1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Quản lý di tích lịch sử văn hóa trong phát triển du lịch ở Bến Tre

294 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý di tích lịch sử - Văn hóa trong phát triển du lịch ở tỉnh Bến Tre
Tác giả Phạm Văn Luân
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Văn Ánh
Trường học Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Quốc Gia Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý Văn hóa
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 294
Dung lượng 4,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Ch ữ viết tắt Chữ viết đầy đủ AHC Ủy ban Di sản Australia tiếng Việt DTĐK Di tích quốc gia đặc biệt Đồng Khởi Bến Tre DTLS-VH Di tích lịch sử - văn hóa DTNĐC Di t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận án Quản lý di tích lịch sử - văn hóa trong phát triển du lịch ở tỉnh

B ến Tre là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện trong 5 năm qua và chưa từng

được công bố Các trích dẫn, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực

Trang 4

M ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về quản lý di tích lịch sử - văn hóa trong mối liên hệ với kinh tế và du lịch 10

1.1.2 Quản lý di tích lịch sử - văn hóa nhìn từ góc độ pháp luật 23

1.1.3 Công trình nghiên cứu di tích lịch sử - văn hóa và du lịch Bến Tre 24

1.2 Cơ sở lý luận 36

1.2.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 36

1.2.2 Khung khái niệm 46

1.2.3 Khung pháp lý 49

1.2.4 Mối quan hệ giữa di tích lịch sử - văn hóa và du lịch 51

1.3 Cơ sở thực tiễn 56

1.3.1 Tổng quan di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Bến Tre 56

1.3.2 Di tích Nguyễn Đình Chiểu 61

1.3.3 Di tích Đồng Khởi 62

Tiểu kết 64

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở TỈNH BẾN TRE 65

2.1 Tổng quan tỉnh Bến Tre, Những nét tiêu biểu về Văn hóa và Du lịch 65

2.1.1 Khái quát về tỉnh Bến Tre 65

2.1.2 Những nét tiêu biểu về văn hóa 67

2.1.3 Du lịch Bến Tre 68

2.2 Thực trạng quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở tỉnh Bến Tre 74

2.2.1 Tổ chức bộ máy và việc vận hành văn bản pháp luật về quản lý di tích …….74

Trang 5

2.2.2 Hoạt động Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 80

2.2.3 Đánh giá thực trạng quản lý di tích lịch sử - văn hóa Bến Tre 88

2.3 Hoạt động gắn kết với du lịch ở 2 Di tích quốc gia đặc biệt của Bến Tre 93

2.3.1 Di tích Nguyễn Đình Chiểu 93

2.3.2 Di tích Đồng Khởi 103

2.3.3 Đánh giá thực trạng quản lý hai Di tích quốc gia đặc biệt của tỉnh Bến Tre 111

Tiểu kết……….113

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HOÁ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở TỈNH BẾN TRE 115 3.1 Cơ sở của đề xuất 115

3.1.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương …………115

3.1.2 Quan điểm quản lý di tích lịch sử - văn hóa trong phát triển du lịch 116

3.1.3 Bối cảnh kinh tế, văn hóa – xã hội và sự phát triển của khoa học công nghệ 118 3.2 Đề xuất giải pháp 119

3.2.1 Nhóm giải pháp về bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa 119

3.2.2 Nhóm giải pháp về phát huy giá trị di tích gắn với du lịch 129

3.2.3 Nhóm giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý di tích … 141

3.2.4 Nhóm giải pháp về đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, vật chất - kỹ thuật…… 145

3.2.5 Nhóm giải pháp về xây dựng, phát triển thương hiệu du lịch và xúc tiến, quảng bá du lịch gắn với di tích 148

3.2.6 Nhóm giải pháp về gắn kết di tích với doanh nghiệp lữ hành 150

3.2.7 Nhóm giải pháp về ứng dụng công nghệ hiện đại 152

3.2.8 Nhóm giải pháp hợp tác quốc tế về văn hóa và du lịch 154

Tiểu kết 156

KẾT LUẬN 157

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 160

TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

PHỤ LỤC 16174

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Ch ữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

AHC Ủy ban Di sản Australia (tiếng Việt)

DTĐK Di tích quốc gia đặc biệt Đồng Khởi Bến Tre

DTLS-VH Di tích lịch sử - văn hóa

DTNĐC Di tích quốc gia đặc biệt Mộ và Khu lưu niệm

Nguyễn Đình Chiểu ICCROM Trung tâm Quốc tế về nghiên cứu Bảo tồn và

Bảo quản các tài sản văn hóa (tiếng Việt) ICOM Hội đồng quốc tế các bảo tàng (tiếng Việt)

ICOSMOS Hội đồng quốc tế về di tích và di chỉ (tiếng Việt) KTXH Kinh tế xã hội

UBND Ủy ban nhân dân

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa

của Liên hiệp quốc (tiếng Việt) UNWTO Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hiệp quốc

(tiếng Việt) VHNT Văn hóa nghệ thuật

VHTT Văn hóa, Thông tin

VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 7

DANH M ỤC BẢNG

Bảng 2.1 Vị trí của du lịch Bến Tre trong cụm phía Đông Đồng bằng sông

Cửu Long năm 2018………71

Bảng 2.2 Số lượt khách và tổng thu từ du lịch Bến Tre từ năm 2014 –2020…… 72

Bảng 2.3 Điểm đánh giá của du khách đối với Di tích Nguyễn Đình Chiểu… 102

Bảng 2.4 Điểm đánh giá của du khách đối với Di tích Đồng Khởi……… 111

Bảng 2.5 Điểm đánh giá của du khách đối với 2 Di tích ……… … 112

DANH M ỤC SƠ ĐỒ, HÌNH Sơ đồ 1.1 Vị trí du lịch di sản trong mối quan hệ với du lịch văn hóa và du lịch sinh thái ……… ……… ……… 44

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa di tích lịch sử - văn hóa và du lịch 45

Sơ đồ 1.3 Các loại hình du lịch……… ………48

Sơ đồ 2.1 Phân công quản lý lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Bến Tre…… 75

Sơ đồ 2.2 Bộ máy tổ chức của Ban Quản lý di tích tỉnh Bến Tre ……… 77

Sơ đồ 2.3 Cơ chế quản lý tại 2 Di tích quốc gia đặc biệt ở Bến Tre……… 94

Sơ đồ 3.1 Mô hình Trung tâm Bảo tồn Di tích quốc gia đặc biệt tỉnh Bến Tre 131

Hình 2.1 Khoảng cách từ Tp Bến Tre đến Tp Hồ Chí Minh và các địa phương 65

Hình 2.2 Bản đồ du lịch Bến Tre ……….……… 70

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quản lý di tích lịch sử - văn hoá trong mối quan hệ với phát triển du lịch, tiếp cận giá trị di tích dưới góc độ sản phẩm du lịch là một vấn đề phức tạp và mới trong nghiên cứu về QLDT và quản lý du lịch ở Việt Nam Thực tế, khi nghiên cứu di tích

ở góc độ đối tượng chung là di sản văn hóa, giới nghiên cứu có nhiều quan điểm khác nhau: các nhà QLDT muốn bảo tồn để giữ gìn vốn cổ, giữ gìn bản sắc, giữ gìn tính nguyên gốc, trong khi các nhà quản lý, doanh nghiệp du lịch lại đặt ra mục tiêu biến di tích thành sản phẩm du lịch nhằm thu hút du khách, từ đó PTDL, phát triển kinh tế Đưa ra lời giải QLDT như thế nào để gắn với PTDL ở cấp độ địa phương,

có tính ứng dụng cao là tiêu điểm của nghiên cứu sinh khi thực hiện luận án này

Trên thực tế, một vấn đề khá bức xúc đặt ra trong QLDT là: lợi ích của cộng đồng có di tích chưa được giải quyết hài hòa, chưa được coi là nền tảng và mục tiêu của PTDL ở những trường hợp di tích có có tiềm năng phát triển sản phẩm du lịch Không ít cộng đồng chưa được hưởng lợi từ những sản phẩm du lịch được nhà nước

và các doanh nghiệp khai thác từ di tích (bao gồm cả giá trị vật thể và phi vật thể)

mà mình đang sở hữu Từ đó đã dẫn đến những tác động bất lợi cho QLDT: Chủ thể của QLDT cho rằng do mình không có quyền lợi, chưa đủ nguồn lực tức là cũng không có nghĩa vụ bảo tồn di tích chỉ để phát triển sản phẩm du lịch, vì vậy họ không tích cực trong quá trình này; hoặc tư tưởng sở hữu di tích của chủ thể quản lý còn máy móc, thụ động trông chờ ngân sách, hoạt động cầm chừng không chịu tiếp cận, sáng tạo văn hóa từ di tích, từ đó đưa chủ thể quản lý, nhất là cộng đồng sở hữu

di tích, người dân vào vị trí “gia công” cho đơn vị QLDT trong bối cảnh PTDL, đây

là một vấn đề cần nghiên cứu thấu đáo trên cả 2 phương diện lý luận và thực tiễn

Bến Tre là vùng đất “địa linh nhân kiệt” với hệ thống DTLS-VH phong phú,

có số lượng lớn thuộc nhóm các tỉnh đứng đầu của Tây Nam Bộ, nhưng chỉ có một

tỷ lệ nhỏ có thể là điểm đến du lịch, tự thân có sức thu hút du khách, tiếp cận PTDL;

Từ đó tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của địa phương nơi có di tích tọa lạc được phát huy hiệu quả, đem lại những lợi ích nhiều mặt cho cộng đồng, trong đó có lợi

Trang 9

ích kinh tế Trong khi đó, một số lượng lớn di tích khác không nổi tiếng, chưa đủ sức hấp dẫn nhưng vẫn nỗ lực tiếp cận và có nhu cầu PTDL Hầu hết các di tích này lúng túng trong quản lý và tổ chức, máy móc sao chép các di tích đã gắn kết được với du lịch nhằm thu hút du khách với mong muốn củng cố niềm tự hào từ di tích và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân địa phương; góp phần tạo thêm nguồn kinh phí bảo tồn và phát huy giá trị di tích, từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, người dân địa phương đối với di tích Di tích gắn với

du lịch đã trở thành nhu cầu tự thân ở hầu hết các cộng đồng, trừ một số rất ít di tích

có những đặc trưng riêng, có những “giới hạn” không sẵn sàng gắn kết với du lịch

Qua khảo cứu, cập nhật lý thuyết về mô hình QLDT trong PTDL cho thấy, những năm gần đây Việt Nam đã có một số mô hình khai thác di tích theo hướng vừa PTDL, vừa thúc đẩy sự chủ động, tích cực của cộng đồng chung tay bảo tồn di tích: đó là những mô hình du lịch di sản, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái thành công ở Hạ Long, Hội An, Ninh Bình, Củ Chi, Ở Bến Tre một số di tích bước đầu tiếp cận kết nối với du lịch như DTNĐC, DTĐK, Khu Lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định… Thực tiễn QLDT ở những di tích nêu trên cho thấy: một mặt di tích có thể tạo ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn, mặt khác cũng chỉ ra yêu cầu để trở thành những sản phẩm du lịch, cần phải có quan điểm và quy trình QLDT chuyên biệt thì tài nguyên và nguồn lực văn hóa từ di tích ở góc độ “vốn văn hóa” mới tạo

ra giá trị kinh tế Hiện nay, các nghiên cứu về QLDT hướng đến tìm ra mô hình quản lý gắn kết với PTDL từ cấp độ địa phương còn thiếu vắng, nên các đơn vị QLDT vận dụng lý giải và thực hành trong thực tế gặp nhiều khó khăn

Trong bối cảnh hiện nay, nhất là từ khi Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính

trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và Luật Du lịch (2017) đi

vào cuộc sống; sự quan tâm của các học giả, nhà quản lý, doanh nghiệp văn hóa, du lịch, giới truyền thông và người dân đã được thể hiện, tranh luận ở nhiều diễn đàn, hoạt động thực hành quản lý, tổ chức và quan sát các di tích Nhiều vấn đề bức xúc đặt ra ở cả tầm vĩ mô và vi mô như: - DTLS-VH có vai trò gì, có giá trị gì đối với đời sống xã hội, việc tu bổ, tôn tạo DTLS-VH trong PTDL có thật sự cần thiết? -

Trang 10

Việc bảo tồn, phát huy giá trị DTLS-VH trong bối cảnh PTDL ở Bến Tre nên thực hiện như thế nào? - Có hay không sự khác biệt giữa QLDT truyền thống và QLDT trong bối cảnh PTDL? Giải pháp nào để bảo tồn, phát huy giá trị DTLS-VH Bến Tre hiệu quả, góp phần xây dựng du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn?

Góp phần lý giải những vấn đề trên, nghiên cứu sinh tìm hiểu thực tiễn QLDT hiện nay với ba dạng thức phổ biến: 1) QLDT theo quan điểm xem di tích là

cơ hội phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh doanh du lịch 2) QLDT theo quan điểm xem di tích là bất khả xâm phạm, chỉ chú trọng bảo vệ, giữ gìn nguyên trạng 3) QLDT theo quan điểm xem di tích là “vốn văn hóa” quan trọng để phát triển KTXH địa phương, tiếp cận một số hoạt động của di tích gắn với du lịch, xem di tích là thành tố tạo nên sản phẩm du lịch; Từ đó đi đến xác định: - Luận án có mục đích nghiên cứu cụ thể xem xét các di tích đang được quản lý theo quan điểm thứ

ba DTNĐC, DTĐK được lựa chọn khảo sát bởi tính điển hình cho di tích Bến Tre

có xu hướng quản lý theo cách thức này Chi tiết thuyết minh lý do chọn hai di tích khảo sát sẽ được trình bày ở phần giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án

Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh xác định vấn đề Quản lý di tích lịch sử

- văn hóa trong phát triển du lịch ở tỉnh Bến Tre làm đề tài cho luận án, với mong

muốn nghiên cứu để giải quyết các vấn đề còn bất cập trong quản lý DTLS-VH khi

gắn kết với PTDL, góp phần giúp các nhà quản lý văn hóa và du lịch có định hướng

và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị DTLS-VH một cách bền vững, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu QLDT trong bối cảnh PTDL

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Góp phần tăng cường quản lý DTLS-VH ở tỉnh Bến Tre gắn kết với PTDL thành ngành kinh tế mũi nhọn theo hướng bền vững

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

1) Hệ thống hóa khái niệm và cơ sở lý luận về DTLS-VH, bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong PTDL; 2) Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý DTLS-

VH gắn với PTDL qua khảo sát 2 trường hợp DTNĐC và DTĐK; từ đó xác định

Trang 11

bức tranh quản lý DTLS-VH trong bối cảnh PTDL của tỉnh Bến Tre; 3) Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý DTLS-VH tỉnh Bến Tre gắn với PTDL

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là hoạt động quản lý DTLS-VH trong mối quan hệ với PTDL ở tỉnh Bến Tre

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu

- V ề nội dung: Luận án tìm hiểu toàn diện nội hàm QLDT bao gồm bảo tồn,

phát huy giá trị DTLS-VH trong mối liên hệ với PTDL qua lựa chọn khảo sát hai trường hợp: DTNĐC và DTĐK với lý do: - Thứ nhất, đây không chỉ là hai Di tích

quốc gia đặc biệt đầu tiên ở Bến Tre mà còn là 2 di tích tiêu biểu, đặc thù nhất trong

hệ thống DTLS-VH ở Bến Tre DTNĐC và DTĐK là nơi ghi dấu, tôn vinh và giáo

dục, lan tỏa tấm gương sáng của danh nhân Nguyễn Đình Chiểu, của phong trào Đồng Khởi; - Thứ hai, đây là hai di tích đại diện cho mức độ, cấp độ quan trọng trong hệ thống DTLS-VH ở Bến Tre nên không chỉ có tầm ảnh hưởng ở địa phương, mà cả trong và ngoài nước; - Thứ ba, đây là hai di tích được bảo tồn, phát huy giá trị hiệu quả nhất đáp ứng phần nào yêu cầu PTDL hiện nay ở Bến Tre, do

đó có đủ điều kiện để các di tích khác học tập và nhân rộng kết quả

Trong luận án nghiên cứu sinh chọn khảo sát 2 di tích, từ tìm hiểu, nghiên cứu các hoạt động QLDT ở 2 di tích này làm rõ vấn đề nghiên cứu và bức tranh

tổng thể của quản lý DTLS-VH trong bối cảnh PTDL ở Bến Tre Tại mỗi di tích, tập trung nghiên cứu các hoạt động quản lý theo hướng tiếp cận một số dịch vụ du lịch chính: trưng bày hiện vật, hướng dẫn tham quan, lễ hội, hàng hóa lưu niệm và sản vật Ngoài ra, từ tính kết nối của hai trường hợp khảo sát, mở rộng nghiên cứu đến một số DTLS-VH khác trong và ngoài tỉnh, nơi có di tích với những điểm tương đồng và khác biệt, những thành công và hạn chế; từ đó đưa ra những đề xuất,

những giải pháp tổng thể quản lý DTLS-VH gắn với PTDL hiện nay ở tỉnh Bến Tre

Trang 12

- V ề thời gian: Thực trạng từ năm 2014, khi các điểm di tích ở Bến Tre chính

thức mở sổ theo dõi, ghi nhận khách du lịch tham quan đến hết năm 2020 Bàn luận,

đề xuất giải pháp cho các năm tiếp theo

- Về không gian: Tập trung nghiên cứu hệ thống DTLS-VH ở Bến Tre, khảo

sát qua 2 trường hợp tiêu biểu là DTNĐC (bao gồm Trạm vệ tinh Ngân hàng dữ liệu DTLS-VH phi vật thể các dân tộc Việt Nam) và DTĐK (bao gồm cả Đình Rắn)

4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Thứ nhất, DTLS-VH Bến Tre và PTDL có mối quan hệ với nhau như thế

nào? Giả thuyết: Đây là mối quan hệ hai chiều, biện chứng và tương hỗ, được xác lập trên những cơ sở khoa học trong đó có lý thuyết Kinh tế học văn hóa, cơ sở thực tiễn và pháp lý,

Thứ hai, Thực trạng quản lý DTLS-VH ở Bến Tre gắn với PTDL hiện nay

đang diễn ra như thế nào? Giả thuyết: DTLS-VH Bến Tre, qua khảo sát tại DTNĐC

và DTĐK đang được quản lý đúng định hướng nhưng còn hạn chế ở khả năng thích ứng với PTDL Để quản lý hiệu quả DTLS-VH gắn với PTDL, cần nhận diện giá trị, đánh giá đúng thực trạng từ môi trường di tích, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, hoạt động truyền thông quảng bá, tiếp thị, liên kết hợp tác PTDL của đơn vị QLDT

Thứ ba, Làm thế nào để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động quản lý

DTLS-VH Bến Tre gắn với PTDL? Giả thuyết: Giải pháp đề xuất theo hướng tiếp cận “kép”: vừa bảo tồn di tích vừa PTDL, trong đó nền tảng là sự phát triển bền

vững của di tích và cộng đồng địa phương, với mô hình du lịch tích hợp đưa

DTLS-VH phục vụ thiết thực đời sống, đem lại hiệu quả tích cực cho cả QLDT và PTDL

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cách tiếp cận

Luận án sử dụng các tri thức tiếp cận liên ngành: Văn hóa học, Kinh tế học văn hóa, Xã hội học, Du lịch học, Dân tộc học… một cách song hành và có tính kết

nối trong suốt quá trình nghiên cứu Từ cơ sở lý thuyết về quản lý văn hóa, lý thuyết

về mối tương quan kinh tế - văn hóa trong Kinh tế học văn hóa, luận án nhận diện

Trang 13

những vấn đề lý luận, phân tích thực trạng QLDT gắn với du lịch, xem xét sự thay đổi phương thức tiếp cận, tổ chức, QLDT trong PTDL ở Bến Tre

Cách tiếp cận chủ đạo là tiếp cận Quản lý văn hóa, trọng tâm là “Văn hóa trong phát triển” trên nền tảng lý thuyết Kinh tế học văn hóa thông qua tiếp cận hệ

thống văn bản quản lý và các bên liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp liên ngành Văn hóa học, Sử học, Quản lý văn hóa, Du

lịch học, Xã hội học, Kinh tế học văn hóa được sử dụng để tìm hiểu lịch sử hình thành và tu bổ, tôn tạo di tích, xác định giá trị, vai trò của DTLS-VH Bến Tre Phương pháp này sử dụng chủ yếu ở chương 1 và vận dụng trong quá trình tìm hiểu

đánh giá của người tham quan di tích, chủ thể QLDT trong chương 2, 3

5.2.2 Phương pháp nghiên cứu trường hợp, được vận dụng nghiên cứu với 2

trường hợp Di tích quốc gia đặc biệt: - DTNĐC và DTDK, đây là 2 Di tích đại diện điển hình về giá trị, không gian, thời gian không chỉ cho hệ thống DTLS-VH Bến Tre mà còn cho cả nước Không sinh ra ở Bến Tre nhưng nói đến Nguyễn Đình Chiểu là người ta nghĩ đến Bến Tre; Có nhiều nơi diễn ra Đồng Khởi nhưng nói đến Đồng Khởi thì Bến Tre là danh xưng liền nhau và quen thuộc bởi đây là 2 Di tích chứa đựng các giá trị vật chất và tinh thần phong phú, thể hiện bản sắc văn hóa không chỉ của người Bến Tre mà của cả dân tộc Đây cũng là 2 điểm đến nổi tiếng thu hút du khách trong và ngoài nước với tiềm năng du lịch to lớn, đây là 2 Di tích

có nhiều giá trị kinh tế dù còn ở dạng tiềm năng [Phụ lục 7D; tr.197] Chính vì vậy, trong bức tranh rộng lớn của di tích Bến Tre, nghiên cứu sinh chọn 2 điểm đến trọng điểm của du lịch di sản Bến Tre để nghiên cứu [Phụ lục 13; tr.222] Yêu cầu đánh giá các yếu tố liên quan giữa DTLS-VH và du lịch ở 2 trường hợp được khảo sát chính có ý nghĩa quyết định hiệu quả bảo tồn, phát huy giá trị DTLS-VH trong bối cảnh PTDL Bến Tre Việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp đã tạo điều kiện cho việc đề xuất các giải pháp nhằm gắn lý thuyết với thực tiễn, tích cực hóa hoạt động QLDT gắn với du lịch của chủ thể Di tích và các bên tham gia

5.2.3 Phương pháp so sánh, tổng hợp: Nghiên cứu, so sánh các luận điểm

của các nhà nghiên cứu về QLDT để tổng hợp, đề xuất khung lý thuyết nghiên cứu

Trang 14

của luận án, định hướng, quan điểm, giải pháp QLDT ở tỉnh Bến Tre trong PTDL Nghiên cứu tổng hợp dữ liệu thu thập được qua 2 nguồn sơ cấp và thứ cấp theo 4 nhóm vấn đề: - Lý thuyết quản lý DTLS-VH; - Lý thuyết PTDL; - Lý thuyết về gắn kết DTLS-VH với du lịch và - Lý thuyết về DTLS-VH Bến Tre ở chương 1; tổng hợp, kiểm kê, thống kê và so sánh ở chương 2 và khi cần đưa ra những nhận định, luận giải những quan điểm, đề xuất định hướng, giải pháp So sánh các mô hình quản lý DTLS-VH trong và ngoài địa phương, tìm ra những điểm mạnh để phát huy, điểm yếu để khắc phục trong xây dựng, tổ chức bộ máy, mô hình quản lý một cách hợp lý và hiệu quả khi gắn kết với du lịch Ngoài ra, còn so sánh, đối chiếu nhận diện những thay đổi của di tích khi gắn kết với du lịch Phương pháp này sử dụng nhiều ở chương 2 khi đưa ra những nhận định, đánh giá

5.2.4 Phương pháp nghiên cứu thực địa: Với các thao tác chính: điền dã,

khảo sát thực địa, quan sát, thu thập tài liệu bằng chụp ảnh, ghi chép, phỏng vấn, tham dự các sự kiện tại DTNĐC, DTĐK để tìm hiểu thực trạng hoạt động QLDT, đánh giá ưu điểm, chỉ ra hạn chế Phương pháp này được sử dụng ở chương 2 khi nghiên cứu thực trạng hoạt động QLDT Bến Tre tập trung vào 2 DTNĐC, DTĐK Phương pháp nghiên cứu thực địa là phương pháp nghiên cứu chủ đạo trong thu thập dữ liệu sơ cấp, được thực hiện trong Báo cáo tư vấn cho Tỉnh ủy Bến Tre [Phụ lục 2A; tr.178] và 1 đề tài do Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre chủ quản [Phụ lục 2B; tr.179], nghiên cứu sinh là thành viên chính trực tiếp tham gia qua 36 chuyến điền dã tại Bến Tre, đã tạo điều kiện cho nghiên cứu sinh tiếp cận đối tượng, tổ chức khảo sát thực địa 54 di tích tại các huyện, thành phố trong tỉnh; thu thập thông tin thực trạng quản lý DTLS-VH theo các loại hình khác nhau ở trong và ngoài tỉnh một cách khách quan, khoa học, góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận án [Phụ lục 5B; tr.195]

Đối với du khách, khảo sát theo phương pháp ngẫu nhiên đơn lựa chọn đối tượng trả lời bảng hỏi với 4 nhóm quần thể đích: khách đoàn lớn (xe 45 chỗ), khách đoàn vừa (xe 29 chỗ), khách đoàn nhỏ (xe 7 – 16 chỗ), khách phượt/ khách lẻ Từ 4 nhóm này, lựa chọn quần thể nghiên cứu cho từng điểm khảo sát: 1) Khách đoàn

Trang 15

lớn: chọn 1 đoàn trong nước, 1 đoàn nước ngoài; 2) Khách đoàn vừa: 3 đoàn trong nước và nước ngoài; 3) Khách đoàn nhỏ: 4 đoàn trong nước và nước ngoài; 4) Khách phượt/ khách lẻ: 25 người ở các điểm khảo sát bất kỳ đảm bảo kết quả khảo sát phản ánh một cách khách quan và phân tầng được qui mô khách đến di tích

Tổng số phiếu phát ra ở 2 di tích là 600, mỗi di tích 300 phiếu, sau khi lọc phiếu không đảm bảo chất lượng; DTNĐC còn 283 phiếu, gồm 246 khách nội địa,

37 khách quốc tế DTĐK còn 277 phiếu, gồm 255 khách nội địa, 22 khách quốc tế,

cơ cấu phiếu khảo sát, mẫu điều tra đảm bảo yêu cầu nghiên cứu [Phụ lục 4; tr.192]

5.2.5 Phương pháp nghiên cứu định lượng: được áp dụng trong quá trình

xây dựng các phiếu khảo sát, điều tra, bảng hỏi…[Phụ lục 3; tr.180] nhằm thu thập,

xử lý số liệu liên quan nội dung nghiên cứu, làm cơ sở đánh giá hoạt động quản lý DTLS-VH và xây dựng khung câu hỏi phỏng vấn sâu [Phụ lục 6; tr.196] khảo sát 59 nhà quản lý, nhà khoa học, nghệ nhân, chức sắc tôn giáo [Phụ lục 5A; tr.193]; 20 doanh nghiệp du lịch, 400 cán bộ, người dân địa phương… tìm hiểu, xử lý thông tin thu thập, tổng hợp, phân tích số liệu, thống kê và phân loại di tích, mật độ phân bố, xác định giá trị di tích; các nguồn lực bảo tồn, phát huy giá trị DTLS-VH, số lượng khách trong 7 năm Lượng hóa dữ liệu thu thập bằng thang đo Likert (5 cấp độ: 1 - rất không đồng ý, 2 - không đồng ý, 3 - trung dung, không có ý kiến, 4 - đồng ý và 5

- rất đồng ý) để đánh giá khả năng đáp ứng hoạt động du lịch của di tích Bến Tre

Kết quả nghiên cứu được thể hiện bằng bảng biểu, sơ đồ; sử dụng phương pháp phân tích SWOT [12; tr.202] theo mô hình TOWS để tiếp cận từ bên ngoài phù hợp với cách tiếp cận từ nhu cầu [62; tr.82] (nhu cầu văn hóa và nhu cầu du lịch như Phillip Kotler [88] khuyến cáo) trong bối cảnh Việt Nam hướng đến nền kinh tế thị trường, nhằm đánh giá đúng thực trạng quản lý DTLS-VH Bến Tre trong PTDL

6 Đóng góp mới của luận án

6.1 Về mặt lý luận

- Bổ sung cơ sở lý luận cho chuyên ngành Quản lý văn hóa, cơ sở lý luận về QLDT, cụ thể là lý thuyết Kinh tế học văn hóa trong QLDT, từ đó chỉ ra ưu điểm, hạn chế của QLDT ở Bến Tre khi gắn kết với PTDL

Trang 16

- Xác định vai trò, giá trị đặc biệt của hệ thống DTLS-VH Bến Tre trong bối

cảnh PTDL, làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị DTLS-VH hiệu quả, bền vững gắn với PTDL ở Bến Tre hiện nay

- Vận dụng lý thuyết QLDT và Kinh tế học văn hóa giải quyết mối quan hệ

giữa quản lý DTLS-VH và quản lý du lịch ở Bến Tre, từ đó có những đóng góp trở lại cho kho tàng lý luận chuyên ngành Quản lý văn hóa

6.2 Về mặt thực tiễn

- Luận án cung cấp thêm các tài liệu tham khảo có tính cập nhật và hệ thống

về bảo tồn, phát huy giá trị DTLS-VH trong bối cảnh PTDL cho các nhà quản lý văn hóa và du lịch ở địa phương

- Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả QLDT gắn với PTDL ở tỉnh Bến Tre có giá trị tham khảo cho các cơ quan quản lý, chính quyền các cấp, nhà chuyên môn, nhà đầu tư, doanh nghiệp du lịch tiếp cận, định hướng hợp tác, khai thác, phát triển sản phẩm du lịch đảm bảo quan hệ hài hòa và bền vững giữa QLDT với PTDL

Trang 17

C hương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu DTLS-VH là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong

và ngoài nước, theo khảo cứu của nghiên cứu sinh có thể khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án theo ba nhóm vấn đề chính sau đây

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về quản lý di tích lịch sử - văn hóa trong mối liên hệ với kinh tế và du lịch

Là một thành tố quan trọng của di sản văn hóa, DTLS-VH được giới nghiên

cứu tiếp cận khá sớm, từ đầu thế kỷ XIX đã có những người say mê di sản với lòng tin là họ bảo tồn những thứ có lợi cho công chúng Sang thế kỷ XX, khi các Hiệp

hội di sản châu Âu ra đời, nghiên cứu di sản phát triển xuất hiện cụm từ “quản lý di sản” và phát triển mạnh vào nửa sau thế kỷ XX

Công trình Nghiên cứu di sản: Các phương pháp và các cách tiếp cận của

John Carman và Marie Louise Stig Sorensen [127] tuy nghiên cứu về di sản nói chung nhưng đã phản ánh sự phát triển thực hành và quản lý di sản cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX là các hoạt động công cộng đánh dấu sự khác biệt trong quan điểm nhìn về quá khứ Ở giai đoạn này DTLS-VH đã là mối quan tâm chung, thể hiện lợi ích và trách nhiệm của các cộng đồng Các công trình theo hướng này tập trung hai vấn đề cơ bản: bảo tồn và phát huy giá trị di sản Ashworth G.J và Larkham P.J trong Xây dựng một di sản mới: Du lịch, văn hóa và bản sắc ở châu

Âu mới [122] đưa ra 3 quan điểm: bảo tồn nguyên gốc; bảo tồn có sự kế thừa và bảo tồn phát triển Trong đó, quan điểm bảo tồn phát triển được nhiều học giả ủng hộ

Tiếp cận đầu tiên về kinh tế - văn hóa ở Hoa Kỳ vào những năm 1960, theo

đó văn hóa tác động đến kinh tế tương tự như tác động đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Tuy nhiên, lý thuyết về Kinh tế học văn hóa đã được đề cập trước

đó rất lâu từ cách đặt vấn đề của Max Weber [74] dưới góc nhìn của “mối quan hệ giữa đức tin với hoạt động kinh doanh”; chủ nghĩa tư bản gắn liền với nền tảng đạo

Trang 18

đức đề cao giá trị, cống hiến của người kinh doanh Điểm khác biệt là văn hóa, bên

cạnh vai trò của một thành tố chính gắn kết xã hội và tái thiết bản sắc, còn là một trụ cột quan trọng để hình thành sự phát triển bền vững của nền kinh tế Giao dịch kinh

tế trong văn hóa tạo hiệu ứng tích cực như: quá trình học tập, sáng tạo và tri thức Cách tiếp cận thứ hai về kinh tế học văn hóa vào cuối thập kỷ 70 đầu những năm

1980, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế cắt giảm ngân sách của chính phủ châu

Âu đã kéo giảm chi tiêu công cho văn hóa, chỉ ưu tiên các lĩnh vực có năng suất cao Văn hóa được lưu ý nhiều hơn khi chuyển đổi từ một ngành chỉ được trợ cấp sang ngành có đóng góp cho sự tăng trưởng, tạo việc làm và giá trị gia tăng cho nền kinh tế, trên cơ sở đó có chính sách ưu tiên hỗ trợ sáng tạo văn hóa

Thách thức lớn đối với văn hóa là vừa phát triển, vừa đảm bảo quyền bình đẳng và tính đa dạng văn hóa: từ văn hóa dân gian, văn hóa đại chúng đến văn hóa tinh hoa; duy trì cân bằng giữa hiện đại với truyền thống, giữa hiệu quả và công bằng Các nghiên cứu đã chỉ ra: mọi hoạt động văn hóa dù chỉ có một phần hay không có phần nào liên quan đến thị trường, vẫn có khía cạnh kinh tế bởi chúng sử

dụng tài nguyên như hoạt động kinh tế khác [11]

Nghiên cứu theo cách tiếp cận này, tiêu biểu có David Throsby với Kinh tế

và Văn hóa, [125] theo ông: trong thế giới toàn cầu hóa, kinh tế và văn hóa là hai

trong số những lực lượng mạnh nhất định hình hành vi con người Mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa vừa là lĩnh vực của diễn ngôn trí tuệ, vừa là hệ thống tổ chức xã

hội Từ quan niệm rộng về văn hóa, trên nền tảng của lý thuyết giá trị, David Throsby phát triển các khái niệm song sinh về giá trị kinh tế và văn hóa làm nguyên tắc cơ bản tích hợp hai lĩnh vực này, khám phá các khía cạnh kinh tế của văn hóa và bối cảnh phát triển của kinh tế học văn hóa Brian Garrod, Alan Fayall khi nghiên cứu về quản lý di sản gắn với du lịch trong Quản lý du lịch di sản [123], chỉ ra cần

có sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác, nếu không di sản sẽ bị mất Hai tác giả này thừa nhận PTDL di sản là cần thiết phải là phát triển bền vững, có sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác bởi nếu di sản không được bảo vệ, giữ gìn sẽ bị mất đi

Trang 19

Theo các nhà nghiên cứu, DTLS-VH không chỉ có giá trị biểu tượng mà cần được sống trong cộng đồng, tức là phải đóng góp vào sự phát triển chung, di sản phải phục vụ cộng đồng Ashworth G.J và Larkham P.J cho rằng khi khai thác các giá trị di sản cần có cách quản lý phù hợp đặc điểm di sản [122] Dù chưa có sự

thống nhất cao, song đa số các học giả đều cho rằng du lịch là phương thức tốt để bảo tồn và phát huy giá trị di tích [132]

Các nhà nghiên cứu như Randall Manson, Daniel Bluestone hay David Throsby… đều quan tâm đến vấn đề kinh tế trong DTLS-VH, coi di sản là vốn quý của các thế hệ đi trước để lại, nhưng yêu cầu đặt ra là cần khai thác hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế, Raymond A Rosenfel cho rằng di sản và du lịch là công cụ phát

triển kinh tế [139] Arthur Perdersen trong Hướng dẫn thực hành quản lý di sản thế

giới [121] đưa ra phương án quản lý di sản trước sự tác động của du lịch là khoanh

vùng cho các hoạt động tương thích, giảm bớt số lượng khách, thậm chí đóng cửa ở

một số khu vực Ở công trình Những vị chủ nhà và những vị khách: Nhân chủng

học du lịch, Valene L Smith [141] đề cập nhiều khía cạnh, nhất là quan hệ giữa du

khách và văn hóa bản địa, bảo tồn văn hóa bản địa trong PTDL Đây là kết quả nghiên cứu công phu, là cẩm nang du lịch có giá trị tham khảo cho các nước

Pierre L.Van den Berghe trong M ột góc nhìn khác về du lịch dân tộc ở San Cristobal, Mexico [138] cho rằng không nên xem giá trị của di sản là cái “máy đẻ ra tiền”, càng không thể xem du lịch chỉ là hoạt động giải trí thuần túy Đây là loại hoạt động hướng vào giáo dục (nhóm cộng đồng là du khách và nhóm cộng đồng là chủ nhân

di sản) Vì vậy, du lịch cần được quan tâm phát triển đúng mức, từ đây Pierre đưa ra khái niệm “khách du lịch dân tộc” là cơ sở cho các nghiên cứu về nhân chủng học du lịch

Donovan D Rypkema trong bài “Bảo tồn di sản là cơ hội phát triển kinh tế” [147] cho rằng: bảo tồn di sản không chỉ mang trong nó một giá trị mà đem lại nhiều giá trị: văn hóa, thẩm mỹ, giáo dục, môi trường, xã hội, lịch sử cùng nhiều giá

trị khác… Có giá trị được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây là giá trị kinh tế

Công trình Du l ịch văn hóa: Quan điểm toàn cầu và địa phương, Greg

Richards [129] thể hiện tính liên ngành giữa du lịch - DTLS - VH - Nhân chủng học

Trang 20

du lịch - Kinh tế học văn hóa, là sự đúc kết từ lý luận đến thực tiễn của nhiều chuyên gia du lịch - văn hóa, đã chỉ ra các sự kiện văn hóa là một cách để PTDL

Năm 2009, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) xuất bản công trình Tác động của du lịch văn hóa [109] tập trung làm rõ vai trò và tác động của

văn hóa và du lịch; các chính sách, chương trình về văn hóa và du lịch; ảnh hưởng của các chính sách văn hóa và thách thức trong PTDL văn hóa với các trường hợp

cụ thể: Hàn Quốc, Áo, Ba Lan, Úc, Mexico… khi bảo tồn, phát huy giá trị

DTLS-VH gắn với PTDL Đây là minh chứng sống động, phản ánh quan hệ đa chiều giữa

du lịch và văn hóa; cách thức đưa di sản trở thành động lực phát triển kinh tế và gia tăng khả năng cạnh tranh quốc tế ở các nước

Ở một góc nhìn khác có liên quan đến di tích, phần lớn nghiên cứu tác động của du lịch mới tập trung vào vấn đề môi trường và kinh tế, chỉ đến khi có Chương trình 21 (Agenda 21) của Liên Hiệp Quốc (1992), cách tiếp cận mới về phát triển trên thế giới đã đặt ra vấn đề Phát triển bền vững Từ đây, mối quan tâm của giới nghiên cứu đến tác động của du lịch, tập trung vào tác động xã hội và văn hóa trong

đó có di tích của du lịch ở các cộng đồng dân cư vùng có hoạt động du lịch Nhiều

dự án, đề tài đã đề cập đến chủ đề nóng này, xác định, đánh giá tác động xã hội, xây dựng hệ chỉ báo, tiêu chí đánh giá, dự báo xu hướng… [38]

Ngày nay, các nước đều lấy di sản làm hạt nhân xây dựng chiến lược phát triển KTXH trong đó có du lịch Trước đây, khai thác sử dụng di sản phục vụ trực tiếp nhu cầu sinh hoạt cộng đồng cư dân bản địa chỉ có di tích là chủ yếu, nguồn thu

từ di tích không đáng kể Hiện nay, di tích không chỉ có chức năng sử dụng kinh phí

để duy trì hoạt động thường xuyên, thông qua giá trị chứa đựng ở mỗi di tích còn có hoạt động văn hóa sáng tạo thu hút du khách trong và ngoài nước

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý DTLS-VH trong mối liên hệ với kinh tế và du lịch, tập trung các vấn đề: lý luận, kinh nghiệm

thực tiễn bảo tồn, phát huy giá trị di tích, đề ra giải pháp, kiến nghị cho từng loại hình di tích hướng đến mục tiêu vừa bảo tồn, vừa khai thác, phát huy giá trị di tích

Trang 21

Tác giả Lê Như Hoa với Quản lý văn hóa đô thị trong điều kiện công nghiệp

hóa, hi ện đại hóa đất nước đề cập một số hoạt động bảo tồn di tích, thực trạng ảnh

hưởng của đô thị hóa đối với di tích ở Hà Nội, Huế… và chỉ rõ, “trong thời kỳ đất nước đang phát triển, hội nhập quốc tế mạnh mẽ DTLS-VH đã được xem là một trong những nguồn lực của sự phát triển chung” [43; tr.71]

Công trình Qu ản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (đồng chủ biên) [34] đã đề cập đến

quản lý văn hóa ở Việt Nam trong đó có quản lý di sản Ở lĩnh vực này, các tác giả giới thiệu thực trạng quản lý DTLS-VH, bảo tàng và DTLS-VH, từ đó đưa ra giải pháp cho từng lĩnh vực: đầu tư đồng bộ trong bảo tồn, tôn tạo, triển khai quy hoạch chi tiết các di tích để giải quyết hợp lý, hài hòa bền vững… [34; tr.486]

Công trình Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long – Hà Nội, Nguyễn Chí Bền chủ biên [6] đã trình bày, phân tích những vấn đề lý luận,

thực tiễn cùng những kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long – Hà Nội Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc khuyến nghị của UNESCO, kinh nghiệm và những quan điểm mới bảo vệ DSVH của các nước áp dụng vào thực tiễn bảo tồn DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, đề xuất các nhóm khuyến nghị bảo tồn

và phát huy giá trị di tích của thủ đô nhưng có giá trị cho Bến Tre tham khảo

Vấn đề quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị di tích còn được đề cập trong giáo trình Quản lý văn hóa ở bậc Đại học với Lê Hồng Lý, Dương Văn Sáu, Đặng Hoài

Thu, Qu ản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch [72]; Hoàng Sơn Cường, Lược sử

qu ản lý văn hóa ở Việt Nam [18]; Nguyễn Thị Kim Loan (chủ biên) và Nguyễn

Trường Tân, Giáo trình Quản lý di sản văn hóa [66]… các công trình này cho rằng

PTDL là một biện pháp cơ bản, hữu hiệu giúp quản lý di sản đạt hiệu quả cao Có tác giả đã nhấn mạnh: “Biến di sản thành hàng hóa thông qua hoạt động du lịch là một quan điểm đúng trong giai đoạn xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay” [72; tr.59]; Tuy nhiên phần lớn có tính đại cương, đưa ra một số khái niệm cơ bản về di sản văn hóa, quản lý di sản văn hóa, các nguyên tắc và nội dung quản lý di sản, vai trò của di sản nói chung đối với sự PTDL

Trang 22

hiện nay… đây chính là các mặt hoạt động của QLDT; chưa đáp ứng yêu cầu tham

khảo cho công tác QLDT ở cấp địa phương như Bến Tre Giáo trình Du lịch văn

hóa – Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, Trần Thúy Anh chủ biên [1] trong “Nhận

diện và khai thác các giá trị văn hóa vật thể” [1, tr.41] đề cập Đình, Chùa, Đền thờ ở

miền Bắc không nói đến miền Nam Bến Tre chỉ được nhắc đến mờ nhạt khi hướng dẫn kỹ năng nhận diện không gian [1; tr.88] trong hướng dẫn “Nhận diện và khai

thác các giá trị văn hóa phi vật thể” [1; tr.80] Các giáo trình: Tổng quan về du lịch,

Vũ Đức Minh [75]; Nhập môn khoa học du lịch, Trần Đức Thanh [100]; Giáo trình

t ổng quan du lịch, Trần Thị Mai [73] tuy chỉ đề cập đến các vấn đề của hệ thống du

lịch như lưu trú, lữ hành, quản trị, marketing và thị trường du lịch hay tâm lý du khách… nhưng có giá trị tham khảo cho QLDT

Tuyển tập Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Cục Di sản Văn hóa tập

hợp các nghiên cứu từ nhiều góc độ, có tính lý luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn… có giá trị tham khảo cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị DTLS-VH ở Bến Tre Quản lý DTLS-VH ở Việt Nam có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đề cập cả 2 phương diện lý luận cũng như thực tiễn Các quan điểm QLDT nói chung,

di tích được xếp hạng nói riêng đều tập trung vào vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di tích trong quá trình phát triển Thể hiện sự chuyển biến trong nhận thức của nhà quản lý văn hóa và bộ máy QLDT ở địa phương về vị trí, vai trò của DTLS-VH khá đầy đủ Vấn đề là hiện thực hóa nhận thức này ở 1 địa phương cụ thể như Bến Tre như thế nào để QLDT hiệu quả trong PTDL? Do đó, ở mỗi trường hợp cụ thể cần có một quá trình tiếp cận, nghiên cứu phù hợp điều kiện, hoàn cảnh từng địa phương

Ngoài các công trình nêu trên, nhiều hội thảo được tổ chức hỗ trợ kịp thời cho công tác quản lý di sản hiệu quả hơn như: Hội thảo Di sản văn hóa, Con người

và Du l ịch do Bộ VHTTDL, Quỹ Á – Âu tổ chức (2001) Hội thảo Sản phẩm văn hoá và phát triển du lịch bền vững (2006); Hội thảo Di sản văn hóa và phát triển du

l ịch ở miền Trung Việt Nam (2009); Hội thảo Di sản văn hóa Nam Trung bộ với phát tri ển du lịch trong hội nhập quốc tế (2011); Hội thảo Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong quá trình hiện đại hóa (3/2013) do Văn phòng UNESCO Hà Nội

Trang 23

phối hợp Bộ VHTTDL tổ chức; Hội thảo 10 năm thực hiện công ước bảo vệ di sản

văn hóa phi vật thể của UNESCO: Bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai

(6/2013, Quảng Nam) đã bàn đến vấn đề quản lý và bảo tồn DTLS-VH ở Việt Nam nói chung, ở một số di sản lớn nói riêng (Hội An, Huế, Hà Nội, Mỹ Sơn,…); Hội

thảo Bộ công cụ thiết kế, triển khai và đánh giá các dự án bảo vệ di sản văn hóa phi

vật thể (Hà Nội, 11/2013) do Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam phối hợp

Văn phòng UNESCO Hà Nội tổ chức; Cũng trong năm 2013, ở hội thảo Phát huy

giá tr ị di sản văn hóa đối với phát triển du lịch – Kinh nghiệm từ Hội An do Tổng

cục Du lịch và UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức, các nhà nghiên cứu đã làm rõ quan điểm tiếp cận và những vấn đề liên quan đến khai thác giá trị kinh tế du lịch của di

sản từ kinh nghiệm của Hội An Hội nghị tổng kết dự án Xây dựng Trạm vệ tinh của

Ngân hàng dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc Việt Nam, (Bến Tre,

8/2014) do Viện VHNT quốc gia Việt Nam tổ chức khẳng định: đến nay Việt Nam

có một hệ thống sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di sản phi vật thể thông suốt từ Trung ương đến địa phương Riêng Trạm Bến Tre đã xây dựng phim tài liệu các nghi lễ, lễ hội, trò diễn, nghề truyền thống… phục vụ nhu cầu tìm hiểu di sản phi vật thể, góp phần tích cực quảng bá di sản phục vụ PTDL Bến Tre Ở Hội thảo Du

lịch cộng đồng, giải pháp PTDL cộng đồng tại Bình Thuận (2015), Nguyễn Ngọc

Thơ, Bùi Việt Thành trong bài “Du lịch cộng đồng và kinh nghiệm quốc tế” cho biết: tùy thuộc bản chất và đặc trưng các loại hình tài nguyên dẫn đến sự lựa chọn phương thức phối hợp khác nhau giữa ba nhóm: sinh thái, lịch sử - văn hoá và sự tham gia của cộng đồng, cũng như việc vận dụng lý thuyết & tham vấn cộng đồng Trong các xu hướng ấy, khu vực Âu – Mỹ thiên về khai thác sự cộng cảm giữa du khách với quá khứ (di sản) và hiện tại (sinh hoạt lễ hội, gặp gỡ - đối thoại với cộng đồng); Khu vực Á, Mỹ La tinh thiên về cung cấp dịch vụ homestay, đưa du khách vào địa vị “người trong cuộc”, “người nhà” [148] ở điểm đến du lịch Nhiều hội

thảo đề cập các vấn đề cơ bản của mối quan hệ giữa quản lý văn hóa và du lịch và một số vấn đề liên quan như: Hội thảo quốc tế Toàn cầu hóa du lịch và Địa phương

hóa du lịch (2015), Hội thảo toàn quốc về Phát triển bền vững và du lịch biển đảo

Trang 24

Việt Nam trong thời kỳ hội nhập (2016) Năm 2018 Hội thảo Di sản thế giới và phát tri ển bền vững trong bối cảnh mới do Bộ VHTTDL, Văn phòng

UNESCO và UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức Ở Hội thảo Tác động của cuộc cách

mạng công nghiệp 4.0 đối với lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, Huế tháng 6/2018,

Nguyễn Phương Hòa trong bài “Cách mạng công nghiệp 4.0 – Cơ hội, thách thức và giải pháp của ngành văn hóa – nghệ thuật Việt Nam” đã nhấn mạnh: “Việt Nam cần

có phương thức khai thác giá trị kinh tế từ di sản một cách bền vững và đổi mới sáng tạo để tạo lợi thế cạnh tranh” [12; tr.20] Hội thảo Giải pháp phát triển du lịch

B ến Tre trên cơ sở liên kết, hợp tác với các tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (2019) [115], Hội thảo Chuyên gia 2019 - Xây dựng mạng lưới DTLS-VH phi v ật thể Biển; Chủ đề: Truyền thống biển – Thực hành và Tín ngưỡng (2019); tại

Hội thảo Quản lý, bảo tồn và phát triển du lịch tại các di sản thế giới ở Việt Nam do UBND tỉnh Ninh Bình tổ chức (10/2019), GS William Logan cho rằng: Việt Nam

đã xây dựng được hệ thống các quy định quốc gia phù hợp thông lệ và cam kết quốc

tế, bao gồm Luật Di sản Văn hóa sửa đổi (2009) và Nghị định số 109/2017/NĐ-CP

của Chính phủ quy định về bảo vệ và quản lý các DTLS-VH và Thiên nhiên thế giới

ở Việt Nam [151] Hội thảo đã tập trung trao đổi công tác quản lý, bảo vệ các di sản

thế giới tại Việt Nam, hợp tác Công – Tư và vai trò của tư nhân trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản Đồng thời, chia sẻ kinh nghiệm khu vực, quốc tế và đề xuất khuyến nghị về chính sách, cơ chế tăng cường bảo tồn, phát huy giá trị di sản vì sự phát triển bền vững Tại Hội thảo Cơ hội và thách thức cho ngành Du lịch trong

cu ộc cách mạng công nghiệp 4.0 (2018) bà Anya Diekmann đưa ra khuyến nghị

ngành Du lịch Việt Nam cần nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực để có thể đáp ứng được yêu cầu PTDL trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 [149] Tọa

đàm Hoàn thiện điểm đến, sản phẩm liên kết du lịch Tp Hồ Chí Minh và Đồng

bằng sông Cửu Long - tuyến du lịch (2020), Hội thảo khoa học quốc tế 10 năm nghiên c ứu, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long tại

Hà Nội (2020) đã đề cập nhiều lĩnh vực từ nghiên cứu, bảo tồn, bảo quản, phục dựng di tích di vật trong các khu di sản, cũng như kinh nghiệm quản lý đến quảng

Trang 25

bá, tuyên truyền và phát huy giá trị di sản Ở các hội thảo trên DTLS-VH Bến Tre

chỉ được đề cập một cách sơ lược, chưa được đưa ra bàn thảo chính thức, tuy nhiên các hội thảo này đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn có giá trị cho Bến Tre tham khảo

Bên cạnh các công trình nghiên cứu, các hội thảo nêu trên còn có các Luận

án Tiến sĩ: của Lê Thị Lan Hương (2005), Một số giải pháp nâng cao chất lượng

chương trình du lịch cho khách du lịch quốc tế đến Hà Nội của các công ty lữ hành trên địa bàn Hà Nội [52]; của Nguyễn Văn Đức (2013), Tổ chức các hoạt động du

l ịch tại một số di tích lịch sử - văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững [33]; của Trần Đức Nguyên (2013), Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Bắc Ninh trong quá trình công nghi ệp hóa, đô thị hóa [82]; của Nguyễn Thị Thu Hà

(2016), Qu ản lý di sản văn hóa và phát triển du lịch ở đô thị cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam [38]; c ủa Ngô Quang Duy (2020), Phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát

tri ển du lịch ở Quảng Ninh [21] đã tập trung nghiên cứu về du lịch và di sản văn

hóa ở Việt Nam, đây là tín hiệu của xu hướng đi vào nghiên cứu sâu và nhiều mặt

về bảo tồn, phát huy giá trị DTLS-VH trong mối liên hệ với kinh tế và du lịch

Ngoài những công trình nghiên cứu đã nêu trên, một số khá lớn các bài viết

đăng trên các tạp chí chuyên ngành như Di sản văn hóa, Văn hóa Nghệ thuật, Văn

hóa h ọc, Nghiên cứu văn hóa, Văn hóa và Nguồn lực, đã bàn luận vấn đề bảo tồn,

phát huy giá trị DSVH có liên quan đến du lịch ở Việt Nam

Tác giả Lưu Trần Tiêu trong bài “Một số vấn đề về di tích lịch sử văn hóa” [106; tr.496-511], đề cập đến quản lý nhà nước về bảo tồn di tích cho rằng, bảo tồn

di tích thể hiện ở 3 mặt: bảo vệ di tích về mặt pháp lý và khoa học, bảo vệ di tích về mặt vật chất kỹ thuật, cuối cùng là sử dụng di tích phục vụ nhu cầu xã hội Cụ thể, trong công tác QLDT cần tập trung vào 3 vấn đề: công nhận di tích, quản lý cổ vật

và phân cấp quản lý di tích Tác giả nhấn mạnh: các DTLS-VH chỉ có thể được bảo

vệ và phát huy cao nhất giá trị khi thực hiện một cách đồng bộ 3 mặt trên

Tác giả Đặng Văn Bài với bài “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa” đã đưa ra một số nội dung chủ yếu trong quản lý nhà nước về

Trang 26

DTLS-VH, bao gồm: Quản lý bằng văn bản pháp quy (văn bản pháp quy về bảo vệ, phát huy giá trị di sản; quyết định về cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển…); Việc phân cấp QLDT; Hệ thống tổ chức ngành bảo tồn – bảo tàng và ngân sách cho các cơ quan QLDT có tính quyết định hiệu quả quản lý di sản [2; tr.11-13]

Bài viết của tác giả Bùi Hoài Sơn “Các quan điểm lý thuyết về quản lý di sản” [94] và “Di sản để làm gì và một số câu chuyện quản lý di sản ở Việt Nam” [95] đã đặt ra vấn đề cốt lõi trong quan điểm và hướng tiếp cận quản lý di sản, thể

hiện góc nhìn đa dạng trong công tác bảo tồn và quản lý di sản ở Việt Nam những năm qua Một số nghiên cứu khác đề cập tới những vấn đề đặt ra trong bảo tồn và phát huy giá trị DTLS-VH như việc phát huy giá trị di tích của tác giả Nguyễn Thế Hùng [51]; vấn đề giáo dục nâng cao nhận thức tự bảo vệ di sản cho cộng đồng của tác giả Trương Quốc Bình [9]…

Bảo tồn và phát huy giá trị DTLS-VH là một yêu cầu của thời đại, trong các phương thức phát huy giá trị DTLS-VH, du lịch là phương thức phát huy hiệu quả Nguồn thu từ du lịch di sản đóng góp quan trọng cho bảo tồn di sản Du lịch gắn với khai thác giá trị DTLS-VH còn là động lực đẩy mạnh tìm kiếm, phát hiện, đánh giá giá trị di sản với tư cách là tài nguyên du lịch Điều này được khẳng định trong

“Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa với PTDL ở Việt Nam” [70] của

Phạm Trung Lương và “Vai trò của di sản văn hóa với sự phát triển của du lịch Việt Nam” của Trương Quốc Bình [9]; “Về nội hàm văn hóa du lịch”, Bùi Thanh Thủy [105]; “Mối quan hệ giữa quản lý di sản văn hóa và PTDL – Quan điểm tiếp cận”, Nguyễn Thị Thu Hà [37]; “Nguồn lực di sản văn hóa trong PTDL ở Quảng Ninh”, Ngô Quang Duy [20] …

Tuy nhiên, bên cạnh tác động tích cực về kinh tế, sự phát triển của xã hội đã tạo ra những tác động tiêu cực đến DTLS-VH Tác giả Hà Văn Tấn [99] với bài

“Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước” đã chỉ ra nguyên nhân di tích bị hủy hoại, trong đó có mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển, đô thị hóa nhanh với yêu cầu bảo vệ nguyên trạng di tích

Trong bài “Tầm nhìn tương lai đối với di sản văn hóa và hệ thống bảo vệ di

Trang 27

tích ở nước ta”, Nguyễn Quốc Hùng [49; tr.4-5] đã chỉ ra tác động của công nghiệp

hóa - đô thị hóa làm tổn hại hệ thống di sản văn hóa nói chung, DTLS-VH nói riêng Nguyên nhân của tình trạng này là sự chưa đồng bộ, thiếu ý thức và quan tâm chưa đúng mức bảo tồn di sản ở các ngành, địa phương trong quá trình xây dựng cơ

sở hạ tầng, phát triển đô thị… Tác giả bài viết đã đưa ra và phân tích khá kỹ ba nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh hiện nay

Với bài “Vai trò của di tích lịch sử văn hóa trong phát triển KTXH” [71; tr.91- 96] Từ Mạnh Lương phân tích vai trò của di tích đối với phát triển KTXH, cho rằng di tích là nguồn lực để phát triển kinh tế, di tích “là tài sản văn hóa của mỗi quốc gia, là nguồn lực để phát triển” Tác giả có cùng quan điểm với Nguyễn Thế Hùng khi cho rằng: “Di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh

tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển” [51; tr.27-28]

Ở bài “Di sản văn hóa – nhân tố quan trọng góp phần bảo vệ, xây dựng phát triển đất nước” Phạm Quang Nghị [78] cho rằng: DTLS-VH đang đứng trước thử thách khốc liệt của cơ chế thị trường Những giá trị bền vững của di sản chỉ thực sự hấp dẫn và trở thành sản phẩm văn hóa độc đáo, có tiềm năng khai thác du lịch nếu biết phát huy những giá trị đích thực, những thế mạnh và không bị lôi cuốn vào xu thế thương mại hóa tầm thường Trương Quốc Bình trong “Đổi mới hoạt động bảo

vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa” [10] có cùng quan điểm như trên Bài viết dạng này khá nhiều, nhưng chỉ dừng lại ở góc độ là tài liệu tham khảo, chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến DTLS-VH và du lịch Bến Tre

Nghiên cứu về giá trị và đóng góp của DTLS-VH đối với đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của các cộng đồng sở hữu di sản đã được đề cập trong một số công trình; nhiều bài nghiên cứu đã khẳng định di sản là một nguồn lực để PTDL Trong nghiên cứu về vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản, Nguyễn Quốc Hùng [50] khẳng định di sản ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển

Trang 28

của đất nước Nhiều di sản đã trở thành điểm đến quan trọng trong các tuyến du

lịch, đóng góp cho ngân sách (thông qua nguồn thu từ vé tham quan, tạo công ăn việc làm, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cấp cơ sở hạ tầng địa phương) Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Chiến [15] đề cập khai thác di sản như là một tài nguyên du

lịch Cùng nhận định tương tự, nghiên cứu của tác giả Trương Quốc Bình [9] nhấn mạnh vai trò của di sản đối với PTDL Cụ thể hơn, tác giả Hồ Xuân Tịnh [107] lưu

ý DTLS-VH còn bao gồm cả sản phẩm thủ công truyền thống: đồ mây tre đan, vải

dệt thổ cẩm, lễ hội, … cần được khai thác thành sản phẩm du lịch, bên cạnh đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, bảo tồn, phát huy giá trị di tích, danh thắng và lễ hội truyền thống Tác giả nhấn mạnh: những sản phẩm văn hóa đó không chỉ đem lại thu nhập cho địa phương mà còn giới thiệu văn hóa vùng đất và con người một cách hữu hiệu nhất Tuy nhiên các tác giả nêu trên chưa đi sâu nghiên cứu tu bổ, tôn tạo di tích cho

1 địa phương, chỉ đưa ra giải pháp QLDT ở tầm vi mô; vì vậy tác giả Nguyễn Quốc Hùng mới có đề xuất “… cần phải có sự tổng kết, đánh giá công tác quản lý nhằm đưa ra được mô hình, giải pháp phù hợp” để QLDT hiệu quả trong PTDL [50]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết trên đề cập đến những vấn

đề lý luận và thực tiễn của bảo tồn, phát huy giá trị của DSVH trong bối cảnh hiện nay theo các quan điểm, cách nhìn cá nhân rất đa dạng Có thể khái quát bảo tồn di

sản nói chung, di tích nói riêng được chia ra thành 3 nhóm vấn đề: bảo vệ di tích về mặt pháp lý và khoa học, bảo vệ di tích về mặt vật chất kỹ thuật và sử dụng di tích

phục vụ nhu cầu cuộc sống, hay phát huy giá trị di tích Đây là những gợi ý cho nghiên cứu sinh kế thừa, áp dụng trong khung nghiên cứu lý thuyết của luận án

Ngoài các công trình tiêu biểu trên, có khá nhiều bài nghiên cứu, hội thảo và các chuyên luận tìm hiểu DTLS-VH trước sự tác động của công nghiệp hóa – hiện đại hóa, biến đổi khí hậu phản ánh một thực tế là: trong QLDT, mọi hoạt động quản

lý đều phải hướng tới mục đích duy trì sự tồn tại của di tích ở trạng thái tốt nhất để khai thác, phát huy giá trị di tích đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước

Đến nay Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về quan hệ giữa QLDT và PTDL từ cấp độ địa phương, chỉ có các bài viết có tính tổng quan về vai trò của du

Trang 29

lịch trong bảo tồn, phát huy giá trị di tích ở các tạp chí nghiên cứu, hội thảo về du

lịch và di tích phục vụ du lịch Để bổ túc thêm cho các nghiên cứu về di tích trong mối liên hệ với du lịch, cần quan tâm đến nhóm các đề tài, đề án có liên quan bởi đây cũng là sự thể hiện một phần các kết quả nghiên cứu được ứng dụng sinh động trong cuộc sống

Đề tài cấp Nhà nước Cơ sở khoa học và giải pháp PTDL bền vững ở Việt

Nam [25] do Phạm Trung Lương, chủ nhiệm (2011) đã nghiên cứu và phát triển cơ

sở lý luận du lịch bền vững tại Việt Nam, đề xuất giải pháp PTDL Đề tài có ý nghĩa

lý luận và thực tiễn cao, đặt nền móng PTDL bền vững ở địa phương gắn với môi trường, văn hóa bản địa cũng như lợi ích KTXH

Năm 2008, Tổng cục Du lịch phối hợp Cục Di sản Văn hóa triển khai đề án

Tăng cường gắn kết các bảo tàng với hoạt động du lịch, đưa ra mô hình tăng nguồn

thu, giới thiệu hiện vật có giá trị ở bảo tàng tới công chúng Đề án xác định bảo tàng

là tài nguyên du lịch nhân văn, điểm đến hấp dẫn du khách, các công ty lữ hành đã kết nối bảo tàng… Tuy nhiên việc gắn kết chưa hiệu quả, du khách đến bảo tàng thưa thớt, chưa thúc đẩy phát triển hoạt động cả bảo tàng và doanh nghiệp du lịch

Nghiên cứu về quản lý DTLS-VH trong mối liên hệ với kinh tế, du lịch có nhiều công trình, hội thảo, bài viết, đề tài, đề án… thể hiện sự quan tâm của các nhà quản lý, học giả nhằm tìm hướng giải quyết phù hợp, hài hòa Đối với DTLS-VH, bảo tồn và phát huy luôn có mối liên hệ với kinh tế - du lịch như một cặp phạm trù, nếu giá trị của di tích không được khai thác sử dụng phục vụ cộng đồng, trải qua một thời gian nhất định, sự bảo tồn đơn lẻ, “máy móc” sẽ dẫn đến “cứng nhắc”, không gắn với phát huy sẽ làm di tích mờ dần, chìm vào quên lãng Do đó bảo tồn

là căn bản, là cơ sở để sáng tạo, phục vụ phát huy qua kênh du lịch và ngược lại, phát huy gắn kết với du lịch sẽ giúp bảo tồn di tích tốt hơn, tỏa sáng hơn, các giá trị của di tích khi ấy được chọn lọc, kế thừa và bảo vệ một cách thiết thực cả trong hiện tại và tương lai Tuy nhiên để nhận thức này chuyển hóa thành thực tiễn ở cấp địa phương như Bến Tre là cả một quá trình đòi hỏi sự dày công xem xét, nghiên cứu,

kế thừa và đúc kết từ lý luận lẫn thực tiễn để phù hợp với từng trường hợp cụ thể; từ

Trang 30

đó cho thấy còn nhiều khoảng trống luận án cần hướng đến để bổ túc

1.1.2 Quản lý di tích lịch sử - văn hóa nhìn từ góc độ pháp luật

Khi nghiên cứu QLDT trong mối liên hệ với kinh tế - du lịch, vấn đề đặt ra đầu tiên là việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di tích và phát triển KTXH; để thực hiện được điều đó cần phải tiếp cận di tích từ góc độ pháp luật

Quan điểm bảo tồn trong Hướng dẫn thực hiện Công ước về Di sản Thế giới [151] đã chỉ rõ: di sản là những tài sản vô giá không thể thay thế ở cấp quốc gia và

cả cấp quốc tế; những mất mát do hư hại hoặc biến mất của di sản được trao tặng danh hiệu sẽ làm nghèo nàn hệ thống di sản các dân tộc trên thế giới Điều đó cho thấy, quản lý di sản, trong đó có QLDT không phải là việc dễ dàng, đòi hỏi sự nỗ

lực của các bên liên quan, ngoài tuân theo nguyên tắc bảo tồn và quản lý chung, áp dụng biện pháp quản lý phù hợp, hiệu quả cho từng trường hợp là rất cần thiết

Các tổ chức UNESCO, ICOSMOS, ICCROM, ICOM, AHC, World Monuments Fund,… đã nỗ lực thiết lập hệ thống các nguyên tắc cơ bản, đề xuất các thực hành tốt nhất hỗ trợ các nước trên thế giới bảo vệ và quản lý di sản vật thể và phi vật thể Các Hiến chương về di sản đã đưa ra tuyên bố về các nguyên tắc, hướng dẫn bảo tồn và quản lý các địa điểm có giá trị văn hóa trên toàn cầu Hướng dẫn thực hiện Công ước di sản thế giới UNESCO yêu cầu phải xây dựng kế hoạch quản

lý các khu di sản thế giới, nhưng quan trọng hơn cả là cơ chế kiểm soát việc triển khai thực hiện kế hoạch này ở các quốc gia thành viên Các văn bản pháp lý mang tính quốc tế về DTLS-VH đề cập đến giá trị di sản, vấn đề bảo tồn, ý nghĩa của DTLS-VH và các vấn đề liên quan đến quá trình lập kế hoạch bảo tồn [53], [54], [55], [56], [57], [58] Các nguyên tắc bảo vệ di sản hiệu quả từ văn bản pháp lý quốc tế được các nước vận dụng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chính sách quản lý di sản của nước mình trong đó có Việt Nam

Tiếp cận các thông lệ pháp lý quốc tế về bảo vệ di sản, Luật Di sản văn hóa đầu tiên được Quốc hội Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua (2001), thuật ngữ

“di sản văn hóa” chính thức được xác định trong văn bản pháp quy cao nhất và được sử

dụng phổ biến Năm 2009 Luật Di sản văn hóa sửa đổi [67; tr.33] đã cụ thể hóa

Trang 31

đường lối, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo vệ di sản;

tạo điều kiện thuận lợi xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích Luật tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý DTLS-VH; xác định trách nhiệm các bộ, ban, ngành liên quan ở trung ương và UBND các cấp trong bảo tồn di sản; quyền

hạn, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu di sản, những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh người

có công, xử phạt vi phạm di sản Thực hiện Luật Di sản văn hóa sửa đổi (2009),

Chi ến lược Phát triển văn hóa đến năm 2020 đặt ra yêu cầu: “Đầu tư đồng bộ bảo

tồn, tôn tạo các DTLS-VH tiêu biểu trở thành những di sản có chất lượng cao về khoa học bảo tồn và môi trường văn hoá, phục vụ giáo dục truyền thống” [93]

Bên cạnh các văn bản pháp lý có tính định hướng “khung” bảo vệ di sản là

sự đóng góp của nhiều học giả, nhà thực hành, nhà quản lý lĩnh vực DTLS-VH trên

thế giới Một bài học cho Việt Nam là tính hiệu lực của văn bản pháp luật và chính sách quản lý di sản còn nhiều bất cập, chưa giải quyết có hiệu quả những vấn đề thực tiễn đặt ra Trong khi đó, để hiểu đúng DTLS-VH, đặc biệt là di sản phi vật thể

ẩn chứa bên trong di tích và vùng không gian di tích trên thực tế là rất khó, nhiều lúc mơ hồ, liên quan đến nhận thức và truyền thông di sản như Công ước 2003 chỉ rõ: “Di sản văn hóa phi vật thể có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống, có

những đóng góp to lớn đến nay chúng ta chưa đánh giá, khai thác được hết…” [143] Đó là chưa kể QLDT trong PTDL cần phải tham chiếu Luật Du lịch [68] để đảm bảo di tích được bảo vệ tốt nhất khi phát huy, khai thác phục vụ yêu cầu PTDL

1.1.3 Công trình nghiên cứu di tích lịch sử - văn hóa và du lịch Bến Tre

Nghiên cứu về DTLS-VH và du lịch Bến Tre đến nay theo khảo cứu của nghiên cứu sinh hệ thống lại, có 2 nhóm vấn đề nghiên cứu lớn theo mốc thời gian

1.1.3.1 Giai đoạn trước năm 1975

Nghiên cứu về DTLS-VH ở Bến Tre trước năm 1975 được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau có ở 9 công trình nghiên cứu sinh khảo cứu được; tuy nhiên không phải tất cả đều tập trung vào nghiên cứu di tích Bến Tre Nghiên cứu một phần của Vĩnh Long, Định Tường xưa (nay là Bến Tre) được đề cập ở một số sách

Trang 32

địa chí ghi chép về các lĩnh vực văn hóa trong đó có di tích, cổ tích như cuốn Đại

Nam nh ất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn có các nội dung về

hiện trạng thành trì, cổ tích, lăng mộ, đền miếu, chùa, lễ nghi, tôn giáo, đi lễ hội

nhưng không mô tả cụ thể diễn ra như thế nào Trong phần Địa lý học: Tự nhiên,

Kinh t ế và Lịch sử Nam Kỳ, tập VII (1903) của Chuyên khảo về tỉnh Bến Tre [44] đã

cung cấp bức tranh tổng quát Bến Tre, Nam kỳ vào đầu thế kỷ XX, phản ảnh được hiện trạng của Bến Tre trong đó có DTLS-VH Đề cập trực tiếp DTLS-VH Bến Tre

có hai công trình của Huỳnh Minh: Kiến Hòa (Bến Tre) xưa [77], Địa linh nhơn kiệt

Ki ến Hòa (Bến Tre) xưa và nay [76] miêu thuật về di tích, nhân vật; Đền chùa, Nhà

thờ; Đình cổ xưa; Thắng cảnh - Du lịch - Tín ngưỡng…

Ngoài ra đề cập đến DTLS-VH Bến Tre còn có Monographie de la province

de BenTre anné 1934 của Phủ Thống đốc Nam Kỳ [89], hồ sơ số 20108 hiện có tại

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II; Luận văn Cao học Nhân chủng Chùa Nam Quốc

Ph ật, Kiến Hòa - Định Tường [65] của Phan Nghị Linh (1964) khảo tả về một ngôi

chùa gắn với địa danh về sau được xem là nơi phát tích của du lịch Bến Tre – Cồn

Phụng, Đạo Dừa; Bài viết của Thích Nhất Hạnh (1965), “Bến Tre”, Tập san Giữ Thơm Quê Mẹ đã thêm một lần định vị tên gọi Bến Tre với đặc trưng của miệt vườn sông nước bát ngát dừa xanh [39]

Nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất khi nói đến Bến Tre là Tỉnh Bến Tre

trong lịch sử Việt Nam 1757 - 1945, Nguyễn Duy Oanh [86] Đây là một biên khảo

dày dặn về Bến Tre, tuy không đề cập trực diện DTLS-VH, nhưng với những gì đã thể hiện, công trình không đơn thuần là câu chuyện lịch sử mà còn là địa lý, nhân văn một vùng đất, là giai thoại, tiểu sử danh nhân, trong đó có Nguyễn Đình Chiểu… Đề cập đến sự kiện lịch sử nổi tiếng cả nước về sau trở thành di tích quốc

gia đặc biệt – DTĐK có Hồi ký Không còn đường nào khác, Nguyễn Thị Định [31;

tr.92] lần đầu tiên nói đến nguồn gốc “hai chữ Đồng Khởi”

Các công trình trên tuy chưa trực diện nghiên cứu DTLS-VH Bến Tre một cách độc lập nhưng là nguồn tư liệu, cơ sở để nghiên cứu sinh nối mạch khảo cứu cho giai đoạn tiếp sau, đáp ứng nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trong luận án

Trang 33

Cụ thể, những khảo tả, đề cập của các tác giả sẽ là gợi ý cho các giải pháp phát huy

hiệu quả QLDT trong PTDL ở một số trường hợp cụ thể như DTNĐC và DTĐK

1.1.3.2 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay

a) Các công trình nghiên cứu di tích lịch sử - văn hoá Bến Tre

Sau năm 1975 Bến Tre là tỉnh đầu tiên ở miền Nam có địa chí - Địa chí Bến

Tre, Thạch Phương - Đoàn Tứ (đồng chủ biên) [90] xuất bản năm 1990, tái bản năm

2001 Công trình này khái quát khá toàn diện tỉnh Bến Tre từ đặc điểm địa lý, tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, con người, đặc điểm KTXH, văn hóa, lịch sử phát triển… bên cạnh giới thiệu tên gọi, địa điểm và sơ lược thực trạng kiến trúc, di vật hiện có của một số di tích tiêu biểu Tóm tắt những nét chính về cuộc đời nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu và giới thiệu sơ nét một số tác phẩm tiêu biểu: Dương

Từ - Hà Mậu, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ trận vong

Lục tỉnh, Ngư tiều y thuật vấn đáp [90; tr.1156-1158] Cũng ở công trình này, DTĐK được đề cập một cách khái quát qua những cột mốc và những nét chính diễn biến Đồng Khởi năm 1960 ở Bến Tre, phát biểu của các đồng chí Lê Duẩn, Võ Văn

Kiệt, đại tướng Hoàng Văn Thái về “Đồng Khởi” ở Bến Tre [90; tr.1090-1094] Song do yêu cầu về nội dung thể hiện nên Địa chí Bến Tre chỉ mới khái quát một số đặc trưng về văn hóa, chưa đi sâu nghiên cứu các đặc điểm của từng DTLS-VH cụ

thể trong mối liên hệ với du lịch

Với Đồng Khởi ở Bến Tre năm 1960 của Trần Quỳnh Cư (1994) lần đầu tiên

Bến Tre mới có công trình liên quan đến DTĐK, nhưng do là 1 luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch sử [17], nên chỉ tập trung vào phong trào lịch sử Đồng Khởi là chính, không liên hệ hay bàn luận gì về DTĐK do khi đó chưa có di tích này

Ở công trình Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vùng Tây Nam Bộ trong

th ời kỳ hội nhập quốc tế [48], Võ Thành Hùng (2017) đề cập đến bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa thời kỳ hội nhập quốc tế chung của vùng, trong đó có Bến Tre đã

chỉ ra vấn đề “liên kết vùng” Đồng bằng sông Cửu Long để có được những sản phẩm văn hóa mang tính chất riêng của từng tỉnh, thành nhưng vẫn có cái chung nằm trong sự thống nhất của văn hóa vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tạo ra

Trang 34

thương hiệu văn hóa và qua đó quảng bá thương hiệu văn hóa mang tính chất đặc trưng vùng Đồng bằng sông Cửu Long với bạn bè trong và ngoài nước [48]

Nguyễn Chí Bền trong Văn hóa dân gian Bến Tre [7] với cách tiếp cận

từ tầm nhìn “Địa - Văn hóa” và “Địa - Lịch sử”, nhận diện bao quát tình hình sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian Bến Tre, đây là công trình chuyên sâu và công phu, có tính hệ thống đầu tiên về văn hóa dân gian Bến Tre với vai trò khai mở, có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với Bến Tre mà cả các tỉnh, thành Nam Bộ Điều này có ý nghĩa quan trọng cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị DTLS-VH Bến Tre Công trình đưa ra căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng chính sách, cơ chế ứng

xử với di tích một cách phù hợp, bảo tồn, phát huy giá trị DTLS-VH theo sự vận động của quy luật văn hóa bản địa phục vụ PTDL hiện tại và lâu dài

Ngoài ra còn có Lư Nhất Vũ-Lê Giang, Dân ca Bến Tre [119], Lễ hội dân

gian ở Nam Bộ, Huỳnh Quốc Thắng [103], Phạm Lan Oanh (Chủ biên) Tập 7 Di

s ản văn hóa biển đảo Tây Nam bộ [87], Bến Tre được chọn là một 6 tỉnh giáp biển

của Tây Nam Bộ có di tích quốc gia thuộc hệ thống di tích Đường Hồ Chí Minh trên biển để nghiên cứu Rất tiếc các nghiên cứu này chủ yếu vẫn chỉ miêu thuật hiện tượng văn hóa có liên quan DTLS-VH Bến Tre, đây chỉ mới là một trong số những việc của QLDT yêu cầu, vì vậy chưa đủ và chưa chỉ rõ QLDT Bến Tre hiện nay nên như thế nào để đáp ứng các yêu cầu của du lịch cũng như nhu cầu PTDL

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bến Tre (2018) [5] giới thiệu tổng quan về vùng đất,

con người và truyền thống lịch sử của tỉnh trong đó nổi bật là phong trào Đồng Khởi Bến Tre Ngành VHTTDL Bến Tre cũng đã xuất bản một số công trình có tính chất miêu thuật di tích như: Nhiều tác giả, Di tích lịch sử văn hoá Bến Tre [83], là các công trình của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Lư Hội với Đình làng Bến Tre,

các giá tr ị văn hoá [46]; Các hình thức diễn xướng dân gian ở Bến Tre [45]… các

tác giả bước đầu nhìn nhận DTLS-VH Bến Tre như một điểm đến để khai thác du

lịch Những công trình nghiên cứu trên có ý nghĩa rất lớn đối với giới nghiên cứu sau này, là nền móng để các nhà nghiên cứu phát hiện thêm những nội dung mới xung quanh DTLS-VH Bến Tre Trong số này, “Di tích lịch sử văn hóa Bến Tre” đã

Trang 35

chọn giới thiệu 16 di tích, khu lưu niệm, di sản phi vật thể tiêu biểu của Bến Tre

bằng song ngữ Việt – Anh đầu tiên Nội dung công trình này tuy chưa chuyên sâu, nhưng đã thể hiện được lịch sử hình thành, quá trình tồn tại, hiện trạng và giá trị một số di tích ở Bến Tre Đặc biệt Ban QLDT tỉnh Bến Tre khi xây dựng hồ sơ khoa học di tích đã cung cấp nguồn tư liệu quý và phong phú phục vụ nghiên cứu DTLS-VH, xác định hiện trạng di tích, giúp tìm hiểu các sự kiện lịch sử văn hóa, ảnh hưởng của di tích Bến Tre trong suốt tiến trình lịch sử

Bên cạnh các nghiên cứu trên, còn có một số hội thảo có liên quan đến di tích

và du lịch ở Bến Tre, đáng kể có Hội thảo về kết quả khai quật các di chỉ khảo cổ ở Bến Tre năm 2006 cho thấy các di chỉ khảo cổ học trên đất Bến Tre dù mới xuất lộ

gần đây nhưng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Bến Tre có nhiều di chỉ khảo

cổ có giá trị như Giồng Nổi – Tp Bến Tre, An Phong - huyện Mỏ Cày Nam, Cảng

thị Ba Vát - huyện Mỏ Cày Bắc là các dấu vết chứng tỏ con người đã từng cư trú ở vùng đất Bến Tre từ mấy ngàn năm trước Kết quả khai quật này đã làm thay đổi nhận thức về cổ sử và văn hóa Bến Tre Theo Nguyễn Kim Dung: “Những kết quả khai quật ở Giồng Nổi có thể xem là một trong những thành tựu khảo cổ học quan trọng nhất của ngành khảo cổ học Việt Nam trong mấy năm trở lại đây” [4; tr.1]

Ở một số hội thảo, DTNĐC được đề cập xoay quanh các nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu từ những năm 1980 hướng đến kỷ niệm 160 năm sinh Nguyễn Đình Chiểu vào năm 1982 tổ chức ở Bến Tre, Long An và Tp Hồ Chí Minh; Hội

thảo khoa học về xây dựng hồ sơ trình UNESCO nhân kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Đình Chiểu (Bến Tre, tháng 9/2020) [146]; DTĐK cũng được đề cập ở Hội thảo khoa học cấp quốc gia về phong trào Đồng khởi 1960 do tỉnh ủy Bến Tre, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức tháng 12/2019

Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Đề án Quy hoạch tổng thể PTDL tỉnh Bến Tre

đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, xây dựng Chiến lược PTDL Bến Tre đến

năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040, do UBND tỉnh Bến Tre tổ chức tháng 3/2019 [114] đã đề cập nhiều vấn đề liên quan đến di tích Bến Tre trong PTDL Mãi đến gần đây có một số hội thảo DTLS-VH Bến Tre được đưa ra bàn thảo chính thức:

Trang 36

Hội thảo Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với lĩnh vực văn hóa

nghệ thuật, Huế tháng 6/2018 có bài “Tiếp cận phương pháp SWOT đánh giá tác

động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di

sản văn hóa tỉnh Bến Tre” [12; tr 226] Hội thảo khoa học quốc tế International

Conference on Business - ICB 2019 có bài nghiên cứu “Giải pháp quản lý di sản văn hóa vùng biển từ mô hình Đồng quản lý nghề cá Bến Tre để PTDL” [60; tr.134-149] Hội thảo Khoa học xã hội năm 2020 có bài “Di sản văn hóa Bến Tre trước ngưỡng cửa cách mạng công nghiệp lần thứ tư – góc nhìn từ phân tích SWOT” [62; tr.82-96]… từ đây DTLS-VH Bến Tre đã tạo ra hiệu ứng và là tiêu điểm được giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tiếp cận, trao đổi

Ngoài ra, đề cập đến DTLS-VH Bến Tre còn có các đề tài, báo cáo tốt nghiệp của sinh viên trường CĐ Bến Tre, luận văn, luận án sau ĐH các trường ĐH Văn hóa Tp Hồ Chí Minh, ĐH Văn hóa Hà Nội, ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia

Hà Nội, ĐH Cần Thơ, ĐH KHXH&NV, ĐH An Giang, ĐH Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, ĐH Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, ĐH Mở Tp Hồ Chí Minh,… tập trung tìm

hiểu một số hiện tượng văn hóa Bến Tre với các giá trị tiêu biểu thông qua hệ thống

di vật, kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc và lễ hội… Nghiên cứu đáng kể nhất về DTNĐC và DTĐK có luận văn ThS Văn hóa học của Uông Thị Cẩm Vân (2019),

Qu ản lý di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bến Tre [118] đã bổ sung, phát

triển một số nội dung lý luận quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt Tuy chỉ

giới hạn trong khuôn khổ luận văn nhưng đây là nghiên cứu riêng biệt đầu tiên và tập trung vào hai di tích quốc gia đặc biệt ở Bến Tre từ thực trạng QLDT đến đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý 2 di tích này

Những công trình trên là nguồn tư liệu, cơ sở để nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình thực hiện luận án Cụ thể, những định hướng, giải pháp phát huy giá trị DTLS-VH của các nghiên cứu này là cơ sở để đưa ra giải pháp phát huy giá trị

của DTNĐC và DTĐK nói riêng, từ đó tạo điểm nhấn, xác lập mô hình để nhân rộng trong công tác QLDT ở Bến Tre nói chung

Trang 37

b) Công trình nghiên cứu di tích lịch sử - văn hóa có liên quan với du lịch

B ến Tre

Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực có tính liên ngành này chưa nhiều,

đáng kể nhất có Du lịch xứ dừa Bến Tre của Hà Thanh Niên, Nguyễn Phương Thảo,

Lê Quang Trắc, Lê Minh Trí xuất bản từ năm 1988 [85], đề cập đến di tích Bến Tre

từ góc nhìn du lịch Tuy nhiên, do viết dưới dạng giới thiệu Bến Tre cho du khách cách nay hơn 30 năm, nên công trình này chưa nhìn nhận vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di tích Bến Tre trong PTDL ở góc nhìn lý luận và thực tiễn

Khảo cứu về hồ sơ di tích cho thấy: hồ sơ khoa học hoàn chỉnh của hai Di tích quốc gia đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bao gồm nhiều văn bản

có những thông tin và qui định bảo vệ di tích như: lý lịch di tích, biên bản và khu vực bảo vệ di tích Trong lý lịch di tích có nhiều thông tin về lịch sử, diện mạo, giá

trị di tích (ở cả hai phương diện vật thể và phi vật thể) Hồ sơ khoa học DTNĐC do

Sở VHTTDL Bến Tre xây dựng năm 2016, trong lý lịch di tích đã cung cấp những thông tin cơ bản về di tích, thân thế và sự nghiệp Nguyễn Đình Chiểu, khảo tả

những kiến trúc, đánh giá những giá trị cơ bản của di tích Ngoài lý lịch di tích trong hồ sơ có bản vẽ, bản ảnh; bản vẽ được các cơ quan liên quan thống nhất qui hoạch, khoanh vùng bảo vệ di tích với hai khu vực bảo vệ theo Luật Di sản văn hóa

Trong hồ sơ khoa học DTĐK năm 2016, lý lịch di tích thể hiện khá rõ tư liệu

về những tiền đề cũng như diễn biến cuộc Đồng Khởi năm 1960, khảo tả những

kiến trúc, đánh giá những giá trị cơ bản của di tích Ngoài lý lịch di tích trong hồ sơ còn có bản vẽ, bản ảnh, bảng thống kê di vật, bản vẽ được các cơ quan liên quan đã thống nhất qui hoạch, khoanh vùng bảo vệ di tích với hai khu vực bảo vệ theo Luật

Di sản văn hóa Cả 2 hồ sơ trên chỉ mới tập trung thể hiện các nội dung theo yêu cầu cho việc xếp hạng di tích, chưa thể hiện được thực trạng QLDT cũng như việc gắn kết với PTDL nhưng đã cho thấy tiềm năng gắn kết với du lịch như một giải pháp

bảo tồn, phát huy đối với hai di tích này

Luận văn Định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch tỉnh Bến Tre đến

năm 2015 và tầm nhìn năm 2020, Trương Văn Quốc [92] phân tích, đánh giá tiềm

Trang 38

năng, hiện trạng, cơ hội và thách thức đối với du lịch một số tỉnh, thành trong nước nói chung và Bến Tre nói riêng; qua đó, đề xuất các chiến lược, giải pháp, khuyến

nghị định hướng PTDL Bến Tre Luận văn Tiềm năng và định hướng PTDL tỉnh

Bến Tre, Trần Thị Thạy [101] ở góc độ địa lý học nghiên cứu tiềm năng tài nguyên

du lịch chung của Bến Tre, chưa đi sâu nghiên cứu hiện trạng du lịch và chưa đưa ra

các giải pháp cụ thể cho du lịch Bến Tre Luận văn Nghiên cứu PTDL văn hóa Bến

Tre, Nguyễn Thị Thanh Lâm [63] khẳng định bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa gắn liền với du lịch nhất là du lịch văn hóa rất quan trọng vì tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa Luận văn chỉ rõ gắn du lịch với văn hóa là cần thiết, đưa ra một số

tuyến du lịch văn hóa kết hợp có tính đặc trưng của địa phương Luận văn PTDL

làng nghề tại Bến Tre, Võ Thị Ngọc Giàu [35] khẳng định làng nghề ở Bến Tre có

nhiều tiềm năng du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng Luận văn chỉ ra sự cần thiết của PTDL làng nghề Bến Tre và đưa ra một số tuyến du lịch làng nghề, du lịch nông nghiệp bản địa Luận văn đề cập đến di sản văn hóa phi vật thể liên quan

đến du lịch và ẩm thực Bến Tre có Nghề làm kẹo dừa ở Bến Tre truyền thống và

biến đổi, Thái Thị Ngọc Hân [42]; Đề tài nghiên cứu khoa học của Trường CĐ Bến

Tre Kết nối PTDL xanh từ làng nghề của huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre [84]

c) Các quy hoạnh, đề án, dự án, đề tài liên quan di tích và du lịch Bến Tre Quy ho ạch tổng thể PTDL đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 do Viện

Nghiên cứu PTDL xây dựng, Hội đồng Nhân dân tỉnh Bến Tre ra Nghị quyết thông qua [79] và UBND tỉnh Bến Tre triển khai thực hiện qua Đề án Quy hoạch tổng thể

PTDL đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 ban hành theo Quyết định số

123/QĐ-UBND ngày 18/01/2008 UBND tỉnh Bến Tre đã đề cập rõ vai trò của DTLS-VH khi xác định mục tiêu: “PTDL tỉnh dựa trên các loại hình du lịch chính là

du lịch sinh thái, du lịch văn hoá – lịch sử và du lịch vui chơi giải trí” [112] Tuy nhiên, Đề án này chỉ được thực hiện đến năm 2014 có sự điều chỉnh Quy hoạch

Năm 2017 UBND tỉnh Bến Tre ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về PTDL thành ngành kinh tế mũi nhọn [113] Từ đây du lịch Bến Tre đã

nỗ lực tăng tốc “Bứt phá về đích” để năm 2025 thành ngành kinh tế quan trọng và

Trang 39

đến năm 2030 trở thành kinh tế mũi nhọn Ngoài ra, tháng 3/2019 còn có dự án

Thành l ập thí điểm Khu bảo tồn đa dạng sinh học phục vụ phát triển bền vững du

l ịch sinh thái và Trung tâm tri thức về PTDL sinh thái tại đồng bằng sông MeKong,

những hoạt động này tạo ra cơ hội tốt gắn kết QLDT Bến Tre với PTDL

Đề cập đến du lịch Bến Tre ở cấp huyện có Báo cáo tổng kết dự án Nâng cao

năng lực tổ chức, PTDL sinh thái bền vững huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre,

(2008) [22] Lê Huy Bá chỉ rõ: Dù có nhiều tiềm năng thuận lợi PTDL sinh thái, nhưng hiện trạng du lịch sinh thái Châu Thành còn yếu, phần lớn là tự phát, các cơ

sở du lịch chưa có kế hoạch thu hút du khách, không có chiến lược quảng bá sản phẩm du lịch trong và ngoài nước Nguồn nhân lực du lịch không ổn định và thiếu chuyên nghiệp, quản lý và hoạt động theo kiểu “gia đình” Hạ tầng giao thông tương đối đầy đủ nhưng chưa kết nối được với cơ sở kinh doanh du lịch… đây chính là tình trạng chung của du lịch Bến Tre cần được quan tâm khi gắn với di tích

Báo cáo tổng kết dự án Nâng cao chất lượng điểm du lịch tỉnh Bến Tre [27], Trần Duy Phương (2014) cho biết dự án đã hỗ trợ nâng cao chất lượng phục vụ du khách ở DTNĐC, DTĐK qua đó quảng bá các tuyến du lịch văn hóa – lịch sử

Theo Báo cáo T ổng kết Đề án Quy hoạch tổng thể PTDL tỉnh Bến Tre đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 [114]: giai đoạn 2008 - 2018 đã đạt các mục

tiêu: “Du lịch Bến Tre phát triển dựa trên các loại hình du lịch chính: du lịch sinh thái, sông nước miệt vườn; du lịch cộng đồng (homestay) kết hợp tham quan làng nghề truyền thống, du lịch giáo dục truyền thống qua các DTLS-VH” [114; tr.3-4]

Công trình đề cập đến di tích Bến Tre từ góc nhìn du lịch nhiều nhất là Đề tài

Marketing địa phương tỉnh Bến Tre do Hà Nam Khánh Giao chủ nhiệm (2013) Đề

tài chỉ ra điểm yếu của du lịch Bến Tre là chưa khai thác tốt tiềm năng du lịch sinh thái và văn hóa lịch sử, sản phẩm du lịch chưa hấp dẫn, qui mô nhỏ Giải pháp đề tài

đưa ra là Tôn tạo di tích lịch sử văn hóa để PTDL Bến Tre đồng thời với đầu tư, bảo

vệ di tích, thắng cảnh, lễ hội, văn hóa dân gian, làng nghề truyền thống [26; tr.216]

Đề tài Nghiên cứu giải pháp xây dựng thương hiệu làm công cụ Marketing

các sản phẩm chủ lực và du lịch tỉnh Bến Tre [28] Lê Quốc Hùng chủ nhiệm (2017

Trang 40

– 2018) đã đánh giá tiềm năng sản phẩm xuất khẩu chủ lực và du lịch Bến Tre; chỉ

rõ cơ hội và thách thức đối với các sản phẩm du lịch chủ lực của Bến Tre giai đoạn

2015 - 2020; Phân tích điểm mạnh - điểm yếu, cơ hội - thách thức và đưa ra kế hoạch thúc đẩy xây dựng thương hiệu và PTDL tỉnh Bến Tre

Đề tài Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng với loại hình homestay kiểu mới

tại Bến Tre [29] Trương Quốc Phong chủ nhiệm (2018) đã xây dựng và ban hành bộ

quy chuẩn và áp dụng cho dịch vụ Homestay kiểu mới tại Bến Tre Xây dựng

bản đồ tuyến du lịch bằng xe đạp, mô tô phục vụ du khách tự trải nghiệm, khai thác tiềm năng của du lịch tại chỗ thu hút du khách và giữ chân khách lâu dài

Đề tài Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch huyện Châu Thành, [30] Thái

Hoàng Thi chủ nhiệm (2020) đã chỉ ra khả năng kết nối du lịch di sản của sông Ba Lai huyền thoại và điểm du lịch tâm linh từ Tòa thánh Cao Đài Tiên Thiên (cùng ở huyện Châu Thành) với DTNĐC cũng như tiềm năng điều phối khách du lịch từ huyện Châu Thành - cửa ngõ Bến Tre đến DTĐK và các di tích khác trong tỉnh

Điểm qua các công trình trên cho thấy: đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu tập trung, có hệ thống từ góc độ lý luận và thực tiễn QLDT lẫn du lịch với phương thức tiếp cận phù hợp đặc điểm, điều kiện và hoàn cảnh của vùng, miền, địa phương như Bến Tre Tuy QLDT Bến Tre đã được đề cập trong một số bài viết, báo cáo tham luận khoa học, đề tài, luận văn, luận án về một hoặc một số vấn đề có liên quan đến di tích đã xếp hạng và du lịch, nhưng các nghiên cứu này mới dừng lại chỉ ra sự phong phú, đa dạng và giá trị của DTLS-VH ở Bến Tre trong bối cảnh PTDL, hoặc đề cập đến du lịch thuần túy không gắn với di tích Chưa có công trình

đi sâu nghiên cứu QLDT Bến Tre trong PTDL một cách hệ thống, đáp ứng yêu cầu bảo tồn gắn với du lịch theo tiêu chí đặc thù của quản lý văn hóa ở góc nhìn du lịch

Gần đây, một số công trình nghiên cứu trong nước chú ý đến giá trị

DTLS-VH ở Bến Tre nhưng đa phần vẫn coi di tích là đối tượng chính trong nghiên cứu để

bảo tồn, một số ít đề cập đến vai trò của cộng đồng tham gia bảo tồn di tích ở Bến Tre Nhìn từ góc độ PTDL, dựa vào du lịch để phát huy giá trị di tích là hướng đi còn mới mẻ, mở ra tiền đề để luận án có cơ hội đóng góp cho thực tiễn và lý luận

Ngày đăng: 27/06/2023, 16:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nguyễn Thị Chiến (2004), “Khai thác di sản văn hóa như là một tài nguyên du l ị ch ” , T ạp chí Văn hóa Nghệ thu ậ t, s ố 2, tr.38-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác di sản văn hóa như là một tài nguyên du lịch”, "Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Thị Chiến
Năm: 2004
16. Chương trình sưu tầm tài liệu, viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và cách mạng Việt Nam (2019), Huỳnh Tấn P hát - Tiểu sử , Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huỳnh Tấn Phát - Tiểu sử
Tác giả: Chương trình sưu tầm tài liệu, viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và cách mạng Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2019
17. Trần Quỳnh Cư (1994), Đồng Khởi ở Bến Tre năm 1960, Luận án Phó TS. Khoa học Lịch sử, Viện Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng Khởi ở Bến Tre năm 1960
Tác giả: Trần Quỳnh Cư
Năm: 1994
18. Hoàng Sơn Cường (1998), Lược sử quản lý văn hóa ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử quản lý văn hóa ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Sơn Cường
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1998
19. Trương Quang Dũng (2014), “Vấn đề PTDL văn hóa chất lượng cao ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm Tp. H ồ Chí Minh , số 8, tr.46-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề PTDL văn hóa chất lượng cao ở Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học
Tác giả: Trương Quang Dũng
Năm: 2014
20. Ngô Quang Duy (2017), “Nguồn lực di sản văn hóa trong PTDL ở Quảng Ninh”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 402, tr. 46-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực di sản văn hóa trong PTDL ở Quảng Ninh”, "Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Ngô Quang Duy
Năm: 2017
21. Ngô Quang Duy (2020), Phát huy giá trị di sản văn hóa trong PTDL ở Quảng Ninh, Luận án TS. Quản lý văn hóa, Viện VHNT quốc gia Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy giá trị di sản văn hóa trong PTDL ở Quảng Ninh
Tác giả: Ngô Quang Duy
Năm: 2020
22. Dự án Nâng cao năng lực PTDL sinh thái bền vững tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (2007), Chủ nhiệm: GS.TSKH. Lê Huy Bá, Cơ quan chủ trì:Trung tâm Sinh thái, Môi trường và Tài Nguyên – CEER (Đề tài Khoa học công nghệ cấp tỉnh, Bến Tre) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực PTDL sinh thái bền vững tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
Tác giả: Dự án Nâng cao năng lực PTDL sinh thái bền vững tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
Năm: 2007
23. Đại hội đồng các quốc gia thành viên (2016), Mục tiêu chiến lược của UNESCO về phát triển bền vững, Văn phòng UNESCO tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mục tiêu chiến lược của UNESCO về phát triển bền vững
Tác giả: Đại hội đồng các quốc gia thành viên
Năm: 2016
25. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước (2011), Cơ sở khoa học và giải pháp PTDL b ề n v ữ ng ở Vi ệ t Nam, Ch ủ nhi ệ m: Ph ạ m Trung Lương , Cơ quan chủ trì: Viện Kinh tế và Quản lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học và giải pháp PTDL bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước
Năm: 2011
26. Đề tài cấp tỉnh, Sở Khoa học công nghệ Bến Tre (2013), Marketing địa phương tỉnh Bến Tre, Chủ nhiệm: PGS.TS. Hà Nam Khánh Giao, Cơ quan chủ trì: Trường Đạ i h ọ c Tài chính Marketing, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing địa phương tỉnh Bến Tre
Tác giả: Đề tài cấp tỉnh, Sở Khoa học công nghệ Bến Tre
Năm: 2013
27. Đề tài cấp tỉnh, Sở Khoa học công nghệ Bến Tre (2013), Nâng cao chất lượng điểm du lịch tỉnh Bến Tre, Chủ nhiệm: Trần Duy Phương, Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng điểm du lịch tỉnh Bến Tre
Tác giả: Đề tài cấp tỉnh, Sở Khoa học công nghệ Bến Tre
Năm: 2013
28. Đề tài cấp tỉnh, Sở Khoa học công nghệ Bến Tre (2018), Nghiê n cứu giải pháp xây dựng thương hiệu làm công cụ Marketing các sản phẩm chủ lực và du lịch tỉnh Bến Tre, Chủ nhiệm: Lê Quốc Hùng, Cơ quan chủ trì: Cty TNHH Tin học Thương mại và Tư vấn ICT, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp xây dựng thương hiệu làm công cụ Marketing các sản phẩm chủ lực và du lịch tỉnh Bến Tre
Tác giả: Đề tài cấp tỉnh, Sở Khoa học công nghệ Bến Tre
Năm: 2018
29. Đề tài cấp tỉnh, Sở Khoa học công nghệ Bến Tre (2 018), Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng với loại hình homestay kiểu mới tại Bến Tre , Chủ nhiệm:Trương Quốc Phong, Cơ quan chủ trì: Sở VHTT&DL Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng với loại hình homestay kiểu mới tại Bến Tre
30. Đề tài cấp cơ sở, Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre (2020), Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch huyện Ch âu Thành, Chủ nhiệm: Thái Hoàng Thi, Cơ quan chủ trì: UBND huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch huyện Châu Thành
Tác giả: Đề tài cấp cơ sở, Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre
Năm: 2020
31. Nguyễn Thị Định (1979), Hồi ký Không còn đường nào khác , Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký Không còn đường nào khác
Tác giả: Nguyễn Thị Định
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1979
32. Phạm Duy Đức (chủ biên) (2010), Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011- 2 020, những vấn đề phương pháp luận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020, những vấn đề phương pháp luận
Tác giả: Phạm Duy Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
33. Nguyễn Văn Đức (2013), Tổ chức các hoạt động du lịch tại một số di tích lịch sử - văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững, Luận án TS. Quản lý Kinh tế (Kinh tế Du lịch), Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức các hoạt động du lịch tại một số di tích lịch sử - văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Văn Đức
Năm: 2013
34. Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (Đồng chủ biên) (2012), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật
Năm: 2012
35. Võ Thị Ngọc Giàu (2014), Phát triển du lịch làng nghề tại Bến Tre , Luận văn ThS. Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, ĐH Quốc gia Tp. H ồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch làng nghề tạiBến Tre
Tác giả: Võ Thị Ngọc Giàu
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm