn học dân gian xác định bản chất thể loại của nó Nhận xét của cố Thủ tướng về tính lịch
sử và tính nghệ thuật, ý nghĩa tư tưởng và giá trị thẩm mỹ của truyền thuyết
được khái quát đầy đủ: “Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi
là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hoá, gửi gắm vào
đó tâm tình thiết tha của mình với thơ và mộng, chấp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên tác phẩm văn hoá mà đời đời con cháu
ưa thích” ( Nhân ngày giỗ tổ Vua Hùng – Báo nhân dân ngày 29/4/1969)
Điểm qua các ý kiến của các nhà nghiên cứu về văn học dân gian, người ta có thể thống nhất với nhau định nghĩa về truyền thuyết như sau:
Trang 12“Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những
sự kiện, nhân vật lịch sử hay di tích cảnh vật địa phương thông qua hư cấu nghệ thuật thần kỳ”
Trong nghiên cứu văn học dân gian, diễn ra nhiều cuộc tranh luận về nội hàm, ngoại diên của khái niệm và đặc trưng của truyền thuyết Nhưng tất
cả đều đi đến ý kiến chung là thừa nhận truyền thuyết chứa đựng cả yếu tố lịch sử và yếu tố tưởng tượng kỳ ảo
2.2 Những nghiên cứu về truyền thuyết Lê Lợi ở Thanh Hóa
Truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa là một bộ phận quan trọng trong
hệ thống truyền thuyết Việt, thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu văn học dân gian Đã có nhiều công trình nghiên cứu thành công ở bộ phận truyền thuyết này
Công trình đầu tiên được nói đến là: Lê Lợi con người và sự nghiệp,
của Giáo sư Vũ Ngọc Khánh, NXB Thanh Hóa (1985) Tác giả đã nghiên cứu tương đối đầy đủ về anh hùng Lê Lợi, không chỉ là anh hùng lịch sử mà còn là hình tượng trong văn học dân gian Ở trọng trách là người đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử, tác giả khẳng định: “Lê Lợi là con người lịch sử đợi chờ, là nhà lãnh tụ khởi nghĩa xứng đáng, vị tổng chỉ huy quân sự lỗi lạc; người lãnh đạo nhà nước xuất sắc Trong lĩnh vực văn học, đặc biệt là văn học dân gian, tác giả khẳng định vị trí của Lê Lợi trong lòng dân: Lê Lợi đi vào truyền thuyết dân gian với một hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn học dân gian nước ta Chỉ có Lê Lợi mới là con người xuất hiện giữa hai huyền thoại Một huyền thoại mở đầu cho cuộc khởi nghĩa và một huyền thoại cuối để kết thúc bản anh hùng ca oanh liệt, mở ra kỉ nguyên mới cho tổ quốc giang sơn Câu chuyện được gươm thần và trả lại gươm thần là một tác phẩm dân gian cực đẹp, hiếm có trong truyền thuyết dân tộc” [23, tr 20]
Trang 13Cuốn Truyền thuyết và cổ tích Lam Sơn, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm
1975 đã tuyển tập tương đối đầy đủ các mẩu chuyện dân gian về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Phần lớn các câu chuyện có dung lượng ngắn gọn Bao gồm các câu chuyện, các sự tích về địa phương, làng bản…Tất cả đều tập trung nói về Lê Lợi Có những câu chuyện Lê Lợi xuất hiện trực tiếp như:
Truyện gươm thần, Hội thề Lũng Nhai…lại có những truyện Lê Lợi chỉ hiện
lên qua suy nghĩ của nghĩa sĩ, nhân dân: Nguyễn Trãi đi tìm minh chủ; Bài
văn đuổi hổ; Người anh hùng đánh két…Dù trực tiếp hay gián tiếp, thì người
anh hùng Lê Lợi hiện lên qua những tác phẩm là người giàu lòng yêu nước, thương dân, có ý chí đánh giặc và tài năng quân sự bậc thầy Những câu chuyện về Lê Lợi mang đặc trưng của truyền thuyết đó là yếu tố lịch sử đậm nét, song nhân dân đã thêu dệt nên những chi tiết tưởng tượng kì ảo tạo nên người anh hùng sống mãi trong lòng dân Các tác giả đã ghi nhận các tư liệu dân gian chung quanh khởi nghĩa Lam Sơn trong đó khẳng định: Truyền thuyết là kho tàng nghệ thuật ca ngợi truyền thống anh hùng Chung quanh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã được đề cao trong sách sử, nhân dân bao đời nay còn sáng tạo ra cả một kho tàng nghệ thuật ca ngợi truyền thống anh hùng Sự sáng tạo ấy dù ta chưa lý giải được một cách đầy đủ, chính xác song vẫn lộ rõ tính cách dân gian của nó
Giáo sư Hoàng Tiến Tựu trong cuốn Sáng tác dân gian về Lê Lợi và
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, NXB Sở văn hóa thông tin Thanh Hóa, năm 1985
cũng một lần nữa khẳng định vị trí đặc biệt của truyền thuyết dân gian trên các phương diện số lượng, chất lượng, nội dung: Sáng tác dân gian về Lê Lợi
và khởi nghĩa Lam Sơn đã hình thành, phát triển và tiếp tục được lưu truyền,
bổ sung thêm qua một thời gian dài gần sáu thế kỷ, với một khối lượng tác phẩm khá lớn, gồm hàng trăm đơn vị tác phẩm và dị bản khác nhau, thuộc hầu hết các thể loại cơ bản của sáng tác dân gian truyền thống Đồng thời ông
Trang 14cũng chỉ ra đặc điểm chung của truyền thuyết về Lê Lợi trong hệ thống truyền thuyết Việt: Tính chất kết hợp vừa là văn nghệ vừa là lịch sử hiện thực gắn chặt với lý tưởng, cái có song song hòa lẫn với cái không – một đặc điểm lớn của sáng tác dân gian về đề tài lịch sử đã được thể hiện hết sức nổi bật và độc đáo ở bộ phận sáng tác dân gian này
Trong cuốn: Tên làng xã Thanh Hóa, NXB Thanh Hóa, 2000 đã thống
kê tương đối đầy đủ những làng bản gắn liền với các sự tích dân gian, trong
đó phải kể đến hơn 50 làng xã có gắn với Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Những làng, bản, thôn xóm là nơi Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đi qua được nhân dân cưu mang, chở che, sau đó để ghi nhớ công ơn của nhân dân địa phương Lê Lợi đã đặt tên cho các làng Như làng Quỳ Chử, làng Tiên Nông, Chòm Thiu, Chòm Đỏ…Cũng có những giai thoại về tên làng xã do nhân dân địa phương tự đặt để tưởng nhớ đến Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn
Sự tích về làng xã đã thể hiện vị trí vai trò của Lê Lợi trong lòng muôn dân, đồng thời cũng nói vai trò của nhân dân trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Họ
là lực lượng hùng hậu nhất tạo nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Mối quan
hệ của Lê Lợi và nhân dân gắn bó mật thiết với nhau Đó cũng là nội dung
phản ánh trong truyền thuyết dân gian về Lê Lợi: Lê Lợi đánh giặc chỉ có dân
Như vậy, khi nghiên cứu về truyền thuyết về Lê Lợi, các tác giả đã đặt
nó vào trong thể loại truyền thuyết, đồng thời chỉ ra đặc điểm chung và những sắc thái riêng của bộ phận truyền thuyết về Lê Lợi Tuy nhiên phần lớn các công trình nghiên cứu đều đi sâu vào đặc điểm nội dung của truyền thuyết, về đặc trưng thi pháp hoặc các motif về truyền thuyết Lê Lợi ít được nhắc đến, nếu có nói cũng chưa được sâu sắc Vì vậy vấn đề nghiên cứu truyền thuyết
về Lê Lợi ở Thanh Hóa vẫn là đề tài được các nhà nghiên cứu văn học dân gian quan tâm
Trang 152.3 Nghiên cứu lễ hội về Lê Lợi ở Thanh Hóa
Lê Lợi đã đi vào lễ hội dân gian như biểu tượng của một thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc Nhiều lễ hội, tín ngưỡng diễn ra trên địa bàn tỉnh Thanh thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân với người anh hùng Lê Lợi
và nghĩa quân Lam Sơn Hoạt động quy tụ đậm đặc nhất là lễ hội Lam Kinh diễn ra vào tháng 8 âm lịch hàng năm Nghiên cứu về lễ hội Lam Kinh cũng
có nhiều các công trình thể hiện rất kĩ lưỡng Tuy nhiên phần lớn các tài liệu chỉ đi sâu vào tìm hiểu lễ hội Lam Kinh, các lễ hội và tín ngưỡng, tục lệ thờ cúng Lê Lợi trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa chưa được tìm hiểu một cách có hệ thống
Trong cuốn Lịch sử triều hiến chương loại chí, tác giả Phan Huy Chú
đã khảo cứu rất cơ bản các nghi lễ trong lễ hội Lam Kinh Theo tác giả, lễ hội Lam Kinh chỉ gọi là “ lễ” chứ không phải là “ lễ hội” Nhưng trên thực tế trong thời gian diễn ra “ lễ” ở Lam Kinh ấy, người dân Thanh Hóa đã bị cuốn vào hội hè suốt hàng tháng trời Điều đó cho thấy vai trò của Lễ hội trong đời sống tinh thần của người dân địa phương Nếu phần lễ diễn ra trang nghiêm
và chỉ có những người có vị trí trong làng xã mới được tham gia, thì phần hội luôn là nơi vui chơi gải trí cho tất cả mọi tầng lớp nhân dân tham dự Lễ hội Lam Kinh không chỉ tái hiện lại lịch sử hào hùng của khởi nghĩa Lam Sơn cũng như sự phát triển hưng thịnh của vương triều Hậu Lê mà đây còn là điểm đến của hàng nghìn du khách từ khắp nơi trong và ngoài tỉnh thể hiện tình cảm với người anh hùng Lê Lợi Đồng thời cũng là điểm văn hóa du lịch hấp dẫn du khách thập phương
Tác giả Hoàng Anh Nhân, trong cuốn Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ
Thanh, NXB Văn hóa dân tộc, năm 2006 cũng đã chỉ ra đặc điểm riêng của lễ
hội Lam Kinh so với tất cả các lễ hội dân gian khác trên vùng đất Thanh Hóa
Lễ hội Lam Kinh tập trung tất cả các nghi lễ, và trò chơi từ các lễ hội trên địa bàn tỉnh Thanh nói về Lê Lợi Cho thấy đây là lễ hội có quy mô lớn trong và ngoài tỉnh Cũng trong cuốn sách này, tác giả đề cập đến lễ hội làng Xuân
Trang 16Phả Đây là lễ hội tưởng nhớ về Lê Lợi lớn thứ hai sau lễ hội Lam Kinh Phần
lễ diễn ra ngắn gọn hơn lễ hội Lam Kinh, nhưng phần hội thật đặc sắc với những trò diễn Xuân Phả Những trò diễn này đã một thời được đưa vào cung đình, và trong lễ hội Lam Kinh cũng có phần lớn các trò diễn ấy Tác giả cũng
đề cập tới các lễ hội như: Lễ hội Đông Cao (Huyện Nông Cống); Lễ hội Căm Mương (Bá Thước); Lễ hội Đền Thi ( Như Thanh) Tuy nhiên chỉ mang tính chất liệt kê, chưa chỉ ra rõ được những đặc điểm của các lễ hội về Lê Lợi trên quy mô toàn tỉnh
Điều chúng tôi thực sự tâm đắc trong cuốn sách: Truyền thống các làng
văn hóa Thọ Xuân của tác giả Hoàng Tùng, NXB Thanh Hóa, 2000 là tác giả
đã khảo sát trên phạm vi huyện Thọ Xuân – tỉnh Thanh Hóa những lễ hội, tín ngưỡng dân gian trong đó chủ yếu nói về Lê Lợi Bởi đây chính là vùng đất
Lê Lợi sinh ra lớn lên, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Khi tìm hiểu về các lễ tục, lễ hội ấy tác giả đã chỉ ra được mối quan hệ giữa các truyền thuyết dân gian về Lê Lợi và lễ hội Truyền thuyết nảy sinh lễ hội và chính lễ hội là môi trường sống lâu bền của truyền thuyết Qua Lễ hội, nhân vật lịch sử sống mãi trong tâm thức của nhân dân Cũng qua đây, ngưỡi viết chỉ ra được giá trị của lễ hội trong đời sống văn hóa, lịch sử, du lịch tâm linh và có những đề xuất để bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp của lễ hội về Lê Lợi
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về truyền thuyết và lễ hội về
Lê Lợi ở Thanh Hóa Trong phạm vi luận văn, các công trình nói trên có giá
trị về mặt tư liệu giúp chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu đề tài Truyền thuyết và lễ hội về Lê Lợi ở Thanh Hóa
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hình tượng người anh hùng Lê Lợi từ lâu đã đi vào truyền thuyết và sống mãi với thời gian Đã có hàng trăm truyền thuyết được sưu tầm thành văn bản về Lê Lợi cũng như cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo, bên cạnh đó
Trang 17vẫn còn những dị bản, thần tích, gia phả, truyện kể…trong nhân dân chưa lưu hành thành văn bản Vì vậy, trong phạm vi của đề tài, luận văn đi vào khảo sát
hệ thống truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa trên cơ sở các văn bản văn học dân gian đã được xuất bản và những câu chuyện được gìn giữ, lưu truyền trong nhân dân hiện nay; đồng thời khảo sát lễ hội liên quan đến bộ phận truyền thuyết này
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất: Các công trình nghiên cứu sưu tầm tư liệu truyền thuyết dân
gian về Lê Lợi đã xuất bản: Truyền thuyết cổ tích Lam Sơn, NXBThanh Hoá,1975 Tên làng xã Thanh Hoá, NXB Thanh Hoá, 2000 Sáng tác dân
gian về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, NXB Sở văn hóa thông tin
Thanh Hóa, 1983
Thứ hai: Điều tra, khảo sát địa bàn nghiên cứu để thu thập những tư
liệu liên quan đến câu chuyện truyền thuyết được lưu giữ trong dân gian hiện nay cũng như khảo sát lễ hội – không gian lưu truyền của truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết ngành Văn học dân gian vào tìm hiểu đề tài và thực tiễn nhằm hệ thống hóa truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa
Nghiên cứu, miêu tả chi tiết các lễ hội liên quan đến truyền thuyết về
Lê Lợi tỉnh Thanh Hóa Từ đó chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa truyền thuyết và lễ hội Đó là những truyền thống, tín ngưỡng tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện đạo lý:
“ Uống nước nhớ nguồn”
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê: Khảo sát, tập hợp và thống kê các tư liệu
liên quan đến truyền thuyết về Lê Lợi
Trang 185.2 Phương pháp quan sát gắn với hoạt động điền dã:
Chúng tôi tiến hành điền dã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, tham quan khu di tích lịch sử Lam Kinh, huyện Thọ Xuân Nơi đây hội tụ đậm đặc những truyền thống văn hóa dân gian liên quan đến Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ở Thanh Hóa Gặp gỡ, trao đổi với những cán bộ văn hóa, cán
bộ quản lí di tích, người dân địa phương (đặc biệt là những người cao tuổi)
5.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Chúng tôi sử dụng phương pháp này trước hết là để tiếp cận đối tượng khoa học một cách cụ thể, chi tiết, sau đó là đảm bảo vấn đề được đánh giá một cách toàn vẹn khái quát
5.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Do văn học dân gian nói chung, truyền thuyết nói riêng có đặc trưng là tính nguyên hợp, tính chất sinh hoạt thực hành nên khi tiến hành đề tài này chúng tôi vận dụng những tri thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như lịch
sử, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng…để lý giải đến một số vấn đề có liên quan đến đề tài
6 Đóng góp của khóa luận
6.1 Về mặt lý luận
Góp phần khẳng định vai trò của truyền thuyết về Lê Lợi trong hệ thống truyền thuyết Việt Đồng thời làm sáng rõ vẻ đẹp người anh hùng Lê Lợi trong tâm thức người dân địa phương thông qua sinh hoạt lễ hội
Trang 19Lợi Góp phần nhận thức sâu sắc hơn giá trị văn hóa, văn học dân gian trong
đó có văn học dân gian của địa phương Thanh Hóa
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chương với nội dung chính như sau:
Chương 1: Khái quát về vùng đất Thanh Hóa và bối cảnh ra đời của truyền thuyết Lê Lợi
Chương 2: Truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa Chương 3: Lễ hội gắn với truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa
Trang 20CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT THANH HÓA VÀ BỐI CẢNH RA ĐỜI
CỦA TRUYỀN THUYẾT LÊ LỢI 1.1 Khái quát về vùng đất Thanh Hóa
1.1.1 Sơ lược về lịch sử vùng đất Thanh Hóa
Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 150 km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km
về hướng Bắc Thanh Hóa bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh, 2 thị xã và 24 huyện, với diện tích 11.133,4 km2 và số dân 3,405 triệu người với 7 dân tộc
Việt Nam, đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3 về dân số trong số các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, cũng là một trong những địa điểm sinh sống đầu tiên của người Việt
Cách đây khoảng 6000 năm đã có người sinh sống tại Thanh Hóa Các
di chỉ khảo cổ cho thấy nền văn hóa xuất hiện đầu tiên tại đây là văn hóa Đa Bút Sang đầu thời đại kim khí, thuộc thời đại đồ đồng, qua các bước phát triển với các giai đoạn trước văn hóa Đông Sơn, Thanh Hóa đó trải qua một tiến trình phát triển với các giai đoạn văn hoá: Cồn Chân Tiên, Đông Khối - Quỳ Chữ tương đương với các văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun ở lưu vực sông Hồng Và sau đó là nền văn minh Văn Lang cách đây hơn 2.000 năm, văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hóa đó toả sáng rực rỡ trong đất nước của thời đại các Vua Hùng
Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam trên nhiều phương diện Về hành chính, Thanh Hóa là tỉnh cực bắc Trung Bộ, tiếp giáp với Tây Bắc Bộ và đồng bằng Bắc Bộ Về địa chất, miền núi Thanh Hóa là sự nối dài của Tây Bắc Bộ trong khi đồng bằng Thanh Hóa là đồng bằng lớn nhất Trung Bộ, ngoài ra một phần nhỏ (phía bắc huyện
Trang 21Nga Sơn) thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng Về khí hậu, Thanh Hóa vừa
có kiểu khí hậu của miền Bắc lại vừa mang những hình thái khí hậu của miền Trung Về ngôn ngữ, phần lớn người dân nói phương ngữ Thanh Hóa với vốn
từ vựng khá giống từ vựng của phương ngữ Nghệ Tĩnh song âm vực lại khá gần với phương ngữ Bắc Bộ Đó là cái nôi hình thành lên nền văn hóa địa phương phong phú, đa dạng
Nhân dân Thanh Hóa tự hào là quê hương có truyền thống văn hiến và cách mạng, mảnh đất địa linh nhân kiệt với nhiều anh hùng làm rạng rỡ quê hương Trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do người anh hùng áo vải Lê Lợi lãnh đạo đã đánh tan quân Minh xâm lược lập nên triều đại Hậu Lê sáng rạng non sông Từ đó Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đi vào truyền thuyết dân gian, sống mãi trong tiềm thức người dân tỉnh Thanh như một biểu tượng của tinh thần yêu nước và đấu tranh chống giặc ngoại xâm Đi dọc các địa phương trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là hệ thống di tích lịch sử - văn hóa – danh thắng Giá trị đặc trưng của văn hóa phi vật thể xứ Thanh được thể hiện qua các lễ hội truyền thống, ở phong tục tập quán của lối sống cộng đồng và trong các hoạt động văn hóa dân gian Mỗi địa phương đều có phong tục tập quán riêng, đều có lễ hội vinh danh anh hùng lịch sử và địa danh lịch sử trong số đó có lễ hội tưởng nhớ về người anh hùng Lê Lợi và các nghĩa sĩ dưới thời Lam Sơn khởi nghĩa
1.1.2 Văn hóa dân gian
Trên đất nước ta, mỗi địa phương là một kho tư liệu văn học dân gian
Nó được tích tụ từ lâu đời, phát triển trong lịch sử và dần dần hòa chung vào văn học dân gian cả nước, làm thành kho tàng văn học dân gian Việt Nam phong phú, nhiều màu sắc, nhiều dáng vẻ cả về nội dung trí tuệ tình cảm cũng như về hình thức thể loại Nó gắn bó chặt chẽ với hoàn cảnh sống, sản xuất và chiến đấu cụ thể của địa phương, gắn bó chặt chẽ với những người bám trụ
Trang 22trên mảnh đất quê hương Do vậy văn học dân gian của mỗi địa phương nổi lên sắc thái địa phương, có thể phân biệt trong những chừng mực nhất định, cái riêng của văn học dân gian từng địa phương
Thanh Hóa có một lịch sử lâu đời, có truyền thống xây dựng làng bản quê hương, chiến đấu bảo vệ cuộc sống, phát triển văn hóa, văn nghệ địa phương trong mối quan hệ cộng đồng các dân tộc Kinh, Mường, Thái, Mèo, Dao…Với một lịch sử thời núi Đọ, Đông Sơn cho đến ngày nay Văn nghệ dân gian Thanh Hóa cũng có một quá trình phát triển từ xa xưa, phong phú và
đa dạng Xứ Thanh nổi tiếng với hàng loạt truyện Ông Khổng Lồ gánh núi,
đào sông, với sử thi Đẻ đất, đẻ nước, với hàng loạt truyện dũng sĩ đánh ác điểu, diệt quái xà, với truyền thuyết chung quanh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Văn học dân gian Thanh Hóa là một bộ phận của văn học dân gian Việt Nam là thành quả của các đồng bào dân tộc khác nhau sinh sống trên địa bàn Thanh Hóa ( Việt, Mường, Thái, Thổ, Dao, Khơ mú…) Trong trường kỳ lịch
sử, các dân tộc trên đất Thanh đã liên tục sáng tác và hoàn thành tác phẩm văn học dân gian của mình, chung đúc thành những nét riêng của Thanh Hóa Việc sưu tầm giới thiệu văn học dân gian Thanh Hóa đến nay đã phần nào cho chúng ta thấy được diện mạo văn học dân gian Thanh Hóa phong phú và toát lên những vẻ đẹp dân gian đóng góp vào kho tàng văn học dân gian cả nước Văn học dân gian Thanh Hóa khá hoàn chỉnh, như là bức tranh thu nhỏ của văn học dân gian cả nước Một điểm khá đặc biệt là ở một số thể loại, văn học dân gian Thanh Hóa được đánh giá cao, được xếp ở vị trí hàng đầu và cũng có thể coi là độc nhất vô nhị Sau đây chúng tôi điểm đến vốn văn học dân gian
mà Thanh Hóa có được
Về thần thoại: Nổi bật nhất là thần thoại về các ông khổng lồ Truyền thuyết: Đáng chú ý là truyền thuyết chống xâm lăng như truyền thuyết Bà
Triệu, truyền thuyết Lê Hoàn, truyền thuyết Cần Vương…song hoàn chỉnh và
Trang 23tiêu biểu hơn cả là truyền thuyết Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn Cổ tích: Rất
phong phú, ở miền núi, loại truyện cổ tích loại vật rất phát triển, ở miền xuôi
là loại cổ tích sinh hoạt, cổ tích phong tục gắn với mỗi miền quê Truyện cười: Ở miền núi nổi lên truyện Quậy, còn miền xuôi nổi lên truyện Trạng
Quỳnh Sử Thi: Thanh Hóa còn giữ được trọn vẹn sử thi Đẻ đất đẻ nước Truyện thơ: Các truyện thơ người Thái như U thềm Xì Thuần, Khăm Panh,
các truyện thơ người Mường như Hùy Nga Hai Mối, Nàng Ờm và chàng Bồng
Hương, Út Lót Hồ Liêu Vè: Thể loại truyện vè ở Thanh Hóa xuất hiện khá
sớm: Vè ông Ninh, vè Cai Mao…Tục ngữ ca dao: Tục ngữ ca dao Thanh
Hóa hòa chung vào kho tàng tục ngữ ca dao chung của dân tộc Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể phân biệt được sắc thái Thanh Hóa trong các câu tục ngữ
ca dao có liên quan đến Thanh Hóa, đặc biệt là phương ngôn Thanh Hóa chiếm một tỷ lệ lớn, là những câu nói về: Địa danh, con người, sản vật, cảnh trí thiên nhiên, phong tục tập quán…
Vốn văn học dân gian Thanh Hóa sưu tầm được phần lớn đã xuất bản,
đó là công sức và tâm huyết của các nhà hoạt động sưu tầm trong và ngoài tỉnh Có nhiều công trình được giới nghiên cứu hết sức chú ý, vì đã giữ được những viên ngọc quý không những ở Thanh Hóa mà còn ở toàn quốc, có tầm
cỡ quốc tế như sử thi Đẻ đất đẻ nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến
hành nghiên cứu văn học dân gian Thanh Hóa trên nhiều phương diện Có thể nói, những chuyên đề riêng, những công trình chuyên khảo nghiên cứu văn học dân gian Thanh Hóa đang còn khiêm tốn Nhưng những công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian Thanh Hóa trong đó phần văn học được xem như là một thành tố của công trình nghiên cứu khá phong phú Khi sưu tầm giới thiệu vốn văn nghệ dân gian, các nhà sưu tầm đã tiến hành nghiên cứu để chỉnh lý tác phẩm dân gian nhằm giới thiệu thành sách Cũng cần ghi nhận, từ trước tới nay, việc nghiên cứu văn nghệ dân gian, văn học dân gian Thanh
Trang 24Hóa được tập trung ở các hội thảo khoa học từ địa phương đến trung ương
Có thể điểm các cuộc hội thảo đã tiến hành trong đó văn học dân gian đóng góp một phần nội dung quan trọng Đáng chú ý là các hội thảo tập trung vào
bộ phận truyền thuyết về Lê Lợi Hội thảo về truyền thuyết về Lê Lợi đã làm nổi bật lên hình tượng Lê Lợi folklore Trong khoảng 16, 17 năm đầu thế kỷ
XV khi về mặt xã hội nước ta bị nhà Minh đô hộ, về mặt văn học chính thống
Lý – Trần cơ hồ mất dần, mờ hẳn thì ở vùng Thanh Hóa nổi lên, truyền đi theo kiểu bất hợp pháp, những câu chuyện dân gian, những bài ca dao sấm truyền về Lê Lợi – một vị cứu tinh của nước Đại Việt Từ đó cùng với phong trào giải phóng dân tộc Lam Sơn, trong vòng chưa đầy 30 năm ( khoảng từ năm 1414 đến 1442) là một phong trào văn học dân gian yêu nước – giải phóng dân tộc – xây dựng đất nước mạnh mẽ Phong trào này bao gồm cả sáng tác của người Việt, người Mường, người Thái Là ca dao, truyện cổ, diễn xướng Ban đầu nảy mầm ở Thanh Hóa sau đó lan rộng ra khắp miền đất nước từ Nghệ An cho đến Lạng Sơn Phong trào này bắt đầu khi Lê Lợi phất
cờ khởi nghĩa đến khi Lê Nhân Tông lên ngôi, bắt tay vào xây dựng một vương triều phong kiến khác với các vương triều Lý – Trần trước đó Đó thật
sự là phong trào văn học nhân dân, yêu nước, phục vụ đất nước kịp thời, tự giác, sôi động Trong bối cảnh lực lượng lãnh đạo nhà Trần từ bỏ tất cả, lực lượng lãnh đạo của Lê Lợi và tầng lớp của ông còn chưa đủ lực lượng để tạo dựng về mặt văn học nên nhân dân nắm lấy văn học như một ngọn cờ, một kho vũ khí của dân tộc ta, đất nước ta Chỉ khi văn học viết chính thống của
“Văn học Lam Sơn” trở thành nền văn học chủ đạo, phong trào văn học dân
gian này mới trở về hình hài, dòng chảy bình thường của nó – chảy tự nhiên, giản dị trong đời sống tự nhiên, giản dị của người dân nước Việt, lặng lẽ tích
tụ dần từ thời này sang thời khác
Trang 25Nhìn lại khái quát tình hình sưu tầm và giới thiệu, nghiên cứu về văn học dân gian Thanh Hóa, chúng ta nhận thấy diện mạo văn nghệ dân gian Thanh Hóa khá đồ sộ về số lượng, phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách thể hiện, mang đậm sắc thái văn hóa xứ Thanh Với trữ lượng đó, việc sưu tầm giới thiệu và nghiên cứu văn học dân gian Thanh Hóa sẽ mở ra nhiều vấn đề còn tiếp tục phải nghiên cứu và hứa hẹn nhiều công trình xuất sắc cho địa phương và đất nước
Một vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, văn học dân gian là cái nôi cho bộ phận truyền thuyết Lê Lợi hình thành và phát triển, cũng như những lễ tục lễ hội dân gian của nhân dân địa phương được thể hiện phong phú, đa dạng
1.2 Đặc trƣng của thể loại truyền thuyết Việt
Truyền thuyết là một trong những loại truyện tiêu biểu của loại hình tự
sự dân gian Vấn đề nghiên cứu thể loại truyền thuyết ở nước ta đã đặt ra nhiều vấn đề, ý kiến khác nhau về thể loại này, nhưng đều khẳng định đặc
trưng cơ bản của truyền thuyết là: Chức năng làm sử và cảm hứng tôn vinh
ngợi ca thông qua yếu tố tưởng tượng kì ảo
1.2.1 Chức năng làm sử
Nếu hệ đề tài của thần thoại là toàn bộ thế giới vũ trụ, tức là những vấn
đề rộng lớn vĩ mô, thế giới nghệ thuật trong thần thoại là thế giới của các vị thần thì hệ đề tài của truyền thuyết là những sự kiện, những biến cố, những nhân vật lịch sử Thế giới nghệ thuật trong truyền thuyết là những gì thuộc về lịch sử Vì vậy truyền thuyết không chủ yếu hướng vào các hiện tượng trong thế giới tự nhiên như thần thoại, mà chủ yếu hướng vào những sự kiện, những biến cố lịch sử có ý nghĩa trọng đại vào những vạn vật lịch sử nổi lên trong những sự kiện, những biến cố ấy
Trang 26So với truyện cổ tích, truyền thuyết cũng khác rõ rệt về nhiều phương diện Cổ tích có thể nảy sinh từ rất sớm từ trong lòng của thể loại thần thoại nhưng chủ yếu phát trỉển trong xã hội có giai cấp Trong khi truyền thuyết hướng về đề tài lịch sử, nhân vật lịch sử, thì truyện cổ tích lại chủ yếu hướng
về cuộc sống bình thường và những con người mang tính chất riêng tư, diễn
ra thường xuyên phổ biến trong xã hội có giai cấp nhất là trong quan hệ gia đình thời phong kiến
Để phản ánh tính lịch sử trong xã hội, thì phương pháp và thủ pháp nghệ thuật đặc trưng của truyền thuyết là mang tính cụ thể, xác định Trong truyền thuyết những danh từ riêng chỉ tên người, tên đất, tên thời kỳ lịch sử cụ thể (Lạc Long Quân, Thánh Gióng, An Dương Vương, làng Phù Đổng, núi Sóc Sơn, thành Cổ Loa, thời Hùng Vương ) rất được coi trọng Vì chúng góp phần quan trọng vào việc dựng lại không khí lịch sử của truyện, gắn liền với chức năng cơ bản của thể loại
Truyền thuyết vừa là văn, vừa là sử phủ nhận mặt này, đề cao yếu tố kia đều không đúng Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hoá gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hoá mà đời đời con người ưa thích Truyền thuyết phản ánh và lý giải lịch sử bằng phương pháp riêng, dựa vào sự thực lịch sử kết hợp với sự lý tưởng hoá, hư
cấu tưởng tượng Cho nên ở đây vừa có các “lõi” của sự thực lịch sử, vừa có
“thơ và mộng” Hai khuynh hướng khái quát hoá và cụ thể hoá, kết hợp với
nhau chặt chẽ, tạo ra những nhân vật, những cốt truyện những tình tiết của truyền thuyết vừa mang tính chất khái quát hoá nghệ thuật, vừa mang tính chất lịch sử cụ thể Tính chất văn sử kết hợp này là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt truyền thuyết với các loại truyện dân gian khác
Trang 27Dù mang nhiều yếu tố hoang đường đến đâu thì truyền thuyết cũng vẫn
là lịch sử của con người chứ không phải là lai lịch của các thần như thần
thoại Dù giàu chất “thơ và mộng” đến mấy thì truyền thuyết cũng phải bám
chắc lấy những sự kiện và nhân vật lịch sử có thực của dân tộc và đất nước chứ không thể hư cấu một cách tự do và phiếm chỉ nhiều như truyện cổ tích cần trả về cho truyền thuyết những tác phẩm mang đặc trưng thể loại của nó,
đồng thời làm cho các thể loại thần thoại và cổ tích Việt giảm bớt phần “gánh
nặng” nằm ngoài chức năng chủ yếu của chúng
Truyền thuyết khác với thần thoại Nó nảy sinh, phát triển và tồn tại với
ý thức lịch sử và phương thức truyền miệng của nhân dân Vì vậy thần thoại gắn chặt với thời kỳ nguyên thuỷ, còn truyền thuyết phát triển song song với
cổ tích qua nhiều thời kỳ khác nhau Tuy nhiên ở từng thời kỳ lịch sử, truyền thuyết mang đặc điểm riêng về nội dung và nghệ thuật
Truyền thuyết Việt ra đời từ khi lịch sử dựng nước, bảo vệ đất nước được hình thành ( Văn Lang - Âu Lạc), từ đó những lớp truyền thuyết nối tiếp nhau ra đời, làm cho kho tàng truyền thuyết Việt ngày càng phong phú đa dạng, phản ánh được rất nhiều sự kiện lịch sử trọng đại và nhân vật lịch sử lỗi lạc của dân tộc
Sự kiện lịch sử: Truyền thuyết là thể loại tự sự dân gian kể về nhân
vật lịch sử và sự kiện lịch sử có thật, có tầm ảnh hưởng lớn lao đến lịch sử cả dân tộc, của cả nước Sự thật lịch sử không phải được ghi chép một cách đầy
đủ từng chi tiết như trong sử biên niên mà chỉ lựa chọn một vài sự kiện lớn Trong “ rừng” sự kiện ấy có một hệ quy chiếu chung đó là các sự kiện ấy đều
gắn bó mật thiết với các sự kiện trọng đại nhất Nhân vật trong truyền thuyết là những nhân vật có thật thường là những nhân vật lịch sử hoặc có
dính líu ít nhiều đến lịch sử, do lịch sử tạo nên Đó không phải là nhân vật hư cấu như trong truyện cổ tích, nhưng cũng không phải là bản sao của anh hùng
Trang 28lịch sử ngoài đời Cũng như nhân vật trong truyện cổ tích, nhân vật trong
truyền thuyết là nhân vật hành động Thông qua chuỗi hành động của nhân
vật, đã thể hiện thân thế, sự nghiệp, tính cách Nếu ở truyện cổ tích, hành động của nhân vật là sản phẩm của trí tưởng tượng của dân gian, thì hành động của nhân vật truyền thuyết luôn gắn liền với các sự kiện lịch sử
1.2.2 Cảm hứng tôn vinh, ngợi ca
Truyền thuyết ngoài chức năng “làm sử” còn là nơi gửi gắm những
“tâm tình thiết tha” của nhân dân qua nhiều thế hệ bằng trí tưởng tượng kỳ ảo
Sự lý tưởng hoá của nhân dân qua nhiều thế hệ đã gửi gắm vào đó “tâm tình
thiết tha” của mình bằng nhiều hình thức nghệ thuật, hư cấu, tưởng tượng
Truyền thuyết phản ánh và lý giải lịch sử kết hợp với sự lý tưởng hoá, hư cấu,
tưởng tượng Nên trong truyền thuyết thường có cái “lõi” của sự thực lịch
sử, vừa có cả “thơ và mộng”
Tác giả dân gian bằng trí tưởng tượng đã sử dụng những thủ pháp nghệ thuật khác nhau, tạo nên hình tượng nhân vật có thực trong lịch sử, song cũng mang đậm màu sắc huyền thoại Truyền thuyết còn là nơi mà nhân dân khắp mọi tầng lớp thể hiện lòng tin yêu, kính trọng của mình với nhân vật lịch sử,
sự kiện lịch sử Và chính nhân dân cũng là lực lượng không thể thiếu trong công cuộc thực hiện việc nước, việc nhà ủng hộ các nhân vật lịch sử hoàn thành sứ mệnh lịch sử Bởi vậy truyền thuyết mang tính nhân dân
Các biến cố lịch sử, một tô điểm, mọi thêm thắt, thêu dệt “chất tâm tình
thơ mộng” của nhân dân qua nhiều thế hệ đều liên quan đến các sự kiện và
nhân vật lịch sử Tất cả nhằm thể hiện thái độ tình cảm của nhân dân, ước mơ, khát vọng của cộng đồng Nhân vật trong truyền thuyết được xây dựng theo
mô típ như sau:
Các nhân vật ra đời luôn gắn với sự sinh nở thần kỳ Thánh Gióng ra
đời do sự thụ thai không bình thường của người mẹ – khi sinh ra lại không
Trang 29biết nói biết cười tự nhiên lớn nhanh như thổi Còn Lê Lợi khi sinh ra thì
con hổ đen trong rừng Như Áng bỗng dưng biến mất: “ Hồi bấy giờ, giặc
Minh xâm chiếm và đặt ách đô hộ ở nước ta Nhân dân khắp cả nước ai cũng căm ghét phường xâm lược Lúc này ở xứ Du Sơn, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa Tại làng Như Áng có ông Lê Lợi là một hào trưởng rất được nhân dân mến phục Vì ông có sức khỏe, có mưu lại giàu lòng từ thiện Người
ta lại nghiệm rằng ở xứ Du Sơn ấy, sau rừng cây quế có một con hổ đen rất thân với người Đến khi Lê Lợi sinh ra, vào giờ Tý, ngày mồng sáu, tháng tám, năm Ất Sửu thì từ đó không thấy hổ đen đâu nữa Ai cũng cho là hổ đã thác sinh Lê Lợi, vì Lê Lợi càng lớn, càng khỏe, ăn uống gấp ba lần người thường ” Tác giả dân gian xây dựng mô típ này nhằm tạo ra sức mạnh bí ẩn,
không giới hạn cho các nhân vật đang được lịch sử đợi chờ và sẽ đảm nhiệm
sứ mệnh lịch sử Cuộc đời các nhân vật luôn gắn với các chiến công phi
thường những sự việc liên quan đến cả cộng đồng Bởi khi sinh ra họ đã mang
phẩm chất của cộng đồng Do chỗ đại đa số con người đều là trần tục, chỉ có
một số rất ít đạt tới “ngưỡng” giá trị tiêu biểu Những con người này, sẽ là đại
diện tiêu biểu cho cộng đồng Tính chất đại diện này được thể hiện qua những chiến công của các nhân vật Thánh Gióng gắn với sự nghiệp đánh giặc Ân, Hai Bà Trưng gắn với quá trình chống giặc ngoại xâm phương Bắc – Tô Định Lê Lợi vị chủ tướng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã giấy binh tiến hành cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược Để các nhân vật lịch sử thực hiện
nhiệm vụ lịch sử của dân tộc, dân gian đã truyền cho họ sức mạnh của cả tập
thể Mà trước tiên là có sức khoẻ phi thường Thánh Gióng đã ăn ba nong
cơm, ba nong cà, lớn nhanh như thổi để đi đánh giặc Ân Còn Lê Lợi trong truyền thuyết Lam Sơn là một thanh niên khoẻ mạnh có tư thế đĩnh đạc gây
được thiện cảm với nhiều người: “Một người tinh anh mạnh mẽ, mắt sáng,
miệng rộng, mũi cao, mặt có nốt ruồi, tiếng nói như chuông, đi như rồng,
Trang 30bước như hổ, kẻ thực giả đều biết là người phi thường Tuy ở chốn quê nhà lam lũ mà ông đọc sách, luyện võ rất đều, giỏi cách cầm quân đánh giặc”
Trong quá trình thực hiện chiến công, các nhân vật luôn có sự phù trợ của cộng đồng và các lực lượng thần linh Về với Lê Lợi, với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, có tới hàng trăm vạn người vô danh, lớp này qua lớp khác, dồn công, dồn sức đem tiền của, trí óc, mọi sức mạnh và phương tiện để đẩy mạnh kháng chiến thành công Lực lượng thần linh cũng đã được huy động về với khởi nghĩa Lam Sơn, góp công vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Những chiến công mà các vị anh hùng trong truyền thuyết đạt được lại gắn liền với
sự kiện lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương Bởi vậy, trong chiến công chứa đựng sức mạnh của cả tập thể cả cộng đồng Cuối cùng là sự hoá thân của các
nhân vật Những nhân vật trong truyền thuyết khi sinh ra đã gắn với sự sinh
nở thần kỳ, mang sức mạnh của cả cộng đồng Cuộc đời của họ gắn liền với
những chiến công phi thường – và đến khi kết thúc sự nghiệp của mình, dân gian tiếp tục khẳng định sự bất tử của họ bằng cách xây dựng mô típ hoá thân:
Thánh Gióng đánh xong giặc Ân liền bay về trời, Lê Lợi dẹp xong quân Minh, xây dựng đất nước hoà bình thịnh trị, rồi trả gươm về cho Long Vương Còn
bao nhân vật khác đã trở thành thần Dân gian tiếp tục khoác lên nhân vật màu sắc huyền thoại như gieo mầm sống, sự bất tử cho nhân vật Cũng chính ở đó tình cảm, ước vọng của dân gian gửi gắm vào các nhân vật thật sâu sắc
* Bộ phận truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa chiếm số lượng lớn tác phẩm và có vị trí trong kho tàng truyền thuyết Việt, chính vì vậy nó mang đầy
đủ đặc trưng của thể loại truyền thuyết Dưới đây là kết quả của quá trình khảo sát truyền thuyết về Lê Lợi thông qua văn bản văn học và tâm thức của nhân dân địa phương
Trang 311.3 Bối cảnh ra đời truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa
1.3.1 Anh hùng Lê Lợi
Trong thiên anh hùng ca chống giặc ngoại xâm của dân tộc, Lam Sơn – mảnh đất thiêng, quê hương của anh hùng Lê Lợi, được ghi vào lịch sử như một dấu son chói lọi Lam Sơn là căn cứ đầu tiên của một cuộc khởi nghĩa lớn chống lại ách đô hộ tàn bạo của phong kiến nhà Minh, giành thắng lợi, mở ra thời kỳ độc lập, thịnh trị cho đất nước nhà Hơn năm thế kỷ đã trôi quan, thời gian cùng với sự thăng trầm của lịch sử đã làm nhoà đi những vết tích vật chất
về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Những hào luỹ, đồn trại, kho lương, cách dàn binh bố trận, những cuộc chiến đấu vô cùng quả cảm của nghĩa quân Tất cả chỉ còn là tàn tích là dấu vết của một thời oanh liệt hào hùng Nhưng trong ký
ức của người dân Thanh Hoá vẫn còn nguyên vẹn hình ảnh của người anh hùng dân tộc Lê Lợi cũng với cuộc khởi nghĩa thần thánh do ông lãnh đạo Lê Lợi – Lam Sơn, tên người, tên đất đó như quyện chặt vào nhau và từ lâu đã đi vào lịch sử, đi vào lòng người như một biểu tượng anh hùng của người dân xứ Thanh và của cả dân tộc ta
Lê Lợi sinh ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385) tại thôn Như Áng Ông cụ cố của Lê Lợi là Lê Hối, người ở thôn này, thuộc hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hoá Ông lấy vợ tên là Nguyễn Thị Ngọc Duyên Câu chuyện ông lập cơ nghiệp ở đất này, được kể rằng ông vốn làm nghề dạy học, có hôm đi chơi đến Lam Sơn thấy bầy chim bay lượn quanh chân núi như dáng đông người tụ tập ông cho là đất tốt, liền đưa gia đình đến đó làm ruộng rẫy, bắt đầu dựng nền mở đất cho Lê
Ông nội của Lê Lợi là Lê Đinh, lấy vợ là Nguyễn Thị Quách nối nghiệp của cha, cẩn thận lo liệu việc gia đình Lê Khoáng là thân sinh của Lê Lợi Ông lấy vợ là Trịnh Thị Thương, sinh được ba con Người đầu là Lê Học, người thứ hai là Lê Trừ, Lê Lợi là con út trong gia đình Lê Học mất sớm chỉ
Trang 32còn lại hai anh em Lê Trừ không có gì xuất sắc lắm Lê Lợi là người nối nghiệp cha anh, điều hành công việc trong trại
Tuổi thiếu thời của Lê Lợi qua sử sách, qua Bình ngô đại cáo (Nguyễn
Trãi) cho thấy Lê Lợi là người có trình độ học vấn cao, đặc biệt ông hướng sự tích luỹ nâng cao trình độ của mình ở một số phương diện khác nhau: Chính
trị và quân sự Ông chuyên tâm đọc sách thao lược: “Và dốc sạch của cải đãi
khách khứa rất hậu, đón mời người trốn tránh, thu nạp người chống đối giặc Minh, ngấm ngầm nuôi giấu những kẻ sĩ mưu trí” [38, tr 40]
“ Đất Lam Sơn dấy nghĩa Chốn hoang dã nương mình”
(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Cho đến hiện nay, vẫn chưa có sách báo, tài liệu nào vẽ được một bức chân dung xác thực của Lê Lợi về mặt hình thức Nhiều công trình nghiên cứu chỉ miêu tả chung về chân dung Lê Lợi: Lê Lợi là người thiên tư tuấn tú khác thường, tinh thần và dáng người tinh anh mạnh mẽ, mắt sáng miệng rộng, mũi cao, mặt có nốt ruồi, tiếng nói như chuông, đi như rồng, bước như hổ, kẻ thực giả đều biết là người phi thường Đó chỉ là lời nói theo cách miêu tả theo công thức ngày xưa Trong ký ức, cảm tưởng của dân gian: Lê Lợi là một thanh niên khoẻ mạnh, có tư thế đĩnh đạc gây được thiện cảm với nhiều người.( Qua những giai thoại – dù là hư cấu) và những cách thức ứng xử rải rác trong quá trình hoạt động chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa và chỉ đạo cho cuộc khởi nghĩa cho đến lúc thành công ta có thể thấy: Lê Lợi là một con người yêu nước, có
lý tưởng mạnh mẽ, có ý chí bền bỉ, có lòng độ lượng rộng rãi và phong cách thâm trầm Ông tự mình tích luỹ vốn liếng, đặc biệt là về kiến thức quân sự, chính trị:
“Ngẫm thù lớn há đội trời chung Căm giặc nước thề không cùng sống
Trang 33Đau lòng nhức óc, trải hơn mười năm Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã lâu”
(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Lê Lợi còn có tài giao thiệp rộng rãi, thu nạp tân khách, chọn bạn tốt, tìm người hiền để quy tụ quanh mình Ông biết nhún nhường, giữ hoà khí với bọn quan chức nhà Minh Điều quan trọng mà có ý nghĩa nhất trong con người Lê Lợi vào tuổi thiếu thời là ông sớm có bản lĩnh, suy xét lẽ hưng vong
để chọn đường đi cho thích hợp
Giai thoại về Lê Lợi trong suốt thời gian khởi nghĩa cho ta thấy nhiều mẩu chuyện cảm động và đều là những mẩu chuyện chứng tỏ bản sắc con người Lê Lợi – rõ ràng ông rất gần gũi với nhân dân được nhân dân bù trừ che chở Những người gần gũi với Lê Lợi, hoặc là một bác nông dân, một bà mẹ già chất phác trong thôn xóm, một người dân vùng hẻo lánh nơi rừng núi xa xôi Họ không có chữ nghĩa, không có bạc tiền, nhưng lại có một tấm lòng yêu nước đậm đà sâu sắc Họ gặp Lê Lợi là yêu nước, là bảo vệ cho ông thoát khỏi tay giặc, là giúp cho Lê Lợi những mẹo nhỏ, cấp cho ông từng bát cháo hành, bát canh Lê Lợi là con người có tính dân tộc cao, là một lãnh tụ của nhân dân hơn tất cả bao nhiêu anh hùng trong lịch sử
Lê Lợi là một lãnh tụ, một ông chúa, nhưng ông cũng là một người dân bình thường Lê Lợi biết mò tép, xúc cá, cấy lúa, chặt củi như bao nhiêu người dân trong làng Ông thực sự là người con của nhân dân
Lê Lợi là một người có uy tín cao, có phương pháp giáo dục và trình độ thuyết phục nhất định, Lê Lợi mới có thể khiến cho cả người trong nhà, trong
họ, trong bản mường, trong doanh trại có một sự đồng tâm và đoàn kết Tình bạn của Lê Lợi với những người đồng hương, đồng quận, đồng chí cũng rất đáng quan tâm Lê Lợi đã tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia trưởng, gia
Trang 34nô, những người làm việc trong gia đình Lam Sơn được coi là một đại gia đình thân tộc, dưới sự đùm bọc che chở của ông chủ gia đình là Lê Lợi
Với những phẩm chất tốt đẹp, Lê Lợi trở thành người hào trưởng có uy tín và ảnh hưởng lớn ở vùng Lam Sơn Lê Lợi là người sáng lập và lãnh đạo cao nhất của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Là một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà
tổ chức xuất sắc Lê Lợi đã từ tay không mà dấy lên một cuộc chiến tranh yêu nước của toàn dân, đi từ không đến có, từ yếu đến mạnh và cuối cùng đã giành thắng lợi vẻ vang Thành công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là thành công của cuộc giải phóng dân tộc Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn biểu thị một bước trưởng thành của dân tộc: Một bước trưởng thành của nghệ thuật quân sự Việt Nam mà vị chủ tướng là Lê Lợi
Lê Lợi là người anh hùng của dân tộc Việt Nam ta vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, xuất hiện trong cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng chống ách đô hộ của triều đình phong kiến nhà Minh Công lao nổi bật của Lê Lợi là đã tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước dưới lá cờ đại nghĩa chống xâm lược Và tiến hành thành công cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược, lên ngôi Vua, củng cố, xây dựng quốc gia Đại Việt hưng thịnh
Lê Lợi xứng đáng là một trong những người anh hùng dân tộc vĩ đại của lịch sử Việt Nam Nhân dân ta mãi mãi ghi nhớ và ca ngợi những công lao, cống hiến to lớn của người anh hùng Lam Sơn
1.3.2 Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Tháng 2/ 1416 rừng núi Lam Sơn đã chứng kiến sự kiện lịch sử vô cùng trọng đại, đó là hội thề Lũng Nhai, gồm 18 người anh hùng nghĩa sĩ đầu tiên đã nguyện cùng nhau xả thân vì nước Trong hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn, có nhiều chiến sỹ là người quanh vùng Lam Sơn và các địa phương Thanh Hoá mà Lê Lợi trở thành trung tâm thu hút và đoàn kết tất cả các lực lượng chống ngoại xâm Nhiều nhà yêu nước ở các vùng khác nhau kéo về
Trang 35Lam Sơn tụ nghĩa Dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, lá cờ nghĩa Lam Sơn trở thành trung tâm quy tụ nhiều cuộc khởi nghĩa ở các địa phương chống xâm lược Phong trào phát triển ngày càng rộng rãi với sự tham gia hưởng ứng và
sự vùng dậy mạnh mẽ của nhân dân Khi nghĩa quân tiến vào Nghệ Tĩnh thì hàng ngũ được mở rộng nhanh chóng hàng ngày Khi nghĩa quân tiến ra Bắc, phong trào đấu tranh vũ tranh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Lê Lợi trở thành một cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc có quy mô cả nước theo hình thái một cuộc chiến tranh nhân dân phát triển đến mức một trình độ khá cao vào thời đại bấy giờ
Khởi nghĩa Lam Sơn kéo dài 10 năm (1418 - 1427), những tháng năm đầu tiên của cuộc chiến đấu, quân ta gặp rất nhiều khó khăn về lực lượng nên
đã vấp phải tổn thất nặng nề Khi cuộc khởi nghĩa mở rộng hoạt động khắp miền núi Thanh Hoá quân ta lại giành được những thắng lợi vang dội, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc Với những chiến thắng vang dội Tốt Động – Chúc Động (11 - 1426), chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang, đã buộc Vương Thông rút quân về nước, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở Lam Sơn đã thiết lập nên một đất nước Đại Việt hùng thịnh mà ở đó công lao của người anh hùng Lê Lợi vẫn còn rực sáng
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đồng bào các dân tộc ở Lam Sơn và rừng núi Thanh Hoá đã đóng góp thật lớn sức người sức của cho cuộc khởi nghĩa Họ là những chiến sĩ kiên cường đầu tiên nhóm lên ngọn lửa khởi nghĩa để sau này lan rộng khắp cả nước, giành thắng lợi cuối cùng cho dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XV
Sau khi đất nước được độc lập và thanh bình, Lê Lợi với cương vị người sáng lập ra Triều Lê, đã có nhiều cố gắng khắc phục những hậu quả nặng nề của thời Minh thuộc, cũng cố nền độc lập thống nhất và xây dựng lại đất nước về mọi mặt: Thời gian cầm quyền của Lê Lợi chỉ có năm năm,
Trang 36nhưng những việc làm của ông đã đặt cơ sở vững vàng, mở ra thời kỳ phục hưng mới của dân tộc Lịch sử ghi nhận ông là một vị vua có tài trị nước có tinh thần dân tộc cao luôn luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân Lê Lợi xứng đáng là một trong những người anh hùng vĩ đại của lịch sử Việt Nam Nhân dân ta mãi ghi nhớ và ngợi ca những công lao cống hiến to lớn của người anh hùng Lam Sơn Xứ Thanh và con người xứ Thanh có quyền tự hào chính đáng về Lê Lợi, một người con ưu tú của quê hương Tự hào về vùng đất Lam Sơn – nơi sinh ra Lê Lợi và là căn cứ xuất phát của cuộc chiến tranh mười năm toàn thắng
Cùng với Lê Lợi, Thanh Hoá còn cống hiến cho dân tộc biết bao nhiêu người con yêu nước tài ba, dũng cảm trong đội ngũ nghĩa quân Lam Sơn Họ
đã cùng nhau chịu đựng muôn vàn hy sinh gian khổ để nuôi dưỡng cuộc khởi nghĩa trong những năm tháng hoạt động khó khăn nhất của miền núi rừng sông Chu, sông Mã:
“Tướng sĩ một lòng phụ tử
Hoà nước sông chén rượu ngọt ngào”
( Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Trong số những tướng soái nghĩa quân Lam Sơn mà lịch sử còn ghi tên tuổi, có đến hơn ba mươi người quê quán xứ Thanh Trong đó có những gia đình cả nhà cùng tham gia đánh giặc mà tiêu biểu là gia đình Lê Lợi, Lê Lai
Từ dân tộc Kinh đến các dân tộc ít người ở miền núi, tất cả các tầng lớp nhân dân yêu nước ở đây đã sớm tập hợp lại dưới lá cờ cứu nước Bình định Vương
Lê Lợi đã tạo nên một căn cứ lòng dân vững chắc cho cuộc khởi nghĩa Từ quê hương xứ Thanh, khởi nghĩa Lam Sơn đã lan toả ra khắp cả nước, hoàn thành sứ mệnh Bình Ngô, cứu dân tộc ra khỏi thảm hoạ diệt vong nguy hiểm
Công lao của người anh hùng Lê Lợi - âm vang cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đi vào lịch sử dân tộc và ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân Chính
Trang 37nhân dân – những “pho sử sống” đã tạo nên sự trường tồn vĩnh cửu cho Lê
Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nhờ vào các sáng tác dân gian tiêu biểu là truyền thuyết Đã hình thành nên bộ phận truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hoá phong phú đa dạng về nội dung, nghệ thuật
Trang 38
CHƯƠNG 2 TRUYỀN THUYẾT VỀ LÊ LỢI Ở THANH HÓA
2.1 Truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa trong kho tàng văn học dân gian
Qua quá trình sưu tầm, thu thập tư liệu, chúng tôi nhận thấy truyền thuyết và các câu chuyện kể về Lê Lợi ở Thanh Hóa chiếm số lượng rất nhiều trong kho tàng truyền thuyết Việt Ngoài những truyền thuyết được sưu tầm, xuất bản thành sách thì vẫn còn nhiều những câu chuyện kể về Lê Lợi lưu truyền trong dân gian dưới dạng thần phả, thần tích, gia phả, dã sử Trên phương diện khảo sát truyền thuyết về Lê Lợi ở Thanh Hóa qua văn bản văn
học chúng tôi sử dụng các tư liệu chủ yếu sau: Truyền thuyết cổ tích Lam Sơn, NXB Thanh Hoá,1975 Tên làng xã Thanh Hoá, NXB Thanh Hoá, 2000
Sáng tác dân gian về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, NXB Sở văn hóa
thông tin Thanh Hóa, 1983 Với tổng số trên 50 câu chuyện về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trong 3 công trình nghiên cứu nói trên đã giúp chúng tôi trong việc tìm hiểu về hình tượng Lê Lợi trong truyền thuyết một cách chân thực và sinh động nhất
Trong số những truyện được sử dụng để nghiên cứu chúng tôi dựa vào
những đặc điểm chung để chia thành các nhóm truyện sau: Nhóm thứ nhất: Truyện kể về nguồn gốc xuất thân của Lê Lợi Nhóm thứ hai: Quá trình Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa, thu phục hào kiệt bốn phương Nhóm thứ ba: Quá
trình Lê Lợi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn – được nhân dân giúp sức
Nhóm thứ tư: Lê Lợi trả ơn những người dân đã cưu mang mình và nghĩa
quân trong quá trình đánh giặc Phần lớn các câu chuyện đều rất ngắn gọn Đây là đặc trưng của văn học dân gian mang tính truyền miệng, nhiều câu chuyện có những dị bản khác nhau Nhưng tất cả đều có đặc điểm chung là
Trang 39dân gian đã xây dựng hình tượng anh hùng Lê Lợi trong lòng dân, theo cách hiểu cách nghĩ của nhân dân
Nhóm truyện thứ nhất là những câu chuyện kể về nguồn gốc xuất
thân của Lê Lợi Có hai dị bản khác nhau nói về hoàn cảnh ra đời của Lê Lợi
Một truyện kể rằng: Lê Lợi ở xứ Du Sơn, huyện Lương Giang, Phủ Thanh
Hoá, tại làng Như Áng có ông Lê Lợi là một nhà hào trưởng rất được nhân dân mến phục Vì ông có sức khoẻ, có mưu, lại giàu lòng từ thiện Tuy ở chốn quê mùa lam lũ mà ông đọc sách, luyện võ rất đều, giỏi cách cầm gươm đánh giặc Lê Lợi căm ghét quân Minh nhưng ông còn có ý đợi thời, thường chỉ trò chuyện với một số người tâm huyết trong làng, bày mưu tính kế, chuẩn bị cho việc khởi nghĩa, ra quân
Dị bản khác lại có thêm chi tiết: Người ta lại nghiệm rằng ở xứ Du Sơn
ấy, sau rừng cây quế, có một con hổ đen rất thân với người đến khi Lê Lợi sinh ra vào giờ Tý ngày mồng 6 tháng 8 Ất Sửu thì từ đó không thấy hổ đen đâu nữa Ai cũng cho là hổ đã thác sinh thành Lê Lợi, vì ông ta cũng lớn, cũng khoẻ, ăn uống gấp ba người thường
Điểm giống nhau giữa hai dị bản này đó là đều nói rất rõ về quê hương, gia đình, đặc điểm con người Lê Lợi: Con nhà hào trưởng, căm ghét phường xâm lược, chăm lo đọc sách, có tài quân sự Hình tượng anh hùng Lê Lợi gần gũi với cuộc sống đời thường – đó là nhân vật lịch sử trong truyền thuyết
Điểm khác ở dị bản thứ hai đó là chi tiết: Hổ thác sinh Lê Lợi Đây là chi tiết
kì ảo, đặc biệt về sự ra đời của Lê Lợi Lòng yêu mến người anh hùng đã được dân gian hóa thân vào truyền thuyết Dân gian đã thêm thắt yếu tố kì ảo
ấy để nhấn mạnh Lê Lợi là người phi thường và sẽ gánh trọng trách của lịch
sử, hứa hẹn sẽ làm được những điều phi thường Điều đó chứng tỏ lòng kính trọng mãi mãi của nhân dân về Lê Lợi Qua truyền thuyết ông đã trở thành bất
tử Vì thế thêm một dị bản là thêm một sự khẳng định về tài năng, đức độ của người anh hùng Lê Lợi
Trang 40Nhóm truyện thứ hai: Là những truyền thuyết kể về quá trình Lê Lợi
dấy binh khởi nghĩa, thu phục hào kiệt bốn phương Mở đầu cho nhóm truyện này là chuyện Lê Lợi nhận được gươm thần Lâu nay trong tâm thức của người dân, việc Lê Lợi được trời ban cho gươm thần được xâu chuỗi bởi hai chi tiết: Lê Thận đi đánh cá kéo được lưỡi gươm, Lê Lợi nhận được chuôi gươm Đem lưỡi gươm và chuôi gươm khớp vào nhau thì ra thanh gươm mà trời ngụ ý trao cho Lê Lợi Thế nhưng trong chuyện nhận được gươm thần ấy lại có nhiều dị bản khác nhau Ít nhất có 3 dị bản kể về sự tích này Cả ba dị bản đều giống nhau khi nói về việc Lê Thận đi đánh cá kéo được lưỡi gươm thần Còn Lê Lợi nhận được chuôi gươm thần thì có các cách kể khác nhau: Ở
dị bản thứ nhất kể lại rằng: Buổi tối sau khi ở nhà Lê Thận về, Lê Lợi nghe
lời vợ nói có chuyện lạ ở ngoài vườn, ông liền ra vườn, tìm tới gốc cây đa, thấy ánh sáng trên cây đa Vốn là người đa cảm, ông bèn trèo lên cây thì thấy
ai đã mắc sẵn vào đấy một chuỗi gươm nạm ngọc Ông cầm vào nhà, đầu lưỡi gươm của Lê Thận vào với chuỗi gươm thì vừa như in Một dị bản khác: Lúc
ấy Lê Lợi đi cày ngoài đồng Lưỡi cày vấp vào một vật tròn nhẵn nhụi Ông lấy lên xem thì đó là một khúc gỗ hai đầu có hai vòng sắt một đầu lại có lỗ sâu, hình chữ nhật Nghe Lê Thận kể chuyện, ông xin mang kiếm về tra thử thì thấy lưỡi và cán khít nhau rất chặt, rất vừa Nhưng có dị bản lại kể lại rằng: Một lần Lê Lợi bị giặc đuổi vào rừng, chạy đến phía cuối rừng, ông nhìn thấy ánh sáng lóe trên ngọn cây, Lê Lợi nhìn lên thấy chuôi gươm treo lơ lửng, ông nghĩ lại lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, thế là Lê Lợi lấy chuôi gươm về tra thử với lưỡi gươm của Lê Thận nhặt được thì vừa như in
Những tác phẩm văn học dân gian được truyền miệng đã tạo nên những
dị bản khác nhau, trong truyện Lê Lợi nhận được gươm thần cũng vậy Dù Lê Lợi có được chuôi gươm bằng cách này hay cách khác thì tất cả đều tựu chung lại ở chỗ nhân dân đã thêu dệt lên những yếu tố kì ảo để tạo nên sức