ác nhà khoa học với các công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến là erger 1972 với “Ways of seeing” ác cách nhìn, Yuri Mikhailovich Lotman 1971/1977 với “The Structure of the Artis
Mục đích nghiên cứu
Bài viết này làm rõ những xu hướng chuyển đổi ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp văn học khi chuyển từ văn bản văn học sang phim truyện điện ảnh Việc chuyển thể này không chỉ thay đổi hình thức mà còn ảnh hưởng đến cách thức truyền tải nội dung và cảm xúc, tạo ra những trải nghiệm mới cho khán giả.
- Làm rõ những yếu tố trong hệ thống giao tiếp chi phối đến những xu hướng chuyển đổi từngôn ngữvăn học sang ngôn ngữ điện ảnh
- Củng cố, làm rõ thêm đường hướng tiếp cận một vấn đề thuộc khoa học ngôn ngữ từgóc độliên ngành.
ối tƣợng nghiên cứu
Ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh trong sự chuyển tiếp từ hoạt động giao tiếp văn học sang hoạt động giao tiếp điện ảnh.
Nhiệm vụ nghiên cứu
ểđạt đƣợc những mục đích nghiên cứu của luận án, các nhiệm vụnghiên cứu đƣợc xác định cần phải giải quyết là:
- Xác định cơ sởlí luận cho việc tiếp cận đối tƣợng nghiên cứu;
- Khảo sát những xu hướng chuyển đổi, biến đổi từngôn ngữvăn học sang ngôn ngữđiện ảnh (qua hệ thống tín hiệu biểu tƣợng và ngôn ngữđối thoại);
- Phân tích, lí giải cho những xu hướng chuyển đổi, biến đổi về mặt ngôn ngữ khi VBTKVH đƣợc chuyển thể sang PT A.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp tri thức từ các lĩnh vực như tín hiệu học, ngôn ngữ học, lý luận điện ảnh và lý luận văn học Điều này giúp đối tượng nghiên cứu được xem xét một cách toàn diện, nhằm đạt được những kết quả nghiên cứu chính xác nhất.
Cácphương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đềtài là:
Phương pháp nghiên cứu định lượng được áp dụng để khảo sát và xác định các biểu tượng, lời đối thoại được chuyển đổi và không chuyển đổi sang PT A, cũng như số lượng của chúng Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ phổ biến của các xu hướng chuyển đổi từ VBTKVH sang PT A Thống kê là thủ pháp chính trong nghiên cứu này, cho phép chúng tôi khảo sát và thống kê số lượng tín hiệu, biểu tượng và đối thoại trong VBTKVH nguồn và PT A tương ứng Qua đó, chúng tôi xử lý dữ liệu thống kê thông qua các bảng dữ liệu đối ứng và biểu đồ hóa.
Phương pháp miêu tả được áp dụng để phân tích các xu hướng chuyển đổi biểu tượng và đối thoại, nhằm làm rõ các thuộc tính của đối tượng nghiên cứu Thủ pháp thống kê – phân loại được sử dụng để xác định các biểu tượng và lời đối thoại nào được chuyển đổi sang PT A, từ đó đánh giá mức độ phổ biến của các xu hướng này Chúng tôi khảo sát và thống kê số lượng tín hiệu – biểu tượng và đối thoại trong VBTKVH và PT A tương ứng, xử lý dữ liệu qua bảng và biểu đồ Các thủ pháp phân tích ngôn cảnh và nghĩa tố giúp làm rõ các khía cạnh cụ thể của tín hiệu – biểu tượng và đối thoại khi chuyển đổi từ VBTKVH sang PT A, bao gồm mối quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp và ý nghĩa của chúng trong từng ngữ cảnh.
Thủ pháp so sánh đối chiếu được áp dụng để nghiên cứu sự khác biệt giữa tín hiệu ngôn từ văn học và tín hiệu hình ảnh điện ảnh, cũng như sự khác nhau giữa hệ thống ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh Các thao tác chính bao gồm xác định cơ sở so sánh và giải thích tài liệu được so sánh Qua việc nhóm đối tượng nghiên cứu thành các tập hợp không giao nhau dựa trên các tiêu chí như có/không có và biến đổi/không biến đổi, quá trình giải thích tài liệu giúp làm rõ các xu hướng chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh, đặc biệt là trong việc chuyển đổi từ tín hiệu ngôn từ sang tín hiệu hình ảnh và từ đối thoại văn học sang đối thoại điện ảnh.
óng góp mới của luận án
7.1 V ề m ặt lí luậ n ác kết quảnghiên cứu của luận án sẽ góp phần:
Bài viết này làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh, đặc biệt ở các thành phần và cấp độ tín hiệu biểu tượng cũng như đối thoại Nó cũng phân tích sự tương giao và bất tương giao trong các hoạt động giao tiếp nghệ thuật.
Bài viết cung cấp những kiến giải quy luật về quá trình tư duy và tiếp nhận tín hiệu ngôn từ, hình ảnh, cũng như quá trình giải mã và lập mã ngôn ngữ trong giao tiếp Đồng thời, nó cũng khám phá bản chất của hoạt động giao tiếp trong văn học và điện ảnh.
Cung cấp kiến thức sâu rộng về ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh, bài viết giúp mở rộng hiểu biết về hai loại hình nghệ thuật đại chúng phổ biến nhất hiện nay.
Bài viết này đóng góp một công trình nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng liên ngành, cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu về phương tiện giao tiếp, đặc biệt là ngôn ngữ hình ảnh và ngôn ngữ tổng hợp.
Giúp các nhà sáng tác văn học, biên kịch điện ảnh và đạo diễn nâng cao kiến thức lý luận trong sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là trong quá trình làm việc với các phương tiện truyền thông A chuyển thể.
Hướng tiếp cận liên ngành đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích cấu trúc của các phương tiện ngôn ngữ và các loại hình văn bản khác nhau Nó giúp định hướng cho việc tiếp nhận văn bản nghệ thuật một cách chính xác, phù hợp với đặc trưng ngôn ngữ và thể loại.
8 Bố cục của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận án gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan vềđềtàinghiên cứu và cơ sởlí thuyết
Chương : Sự chuyển đổi từ biểu tượng trong văn bản truyện kểvăn học sang biểu tƣợng trong phim truyện điện ảnh
Chương 3: Sự chuyển đổi từngôn ngữđối thoại trong văn bản truyện kểvăn học sang ngôn ngữđối thoại trong phim truyện điện ảnh
TỔNG QUAN VỀTÌN ÌN N N CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ T U ẾT CỦA ỀTÀ
1.1 TỔNG QUAN VỀTÌN ÌN N N CỨU
1 1 1 Tình hình nghiên cứu về sự chuyển đổi ngôn ngữtrên thế giới
1.1.1.1 Nghiên cứ u v ề chuy ển đổi ngôn ngữ nói chung
Chuyển đổi ngôn ngữ là yếu tố quan trọng trong giao tiếp đa ngữ, dạy và học ngoại ngữ, cũng như trong việc truyền bá học thuật, tín ngưỡng và sáng tạo nghệ thuật Nghiên cứu về chuyển đổi ngôn ngữ thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, với các công trình tập trung vào việc làm rõ các hoạt động diễn ra bên trong và xung quanh quá trình này.
Nhiều nhà khoa học đang nghiên cứu về chuyển đổi ngôn ngữ, hay còn gọi là chuyển dịch ngôn ngữ, đặc biệt quan tâm đến tính tương đương và sự biến đổi giữa ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn.
Roman Jakobson (1959) chỉ ra rằng từ là đơn vị cơ bản của mã ngôn ngữ, và không có sự tương đương hoàn toàn giữa các đơn vị mã thuộc hai hệ thống tín hiệu ngôn ngữ khác nhau Do đó, việc chuyển đổi ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là thay thế các đơn vị mã mà là chuyển giao toàn bộ thông điệp từ ngôn ngữ nguồn Tiếp cận của Eugene Nida (1964) về hoạt động dịch ngôn ngữ ở cấp câu, dựa trên mô hình ngữ pháp tạo sinh của Noam Chomsky, phân tích cấu trúc bề mặt của văn bản nguồn thành các yếu tố cơ bản của cấu trúc sâu Nida nhấn mạnh rằng việc phân tích và mô tả chi tiết cấu trúc câu là cơ sở quan trọng để nhận diện sự tương đương và bất tương đương giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích.
Một số nhà nghiên cứu đã tiếp cận quá trình chuyển đổi ngôn ngữ ở cấp độ văn bản, xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến sự tương đương và biến đổi ngôn ngữ Katharina Reiss (1977) đã phân loại văn bản thành các nhóm tương ứng với các chức năng đặc trưng và xác định mục tiêu, phương pháp chuyển dịch ngôn ngữ.
Thể loại văn bản Thông tin Diễn cảm Vận động
Thông tin (trình bày vật thểvà sự kiện có thật)
(diễn đạt thái độ của người phát thông điệp)
Kêu gọi (kêu gọi thuyết phục người nhận thông điệp)
Logic Thẩm mĩ ối thoại
Nội dung Hình thức Kêu gọi
Truyền đạt nội dung Truyền đạt hình thức thẩm mĩ
Thu đƣợc phản ứng mong muốn
„Văn xuôi đơn thuần‟, có giải thích nếu cần
„Nhập vai‟, coi mình là tác giả nguyên tác
„Vận dụng‟, hiệu quảtương đương
Katharina Reiss và các nhà nghiên cứu như Werner Koller (1979), asil Hatim, Ian Mason (1990), và Mona Baker (1992) đã đóng góp quan trọng vào lý thuyết dịch thuật Werner Koller đề xuất các yếu tố cần cân nhắc khi chuyển đổi từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích, bao gồm chức năng ngôn ngữ, đặc điểm nội dung, phong cách ngôn ngữ, hình thức thẩm mỹ và ngữ dụng Hatim, Mason và Baker dựa trên lý thuyết chức năng hệ thống của M.A.K Halliday, cho rằng mỗi văn bản bị chi phối bởi ba tham biến: lĩnh vực (field), giọng (tenor) và phương thức (mode), tương ứng với ba siêu chức năng: hình thành ý niệm, liên nhân và tạo dựng văn bản Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét mức độ tương đương giữa văn bản nguồn và văn bản đích thông qua các siêu chức năng và cấu trúc chuyển tác, đề thuyết, và thông tin.
Van Leuven-Zwart (1989) đã phát triển hai mô hình: mô hình miêu tả và mô hình so sánh, nhằm phân tích chi tiết sự biến đổi giữa văn bản đích và văn bản nguồn Mô hình miêu tả tập trung vào ba siêu chức năng ngôn ngữ: xã hội, ý tưởng và văn bản, trong khi mô hình so sánh xem xét các biến đổi vi cấu trúc trong từ ngữ, mệnh đề và câu André Lefevere (1992) đã nghiên cứu vai trò của người thực hiện chuyển dịch, nhấn mạnh rằng ngoài sự khác biệt về mã ngôn ngữ, các yếu tố như quyền lực, ý thức hệ và thiết chế cũng ảnh hưởng đến sự biến đổi trong văn bản đích Người chuyển dịch không chỉ ảnh hưởng đến ý đồ văn hóa và chính trị mà còn tạo ra sự chênh lệch về giá trị tư tưởng và văn hóa giữa văn bản đích và văn bản nguồn.
Nghiên cứu về quá trình chuyển đổi ngôn ngữ ở các cấp độ và bình diện khác nhau đã dẫn đến việc khái quát thành các lối chuyển đổi hoặc chuyển dịch ngôn ngữ Ví dụ, John Dryden (1680) đã đề cập đến vấn đề này trong lời mở đầu cho bản dịch của mình.
Trong tác phẩm “Epistles”, Ovid trình bày quan điểm về chuyển dịch ngôn ngữ với ba phương pháp chính: (i) Chuyển dịch từng chữ, tức là bám sát từng từ và dòng như khái niệm “dịch chữ”; (ii) Chuyển dịch thoát ý, nơi người dịch giữ được ý nghĩa của tác giả mà không cần bám sát từ ngữ; và (iii) Phỏng dịch, trong đó cả chữ và ý của nguyên tác đều được “bỏ rơi”, tạo ra một văn bản đích như một ứng tác từ văn bản gốc Jean Paul Vinay và Jean Darbelnet cũng đã đề cập đến những phương pháp này.
Năm 1958, quá trình chuyển dịch được phân chia thành bảy lối: (i) Vay mượn, nơi từ ngữ của ngôn ngữ nguồn được chuyển thẳng sang ngôn ngữ đích; (ii) Sao lại nguyên văn, một kiểu vay mượn đặc biệt khi cách diễn đạt hoặc cấu trúc của ngôn ngữ nguồn được chuyển sang ngôn ngữ đích theo kiểu nguyên văn; (iii) Huyển dịch nguyên văn, tức là chuyển dịch bám sát từng chữ; (iv) Chuyển đổi từ loại, là việc chuyển đổi từ loại này sang từ loại kia mà không làm thay đổi nghĩa; (v) Biến thái, quá trình chuyển đổi ngôn ngữ làm biến đổi nghĩa và quan điểm của ngôn ngữ nguồn; (vi) Tương đương.