BÁO CÁO THAM LUẬN kết quả và giải pháp phát triển kinh tế rừng trên đại bàn tỉnh đắk nông 1 Kết quả phát triển kinh tế rừng Nhằm phát huy thế mạnh về điều kiện tự nhiên, tài nguyên nguyên rừng[.]
Trang 1BÁO CÁO THAM LUẬN kết quả và giải pháp phát triển kinh tế rừng
trên đại bàn tỉnh đắk nông
1 Kết quả phát triển kinh tế rừng
Nhằm phát huy thế mạnh về điều kiện tự nhiên, tài nguyên nguyên rừng và hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được Tỉnh ủy giao tại Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 19/8/2021; thời gian qua, Sở Nông nghiệp
và PTNT tỉnh Đắk Nông triển khai nhiều giải pháp quản lý, bảo vệ rừng gắn với việc phát triển kinh tế rừng, kết quả trong năm 2022 đạt được như sau:
- Bảo vệ rừng: Theo Quyết định số 634/QĐ-UBND ngày 29/3/2022 của UBND tỉnh, tổng diện tích rừng và đất quy hoạch phát triển rừng trên địa bàn tỉnh là 293.039,84 ha, trong đó: Diện tích rừng là 248.343,79 ha (196.203,95 ha rừng tự nhiên và 16.229,20 ha rừng trồng) và 35.910,64 ha ngoài quy hoạch ba loại rừng (154,37 ha rừng tự nhiên và 35.756,27 ha rừng trồng) Tỉ lệ che phủ rừng đạt 38,15% Trong năm các năm qua công tác quản lý, bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng tiếp tục được tăng cường, tình hình vi phạm pháp luật về lâm nghiệp được
- Về phát triển rừng: Tổng diện tích phát triển rừng năm 2022 là 3.041,2 ha, trong đó: rồng rừng 2.039,57 ha (trồng rừng tập trung 1.012,44 ha; trồng cây phân tán 275,6 ha; nông lâm kết hợp 751,53 ha); khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 1.001,63
ha Bên cạnh đó, Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu UBND tỉnh tổ chức 02 đợt phát động trồng cây xanh: (1) Lễ phát động Tết trồng cây nhân dịp Xuân Nhâm Dần năm 2022; kết quả trồng 4.028 cây, tương đương 4,02 ha; (2) Lễ phát động "Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ" ngày 19/5 và trồng cây phân tán năm 2022; Đã triển khai trồng 275.600 cây, tương đương 275,60 ha
- Về khai thác gỗ rừng tự nhiên: Trong các năm qua tỉnh Đắk Nông thực hiện nghiêm chủ trương đóng cửa rừng của Thủ tướng Chính phủ (Thông báo số 191/TB-VPCP ngày 22/7/2016; Thông báo số 511/TB-VPCP ngày 01/11/2017) không triển khai khai thác gỗ rừng tự nhiên và tận thu, tận dụng
- Khai thác gỗ rừng trồng: Diện tích 156 ha với sản lượng gỗ khai thác 15.600 m³; khai thác lâm sản ngoài gỗ (Tre, Nứa, Le) là 31.300 cây
- Nguồn thu từ trả tiền DVMTR (từ ngày 01/01/2022 đến 15/12/2022): Tổng thu 127.464.233.908 đồng, gồm: Thu qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam
(sau đây gọi tắt là VNFF) là 84.553.295.540 đồng (thu từ cơ sở sản xuất Thủy điện
Trang 278.811.209.130 đồng; thu từ cơ sở sản xuất nước và cung ứng nước sạch 5.741.983.410 đồng); thu ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Nông
(sau đây gọi tắt là Quỹ tỉnh) là 42.911.041.368 đồng (thu từ cơ sở sản xuất Thủy
điện 42.190.578.612 đồng; thu từ cơ sở sản xuất nước và cung ứng nước sạch 236.256.436 đồng; thu từ cơ sở sản xuất nước công nghiệp 484.206.320 đồng).
Tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng Quỹ tỉnh đã giải ngân cho các đơn vị chủ rừng 97.835.096.393 đồng
- Về phát triển du lịch sinh thái, nghĩ dưỡng, giải trí trong các khu rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất): Để có cơ xây dựng Đề án, dự án du lịch sinh thái, nghĩ dưỡng, giải trí, cho thuê môi trường rừng các đơn vị chủ rừng (Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ; các công ty lâm nghiệp; Công ty TNHH MTV Cà phê 15) đã xây dựng Phương án quản lý bảo vệ rừng bền vững trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; theo đó, tổng diện tích rừng quy hoạch cho hoạt động phát triển du lịch sinh thái, nghĩ dưỡng là 24.680 ha Đến nay, diện tích đã được chủ rừng (Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung) ký hợp đồng cho thuê môi trường rừng các tổ chức triển khai hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái là 370 ha; các đơn vị còn lại đang rà soát, xây dựng Đề án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để triển khai thực hiện theo quy định
- Về trồng dược liệu dưới tán rừng: Kết quả điều tra cây thuốc dược liệu và
các danh lục thực vật của Vườn Quốc gia Tà Đùng, Khu BTTN và các khu rừng ở tỉnh Đắk Nông, thống kê được 910 loài, thuộc 559 chi, 181 họ và 6 ngành thực vật bậc cao có mạch; trong đó, có nhiều loài cây thuốc quý, có giá trị kinh tế, như: Bách bệnh, Bồng bồng, Cam thảo nam, Câu đằng, Chè dây, Chè vằng, Chuối hột, Cối xay, Củ mài núi, Cốt toái bổ lá to, Dây đau xương Nguồn dược liệu trong tự nhiên phong phú, khí hậu thổ nhưỡng phù hợp với nhiều loại có giá trị kinh tế cao; các tiểu vùng khí hậu đặc trưng phù hợp để phát triển một số loài dược liệu quý như Sâm Ngọc Linh Diện tích đất rừng phù hợp để phát triển dược liệu lớn trên 175.000 ha (thuộc quy hoạch rừng phòng hộ, sản xuất lớn) Tuy nhiên, việc triển khai trồng dược liệu dưới tán rừng, hiện nay mới chỉ thực hiện ở các mô hình thí điểm, quy mô nhỏ lẻ, về cơ bản chưa được đánh giá nhân rộng
Thực hiện các quy định của Luật Lâm nghiệp và hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Công văn số 2079/BNN-TCLN ngày 06/4/2022, về việc hoàn thiện Đề án thí điểm cho thuê môi trường rừng để nuôi trồng, phát triển cây dược liệu Hiện nay, các đơn vị chủ rừng đã rà soát, quy hoạch trồng và
khai thác dược liệu theo phương án quản lý bền vững được phê duyệt là 5.300 ha/5
đơn vị chủ rừng Một số đơn vị chủ rừng khác cũng đang dự kiến xây dựng nội dung này
2 Một số giải pháp phát triển kinh tế rừng thời gian tới
Trang 3Để việc phát triển kinh tế rừng gắn với công tác quản lý, bảo vệ rừng, hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ giao tại Nghị quyết số 06-TN/TU ngày 19/8/2021 của Tỉnh ủy, Sở Nông nghiệp và PTNT đề xuất các giải pháp thực hiện như sau:
- Bảo vệ rừng: Tập trung mọi nguồn lực bảo vệ tốt diện tích rừng tự nhiên hiện còn; triển khai các giải pháp lâm sinh để nâng cao năng suất, chất lượng đối với 51.985 ha rừng trồng hiện có
- Về phát triển rừng: Tập trung các nguồn lực để đến năm 2025 phát triển
được 13.000 ha các loại, gồm: Phục hồi 5.000 ha rừng trên đối tượng đất chưa có
rừng, thông qua các giải pháp quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp làm giàu rừng, phát triển lâm sản ngoài gỗ; trồng mới đạt khoảng 8.000 ha rừng các loại, bao gồm: Trồng rừng tập trung có giá trị kinh tế cao và trồng rừng nguyên liệu; phát triển rừng bền vững bằng phương thức nông lâm kết hợp, trồng cây phân tán Việc phát triển rừng ưu tiên trồng bằng các loài
cây có giá trị kinh tế cao, cây đặc sản như: Keo lai, Mắc ca, Giổi… gắn với cơ sở chế biến và thị trường tiêu thụ:
+ Đối với diện tích rừng trồng nguyên liệu gỗ nhỏ từng bước khuyến khích các đơn vị chủ rừng thực hiện chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang gỗ lớn, nâng cao chất lượng, giá trị rừng trồng
+ Rà soát đưa các diện tích đất trống chưa có rừng (dt1, dt2) vào kế hoạch thu hút đầu tư phát triển rừng, trồng rừng các loài cây gỗ lớn vừa có giá trị phòng
hộ, vừa có giá trị kinh tế cao Đưa các loại giống tốt vào sản xuất, thực hiện thâm canh và xác định chu kỳ kinh doanh hợp lý để bảo tồn và bồi bổ đất Trồng hỗn giao, đa canh, xen canh để phòng chống dịch bệnh
+ Đối với với diện tích đất lâm nghiệp đang canh tác sản xuất nông nghiệp phát triển rừng bền vững bằng phương thức nông kết hợp bằng các loài cây đa mục đích, có giá trị kinh tế cao như Giổi, Mắc ca…nhằm góp phần nâng cao tỉ lệ che phủ rừng, bảo đảm mục tiêu ổn định dân cư, an sinh xã hội, sinh kế của người dân,
an ninh chính trị, vừa bảo đảm mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường
+ Triển khai có hiệu quả Đề án trồng mới một tỷ cây xanh giai đoạn
2021-2025 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh; khuyến khích cộng đồng, người dân, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội triển khai mô hình nông lâm kết hợp, trồng cây phân tán với những loài cây bản địa có giá trị kinh tế, văn hóa, cây quý hiếm, cây tạo cảnh quan, bóng mát nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần nâng cao tỉ lệ che phủ rừng, gắn với xây dựng nông thôn mới Tại khu vực công sở, trường học, hội trường sinh hoạt thôn, bon, hành lang đường giao thông, khu vực cảnh quan, vườn nhà, bờ vùng, bờ thửa, trên nương rẫy, những khoảng trống trong thôn bản, cánh đồng, ven sông, bãi thải, đất chưa sử dụng khác…
Trang 4+ Chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp bằng các loài
lệ che phủ rừng, phát triển kinh tế bền vững; trong đó, ưu tiên phát triển vùng trồng cây mắc ca chuyên canh tại các địa phương có điều kiện phù hợp
- Phát triển lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu bằng các hình thức đa dạng, thích hợp, như: trồng dưới tán rừng tự nhiên, rừng trồng, diện tích đất chưa có rừng… kết hợp phát triển các loài cây đặc hữu, bản địa có giá trị bảo tồn
- Khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp liên kết, hợp tác để phát triển vùng nguyên liệu, tạo chuỗi giá trị bền vững (mô hình sản xuất gắn tiêu thụ sản phẩm); góp phần nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng và thực hiện cơ
cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2025
- Xây dựng cơ chế, chính sách, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, có tiềm lực đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp, trong đó ưu tiên cho thuê dịch vụ môi trường rừng gắn với phát triển du lịch sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học,… tại Vườn quốc gia
Tà Đùng, Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO - Đắk Nông
- Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, trồng rừng thay thế; từng bước tham gia xây dựng cơ sở dữ liệu, hành lang pháp lý để tiếp cận và tham gia thị trường carbon… tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế rừng
Đơn vị tham luận: Chi cục Kiểm lâm